Saturday, August 16, 2014

Tai mắt quần chúng


 Ryszard Kapuscinski - Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch - Tất cả các chế độ độc tài đều lợi dụng tầng lớp ngồi không thừa thải này. Họ thậm chí không cần duy trì đội quân cảnh sát toàn thời gian tốn kém. Chế độ chỉ cần biểu lộ sự quan tâm đến những con người này mà đang tìm kiếm ý nghĩa nào đấy trong cuộc đời. Hãy cho họ cảm giác họ có thể có ích, có người đang cần họ giúp đỡ việc gì đấy, họ đã được chú ý đến, họ có mục đích...

*
Tôi dậy sớm để đi vào trung tâm thành phố mà khá xa. Tôi đang ở khách sạn tại Zamalek, khu dân cư giàu có trên một hòn đảo trên sông Nile khu vực một thời chủ yếu của người nước ngoài nhưng giờ đây những người Ai Cập giàu có cũng sống ở đấy. Biết rằng va li của mình sẽ bị lục lọi ngay khi tôi rời khách sạn, tôi nghĩ nên lấy ra vỏ chai bia Tiệp Khắc tôi đã nhét trong va li để trên đường đi tống khứ nó (vào thời ấy Nasser ¹, một người Hồi giáo nhiệt tâm, đang mở chiến dịch bài trừ rượu). Tôi giấu vỏ chai trong bao giấy xám và cầm nó bước ra đường. Chưa đến trưa mà trời đã oi bức và ngột ngạt. 

Tôi nhìn quanh tìm thùng rác. Nhưng khi nhìn quanh, tôi bất ngờ thấy người bảo vệ ngồi trên chiếc ghế đẩu ở lối vào khách sạn nơi tôi vừa bước ra nhìn tôi đăm đăm. Ông ta đang theo dõi tôi. Thôi, tôi nghĩ, tôi sẽ chẳng ném chai trước mặt ông, vì sau này ông sẽ bới thùng rác, tìm thấy nó, rồi tố cáo tôi với cảnh sát khách sạn. Tôi đi tiếp một lát thì phát hiện một cái thùng trống rỗng. Tôi sắp sửa ném chai vào thùng thì tôi nhận thấy hai người mặc áo choàng trắng dài. Họ đang đứng nói chuyện nhưng mắt vẫn nhìn tôi. Không, tôi không thể vất chai ở đây: chắc chắn họ sẽ nhìn thấy, và vả lại cái thùng ấy cũng không phải để đựng rác. Tôi tiếp tục đi cho tới khi tôi nhận thấy một thùng rác khác - nhưng gần đấy, ở lối vào một tòa nhà, một người Ả rập đang ngồi nhìn tôi đăm đăm chăm chú. Không, không, tôi nhủ lòng, ta không thể nào liều được, hắn đang nhìn ta với ánh mắt rất ngờ vực. Vì vậy, nắm chặt bao và chai, tôi thản nhiên thong thả bước đi tiếp. 

Đằng trước là ngã tư, nơi viên cảnh sát cầm gậy và còi đứng giữa đường - và ở một góc ngã tư một người đàn ông ngồi trên ghế đẩu nhìn tôi. Tôi nhận thấy y chỉ có một con mắt, nhưng con mắt này nhìn tôi chòng chọc không dứt với vẻ rất khó chịu khiến tôi bắt đầu cảm thấy không thoải mái, thậm chí còn sợ rằng y sẽ ra lệnh tôi đưa cho y coi rõ ràng đích xác cái gì tôi đang cầm trên tay. Tôi bước nhanh để thoát ra khỏi tầm nhìn của y, càng bước nhanh hơn và háo hức hơn vì từ đằng xa trước mặt tôi một thùng rác hiện ra lấp loáng như ảo ảnh. Không may, không xa thùng rác ấy, dưới bóng râm của một cây nhỏ và khẳng khiu một ông già ngồi nhìn tôi chăm chú. 

Con đường bây giờ rẽ sang hướng khác, nhưng qua khúc rẽ mọi thứ vẫn y như trước. Tôi không thể ném chai ở bất kỳ nơi đâu, vì cho dù tôi định ném ở đâu chăng nữa, tôi đều bất chợt thấy ai đấy quay đầu lại nhìn đăm đăm về hướng mình. Xe hơi chạy trên đường, xe lừa thồ hàng, đàn lạc đà dăm con đi qua, dáng cứng đờ lêu khêu, nhưng tất cả cảnh này tưởng như diễn ra ở đằng sau, ở cảnh đời nào đấy khác với cảnh đời tôi đang đi và bị lọt vào tầm ngắm của những người hoàn toàn xa lạ, những kẻ đi, đứng, nói, phần lớn ngồi, nhưng trong lúc ấy vẫn nhìn đăm đăm coi tôi đang làm gì. Tôi càng lúc càng sợ, bao giấy trong tay tôi ướt sũng vì tôi bắt đầu toát mồ hôi rất nhiều. Tôi sợ chai rơi tuột ra khỏi bao rồi vỡ tan trên vỉa hè, càng khiến đường phố tò mò hơn. Tôi thực sự chẳng biết nên làm gì nữa, vì vậy tôi đành phải trở về khách sạn và nhét chai lại vào va li. 

Mãi tới tối tôi mới cầm nó đi ra ngoài trở lại. Đêm xuống hành sự dễ dàng hơn. Tôi bỏ chai vào thùng rác, quay trở về, và lòng nhẹ nhõm nằm xuống ngủ. 

Bây giờ, đi dạo quanh thành phố, tôi bắt đầu quan sát phố xá kỹ càng hơn. Tất cả đường phố đều có tai mắt. Đây người gác cửa, kia người bảo vệ, nọ một nhân vật ngồi bất động trên ghế xép, xa hơn một chút ai đấy đứng không, chỉ đưa mắt nhìn. Đa phần những người này đều không làm gì cụ thể, tuy nhiên khi gộp lại nhiều góc nhìn của họ tạo ra mạng lưới theo dõi chằng chịt, đan kín, bao trùm, bao phủ toàn bộ không gian đường phố nơi không có gì có thể xảy ra mà chẳng ai biết. Biết để tố cáo. 

Đây là chủ đề thú vị: những kẻ vô tích sự phục vụ bạo quyền. Xã hội có tổ chức, ổn định, phát triển là cộng đồng của những vai trò được xác định và được vạch ra rõ ràng, điều mà người ta không thể nào nói về đa số các thành phố thuộc thế giới thứ ba. Dân số ở những nơi này đa phần là thành phần thô lỗ, trôi giạt, chẳng thuộc tầng lớp nào rõ ràng, lại không có địa vị, vị trí hay mục đích. Bất kỳ lúc nào và vì bất kỳ lý do nào, những người mà chẳng ai lưu tâm đến, không ai cần đến này, có thể tụ họp lại thành đám đông, quần chúng, lũ côn đồ mà có ý kiến về mọi chuyện, có thời gian cho mọi sự, và muốn tham dự vào chuyện gì đấy thật quan trọng. 

Tất cả các chế độ độc tài đều lợi dụng tầng lớp ngồi không thừa thải này. Họ thậm chí không cần duy trì đội quân cảnh sát toàn thời gian tốn kém. Chế độ chỉ cần biểu lộ sự quan tâm đến những con người này mà đang tìm kiếm ý nghĩa nào đấy trong cuộc đời. Hãy cho họ cảm giác họ có thể có ích, có người đang cần họ giúp đỡ việc gì đấy, họ đã được chú ý đến, họ có mục đích. 

Hai bên đều nhận được những lợi ích từ mối quan hệ này. Dân hè phố, phục vụ chế độ độc tài, bắt đầu cảm thấy tâm đầu ý hợp với nhà cầm quyền, cảm thấy mình quan trọng và có ý nghĩa, và hơn nữa vì hắn thường cảm thấy có tội do nhiều lần ăn cắp vặt, ẩu đả, và lường gạt nên giờ đây hắn có cảm giác an lòng là được miễn tội. Trong khi ấy, chính quyền độc tài dùng hắn như mật thám chân rết rẻ tiền-thật ra làm không công - nhưng nhiệt tình và có mặt ở khắp mọi nơi. Đôi khi thật khó mà gọi hắn là mật thám; hắn chỉ là kẻ muốn được khen ngợi, kẻ mưu cầu tiếng tăm, tìm cách nhắc nhà cầm quyền nhớ đến sự tồn tại của hắn, kẻ lúc nào cũng luôn luôn khao khát được phục vụ. 



Bản tiếng Việt:


___________________________________

Chú thích của người dịch: 

¹ Gamal Abdel Nasser (1918-1970) là tổng thống Ai Cập từ năm 1956 đến lúc qua đời. 

Ryszard Kapuscinski (1932-2007) là nhà báo Ba Lan nổi tiếng toàn cầu. Trước khi CNN ra đời, ông đã đến tận những nơi heo hút của Thế giới Thứ Ba để cảm nghiệm và ghi chép. Từ đấy một loạt tác phẩm nổi tiếng ra đời như Shah của Shahs, Hoàng đế, hay Chiến tranh Túc Cầu. 

Nguồn: 

Trích dịch từ hồi ký của Ryszard Kapuscinski tựa đề tiếng Anh "Problem, No Problem" đăng trong tạp chí The Paris Review, Mùa Xuân 2007, số 180, trang 14-16. Nguyên tác tiếng Ba Lan, bản dịch tiếng Anh của Klara Glowczewska. Tựa đề của người dịch.

Văn hóa Việt cộng: Văn hóa đồ đểu và văn hóa lưu manh



Giáo Già (Danlambao) - Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã lên tiếng mời Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh sang Hoa Kỳ, đặc biệt là sau vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc đặt trong phần lãnh hải của VN nhưng từ tháng 5/2014 tới nay, hơn hai tháng qua, ông Phạm Bình Minh đã chẳng đi đâu cả. Dư luận cho rằng Bộ Chánh trị chẳng cho ông đi. Bất ngờ Bộ Chánh trị lại cho Phạm Quang Nghị, một ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội viếng thăm nước Mỹ. Điều này khiến người theo dõi tình hình ngạc nhiên vì Phạm Quang Nghị chẳng có chút kinh nghiệm ngoại giao, lại chẳng bao giờ đảm trách công việc ngoại giao.

Chuyến đi của Phạm Quang Nghị được thực hiện từ ngày 21/7, nhưng đến hơn hai ngày sau báo chí của CS Việt Nam mới dè dặt đưa tin. Trong khi đó, báo chí Mỹ và các hãng thông tấn ngoại quốc gần như không loan tin về chuyến công du của người ủy viên Bộ Chánh trị không dược Mỹ mời này. Điều khiến dư luận chú ý là một tháng trước Dương Khiết Trì, ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc, đã đến Hà Nội để dạy dỗ các lãnh đạo CSVN về lòng trung thành của đám thái thú đang có mưu toan vượt ra ngoài vòng tròn đỏ của 16 chữ vàng và 4 tốt, được hai bên kiên quyết giữ vững.

Trong cái lặng lẽ của chuyến đi, bất ngờ người ta được biết Phạm Quang Nghị có cuộc gặp Thượng Nghị sĩ McCain của Hoa Kỳ, sau khi Thượng nghị viện Mỹ đã đồng loạt biểu quyết bản Nghị quyết số 412, yêu cầu Trung Quốc trở về nguyên trạng trước thời điểm tháng 5/2014. Đồng thời, trước đó, phát biểu tại trường Đại học Quân sự West Point, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cũng đã nói thẳng khả năng Mỹ có thể điều quân tới khu vực Biển Đông, nếu tại đây xảy ra xung đột. Nó cho thấy Mỹ có thể là một đối tác chiến lược hoặc một đối tác quân sự hỗ trợ cho CS Việt Nam, làm tác động đến tâm lý những người bảo thủ ở Hà Nội khiến Bộ Chánh trị quyết định cho người được coi là ứng cử viên sáng giá cho cương vị Tổng bí thư CSVN là Phạm Quang Nghị lên đường diện kiến chính giới Mỹ qua McCain.

Có điều bất ngờ không ai đoán nổi là trong cuộc gặp vị Thượng Nghị sĩ nhiều thế giá trên chánh trường và trong Quốc Hội Mỹ Phạm Quang Nghị đã long trọng tặng vị Thượng Nghị sĩ này món quà “độc đáo” mà theo bài viết của phóng viên báo Tuổi Trẻ Phạm Thanh Long, người tự nhận là có đi theo phái đoàn của ông Nghị và chứng kiến tận mắt lúc trao bức hình [xem hình], xin được trích nguyên văn đoạn rất đáng lưu ý:

Đó là hai tấm ảnh, lớn bằng khổ giấy A4, vừa mới chụp trước ngày đoàn lên đường, ghi lại tấm bia tại đường Thanh Niên bên hồ Trúc Bạch. Chính nơi đây 47 năm về trước vị thiếu tá phi công hải quân John McCain đã bị quân và dân Việt Nam bắt làm tù binh…

…Chả thế mà đã có lần ngài (McCain) đề nghị với các vị khách Việt Nam khi sang thăm nước Mỹ, rằng ngài rất mong thành phố Hà Nội luôn quan tâm, giữ gìn vệ sinh cho khu vực xung quanh tấm bia. Nghe nói những lần tới thăm Việt Nam, ngài đã từng dừng xe để chụp ảnh bên tấm bia này...

Có điều cũng nên ghi nhận là trên tất cả báo CSVN, đều có đăng bài: “Cuộc gặp đặc biệt Phạm Quang Nghị – John McCain” trong đó có đoạn Phạm Quang Nghị nói nguyên văn:

Nhưng, trước khi kết thúc, tôi muốn tặng ngài một tấm ảnh. Thật tình, tôi không biết ngài có muốn có nó hay không? Nếu ngài không thích thì ngài có thể không công bố cho bất kỳ ai được biết. Còn ngài thích, thì tùy ngài”.

Bảo rằng “Nếu ngài không thích thì ngài có thể không công bố cho bất kỳ ai được biết”; nhưng truyền thông VC lại cho công bố nó trên tất cả các báo cho mọi người biết; đó là chưa kể theo “thông lệ… ngoại giao” trước khi tặng quà VC phải thăm dò ý của Thượng Nghị sĩ McCain và Tòa đại sứ Mỹ tại Hà Nội. Mặt khác, màn trao tặng bức hình chỉ là trình diễn trước dư luận với sự ưng thuận của Bộ Chánh trị, cho mọi người thấy lại cái “anh hùng” của “nhân dân… ta anh hùng” theo đúng cung cách “cao ngạo” sở trường của Đảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa VN; nhưng thực tế lại cho mọi người thấy rõ thêm một lần nữa cái “đểu” của Đảng và Nhà nước “ta”.

Cũng nên biết thêm, có một điều rất đáng tiếc là việc tặng quà này chỉ có báo chí VC là làm “ầm ỹ”, tưởng như vậy là “ngon lành” lắm; nhưng nó lại làm lộ rõ bộ mặt bần tiện của Đảng và “Nhà nước... ta giàu đẹp” đến nỗi không có tiền để mua một tấm khuôn để lộng bức hình cho nó được “tử tế”, cho nó “xứng đáng” với món quà của một ủy viên Bộ Chánh trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, tự nhận là “giàu sang bực nhứt VN” [xem hình].

Có điều càng đáng tiếc hơn nữa cho thân phận Phạm Quang Nghị là Nghị đã không được gặp Ngoại trưởng Mỹ. Thay vào đó, chỉ có Thứ trưởng Ngoại giao Wendy Sherman tới gặp để chào và chuyển lời thăm hỏi của ông John Kerry. Thêm nữa, tại Washington, Phạm Quang Nghị chỉ có những cuộc làm việc với Cố vấn cao cấp của Ngoại trưởng là ông Thomas Shannon, và một Phó Cố vấn An ninh Quốc gia phụ trách đối ngoại là ông Tony Blinken. Như vậy, nhân vật cao cấp nhất mà Phạm Quang Nghị được tiếp xúc là Thượng Nghị sĩ John McCain và Patrick Leahy, Chủ tịch thường trực Thượng viện Mỹ; không như lần Nghị đi Bắc Kinh cách đây mười tháng.

Giáo Già gọi món quà của Phạm Quang Nghị là quà “đểu” vì nó thể hiện cái “đểu” của CSVN, như chúng đã nhiều lần “đểu” trong quá khứ… “ngoại giao”; điển hình như:

- Sang Pháp thì tặng ảnh chụp Tượng đài kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ; 

- Sang Thái Lan thì tặng ảnh chụp Tượng đài kỷ niệm Chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút; 

- Sang Campuchia thì tặng một công trình nghiên cứu về công cuộc Nam tiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam;

- Sang Nhật Bổn thì tặng bản sao bức ảnh nổi tiếng của cụ Võ An Ninh chụp đống sọ người chết đói năm Ất Dậu ở trại Giáp Bát; 

- Sang Đức thì tặng tranh cổ động “Rồng Nam phun bạc, đánh đuổi Đức tặc”; 

- Sang Vatican thì tặng chỉ dụ cấm đạo Tây dương của vua Minh Mạng; 

Sang Trung Quốc thì tặng cọc Bạch Đằng… [Xin xem toàn văn bài viết “Báo cáo vệ sinh của thành phố Hà Nội” của Bà Phạm Thị Hoài, có đề cặp tới món quà “đểu” này, đăng trong phần Phụ đính].

Cứ tưởng McCain rất giận khi nhận món quà “đểu” này, nhưng không ngờ nhìn vào bức hình chụp in trên các báo VC ai cũng thấy ông cười rất tươi, như thể thích thú lắm. Nó thể hiện cái “văn hóa… ngoại giao” của Mỹ. Thích hay không thích cũng cứ… cười.

Mặt khác, nhìn vào quá trình lập quốc và bang giao quốc tế, ai cũng thấy người Mỹ theo chủ nghĩa thực dụng và rất thực tế. Với họ “không có bạn vĩnh viễn” mà cũng “không có kẻ thù lâu dài”; chỉ có “quyền lợi quốc gia là trên hết”. Nhận thấy trong hoàn cảnh hiện tại, xét về quyền lợi, giữa Mỹ và Việt Nam hiện nay có rất nhiều điểm chung: Đó là Biển hình Biển Đông. Đây là vùng biển của Việt Nam, nó cũng là một trong những nguồn lợi lớn của Việt Nam về phương diện kinh tế, nó cũng là giá trị lịch sử của dân tộc của Việt Nam. Phần Mỹ, đó là con đường hàng hải quan trọng trên cả hai lãnh vực kinh tế và quân sự. Mỹ cần bảo vệ Biển Đông, phần biển của Việt Nam, nên họ cần sự chấp thuận của VN trên lãnh vực “hợp tác chiến lược”. Mỹ không bảo vệ Việt Nam, họ chỉ bảo vệ Biển Đông, họ không thể để VN nhượng bộ hoặc đầu hàng Trung Quốc làm ảnh hưởng tới quyền lợi của họ.

Do vậy, McCain chỉ “cười cười” rồi chuẩn bị lên đường sang Hà Nội [xem hình], cho dầu có được Phạm Quang Nghị ngỏ lời “mời” hay không.

Từ đó, bản tin của RFI ngày 7-8-2014 loan đi cho biết: “Theo Sứ quán Mỹ tại Hà Nội, ba hồ sơ quan trọng là an ninh khu vực, nhân quyền và thương mại sẽ được phái đoàn Nghị sĩ Mỹ thảo luận với cấp lãnh đạo Việt Nam”

Tại Hà Nội ông McCain không bàn về chuyện tấm bia, mà chỉ bàn về chuyện an ninh, nhân quyền và thương mại. Do vậy, trong cuộc họp báo tại Hà Nội, Thượng Nghị sỹ John McCain đã trả lời báo giới nguyên văn như sau: 

…Các nhà lãnh đạo của Việt Nam thừa nhận còn nhiều việc phải làm, vì một lý do trên hết: Nó là điều tốt cho Việt Nam – cho sự ổn định, thịnh vượng và thành công của Việt Nam. Như Thủ Tướng Chính Phủ cho biết trong lời phát biểu đầu năm của mình, ‘Dân chủ là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của nhân loại. ‘Chế độ ở Việt Nam, ông nói,phải làm tốt hơn về dân chủ, và Đảng CSVN phải giương cao ngọn cờ dân chủ…’” [Giáo Già in đậm].

Đồng thời, thay lời kết, ông nói:

Chúng tôi hy vọng rằng Việt Nam sẽ chuyển những lời đáng ghi nhận này thành nhữnghành động mạnh dạn, chẳng hạn như trả tự do cho các tù nhân lương tâm, tạo không gian cho xã hội dân sự, và cuối cùng làm rõ trong pháp luật và chính sách rằng quyền lực nhà nước là hạn chế và các nhân quyền phổ quát - các tự do phát biểu, lập hội, thờ phượng, xuất bản, và truy cập thông tin - được bảo vệ cho tất cả công dân… (Bản tin của BBC ngày 11-8-2014) [Giáo Già in đậm].

Trong khi đó, đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) của VC không ngần ngại cho hay, chiều 8/8/2014, tại Trụ sở Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tiếp đoàn Thượng viện Hoa Kỳ sang thăm Việt Nam gồm Thượng Nghị sỹ John McCain (Đảng Cộng hòa, tiểu bang Arizona) và Thượng nghị Sỹ Sheldon Whitehouse (Đảng Dân chủ, tiểu bang Rhode Island), nói rằng: 

Các Thượng Nghị sỹ (Hoa Kỳ) đã chia sẻ với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một số nhận định về tình hình thế giới và khu vực hiện nay, bày tỏ quan tâm đặc biệt đến vấn đề tự do hàng hải và tình hình căng thẳng vừa qua ở biển Đông, cho rằng việc tuân thủ các chuẩn mực và luật pháp quốc tế là hết sức cần thiết đối với tất cả các nước… (Ngoài ra) các Thượng Nghị sỹ (cũng) đề xuất một số biện pháp về hợp tác song phương trong thời gian tới, khẳng định Quốc hội và Chính phủ Hoa Kỳ đều mong muốn tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau với Việt Nam trên các lĩnh vực và các kênh, trong đó có quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam.” 

Nhận xét chung của các nhà quan sát thấy rằng nhà cầm quyền Việt Nam vẫn cứ luận điệu cũ chỉ lập đi lập lại những gì thực sự cần thiết và có lợi cho họ mà không hề có một cử chỉ thiện chí tối thiểu đáp lại những khuyến nghị của Hoa Kỳ. Báo chí trong nước không hề nhắc đến chủ đề “nhân quyền”, một trong những nội dung trọng tâm bậc nhất của chuyến thăm này, vì đó là điều Đảng và Nhà nước không muốn cho người dân biết. Nó thể hiện cái “văn hóa đồ đểu” cố hữu của CSVN. Nhưng, ngày trước làm như vậy thì được, chớ bây giờ, với thời đại của Internet, mọi bưng bít trở thành trò hề, nên mức độ “đểu” ngày càng trầm trọng thêm.

Chưa hết, cái “văn hóa đồ đểu” đó của CSVN còn được đệm thêm bằng cái “văn hóa lưu manh”, thể hiện qua hành động bắt giam người tù lương tâm làm “con tin” để thương lượng trao đổi khi bị áp lực của quốc tế lên án những hành động vi phạm nhân quyền của Đảng và Nhà nước, như vừa trả tự do 
cho cô Đỗ Thị Minh Hạnh để làm dịu dư luận khi thương nghị về TPP, mà vẫn cứ giam cầm Đoàn Huy Chương và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, 2 người tù lương tâm có cùng một vụ án, để mong có thêm những thương lượng tiếp khi bị quốc tế áp lực hơn nữa(?). Chúng còn lưu manh hơn nữa là buộc người sắp được chúng trả tự do phải “nhận tội” rồi mới được thả, trong khi tất cả đều vô tội và cương quyết không nhận tội…

Cái “lưu manh” đó vừa được thể hiện thêm một hình thức mới nữa, được áp đặt lên người tù chánh trị kiên cường bất khuất Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, khi chúng buộc gia đình phải “đóng án phí để... đặc xá?!” như tin được con của ông là Nguyễn Trí Dũng đăng trên Đàn Chim Việt và một số diễn đàn, cho biết gia đình đã nhận được giấy mời [phóng ảnh đính kèm] viết rằng “đại diện gia đình ông Nguyễn Văn Hải (Blogger Điếu Cày) đóng án phí bốn trăm ngàn đồng trong vụ án hình sự Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do (CLBNBTD) với gợi ý là để ‘đủ điều kiện được xem xét giảm án-đặc xá.

Tin cũng cho biết thêm là “Việc gửi một "giấy mời... đóng án phí" với gợi ý về việc trả tự do cho ông Hải rất có thể đến từ một nhu cầu cải thiện hình ảnh khẩn cấp của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam… Xin nhắc lại câu nói của cha tôi trong những lần gặp trước đây: ‘Bố có thể ở tù đến chết để cho tất cả mọi người được biết đến thực trạng của người tù chính trị ở Việt Nam’."

Chuyện “văn hóa đồ đểu” và “văn hóa lưu manh” của CSVN chắc vẫn còn dài; nhưng chiều dài của nó đang bị thời đại Internet rút ngắn, ngày càng ngắn hơn, với sự tham gia tích cực của tuổi trẻ, của các blogger chẳng những hết sợ bạo lực, hết sợ mọi thủ đoạn đàn áp của công an; lại càng lúc càng có thêm những phát kiến ngoạn mục, trong nỗ lực “chống Tàu diệt Việt cộng” đồng nhịp với những áp lực của quốc tế lên án CSVN vi phạm nhân quyền và nhu nhược trước sự lấn lướt của Trung Quốc, không để VN trở thành nô lệ của Bắc Kinh.


Biển Đông: Mỹ nòng lòng, đảng (ta) thư thả!


Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam (Danlambao) - Trong những năm qua đảng và nhà nước cộng sản Tàu đã từng bước thực hiện ý đồ độc chiếm Biển Đông. Trước tiên họ dùng những người làm công tác khoa học kỹ thuật cài đặt bản đồ nước Tàu với đường lãnh hải 9 đoạn hình lưỡi bò bao trùm toàn bộ Biển Đông lấn sát bờ biển của các nước trong vùng trong những bài nghiên cứu gởi đăng trong những tạp chí khoa học quốc tế để ngầm tạo chứng cứ “lịch sử” cho hành động chính thức chiếm đoạt toàn bộ biển Đông trong tương lai. Việc làm bá đạo và gian manh của bọn bá quyền Tàu cộng đã bị cộng đồng trí thức người Việt trong ngoài nước vạch mặt tố giác trước công luận thế giới qua chiến dịch viết thư cảnh giác với hơn 200 trí thức và khoa học gia cùng ký tên, gởi đến cho khoảng 200 tổ chức truyền thông và các tổ chức nghiên cứu khoa học kỹ thuật tại nhiều nước trên thế giới.

Hành động cướp đoạt toàn bộ biển Đông đã và đang được nhà nước cộng sản Tàu gia tăng tốc độ và phương cách xâm chiếm từ “diễn biến hòa bình” sang đối đầu quân sự biển người “biển tàu”, đặc biệt với sức mạnh hải quân của họ. Sau thời gian chuẩn bị tư tưởng tạo tiền đề trong cộng đồng khoa học kỹ thuật trên thế giới và chuẩn bị cơ sở vật chất nhất là khí tài, bắt đầu từ năm 2012 cộng sản Tàu đã chính thức chuyển sang dùng bạo lực để ngang ngược lấn chiếm biển Đông theo chiến thuật chia để diệt, “bẻ từng cọng đủa”. Hai trong những quốc gia đang trực diện đối đầu với hành động xâm lược của bọn bành trường Tàu cộng là Phi Luật Tân và Việt Nam.

Với Phi Luật Tân, bọn Tàu cộng trước tiên vay đánh nước này. Chúng bắt đầu tiến hành dùng bạo lực nhằm đánh chiếm một số quần đảo, bãi san hô ngầm do Phi Luật Tân trú đóng, cụ thể là cuộc đối đầu tại bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham từ năm 2012 đến nay.

Với Việt Nam, bọn Tàu cộng đã từng dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hoà vào năm 1974 trong lúc miền Nam Việt Nam đang chật vật đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược do cộng sản miền Bắc Việt Nam thực hiện. Trong khi lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng hy sinh mạng sống đánh trả bọn xâm lược Tàu cộng thì nhà nước cộng sản Việt Nam, vừa là đồng chí và vừa là anh em của bọn xâm lược Tàu cộng, không một lời lên tiếng phản đối mà trái lại còn đồng tình với hành động xâm lược của bọn Tàu cộng. Năm 1988 bọn Tàu cộng lại dùng bạo lực thảm sát rất vô nhân đạo 64 bộ đội công binh hải quân của nước CHXHCN Việt Nam vừa là đồng chí vừa là anh em của Tàu tại bãi đá ngầm Gạc Ma. Chỉ mới cách đây vài hôm một cựu quân nhân Mỹ đã viết lại vụ thảm sát rùng rợn này mà ông tuyên bố: “Đây là một trong những tội ác trắng trợn nhất thời hiện đại, trong khi đó nạn nhân (Việt Nam) lại im lặng và bọn gây ra tội ác (Tàu cộng) lại công bố hành động tàn bạo của chính họ”. Trong vài tháng vừa qua (từ tháng 05/2014) bọn Tàu cộng gia tăng cường độ xâm lược bằng vũ lực với hành động ngang nhiên mang giàn khoan dầu nổi khổng lồ HD 981 phối hợp với hàng trăm tàu thuyền võ trang phối phợp với hải lục không quân vào chiếm đóng sâu hằng trăm cây số trong vùng lãnh hải của Việt Nam mà chúng lại ngang ngược bảo rằng đó là lãnh hải nằm trong vùng ranh giới đường lưỡi bò 9 khúc thuộc chủ quyền của chúng.

Trước hành động ngang ngược ỷ nước lớn dân đông hiếp đáp các nước nhỏ thế cô sức yếu, chính phủ và dân chúng Phi Luật Tân đã can trường chống trả, anh dũng đối đầu đuổi bọn Tàu cộng ra khỏi vùng lãnh hải của họ với những gì họ đang có trong tay, cùng lúc liên kết với các nước khác, trong số đó có sự ủng hộ nhanh chóng và nhiệt tình của Nhật và đặc biệt là từ Mỹ, nước đồng minh từ sau Thế chiến thứ II. Chính phủ Phi Luật Tân đã kịp thời ngăn chặn hành động gây hấn và ý đồ xâm lược của bọn bành trướng Tàu cộng với việc tái xác nhận Hiệp ước năm 1951 giữa Mỹ và Phi Luật Tân về phòng thủ chung nhằm bảo vệ Phi Luật Tân và tiếp đến là thoả thuận tăng cường hợp tác quốc phòng trong 10 năm tới vừa được công bố vào tháng 05/2014.

Trước tiên là vì quyền lợi về tự do di chuyển trên vùng biển Đông- con đường kinh tế huyết mạch của Mỹ, Nhật và tất cả các nước trên thế giới, sau cũng là tình đồng minh lâu đời giữa hai nước, Phi Luật Tân và Mỹ đã cùng vai sát cánh và hơn bao giờ hết, đoàn kết chống lại và tiêu diệt ý đồ gian manh xâm chiếm vùng biển phía Tây của Phi Luật Tân. Chính phủ Phi Luật Tân đã sáng suốt nhìn thấy được ý đồ thâm độc của Tàu cộng nên nhanh chóng hợp tác với Mỹ để nhờ sức mạnh quận sự của họ bảo vệ lãnh thổ của đất nưóc mình chống lài bọn bá quyền xâm lược Tàu cộng. Chính quyền Phi Luật Tân, thay mặt dân chúng họ, đã khôn ngoan dùng Mỹ làm lá chắn bảo vệ lãnh thổ chống lại hành động hiếu chiến của bọn xâm lược Tàu cộng.

Về phía Việt Nam, do mù quáng và bị bọn cộng sản Tàu mê hoặc theo chủ nghĩa vô sản quốc tế để phục vụ cho mẫu quốc cộng sản Nga - Tàu nên nhiều thế hệ của nhóm lãnh đạo đảng cộng sản tại Việt Nam bắt đầu từ Hồ Chí Minh luôn xem Việt Nam là bộ phận của thế giới cộng sản do cộng sản Tàu lãnh đạo, ngay cả việc họ luôn hãnh diện xem Tàu là quê hương của họ và Việt Nam là một phần của cộng sản Tàu. Từ đó đảng cộng sản tại Việt Nam không còn quan tâm đến toàn vẹn lãnh hải hay lãnh thổ của Việt Nam trong khi đất nước bị chia đôi, và sau khi miền Nam bị cộng sản miền Bắc đánh chiếm. Ngay cả đảng viên cơ sở và người dân miền Bắc, luôn cả thành phần trí thức được đào tạo dưới mái trường XHCN, không hay biết gì về hành động đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Mà dù cho có biết thì lại tin vào những lời tuyên truyền láo khoét của cộng sản là “các đồng chí Trung quốc đã giúp đảng ta đánh chiếm Hoàng Sa của miền Nam Việt Nam và giữ giùm cho đảng, sau này sẽ giao lại sau khi đất nước thống nhất”. Cuộc thảm sát tàn bạo 64 bộ đội công binh hải quân cộng sản Việt Nam của bọn hải quân Tàu tại bãi đá ngầm Gạc Ma vào năm 1988 cũng bị đảng cộng sản tại Việt Nam giấu nhẹm trong nhiều thập niên mãi cho đến vài năm qua mới được hé lộ. Trong những năm gần đây giới trí thức trong nước qua tiếp xúc với internet bắt đầu tìm hiểu về hành động xâm lược Hoàng Sa vào năm 1974 và tàn sát 64 bộ đội công binh hải quân rất vô nhân đạo của bọn lính Tàu cộng tại Gạc Ma năm 1988. Những người trí thức trong nước bắt đầu thức tỉnh và đã lên tiếng ngày càng đông, phản đối và chống lại bọn xâm lược Tàu cộng. Nhiều cuộc biểu tình xuống đường chống bọn bành trướng Tàu cộng đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa đã liên tục xảy ra. Để bảo vệ chế độ cộng sản và tình đồng chí anh em với bọn Tàu cộng nhà nước cộng sản tại Việt Nam tiến hành đàn áp không gớm tay và bắt bỏ tù nhiều người Việt yêu nước với những bản án tù nhiều năm khắc nghiệt. Trong khi đó nhóm lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam lại đối xử rất nống ấm trong tình anh em ruột thịt với bọn Tàu cộng, theo khẩu hiệu “16 vàng, 4 tốt”. Không những thế mà lãnh đạo cao cấp cộng sản Việt Nam còn đi các nước công khai tuyên bố họ và Tàu là anh em ruột thịt trong cùng một gia đình.

Hành động sỗ sàng mới nhất của bọn bành trường Tàu cộng là việc chúng ngang nhiên mang giàn khoan dầu nổi khổng lồ HD 981 vào sâu trong vùng lãnh hải tại miền Trung Việt Nam, sát thành phố Đà Nẵng. Thay vì có hành động quân sự cụ thể như đưa các tàu chiến ra đối mặt để tống khứ giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam thì quân đội cộng sản Việt Nam chỉ làm có tính cách trình diễn cho có lệ với vài ba chiếc tàu sơ sài gọi là tàu cảnh sát biển ra “nhảy đầm” và chơi trò rượt đuổi cút bắt với những tàu chiến của bọn xâm lược Tàu cộng. Trong khi đó lãnh đạo đảng cộng sản tại Việt Nam lại đẩy ngư dân với những chiếc thuyền gỗ mong manh của họ ra bảo vệ biển đảo - “bám biển”, trong khi đó thì những chiến hạm tên lửa tối tân thì không thấy tăm dạng - “bám bờ”.

Trước sự thư thả, thơ thới, bình thản của toàn bộ các vị lãnh đạo các cấp của cộng sản Việt Nam -  đảng, nhà nước, quốc hội - xem hành động đem giàn khoan cùng máy bay và tàu chiến vào sâu trong vùng biển của Việt Nam là chuyện nội bộ của anh em trong gia đình; Mỹ thì trái lại, càng lúc càng nóng lòng và nghi ngại rằng toàn bộ biển Đông đã được Việt Nam trao cho Tàu “giữ hộ” từ lâu nên họ mới không bồn chồn lo lắng như nước Phi nằm bên kia biển Đông. Chính quyền Mỹ phải hạ mình mời Bộ trưởng ngoại giao cộng sản Việt Nam Phạm Bình Minh sang Hoa Thịnh Đốn bàn bạc vụ giàn khoan và lãnh hải Việt Nam nhưng ông ta cứ lờ đi, thay vì đi Mỹ ngài Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao Minh bay sang thăm Ba Lan. Thay vào đó lãnh đạo đảng cộng sản tại Việt Nam lại giao cho bí thư thành ủy thành phố Hà Nội Phạm Quang Nghị sang Mỹ bàn chuyện lãnh thổ lãnh hải. Việc đưa một người lãnh đạo cấp thành phố sang gặp viên chức cấp Bộ của một nước để bàn chuyện liên quan đến quốc phòng và an ninh của quốc gia là một việc làm xấc lối và trịnh thượng. Thêm vào đó, việc Phạm Quang Nghị trao cho Thượng nghị sĩ John McCain bức hình chụp lại nơi mà ông Mc Cain bi bắt trong cuộc chiến là một việc làm vô ý thức, cố tình hạ nhục người chủ nhà đã mời mình vào nhà. Chỉ cóbọn côn đồ vô học và mất dạy mới làm việc đó, không phả là một nhân vật đại diện cho một quốc gia, dù cho có là chính danh hay không.

Chính quyền Mỹ vì quyền lợi về an toàn của con đường hàng hải trong vùng biển Đông đã tỏ ra rất nhún nhường và nhẫn nhịn trước hành động xấc láo của cộng sản Hà Nội. Có thể Mỹ biết rõ là đảng cộng sản tại Việt Nam đã bí mật thỏa thuận với Tàu về tiến độ sáp nhập Việt Nam vào nước Tàu từ lâu (1990?), nên việc họ mời gọi hợp tác quân sự giúp Việt Nam bảo vệ lãnh hải trong biển Đông là để thử “lửa”, và cũng là với ngụ ý gián tiếp cho dân Việt Nam biết về hành động bán nước và dâng hiến đất nước Việt Nam của các thế hệ lãnh đạo cộng sản tại Việt Nam cho Tàu đã xảy ra. Về phần mình, Mỹ đã làm tích cực một số việc quan trong nhằm giúp tạm thời ngăn chận hành động bá quyền của Tàu cộng tại biển Đông:

- Thượng viện Quốc Hội Mỹ ra Nghị quyết lên án Trung cộng đưa trái phép giàn khoan vào vùng lãnh hải của Việt Nam và yêu cầu nhanh chóng rút giàn khoan về nước và đưa biển Đông trở về nguyên trạng trước ngày 01/05/2014. Trong khi đó quốc hội của đảng cộng sản tại Việt Nam, quốc gia bị ảnh hưởng trực tiếp từ hành động xâm lược của Tàu cộng, lại không làm gì và xem chuyên Tàu cộng mang giàn khoan vào vùng biển Việt Nam là chuyện nhỏ, chuyện bình thường giữa anh em trong gia đình.

- Tuyên bố công khai sẵn sàng hợp tác quận sự toàn diện với phía Việt Nam để giúp Việt Nam chống lại hành động bá quyền tại biển Đông, cụ thể nhất là chuyến chính thức viếng thăm Việt Nam mới đây của Tham Mưu Trưởng liên quân Hoa Kỳ Đại Tướng Martin Dempsey vào ngày 14/08/2014.

Trong khi Hoa Kỳ thật sự nóng lòng muốn giúp Việt Nam bảo vệ lãnh hải, bảo vệ biển Đông dù biết rõ chế độ cộng sản Việt Nam là chế độ chuyên chế, phản dân chủ, phản tự do, phản nhân quyền; thì trái lại đảng nhà nước cộng sản Việt Nam lại tỏ ra rất ư là thư thả, hờ hững như “gái tân làm giá”. So với Phi Luật Tân và các nước trong vùng Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia quan trọng nhất và có nhiều quyền lợi nhất tại biển Đông cả về kinh tế lẫn an ninh quốc phòng trong vùng biển truyền thống từ bao đời này. 

Có phải đảng cộng sản tại Việt Nam đã bí mật đồng ý hợp nhất với Tàu từ hội nghị Thành Đô năm 1990 như nhiều người Việt Nam trong ngoài nước và ngay cả lớp đảng viên cộng sản kỳ cựu đang nghi ngờ điều đau lòng này là sư thật, và đang đòi hỏi phải bạch hóa trước toàn dân toàn bộ chi tiết của bản hiệp định Thành Đô này mà đảng cộng sản Việt Nam đã cố tình giữ bí mật trong thời gian dài gần 25 năm? 

Phản ứng của lãnh đạo đảng cộng sản tại Việt Nam đáp lại hành động chủ động và tích cực tiến tới hợp tác quân sự toàn diện với Việt Nam của Hoa Kỳ hầu ngăn chặn ý đồ xâm chiếm toàn bộ Biển Đông càng lúc càng rõ của Tàu Cộng sẽ chứng minh:

- Hoặc là lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đã trao đất nước Việt Nam cho Tàu để thành một tỉnh/vùng tự trị/tiểu bang của “Liên Bang Đại Quốc Tàu” từ ngày ký Hiệp nghị Thành Đô vào năm 1990,

- Hoặc Việt Nam vẫn còn là một quốc qia độc lập tự chủ. 

Tham mưu trưởng Liên Quân Hoa Kỳ Martin Dempsey duyệt hàng quân danh dự cùng Tướng Đỗ Bá Tỵ trong buổi lễ chào đón tại Bộ Quốc phòng ở Hà Nội, ngày 14/8/2014. Ba thế hệ lãnh đạo đảng cộng sản tại Việt Nam cùng lãnh đạo cộng sản Tàu tại Thành Đô năm 1990

Ngày 17 tháng 08 năm 2014



__________________________________

Tham khảo:

Thư cảnh giác gởi cơ quan truyền thông quốc tế


57 khoa học gia và trí thức gởi thư cảnh báo bản đồ lưỡi bò của Trung Cộng


Nguyễn Văn Tuấn: Bản dịch bài viết trên tạp chí Nature về bản đồ lưỡi bò của Trung cộng


Trung Cộng, Philippines chạm mặt trên Biển Đông


Vụ thảm sát ‘thế giới chưa từng biết đến’


The Massacre “Not Heard Around the World”


Thỏa thuận QP với Mỹ giúp Philippines trong tranh chấp Biển Đông trước TC



Bạch hóa Hội Nghị Thành Ðô?

Ai là kẻ "phản động? Câu hỏi dành cho ông Nguyễn Tấn Dũng


David Thiên Ngọc (Danlambao) - Chủ nghĩa CS là một chủ nghĩa không chỉ "phản động" mà là "đại phản động". Mới đọc những lời đầu của bài viết chắc hẳn có một số không ít bạn đọc cho rằng tác giả quá cực đoan! Thế nhưng nhìn lại hiện tình đất nước, nhân dân VN một cách rộng rãi và đa chiều thì chúng ta sẽ thấy vấn đề được khách quan hơn. Trước hết tôi xin nói về phạm trù "phản động".

Phản: Ngược lại, làm ngược lại. 

Động: Sự di chuyển, ở đây chỉ sự tiến lên theo chiều tích cực. Theo sự tiến hóa với nỗ lực của con người để xã hội tiến lên văn minh, tiến bộ.

Vậy phản động là đi ngược lại, là trái lại và cản trở bước tiến bộ để hoàn thiện hơn, tốt đẹp hơn, ngược lại sự tiến hóa của con người, của xã hội. Như vậy những ai, tổ chức nào làm cản trở bước đi lên của sự phát triển của mọi vấn đề từ con người đến xã hội là những kẻ "phản động", những tổ chức phản động. Nếu sự phản động kéo dài và gây tác hại lớn, để lại hệ luỵ không lường cho con người, cho xã hội thì những kẻ đó, tổ chức đó là "Đại phản động".

Ta hãy đứng độc lập ra bên ngoài xã hội VN kể từ sau mùa xuân 1975 và tách khỏi khuynh hướng chính trị để có một cái nhìn khách quan và công bằng.

Trong những năm của thập niên 60s và đầu thập niên 70s của thế kỷ trước, nước VNCH có một vị trí khá cao ở Đông Nam Á và kể cả Đông Bắc Á về lĩnh vực kinh tế, khoa học, văn hóa xã hội và kể cả chính trị. Những nước như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Philippines, Indonesia, ThaiLan... đều đứng sau VNCH trong những lĩnh vực kể trên và VNCH xứng đáng với danh Hòn Ngọc Viễn Đông. Thế mà chỉ sau mùa xuân 1975 khi cộng sản nhuộm đỏ miền Nam Việt Nam đem chủ nghĩa cộng sản "thần thánh" gieo rắc khắp hang cùng ngõ cụt, từ rừng núi đến thôn quê, đến tận trong xó bếp của mọi gia đình, đến các chuồng trâu, chuồng lợn, chuồng gà... ra đến ao bèo ngoài đầu ngõ... đâu đâu cũng có sự lăm le của chiếc búa, lưỡi liềm.

Theo báo cáo phát triển Việt Nam năm 2009 của WB thì VN đã tụt hậu so với Indonesia 51 năm, với Thailand 95 năm, với Singapore 158 năm và 200 năm so với Hàn Quốc.

Đó là sự đánh giá có tài liệu, hồ sơ, có căn cứ cơ sở khoa học của ngân hàng thế giới một tổ chức phi chính trị và luôn có cái nhìn, đánh giá chính xác và khách quan. Tôi xin kiểm chứng như sau.

Những người dân miền Nam VN từ khi có đảng chạy khắp đồng ruộng, phố phường không ai mà không thấy được 2 bức tranh xã hội mang 2 gam màu tương phản trước và sau 30/4/1975.

Trước hết là mặt kinh tế xã hội đời sống vật chất của nhân dân. Kể từ khi nhân dân miền Nam trở thành "con người mới"- từ của đảng CSVN dùng để chỉ cho nhân dân miền Nam sau 30/4 - cái họa trở thành tội phạm và chữ tù luôn treo lơ lửng trên đầu và tròng vào cổ bất cứ lúc nào không biết từ các nguyên nhân sau: Nơi đây tôi chỉ nhắc lại một số điểm căn bản mà cả nhân dân MNVN ai cũng rõ.

Ở MNVN trước 30/4/75 các phương tiện giao thông cá nhân bằng xe gắn máy, xe hơi là bình thường, ai cũng có thể có được. Và tất nhiên là xăng dầu đáp ứng cho phương tiện vận hành là tự do. Thế nhưng sau những năm đầu sau 30/4/75 xăng dầu là hàng quốc cấm, là vật tư quốc phòng. Nếu tàng trữ từ 3-5 lít xăng mà không có phiếu và sổ xăng (chỉ có cán bộ cs trung cấp trở lên mới có) bị xem như tàng trữ hàng quốc cấm, vi phạm an ninh quốc phòng. Như vậy nếu bị phát giác, tố cáo thì đi tù là cầm chắc mà chẳng có một bản án nào được xét xử công minh.

Gạo là lương thực chiến lược có tính cách an ninh quốc gia. Lúc đó sổ hoặc tem phiếu gạo được cấp cho người dân từ 15kg-21kg/tháng tùy theo đối tượng lao động, trong đó 50% là gạo mục và 50% là mì (sắn) khô để ăn độn. Do đó ai mà tàng trữ 10 kg gạo trắng trở lên xem như phạm tội xâm hại đến an ninh quốc gia nếu bị phát giác như xăng dầu thì chữ tù là cầm chắc. Mà khổ nỗi là lúc đó các cán bộ cs bày vẽ cho các em cháu trong đội thiếu niên tiền phong đi lục lạo các nhà để phát hiện các thứ trên và tố cáo.

Lúc đó "luật" rất nghiêm minh, tên “hoạn lợn, thiến heo” Đỗ Mười (sau này là một trong 3 tên tội đồ ký mật ước Thành Đô tháng 9/1990 bán nước VN cho Tàu) đi công cán ở miền Tây Nam Bộ về lại Sài Gòn, "nhân dân ái mộ, ghi ơn" ông trong công cuộc cải tạo công thương nghiệp đẩy hàng triệu người dân xuống biển lên rừng... nên có quà tặng cho ông 10kg gạo trắng ngon, nhưng khi xe ông lên đến trạm kiểm soát liên hợp Tân Hương Long An bị nhân viên quản lý thị trường tịch thu. Lúc đó "cần vụ" của ông nói là của đ/c Đỗ Mười!- “Đ…mẹ của thằng Đỗ Mười Một tao cũng bắt tịch thu luôn chứ đừng nói Đ.M”. Đó! các bạn thấy không? "công pháp bất vị thân" mà, rất nghiêm minh, một nhân viên quèn ở trạm kiểm soát mà còn dám xử lý không nương tay, sòng phẳng với "Một đ/c ủy viên Bộ Chính Trị" và xem ngang bằng với một con dân buôn bán nhỏ lẻ qua đường kiếm cơm độ nhật! khi vi phạm thì dân đen và một đ/c ủy viên Bộ Chính Trị đều bị xử lý như nhau. Chứ đâu như hậu duệ của cs ngày nay, tội trạng như đ/c X bán cả giang san, thâu tóm cả tài nguyên vật lực của Quốc Gia Dân Tộc về cho riêng mình và dòng họ con cháu mà cả bầy đệ tử của "Mao Hồ" cũng cắn móng tay đứng nhìn mà còn thở ra buông câu "vì hoàn cảnh"... và đ/c X ngạo nghễ ném về phía đám bất tài một nụ cười thách thức bí hiểm của Mona Lisa. Những con người luôn ra rả vì nước, vì dân... thế mà giặc nội thù đạp bằng cả giang sơn dân tộc mà bất lực nhu nhược buông lời vô cảm, buông xuôi để mặc cho giặc thù tiếp tục xà xẻo Quốc Gia. Nói như dân dã là "Bù trớt".

Phương tiện đi lại đường xa của nhân dân thời tư bản giãy chết thì bạt ngàn... từ Sài Gòn ra đến Đà Nẵng, Huế ngoài phương tiện máy bay còn xe khách các hãng như Phi Long-Tiến Lực, Phi Mã... người dân thoải mái lên xe nghe nhạc, ngủ... là đến nơi, chỉ trừ khi nào có vịt cộng ra đắp mô, phá cầu phá đường là bị trở ngại mà cũng chỉ trong thời gian ngắn là tái lập giao thông ngay. Thế mà sau khi đảng về, xăng dầu là vật tư quốc phòng, là hàng quốc cấm do đó xe cộ phải chuyển qua xài "than". Đi một đoạn đường ngắn từ Sài Gòn ra Biên Hòa, Long Khánh là hành khách ngửi khói than mịt mù và hơi nóng hừng hực như lò bát quái, mồ hôi lẫn khói đen, mặt mày nhễ nhại, nước mắt chảy ròng vì cay như đang diễn tuồng "trướng hạ biệt Ngu Cơ". Lơ (phụ) xe thì tay cầm khúc gỗ lớn gõ liên tục vào thùng than phía sau xe tung bụi, than hồng vung vãi khắp mặt đường như hỏa diệm sơn, như mưa sa gió cát... Mặt mũi thì đủ vầng đen, xám như thể "anh hùng lỡ vận lên nguồn đốt than", như công nhân ở mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả.

Cuộc sống thần tiên của những "con người mới" không giấy bút nào kể ra cho xiết. Nơi đây tôi chỉ đơn cử một số hình ảnh để chứng minh rằng sự đánh giá về phát triển của VN do Ngân hàng Thế giới báo cáo là không sai.

Các điểm nêu trên mới chỉ là bức tranh kinh tế xã hội VN trong bối cảnh những năm tháng đầu đảng cs Bắc Việt cưỡng chiếm MNVN. Bây giờ ta thử bước vào lĩnh vực văn hóa, chính trị.

Văn hóa là một biển trời mênh mông... từ mọi nét sinh hoạt trong cuộc sống, trong xã hội, học đường đến gia đình đâu đâu cũng toát lên một gam màu ảm đạm đen tối...

Đạo đức suy đồi, băng hoại một cách trầm trọng mà bao phen những nhà làm văn hóa, giáo dục có tâm huyết với dân tộc đã gióng lên những hồi chuông báo động, thậm chí có những tiếng gào thét kêu cứu trước sự diệt vong của một nền văn hóa, đạo đức mà ông cha đã vun xới tô bồi qua bao thế hệ để thay thế bằng một nền đạo đức gọi là đạo đức cách mạng rồi biến thái thành đạo đức HCM. Một nền văn hóa phi nhân bản gọi là văn hóa xhcn phá bỏ mọi giềng mối, kỷ cương, đức tin tôn giáo mà hàng ngàn năm trên khắp hành tinh được loài người tôn vinh, làm con đường sáng để tiến về phía trước, làm thước đo cho mọi giá trị tinh thần và là những giáo trình, giáo án để truyền dạy cho con cháu đời sau.

Cái hiểm họa diệt vong cho dân tộc chính là sự băng hoại về đạo đức, suy đồi về văn hóa. Sự tha hóa của một xã hội mục ruỗng về mọi mặt như xã hội VN hiện nay, nếu muốn cứu nguy cho dân tộc thì ta chỉ còn có một con đường duy nhứt là đào thải cái văn hóa nô dịch là phương tiện truyền tải cho chủ nghĩa cs với mộng xâm lăng, bá quyền Tàu cộng.

"Sai lầm về văn hóa có thể làm chết muôn đời..." Lão Tử đã nói hơn hai ngàn năm qua rồi đó sao?

Nói về chính trị thì rõ ràng đảng csvn đang áp đặt một nền chính trị độc đảng, độc tài, độc đoán, độc tôn và cuối cùng là độc ác với nhân dân. Ở đây ta không bàn thêm về học thuyết của chủ nghĩa cs mà chỉ nói lên một khía cạnh là đảng csvn đã làm cản trở và triệt tiêu bước tiến của Quốc Gia, của dân tộc. Trong đó đảng csvn đã phạm một trọng tội đối với tổ tiên, dân tộc VN là triệt tiêu lòng yêu nước của nhân dân. Đảng csvn đã tự vạch ra cho mình lằng ranh giới tuyến tách biệt với nhân dân và phân định rạch ròi địch-ta (giữa đảng với dân) một cách công khai.

Không riêng gì nhân dân VN mà nhân dân trên toàn thế giới đều biết rõ và rất rõ rằng Trung Quốc đang xâm chiếm cõi bờ, biển đảo và từng bước Hán hóa dân tộc VN bằng mọi hình thức nào có thể.

Nhưng cũng có một điều dứt khoát rằng, cho dù trong mọi hoàn cảnh nào dù là sức yếu thế cô dân tộc VN cũng không bao giờ chịu cúi đầu, bó tay khuất phục trước quân thù. Điều này đã chứng minh qua mấy ngàn năm lịch sử. Giặc Tàu đặt ách đô hộ lên dân tộc Việt cả ngàn năm nhưng nào có xóa được biên cương? có đồng hóa được dân tộc? có xóa tan được nét văn hóa dân tộc đặc thù và cuối cùng dân tộc Việt vẫn ngẩng cao đầu trước bốn bể năm châu.

Ở đây tôi muốn nói lên một điều rằng đảng csvn cho dù đặt lên đầu, lên cổ nhân dân VN bằng một thể chế chính trị man rợ, một chính sách tàn độc, dã man và bằng mọi cách triệt tiêu lòng yêu nước của nhân dân cũng không thể nào dập tắt được những ngọn lửa kiêu hùng, bất khuất của vạn vạn lớp anh thư, tuấn kiệt mang trong người dòng máu liệt oanh của bà Trưng, bà Triệu, của Hưng Đạo Vương, Quang Trung Nguyễn Huệ... hùng anh.

Tôi cũng xin nói lên một điều nữa rằng chỉ có quân xâm lăng cướp nước mới ra tay triệt tiêu lòng yêu nước của công dân VN, mới hung hăng tàn sát, tù đày đánh đập, khảo tra người yêu nước VN.

- Người yêu nước VN chống Trung Quốc xâm lăng là chống đảng? Vậy đảng csvn là của ai? và đang thực hiện mưu đồ mục đích gì?

- Nhân dân VN thể hiện lòng yêu nước mà đảng csvn cho là thế lực thù địch? Vậy đảng csvn đã tự thú rằng chính họ là kẻ thù của dân tộc VN!

- Nữ sinh viên Nguyễn phương Uyên nói lên tiếng nói yêu nước VN, yêu dân tộc VN, ghét kẻ xâm lăng nhiều mưu ma chước quỉ thâm độc hãm hại dân tộc VN khi vừa tròn 20 tuổi. Cũng vì trái tim rạo rực, trăn trở với tình yêu nước nồng nàn đó mà đảng cs VN đã cho tay sai bắt cóc rồi tống cô vào ngục không khác gì phường thảo khấu lục lâm!

Với tâm hồn trong trắng, tinh khôi, với trái tim yêu nước nồng nàn, với lời lẽ trong sáng và mạnh mẽ, với hành động cao đẹp chính danh, với tuổi đời trẻ trung đầy sức sống, ngoan cường bất khuất... Phương Uyên nhất định phải thắng và đã thắng. Thế hệ trẻ yêu nước như Phương Uyên, Minh Hạnh, Nguyên Kha, Việt Khang, Thanh Nghiên, Hoàng Vi, Thục Vy, thị Nga và hàng hàng anh thư tuấn kiệt khác sẽ cất cao đầu trên đỉnh vinh quang của niềm tin và hy vọng. Tôi hoàn toàn tin là như thế.

Một Việt Khang. Người thanh niên dũng cảm không hề nao núng trước bạo lực của kẻ hung tàn. Anh luôn cất cao giọng hát với cung đàn theo nhịp hành khúc tương lai của đất nước. Những kẻ chống lại anh, che lấp bóng hình anh, bịt tắt tiếng hát anh chính là những kẻ đã tự đưa đầu vào cho bánh xe lịch sử lăn qua và làm cho cung bậc của nốt nhạc quê hương thêm bay bổng.

Xuyên suốt các sự việc, qua hành động của đảng csvn và tinh thần người yêu nước VN hẳn chúng ta và toàn thể nhân loại cũng đã rõ ai là kẻ "phản động", "đại phản động"?. Cho dù dưới hình thức nào, phương tiện nào kẻ tà quyền dùng làm vũ khí để chụp lên đầu những người yêu nước VN với phạm trù "phản động" thì lẽ tất nhiên phạm trù đó nó sẽ tự quay về nơi nào là vị trí đích thực của nó.

Những lời này tôi xin gởi đến cho tất cả những anh hùng liệt nữ của dân tộc VN đang chịu sự sách nhiễu, đọa đày bởi gông cùm tàn độc của quân khát máu hung tàn, đồng thời để trả lời cho ông Nguyễn tấn Dũng về bài phát biểu của ông tại bộ côn an nhân ngày kỷ niệm 69 năm thành lập đội ngũ "còn đảng còn tiền".

Ngày 17.8.2014


Việt Nam xoay trục ngoại giao để thoát Trung?




Phạm Trần (Danlambao) - Việt Nam đã quyết định tăng cường “đối ngoại đa phương” để chống áp lực phải nói chuyện “song phương” với Trung Cộng về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông là kết luận tìm thấy sau Hội nghị một ngày về “Đối ngoại đa phương thế kỷ 21 và khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội ngày 12/08/2014.
Không nêu đích danh Trung Cộng, nhưng chỉ dấu của chính sách mới này đã bao phủ trong 4 bài nói chuyện của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng-Bộ trưởng Ngọai giao Phạm Bình Minh, Thứ trưởng Quốc Phòng, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và Nhà ngoại giao kỳ cựu nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Khoan.
Thủ tướng Dũng: “Trong công cuộc bảo vệ chủ quyền của đất nước, đặc biệt trong tình hình Biển Đông hiện nay, chúng ta cần coi trọng vai trò, tiếng nói của các thể chế, các diễn đàn đa phương, đặc biệt là Liên Hợp Quốc, ASEAN, Phong trào Không liên kết. Chính sự đoàn kết, ủng hộ mạnh mẽ của các bạn bè quốc tế tại các diễn đàn đa phương đối với lập trường chính nghĩa của Việt Nam đã góp phần quan trọng đề cao chủ trương giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, các nguyên tắc ứng xử của khu vực, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.”
Hội nghị quy tụ trên 200 cán bộ ngoại giao Trung ương và địa phương trên toàn quốc do Bộ Ngoại giao phối hợp với UNDP (United Nations Development Programme) tổ chức, theo tin phổ biến, để “nhìn lại gần 30 năm thực hiện chính sách đối ngoại đa phương của Việt Nam, rút ra các bài học kinh nghiệm, và đề ra khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam và ASEAN (Association of South East Asia Nations).”
Khách quốc tế có các ông Pascal Lamy, Chủ tịch danh dự Viện Notre Europe-Jacques Delors, nguyên Tổng Giám đốc WTO, Tiến sỹ Jayantha Dhanapala, Chủ tịch Hội nghị Pugwash về khoa học và các vấn đề thế giới, nguyên Phó Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc phụ trách giải trừ quân bị, Chủ tịch Tập đoàn Kerry Logistics, ông George Yeo, nguyên Ngoại trưởng Singpapore.
Đây là lần đầu tiên sau gần 30 năm thi hành chính sách được gọi là “đổi mới” để hội nhập mới có một cuộc thảo luận sâu rộng về lợi ích của nền “ngọai giao đa phương” vào đúng lúc Việt Nam rất cần được dư luận Quốc tế ủng hộ trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Cộng.
Cụ thể, trong thời gian Trung Cộng đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng Biển Đông mà cả Việt Nam và Trung Cộng đều coi là của mình từ ngày 02/05 đến 17/07 (2014), nhà nước Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã trao và đề nghị Liên hiệp quốc (LHQ) từ đầu tháng 07 (2014) “lưu hành hai văn bản về lập trường của Việt Nam đối với việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, đồng thời bác bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc.”
Hai văn kiện này cũng đã được phía Việt Nam gửi cho Liên hiệp Châu Âu, 184 nước có bang giao với Việt Nam, tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN, Association of South East Asia Nations) và các tổ chức Quốc tế.
Việt Nam đã làm như thế để đáp lại Tuyên bố 5 điểm của Trung Cộng phổ biến trước đó tại Liên Hiệp Quốc nói rằng: “Ngày 2/5/2014, giàn khoan "981" của doanh nghiệp Trung Quốc tiến hành hoạt động khoan thăm dò tại khu vực tiếp giáp quần đảo Tây Sa (Hòang Sa) Trung Quốc, nhằm thăm dò tài nguyên dầu khí. Hiện nay, công tác giai đoạn một đã hoàn thành, công tác giai đoạn hai đã bắt đầu từ ngày 27/5. Vùng biển tác nghiệp trong giai đoạn một và hai đều nằm cách đảo Trung Kiến quần đảo Tây Sa và đường cơ sở thẳng lãnh hải quần đảo Tây Sa 17 hải lý, cách bờ biển Việt Nam từ 133 đến 156 hải lý. (mỗi hải lý dài 1,852 mét)
10 năm gần đây, doanh nghiệp Trung Quốc luôn tiến hành hoạt động thăm dò tại vùng biển liên quan, bao gồm thăm dò địa chấn và điều tra hiện trường giếng dầu. Tác nghiệp khoan thăm dò của giàn khoan "981" lần này là sự tiếp diễn thường kỳ của tiến trình thăm dò, hoàn toàn trong phạm vi chủ quyền và quyền quản lý của Trung Quốc.”
Để tránh gây trở ngại ngoại giao, không có nước nào công khai ủng hộ lập trường chủ quyền của hai nước Việt-Trung mà đa số chỉ kêu gọi hai bên kiềm chế, không có hành động quân sự gây nguy hiểm cho lưu thông hàng hải và cần nói chuyện với nhau để giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình.
Ngoại trừ Nga tránh chỉ trích hành động của Trung Cộng, các nước lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc đã lên án hành động “gây bất ổn định trên Biển Đông” của Bắc Kinh.
Tuy nhiên Liên hiệp Châu Âu (European Union, EU), theo lời chuyên viên Ngọai giao Bà Tôn Nữ Thị Ninh thì: “Tuy có quan hệ tốt đẹp với Việt Nam, nhưng EU chưa lên tiếng mạnh mẽ và rõ ràng như vậy về vấn đề biển Đông.”
Bà nói: “EU vẫn đang nhìn nhận vấn đề theo cách hạn chế, như thể đó chỉ là tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thực tế là, quy mô của vấn đề ở tầm khu vực, và trên một số phương diện, đây là vấn đề toàn cầu.” (Thời báo Kinh tế Việt Nam,24/06/2014, dựa theo bài Phỏng vấn của phóng viên Rodion Ebbighausen, Thông tấn xã Đức, Deutsche Welle, DW)
Chính vì vẫn còn những hạn chế bất lợi cho Việt Nam trên diễn đàn Quốc tế nên ông Dũng đã nói với Hội nghị rằng: “Trong môi trường an ninh và phát triển đang chuyển biến rất nhanh và sâu sắc, tất cả các nước lớn nhỏ đều đứng trước nhu cầu tăng cường hợp tác, liên kết để cùng giải quyết các vấn đề chung cấp bách. Các thách thức toàn cầu ngày càng nhiều và phức tạp, nằm ngoài khả năng giải quyết của từng quốc gia và từng khu vực. Đó là việc bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế, ngăn ngừa và giải quyết xung đột, đến các vấn đề liên quan tới liên kết kinh tế, tài chính, tự do hóa thương mại, đầu tư... cũng như việc hợp sức ứng phó với khủng hoảng và các thách thức an ninh phi truyền thống.
Thế giới đang hướng đến cục diện “đa cực” cùng với xu thế dân chủ hóa phát triển mạnh mẽ trong quan hệ quốc tế. Tất cả các quốc gia đều rất coi trọng các thể chế, các phương thức giải quyết đa phương nhằm phục hồi kinh tế, mở rộng không gian phát triển, tạo thêm thế và lực trong cục diện mới. Trong đó, châu Á-Thái Bình Dương đang đi đầu về xu hướng liên kết đa tầng nấc và đã trở thành một trung tâm kinh tế, chính trị năng động.”
4 Yêu cầu
Để cho “ngọai giao đa phương” đem lại kết qủa tốt, người đứng đầu Chính phủ CSVN nêu lên 4 yêu cầu tóm tắt như sau:
Thứ nhấtcần đề xuất những định hướng cả trước mắt và dài hạn cho đối ngoại đa phương của Việt Nam trong thời kỳ mới
Thứ haicần phải đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách làm, cách thức phối hợp liên ngành trong hoạt động đối ngoại nói chung và trong triển khai đối ngoại đa phương.
Ông Dũng nói: “Đây là thời điểm chúng ta cần và hoàn toàn có đủ điều kiện để chuyển mạnh từ tư duy “tham gia tích cực” sang “chủ động đóng góp xây dựng, định hình luật chơi chung”. 
Thứ bacần làm rõ những biện pháp để tăng cường thống nhất nhận thức và đồng thuận giữa các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân về tầm quan trọng của đối ngoại đa phương trong hội nhập quốc tế toàn diện phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Thứ tưBộ Ngoại giao và các bộ, ngành thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế cần bàn sâu các biện pháp cụ thể nhằm xây dựng, kiện toàn các cơ chế phối hợp liên ngành và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngoại giao đa phương, phù hợp với chuyển biến của tình hình và đáp ứng nhu cầu mới của đất nước. 
Nhưng thế nào là thay đổi từ tư duy “tham gia tích cực” sang “chủ động đóng góp xây dựng, định hình luật chơi chung”?
Phó Thủ tướng-Bộ trưởng Ngọai giao Phạm Bình Minh giải thích: “Vừa qua, chúng ta chủ yếu là tham gia các diễn đàn, còn hạn chế trong đề xuất sáng kiến, ý tưởng. Phối hợp liên ngành còn bất cập, phối hợp hoạt động ở các diễn đàn khác nhau chưa đồng bộ. Đội ngũ cán bộ còn thiếu chuyên nghiệp, xử lý có lúc chưa linh hoạt.” 
Điều này có nghĩa, từ nay Việt Nam sẽ tích cực tham gia vào các Tổ chức Quốc tế, chủ động tổ chức các Hội nghị Quốc tế, hợp tác và đưa ra sáng kiến tại các diễn đàn để cùng thảo luận, cùng làm chung để tìm hậu thuẫn cho “những sáng kiến Việt Nam” hầu “tạo đồng minh” chứ không còn “rụt rè, e ngại” như hiện nay để tránh bị “ép buộc” bởi các cường quốc như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã bị Trung Cộng ép phải chấp nhận những quyết định của nước này tại Hội nghị Geneve 1954, trong đó có lằn ranh chia hai Việt Nam ở Vỹ tuyến 17, thay vì 16.
Và để làm được việc, một lớp huấn luyện “ngọai giao đa phương” mới cho cán bộ sẽ được tổ chức.
Do đó, ông Minh đề xướng 4 bước cho kế họach này được tóm tắt như sau:
Một là“chuyển mạnh từ tư duy “gia nhập và tham gia” sang tư duy “chủ động đóng góp, khởi xướng và tích cực tham gia định hình”, tăng cường cách tiếp cận đa ngành, chú trọng nội hàm phát triển bền vững.”
Hai là“khẩn trương đề xuất định hướng tổng thể và dài hạn của đối ngoại đa phương Việt Nam trong 10 - 20 năm tới. Đây là điều kiện tiên quyết nâng tầm đối ngoại đa phương đáp ứng các yêu cầu mới của Hội nhập Quốc tế toàn diện.” 
Ba là, trong giai đoạn từ nay đến 2020, đối ngoại giao đa phương tập trung vào một số trọng tâm, trong đó có: “Đảm nhận thành công các trọng trách và đăng cai tổ chức các hoạt động đa phương lớn, đặc biệt là đăng cai Đại hội đồng Liên minh nghị viện thế giới năm 2015; đảm nhận vai trò thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 và Hội đồng kinh tế - xã hội Liên hợp quốc ECOSOC nhiệm kỳ 2016 - 2018; đăng cai Hội nghị Cấp cao APEC năm 2017; đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN 2020, ứng cử vào Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021... Hoàn tất các cam kết quốc tế lớn có thời hạn vào 2015 – 2020, nhất là hoàn tất xây dựng Cộng đồng ASEAN và Tầm nhìn ASEAN sau 2015, tăng cường vai trò trung tâm của ASEAN; các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs), tham gia xây dựng các Mục tiêu phát triển (SDGs) của Liên hợp quốc sau năm 2015, hoàn tất các cam kết gia nhập WTO vào năm 2018 cùng các hiệp định thương mại tự do nhiều bên.
Bốn là“cần cải tiến, đổi mới cơ chế thông tin, phối hợp liên ngành và giữa các bộ, ban, ngành với địa phương, doanh nghiệp, phù hợp với chuyển biến của tình hình quốc tế và đáp nhu cầu mới của đất nước.” 
Vương Nghị - Phạm Bình Minh
Tất cả những yêu cầu mới trên đây của ông Minh có vượt qua khỏi ngưỡng cửa “ngọai giao của Bắc Kinh” hay không thì chưa biết, nhưng lập trường về Biển Đông của Bộ trưởng Ngọai giao Trung Cộng Vương Nghị đưa ra tại Hội nghị cấp cáo ASEAN lần thứ 47 tại Thủ đô Nay Pyi Taw, Miến Điện trong hai ngày 08 và 09/08 (2014) vừa qua cho thấy “không dễ dàng gì”.
Ông Vương nói: “Lập trường bảo vệ chủ quyền và quyền lợi biển của Trung Quốc là kiên định bất di bất dịch, không gì lay chuyển nổi… Trung Quốc kiên trì giải quyết hòa bình tranh chấp hữu quan thông qua hiệp thương hữu nghị và đàm phán. Là một nước lớn có tinh thần trách nhiệm, Trung Quốc sẽ tiếp tục giữ kiềm chế, song đối với những hành vi khiêu khích vô lý, Trung Quốc sẽ đưa ra sự đáp trả rõ ràng và kiên định.” (Tân Hoa xã, Xinhua)
Tân Hoa xã viết thêm: “Ngoại trưởng Vương Nghị nói, Trung Quốc sẵn sàng lắng nghe sáng kiến đầy thiện chí về vấn đề Nam Hải do các bên đề xuất, song, những sáng kiến đó phải là sáng kiến khách quan, công chính và mang tính xây dựng, chứ không phải nhằm gây giắc rối và bất đồng mới, thậm chí là có dung tâm riêng.”
Trong cuộc gặp với ông Phạm Bình Minh, khi nói về Biển Đông ông Vương bảo thẳng: “Hai phía cần coi trọng lợi ích chung và nỗ lực giải quyết các vấn đề liên quan "thông qua đối thoại song phương".
Vương Nghị cũng khẳng định: “Trung Quốc sẽ "áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền quốc gia cũng như các quyền và lợi ích trên biển".
Ông Vương cũng yêu cầu phía Việt Nam giải quyết "thích đáng" hậu quả các vụ bạo động bắt nguồn từ biểu tình chống Trung Quốc hồi tháng Năm.
Như vậy rõ ràng lập trường của Trung Cộng về tranh chấp chủ quyền Biển Đông với Việt Nam và các nước khác trong khu vực như Phi Luật Tân ngày càng cứng rắn, kể từ khi gìan khoan HD 981 rút khỏi vùng biển Việt Nam ngày 15/07 (2014)
Lập trường “chỉ nói chuyện giữa Trung Cộng với mỗi nước có tranh chấp ở Biển Đông”không thay đổi vì từ xưa đến giờ Bắc Kinh vẫn quyết liệt chống c ác cuộc vận động ngọai giao để “quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” của Việt Nam và Phi Luật Tân được Hoa Kỳ và một số quốc gia trong vùng như Nam Dương, Mã Lai và Brunei ủng hộ.
Theo báo chí Việt Nam thì cuộc gặp gỡ Minh-Vương “căng thẳng” vì ông Minh được trích lời đã: “Nhấn mạnh, Việt Nam coi trọng quan hệ láng giềng, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc, tuy nhiên, thời gian qua, mối quan hệ này đã bị ảnh hưởng bởi tình hình căng thẳng trên biển do Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam…. khẳng định lại lập trường nguyên tắc của Việt Nam đối với các vấn đề trên biển. Phó Thủ tướng cho rằng điều quan trọng nhất hiện nay là hai bên cần cùng nhau nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định trên biển, kiểm soát tốt bất đồng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình và quan trọng nhất là không để tái diễn vụ việc tương tự như vừa qua, thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết ổn thỏa tranh chấp bất đồng tại Biển Đông trên cơ sở tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và những nhận thức chung giữa hai nước như Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển.”
Báo Việt Nam cũng cho biết ông Minh còn: “Đề nghị Trung Quốc tích cực thúc đẩy đàm phán COC để sớm đạt kết quả thực chất, khẳng định Việt Nam luôn coi trọng, tham gia với tinh thần xây dựng và sẽ làm hết sức mình để thúc đẩy, tăng cường hợp tác, hiểu biết ASEAN-Trung Quốc, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực.”
DOC và COC
DOC (Declaration Of Conduct) là văn kiện giữa ASEAN và Trung Cộng ký kết tại Nam Vang (Cao Miên) năm 2002 gồm 10 Điểm, trong đó quan trọng nhất là hai Điểm 4 và 5 nguyên văn như sau:
4. Các bên liên quan cam kết giải quyết những tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình, không đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực, thông qua tham khảo ý kiến và thương lượng hữu nghị giữa các quốc gia có chủ quyền trực tiếp liên quan, phù hợp với các nguyên tắc phổ cập của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
5. Các bên liên quan cam kết tự kiềm chế không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng các tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định, kể cả không tiến hành các hoạt động đưa người đến sinh sống trên các đảo, bãi đá ngầm, bãi cát ngầm, dải đá ngầm và những cấu trúc khác hiện chưa có người sinh sống và xử lý các bất đồng một cách xây dựng;Trong khi chờ đợi có giải pháp hòa bình cho các tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán, các bên liên quan cam kết tăng cường các nỗ lực trên tinh thần hợp tác và hiểu biết nhằm tìm ra phương cách xây dựng sự tin cậy và lòng tin giữa các bên, bao gồm:
a. Khi thích hợp, tiến hành đối thoại và trao đổi ý kiến giữa quan chức quân sự và quốc phòng của các bên có liên quan;
b. Bảo đảm đối xử nhân đạo và công bằng đối với tất cả mọi người gặp nguy hiểm hay lâm nạn;
c. Tự nguyện thông báo cho các bên liên quan khác về tập trận quân sự chung/hỗn hợp sắp diễn ra;
d. Tự nguyện trao đổi thông tin thích hợp.
Tuy nhiên, vì thỏa hiệp này “không có các biện pháp trừng phạt” các bên vi phạm nên Trung Cộng từ nhiều năm qua đã tự do thao túng, chiếm đóng một số đảo và đá ngầm của Việt Nam và Phi Luật Tân và tấn công và bắt giữ các ngư dân không phải của Trung Cộng và tịch thu tài sản.
Vì vậy, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) đã đưa ra sáng kiến thiết lập một quy chế có tính pháp lý thay cho DOC. Văn kiện mới đã được sọan thảo gọi là Code Of Conduct (COC) và đã đem ra thảo luận vài lần giữa ASEAN và Trung Cộng nhưng Bắc Kinh đã tìm mọi cách trì hõan và đòi các quốc gia có tranh chấp với Trung Cộng giải quyết với nhau trước rồi mới bàn tiếp trong khi họ vẫn đơn phương có hành động lấn chiếm và đe dọa để làm chủ ¾ diện tích 3.5 triệu cây số vuông của Biển Đông, bao gồm cả Hòang Sa và Trường Sa.
Nguyễn Chí Vịnh - Vũ Khoan
Tại Hội nghị “ngọai giao đa phương” ở Hà Nội, Thượng tướng Thứ trưởng Quốc phòng CSVN Nguyễn Chí Vịnh đã có bài phát biểu gọi là “Cách tiếp cận mới trong hợp tác quốc tế về an ninh – quốc phòng”.
Ông nói: "Diễn đàn đa phương tạo tiếng nói bình đẳng cho các nước, nhất là các nước nhỏ. Không thể vì anh là nước lớn thì lại nói to hơn nước nhỏ được. Diễn đàn đa phương cung cấp cho bên có lẽ phải một điều kiện để công khai lẽ phải của mình. Và các bên tham gia vào diễn đàn đa phương thì phải tuân thủ luật pháp quốc tế”.
Không nói đến bất cứ nước nào, nhưng ông Vịnh bảo: “Nước nào cũng theo lợi ích quốc gia, nhưng khi tham gia các diễn đàn đa phương, các nước phải đồng thời quan tâm đến cả lợi ích chính đáng theo luật quốc tế của các quốc gia khác nữa. Anh không thể chỉ vì lợi ích của mình mà muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói. Anh phải quan tâm đến [người khác] thì người ta mới nghe, thì người ta mới thấy sự tham gia của anh là có ích cho sự phát triển chung của khu vực và trên thế giới”.
Liên quan đến vấn để chủ quyền lãnh thổ, tướng Vịnh là người có nhiều kinh nghiệm với lập trường của Trung Cộng nói tiếp: “Tôi nghĩ rằng thứ nhất là hợp tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ lợi ích quốc gia đồng thời tham gia bảo đảm ổn định hòa bình của khu vực và của thế giới. Thứ hai là đặt ra yêu cầu thế nào khi tham gia hợp tác quốc phòng mang tính đa phương. Nước nào cũng vậy, trước hết phải kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc mình, tuy nhiên phải quan tâm đến lợi ích quốc gia khác trên cơ sở chính đáng”.
Dường nhu để trả lời cho đòi hỏi phải “thảo luận song phương” hay “bác đề nghị quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” của Trung Cộng, tướng Vịnh nói thẳng: “Vấn đề tranh chấp luôn phải được giải quyết giữa các nước với nhau, điều đó không ai bàn cãi, đặc biệt trong thế giới hội nhập như hiện nay, khi tranh chấp ấy mang tính phổ quát toàn cầu. Ví dụ như tranh chấp trên biển, rõ ràng nó ảnh hưởng đến an ninh khu vực và thế giới chứ không chỉ có các nước tranh chấp với nhau.” 
Ông tâm sự với cử tọa: “Tôi rất thấm thía trước sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế với Việt Nam. Từ những thách thức do những cuộc chiến tranh trước đây để lại đến những thách thức an ninh phi truyền thống đến và những thách thức ngày hôm nay về tranh chấp lãnh thổ, tiếng nói quan tâm của cộng đồng quốc tế rất quan trọng trong công cuộc đấu tranh giúp chúng ta vừa giữ được hòa bình, vừa giữ được chủ quyền.” (VOV, Voice of Vietnam—Đài Tiếng nói Việt Nam, 13/08/2014)
Diễn giả Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nói về “Nhận thức của Việt Nam: Cơ hội và thách thức đối với các nước vừa và nhỏ trong triển khai đối ngoại đa phương”.
Theo báo chí Việt Nam, ông Khoan đã nói về “tầm quan trọng đặc biệt của ngoại giao đa phương đối với Việt Nam trong việc bảo vệ độc lập và phá vỡ thế bao vây cô lập, nâng cao vị thế dân tộc và phát triển kinh tế đất nước, đồng thời giữ vững chủ quyền quốc gia, bảo vệ các lợi ích của nước vừa và nhỏ trước sức ép từ các nước lớn.”
Ông nói: “Hoạt động đa phương cũng đặt ra nhiều thách thức lớn như “sự bỡ ngỡ trước một rừng quy định, luật lệ rối rắm” mà nếu không hiểu biết sẽ rất dễ bị động, thậm chí thất thố. Bên cạnh đó, sự va chạm giữa lợi ích các nước là điều không thể tránh khỏi, làm thế nào thực hiện được chính sách ngoại giao đa dạng hóa mà không dẫn tới sự đối đầu, phương hại tới quan hệ song phương và lệch pha với bàn cờ quan hệ quốc tế là một thách thức không nhỏ. Tuy nhiên, nhìn chung lại, nếu đưa lên bàn cân thì cán cân vẫn nghiêng về các cơ hội vì ý nghĩa rộng lớn và lâu dài của chúng.”
Như vậy, qua phát biểu của các ông Dũng, Minh, Vịnh và Vũ Khoan tại Hội nghị ngọai giao đa phương tại Hà Nội ngày 12/08 (2014), ai cũng có thể thấy đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đã chọn “đa phương” làm mũi nhọn ngọai giao mới để hy vọng thoát khỏi “cái bẫy song phương” mà Trung Cộng đã giăng ra để bao vây Việt Nam trong cuộc tranh chấp lãnh thổ và chủ quyền giữa hai nước.
Tuy vậy, vấn đề đặt ra là liệu Bộ Chính trị đảng CSVN, nhất là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và những Ủy viên thân Trung Cộng trong cơ cấu lãnh đạo đầu não này có “phủ quyết” những đề nghị thay đổi của hai ông Dũng và Minh, những người được coi đứng đầu phe “thân Tây phương”, hay chỉ cho phép làm nửa vời để không bị Bắc Kinh “dạy cho bài học” lần nữa?
(08/014)

Phạm Trầndanlambaovn.blogspot.com