Showing posts with label XaHoi-TapChi-VanHoaNgheThuat. Show all posts
Showing posts with label XaHoi-TapChi-VanHoaNgheThuat. Show all posts

Friday, February 17, 2017

Tháng Hai, hoa Sim vẫn nở…

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
 2017-02-17 
Hoa Sim và Người lính.
Hoa Sim và Người lính.  File photo
Bắt đầu câu chuyện về ngày 17 tháng Hai năm 1979, chúng tôi xin được lấy cảm nhận của nhà thơ Nguyễn Duy, vào thời điểm lúc ấy ông công tác cho báo Văn nghệ Quân đội và được đưa lên tận chiến trường Lạng Sơn để viết tin. Ông kể lại những gì ghi nhận được:
“Ngay sáng ngày 17 tôi đi cùng với nhóm phóng viên của báo Văn nghệ quân đội lên mặt trận biên giới phía Bắc. Tường là lên lấy thông tin rồi về thôi nhưng mà ở cho đến 1 tuần lễ trên mặt trận cho đến lúc quân mình rút về thì mình cũng phải rút thôi. Bọn mình vào ngồi trực tiếp ở cái hầm chỉ huy của trung đoàn An Lão của sư đoàn Sao Vàng chốt ở Tam Lung. Lúc mình lên thì Đồng Đăng mất rồi lính chốt lại ở Tam Lung tức là cách Đồng Đăng 6 cây số. Mình ở với ban chỉ huy trung đoàn và không có cách nào ra ngoài được, người ta không cho mình ra chỉ ngồi trong hầm. Sư đoàn Sao Vàng từng đánh nhau với quân Hàn Quốc ở Bình Định.
Có một thực tế thế này, toàn bộ trang bị của quân Việt Nam hoàn toàn sử dụng vũ khí của Trung Quốc hết. Súng của Trung Quốc, đạn của Trung Quốc thậm chí lương khô cũng của Trung Quốc. Cái mũ, cái ngôi sao cái đôi dép trên chân vẫn là trang bị của Trung Quốc từ hồi chiến tranh tức là đem cái đồ của Trung Quốc ra bắn lại quân Trung Quốc”.
Nhà văn Ngọc Bái cũng từng tới chiến trường phía Bắc đã thấm thía với những gì ông cảm nhận khi mỗi năm ngày 17 tháng Hai lại đến:
“Những ngày này đối với người dân Việt Nam và cá nhân tôi thì tôi luôn luôn thấy cuộc chiến tranh này thật là vô nghĩa. Nò là một sự phản bội của một quốc gia lớn đối với đất nước của chúng ta. Quân Trung Quốc đã tràn sang Việt Nam ở khắp các tỉnh biên giới. Hâu quả nó để lại cho người dân Việt Nam nói chung và quân đội Việt Nam nói riêng rất nặng nể và cái di chứng, hậu quả cuộc chiến tranh nó còn tồn lưu đến tận bây giờ”
Nhà thơ Nguyễn Duy với mắt nhìn sắc sảo và nhân ái, ông ghi nhận hình ảnh Lạng Sơn bị tàn phá như sau:
“Thị xã Lạng Sơn không còn một cái nhà nào còn nguyên lành cả, Trung Quốc nó đánh bằng bộc phá, giật sập tất cả công sở và những ngôi nhà xây, chỉ chừa lại lều quán hay các nhà nhỏ thì không vấn đề gì. Ngay cả chợ Kỳ Lừa hay cầu Kỳ Cùng nó cũng giật sập”
Kỷ niệm của nhà thơ Nguyễn Duy đáng nhớ nhất là câu chuyện một cô giáo của trường Đông Kinh Phố. Cô là một trong bốn thầy cô giáo ở lại trực chiến tới giờ phút cuối cùng của ngôi trường này. Hình ảnh một cô gái xinh đẹp đứng giữa đổ nát hoang tàn trên vai khoác khẩu súng nặng trĩu đã làm nhà thơ bừng lên niềm sáng tạo để cho ra đời bài thơ mà ông ưng ý nhất trong suốt cuộc đời mình, bài thơ có tên: Lạng sơn 1989.
Ta về thăm chiến trường xưa
em – hoa đào muộn Kỳ Lừa mùa xuân
gió đi để lạnh mưa dầm
người đi để buốt dấu chân trên đường

Đồng Đăng... Ải Khẩu... Bằng Tường...
chợ trời bán bán buôn buôn tít mù
ta đầy một bị ưu tư
giá như cũng bán được như bán hàng

Trớ trêu nỗi Hữu Nghị Quan
giá như máu chẳng luênh loang mặt đèo
A. Q. túm tóc Chí Phèo
để hai bác lính nhà nghèo cùng thua

Nỗi Tô Thị xót xa chưa
giá như đừng biết ngày xưa làm gì
giá như đã chả vô tri
để ta hỏi lối trở về thiên nhiên

Giá như ta chớ gặp em
để không mắc nợ cái duyên Kỳ Cùng
giá như em đã có chồng
để bòng bong khỏi rối lòng người dưng.
Đâu chỉ riêng ngày 17 tháng Hai năm 79 mà kéo dài sau đó nhiều năm nữa Trung Quốc vẫn tiếp tục thọc bàn tay đẫm máu của họ vào mảnh đất Việt Nam, nơi trước đây họ vẫn thường hãnh diện gọi là đồng chí. Nhà văn Ngọc Bái chia sẻ:
“Sau ngày 17 tháng Hai năm 79 thì đến ngày 12 tháng Bảy năm 1984 nó lại gây hấn ở Hà Giang và chính cuộc xâm lăng của nó một lần nữa đã để lại quá nhiều đau thương cho người Việt Nam. Năm 2016 tôi và một số anh em đã lên ngày giỗ trận tại Hà Giang và thấy cuộc chiến tranh mà Trung Quốc nó gây cho mình rất vô lý. Người Trung Quốc không phải ai cũng biết sự vô lý này vì tôi được biết sự tuyên truyền của họ về cuộc chiến tranh này rất là sai lệch đấy là điều mà tôi suy gẫm khi cuộc chiến tranh kéo dài từ tháng Hai năm 79 cho tới tháng Bảy năm 84 cho tới cuối năm 88”
“Trớ trêu nỗi Hữu Nghị Quan /giá như máu chẳng luênh loang mặt đèo /A. Q. túm tóc Chí Phèo /để hai bác lính nhà nghèo cùng thua”
A.Q của Trung Quốc và Chí Phèo của Việt Nam theo nhà thơ Nguyễn Duy xứng đáng một cách buồn bã đại diện cho hai đội quân với hình ảnh của những binh sĩ nhà nghèo, đặc biệt là phía Trung Quốc chỉ biết cầm súng theo lệnh của Đặng Tiểu Bình phát động cuộc chiến tranh xâm lược.
Đau thương mất mát thuộc về người dân và chiến sĩ Việt Nam bởi họ là nạn nhân, là đội quân yếu thế, là nhân dân không tấc sắt trong tay để tự vệ. Bởi lẽ nhân chứng sống đã chứng kiến, ghi lại biết bao cảnh tượng đau lòng mà dưới đôi mắt của loài người không ai có thể đưa ra một lý do gì để biện minh sự xâm lược ấy.
Nhà văn Ngọc Bái kể lại những nhận xét của ông sau khi đến hiện trường đầy tan nát:
“Lính và những người dân trải qua chiến tranh thì họ cũng ghi xương khắc cốt cái đau thương đó còn những lớp trẻ thì tất nhiên bây giờ người ta đâu có triệu thú vui cho nên người ta đâu có quan tâm có thể vì không nhớ. Cái người đã từng trải qua chiến tranh qua tâm sự với tôi thì hầu hết người ta nói rằng nó là một cuộc chiến tranh bất đắc dĩ. Cuộc chiến tranh do phía đối phương chủ động đã gây cho chúng ta nhiều mất mác, hy sinh.
Nếu như người Việt Nam nào mà không biết căm thù bọn lính Trung Quốc và nhà cầm quyền Trung Quốc lúc bấy giờ thì đấy là những người cực kỳ vô tâm”
Vâng, người Việt vì nhiều lý do vẫn còn những người vô tâm đối với ngày 17 tháng Hai. Hàng năm khi đến ngày này người Sài Gòn không chú ý lắm vì khi xảy ra chiến tranh họ còn đang vật lộn với đời sống khó khăn đói nghèo trong các chiến dịch “kinh tế mới”, nhưng người Hà Nội và các tỉnh biên giới thì có lẽ sẽ không bao giờ quên, bởi nó dính liền tới máu xương của những người thân trong gia đình, dòng họ.
Tuy nhiên sự vô tâm lớn nhất thuộc về cán bộ còn đang làm việc trong guồng máy. Không phải là không biết, không nhớ cái ngày này, nhưng những người làm việc cho chính quyền tuy ý thức ngày kỷ niệm nhưng lại nghe theo lệnh cấp trên cản phá, sách nhiễu, bạo hành đối với ai quan tâm tới ngày 17 tháng Hai. Nhà giáo Tô Oanh kể lại việc ông và bạn bè bị cản trở khi đi thăm nghĩa trang liệt sĩ Lạng Sơn:
“Sáng 14 tháng Hai vừa rồi chúng tôi có 10 người tất cả thuê một chuyến xe để lên thắp hương tưởng nhớ các liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc ở Lạng Sơn. Nhưng rất tiếc khi lên đến đó, chúng tôi vừa dừng xe thì đã có trên 30 cán bộ an ninh mặc thường phục ập đến vây quanh chúng tôi trong đó trên một nửa là lực lượng nữ an ninh. Khi chúng tôi trình bày là vào viếng các ngôi mộ thì họ không cho vào, họ nói muốn vào thì phải liên hệ trước, phải có giấy giới thiệu rồi phải được địa phương đồng ý. Chúng tôi lấy máy ảnh ra chụp hình thì họ không cho họ bảo địa phương ở đây quản lý tất cả không cho phép. Chúng tôi đành lỡ cuộc thắp hương này”
Mỗi năm một lần, dù ai nhớ hay quên ngày 17 tháng Hai thì hoa sim tím nơi vùng cao tuyến đầu ấy vẫn nở, vẫn âm thầm nhắc tới máu xương người nằm xuống. Nói như anh Lê Đức Dục qua tám câu thơ đầy hình ảnh:
“Mặc ai cấm rằng không được nhắc
bạn vàng Trung Hoa từng thảm sát dân mình
Nhưng làm sao cấm hoa đào hoa mận
Nở rưng rưng rụng xuống những mộ phần
Kệ báo chí cứ phập phồng chờ đợi
Nói hay im? Ngồi nghe ngóng công văn
Những bông hoa không cần chỉ thị
Cứ ra Giêng, rụng thắm đất anh nằm…”

Sunday, January 15, 2017

Câu chuyện Văn miếu Quốc tử giám

Mặc Lâm, biên tập viên RFA 2017-01-15  
Sinh viên một trường đại học ở Hà Nội làm lễ tốt nghiệp ở Văn Miếu Quốc Tử Giám hôm 18/11/2014.
  Sinh viên một trường đại học ở Hà Nội làm lễ tốt nghiệp ở Văn Miếu Quốc Tử Giám hôm 18/11/2014.  AFP photo
Những kiến trúc, di sản văn hóa quý giá của quốc gia có tuổi thọ lâu năm không thoát khỏi bị tàn phá bào mòn bởi thời gian, vì vậy nhu cầu phục dựng, bảo tồn hay tôn tạo, gìn giữ là công tác không thể thiếu cho bất cứ quốc gia nào.
Bảo quản phi khoa học
Việt Nam cũng nằm trong trường hợp ấy và mọi việc làm dính tới các công trình kiến trúc lâu đời luôn được giới chuyên gia và người dân theo dõi sát sao vì nỗi sợ di sản bị tàn phá hay diện mạo bị biến dạng do cung cách bảo tồn không hợp lý.
Sự việc mới nhất xảy ra đối với Văn Miếu Quốc Tử giám Hà Nội đã khiến dư luận không khỏi ngỡ ngàng, đó là Ban quản lý Văn Miếu vừa cho quét vôi lại một số lớn tường của Văn Miếu khiến những bức tường đậm dấu ấn thời gian biến mất, thay vào đó là một màu xám trắng vô hồn, lạnh ngắt đập vào mắt người dân Thủ Đô đã khiến dư luận xôn xao phản ứng.
Đã đành Văn Miếu cần phải gìn giữ và bảo quản nhưng biện pháp bảo quản không phù hợp sẽ khiến giá trị tinh thần của nó biến mất, thay vào đó là một kiến trúc song song với thời đại khiến khuôn mặt rêu phong cổ kính đầy vết tích lịch sử biến mất và người ta đã vô tình tàn phá di sản một cách thô bạo do duy ý chí, thiếu khả năng chuyên môn khi muốn trùng tu một di tích văn hóa lâu đời.
Những kinh nghiệm bảo tồn di sản của thế giới không được áp dụng một cách triệt để tại Việt Nam là nguyên nhân khiến cho hàng loạt di sản kiến trúc vùi dưới những vật liệu đương thời gây hiệu ứng ngược với mắt nhìn cũng như cảm giác của người quan tâm tới di sản văn hóa dân tộc.
Quốc tử giám có từ cả ngàn năm nay rồi chúng ta không nên làm mới nó mà phải giữ tính lịch sử của nó. Cái rêu phong mà nó có là hồn của dân tộc.
- Giáo sư Ngô Đức Thịnh
Đối với Văn Miếu Quốc Tử giám Hà Nội ngoài giá trị nội tại của một thời khoa bảng, nó còn được xem như linh hồn của Thủ Đô. Cùng với Chùa Một Cột, Đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa, Ô Quan Chưởng hay Chùa Trấn Quốc tạo thành một quần thể văn hóa dựa vào nhau kể lại những diễn biến, thăng trầm bao đời của lịch sử dân tộc.
Văn Miếu Quốc Tử giám có thể nói dẫn đầu trong các di tích văn hóa ấy và nằm tại một vị trí trung tâm khiến nó mang thêm trọng trách giới thiệu với khách quốc tế một điểm đến văn hóa chứ không còn là du lịch cảnh quan. Từ sự quan trọng này mọi tân tạo, bảo tồn phải làm trong tinh thần khoa học với kỹ thuật được chấp nhận cấp nhà nước và không thể tự tiện “tiết giảm” theo tư duy nhà nông của người trách nhiệm.
Giáo sư Ngô Đức Thịnh, Viện trưởng Viện Văn hóa Di sản cho biết ý kiến của ông về việc quét vôi lên tường của Văn Miếu Quốc Tử giám:
Quốc tử giám có từ cả ngàn năm nay rồi chúng ta không nên làm mới nó mà phải giữ tính lịch sử của nó. Cái rêu phong mà nó có là hồn của dân tộc. Tất nhiên bây giờ về kỹ thuật thì có nhiều cách người ta làm, người ta sửa sang nhưng vẫn giữ được vẻ cổ kính của nó. Tôi nhớ cách đây hơn 10 năm về việc Tháp Rùa. Khi ấy nhìn vào Tháp Rùa người ta không khỏi sững sờ khi nó làm mới, sơn phết lại. Sửa sang là cần nhưng sửa sang như thế nào mới là quan trọng. Bây giờ có phương án đưa ra phết màu trắng rồi có khuynh hướng phết màu vàng thì cái đó chỉ là tiểu tiết thôi, vì kỹ thuật hiện nay cho phép chúng ta có thể làm mới nó lại nhưng nó vẫn giữ được cái sắc thái, cái hồn cốt của nó theo kiểu truyền thống như vậy nó tốt hơn.
Nói chung hiện nay đọc trên báo thì mọi người đều nghĩ theo hướng như thế. Còn nói chuyện sơn màu gì thì anh mặc cái áo mới cho nó thì từ một di sản rất lâu năm bây giờ thành di sản mới thì thất bại thôi.
Phải gìn giữ nét văn hóa cổ
000_I53VA-400.jpg
Hoàng tử Anh, William tham quan cây cầu gỗ cũ trong khu phố cổ Hà Nội hôm 16/11/2016. AFP photo
TS Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện, một nhà văn hóa cổ nhìn vấn đề với nhãn quan nghiêm khắc hơn bởi ông là người song hành với từng di tích văn hóa, thở cùng chúng và buồn lòng khi mỗi di tích bị xâm hại hay tàn phá:
Văn miếu là một di tích quan trọng vào bậc nhất của thành phố Hà Nội bởi vì nó liên quan đến văn hiến của Thăng Long cũng là văn hiến của đất nước. Mặc dù trải qua các bể dâu, tang thương lúc lên lúc xuống, lúc thăng lúc trầm nhưng Văn Miếu lúc nào cũng nằm trong tâm tưởng và trong văn hóa của người Thăng Long Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung. Vì vậy cho nên nó nhạy cảm lắm và tôi cho rằng người ta có thể quét vôi vào giữa năm hay vào mùa hè mùa thu gì đó nhưng quét vôi vào sát ngày Tết Nguyên đán như thế này. . . và quét vôi thì tức là che lên không thể nào rêu phong như cũ nữa, mà người Việt Nam khi nhìn thấy rêu phong thì hoài cổ vì vậy việc quét nước vôi nó đã tước đi tâm thái hoài cổ thì người ta ngỡ ngàng là phải.
Mặc dù trải qua các bể dâu, tang thương ... nhưng Văn Miếu lúc nào cũng nằm trong tâm tưởng và trong văn hóa của người Thăng Long Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung.
- TS Nguyễn Xuân Diện
Bên cạnh việc bảo quản phi khoa học, Văn Miếu Quốc Tử giám đang gồng mình chịu đựng một dự án khác mà khi thực hiện nó sẽ giống như một ngôi nhà tạm, hay một ga tàu nhỏ bé chứ không còn là Văn Miếu nữa bởi lúc ấy hàng trăm ngàn người qua lại mỗi ngày trên các con tàu điện ầm ĩ chạy ngang. Di sản văn hóa thành phố Hà Nội sắp chứng kiến một cuộc dời đổi đau đớn khi con đường Metro từ Nhổn chạy xuyên qua trái tim thủ đô thành hình.
TS Nguyễn Xuân Diện chia sẻ:
Tôi được đọc 166 trang báo cáo của Ban Quản lý dự án Metro Hà Nội tức là từ Nhổn vào đến tận ga Hà Nội. Dự án này đi qua bao nhiêu là đền chùa đình miếu và quan trọng bậc nhất là nó tiến sát Văn Miếu và cách Văn Miếu có 15 -16 mét. Điều này vô cùng quan trọng và tôi đã chất vấn ông trưởng ban quản lý của dự án này thì ông ấy đã báo cáo trước mặt TS Nguyễn Quang A, Kiến trúc sư Trần Thanh Vân và các đại diện ngân hàng ADB tức là Ngân hàng Phát triển Á châu rằng ở đấy có một cái hộc sâu đến 20-30 mét và nó chỉ cách Văn Miếu có 15 mét thôi. Vì vậy đây là một việc rất nghiêm trọng.
Chúng ta biết Văn Miếu ngày xưa là một cái gò đất nằm giữa một cái hồ phía nam Thăng Long. Vào thế kỷ 20 những tấm ảnh do người Pháp chụp được thì Văn Miều nằm giữa một đường nước lớn lắm rất mênh mông thế nhưng do dân cư ở nhiều nên dần dần lấp hết và gì vậy ở đấy có một cốt nước rất lớn. Nếu đào thì sẽ ảnh hưởng, tác động đến cái diện mạo địa chất của Văn Miếu. Cũng như tàu điện nó cứ chạy suốt ngày rầm rập thì ảnh hưởng đến cái không khí của Văn Miếu.
Còn đâu di sản nếu không biết bảo tồn
024_2563222-400.jpg
Chùa Pháp Bảo trong khu phố cổ Hội An trở thành di sản văn hóa thế giới năm 1999. AFP photo
Phúc lợi công cộng dễ dàng thuyết phục thành phố hơn là bảo vệ di sản văn hóa. Những nước phát triển sẽ không bao giờ chấp nhận sự đánh đổi này nhưng với các nước đang phát triển như Việt Nam thì chọn lựa một dự án kinh tế giúp cho hàng triệu người di chuyển và bài toán kẹt xe vẫn hấp dẫn hơn một di sản dù có cổ kính và lâu năm đến mức nào đi nữa. Để minh họa cho thái độ của nhân sĩ Bắc Hà trước cơn sóng cuốn trôi di sản Văn hóa của đất nước. TS Nguyễn Xuân Diện kể lại một câu chuyện từ thời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như sau:
Tôi được biết câu chuyện thế này đó là ngày xưa Phó Thủ tướng Lê Xuân Nghị đã từng ký một quyết định dời Văn Miếu đi lấy đất đấy làm nhà máy xe đạp Thống Nhất. Khi được biết việc này một nhà nho khăn xếp áo the guốc mộc tới Văn phòng Thủ tướng để gặp ông Phạm Văn Đồng và nói với ông Phạm Văn Đồng là Thủ tướng lúc bấy giờ là ngài hãy ký ngay văn bản thu hồi quyết định của ông Phó Thủ tướng nếu không thì tôi sẽ đập đầu chết ngay trước mặt ông ở đây và bây giờ luôn. Ông Đồng sau đó phải xem lại bản quyết định ấy và ra quyết định hủy bỏ cái quyết định của Phó Thủ tướng Lê Xuân Nghị.
Thời nào cũng có những vị bô lão có tấm lòng như trong câu chuyện vừa được kể, tuy nhiên không phải thời nào cũng có người cầm quyền cao nhất biết lắng nghe khi chung quanh quá nhiều cố vấn mải mê để vật chất và phát triển che mất tinh thần mà người xưa xem trọng: nhân văn, minh triết.

Sunday, December 11, 2016

Căn bản nào cho Quốc phục Việt Nam?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA 2016-12-11  E
Bộ quốc phục nặng 45 ký có hình ảnh lấy cảm hứng từ thời Lạc Long Quân của nhà thiết kế thời trang Lê Long Dũng.
Bộ quốc phục nặng 45 ký có hình ảnh lấy cảm hứng từ thời Lạc Long Quân của nhà thiết kế thời trang Lê Long Dũng.  Photo courtesy of Zing/NVCC
Nhân câu chuyện nhà thiết kế thời trang Lê Long Dũng trình bày bộ quốc phục nặng 45 ký có hình ảnh lấy cảm hứng từ thời Lạc Long Quân mà tác giả cho là đã được người Việt cổ tôn tạo, Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn ngắn ông Phan Cẩm Thượng, nhà nghiên cứu phê bình mỹ thuật cổ Việt Nam về trang phục của người Việt từ nhiều thế kỷ qua để thêm khái niệm về một bộ quốc phục của Việt Nam nếu được những cơ quan văn hóa nghĩ tới một cách nghiêm túc.

Ảnh hưởng Trung Quốc và Ấn Độ

Trước tiên ông Phan Cẩm Thượng chia sẻ:
Phan Cẩm Thượng: Văn hóa Việt Nam, đặc biệt về khu vực mỹ thuật thì có những đặc trưng rất là riêng. Mặc dầu Việt Nam nằm ở giữa Trung Quốc và Ấn Độ nên cũng có ảnh hưởng của hai luồng văn hóa ấy nhưng văn hóa làng xã rất là mạnh.
Văn hóa làng xã thì cũng ảnh hưởng một chút về nguyên lý thôi; Họ cũng nghe nói Trung Quốc là như thế, Ấn Độ là như thế chứ họ có bao giờ tận mắt trông thấy đâu.
Những người ở trong làng trực tiếp nhìn thấy những cái mẫu bị ảnh hưởng đâu thành ra người ta phải tự sáng tạo ra cái gì đấy của văn hóa bản địa. Cái đấy từ dân ca, ca dao, trang phục… Ví dụ như khu vực trang phục cung đình thì có ảnh hưởng của Trung Quốc nhưng trang phục bình dân của dân Việt Nam thì rõ ràng phải căn cứ vào địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng mà người ta nghĩ ra. Rồi căn cứ vào nghề dệt, nghề may của mình chứ không có ảnh hưởng gì phía Trung Quốc cả. Đó là những đặc trưng riêng của người Việt Nam. Trong những kiến trúc đình, đền, chùa của Việt Nam cũng khác hẳn với những mô hình của Trung Quốc và Ấn Độ.
Văn hóa Việt Nam, đặc biệt về khu vực mỹ thuật thì có những đặc trưng rất là riêng. Mặc dầu Việt Nam nằm ở giữa Trung Quốc và Ấn Độ nên cũng có ảnh hưởng của hai luồng văn hóa ấy nhưng văn hóa làng xã rất là mạnh.
-Phan Cẩm Thượng
Cái bình thường của Việt Nam nó mang tính bản địa rất là sâu sắc. Việt Nam có 54 dân tộc thì mỗi một sắc tộc có một các ăn mặc riêng. Những cái đấy không thể nói trong một câu được. Ở đây phát sinh từ đời sống nội sinh của bản địa, của tín ngưỡng, của từng sắc tộc người chứ không thể đơn giản nói nó bị ảnh hưởng từ đâu đến đâu.
Mặc Lâm: Theo ghi nhận của ông thì quan nhiều thời kỳ lịch sử trang phục của người Việt thay đổi chính nằm trong phần nào của bộ quần áo?
Phan Cẩm Thượng: Tôi thấy trong lịch sử, có những thời kỳ người Việt Nam mặc rất là đơn giản, chẳng hạn như đàn ông, đàn bà gần giống như mô hình phương Nam: đàn ông chỉ ở trần đóng khố, phụ nữ thì chỉ quấn một cái váy. Cái này có thể thấy ở những tượng cổ ở chùa Dâu; Ngay những tượng Phật như Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện mình thì trần và chỉ quấn xà rông phía dưới thôi, giống hệt như trang phục của người phương Nam giống Khmer hay Ấn Độ ngày xưa, đi đâu họ cũng chỉ quấn xà rông, kể cả phụ nữ cũng chỉ mặc một cái váy.
000_8H646
Biểu diễn thời trang áo dài tại Hà Nội ngày 4/3/2016. AFP/HOANG DINH NAM
Ở thế kỷ 20, tôi xem nhiều ký họa của nhiều họa sĩ đi vẽ ở các vùng sâu, vùng xa của người dân tộc, họ vẫn vẽ những người phụ nữ dân tộc cũng  chỉ độc mỗi một cái váy chứ không mặc gì phía trên cả. Tất nhiên, đi ra chợ thì họ có áo, có khăn, có địu của trẻ con mà họ quấn làm địu trẻ con luôn. Trang phục rất là cổ xưa và phổ thông. Sau đó, ví dụ như phục trang của người Việt Kinh thì nông dân ăn mặc tương đối đơn giản. Ở trong Nam thì bộ áo bà ba đen nhẹ nhàng còn ở Bắc thì may vải nâu. Tất cả những vải mộc nầy người ta may theo kiểu quần “xắn móng lợn” (lý do là người ta may hơi chéo chéo nên có cái đũng hơi to) hay may theo kiểu quần “lá tỏa” tức là người ta may một cái quần rộng rồi lồng một cái dây vào buộc ở bụng làm quần tỏa ra nên gọi là quần “lá tỏa” và ở trên thì mặc một cái áo cánh.
Mặc Lâm: Còn trang phục trong dịp lễ lạc hay hội hè ngay cả khi có quan hôn tang tế thì có gì khác biệt xa lắm đối với ngày thường hay không?
Phan Cẩm Thượng: Nếu đi việc quan hay có nghi lễ gì thì người Việt mặc thêm một cái áo dài. Phụ nữ thì mặc áo dài tứ thân hay năm thân, đàn ông mặc áo dài hai thân giống như áo ta; Đầu thì quấn khăn. Ngày xưa có 3 loại: một là khăn vấn tức là khăn họ tự vấn to sù sù; Loại thứ hai là khăn đóng tức là họ làm cái đầu bằng gỗ rồi họ đóng cái khăn lên rồi họ lấy cái khăn đấy đội; Loại thứ ba thì được làm gần đây ở thế kỷ 19, 20 được gọi là khăn xếp, còn phụ nữ thì làm khăn vành.
Với khăn vành thì họ tết vào trong tóc rồi họ quấn vành lên trên đầu và họ để lại một lọn tóc nho nhỏ như cái đuôi gà để vắt ra ngoài. Khi đi ra ngoài họ lại đội một cái khăn vuông cho ấm. Khi đội lên thì có hình mỏ quạ nên được gọi là khăn mỏ quạ. Sau cùng là đội một cái nón thúng rất là to. Khi nào phụ nữ đi ra ngoài thì họ thường mặc một cái yếm với một cái áo cánh hay áo dài nhưng họ không cài gì cả, họ vắt chéo vào nhau ở phía trước bụng nhưng không ra buộc hay không buộc gì cả mà chỉ vắt vào nhau thành ra hai tà xòa xuống dưới ở phía trước. Ở trong bụng của họ thì ngoài cái cạp váy buộc rất chặt ra thì họ còn có một bao tượng nữa. Cái bao tượng này giữ cho váy chặt hơn nữa và còn để túi tiền. Đấy là trang phục rất là cổ của người nông dân Việt Nam mà tôi nghĩ có lẽ nó tồn tại ba trăm năm gần đây.

Mặc đơn giản nhưng hoa văn thì cầu kỳ

Mặc Lâm: Nhà thiết kế Lê Long Dũng khi tạo mẫu bộ quốc phục dự thi thế giới gần đây tuyên bố rằng ông theo ý tưởng của người Việt cổ 3.000 ngàn trước. Liệu có bằng chứng gì về việc này không?
Tôi nghĩ là áo dài vẫn là trang phục đặc trưng của phụ nữ Việt Nam. Trong thời kỳ thế kỷ 20, họ vẫn đi cùng người đàn ông mặc áo the, khăn xếp hoặc là mặc Âu phục cũng được.
-Phan Cẩm Thượng
Phan Cẩm Thượng: Trước đây thì chúng tôi không quan niệm thời kỳ Đông Sơn cách đây 2.500 năm người ta nghĩ ra vải mặc dù trên đồ đồng tôi thấy người ta cũng có khắc phụ nữ mặc váy hẳn hoi và vấn khăn hẳn hoi. Tuy nhiên, để tìm được chứng cứ về vải thì rất là khó vì vải không tồn tại được lâu như thế. Gần đây, tôi có xem vài di tích do nhà khảo cổ học Nguyễn Việt cho xem. Trước đây khi khảo cổ thì người ta thường bỏ qua phần bùn vì họ cho rằng không quan trọng. Bây giờ, anh Nguyễn Việt cho rằng phải có loại kính gì đấy hoặc loại chất gì đấy để khám phá xem có những hợp chất gì đi theo con người mà nó bị tan ở trong bùn.  Bằng cách đó, anh Nguyễn Việt đã cho tôi xem rất nhiều những mẫu vải thời kỳ Đông Sơn.
Chúng tôi xem bằng cái kính phóng to lên thì rõ ràng là người ta dệt bằng cái sợi gì đó, anh ấy bảo có cả những sợi lụa nhưng đã bị tan mất rồi chứ còn sợi gai hay sợi tơ thì họ dệt khá đẹp. Chất lượng dệt khá đẹp, có ý thức tạo hoa văn giống như hình khắc trên trống đồng Đông Sơn. Như vậy có thể chắc chắn khẳng định nghề dệt vải có ở Việt Nam từ hai đến ba nghìn năm.
000_8H69G
Biểu diễn thời trang áo dài tại Hà Nội ngày 4/3/2016. AFP/HOANG DINH NAM
Vấn đề là có biết may thành quần thành áo hay không. Tôi nghĩ Việt Nam thuộc giòng Nam Á nên không chú trọng đến may lắm mà chỉ quấn thôi. Đặc trưng nhất là phụ nữ Mường có ba cái quấn: một là quấn bên dưới - là cái váy; Hai là quấn ở trên ngực mà sau nầy trở thành váy cao mà sau này, cái váy của họ kéo lên đến sát nách và người ta chỉ cần mặc thêm một cái áo rất ngắn bên ngoài nữa gọi là áo khóm; Cái quấn thứ ba là cái quấn trên đầu một cái khăn.
Việc mặc thì đơn giản như thế nhưng hoa văn thì rất cầu kỳ.
Mặc Lâm: Nếu được cố vấn về mẫu mã cho một bộ quốc phục cả nam lẫn nữ thì ông sẽ có ý kiến ra sao và căn cứ vào điều gì để mà triển khai ý tưởng ấy?
Phan Cẩm Thượng: Từ trước tơi nay tôi hay dự các hội lễ ở làng thì các cụ mặc giống nhau. Họ mặc đơn giản: nhà vua thì mặc áo vàng, quần vàng còn đàn ông trong làng thì mặc áo dài the, quần trắng và đầu đội khăn xếp. Đó là những hình ảnh đặc trưng mà tôi thấy rất phù hợp với khổ người đàn ông Việt Nam. Phụ nữ cổ thì họ vẫn mặc áo tứ thân mà giống với các cô quan họ Bắc Ninh hay mặc. Nếu mà mặc đẹp hơn một chút thì mặc màu mè một chút với “mớ bảy, mớ ba” thì nó có thêm một chút màu mè nữa tức là trong thì áo cánh mà ngoài thì áo lụa và vấn khăn vành. Tuy nhiên đến những năm 50 thì có sự cách tân về mặt phục trang của hai họa sĩ Cát Tường và Lê Phổ khai sinh ra cái áo dài. Cho đến nay thì áo dài là một “design” thành công nhất vì nó nêu được vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam hiện đại mà lại rất là truyền thống.
Tôi nghĩ là áo dài vẫn là trang phục đặc trưng của phụ nữ Việt Nam. Trong thời kỳ thế kỷ 20, họ vẫn đi cùng người đàn ông mặc áo the, khăn xếp hoặc là mặc Âu phục cũng được. Ái dài nữ cùng áo the khăn xếp hay Âu phục vẫn đi đôi với nhau không có vấn đề gì cả. Tôi không phải là người design nhưng tôi thấy những trang phục đó hợp mắt và hợp thẩm mỹ là được.
Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

Friday, November 25, 2016

Những bài văn điểm không

Mặc Lâm, biên tập viên RFA 2016-11-24  
Một bài văn kiểm tra định kỳ của một học sinh lớp 7 bị điểm “không” lan truyền trên mạng xã hội được báo chí trích dẫn khá nhiều trong các bài viết.
Một bài văn kiểm tra định kỳ của một học sinh lớp 7 bị điểm “không” lan truyền trên mạng xã hội được báo chí trích dẫn khá nhiều trong các bài viết.  Courtesy photo
“Một buổi sáng thức giấc, bạn chợt thấy những cơn gió se lạnh len lỏi qua từng góc phố, từng hàng cây, mơn man trên da mặt, xua đi cái nóng oi ả của mùa hè. Đó là bước chuyển mình dịu dàng, tinh tế của mùa thu - mùa tôi yêu thích nhất...”
Đây là đoạn mở đầu của bài văn kiểm tra định kỳ của một học sinh lớp 7 bị điểm “không” lan truyền trên mạng xã hội được báo chí trích dẫn khá nhiều trong các bài viết. Đoạn văn mở đầu được nhiều người đồng tình là hay so với lứa tuổi các em nhưng nhiều người cho rằng em bị cô giáo “đì” mới cho điểm không oan uổng như thế.
Nhà văn Ý Nhi với cái nhìn của một người viết lách bà cho biết:
“Tôi nghe đọc đọan văn ấy thì tôi thấy rất hay và nếu như nó được viết từ một em bé lớp sáu thì nó rất giỏi còn chuyện cô giáo cho nó điểm không thì không biết như thế nào. Có thể cô giáo cô ây bị một cái quy định nào đấy chứ tôi nghĩ tả mùa thu mà tả như thế thì quá đẹp.”

Bị nghi ngờ đã lấy trộm

Thế nhưng cũng không ít người lại nhìn vấn đề ở một góc nhìn khác với nhà văn Ý Nhi khi xác định đoạn văn này vượt chuẩn và vì hay quá nên cậu học sinh bị nghi ngờ đã lấy trộm nó từ một bài văn mẫu nào đó và bị cô giáo phát hiện ra với kết quả nghiêm khắc là một con zero to tướng.
Tôi không thích giọng văn của cậu bé ấy nên nếu tôi là cô giáo tôi sẽ làm khác. Thế nhưng chắc cô giáo nghĩ nó không chịu theo bài văn mẫu của mình nên mới như vậy.
-Nhà giáo Phạm Toàn
Cả hai giả thiết đều bất lợi cho một bài văn lớp bảy, nhất là ở giả thiết thứ hai, nó nói lên một thực trạng đáng buồn khác trong việc giảng dạy văn trong nhà trường và “văn mẫu” là một trong các quy định, hướng dẫn đang góp phần thui chột lòng tự trọng, sự sáng tạo và tính trong sáng của các em học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường.
Nhà giáo Phạm Toàn, người làm việc với nhóm Cánh Buồm trong chương trình viết sách hướng dẫn học tập tiếng Việt cho các em từ lớp 1 tới lớp 9 chia sẻ cái nhìn của ông về vấn đề này:
“Tôi không thích giọng văn của cậu bé ấy nên nếu tôi là cô giáo tôi sẽ làm khác. Thế nhưng chắc cô giáo nghĩ nó không chịu theo bài văn mẫu của mình nên mới như vậy. Cái việc dạy cho trẻ con tả cảnh trong một bài như thế lả điều hết sức sai lầm lâu nay là vì văn tả cảnh không bao giờ có một nhà văn nào tả cảnh như thế cả. Nhà văn tả cảnh chỉ sau khi kể chuyện thì người ta nhảy vào miêu tả bằng ấn tượng của người ta, cái đó không dạy được.”
Nhà giáo Phạm Toàn cũng bày tỏ sự ngạc nhiên khi cô giáo cho em không điểm mà không hỏi han một câu nào về sự “đạo văn” của em, nếu có. Ông cho biết:
“Trong trường hợp này cô giáo phải thảo luận với em ấy, cô không đồng ý điểm nào, cô phải tìm hiểu tại sao em nó viết như thế. Cô không được cho điểm nó bởi vì cảm nhận một tâm hồn trẻ em thì cô nhiều khi cũng không biết, thậm chí chồng cô cô cũng không hiểu nữa cho nên đối với học sinh cô không được dùng cái quyền này. Bộ Giáo dục trước đây họ cho điểm từ 1 tới 10, sau đó lại cho điểm bằng nhận xét, nhận xét thì vẫn là giáo viên nhận xét.
Một chương trình học là một lý tưởng đào tạo. Người có lý tưởng đào tạo học sinh mình thành công dân giỏi sau lớp 9 lớp 10 thì người ta có một chương trình khác. Hiện nay người ta cứ mãi quảng cáo hình ảnh của cô này bán cái này bán cái kia để nuôi con học đại học như thế là vô nhân đạo. Phải cho nó kiếm sống để nó sống chứ. Nó phải học nghề để kiếm sống cho sung sướng hơn.”
mt_2lm18kjorqs92
Bài văn mẫu được cho là có sự tương đồng với bài văn 0 điểm.Courtesy photo
Nhà thơ Ý Nhi tuy xác nhận một đứa trẻ học lớp 7 vẫn có thể làm những bài văn hay như bài văn mẫu, không nhất thiết cứ văn mẫu là không học sinh nào làm được, tuy nhiên tính cách phản giáo dục trong “văn mẫu” không được bà dồng tình bởi nó là lực cản không cho các em sáng tạo trong cách viết và ngay cả trong cách tư duy:
“Tôi không nghĩ là nó lấy của ai đâu vì lớp sáu thì nó cỏ thế cảm nhận được điều đó. Mình không biết bây giờ thầy cô giáo người ta có còn áp dụng văn mẫu hay có cái barem dựng sẵn cho những bài văn hay không, cái này ở Việt Nam người ta nói rất nhiều rồi vì sợ nó hạn chế mức sáng tạo của trẻ em vì nó có những cái mẫu những cái barem, quy định tương đối ngặt nghèo cho trẻ em nó làm bài.”
Nhà thơ Trần Đăng Khoa, nổi tiếng thần đồng thơ ngay từ còn rất nhỏ. Với ông bài thơ này không thể gọi là xuất sắc như số đông vẫn đồng ý, ông chia sẻ cái nhìn của mình:
“Tôi thấy cái này bình thường, câu văn trung bình không có gì xuất sắc cả. Viết theo dạng như thế thì nhiều em có thể viết được và nếu viết như thế thì không có gì ấn tượng.
Vừa rồi có một em bé lớp 9 nó viết một bức thư được UPU (Liên minh Bưu chính Thế giới) chấm giải nhất trong nước sau đó chấm ở nước ngoài thì Hội đồng chấm giải UPU quốc tế cũng trao cho em giải nhất của bức thư với nội dung là “Em hãy viết thư cho chính mình khi ở tuổi 45”. Tức là giống với Việt Nam thường có đề tài “Em hãy nói về ước mơ của em”. Cái đề văn Việt Nam bao giờ cũng ra cái đề như thế, cái này nó quen thuộc lắm rồi, đến mức không có gì mới mẻ cả.
Các bạn nước ngoài người ta có cái ý rất hay là hãy viết thư cho mình ở tuổi 45. Tuổi 45 chưa phải là già nhưng không còn là trẻ con nữa, đấy là cái tuổi thực sự trưởng thành. Nhiều em viết cái đó rất bình dị khi mà em trở thành bác sĩ, trở thành người đưa thư hay trở thành Chủ tịch Tỉnh Hoàng Sa, Trường Sa… tất cả đều viết rất bình thường riêng có một cháu bé học lớp 9 cháu đóng vai em bé Aylan Kurdi đã chết lúc 3 tuổi trên bãi biển Thổ Nhĩ Kỳ. Cô bé Việt Nam viết cho chính cháu ấy ở cái tuổi 45 và nó lý giải đây chỉ là giấc mơ thôi. Làm sao cấm được cái giấc mơ của trẻ con. Nó viết câu chuyện đấy rất hay và sâu sắc vô cùng.
Cái bài như thế còn đưa đến cho con người ta một cái gì đó rất độc đáo vì thằng bé đã chết từ lúc 3 tuổi thì làm sao còn sống đến tuổi 45 nữa. Em ấy lý giải điều đó rất hợp lý và sâu sắc. Bài viết của em đọc rất cảm động và làm cho người ta ngạc nhiên rất nhiều.”

Đứa con hư của một nền giáo dục

Không phải đến bây giờ mới xảy ra bài luận văn bị không điểm mặc dù rất hay. Người ta còn nhớ hàng chục lần trước đây nhiều bài văn xuất thần, sáng tạo thật sự nhưng vẫn bị điểm không vì ám ảm các bài văn mẫu. Nếu bài văn ngắn gọn xúc tích và đúng tiêu chuẩn theo cách định nghĩa của từng giáo viên thì sẽ bị nghi ngờ là trích từ đâu đó. Ngược lại nếu có ý tưởng, có sức sáng tạo cao và muốn vượt ra ngoài khuôn khổ định sẵn thì bài văn ấy sẽ bị phê là không đúng hướng, không có nội dung xây dựng hay thậm chí là phá phách, nổi loạn.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa cho biết vấn đề văn mẫu là đứa con hư của một nền giáo dục bị lũng đoạn từ việc thương mại hóa:
Gần đây mới có văn mẫu chứ thời chúng tôi đi học làm gì có văn mẫu. Gần đây có những bài văn mẫu cũng do chúng ta đã bị thương mại hóa giáo dục.
-Nhà thơ Trần Đăng Khoa
“Gần đây mới có văn mẫu chứ thời chúng tôi đi học làm gì có văn mẫu. Gần đây có những bài văn mẫu cũng do chúng ta đã bị thương mại hóa giáo dục. Tuy nhiên không ai lường được có những tác hại khác nữa đó là các em đôi khi cứ mang bài văn mẫu vào các bài thi, bài làm thì khác rồi. Còn nếu cho các em đọc như loại tham khảo thì được nhưng nếu biến thành văn mẫu để rồi các em chép nguyên si ra thì rất là không ổn.”
Bên cạnh sự sao chép là những đường mòn trong cách dạy văn. Phụ huynh từng ngạc nhiên trước câu chuyện cô giáo ra đề tài cho các em viết về cha của mình. Với một bài văn ngắn ngủi của học sinh khi em viết rằng: “Làm sao tôi có thể diễn tả được cha của tôi khi từ nhỏ đến giờ tôi không hề biết mặt ông ấy là ai, cao thấp già cả hay trẻ trung thế nào. Xin được không viết bài này”.
Và dĩ nhiên những dòng chữ ngay thật này được thưởng bằng một con số không to tướng.
Những đề tài sáo mòn ấy vẫn lập đi lập lại hàng ngàn lần trong các lớp dạy văn khiến trẻ em không còn một chút ngạc nhiên nào bên cạnh đời sống mà chúng chứng kiến hàng ngày. Sự hồn nhiên của chúng cũng dần dần được thay thế bằng các phạm trù “cao cả” hơn trong khi nhận thức của chúng chỉ là nhận thức của những đứa trẻ con trước hàng ngàn khuôn mặt của đời sống.
“Văn mẫu” vốn được viết ra từ người lớn với những kinh nghiệm mà trẻ con không thể chia sẻ. Văn mẫu cũng được nhìn dưới cái nhìn của người lớn khi đánh giá và tuyển chọn do đó khó được sự đồng cảm của trẻ nhỏ khi hai đối tượng tư duy hoàn toàn khác biệt.
Bên cạnh sai lầm của chương trình giáo dục là sai lầm của các nhận xét từ cộng đồng, cổ vũ khuyến khích sự “sáng tạo” mất phương hướng của học sinh khiến chúng như sa vào mê hồn trận.
Một bài văn nộp cho cô giáo với đề tài: “Phân tích vấn nạn bạo lực học đường” bị điểm không to tướng nhưng vẫn được cộng đồng mạng góp ý là xuất sắc và nên được nhân rộng do tính chất sáng tạo của nó. Bài văn có nội dung như sau:
“Bạo lực học đường là một vấn đề vô cùng nhức nhối. Bạo lực không chỉ xuất hiện ở nam sinh hay nữ sinh, mà còn bạo lực về cả vấn đề tâm lý, hay người ta còn gọi là khủng bố tinh thần.
Ví dụ tiêu biểu là học sinh không được đáp ứng những nhu cầu cần thiết trong giờ học. Ví dụ mùa hè, quạt trong phòng học chỉ mang tính chất minh họa, không có giá trị thực tiễn. Một phòng học chỉ có 5 cái quạt, một cái ở chỗ ngồi giáo viên, hai cái ở giữa lối đi cho giáo viên đi lại, và hai cái dành cho 50 học sinh còn lại.”
Em học sinh này nhầm lẫn giữa thiếu thốn tiện nghi với bạo lực giữa con người với con người. Có lẽ sống trong môi trường bị phê phán quá nhiều về những sai trái vật chất nên một cách vô thức em bị đánh đồng giữa vật chất và tinh thần, vốn khác nhau như nước với lửa.
Môn văn từng được xem là môn học xây dựng nhân văn nhưng đang bị rẻ rúng vì không mang lại lợi ích thiết thực cho học sinh khi tìm việc làm. Xã hội quá vinh danh giá trị vật chất nên phụ huynh có khuynh hướng chỉ định hay thậm chí bắt buộc con em mình phải theo học các môn khoa học tự nhiên vốn mang lại nhiều việc làm cho sinh viên mới ra trường hơn là các bài luận văn tuyệt đẹp nhưng không nuôi sống được chính tác giả của nó.
“Văn mẫu” đã góp phần làm cho môn văn trở thành cứng ngắt, công thức và được lộng kiếng đặt trong một môi trường xa lạ với tự do biểu đạt, diễn giải ý tưởng và lập ngôn theo cách của từng cá nhân, những cung cách làm cho một học sinh kiến tạo nhân cách bằng chính khả năng của mình chứ không cần trông cậy vào một khuôn mẫu nào khác.
Văn chương vốn là thứ dị ứng với khuôn mẫu, dù cho khuôn mẫu ấy thuyết phục cả xã hội vẫn không thuyết phục được một em bé mới học lớp sáu, khi em viết rằng em cần độc lập trong suy nghĩ và tự do trong cách diễn tả của em.

Friday, October 14, 2016

Người cộng sản và tín ngưỡng

Mặc Lâm, biên tập viên RFA 2016-10-13  
Những người tham dự lễ hội cướp phết cúng tiền tại đình làng Hiền Quang, tỉnh Phú Thọ, vào ngày 20 tháng 2 năm 2016.
 Những người tham dự lễ hội cướp phết cúng tiền tại đình làng Hiền Quang, tỉnh Phú Thọ, vào ngày 20 tháng 2 năm 2016.  AFP photo
Báo chí trong nước đang chú ý tới một nhân vật cao cấp trong chính phủ là ông Phạm Văn Tác, Vụ trưởng vụ Tổ chức cán bộ của Bộ Y tế sau khi một video clip cho thấy ông này tham gia một buổi hầu đồng tại Hà Nội nhưng sau đó được ông đính chính không phải hầu đồng mà là lễ tạ, là lễ trả ơn thần thánh sau khi đã được thăng quan tiến chức.
Mê tín dị đoan
Hầu đồng và những thể loại khác mang dáng vẻ mê tín dị đoan đang hoành hành trong nhiều cơ sở tôn giáo Việt Nam, Mặc Lâm có cuộc trao đổi với nhà báo Ngô Nhật Đăng xoay chung quanh đề tài “Người cộng sản và tín ngưỡng” để tìm hiểu thêm về hiện tượng quay về với tôn giáo của họ. Trước tiên nhà báo Ngô Nhật Đăng cho biết về hầu đồng:
Theo sự hiểu biết của tôi thì hầu đồng bắt nguồn từ đạo thờ “Mẫu” của dân mình. Từ thời xa xưa ngoài chuyện hầu đồng nó có một tác dụng là nhắc lại những người có công với đất nước. Trong những giá hầu đồng có nói đến ông Hoàng Bảy ông Hoàng Mười. Một số giá khác là các cô cũng là những người có công với đất nước cũng giúp dân chống ngoại xâm. Có một điều mà rất ít người biết tức là khởi thủy của hầu đồng ông bà ta dùng hầu đồng để chữa bệnh tức là chữa những người bệnh điên, tâm thần.
Bây giờ có hiện tượng là theo hầu đồng. Người dân Hà Nội đều biết rằng các quan chức lớn, nhất là trong ngành công an thì theo hầu đồng đông lắm.
- Ngô Nhật Đăng
Hầu đồng sau thời gian 1954 thì Hà Nội hầu như bị cấm tuyệt đối, mọi điều liên quan đến hầu dồng đều bị xếp vào mê tín dị đoan và gần như tuyệt chủng ở miền Bắc.
Hầu đồng nó cũng mới chỉ xuất hiện trở lại vào năm 1980 khi nước ta bắt đầu mở cửa rồi cũng có những số nơi phục hồi lại nhưng phục hồi một cách quá đáng. Có hiện tượng người ta thấy là các cán bộ nhà nước, quan chức cao cấp đều tham gia vào trong chuyện này và biến tướng rất nhiều. Trong khi hầu đồng họ tiêu tiền một cách khủng khiếp.
Tiền lễ người nghèo lắm cũng vài chục triệu còn quan chức thì vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng và người ta thấy nó bị biến tướng trong các buổi hầu đồng. Người ta tin tưởng rằng qua thánh thần sự ban phát lộc của thánh mà mình xin. Xin thăng quan tiến chức, giàu có cần xin các thánh thì sẽ được ban chỉ cần thành tâm và lễ vật phải càng hậu hỉ.
Tôi cũng có thời gian nghiên cứu những người hầu đồng có tên tuổi ở Hà Nội thí dụ như Quách Trang Thịnh ở khu Hắc Quảng ông ta nổi tiếng và giàu khủng khiếp nên tất cả chùa chiền nổi tiếng ở Hà Nội như Chùa Hương cũng như các chùa khác trong những lần cầu thì đóng góp tiền thì bao giờ cũng có tên của ông Thịnh đứng đầu tiến đó người ta gọi là con nhang đệ tử đóng góp. Hiện tượng này không có gì lạ người dân người ta còn biết đầu năm thì Nam Định Phủ Dầy nó là nơi xuất phát nghề xem bói và hầu đồng. Dịp sau tết có những vị quan chức rất lớn xuống đó và người ta có thể hầu đồng hai ba ngày ở đó nói chung dân chúng họ cũng biết.
Mặc Lâm: Hình ảnh của ông Phạm Văn Tác khi cúng tạ cho ta thấy điều gì khi tham dự vào một hoạt động mê tín mà một cán bộ cao cấp tới chức Vụ trưởng của nhà nước trực tiếp tham gia?
Ngô Nhật Đăng: Vừa qua người ta ngạc nhiên chuyện ông Tác, Vụ trưởng Vụ Y tế đi hầu đồng tôi có xem cái clip đó thì thấy rằng ông ta nói không phải hầu đồng là đúng mà đó là một nghi lễ “lễ tạ” có thể là trước đó con nhang đệ tử đã xin một điều gì đó và được thánh ứng thánh ban cho nên làm lễ tạ.
Nhìn dưới con mắt của mọt người bình thường thì ta thấy con người sống cần phải có niềm tin, thí dụ như người đảng viên cộng sản trước họ tin vào lý tưởng cộng sản, làm cho cuộc sống tươi đẹp giải phóng đất nước và những điều đó bây giờ người ta biết là chuyện nói dối rồi nên xảy ra hiện tượng mà người ta gọi là “khủng hoảng niềm tin”.
Khi người ta không còn tin vào lý tưởng nào đó thì tìm đến niềm tin tôn giáo chẳng hạn. Trong đó có những tôn giáo chân chính và cả những cái ta có thể gọi là biến tướng, biến thái hay tà đạo. Bây giờ có hiện tượng là theo hầu đồng. Người dân Hà Nội đều biết rằng các quan chức lớn, nhất là trong ngành công an thì theo hầu đồng đông lắm.
Khi cán bộ đi chùa
000_EY3PB.jpg-400.jpg
Một cửa hàng bán vàng mã ở Hà Nội chụp ngày 16/8/2016. AFP photoMột cửa hàng bán vàng mã ở Hà Nội chụp ngày 16/8/2016. AFP photo
Mặc Lâm: Trên cái nhìn xã hội, chính trị hay tín ngưỡng anh giải thích thế nào về nạn công an chạy theo hầu đồng như tại Hà Nội mà anh vừa nói?
Ngô Nhật Đăng: Như tôi nói ban đầu những người nào còn chút lương tâm hoặc là họ đã trót tin vào điều gì đó chẳng hạn nhưng khi thấy niềm tin đó không thật, không đúng như họ suy nghĩ thì họ bị rơi vào khủng hoảng niềm tin do đó họ đi tìm cái gì đấy mà đặt niềm tin vào đấy. Tôi rất ngạc nhiên khi phần lớn sĩ quan công an nhất là phái nữ thì rất ham mê hầu đồng. Có lẽ trong chốn quan trường phải luôn cạnh tranh khốc liệt nên họ phải mượn cả thần thánh để lo cho mình mà hại người khác, hoặc họ coi đó là niềm an ủi hay một lý do nào đó. Tôi nghĩ vấn đề này chắc cũng cần phải nghiên cứu thêm nữa.
Mặc Lâm: Trong xã hội ngày nay người dân thấy xuất hiện rất nhiều chùa mới mà hầu hết trong số đó không còn dáng vẻ kiến trúc của những ngôi chùa Việt Nam nữa mà hoàn toàn theo cung cách của Đài Loan, hay Trung Quốc rất rõ, chẳng hạn như chùa Bái Đính ở miền Bắc. Xin anh cho biết phải chăng cái gu thẩm mỹ của Phật tử thay đổi hay còn gì phía sau đó?
Ngô Nhật Đăng: Vâng cũng phải nói một chút về lịch sử xa xưa như nước ta vào thời nhà Lý thì đạo Phật rất phát triển gần như quốc đạo và đạo Phật thời ấy còn rất thuần khiết. Có hiện tượng các chùa chiền thời Lý được xây dựng rất hoành tráng có cái Tứ đại An Nam của thời nhà lý xây bây giờ còn sót lại tháp chuông chùa Quỳnh Lâm ở Quảng Ninh.
Nó cũng xảy ra hiện tượng khi mà nhà nước tốn kém tiền bạc xây dựng những công trình đó không khoan sức dân thì cũng báo hiệu cho chế độ suy tàn. Tới thời nhà Trần thì chúng ta thấy các chùa chiền tại miền Bắc rất nhỏ và hợp với các khung cảnh chung quanh. Ta cũng thấy vua Trần Nhân Tông từng đi tu cũng là người sáng lập ra phái thiền Nam tông của Việt Nam.
Sau năm 54 gần như là những chùa chiền như thế gần như bị phá hỏng mà thay vào đó là những ngôi chùa to lớn ví dụ như anh vừa nhắc đến đó là chùa Bái Đính. Trong dân gian có tin đồn cái chùa đó là do tiền xây riêng cho mười mấy vị trong Bộ chính trị và các kiến trúc cũng như tượng trong chùa hoàn toàn theo văn hóa Trung Hoa. Làm người dân bình thường tất nhiên ai cũng phải đặt câu hỏi đau xót cho truyền thống dân tộc của chúng ta mặc dù là gần gũi với văn hóa Trung Quốc nhưng không hề phụ thuộc một cách quá đáng như bây giờ.
Có lẽ trong chốn quan trường phải luôn cạnh tranh khốc liệt nên họ phải mượn cả thần thánh để lo cho mình mà hại người khác, hoặc họ coi đó là niềm an ủi hay một lý do nào đó.
- Ngô Nhật Đăng
Người dân cũng đặt câu hỏi phải chăng họ theo âm mưu của Bắc triều đồng hóa người Việt chúng ta với Trung Quốc? Vấn đề này không còn là bình thường nữa rồi mà rất nguy hiểm vì đặt đất nước trước hiểm họa xâm lăng về mặt văn hóa. Chúng ta cũng biết người Trung Quốc rất giỏi trong cái gọi là quyền lực mềm với các Viện Khổng Tử đặt khắp nơi còn Việt Nam thì với những ngôi chùa kiến trúc cũng như việc thờ cúng mê tín hoàn toàn theo người Trung Hoa.
Mặc Lâm: Như chúng ta đã biết tín ngưỡng không bao giờ được người cộng sản chấp nhận nhưng trong những năm gần đây từ ông chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cho tới Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rồi bây giờ là Nguyễn Xuân Phúc đều vào chùa khi có dịp . . .phải chăng Đảng Cộng sản Việt Nam đã thay đổi lý tưởng mà sống theo tâm linh?
Ngô Nhật Đăng: Vâng theo cá nhân tôi nghĩ nếu chúng ta nhìn vào tổ chức Đảng Cộng sản thì chúng ta thấy trên cùng là một vị giáo chủ không ai có thể động chạm đến uy tín như một vị thần thánh thí dụ nước ta là ông Hồ Chí Minh chẳng hạn, giống như một ông thánh một giáo chủ đứng bên trên. Họ có các cơ sở lý luận về chủ nghĩa, các tài liệu rồi Ban tuyên huấn, rồi những điều mà các đảng viên phải tụng niệm hàng ngày như một thứ kinh nhật tụng. Cái mô hình đó nó giống như của một tôn giáo có thể gọi đó là thứ tôn giáo nhập thế mà biến thái.
Khi họ đã có tư duy như một tôn giáo và bây giờ tôn giáo đấy có vẻ không còn tác dụng nữa thì theo tôi nghĩ có lẽ họ phải đi tìm một niềm tin nào đó. Các tín ngưỡng của những người lãnh đạo mà người ta nhầm tưởng là đạo Phật thật ra không phải mà theo tôi nó không phải đạo Phật đành rồi nhưng nó không phải là đạo Lão không phải đạo Giáo mà nó là thứ pha trộn gì đó mà có lẽ chúng ta phải cất công tìm hiểu mới có thể cắt nghĩa được điều này.
Mặc Lâm: Xin cảm ơn nhà báo Ngô Nhật Đăng.

Saturday, October 1, 2016

Sài Gòn thất thủ

Mặc Lâm, Biên tập viên RFA 2016-10-01  
edeww_10_1.jpg
Đường Bùi Hữu Nghĩa, Bình Thạnh, nước ngập hơn nửa bánh xe trong cơn mưa chiều ngày 26 tháng 9 năm 2016.  Courtesy of giaobao.com
Cơn mưa lớn chưa từng thấy làm Sài Gòn chìm trong biển nước không ai ngờ đó cũng chính là cơ hội cho người dân Sài Gòn nhìn lại cuộc đời mình đang sống qua chiếc màn trắng mênh mông của mưa của nước.
Những con đường cây cối gãy đổ. Những chiếc xe nằm lăn giữa dòng nước như ăn vạ khổ chủ. Những cô gái mặt mũi phờ phạc chiến đấu chống cái lạnh của mưa gió và nước đang ngập lên ngang bụng. Những chàng trai chiến đấu với cơn lũ hung hãn giữa thành phố để kéo chiếc xe máy bất kham vật vã với nước. Đèn phố chớp tắt cùng với sấm sét như đe dọa người dân đang run rẩy tụm lại với nhau. Tất cả những hình ảnh như trong một phim giả tưởng của Hollywood.
Cư dân mạng ngay trong lúc mưa gió đầm đìa, nước ngập khắp nơi  vẫn còn đủ thời gian vừa tát nước vừa cầm điện thoại vào Facebook để châm biếm, đùa vui với “mưa cực đoan” và từ đó đồng ý với nhau cụm từ “Sài Gòn thất thủ”.

Sài Gòn thất thủ!

Nhà báo Mạnh Kim tỏ ra mặn mà với hai chữ “thất thủ” ghê lắm mới viết hẳn một dòng tâm trạng được xem là tỉnh táo đến lạnh người. Anh chia sẻ cái lạnh của mưa gió bằng sự so sánh trí tuệ bởi hai từ này. Thất thủ là đầu hàng, là thua cuộc, là tuyệt vọng là những gì mà cuộc sống người dân đang phải sống, dù là là sống chung hôm nay như sống chung với lũ. Là điều mà chính quyền Việt Nam phải thấy, phải lạnh mình, anh viết:
“Thất thủ!
Sài Gòn thất thủ, Biên Hòa thất thủ, Huế thất thủ, Hà Nội thất thủ… Cả nước đang thất thủ bởi những trận mưa ngập ngoài sức tưởng tượng với mức độ ngày một tăng dần.
Không chỉ ngập trong biển nước mênh mông sau những trận mưa mà thậm chí giới chính quyền bây giờ cũng ngượng ngập và “thất thủ” trong việc tìm cách giải thích dư luận, chính xác hơn, Việt Nam đang thất thủ toàn diện.
Kinh tế thất thủ bởi lý thuyết “kinh tế XHCN” đã và tiếp tục dẫn đất nước đến vùng trũng ngập của những khoản nợ này đến những khoản nợ khác.
Giáo dục đang thất thủ vì ngập trong tư duy lạc hậu. Xã hội đang thất thủ bởi ngập sâu trong tội ác.
Y tế thất thủ khi ngập trong sự bất lực của giới điều hành.
Môi trường thất thủ bởi cuộc tấn công không thể kiểm soát của những Formosa trước sự bất lực, tuyệt vọng, bế tắc và vô tâm.
Con người cũng thất thủ khi ngập trong lối sống đầu độc nhau, bằng hóa chất và nhiều phương cách khác.
Sự thất thủ nguy hiểm nhất và ảnh hưởng tương lai đất nước nhiều nhất vẫn là sự thất thủ trước Trung Quốc.
Việt Nam đã không thể “thoát Trung”. Việt Nam vẫn bám chặt vào Trung Quốc. Việt Nam đang thất thủ. Toàn diện.
Có con đường nào cho tương lai đất nước? Không và không bao giờ, nếu người ta chấp nhận sự thất thủ này mà không thay đổi thể chế.
Không thay đổi, Việt Nam chỉ còn một con đường duy nhất để đi: con đường đi đến chỗ chết.”
Mạnh Kim đang nói sự thất thủ không tránh được và anh xót xa với hai từ “Thất thủ” đến chạnh lòng.
Trong khi đó, Đàm Hà Phú lại nhìn “Sài Gòn thất thủ” ở một hướng khác. Những cơn mưa gây ngập là thứ tình yêu ngọt ngào đắm đuối mà thượng đế dành cho con người. Trong cái giá buốt ấy không thiếu những con chuột run rẩy bám vào chiếc lưới B40 một cách tuyệt vọng. Con chuột hơn gì chúng ta, đeo bám vào tâm lý tự thưởng và né tránh. Nó chỉ là một cơn mưa thôi mà….
Tự đánh lừa mình như đã từng bao nhiêu năm nay, người Sài Gòn vốn hiền lành và nhẫn nhục như vừa bị đánh thức bởi những dòng thơ của Đàm Hà Phú:
edeww_17.jpg
Ôtô tạo sóng đánh mạnh khiến nhiều người đi xe máy liên tục ngã. Courtesy of giaobao.com
“Chúng ta đừng nói về chính trị nữa,
chỉ có bọn phản động mới nói chuyện chính trị,
còn chúng ta là người yêu nước,
hãy nói về cơn mưa tình yêu của chúng ta,
thật dồi dào nước,
mọi con phố biến thành sông, biết bao thứ chìm và tan đi trong nước,
hàng ngàn xe máy về nhà ngã, bị cuốn trôi và chết máy,
con nít khóc ngất, cha mẹ chúng cũng khóc theo trong đói và lạnh,
những người phụ nữ tơi tả dắt xe đi giữa dòng nước lũ, chán ngán nhìn kẹt xe và nước cống...
một thảm cảnh như sóng thần vừa cuốn qua chăng, không, chỉ là cơn mưa,
chúng ta nguyền rủa cơn mưa, một cơn mưa như mọi cơn mưa khác,
chỉ khác là nó rơi trên một đất nước tiêu nhiều ngàn tỉ vào tượng đài, vào vinashin hay vinaline, vào xe công vào tiệc tùng vào mừng sinh nhựt bố thủ trưởng vào cổng chào vào cắt cỏ thủ đô và giao thầu cho TQ chống ngập...
nó chỉ là cơn mưa, chỉ khác là nó rơi xuống một đất nước lạc hậu hiếm hoi toàn dân đi xe máy,
nơi người ta chết vì đủ thứ lý do lãng xẹt và có nạn tham nhũng bậc nhất hành tinh,
chỉ khác là cơn mưa nó rơi ở chỗ chúng ta không nói chuyện chính trị,
đúng rồi, chỉ có bọn phản động mới nói chuyện chính trị,
chúng ta chỉ nên nói về cơn mưa.”

Ngập lụt tại Sài Gòn - Nguồn cảm hứng sáng tác

Trong khi đó nhà báo Đào Tuấn tường thuật lại hình ảnh Sài Gòn thất thủ bằng những giòng điện tín gửi đi từ một căn phòng ngập nước. Những tiếng gõ từ chiếc máy tính sũng nước và hào hễn bởi bị nước tấn công. Nhà báo tường trình:
“Hàng ngàn chiếc xe máy ở Nguyễn Siêu trở thành tàu ngầm.
Biệt thự triệu dollar của Mr Đàm ngập trong nước khiến anh, quần tới gối, khuôn mặt thẫn thờ như mặt bức tượng sáp 12 tỉ vnd.
Tòa “tháp” Bitexco ngập từ trong ngập ra, ngập từ ngoài ngập vào.
Một khung cảnh dữ dội và lãng mạn như trong đại sảnh con tàu Titanic gãy đôi. Các nàng Rose ống thấp ống cao tay xách nách mang trong tòa tháp cao nhất Sài Thành.
Một clip quay cảnh anh soái ca lao mình giữa dòng nước “cứu” chiếc xe máy trôi như bao diêm, à như chiếc lá - thu hút đến ngót 100k like, 35k lượt bình luận và hàng vạn share.
Sân bay Tân Sơn Nhất trở thành sân bơi, bãi đáp của Thủy phi cơ. Bến xe Chợ Lớn biến thành bãi canoing.
À còn nữa, các nữ y tá hò dô ta bắt lươn trong hành lang bệnh viện.
Toàn dân sặc nước với những vận động viên bất đắc dĩ điện thoại dắt trên lưỡi trai nón bảo hiểm.
Những chiếc bus thủy phi cơ “mất điện” giữa dòng thác. 20 chuyến bay trong nước và quốc tế phải bay vòng vòng.
Facebook tràn ngập 2 chữ thất thủ. Có người, trí tưởng tượng thật là phong phú, nhắc đến một cơn “đại hồng thủy”.
Đâu đó vang lên bản nhạc “Sài Gòn ngập quá Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi”.
Một con chuột cố bám víu vào hàng rào B40 ở một nơi nào đó trong sự kiện “Sài Gòn thất thủ” tối qua. Đúng là một khoảnh khắc lịch sử!”
edeww_8_1.jpg
Hầu như tất cả các phương tiện đầu tê liệt. Người dân chì có thể dắt hoặc đẩy. Courtesy of giaobao.com

Đúng là một khoảnh khắc lịch sử. Ngày 30 tháng Tư là một khoảnh khắc lịch sử, lúc ấy Sài Gòn thất thủ với một bản nhạc mà 41 năm sau những người lính Mỹ cuối cùng tại Việt Nam vẫn còn nhớ: White Christmas.
Nhưng bây giờ bản nhạc người dân Sài Gòn lấy ra làm tín hiệu là “Mùa mưa trên thành phố Hồ Chí Minh.”
Người dân Sài Gòn có bản tính mau quên. Họ thụ hưởng văn hóa nhiều vùng miền gộp lại làm ra bản sắc Sài Gòn, trong đó cái hồn nhiên của người miền Tây đã làm cho Sài Gòn bớt đi héo hắt của nắng nóng hay lập cập của mưa giông cùng nước ngập mù trời.
Ngay cả ngập thì Sài Gòn vẫn “ngập đúng quy trình” dưới tiếng cười giễu nhại của người Sài Gòn gốc miền Tây hãy cùng nghe giọng hô lô tô trong khi nước vẫn còn dưới chân, vừa hô vừa nhảy lò cò…
Sài Gòn ngập đúng quy trình
Mưa to, nước ngập lưng giời
Lau “bu-gi” rồi “lau người” đi anh
Sài Gòn ngập… đúng “quy trình”
Sài Gòn đỏ, Sài Gòn xanh…Sài Gòn
Uống bia cho phố bớt buồn
Trăm con phố ngập thành sông cả rồi
Ta quy hoạch phố tuyệt vời
Mưa to là ngập, nắng thời tắc mau
Mưa thì nước lộn lên đầu
Nắng thì “tắc kẹt” có sầu riêng không
Mưa về, tát nước chổng mông
Nắng lên, ùn tắc cả trong lẫn ngoài
Hòn ngọc Viễn Đông đâu roài
Bắt lươn trên phố bài hoài dưới mưa
Mưa to không ngại ướt thơ
Sợ áo em ướt sững sờ mờ xa
Áo em khoét cổ, xẻ tà
Mỏng manh mưa ướt thành ra lộ hàng
Sài Gòn mưa ngập chứa chan
Ngắm phố đang lụt, ngắm nàng thơ đi
Đặng Hữu Phúc

Thiệt hại

Quanh đi quẩn lại người ta lại quay về với hiện thực đời sống. Sau khi những nụ cười gượng gạo trôi đi người Sài Gòn lại nhận ra mình mất thứ này, hụt thứ kia. Xe hư, nhà sập, mái dột, đồ đạt sũng nước nhìn mà thấy nao lòng…. tất cả những cái thất thủ ấy quay trở lại tấn công họ sau khi nước rút. Những đôi mắt thẫn thờ, những nụ cười nhợt nhạt.
Nhưng dù sao người Sài Gòn vẫn phải sống vẫn phải tự cày cuốc trên vùng đất sinh nhai của mình.
Và đôi khi họ nhìn nhau cười thật lớn, cười hả hê, cười không nhặt được mồm khi nghe anh chàng Facebooker Hoàng Dũng đề nghị kiểm điểm mưa đã làm cho Sài Gòn thất thủ:
“Kết nạp đảng cho ông Trời, yêu cầu mưa theo nghị quyết, chỉ đạo của đảng. Nếu làm sai gây ngập sẽ kỷ luật cảnh cáo. Tiếp tục tái diễn thì chuyển công tác ra Trung ương.”