Showing posts with label KinhTe-KhungHoang-NganHang. Show all posts
Showing posts with label KinhTe-KhungHoang-NganHang. Show all posts

Wednesday, November 14, 2018

Nhiều ngân hàng ở Việt Nam có nguy cơ phá sản vì ‘nợ xấu quá cao’

Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam (VietinBank), ngân hàng có vốn nhà nước, tốc độ tăng số dư “nợ xấu” (nợ khó đòi) đã lên mức 12,127 tỷ đồng (hơn $520.3 triệu) chỉ trong chín tháng đầu năm 2018. (Hình: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tính đến cuối quý 3, 2018, có tới 13 trong số 17 ngân hàng của Việt Nam niêm yết thừa nhận tỷ lệ “nợ xấu” tăng lên, trong đó có ngân hàng “nợ xấu” tăng gấp đôi so với hồi đầu năm.
Hôm 13 Tháng Mười Một, 2018, báo VNExpress dẫn thống kê mới nhất của StoxPlus, một công ty chuyên phân tích các giải pháp thông tin tài chính, cho biết theo con số thống kê mới nhất thì tỷ lệ “nợ xấu” (nợ khó  đòi) quý 3, năm 2018, tại các ngân hàng của Việt Nam nhìn chung đang có xu hướng nhích lên so với quý 2, với 13/17 ngân hàng niêm yết.
Trong số những ngân hàng có vốn nhà nước chi phối, nếu tính về tốc độ tăng số dư “nợ xấu” (nợ khó  đòi) thì Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam (VietinBank) tăng 34.5% lên mức 12,127 tỷ đồng (hơn $520.3 triệu) chỉ trong chín tháng đầu năm 2018.
Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) tại ngân hàng này chiếm tỷ trọng lớn nhất lên đến 72% trong cơ cấu “nợ xấu” và cũng là nhóm nợ tăng mạnh nhất trong chín tháng qua (tăng 68% lên 8,739 tỷ đồng – hơn $374.9 triệu).
Đáng ngại hơn là tại Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam (BIDV Bank), tính tới hết quý 3, số dư “nợ xấu” của ngân hàng này đang ở mức 17,000 tỷ đồng (hơn $729.3 triệu, tăng 21.1% so với cuối năm 2017) và gần cao nhất hệ thống ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) cũng đáng báo động khi số dư “nợ xấu” đến cuối quý 3 tăng lên 4.7% ở mức gần 9,400 tỷ đồng (hơn $403.3 triệu). Trong đó, nợ nhóm 5 tăng 62%.
Trong khi đó, Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank), dù đã mua lại toàn bộ “nợ xấu” đã bán cho Công Ty Quản Lý Tài Sản Của Các Tổ Chức Tín Dụng Việt Nam (VAMC), về cách cho vay, tổng “nợ xấu” của ngân hàng nay hiện đã tăng hơn 844 tỷ đồng (hơn $36.2 triệu), lên mức 3,426 tỷ đồng (hơn $146.9 triệu).
Tương tự, Ngân Hàng Quân Đội (MBBank) có số dư “nợ xấu” cũng tăng vọt lên đến 45% sau chín tháng đầu năm 2018.
Đã có 13/17 ngân hàng của Việt Nam có tỷ lệ “nợ xấu” vượt quá mức an toàn theo quy định của Ngân Hàng Nhà Nước. (Hình: VNExpress)
Theo các chuyên gia ngân hàng, nguyên nhân “nợ xấu” ở nhiều ngân hàng của Việt Nam gia tăng thời gian qua liên quan đến việc tăng trưởng tín dụng mất kiểm soát.
Ông Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia Tài Chính-Ngân Hàng, giải thích với báo VNExpress, vì “nợ xấu” có hai cấu phần nợ cũ và nợ mới. Trên thực tế, ở Việt Nam “nợ xấu” cũ chưa được giải quyết triệt để, thì “nợ xấu” mới lại phát sinh do các ngân hàng mạnh tay cho vay. Điều này thể hiện qua việc mới trong hai quý đầu năm 2018, nhiều ngân hàng đã dùng hết room (hạn mức) tín dụng được giao.
Tuy việc tăng trưởng tín dụng thường mang lại kết quả kinh doanh tốt vì 80% lợi nhuận của ngân hàng phụ thuộc vào tín dụng, nhưng ở chiều ngược lại, đây lại là nguyên nhân dẫn đến “nợ xấu” gia tăng.
Mặt khác, hiện nay đang diễn ra một thực tế là các ngân hàng cho vay thường chỉ dựa vào tài sản bảo đảm mà không chú trọng đến khả năng tài chính và dòng tiền của khách hàng.
Theo đó, các ngân hàng cứ mạnh tay cho vay theo tỷ lệ 70% đến 80% giá trị bất động sản và không quan tâm đến dòng tiền giải ngân có đi đúng mục đích không. Điều này sẽ rất nguy hiểm vì sau này ngân hàng không quản lý được dòng tiền kinh doanh, dẫn đến mất khả năng thu hồi nợ, khiến “nợ xấu” gia tăng.
Trong khi đó, Tiến Sĩ Bùi Quang Tín, chuyên gia Tài Chính-Ngân Hàng, khuyến cáo tín dụng của Việt Nam đã ở mức khoảng 135% GDP, tiến gần tới mức của thời kỳ bất ổn trước đó và có thể dẫn tới rủi ro đối với cân đối tài chính của hệ thống ngân hàng. Đó là chưa kể, nếu đẩy mạnh tín dụng đang rất “nhạy cảm” và thiếu kiểm soát như trong thời điểm này, vòng luẩn quẩn “nợ xấu” sẽ xuất hiện trong vài năm tới.
Ông Phạm Hồng Hải, tổng giám đốc Ngân Hàng HSBC Việt Nam, dự đoán từ năm 2019, vấn đề “nợ xấu” có thể sẽ lại là bài toán cho các ngân hàng của Việt Nam sau thời gian vừa qua tăng trưởng tín dụng tương đối “nóng,” bên cạnh những tác động bất ổn từ thị trường tài chính thế giới. (Tr.N)

Tuesday, October 23, 2018

Nợ công tăng: Thêm gánh nặng cho dân

Diễm Thi, RFA-2018-10-23 
Nhân viên tại một ngân hàng ở Hà Nội đếm tiền đô la Mỹ
  Nhân viên tại một ngân hàng ở Hà Nội đếm tiền đô la Mỹ-AFP
Theo Báo cáo thẩm tra về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2018, dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước năm 2019 do Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách, ông Nguyễn Đức Hải trình bày tại Hà Nội hôm 22/10, thì mỗi người dân Việt Nam gánh hơn 34 triệu đồng nợ công, tăng gần 3 triệu đồng mỗi người so với năm 2017.
Người dân nói gì
Sau khi biết thông tin mình đang gánh trên vai món nợ lớn đến thế, một người dân hiện ở Sài Gòn có tài khoản facebook tên Vô Thường nói với RFA qua điện thoại rằng người dân luôn luôn nghe về tăng trưởng kinh tế, GDP cao, nhà nước được vay vốn ODA rồi nhận viện trợ không hoàn lại; chính phủ còn muốn xây nhà hát giao hưởng 1.500 tỷ, xây quảng trường Hồ Chí Minh, mà tại sao nợ công ngày càng nhiều như vậy. Người này bức xúc nói thêm rằng “Rốt cuộc thì thế hệ tương lai, thế hệ con cháu mình phải gánh nợ, phải trả nợ quá nhiều, mà không biết bao giờ mới trả hết cái nợ do thế hệ lãnh đạo hiện tại gây ra.”
Thầy Thích Ngộ Chánh ở Lâm Đồng, một người rất quan tâm đến những bất công trong xã hội cũng tỏ rõ thái độ không đồng tình khi nhiều cán bộ thì ngày càng giàu, người dân thì ngày càng nghèo.
“Chúng tôi thấy rất bất bình khi nghe tin này tại vì từ tài nguyên, môi trường cho đến an sinh xã hội hiện nay rất tệ. Trong khi đó thuế người dân phải đóng rất là cao mà bây giờ mỗi người dân phải gánh nợ công một cách khủng khiếp như vậy. Tất cả những việc nhà nước làm, quyết sách của nhà nước thì người dân không được có ý kiến, trong khi những tai họa xảy ra thì đảng không chịu trách nhiệm mà người dân phải chịu hết những tai hại do sự lãnh đạo thiếu sáng suốt hoặc sự tham nhũng của các cấp lãnh đạo.”
Cũng trong bản báo cáo chiều ngày 22/10, Uỷ ban Tài chính Ngân sách cho biết, Chính phủ dự ước bội chi ngân sách Nhà nước bằng dự toán, nợ công/GDP có xu hướng giảm, tuy nhiên, số tuyệt đối về nợ công tiếp tục đà tăng. Cụ thể, dư nợ công ước thực hiện năm 2017 là 3.128 nghìn tỷ đồng; ước năm 2018 là 3.409 nghìn tỷ đồng.
Trong khi đó, vay để trả nợ gốc hàng năm có xu hướng tăng nhanh. Nợ chính phủ ước thực hiện năm 2017 là 2.590 nghìn tỷ đồng, ước năm 2018 là 2.892 nghìn tỷ đồng. Vay để trả nợ gốc năm 2017 là 150,7 nghìn tỷ đồng; năm 2018 là 157,13 nghìn tỷ đồng; năm 2019 là 201,21 nghìn tỷ đồng.
Tiến sĩ Vũ Quang Việt, từng là Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia thuộc Cục Thống kê Liên Hợp Quốc trong một bài viết đăng trên tạp chí Thời Đại Mới tháng 8/2018 có thống kê từ năm 2011 đến 2016 cho thấy nợ của chính phủ Việt Nam năm 2016 là 2.4 triệu tỷ đồng, năm 2017 tăng lên 3.1 triệu tỷ và năm 2018 tăng lên 3.4 triệu tỷ. Như vậy có nghĩa là năm 2017 tăng 29%, năm 2018 tăng 9.7% trong khi GDP chỉ tăng khoảng trên 6%.
Nhưng theo ông thì đây chưa phải là nợ công. Nợ công bao gồm nợ của chính phủ và nợ của doanh nghiệp nhà nước. Nợ công năm 2011 là 4.8 triệu tỷ đồng nhưng đến năm 2016 lên đến 8.6 triệu tỷ đồng, gấp 3.5 lần con số nợ chính phủ lúc đó.
Nguyên nhân
Với suy nghĩ của một người dân, facebooker Vô Thường cho rằng nguyên nhân nợ ngày càng cao như vậy do lỗi của cả chính quyền lẫn người dân. Cô cho rằng chính quyền hiện nay là một chính quyền không chính danh bởi không được bầu từ lá phiếu của người dân qua các cuộc bầu cử tự do, cho nên chính quyền hoạt động không minh bạch, không có sự giám sát của người dân nên làm việc không hiệu quả và để lại một núi nợ như hiện nay.  Và cô trình bày tiếp:
Tiền đồng Việt Nam tại một ngân hàng ở Hà Nội.
Tiền đồng Việt Nam tại một ngân hàng ở Hà Nội. AFP
“Còn lỗi từ phía người dân là do người dân không nhận thức được quyền lợi của mình, không nhận thức được mình là chủ đất nước và có trách nhiệm với đất nước, không quan tâm đến chính trị và coi mình như người ngoài cuộc.”
Tháng 3/2018, Kiểm toán Nhà nước đưa ra bản Báo cáo kiểm toán chuyên đề công tác quản lý nợ công năm 2016 cho thấy hàng loạt thiếu sót của Bộ Tài chính chẳng hạn như không cập nhật số liệu rút vốn các năm trước, chưa điều chỉnh số liệu sau khi đối chiếu với chủ nợ, theo dõi và tổng hợp thiếu nợ nước ngoài của chính phủ.
Có dự án tính toán sai tiến độ thực hiện nên dự án đã được ký hiệp định vay với chính phủ nước ngoài nhưng không thực hiện giải ngân, vẫn phải trả khoản phí cam kết cho nhà tài trợ.
Còn rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ công cao như bội chi ngân sách, đầu tư không hiệu quả, tiền lãi vay quá cao…, nhưng một nguyên nhân dễ thấy là bộ máy nhân sự quá cồng kềnh mà ngân sách nhà nước phải nuôi bằng thuế của dân. Theo thống kê của World Bank năm 2016 thì Việt Nam là nước có đông công chức, viên chức nhất Đông Nam Á.
Bộ máy nhà nước có khoảng 2.8 triệu cán bộ, công chức, viên chức. Nếu cộng toàn bộ số người hưởng lương và mang tính chất lương thì con số này lên tới 11 triệu người. Chính phủ hiện nay hàng năm phải chi trả 14% trên tổng nợ chính phủ vay và chính phủ bảo lãnh.
Nghịch lý trong thực tế là Việt Nam đang cần vay vốn để phát triển nhưng do sử dụng vốn không hiệu quả nên nợ công tăng nhanh. Nhưng nếu không tiếp tục vay thì cũng không có vốn để phát triển và để trả nợ.
Nan giải hướng ra
Một trong những hướng để có nguồn vốn phát triển kinh tế được Nhà nước tính tới là huy động vàng trong dân với số lượng được Hiệp hội kinh doanh vàng thống kê là khoảng 500 tấn.
Tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng hiện ở Sài Gòn tỏ ra nghi ngờ về biện pháp đó. Ông đặt câu hỏi là huy động 500 tấn vàng của dân để phát triển kinh tế hay để trả nợ nước ngoài, tại vì hiện nay Việt Nam nợ nước ngoài rất nhiều. Ông cho biết mỗi năm nhà nước phải có trách nhiệm trả nợ quốc tế từ 6 đến 8 tỷ đô la, đặc biệt có những năm lên tới 10 hoặc 12 tỷ đô la một năm. Từ nhiều năm qua Việt Nam không có tiền tự làm ra để trả nợ mà phải vay để đảo nợ.
Tiến sĩ Vũ Quang Việt trong một bài viết đăng trên tạp chí Thời Đại Mới tháng 8/2018 viết rằng “Việt Nam có thu nhập đầu người trung bình vượt ngưỡng chậm phát triển nên các tổ chức quốc tế kể từ tháng 7 năm 2017 đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước hưởng ưu đãi với lãi suất 0 hay rất thấp và với thời gian trả dài 35-40 năm. Như thế Việt Nam từ nay sẽ phải mượn với lãi suất thị trường và thời gian phải trả ngắn hơn.”
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa hiện ở Hoa Kỳ từng nói với RFA về vấn đề nợ công rằng “chuyện dễ mà ai cũng tính ra hay nghĩ tới là tăng thuế để giảm mức bội chi và đi vay. Đấy là kịch bản gọi là “giết con gà đẻ trứng vàng” vì tăng thuế sẽ cản trở sản xuất và còn đánh hụt số thu. Kịch bản thứ hai là “xin vỡ nợ từng phần” như ta đang chứng kiến tại xứ Venezuela sau khi xây dựng xã hội chủ nghĩa.”

Tuesday, July 3, 2018

Tiền Đồng Việt Nam rớt giá kỷ lục, Ngân Hàng Nhà Nước sẵn sàng can thiệp

Tiền Đồng Việt Nam rớt giá kỷ lục, Ngân Hàng Nhà Nước sẵn sàng can thiệp
Tiền đồng Việt Nam đã rơi xuống tới một mức thấp kỷ lục hồi tuần trước, đầu tuần này lên giá nhẹ.
Ngân Hàng Nhà Nước CSVN cho rằng nguyên do đồng Việt Nam xuống tới mức 22,965 đồng đổi được một Mỹ kim hôm Thứ Sáu 29/06, là vì đồng Mỹ kim lên giá trên các thị trường toàn cầu và thị trường chứng khoán Việt Nam mới đây sụt giá nặng. Theo một thông cáo trên trang mạng của Ngân Hàng Nhà Nước SVN, Thống đốc Lê Minh Hưng nói rằng ngân hàng sẵn sàng can thiệp vào thị trường ngoại hối nếu cần thiết. Ông Hưng cũng đưa ra tuyên bố nhằm trấn an các thị trường, rằng Ngân Hàng Nhà Nước hiện có đầy đủ công cụ và kế hoạch cần thiết để can thiệp vào thị trường ngoại hối, bảo đảm kiểm soát sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Tuyên bố của thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước CSVN được đưa ra giữa lúc chỉ số chứng khoán VN-Index của Việt Nam xuống tới 932.66 điểm hôm Thứ Hai 2 tháng 7, một mức thấp trong ngày chưa từng được ghi nhận trong hơn một tháng qua. Trên thực tế, số liệu từ IndexQ cho thấy thị trường Việt Nam đang đi đầu trong những thị trường chứng khoán bị mất giá nhiều nhất thế giới trong quý 2, tuột gần 18%. Mức giảm trong 3 tháng gần đây của VN-Index cũng đánh dấu giai đoạn tồi tệ nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam
Huy Lam / SBTN

Wednesday, January 17, 2018

CSVN ‘cho phép phá sản ngân hàng’

Quyền lợi của người gửi tiền tiết kiệm chưa được làm rõ trong luật về phá sản ngân hàng. (Hình: Báo Thanh Niên)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Báo điện tử InfoNet của Bộ Thông Tin-Truyền Thông cho hay, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các Tổ Chức Tín Dụng được Quốc Hội thông qua đã chính thức có hiệu lực từ ngày 15 Tháng Giêng, 2018.
Tờ báo viết: “Luật cho phép phá sản ‘tổ chức tín dụng’ [ngân hàng] thuộc diện ‘kiểm soát đặc biệt’ tại Điều 152. Ngân Hàng Nhà Nước trình chính phủ quyết định chủ trương phá sản tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt theo quy định. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chính phủ quyết định chủ trương phá sản ngân hàng, ban kiểm soát đặc biệt có trách nhiệm phối hợp với ngân hàng, cơ quan Bảo Hiểm Tiền Gửi Việt Nam xây dựng phương án phá sản trình Ngân Hàng Nhà Nước xem xét.”
Các ngân hàng thuộc diện “kiểm soát đặc biệt” được mô tả là rơi vào các trường hợp: “Mất/có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc mất/có nguy cơ mất khả năng thanh toán theo quy định của Ngân Hàng Nhà Nước; Số lỗ lũy kế của ngân hàng lớn hơn 50% giá trị của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất; Hai năm liên tục bị xếp hạng yếu kém theo quy định của Ngân Hàng Nhà Nước; Không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn quy định tại luật này trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn 4% trong thời hạn 6 tháng liên tục.”
Luật nêu trên cũng được ghi nhận “không có quy định về mua bắt buộc một ngân hàng với giá zero đồng” như trường hợp một số ngân hàng rơi vào tình cảnh này trong thời gian qua.
Chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu được báo Zing dẫn lời: “Luật Các Tổ Chức Tín Dụng sẽ đưa ra nhiều cơ chế kiểm soát, hỗ trợ các ngân hàng trong diện bị kiểm soát sớm phục hồi và bảo đảm quyền lợi cho người gửi tiền. Trong quá khứ một số đơn vị ngừng hoạt động do lệnh của Ngân Hàng Nhà Nước do gặp những vấn đề trong điều hành, vốn chủ sở hữu không đảm bảo, hoạt động không hiệu quả nhưng chưa từng có ngân hàng nào bị tuyên bố phá sản cả. Tôi muốn trấn an mọi người rằng, việc phá sản ngân hàng sẽ không xảy ra ngày một ngày hai. Muốn thực hiện phương án phá sản, Ngân Hàng Nhà Nước trước hết sẽ phải đưa một ngân hàng vào diện ‘kiểm soát đặc biệt’ rồi từ đó áp dụng những phương án cơ cấu lại như đã trình bày ở trên trước khi yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản.”
Tuy vậy, không phải ai cũng “lạc quan và suy nghĩ tích cực” như vị chuyên gia này. Hồi Tháng Mười Một năm 2017, một bản tin trên báo Tuổi Trẻ gây lo ngại cho những người đang gửi tiền tiết kiệm tại các ngân hàng ở Việt Nam.
Bản tin viết: “Luật Các Tổ Chức Tín Dụng sau khi sửa đổi đã được thông qua, nhưng việc nâng hạn mức bồi thường tiền gửi quá 75 triệu đồng [$3,307] vẫn phải tùy thuộc vào tình hình nguồn lực nhà nước theo từng thời kỳ và theo mức độ tác động của từng trường hợp phá sản cụ thể. Do vậy, nội dung này không quy định trong luật.”
Tờ báo cũng dẫn lời ông Trần Quang Chiểu, ủy viên thường trực Ủy Ban Tài Chính Ngân Sách của quốc hội: “Khi phá sản ngân hàng, việc quy định mở là nhà nước sẽ chi trả cho người gửi tiền theo thực lực của nền kinh tế sau khi Bảo Hiểm Tiền Gửi đã bồi thường để bồi thường là phù hợp, nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của người gửi tiền. Lý do là việc ấn định mức bồi thường tối đa 75 triệu đồng như hiện nay thì người gửi 100 triệu đồng [$4,410] cũng [gặp rủi ro mất tiền] giống như người gửi 1 tỷ đồng [$44,100], như thế là không công bằng.”
Tuy vậy, đến nay, chưa thấy tờ báo “lề phải” nào dẫn ý kiến chuyên gia tài chính làm rõ khái niệm “tùy tình hình để bồi thường khi một ngân hàng bị phá sản” để những người gửi tiền tiết kiệm bớt thấp thỏm. (T.K.)

Thursday, July 6, 2017

Hàng loạt ngân hàng ngoại quốc đang rút khỏi Việt Nam

Chi nhánh HSBC tại Sài Gòn. HSBC đã quyết định rút khỏi Việt Nam bằng cách chuyển nhượng vốn cho Techcombank. (Hình: Báo Công Thương)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Nhiều ngân hàng ngoại quốc đang rút ra khỏi các liên doanh ngân hàng bằng cách chuyển nhượng cổ phần cho những đối tác là ngân hàng phía Việt Nam.
Báo điện tử BizLive vừa công bố thống kê liên quan đến cuộc rút lui tuy lặng lẽ nhưng rất đáng chú ý này.
Theo đó, cuộc rút lui khởi đầu hồi Tháng Ba với Standard Chartered – một tập đoàn ngân hàng đa quốc gia. Vào thời điểm đó, Standard Chartered đột nhiên rút hai đại diện của họ khỏi Hội Đồng Quản Trị của Ngân Hàng Á Châu (ACB).
Tuy Standard Chartered không giải thích tại sao nhưng các chuyên gia tin rằng, động tác vừa kể là sự chuẩn bị cho chuyện rút vốn khỏi ACB – theo luật pháp Việt Nam, đại diện ngân hàng ngoại quốc trong các liên doanh ngân hàng ở Việt Nam phải rời khỏi Hội Đồng Quản Trị của liên doanh trước khi rút vốn 18 tháng. Gần đây, Standard Chartered đã chính thức xác nhận đang thảo luận với ACB về kế hoạch rút vốn ra khỏi ACB.
Đến tháng, ANZ – một ngân hàng của Úc và New Zealand, loan báo toàn bộ mảng dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam (tám chi nhánh và phòng giao dịch) cho chi nhánh Việt Nam của Shinhan – một ngân hàng Nam Hàn. Các chuyên gia dự đoán, vụ chuyển nhượng này sẽ hoàn tất vào cuối năm nay.
Tới giữa Tháng Sáu, trên trang web chính thức, ngân hàng Kỹ Thương (Techcombank) gửi thông báo xin ý kiến cổ đông để mua lại khoảng 20% cổ phần mà HSBC – một trong những tổ chức tài chính, ngân hàng lớn nhất thế giới đang nắm giữ. Nói cách khác, HSBC đã quyết định rời Việt Nam sau 12 năm hoạt động tại đó.
Mới đây, tới lượt Commonwealth Bank of Australia (CBA) thông báo sẽ hoàn tất việc chuyển giao mọi thứ có liên quan tới mình tại Việt Nam cho ngân hàng Quốc Tế (VIB) trong quý ba này. CBA mở chi nhánh đầu tiên tại Việt Nam hồi năm 2008 và đến 2010 thì góp khoảng 20% vào VIB. CBA là cổ đông lớn nhất của VIB.
Nói với phóng viên báo điện tử BizLive, ông Nguyễn Trí Hiếu, một chuyên gia kinh tế, nhận định đó là những dấu hiệu đáng ngại. Chuyện hàng loạt tổ chức tài chính, ngân hàng ngoại quốc lần lượt rút khỏi Việt Nam cho thấy thị trường tài chính Việt Nam tiềm ẩn nhiều rủi ro và không mang lại lợi nhuận như thiên hạ mong đợi.
Ông nói rằng điều đó khác hoàn toàn với thời điểm cách nay 20 năm. Lúc ấy, các tổ chức tài chính, ngân hàng ngoại quốc thi nhau mở văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam.
Cũng theo lời ông, chuyện các tổ chức tài chính, ngân hàng ngoại quốc rút khỏi Việt Nam đã manh nha trong năm năm vừa qua thông qua việc nhượng lại cổ phần cho một số tổ chức tài chính, ngân hàng Châu Á như Nhật, Nam Hàn, Singapore và các ngân hàng thương mại của Việt Nam.
Ông phỏng đoán, hiện tượng các tổ chức tài chính, ngân hàng ngoại quốc thi nhau rút khỏi Việt Nam chắc chắn có liên quan đến cung cách quản trị ngân hàng tại Việt Nam có quá nhiều khác biệt với chuẩn mực chung, tỉ lệ nợ xấu (nợ có khả năng mất cả vốn lẫn lãi) quá lớn.
Trước đây, chính phủ liên tục trấn an cả Quốc Hội lẫn dân chúng rằng họ đã kiểm soát được nợ xấu và tỉ lệ nợ xấu tính trên tổng số tiền mà hệ thống ngân hàng cho vay đã giảm đáng kể.
Các báo cáo chính thức về nợ xấu, tổng hợp từ báo cáo của những tổ chức tín dụng tại Việt Nam, xác định, đến hết năm 2015, các tổ chức tín dụng tại Việt Nam đã giải quyết được 493,000 tỷ đồng nợ xấu. Tới hết năm 2016, tỉ lệ nợ xấu đã giảm xuống còn 2.46% tính trên tổng số tiền mà hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã cho vay.
Đến Tháng Tư vừa qua, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam mới thú thật là tỉ lệ nợ xấu có thể gấp ba lần báo cáo chính thức. Nếu xét cả nợ xấu mà công ty Quản Lý Tài Sản Các Tổ Chức Tín Dụng Việt Nam (VAMC) đang xử lý và những khoản nợ tiềm ẩn rủi ro trở thành nợ xấu thì tỉ lệ nợ xấu xấp xỉ 8.86% tổng số tiền mà hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã cho vay.
Tháng trước, lúc đề nghị Quốc Hội thông qua “Nghị quyết về xử lý nợ xấu” (ấn định các giải pháp hỗ trợ hệ thống ngân hàng, kể cả sử dụng công quỹ để bù đắp những khoản từng cho vay, giờ gần như không thể thu hồi), chính phủ mới tiết lộ tỉ lệ nợ xấu hiện là… 17.21% tính trên tổng số tiền mà hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã cho vay. Tổng nợ xấu chừng… 600,000 tỷ đồng!
Ai cũng biết, nợ xấu càng cao thì khả năng gặp rủi ro, thậm chí sụp đổ của hệ thống ngân hàng càng lớn. (G.Đ.)

Tuesday, July 4, 2017

Hàng loạt ngân hàng ngoại muốn rút vốn khỏi Việt Nam, trùng hợp hay xu hướng?

Theo Bizlive-04-07-2017

Hàng loạt ngân hàng ngoại muốn rút vốn khỏi Việt Nam, trùng hợp hay xu hướng?

Trong thời gian gần đây, khá nhiều ngân hàng lớn trên thế giới đang hoạt động tại Việt Nam đã có động thái thu hẹp hoạt động, hoặc rút vốn khỏi một ngân hàng nội. Vậy, chuyện gì đang xảy ra với hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam?


Hàng loạt ngân hàng ngoại muốn thu hẹp hoạt động, rút vốn
Mới đây, Ngân hàng TMCP Quốc tế ( VIB ) vừa công bố nhận chuyển giao toàn bộ hoạt động của Ngân hàng Commonwealth Bank of Australia (CBA) Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh. Toàn bộ cuộc chuyển giao dự kiến sẽ được hoàn tất trong quý III năm nay.
Được biết, CBA Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh bắt đầu hoạt động vào năm 2008. Hai năm sau, ngân hàng mẹ CBA đã đầu tư vào VIB với phần vốn góp 15% và sau đó nâng tỷ lệ lên 20%. Hiện CBA là nhà đầu tư chiến lược và cổ đông lớn nhất của VIB. Ngân hàng đến từ Úc cũng đang giữ 2 ghế trong HĐQT và 1 ghế trong BKS của VIB.
Như vậy, sau gần chục năm hoạt động tại thị trường Việt Nam, CBA đã bắt đầu có động thái chuyển giao. Theo một số chuyên gia, về bản chất, đây là sự thu hẹp hoạt động tại Việt Nam của ngân hàng.
Dù không diễn ra rầm rộ nhưng có thể thấy, trong thời gian gần đây, khá nhiều ngân hàng lớn trên thế giới đang hoạt động tại Việt Nam cũng đang có những động thái tương tự.
Hồi giữa tháng 6 vừa qua, trên trang web chính thức, Techcombank đã có thông báo về việc xin ý kiến cổ đông thông qua đề xuất mua lại 19,41% vốn mà HSBC nắm giữ sau 12 năm gắn bó.
Với mức giá mua đề xuất không thấp hơn 23.455 đồng/cổ phần, ước tính giá trị thương vụ sẽ lên đến hơn 4 nghìn tỷ đồng.
Việc thoái vốn của HSBC được dự báo sẽ gây áp lực cho Techcombank tìm đối tác có đủ tiềm năng để bán lại số cổ phần này, cũng như khiến ngân hàng phải hoãn kế hoạch tăng vốn điều lệ từ mức 8.878 tỷ đồng lên mức 14.000 tỷ đồng trong năm 2017.
Trước đó hai tháng, ngân hàng ANZ Việt Nam ra thông cáo cho biết đã bán toàn bộ mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam cho một đối tác nước ngoài là ngân hàng Shinhan Việt Nam.
Thỏa thuận với ngân hàng Shinhan Việt Nam bao gồm chuyển giao 8 chi nhánh và phòng giao dịch của ANZ Việt nam tại Hà Nội và Tp.HCM, cũng như nhân viên khối dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
Phụ thuộc vào sự chấp thuận của các cơ quan có thẩm quyền, ANZ dự kiến cuộc chuyển giao mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ cho ngân hàng Shinhan Việt Nam sẽ được hoàn tất vào cuối năm 2017.
Trước đó, hồi cuối tháng 3/2016, “ông lớn” Standard Chartered cũng đã gây xôn xao thị trường khi bất ngờ rút hai đại diện của mình khỏi ACB. Và tại ĐHĐCĐ thường niên ACB năm 2017 tổ chức hồi tháng 4 mới đây, phía Standard Chartered cũng đã xác nhận kế hoạch thoái vốn đang trong tiến trình thảo luận. Theo quy định, nhà đầu tư tổ chức là nước ngoài muốn rút ra khỏi ngân hàng Việt Nam thì phải rút khỏi HĐQT 18 tháng trước ngày chuyển nhượng cổ phần.
Vì sao?
Việc hàng loạt các “ông lớn” trong ngành tài chính thế giới muốn rút vốn khỏi ngân hàng Việt sau một thời gian hợp tác chỉ là do sự thay đổi về chiến lược kinh doanh hay là một điềm báo gì khác về môi trường kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam?
Trao đổi với phóng viên BizLIVE, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, đây là một xu hướng đáng lo ngại, cho thấy thị trường tài chính Việt Nam tiềm ẩn nhiều rủi ro và không mang lại lợi nhuận kỳ vọng cho các nhà đầu tư ngoại.
“Ngược với một số chuyên gia nhận định đây là một trường hợp riêng lẻ, tôi cho rằng đây là một động thái mang tính chất xu hướng. Và việc ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là ngân hàng phương Tây dần dần rút khỏi Việt Nam là một xu hướng đáng lo ngại”, ông Hiếu nói.
“Ngành ngân hàng Việt Nam trước đây từng là một địa chỉ hấp dẫn. Cách đây hơn 20 năm khi tôi mới về Việt Nam, có một làn sóng ngân hàng nước ngoài đổ về Việt Nam hoạt động dưới hình thức các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các văn phòng đại diện, sau đó thì có các ngân hàng 100% vốn nước ngoài được mở. Nhưng khoảng hơn 5 năm trở lại đây đã có hiện tượng ngân hàng nước ngoài dần dần rút vốn đầu tư khỏi các ngân hàng trong nước, nhường lại cổ phần cho nhà đầu tư trong nước hoặc các ngân hàng châu Á từ Hàn quốc, Singapore, Nhật Bản. Có lẽ các ngân hàng phương Tây đang dần thấy hoạt động kinh doanh ngân hàng Việt Nam có quá nhiều rủi ro và không tạo lợi nhuận trong khi có rất nhiều thị trường béo bở khác thu hút dòng vốn của họ”, chuyên gia nhận định.
Theo nhận định của TS. Hiếu, một loạt các vấn đề như tỷ lệ nợ xấu lớn, quả trị rủi ro nhiều thiếu sót trong khi quản trị doanh nghiệp còn hạn chế là những nguyên nhân chính làm giảm tính hấp dẫn của các ngân hàng Việt.
“Đối với các ngân hàng ngoại, quy trình quản trị doanh nghiệp như thế nào rất quan trọng. Họ đã quen với việc quản trị theo chuẩn mực quốc tế trong khi ngân hàng Việt lại thường điều hành theo kiểu “gia đình”, được điều hành bởi những cổ đông lớn. Tôi cho rằng, xu hướng này có lẽ sẽ còn tiếp tục trong những năm tới cho tới khi nào vấn đề xử lý nợ xấu có những điều kiện tích cực, quản trị rủi ro, quản trị doanh nghiệp được cải thiện”, ông Hiếu nói.

Trần Thúy

Monday, October 3, 2016

‘Dự trữ ngoại hối liên tục tăng cao’ hay phải gom ngoại tệ để trả nợ?


Ảnh datnenthuongmai.com
Giới quan chức ngành ngân hàng, tài chính cùng một số tờ báo nhà nước chuyên tung hứng thành tích kinh tế thời Nguyễn Tấn Dũng lại đang khoe khoang thành tích “dự trữ ngoại hối liên tục tăng cao”, khi Ngân hàng nhà nước đã đạt được con số 40 tỷ USD dự trữ ngoại hối.
Có thực đây là một “thành tích” đáng tâng bốc không?
Hiếm hoi, vài tờ báo nhà nước nói ẩn dụ về “có thể Chính phủ muốn mượn một phần dự trữ ngoại hối để bù đắp khó khăn ngân sách”.
Tất cả đều có nguồn cơn của nó.
Hãy nhớ lại vào cuối năm 2015, trong cơn bức bí “ngân sách trung ương chỉ còn 45,000 tỷ đồng mà không biết chi cho cái gì”, thủ tướng khi ấy là Nguyễn Tấn Dũng đã phải chỉ đạo Bộ Tài chính vay mượn khẩn cấp 1 tỷ USD từ Quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia. Cũng vào thời gian ấy, ông Dũng còn chỉ đạo Bộ Tài chính vay 30,000 tỷ đồng từ Ngân hàng nhà nước.
Đến cuối năm 2015, con số gần 40 tỷ USD dự trữ ngoại hối mà thống đốc ngân hàng nhà nước trước đó là Nguyễn Văn Bình đã khoe bất chợt giảm rất mạnh, chỉ còn khoảng 30 tỷ USD. Như vậy số 7-8 tỷ USD bị “khấu trừ” đã biến đi đâu?
Chỉ sang năm 2016, người ta mới biết riêng trong năm 2015, Chính phủ Việt Nam phải dành đến 20 tỷ USD để trả nợ nước ngoài. Nhiều món nợ ngắn hạn đều đã đến hạn và không thể không trả, vì nếu “xù” thì các chủ nợ lớn nhất như Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Phát triển Á châu sẽ không cho vay tiếp, mà không được vay tiếp thì không có tiền để nuôi bộ máy gần 3 triệu công chức viên chức và cũng chẳng có tiển để “đảo nợ”…
Sang năm 2016, kế hoạch trả nợ quốc tế của Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục cao – lên đến ít nhất 12 tỷ USD. Con số này lại khá tương đồng với thành tích “Ngân hàng nhà nước đã mua vào 8 tỷ USD cho dự trữ ngoại hối từ đầu năm 2016 đến nay”.
Cũng cho đến nay, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia bị Tổ chức Minh bạch quốc tế đánh giá rất thấp, về khâu minh bạch thu chi tài chính ngân sách. Không người dân nào được biết trong Quỹ dự trữ ngoại hối của Việt Nam có gì, bao nhiêu USD, bao nhiêu SDR và bao nhiêu vàng, trái phiếu… Trong khi đó, những kế hoạch chi ngoại tệ vẫn đều đặn được Chính phủ trình lên Quốc hội, nhưng như một cố tật lâu ngày khó bỏ, gần 500 đại biểu quốc hội chỉ biết “gật”.
Có khả năng một phần lớn trong con số 8- 10 tỷ USD mà Ngân hàng nhà nước mua thêm (tính từ đầu cuối năm 2015 đến nay) đã được dùng để trả nợ nước ngoài. Phần còn lại để cho Chính phủ “mượn” để trả lương bộ máy nhưng không biết bao giờ mới trả.
Chỉ có các ngân hàng thương mại là thiệt thòi hơn cả. Khi gom vào ngoại tệ, Ngân hàng nhà nước đã tung tiền đồng ồ ạt và cách nào đó khiến lạm phát dâng cao. Nhận được tiền đồng nhưng lại bức bí kênh cho vay trong một nền kinh tế trì trệ toàn thân vì suy thoái, các ngân hàng giờ đây đang ngồi trên đống lửa vì vấn nạn “ôm tiền”.
Còn nếu “chẳng may” kinh tế nhuốn chút khởi sắc, các ngân hàng đẩy được tín dụng ra thị trường, thì chắc chắn sẽ gây nên cảnh lạm phát bão bùng, giá cả hàng hóa tăng vọt.
Bế tắc!
Lê Dung / SBTN

Tuesday, February 16, 2016

Sacombank đang “ẩn” khối nợ xấu cực khủng?

Có lý do để nghi ngờ về về số liệu nợ xấu thực ở Sacombank trong báo cáo tài chính mới nhất. Để làm rõ điều này đơn vị kiểm toán, cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng cần thiết bóc tách rõ con số hơn 44 nghìn tỷ đồng đang được Sacombank hạch toán ở khoản mục Tài sản có khác.


Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Sacombank (HSX: STB) vừa công bố Báo cáo tài chính riêng Quý IV/2015. Đây là Báo cáo tài chính đầu tiên được Sacombank công bố sau ngày nhận sáp nhập Southern Bank.

Báo cáo đã cho thấy phần nào tình hình sức khỏe của Sacombank hậu sáp nhập. Nhất là những số liệu nợ xấu – vấn đề mà công chúng đang đặc biệt quan tâm. Bởi lẽ, suốt từ 2013 đến nay, Southern Bank – đối tượng vừa “hòa tan” vào STB – luôn bí mật về các thông tin tài chính.

Theo phân loại của Sacombank, trong tổng số 180 nghìn tỷ đồng cho vay khách hàng của nhà băng này tính đến ngày 31/12/2015, đang có 176.423 tỷ đồng nợ đủ tiêu chuẩn (nhóm 1), 790 tỷ đồng nợ cầu chú ý (nhóm 2), 225 tỷ đồng nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), 125 tỷ đồng nợ nghi ngờ (nhóm 4) và 3.029 tỷ đồng nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5).

Tính ra, tổng nợ xấu cho vay khách hàng (nhóm 3 – nhóm 5) của Sacombank là 3.379 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,85% tổng dư nợ. Đây là tỷ lệ hoàn hảo với các ngân hàng, và dường như cho thấy sau sáp nhập với "bệnh nhân" Southern Bank, tình hình tài chính Sacombank vẫn rất ổn. 

So sánh với cùng kỳ 2014, nợ xấu ở Sacombank đã tăng 1.893 tỷ đồng về số tuyệt đối và 0,65% về số tương đối.

Cùng với đó là cả chục nghìn tỷ đồng nợ xấu khác đang “tạm trú” ở Công ty quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam dưới tên “trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành”. 

Khối nợ xấu tráo danh này hiện đang chiếm phần lớn trong tổng số hơn 16 nghìn tỷ đồng chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn mà Sacombank đang liệt kê trong Bảng cân đối kế toán của mình.

Nhưng liệu rằng khối nợ xấu đang “di căn” trong lòng Sacombank đã dừng ở đó… ?

Cả tỷ USD nợ xấu đang “ẩn” ở Tài sản có khác?

Theo tính toán, quy mô nợ xấu thực sự ở Sacombank, không loại trừ khả năng, có thể bị đội lên… cả tỷ USD nữa.

Khối nghi ngờ nợ xấu này rất có thể đang được Sacombank ghim ở tài khoản Tài sản Có khác.

Theo đó, tính đến ngày 31/12/2015, tổng giá trị Tài sản Có khác của Sacombank đã tăng sốc tới hơn 4 lần so với đầu năm, lên mức 44.315 tỷ đồng, chiếm đến… 15% tổng tài sản.

Chiếm lớn nhất trong số đó là Các khoản lãi, phí phải thu với 25.144 tỷ đồng. Kế đến là Các khoản phải thu với 17.529 tỷ đồng.

Để làm rõ hơn sự bất thường của số liệu Tài sản có khác ở Sacombank, chúng ta có thể so sánh với các số liệu tương ứng ở các ngân hàng khác.


Dư nợ cho vay khách hàng gấp đôi Sacombank, nhưng giá trị Tài sản có khác của Vietcombank chỉ bẳng 1/5.
Chẳng hạn như ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, mặc dù tổng dư nợ Cho vay khách hàng của Vietcombank tại ngày 31/12/2015 lên tới 376 nghìn tỷ đồng – gấp đôi Sacombank – nhưng Tài sản có khác của Vietcombank chỉ là 8.927 tỷ đồng, bằng 1/5 so với Sacombank. Trong đó, Các khoản lãi và phí phải thu là 4.815 tỷ đồng (bằng 1/5 so với Sacombank), Các khoản phải thu là 2.527 tỷ đồng (bằng 1/7 so với Sacombank).

Hay như ở Ngân hàng Công thương Việt Nam, mặc dù tổng dư nợ Cho vay khách hàng của Vietinbank gấp 3 lần Sacombank nhưng giá trị Tài sản có khác của Vietinbank cũng chỉ bằng phân nửa so với Sacombank.

Sự bất cập tương tự cũng diễn ra trong các so sánh giữa Sacombank với BIDV và MBBank.

Thống kê của VietTimes, Sacombank đang là nhà băng đang có giá trị Tài sản có khác lớn nhất hệ thống về cả số tuyệt đối, lẫn số tương đối. Khoảng cách với các ngân hàng khác thậm chí còn được tính bằng bội số.

Trao đổi với phóng viên, một lãnh đạo ngân hàng thừa nhận, Các khoản lãi, phí phải thu;Các khoản phải thu là một nơi giấu nợ rất kín đáo.

“Lãi quá hạn không thu được là dự thu. Lãi dự thu có thể có tài sản bảo đảm, còn phí dự thu thường do ngân hàng đứng ra bảo lãnh, không có tài sản bảo đảm, đến khi khách hàng không trả được, ngân hàng trả thay. Đến phí còn không thu được, thì tất nhiên gốc làm sao thu được. Các ngân hàng không tách riêng phí phải thu, lãi phải thu, mà gộp chung thành lãi, phí phải thu”, vị này cho hay.

Rõ ràng, có lý do để nghi về về số liệu nợ xấu thực chất ở Sacombank và để làm rõ điều này đơn vị kiểm toán, cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng cũng cần thiết bóc tách rõ con số hơn 44 nghìn tỷ đồng đang được Sacombank hạch toán ở Tài sản có khác.

Bất ngờ báo lỗ 583 tỷ đồng trong quý IV/2015

Trong báo cáo gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM, giải trình cho lý do khiến ngân hàng bị lỗ trong quý IV, Sacombank cho biết có 3 nguyên nhân.

Thứ nhất là Thu nhập lãi thuần giảm 348,5 tỷ đồng do chi phí trả lãi tiền gửi và tiền vay tăng 1.153,1 tỷ đồng. Trong đó, tiền gửi của khách hàng tăng 96.332 tỷ đồng và lãi suất huy động cũng tăng lên chi phí trả lãi tăng 1.151 tỷ đồng; tiền vay tăng 533 tỷ đồng, chi phí trả lãi vay giảm 4,5 tỷ đồng; chi phí khác tăng 6 tỷ đồng.

Thu nhập lãi tăng 804,6 tỷ đồng, trong đó, dư nợ cho vay tăng 59.655 tỷ đồng và lãi suất cho vay cũng tăng nên thu nhập lãi vay tăng 872 tỷ đồng; Tiền gửi đình kỳ tài các TCTD bình quân trong quý tăng so với cùng kỳ năm trước nên thu nhập lãi tiền gửi tăng 13,5 tỷ đồng; Đầu tư chứng khoán nợ giảm 2.016 tỷ đồng nên thu lãi từ chứng khoán nợ giảm 79,2 tỷ đồng và thu nhập lãi khác giảm 2,1 tỷ đồng.

Nguyên nhân thứ 2 khiến Sacombank lỗ quý IV là thu nhập từ các hoạt động khác giảm 18,9 tỷ đồng.

Nguyên nhân thứ 3 là do chi từ các hoạt động khác tăng 622 tỷ đồng. Cụ thể, chi phí dự phòng tín dụng tăng 938,1 tỷ đồng.

Ba nguyên nhân trên khiến Sacombank bị lỗ 989,4 tỷ đồng và làm cho lợi nhuận của ngân hàng “bốc hơi” gần một nửa thành quả đạt được trong 9 tháng đầu năm là 2.140 tỷ đồng.


Lũy kế cả năm, Sacombank lãi trước thuế 1.289 tỷ đồng, giảm 55% cùng kỳ, vẫn vượt 30% so với chỉ tiêu đề ra cho cả năm (chỉ tiêu điều chỉnh sau khi nhận sáp nhập Southern Bank ở mức 1.002 tỷ trước thuế và sau thuế 782 tỷ đồng).
16.02.2016
Theo Viettimes

Friday, February 12, 2016

Các ngân hàng Việt Nam lo sợ sẽ bị ngoại quốc thâu tóm

Bên lề cuộc họp cuối tuần của các chủ ngân hàng thương mại cổ phần vào chiều ngày 12-2 tại Sài Gòn, nhiều ý kiến bày tỏ lo sợ phía ngoại quốc sẽ tung tiền để mua lại các ngân hàng Việt Nam.
Ảnh minh họa

Theo nội dung cam kết về ngành ngân hàng tài chính trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), có các điểm chính như sau: mở rộng cam kết về mở cửa thị trường, trong đó lưu ý các tổ chức tài chính trong 12 nước được cung cấp và nhận dịch vụ xuyên biên giới; tăng cường minh bạch hóa, bảo hộ đầu tư với cơ chế giải quyết tranh chấp minh bạch, rõ ràng và có hiệu quả; không phân biệt quốc tịch nhân sự cấp cao; cho phép áp dụng các ngoại lệ và các quy định quản lý thận trọng,…
Như vậy, bên cạnh cơ hội mở rộng đối tác, thị phần, thị trường, tìm kiếm cổ đông chiến lược nước ngoài, tuyển dụng nhân tài quốc tế, chia sẻ thông tin, học hỏi kinh nghiệm và áp lực cải cách thể chế trong nước;… hệ thống ngân hàng nội địa Việt Nam sẽ đối mặt với một cuộc đua cạnh tranh hơn và thách thức “chảy máu chất xám” nếu không quan tâm quản lý nhân tài và có chế độ tốt.
Thêm nữa, cũng sẽ không loại trừ khả năng nếu các ngân hàng không kiểm soát tốt sẽ bị thâu tóm hoặc bị mua lại khi các ngân hàng Việt Nam cởi mở dần không gian cho nhà đầu tư nước ngoài, các đối tác chiến lược nước ngoài.
TPP cho phép 12 nước thành viên cung cấp các dịch vụ ngân hàng xuyên biên giới trong khối, tức là được phép khai thác chung khách hàng. Điều này có nghĩa, cá nhân, tổ chức tại Việt Nam có thể sử dụng dịch vụ của ngân hàng ở bất kỳ ngân hàng nào trong 12 nước thành viên TPP mà ngân hàng đó không cần mở chi nhánh tại Việt Nam như trước và ngược lại.
Về vấn đề nhân sự, TPP yêu cầu các nước thành viên không phân biệt quốc tịch khi tuyển dụng nhân sự cấp cao, tức là các tổ chức, doanh nghiệp trong TPP không được từ chối nhân sự quốc tịch nước khác trong TPP, bất kỳ lãnh đạo cấp cao mang quốc tịch nào cũng sẽ được tham gia điều hành.
Về bảo hộ đầu tư, tổ chức, doanh nghiệp, Chính phủ phải ứng xử công bằng với tất cả nhà đầu tư. Đồng thời, các nhà đầu tư có thể kiện trực tiếp tổ chức, Chính phủ đó lên Ủy ban TPP nếu họ không chứng minh được sự minh bạch và công bằng trong khi phân bổ các cơ hội cho đầu tư của mình. Ví dụ, ngân hàng Trung ương muốn cấm đoán loại hình dịch vụ của một ngân hàng thì phải đưa ra được lý do và chứng minh có tác động bất ổn đến tài chính, ảnh hưởng đến an ninh tiền tệ của nước đó thì mới được bãi bỏ.
Ở một nước cộng sản như Việt Nam, thì yêu cầu minh bạch các chính sách là chuyện gần như không tưởng. Tuy nhiên trước những món nợ công khổng lồ, vì túi tiền riêng của phe nhóm, người ta tin rằng giữa lựa chọn cho sống còn, nhà cầm quyền sẽ chọn con đường từ bỏ chủ nghĩa xã hội không tưởng đã đeo đuổi suốt 86 năm qua.
T6, 02/12/2016 - 13:42
Vũ Minh Ngọc / SBTN