Showing posts with label KyUc-40Nam. Show all posts
Showing posts with label KyUc-40Nam. Show all posts

Saturday, May 2, 2015

''Người chết ở biển'' : Hồi ức mong manh về thuyền nhân Việt Nam

Theo RFI-Trọng Thành
Ngày 02-05-2015 23:04

media
Một con thuyền chở người tỵ nạn Việt Nam. (DR)

Ám ảnh khó giãi bày về người thân qua đời trong những cảnh ngộ bất hạnh là tâm trạng thường trực của rất nhiều người gốc Việt thuộc thế hệ trước 1975. Tuần san Le Nouvel Observateur dịp 30/04 năm nay có một bài viết đặc biệt về chủ đề này, mang tựa đề « Người-chết-ở-biển ». Ký ức về một người chú từng chiến đấu trong quân đội miền Nam, cuộc đối thoại với một người thân khác từng là bộ đội miền Bắc, cho thấy nhiều người Việt trong cùng một gia đình vẫn  vô cùng xa cách, cho dù bốn thập niên đã trôi qua kể từ khi đất nước thống nhất.

Trong khi thực hiện một đề tài về những người tỵ nạn Phi Châu bị chìm tàu tại Lampedusa, người phóng viên gốc Việt Doan Bui (có thể là Doãn Bùi) bất ngờ nhận được những thông tin và hình ảnh một người chú họ mất tích trên đường vượt biển, trốn khỏi Việt Nam, cách nay hơn 30 năm. Hình ảnh người chú họ 12 tuổi « với gương mặt tròn trĩnh, cặp mắt mở to, như muốn nói “hãy nhớ đến tôi’’ ! » không ngừng ám ảnh người phóng viên.

Bác sĩ trẻ Bùi Thế Cầu, thuộc thế hệ gốc Bắc di cư 1954, từng phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng hòa. Chiến tranh kết thúc, như cả triệu người Việt có liên quan đến chế độ cũ, ông bị đưa vào trại cải tạo. Sau hai năm đày ải, viễn ảnh tương lai khép kín, với lý lịch bị ghi phục vụ trong quân đội miền Nam, người thanh niên Bùi Thế Cầu quyết định vượt biên. Lần thứ nhất không thành công, bị bắt và bị bỏ tù hai năm. Trong cuộc ra đi thứ hai năm 1982, ông đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng biển.

Không còn ai nhớ về ông, ngoại trừ một người em gái. Trở lại với số phận bi thảm của ông Bùi Thế Cầu cũng là dịp để bà nhớ đến thảm kịch trên đường vượt biển của rất nhiều người Việt phải bỏ nước ra đi, vì bị chặn hết đường sống tại quê hương.

« Vận rủi với sông nước »

Trở lại Việt Nam tháng 12/2014, về Langset (Làng Sét), một làng có nhiều người họ Bùi, ven Hà Nội, phóng viên Doan Bui gặp lại một người chú từng ngồi trên một chiếc xe tăng tiến vào dinh Độc lập ngày 30/04/1975, một người chưa bao giờ rời Việt Nam. Người chú tên V. có lưu giữ một cây phả hệ, trong đó về ông Bùi Thế Cầu, chỉ có một dòng duy nhất : « 1975, chết ở biển ». Về cái chết của người anh em họ, ông V. tâm sự : các bậc già cả thường nói dòng họ ông có vận rủi với sông nước, và khuyên lớp trẻ « không nên liều lĩnh bơi lội ». Một thông tin về người chú, mà người cháu phóng viên nhận được, cho thấy bơi là môn thể thao ưa thích của ông.

Le Nouvel Observateur nhắc lại, 20 năm sau khi lực lượng cộng sản miền Bắc chiếm Sài Gòn, khoảng 1,4 triệu người Việt đã chạy khỏi Việt Nam, 200.000 người mất mạng trên biển, theo số liệu của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc. Bài viết kết thúc với nhận xét, hiện nay rất nhiều người vẫn tiếp tục rời khỏi Việt Nam đi tỵ nạn, nhưng các « thuyền nhân » (boatpeople) Việt Nam giờ đây không còn được chú ý, như trước năm 1990, khi vẫn còn tồn tại Liên Xô và khối cộng sản.

Thursday, April 30, 2015

Tình người, lòng tri ân – ký ức còn lại sau 36 năm vượt biên

WESTMINSTER, California (NV) – “Tình người trong cơn tuyệt vọng, sự can đảm của các thuyền nhân, nhất là những người phụ nữ, và lòng tri ân những người đã cứu chúng tôi, như ông Ted Schweitzer, là những gì tôi muốn lưu giữ.”

Câu trả lời đó của ông Hoàng Huy Thành, hiện là giám đốc Công ty tư vấn về software Northwest EIS-OLAP ở Oregon, khiến tôi ngạc nhiên.

Bởi lẽ, khi đặt câu hỏi, “Giờ đây, trong thời khắc này, hồi tưởng lại hành trình tìm tự do đầy khốc liệt của mình từ 36 năm trước, điều anh còn lưu giữ trong ký ức là gì?”, tôi cứ ngỡ mình sẽ nghe được hồi ức đau thương, tàn khốc nhất của những phận người tưởng chừng đã rơi vào tận cùng của tuyệt vọng sau 11 ngày lênh đênh trên biển và 20 ngày kinh hoàng trên đảo Kra, trong đó có nhà văn Nhật Tiến, tác giả của Thềm Hoang, của Chim Hót Trong Lồng… từng làm say sưa biết bao trái tim độc giả.

Và, đặc biệt hơn, câu chuyện đi tìm lại vị ân nhân Ted Schweitzer của ông Thành sau hơn 35 năm, để ngỡ ngàng khám phá ra ông cùng 156 thuyền nhân khác đã được giải thoát như thế nào trong thời điểm ấy càng vẽ lên những nét đậm nhất, lãng mạn nhất, đẹp đẽ nhất về lòng người, tình người dù trong hoàn cảnh nào.


Từ trái: Nhà văn Nhật Tiến, ông Hoàng Huy Thành (phải) cùng con trai và vợ của ông Ted Schweitzer - Max Schweitzer và bà Hằng Lê. (Hình: Hoàng Huy Thành cung cấp)

Ngược dòng quá khứ

Ông Thành, đang sống tại Portland, Oregon, rời Việt Nam vào ngày 19 Tháng Mười, 1979 từ Vũng Tàu, cùng 80 người khác, “thuộc giới văn nghệ sĩ, giới khoa học kỹ thuật, cả thầy tu, ni cô, các sĩ quan đào thoát khỏi trại cải tạo của Cộng sản, nhưng đông nhất là giới sinh viên.”

Nhà văn Nhật Tiến, hiện ở Quận Cam, người có mặt cùng chuyến hải hành đó, nhớ lại: “Mới ra khơi được một ngày thì biển động dữ dội. Sang ngày thứ ba thì thuyền chết máy, đành phó mặc cho sóng gió đưa đi. Tám ngày lênh đênh trôi giạt, thiếu ăn thiếu uống trầm trọng. 7, 8 con tàu đi qua nhưng không một tàu nào quan tâm tới dấu hiệu báo nguy của chúng tôi. Cho tới ngày thứ 10 của cuộc hành trình thì chúng tôi gặp một tàu đánh cá, khi đó chúng tôi mới biết là mình đã trôi giạt vào vịnh Thái Lan.”

Trong bài “Hành trình đi tìm tự do bằng tàu thuyền qua ngã Thái Lan”, nhà văn Nhật Tiến có ghi nhận: “Chiếc tàu đầu tiên này sau khi lục soát tịch thu tất cả đồ nữ trang, đồng hồ và một số quần áo mà họ ưng ý, đã cho mượn bình điện để nổ máy và chỉ tọa độ cho chúng tôi đi vào đất liền. Sau đó, lại gặp thêm hai chiếc tàu đánh cá Thái Lan khác cũng lục soát, và một chiếc tàu dòng giây qua thuyền của chúng tôi để kéo vào hoang đảo Kra nơi cách địa phận quận Pakpanang thuộc tỉnh Nakornsri thamaraj chừng 5, 6 giờ tàu chạy.”

Cơn sợ hãi vì đắm thuyền giữa biển cả kéo dài từng giờ, từng phút triền miên trong 11 ngày đêm liên tiếp của 81 con người trên chiếc thuyền mỏng manh của ông Thành, của nhà văn Nhật Tiến kể như đã chấm dứt.

Tuy nhiên, sau hai ngày trên đảo hoang, những người này phát hiện ra dấu tích của nhiều nhóm người vượt biên Việt Nam trước đó từng đặt chân đến hòn đảo này. Những dòng chữ được ghi lại sơn trắng, bằng dấu than củi đã phai lạt trên bốn bức tường vôi của một căn chòi cho biết “phụ nữ khi lên đảo phải tìm cách trốn lên núi cao hay rừng sâu để khỏi bị hãm hiếp.” Đồng thời cũng qua những dòng chữ được viết vội đó, mọi người còn được biết “ngư phủ Thái Lan quanh vùng vừa là đánh cá vừa là cướp biển, ban ngày họ có thể cho gạo cho cá, nhưng ban đêm thì kéo phụ nữ đi hành hạ tập thể.”

Và từ đêm ấy, những gì khủng khiếp nhất bắt đầu xảy ra cho những phận người liều chết đi tìm tự do.

Ảnh ông Ted Schweitzer chụp các thuyền nhân đảo Kra từ trên trực thăng. Người đầu tiên trong ảnh, tay cầm bao vải là nhà văn Nhật Tiến. (Hình: Hoàng Huy Thành cung cấp)

“Tối hôm ấy chúng tôi bị ba toán cướp vào lục soát liên tục. Riêng toán cuối cùng sau khi moi móc đã dồn tất cả đàn ông, thanh niên vào hết trong hang đá rồi canh giữ bằng súng ở bên ngoài. Sau đó bọn chúng lùa đàn bà đi một chỗ xa để hãm hiếp…. Cơn kinh hoàng tột độ đó kéo dài tới gần sáng mới chấm dứt. Những phụ nữ được kéo trở về nằm bết bát trên nền sỏi đá san hô. Nhiều người tấm tức khóc. Nhiều người lả đi trong vòng tay nghẹn ngào tủi nhục của thân nhân.” Tác giả “Chim Hót Trong Lồng” kể.

Ông Thành vẫn nhớ “Trong số những phụ nữ trở về thiếu một người. Chúng tôi phải cùng nhau đốt đuốc đi tìm. Sau mới phát hiện ra cô gái đó trong lúc bị bọn cướp lôi đi đã vùng chạy lên bờ đá cao ở ven biển rồi lao mình xuống nước tự tử. Nhưng cô không chết mà bị sóng đẩy dạt vào bờ, kẹt vào một hốc đá. Cô gái ấy đã nhất định không chịu ra khỏi hốc đá ấy cho đến ngày có người đến cứu chúng tôi.”
“Hãy thử tưởng tượng một phụ nữ sống như vậy, trong hốc đá ẩm ướt đó 18 ngày. Lúc kéo được cô ấy ra, hai chân cổ như teo đi, không bước được. Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh ông Ted Schweitzer đã cắn môi ổng đến bật máu khi chứng kiến cảnh đó.” Ông Thành hồi tưởng trong nỗi xúc động lẫn sự cảm kích đến vô cùng về sức chịu đựng của người phụ nữ.

Ngày 8 Tháng 11, tức khoảng 10 ngày sau khi thuyền ông Thành bị đưa vào đảo Kra, thêm một tàu tị nạn có 20 người được ngư phủ Thái Lan kéo vào. Qua ngày hôm sau, thêm một tàu có 37 người nữa lên đảo. Tới ngày 15 Tháng 11, một chiếc tàu vượt biên có 34 người nhưng bị hải tặc Thái Lan xô xuống biển làm chết đuối 16 người, còn lại 18 người bơi được vào nơi đây.

“Nhưng chưa kịp nghỉ ngơi, phụ nữ đã bị lôi đi hành hạ ngay.” Nhà văn viết lại bằng nỗi bàng hoàng, đau xót.

Ông Thành nói, “Tôi nhớ có một người phụ nữ trốn trong bụi rậm, bị bọn hải tặc phát hiện. Chúng kêu cô ấy ra, cổ nhất định không ra. Chúng tưới dầu đốt. Cổ lăn dưới đất, tấm lưng bị phỏng hết.”

“Cũng trong ngày 15 Tháng 11, chúng tôi phát hiện một trực thăng bay qua đảo, mọi người xô ra vẫy nhưng họ bay mất. Tình thế tưởng như không còn hy vọng gì thì hai hôm sau họ trở lại, đổ xuống bãi biển cho chúng tôi gạo, cá khô và thuốc men.” Dịch giả của “Thân Phận Dư Thừa” tiếp tục câu chuyện.

“Việc chúng tôi được tiếp tế, các ngư phủ Thái Lan đều nhìn thấy rõ. Họ lục lọi để kiếm chác thêm ít quần áo đã xơ xác của chúng tôi, lấy đi từng cái áo mưa rách, từng cái áo len của trẻ con, và phụ nữ nào mệt mỏi quá không đủ sức đi trốn nữa phải bò về thì lại bị tiếp tục hãm hiếp. Có người bị cả ngày lẫn đêm.”

Tuy nhiên, ông Trời cũng có mắt, không đày con người ta vào tận cùng của nghiệt ngã.

Địa ngục kinh hoàng đó chỉ kéo dài thêm đúng một ngày nữa là chấm dứt.

Chiều ngày 18 Tháng 11 nhóm người tiếp tế bằng trực thăng hôm trước nay trở lại bằng một tàu tuần của Hải quân.

Nhà văn Nhật Tiến cho biết, “Đó là Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) ở Thái Lan do ông Theodore G. Schweitzer III (tên đầy đủ của Ted Schweitzer) là đại diện. Chính ông Theodore Schweitzer đã chứng kiến cái cảnh chúng tôi lôi từng phụ nữ từ khe đá lên mặt đất. Ai nấy nhìn thấy ánh sáng mặt trời đều ngất xỉu đến nỗi chính ông cũng phải xúc động quay đi không dám nhìn. Trước tình cảnh cùng cực của chúng tôi, ông Schweitzer đã an ủi, khích lệ chúng tôi rất nhiều, ông tuyên bố mọi sự hãi hùng từ nay sẽ chấm dứt.”

Tổng số 157 người của 4 tàu tị nạn được cứu khỏi đảo Kra ngày 18 Tháng 11, 1979. Chấm dứt những ngày đen tối nhất của hành trình tìm đến tự do của những người như ông Thành, như nhà văn Nhật Tiến.


Đi tìm ân nhân

Sau hơn 8 tháng ở trại tị nạn Songkhla, Thái Lan, ông Thành đến Mỹ vào Tháng Bảy, 1980 và bắt đầu làm lại cuộc đời, tạm quên đi những biến cố đau thương đã xảy ra, quên đi cả những người đã từng cứu mình thoát khỏi hòn đảo ma quỷ, ngoài việc nhớ tên người đại diện cho UNHCR ở Thái Lan là Ted Schweitzer.

“Cho đến khi trung tâm Thúy Nga lên kế hoạch tổ chức chương trình Tôi Là Người Việt Nam 2 nhân tưởng niệm 40 năm biến cố 30 Tháng Tư, trong đó muốn vinh danh những người đã từng cứu thuyền nhân Việt Nam. Tôi nhớ đến ông Ted Schweitzer và nhận lời sẽ đi tìm tung tích của ông, dù hơn 35 năm qua tôi chưa một lần liên lạc, cũng không biết giờ ông đang làm gì, còn hay mất.” Ông Thành cho biết lý do ông muốn tìm về vị ân nhân xưa.

Cựu viên chức Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan, ông Theodore G. Schweitzer III. (Hình: Hoàng Huy Thành cung cấp)

Ông Thành kể, sau hai ngày tìm kiếm trên Internet, ông tình cờ thấy có quyển sách tựa đề “The Forgotten Pirate Hunter: Câu chuyện thật về Ted Schweitzer, người quản thủ thư viện đeo đuổi mục tiêu giải thoát người tị nạn Việt Nam,” viết bởi tác giả Reagan Martin do nhà xuất bản CreateSpace Independent Publishing platform phát hành năm 2013, có nhắc đến tên Ted Schweitzer.

“Khi tôi đọc trang đầu tiên của cuốn sách này, tôi đã thấy cả người mình như có luồng điện chạy qua, bởi, tôi thấy tôi ở trên hòn đảo đó, Tháng 11 năm 1979. Và tôi chợt hiểu thì ra bốn tấm ảnh mà ông Ted tặng tôi lúc ông ghé thăm chúng tôi ở trại tị nạn Songkhla từ đâu mà ra. Tôi đã giữ những bức ảnh đó để làm kỷ niệm suốt hơn 35 năm qua và thật không bao giờ có thể ngờ được là giờ đây mình đang được đọc xuất xứ của chúng, qua một quyển sách.” Ông Thành, thuyền nhân 20 tuổi ngày nào, nói trong sự vui mừng lẫn xúc động.

Quả thật, ngay trong lời giới thiệu của quyển “The Forgotten Pirate Hunter”, tác giả đã kể lại: ngày 16 Tháng 11, 1979, viên phi công lái trực thăng của một hãng dầu đã bay ngang qua đảo Kra trên đường trở về nhà. Từ trên máy bay nhìn xuống, người phi công thấy thấp thoáng hàng trăm con người mà không có chiếc tàu nào. Ngay lập tức ông hiểu chuyện gì xảy ra, bởi lẽ ông từng nghe nói đây là nơi bọn hải tặc Thái Lan giam cầm những người Việt Nam vượt biên.

Nghĩ rằng cần phải thông báo cho một ai đó biết tin này, nhưng báo cho nhà cầm quyền Thái Lan thì thật là vô ích, vì họ chẳng quan tâm chuyện gì đã xảy ra cho những con người này. Nghĩ vậy nên viên phi công gọi báo cho UNHCR ở Thái Lan hay những gì ông nhìn thấy.

Một người đàn ông phía đầu dây bên kia đề nghị người phi công đưa ông ta đến nơi hòn đảo ấy. Viên phi công thoạt đầu miễn cưỡng, không muốn dính líu vào, nhưng sau đó, cũng đồng ý.

Hai ngày sau, người đại diện của UNHCR cùng viên phi công bay trở lại đảo Kra. Từ trên máy bay nhìn xuống, người đại diện này cảm thấy lòng mình quặn đau. Ông không chỉ thấy những chiếc tàu của bọn hải tặc, mà còn thấy cả những xác người trôi trên biển. Từ trên máy bay, ông chụp lại những gì mình trông thấy (những tấm ảnh ông Thành có được chính là ảnh chụp từ đây - NV). Không thể thuyết phục người phi công đáp xuống đảo lúc ấy, vị đại diện của UNHCR chỉ biết rằng mình sẽ phải trở lại, bằng cách nào đó.

Viên chức đại diện cho UNHCR Thái Lan đó chính là Theodore Schweitzer, người mới nhận công việc này chưa bao lâu.

Ngay lập tức, ông Ted Schweitzer buộc Cảnh sát tuần duyên Thái Lan phải đưa ông trở lại đảo Kra. Và ông đã cứu được 157 thuyền nhân Việt Nam có mặt trên đảo lúc đó, như nhà văn Nhật Tiến kể trên.

Bàng hoàng lẫn xúc động khi thấy tên nhà văn Nhật Tiến cùng chuyện vượt biên của nhóm thuyền nhân ở trên đảo Kra ngày nào được nhắc đến, ông Thành đã thức suốt đêm để đọc cho hết quyển sách.

Ông kể, “Sáng hôm sau, tôi email cho nhà xuất bản để hỏi thăm tung tích của ông Ted, nhân vật được nhắc đến trong quyển The Forgotten Pirate Hunter. Ba ngày sau câu trả lời từ nhà xuất bản là họ cũng không biết ông ấy đang ở đâu. Họ đề nghị tôi nên tìm ở ‘public record.’”

Bằng cách này, ông Thành có được địa chỉ và số điện thoại của rất nhiều người cùng tên Ted Schweitzer. Tuy nhiên, mọi liên lạc cho biết đó không phải là ông Ted mà ông Thành muốn tìm.

“Trong lúc tưởng chừng tuyệt vọng, thì tôi tìm được một website chuyên tìm kiếm người. Tôi trả tiền và họ đưa một số email để tôi thử liên lạc. Hơn một tiếng đồng hồ gửi email đi trong tâm trạng không mấy hy vọng thì tôi nghe tiếng điện thoại reng. Linh tính cho tôi biết đó là Ted Schweitzer. Tôi bắt phone, người phía đầu dây bên kia nói anh ta là con trai của Ted Schweitzer, tên Max Schweitzer, và xác nhận cha anh ta chính là người mà tôi đang muốn tìm.” Ông Thành kể lại với đầy niềm vui của người hoàn thành sứ mạng được giao, dù không được nói chuyện trực tiếp với ông Ted Schweitzer do ông đang có nhiệm vụ ngoài nước Mỹ, mà đều qua trung gian con trai ông.

Nhà văn Nhật Tiến ngồi viết lại thảm trạng vượt biên qua ngã Thái Lan sau 5 này được cứu thoát khỏi đảo Kra. (Hình: Hoàng Huy Thành cung cấp)

Cũng từ những trang sách này, người ta còn biết thêm rằng, sau nhóm thuyền nhân đầu tiên mà ông Ted Schweitzer cứu, trong đó có ông Thành và nhà văn Nhật Tiến, ông còn một mình quay trở lại đảo Kra nhiều lần, tự bỏ tiền túi mướn tàu đánh cá chở ông vào đảo vì cảnh sát Thái Lan không muốn giúp đỡ ông. Ông cũng bị hải tặc Thái Lan đánh hội đồng dã man đến bất tỉnh, gãy xương, chảy máu thận và sau khi bị chính phủ Thái trục xuất về Mỹ ông vẫn phải tiếp tục điều trị những thương tích này.

“Tôi nghĩ nếu chính phủ Thái không trục xuất ông thì có lẽ ông sẽ không còn sống đến ngày hôm nay, vì với lòng thương yêu thuyền nhân vô bờ bến, chắc chắn ông sẽ còn tiếp tục một mình đi ra đảo Kra để tiếp cứu thêm rất nhiều thuyền nhân Việt Nam và như thế khó mà bảo toàn tánh mạng với bọn hải tặc.” Ông Thành nhận xét.

Cũng trong “The Forgotten Pirate Hunter”, người ta ước tính rằng ông Ted Schweitzer đã quay trở lại đảo Kra trên 20 lần và một mình ông đã cứu được ít nhất là trên 1,200 thuyền nhân Việt Nam. Năm 1981, UNHCR được trao giải Nobel Hòa Bình, một phần do công lao của Ted Schweitzer. Khi nhận được giải thưởng cao quý nầy, các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Quốc đã gởi tặng ông một tấm sao của huy chương Nobel để tỏ lòng biết ơn về những sự hy sinh của ông trong công tác cứu vớt thuyền nhân Việt Nam.

Cũng theo ông Thành, trong lúc đi tìm kiếm lại vị ân nhân xưa, ông được biết một nhà sản xuất phim đang dự định làm phim về cuộc đời và những công việc mà ông Ted Schweitzer từng làm, từ một quản thủ thư viện ở một trường học tại Thái Lan, một người từng được gửi sang Cambodia trước khi chính quyền rơi vào tay Khmer Đỏ để làm nhiệm vụ thu nhặt lại những tài liệu, những thiết bị đã bị phá hủy của quân đội Hoa Kỳ trong thời chiến tranh Việt Nam, và đặc biệt là người có vai trò nhất định trong việc đưa đến sự ban giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam vào năm 1995.

Tình người trong cơn tuyệt vọng

Ngoài sự can đảm của các thuyền nhân, nhất là những người phụ nữ, và lòng tri ân những người như ông Ted Schweizer, thì tình người là điều được cả nhà văn Nhật Tiến và ông Thành nâng niu trong ký ức suốt mấy mươi năm qua.

“Tình người. Tôi thấy thấm thía hơn về chữ nhường cơm xẻ áo, nhất là trong tình trạng tuyệt vọng như thế, thì đó không phải ai cũng có thể làm được.” Ông Thành nói về điều mình còn lưu giữ về chuyến vượt biên từ hơn 35 năm trước.

Tác giả Nhật Tiến kể, ngày mới lên đảo Kra ông còn mặc một chiếc áo len dầy để có thể chịu qua được những đêm mưa lạnh hay ngủ ngoài trời. Tuy nhiên, chiếc áo đó đã bị một tên hải tặc lột đi.

“Những ngày sau đó, tôi lạnh run những lúc đêm về, nhưng may mắn sao, vào một lần đi quanh đảo, tôi bắt gặp cái áo nỉ cộc tay của ai đó vứt ngay trên bờ cỏ. Tôi đã lượm lên và mặc nó suốt những ngày còn lại trên đảo và cả hàng tháng trời sau khi nhập trại Songkhla.”

Cho tới khi nhận được tiền tiếp tế của thân nhân, ông mua được cái áo ấm khác để thay. Đến khi đó mới có một người phụ nữ đi cùng ghe với ông đến xin lại chiếc áo làm kỷ niệm. Bởi: “Bà cho biết cái áo nỉ ấy là của bà, bị hải tặc lấy đi, nhưng sau chắc mặc không vừa nó vứt đi và vì thế tôi lượm được. Những ngày sống trên đảo, chủ nhân của cái áo ấy đã nhìn thấy tôi mặc, nhưng thấy tôi ốm yếu, trời lại lạnh, nên bà lẳng lặng nhường cho tôi mặc. Nay mọi sự đã ổn định, bà xin lại chiếc áo để giữ làm kỷ niệm.”

“Tôi đã ứa nước mắt trả lại cho bà, và những ngày sau, tôi vẫn còn khóc được mỗi khi nghĩ đến tấm lòng nhường nhịn chia sẻ của bà, đã dành cho tôi ở trong cái hoàn cảnh mà ai nấy đều đói, lạnh và yếu đau hết. Tình người quả là thứ quý giá biết bao và không một thứ vật chất nào có thể so sánh được.” Nhà văn của “Thềm Hoang” nhớ lại.

Với ông Thành thì “Có một hình ảnh mà tôi không thể nào không nhắc tới, đó là khi được ông Ted Schweitzer đến cứu, mọi người đều muốn nhanh chân chạy xuống tàu. Vậy mà chú Tiến (nhà văn Nhật Tiến – NV) lại quành trở lại vừa đi vừa tìm những cục than rồi leo lên căn chòi nơi chứa những bình gaz để thắp sáng cho ngọn hải đăng duy nhất trên đỉnh núi để ghi lại chỉ chỗ gạo giấu ở đâu, lấy nước ở chỗ nào.”

“Nghĩa cử đó, trong hoàn cảnh đó, nói lên được rất nhiều điều về nhân cách của một con người.” Ông Thành nhận xét.

Gần bốn thập niên trôi qua, nếu mãi hoài niệm về nỗi đau thì sẽ thấy “dân tộc này sao quá nhiều đắng cay”. Nhưng bước qua nỗi đau, cất lại tất cả oan khiên cay nghiệt nhất của đời người vào ngăn tủ của ký ức, để chỉ nâng niu, trân quý và nhớ đến những điều cao cả nhất về tình người, sự quả cảm và lòng biết ơn là điều trái tim con người mong hướng tới. Và nhiều người đã bước tới.

04-29-2015 6:01:40 PM
Ngọc Lan/Người Việt

40 năm sau, cuộc chiến vẫn như mới hôm qua

WESTMINSTER, Calif (NV) - 30 Tháng Tư năm nay, 40 năm sau ngày Sài Gòn thất thủ, không riêng cộng đồng người Việt hải ngoại với những sinh hoạt tưởng niệm, cả báo chí Hoa Kỳ, từ địa phương đến quốc tế, cũng rộn ràng với những bài viết, cuốn sách, phim, ảnh, như thể cuộc chiến chỉ mới vừa chấm dứt hôm qua.

Tờ The Guardian có loạt bài: “Forty years on from the fall of Saigon: witnessing the end of the Vietnam war” của Martin Woollacott, rồi “Vietnam 40 years on: how a communist victory gave way to capitalist corruption” của Nick Davies.


Nhân dịp kỷ niệm 30 năm 30 Tháng Tư, năm 2005, dân Mỹ đứng tìm tên của thân nhân trên bức tường đá đen, nơi ghi tên của 58,000 binh sĩ Hoa Kỳ hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam. (Hình: Spencer Platt/Getty Images)


Trang mạng Foreign Correspondents' Hong Kong có bài: “Last days... 40 years on” của Jim Laurie. Tờ Harvard Gazette, báo của Harvard University có bài: “Vietnam, the ongoing memory” của Corydon Ireland, và đặc biệt trang ý kiến của tờ New York Times thu hút độc giả với “Our Vietnam War Never Ended” của Giáo Sư Viet Thanh Nguyen.

Chưa hết, “The fall of Saigon: How Vietnam ended up in the US orbit” của Andrew Lam, được đăng trên tờ Aljazeera, ấn bản Mỹ. Tờ USA Today có bài “40 years after the fall, Saigon's flag still at issue” của William Welch. Ðài NPR có bài “40 Years After The Vietnam War, Families Still Search For Answers” của Susan Murphy.

Trang mạng On Point có chương trình “How the Vietnam War Resonates 40 years after the Fall of Saigon“của Tom Ashbrook, thu hút nhiều thính giả gọi vào. The Boston Globe có bài “The unlearned lessons of Vietnam“của David Greenway.

Ngay tại Quận Cam, tờ Orange County Register nhân dịp này cho chào đời một trang có tên Little Saigon, dành cho tin tức và bài vở liên quan đến đời sống của cộng đồng người Việt trong vùng, với nhiều bài vở về 30 Tháng Tư.

Danh sách những bài báo làm người đọc chóng mặt. Nhưng ngoài vài ví dụ tiêu biểu của một danh sách rất dài, còn có phim như “Last Days in Vietnam” và “Ride the Thunder,” cả hai đều là phim tài liệu về cuộc chiến Việt Nam.

Ðiều gì đã khiến 30 Tháng Tư năm nay thu hút sự chú ý của nhiều người dân Hoa Kỳ hơn trước? Có phải con người phải cần đến 40 năm mới đủ bình thản để nhìn lại quá khứ bằng con mắt khách quan, chiêm nghiệm, hay tình hình thời sự khiến Hoa Kỳ có nhu cầu “ôn cố tri tân?”

Câu trả lời còn tùy theo quan điểm từng người. Thế nhưng, ngay cả người muốn quá khứ ngủ yên cũng không thể không nhắc đến dịp tưởng niệm đặc biệt này.

Nhà ngoại giao kỳ cựu kiêm bình luận gia David Brown, dù tâm sự với báo Người Việt rằng “quá khứ là quá khứ, hãy nhìn vào tương lai,” cũng không nghe được lời khuyên của chính mình, khi ông ngậm ngùi viết trên trang Facebook: “Tôi đã không đóng góp gì vào những loạt bài hồi tưởng về kết cục của cuộc chiến Việt Nam cách đây 40 năm, dù tôi ở đó trong những ngày cuối,” và khuyên mọi người nên dành thời gian xem phim “Last Days in Vietnam.”

Về phim ảnh ra đời đúng dịp kỷ niệm 40 năm 30 Tháng Tư, rầm rộ nhất phải nói đến “Last Days in Vietnam,” cuốn phim tài liệu của đạo diễn Rory Kennedy, với mục đích ghi lại “những câu chuyện rất cảm động, đầy tình người mà rất ít ai biết đến, và cần phải được ghi lại,” như bà từng tâm sự với báo Người Việt.

Phim “Last Days in Vietnam” được trình chiếu tại các rạp hát vào cuối Tháng Chín, 2014, và hiện đang được PBS chiếu tại các đài truyền hình địa phương trên khắp Hoa Kỳ.

Theo chân “Last Days in Vietnam” là “Ride the Thunder,” một cuốn phim tài liệu khác, được trình chiếu trong Tháng Ba năm nay. “Ride the Thunder” được dựng theo cuốn sách cùng tên, “Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Honor and Triumph,” tạm dịch “Cưỡi Ngọn Sấm: Câu chuyện về danh dự và vinh quang trong cuộc chiến Việt Nam.”

Nhưng nếu “Last Days in Vietnam” ghi lại tình người trong những ngày cuối cuộc chiến, qua đó những người Mỹ, bất nhẫn trước sự bỏ rơi đồng minh của chính phủ mình, tìm cách giúp những người bạn Việt Nam của họ ra đi, lánh nạn, thì “Ride the Thunder” được dựng lên với một mục đích khác, nói theo lời đạo diễn Richard Botkin, là để trả lại sự thật. Sự thật này là sự anh dũng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và sự tàn ác của bên thắng cuộc tại những trại tù cải tạo.

Dịp tưởng niệm 40 năm 30 Tháng Tư không chỉ thu hút giới làm phim. Trở lại với những bài báo, trừ những bài kể lại sự kiện trong khoảng thời gian gần ngày 30 Tháng Tư, 1975, số còn là những nhận định cần lưu ý.

Trong bài “Vietnam, the ongoing memory” được đăng trên tờ Harvard Gazette, tờ báo của Harvard University, tác giả Corydon Ireland viết về quan tâm của dân Mỹ về cuộc chiến nổi tiếng này: “Ký ức và miêu tả về cuộc chiến Việt Nam hiện diện dưới nhiều hình thức với nhiều nhận định khác nhau, nhiều đến ngạc nhiên, và các tài liệu lưu trữ thì quả là quá phong phú. Sự bất đồng ý kiến về đề tài này cũng tạo ra những cuộc tranh cãi, nhiều khi rất gay gắt nhưng cũng thật tuyệt vời. Và thật ngạc nhiên là phim về Việt Nam, sách về Việt Nam, về cuộc chiến Việt Nam, và về thuyền nhân Việt Nam, sau 40 năm, vẫn tiếp tục xuất hiện.”

Tác giả Peter Davis, trong bài “40 Years On, the Taste of Defeat in Vietnam Has Only Become More Rancid,” đăng trên tờ The Nation, cho rằng hiển nhiên có lý do tại sao ký ức của Hoa Kỳ cho đến bây giờ vẫn bị chiến tranh Việt Nam gây nhiều trăn trở.

Ông viết: “30 Tháng Tư, 1975, với Hoa Kỳ sẽ mãi mãi là một kinh nghiệm cá biệt. Ðó là lần đầu tiên, trong lịch sử 200 năm dựng nước, Hoa Kỳ nếm được thế nào là mùi vị của thất bại. Mùi vị thất bại đương nhiên là phải chát rồi, nhưng đây không phải là một loại vị chát của thứ rượu ngon, để càng lâu càng dịu miệng, mà ngược lại, phải nói là càng già càng gắt, thậm chí càng trở nên đắng ngắt.”

Ông giải thích: “Việc bị đánh bại ở Việt Nam không gây nhiều ảnh hưởng đến vị thế quốc tế của chúng ta, nhưng nó đã thay đổi cách chúng ta cảm nhận về bản thân mình. Giới tự do (liberal) thì cho rằng cuộc chiến Việt Nam là một sai lầm; với giới cấp tiến, đó là một tội ác; người bảo thủ thì cho rằng chiến tranh chỉ sai lầm vì Hoa Kỳ không nhất quyết giành lấy chiến thắng, giới cực hữu lại cho rằng cuộc chiến chỉ là tội ác vì (Mỹ) đã không chiến thắng.”

Trong khi đó, bài viết “America Officially Lost the Vietnam War 40 Years Ago This Week” của tác giả Christian Appy, đăng trên MotherJones.com, nhận định: “Tuần này, chúng ta đánh dấu kỷ niệm 40 năm sau những ngày cuối cùng của cuộc chiến có tên là chiến tranh Việt Nam. Một lần nữa chắc chắn chúng ta sẽ nhức nhối trước hình ảnh những khuôn mặt hãi hùng của người tị nạn, những nỗ lực di tản tuyệt vọng, và cuối cùng là thất bại lớn của Hoa Kỳ. Nhưng ngay cả những câu chuyện ảm đạm tạo cơ hội cho bất cứ ai muốn chiêm nghiệm về cuộc chiến tranh thảm khốc mà chúng ta đã dính dáng vào.”

Ông viết thêm: “Tách bối cảnh lịch sử ra khỏi cuộc chiến và bạn có thể tô điểm bất cứ sứ mệnh nào như là một sứ mệnh dù khiếm khuyết nhưng được thi hành trong danh dự, một nỗ lực cứu giúp người vô tội thoát khỏi các lực lượng điên cuồng xâm lược. Trong trường hợp Việt Nam, tất nhiên, việc cứu giúp quá khiếm khuyết, cộng với sự thất bại quá hoàn toàn, khiến nhiều người Mỹ kết luận rằng đất nước của họ đã “bỏ rơi” lý tưởng và “phản bội” đồng minh.”

Tác giả David Greenway, trong bài “The unlearned lessons of Vietnam” đăng trên The Boston Globe, viết: “Nhiều người liên tưởng kết cục thảm hại tại Việt Nam với biện pháp can thiệp quân sự gần đây của chúng ta (Hoa Kỳ) tại Iraq và Afghanistan. Mười năm trước, tôi đến Baghdad để gặp Tướng Martin Dempsey tại Baghdad, lúc đó ông phụ trách chương trình huấn luyện cho quân đội Iraq. Ông và người phụ tá nói với tôi rằng đào tạo một đội quân chiến đấu là điều khá dễ dàng, nhưng chỉ có người Iraq mới có thể có động lực chiến đấu. Không chuyên gia tư vấn nước ngoài nào, dù giỏi đến đâu, có thể làm được điều đó.”

Greenway vạch ra: “Những bài học mà chúng ta vẫn chưa học được từ chiến tranh Việt Nam là, trong thời đại hậu thuộc địa, rất khó để duy trì việc can thiệp quân sự và chiếm đóng, cả ở quốc nội lẫn ở nước ngoài. Nếu thực sự cần phải can thiệp, thì cách hay nhất là áp dụng cách của Tổng Thống George HW Bush trong cuộc chiến Vùng Vịnh đầu tiên. Tiến vào nhanh chóng, làm xong việc, rồi rút đi ngay. Chúng ta có thể giúp đỡ, hỗ trợ, và cung cấp vũ khí cho đồng minh, nhưng cuối cùng, thì đó vẫn là cuộc chiến của họ, không phải của chúng ta. Hãy công nhận rằng can thiệp quân sự sẽ mang đến hậu quả ngoài ý muốn, và có thể làm hại nhiều hơn lợi. Phổ biến giá trị của Hoa Kỳ bằng cách làm gương chứ không phải bằng lưỡi lê.”

Tác giả người Mỹ gốc Việt, ông Viet Thanh Nguyen, với bài “Our Vietnam War Never Ended” đăng trong mục ý kiến của tờ New York Times, viết: “Ngày tưởng niệm là dịp cho người ta kể lại những câu chuyện của cuộc chiến, và chuyện di tản của gia đình tôi và những người tị nạn khác cũng là chuyện cuộc chiến. Ðiều này quan trọng, vì thường khi người Mỹ nói đến cuộc chiến Việt Nam, người ta nghĩ đến cuộc chiến xảy ra ở một nơi xa xôi nào đó. Xu hướng tách câu chuyện chiến tranh ra khỏi chuyện di dân có nghĩa là hầu hết người Mỹ không hiểu rằng rất nhiều người nhập cư và người tị nạn tại Hoa Kỳ đã đến đây để chạy trốn chiến tranh - trong đó có nhiều cuộc chiến mà đất nước này đã nhúng tay vào.”

Và:

“Chúng ta có thể tranh luận về nguyên nhân của chiến tranh và đổ lỗi cho phía này phía nọ, nhưng thực tế là chiến tranh bắt đầu, và kết thúc, ở đây (Hoa Kỳ), với sự hỗ trợ bộ máy chiến tranh của người dân Mỹ, và sự xuất hiện của những người tị nạn sợ hãi chạy trốn chiến tranh mà chúng ta đã góp phần gây ra. Kể lại những câu chuyện về chiến tránh, hay tìm hiểu, hay đọc, xem và nghe những câu chuyện gia gia đình như những câu chuyện chiến tranh, là một cách quan trọng để điều trị các rối loạn gây ra bởi kỹ nghệ vũ khí chiến tranh của chúng ta.”
04-29-2015 5:15:07 PM
Hà Giang/Người Việt

Monday, April 27, 2015

Mợ Tôi - Chuyện kể sau 40 năm

Tôn-Thất Long
2015-04-27
tuong-dai-me-viet-nam-600.jpg
 Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng tại tỉnh Quảng Nam. Photo: danangplus.net
Cậu tôi mất sớm, hai đứa con gái con của cậu tôi được gởi lại cho ba má tôi nhận làm con và nuôi từ khi còn thơ dại cho đến lớn, các chị tôi được cho ăn học thành tài rồi sau đó gởi đi du học ở Mỹ, các chị tôi học ra trường và sống luôn ở Mỹ từ khi ra đi cho đến tận bây giờ. Mợ tôi là một người đàn bà giản dị và chân chất, mợ hiền đến nỗi mà má tôi nói cái gì mợ cũng nghe, nhiều khi nhìn lại tụi tôi cứ tưởng má tôi là chị của mợ tôi chứ không phải là chị dâu em chồng.
Sau khi gởi con lại cho má tôi thì mợ tôi buồn nên về quê cũ tập tành đi buôn bán xa tít tận ngoài Quảng và rồi gá nghĩa lại với một người đàn ông khác ngoài đó và lập nghiệp ở đó luôn. Sau khi mợ tôi có mang với người đàn ông đó thì ông ta bắt đầu đi làm ăn xa, cứ vài ba tháng thì ông ấy lại xuất hiện và lấy tiền của mợ tôi đem đi nói là cần vốn làm ăn rồi lại biến mất, không bao giờ thấy ông ấy đem tiền về mà chỉ có lấy tiền đem đi thôi và mợ tôi cũng chẳng bao giờ hỏi ông ấy làm gì và nghề ngỗng hay buôn bán gì.
Cũng vài năm sau đó thì ông ta hoàn toàn biến mất luôn. Cho đến 1975 đến thì có người tìm đến nhà mợ tôi báo là người đàn ông đó đi hoạt động dân vận và làm giao liên cho Cách Mạng, ông ta bị bắn chết khi đang trên đường đi tiếp tế cho bộ đội trong rừng. Thế là mợ tôi có được người ta tặng cho một cái bằng khen gia đình liệt sĩ và con trai của mợ tôi với người đàn ông ấy trở thành con liệt sĩ.
Được chục  năm sau 1975 thì các chị tôi bên Mỹ tìm cách liên lạc và bảo lãnh cho mợ tôi và người con trai đi Mỹ theo diện bảo lãnh mẹ con, mợ tôi viết thư hỏi má tôi là có nên đi Mỹ không vì sợ là gia đình liệt sĩ họ không có cho mợ và con trai đi Mỹ, má tôi nói thì chị cứ giấu đi và đi đi, ở lại cũng khổ quá mà. Nhưng má tôi cũng hỏi lại cho chắc ăn là mợ tôi có muốn đi Mỹ hay không thì mợ tôi nói:
- Tui muốn đi khỏi cái xứ này lâu rồi cô ơi, mang tiếng là gia đình liệt sĩ mà tui không được hưởng cái gì hết.
- Vào các ngày lễ là họ tới nhà tui sớm nhất kêu gọi đóng tiền quyên góp để làm gương cho các gia đình có công với Cách Mạng.
- Còn bổng lộc hay tiền giúp đỡ gia đình liệt sĩ thì họ nói là gởi vào cái quỹ gì đó mà giờ này tui cũng không biết cái quỹ đó là gì nữa.
Mợ còn nói thêm là muốn đứa con trai sau này nó được học hành đàng hoàng chứ suốt ngày nó đi làm sinh hoạt đoàn thể và làm nghĩa vụ gì gì đó chẳng chịu học hành gì cả. Sau vụ nói chuyện đó với má tôi xong thì khoảng hơn năm sau mợ tôi và người con trai có giấy tờ để sang Mỹ đoàn tụ với các chị tôi và gia đình tôi. Từ khi sang Mỹ thì cứ cách vài tháng là mợ tôi lại tiết kiệm và gom đủ tiền để gởi về quê cho bà con làng xóm bên nhà, mợ tôi nói biết vậy tui kêu tụi nó bảo lãnh đi từ Mỹ cho sớm cho rồi, ở cái xứ Mỹ này tui già cả rồi lại không đi làm gì hết mà còn có đủ tiền giúp bà con bên nhà, còn ở cái xứ ta gì mà có đồng khó nào chui vào túi là nó khui đồng đó ra cho bằng hết.
Đã nghèo đói mà nó suốt ngày cứ ra rả kêu gọi đóng góp này và đóng góp nọ. Ngồi nghe mợ tôi kể tội tụi Cách Mạng làm hành làm tỏi với gia đình mợ làm tụi tôi cười và hỏi vậy tại sao hồi xưa mợ lại lấy ổng. Mợ tôi nói "Tao làm sao biết ổng hoạt động Cách Mạng, tao là đàn bà đơn côi đi buôn, ông theo giúp đỡ vì ổng biết tao có tiền có bạc nên ổng đi theo dụ dỗ để lấy tiền đó đi cho Cách Mạng ăn, tao lại không biết mà đi thương ổng chứ nếu tao biết thì tao đã chiêu hồi ổng rồi chứ đâu để ông chết bờ chết bụi giờ không biết tìm xác ở đâu mà làm mộ bia nữa."  Nghe kể xong mà tụi tôi cười muốn té xuống ghế luôn. Nhưng nghĩ lại thì tôi cũng biết là lúc xưa có biết bao nhiêu người đàn bà non dại như mợ tôi được mấy ông Cách Mạng chăm non và chăm sóc tận tình để có tiền nuôi quân Cách Mạng. Tụi tôi còn chọc mợ tôi nói là thời xa xưa thì người ta dùng Mỹ Nhân Kế, thời nay Cách Mạng thì dùng Nam Nhân Kế và mợ tôi đã bị mắc lừa vì kế này.
Mợ tôi giờ đã thành người thiên cổ lâu rồi, nhưng nếu mợ tôi mà còn sống rồi biết họ dựng cái tượng bà mẹ anh hùng ở nơi quê hương của mợ tôi thì chắc thế nào mợ tôi cũng chắc chắc cái lưỡi và lại nói cái câu nói quen thuộc thuở nào "Toàn là một lũ đi dụ dỗ đàn bà con gái rồi sau này bày đặt tưởng nhớ và thương tiếc."  Mợ tôi chân chất như bao người đàn bà Việt Nam, bà không nói thôi chứ nói ra câu nào là đúng câu đó, tui phục mợ tôi ở cái điểm này.
Tôn-Thất Long, 03/23/2015

Từ miền Tây đến khám Chí Hòa

Hào Độ
Theo RFA-2015-04-27

000_ARP4137966.jpg
Bộ đội Bắc Việt với số vũ khí chiếm được từ quân lực VNCH hôm 13/4/1975 tại Biên Hòa. AFP photo

Vào những ngày cuối tháng năm 1975, tỉnh nhỏ quê tôi ở miền Tây, được thông báo tập trung tất cả sĩ quan quân đội và viên chức Việt Nam Cộng Hòa đi "học tập cải tạo". Thời gian học tập là một tháng, mỗi người phải mang theo sáu ngàn đồng tiền ăn.

Chúng tôi được đưa vào tập trung trong khu vực trại gia binh của một đơn vị thuộc sư đoàn 9 bộ binh để lại. Chúng tôi bị đặt dưới quyền điều khiển của những người mặc đồng phục màu xanh của " bộ đội " mà chúng tôi được hướng dẫn phải gọi là " cán bộ ".  Thời gian một tháng chậm chạp trôi qua.

Một buổi sáng "cán bộ" tập họp chúng tôi và thông báo " Vì thời gian học tập quá ít, các anh chưa cải tạo đủ, nên ở trên ra lệnh các anh phải tiếp tục học tập thêm 3 tháng. Từ nay các anh không cần lo việc ăn uống, đảng và nhà nước lo phần ẩm thực hằng ngày cho các anh".

Sau ba tháng, lời thông báo của họ có thêm một lập luận trẻ con mà chúng tôi khi nghe ai cũng phải cắn răng nuốt hận: " Vì tình hình bên ngoài chưa ổn định, lòng thù hận của dân chúng đối với các anh còn sôi sục, để bảo vệ an toàn cho các anh, ở trên quyết định giữ các anh ở lại trong trại cải tạo 3 năm. Các anh phải tiếp tục học tập và lao động tốt, thật thà khai báo mọi tội lỗi với nhân dân, đảng và cách mạng sẽ xem xét, khi tình hình ổn định sẽ tha cho các anh về sum họp gia đình ". Từ đó chúng tôi không còn trông ngóng nữa, ai cũng yên tâm với số phận bị giam cầm trong nhiều năm sắp tới. Chỉ còn một niềm tin là cầu xin có một phép lạ mà thôi !

Một năm sau, chúng tôi được vận chuyển bằng đường sông trên những chiếc "ghe bầu" đi từ thị xã vào giửa vùng Đồng Tháp Mười mênh mông. Tại đây họ dựng lên một trại tù mới có tên là " trại cải tạo Động Cát ". Giữa Đồng Tháp Mười mênh mông có một gò cát thiên nhiên nổi lên. Họ bắt chúng tôi đào cát đấp nền nhà, cưa tràm làm cột nhà, chẻ tre làm nẹp dừng vách, chầm lá lợp nhà, rồi đóng cọc sắt ấp chiến lược, căng dây chì gai làm rào chung quanh để giam mình trong trại tù ấy !

Bấy giờ là mùa khô, họ bắt chúng tôi đi đào những con kinh nhỏ, nối từ một con kinh lớn dẩn nước đi sâu vào giữa đồng, được gọi là những con " kinh xã phèn ".

Khi mùa mưa đến, dù không ai trong chúng tôi biết gì về nông nghiệp, nhưng chúng tôi phải làm tất cả mọi công việc của một nhà nông. Từ việc làm cỏ ruộng, cày bừa, cho đến việc ngâm lúa giống, xạ lúa, bón phân, cắt lúa, rồi gặt, đập, và phơi lúa, đều do lực lượng tù cải tạo chúng tôi  đảm trách.

Chúng tôi làm ra rất nhiều lúa, nhưng họ đưa đi đâu không biết, chúng tôi thì vẫn hằng ngày ăn bo bo hay bột mì thay cơm !

Một buổi sáng đẹp trời họ tập họp chúng tôi và cho biết là sẽ di chuyển đi học tập cải tạo ở một nơi khác ! Ghe chạy vòng vèo trong các con rạch mà tôi chưa từng biết, hồi lâu thì đến một khu trại tù đang có lố nhố hằng trăm tù nhân bên trong nhìn ra.  Họ chuyển chúng tôi qua trại tù do công an cai quản, có tên là " trại cải tạo Láng Biển ".

Trại tù nầy giam giữ tất cả các thành phần tội phạm xã hội, nay họ giam chung chúng tôi vào đây.

Cũng một buổi sáng nắng đẹp yên bình, họ tập họp chúng tôi và thông báo: " Vì các anh cải tạo chưa tốt, nên sẽ có một số các anh phải tiếp tục đi học tập ở một nơi khác. Ai được gọi tên thì bước sang tập họp riêng bên phải, ai không được gọi tên thì vẫn đứng yên tại chỗ không được chộn rộn".

Sau đó họ ra lệnh các anh em vừa được gọi tên nhanh chóng vào trại mang hết tất cả đồ đạc cá nhân trở ra tập họp lại. Khi chúng tôi tập họp xong thì họ ra lệnh cho số người không được gọi tên khi nãy nhanh chóng quay trở vào trại và ở yên tại chỗ nằm của mình. Hai nhóm chúng tôi bị cắt đứt liên hệ, không thể nào gặp gỡ, nhắn gửi hay từ giã nhau.

Bây giờ họ tuyên bố: "các anh là những người phải đi học tập thêm, thời gian còn tùy theo sự tiến bộ của từng người. Các anh chỉ được mang theo quần áo, chăn màn, và thức ăn mà thôi, còn các vật dụng khác để lại tại chỗ".

Họ ra lệnh chúng tôi từng người một đi thẳng ra cổng trại dưới sự hướng dẫn của 2 công an có võ trang. Phía trước cổng trại là một con kinh, dưới kinh đã có một đoàn ghe có mui đậu sẳn từ bao giờ. Công an ra lệnh từng người bước xuống ghe, mỗi ghe có 1 công an đứng canh trước mủi, và 1 công an đứng sau lái, cả hai mang súng AK 47 trong tư thế tác chiến. Sau khi tất cả đã ngồi yên, 2 công an bước xuống, một người mang theo một đống còng số 8, một người dõng dạc ra lệnh: "Khi đi đường tất cả phải im lặng, ngồi yên, không được đi tới đi lui, và tất cả đều phải còng tay lại ".

Nói xong hai công an bước vào trong ghe và lấy từng cái còng móc vào 2 cổ tay của 2 người ngồi cạnh nhau. Như vậy là chúng tôi bị dính chùm nhau bởi cườm tay trái của người nầy với cườm tay phải của người kia. Các cửa sổ hay mành sáo của hai bên hông ghe đều đã được kéo xuống. Sau hai tiếng lách cách nạp đạn khô khan vang lên từ 2 cây súng AK để thị uy, ghe được nổ máy. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi làm tôi phải rùng mình. Họ còng chúng tôi như thế nầy, nếu xảy ra trường hợp ghe bị chìm thì làm sao mà lội đây ? Nếu có tai nạn chắc ăn là sẽ chết chìm !

Tôi nghe có tiếng xì xào : " Sao chạy lòng vòng đi đâu mà lâu quá vậy ? "; " Có thể họ đưa mình ra sông lớn xuống tàu đi ra Bắc "; " Hay là họ đưa mình ra đổ xuống biển ?".

Tiếng máy nổ chậm dần, ghe từ từ cặp vào bờ một con rạch nhỏ. Công an dõng dạc từ trên bờ: "Tất cả các anh đi lên từng cặp theo sự hướng dẫn của cán bộ ".

Từng cặp chúng tôi vẫn còn đang bị dính chùm, chậm chạp khó khăn bước lên bờ rạch, một cánh tay còn tự do thì đeo cái giỏ đệm hay cái túi vải tài sản của mình. Dọc theo con đường đá đã có một hàng xe đò đậu sẳn. Bên kia đường sừng sửng 1 ngôi chợ nhỏ trống vắng có hàng chữ "chợ Rạch Ruộng ".

Rất đông công an bồng súng đứng dài theo hai bên đường từ đầu dãy xe cho đến cuối để ngăn cản các người dân hiếu kỳ đang tụ tập đứng nhìn. Công an cầm dùi cui, chỉ cho chúng tôi từng cặp từng cặp bước lên chiếc xe thứ nhất, khi xe đầy thì cặp tù kế tiếp bước lên chiếc xe thứ hai. Dân chúng hai bên đường tập họp đứng nhìn chúng tôi càng lúc càng đông hơn. Có vài cụ già, nhưng phần đông là các bà các chị, và các em nhỏ. Trong nhiều ánh mắt soi mói ấy tôi bắt gặp những tình cảm khác nhau của người dân địa phương, hầu hết là thương hại ...

Tôi và anh bạn đồng hành phải loay hoay tìm tư thế ngồi sao cho tay phải của tôi thuận chiều đưa ra phía sau một chút để nối liền với cánh tay trái của anh mà không bị vặn vẹo đau đớn bởi cái còng số 8. Chúng tôi phải chịu đựng như thế suốt đoạn đường của chuyến đi. Cửa trước và cửa sau xe cũng có 2 công an trấn giữ. Các tấm sáo cửa sổ xe đò cũng được sập xuống kín mít. Một nhóm chúng tôi may mắn ngồi gần một khung cửa đã bể nát, không có kính che mà tấm sáo cũng đã mất hết hơn phân nửa.

Mọi người chúng tôi đều giật mình vì từ bên ngoài có một vật được tung lên lọt ngay vào cái cửa sổ trống. Một gói thuốc lá màu trắng chữ đen rơi vào sàn xe, công an chạy tới chộp lấy gói thuốc lá. Tôi nhìn ra ngoài, một em bé trai trạc chừng 12 tuổi, tay ôm cái hộp cây nhỏ chứa đầy các bao thuốc lá, đang cố chạy đi để khỏi bị bắt !

Lại một bất ngờ thứ hai. Tôi ngồi ngay hàng ghế phía sau nên nhìn thấy rất rõ. Một vật màu đen to hơn cái gói thuốc là ban nảy, được tung vào xe. Lần nầy vật ấy rơi xuống và nằm ngay trên đùi của anh bạn ngồi hàng ghế phía trước. Dĩ nhiên anh em chúng tôi ngồi yên, không ai có một cử động nào cả.

Công an cũng ùa ngay đến tịch thu xâu bánh ú. Bên kia đường, một người phụ nữ trung niên, đầu đội một cái thúng chất đầy bánh ú, đang cố sức rảo bước thật nhanh về phía dãy nhà phía trước. Trên xe chỉ có anh lơ xe là người duy nhất được đi lui đi tới để thu xếp các túi vải và các giỏ đệm của chúng tôi. Có tiếng hỏi nho nhỏ sau lưng : " Anh ơi, biết đi đâu không vậy anh? " Anh lơ xe làm thinh không trả lời, bỏ đi.

Chúng tôi cụt hứng, nghĩ rằng anh cũng được nhồi sọ là không được hé môi với bọn tù cải tạo. Nhưng anh lơ xe quay trở lại, anh khom người và làm động tác dọn dẹp. Nhưng lần nầy anh cứ nắm 1 cái giỏ đệm đẩy qua đẩy lại, một âm thanh sột soạt vang lên át đi tiếng nói rù rì của anh lơ xe: "Hồi sáng tui đi lãnh dầu thì họ nói là đổ dầu đầy để đi Long Khánh ". Tin nầy được lan nhanh ra khắp xe. Mọi người chúng tôi yên chí là chuyến nầy phải ra rừng cạo mũ cao su rồi đây!

Đoàn xe có 1 xe jeep dẫn đầu, 1 công an lái xe, 4 công an khác có võ trang đầy đủ, một người mang súng colt ngồi trước, 3 công an ngồi hàng ghế sau đều mang súng AK. Đúng như lời anh lơ xe đã nói, ra tới ngã ba An Hữu, đoàn xe quẹo trái trên liên tỉnh 8 hướng về Saigon. Hai bên đường cây cối đứng im, lác đác các chòi lá lụp xụp, xơ xác, lơ thơ vài người dân địa phương rảo bước bên vệ đường. Tất cả yên ắng, bình thản, không ai biết rằng đoàn xe đang chạy trên đường có mang theo hằng trăm quân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa đang bị cầm tù, và sau hơn 3 năm lao động khổ sai giữa Đồng Tháp Mười, giờ đây đang bị họ giải đi hành quyết, hay là đưa đi giam cầm ở một nơi nào không ai biết.

Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi đoàn xe đến Phú Lâm mà chiếc xe jeep dẫn đầu vẫn chạy thẳng vào Saigon ?  Nhờ khung cửa trống một nhóm anh em chúng tôi ngồi quanh đó được nhìn ngắm quang cảnh Saigon với dòng người và xe đạp chen chúc tại các ngã tư ngã năm, vì giờ nầy là giờ nghỉ trưa.

Đoàn xe chạy loanh quanh một lát thì vào đường Lê đường Văn Duyệt, rồi họ lại quẹo vào một con đường nhỏ hẹp không thấy bảng tên. Xe ngừng lại một lát, công an lại răn đe và ra lệnh ngồi im. Khoảng gần nửa giờ sau, chiếc xe jeep trở lại, họ khoát tay cho đoàn xe tiếp tục đi sâu vào trong. Đoàn xe chui qua một cái cổng sắt, từ từ quẹo phải rồi dừng hẳn tại một bãi đất trống. Bên cạnh cánh cổng sắt to tướng, nặng nề, kiên cố, tôi đọc được hàng chữ đắp nổi bằng xi măng, sơn đỏ, ở phía trên cao: " Trại giam Chí Hòa ".

Từng cặp chúng tôi xuống xe, được mở còng và tập họp trên nền cái sân đất đá lổm chổm dưới chân. Qua bức tường cao, dầy, và kiên cố bao bọc xung quanh, tôi tưởng tượng ra những phòng giam chật hẹp, hôi hám, bẩn thỉu, ngột ngạt , và tối tăm bên trong, đang chực chờ giam hãm 180 anh em chúng tôi từ miền Tây ngơ ngác lên đây.

Bất giác tôi thở dài ngao ngán ! Vậy là tôi đã được nếm mùi tù trong một nhà tù lớn nhất, lâu đời nhất, và nổi tiếng nhất, mà trước đây tôi chỉ nghe tên với nhiều huyền thoại: " khám Chí Hòa "...

Tháng tư đen thứ 40. San Francisco, California, Hoa Kỳ.


Hào Độ

Những người lính Bắc Việt 40 năm sau

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-04-27
000_ARP4090008.jpg
Những người lính Bắc Việt trong đồng phục quân đội mới diễu hành mừng chiến thắng ở Sài Gòn ngày 15 tháng 5 năm 1975.AFP photo

40 năm trôi qua, đồng nghĩa với 40 lần nhà nước Việt Nam đã tổ chức lễ hội vui mừng ngày giải phóng đất nước 30 tháng 4 lịch sử. Khi đến ngày tháng này, những người lính từng mang niềm tự hào của người chiến thắng khi đặt chân vào mảnh đất Sài năm xưa nghĩ gì? Cuộc sống của họ giờ đây ra sao? Và họ, một thế hệ tuổi trẻ hy sinh và chiến đấu vì lý tưởng bây giờ nhìn nhận gì về xã hội và đất nước sau “cuộc đại thắng mùa xuân”năm  ấy?


Lý tưởng của tuổi trẻ và nhận chân thực tế

Họ trở thành người lính khi tuổi đời còn rất trẻ. Khi đó, họ nghe theo tiếng gọi của Tổ Quốc, của dân tộc đi chiến đấu để thống nhất đất nước. Mục tiêu đất nước được qui về một mối là tất cả những gì họ mơ ước đến. Sau khi chiến tranh kết thúc, những người lính Bắc Việt năm xưa đều không phủ nhận đó là lý tưởng một thời tuổi trẻ của họ. Thế nhưng, rồi cũng chính những người lính ấy, giờ đây nhận ra thực tế không như họ từng nghĩ.

Ông Phan Trọng Khang, trinh sát đặc công của Sư đoàn 2, Trung đoàn 3 cho biết:

“Khi xưa chúng tôi chiến đấu là mong mỏi cho đất nước được thống nhất, độc lập, tự do, dân chủ. Thế nhưng khi đất nước thì thống nhất, độc lập thì sự thật vẫn bị chi phối, không phải là độc lập hoàn toàn. Vẫn có một thế lực ngầm bán nước, chịu ảnh hưởng về ý thức hệ. Tự do thì tất nhiên tự do trong khuôn khổ của pháp luật nhưng quyền tự do của con người vẫn bị giới hạn, dân chủ không được đảm bảo. Sự hy sinh của chúng tôi, anh em đồng đội cả một thế hệ, là sự hy sinh bị phản bội.”

Ông Cao Đình Đông, cũng là người lính, thì cho rằng thanh niên tuổi trẻ thế hệ của ông cầm súng chiến đấu là vì nghĩa vụ phải có đối với Tổ Quốc. Ông nói:

“Khi mình đi chiến đấu là đi theo lý tưởng của tuổi trẻ, tiếng nói của Tổ Quốc, theo tất cả những gì nghĩa vụ trách nhiệm là phải đi như thế. Khi chiến tranh thì tất cả mọi người cũng vì quốc gia vì dân tộc vì nghĩa vụ mong là sau này cuộc đời sẽ tươi đẹp hơn như mình ảo tưởng, ước mơ ban đầu của tuổi trẻ là như thế."

Sau cuộc chiến

Khi cuộc chiến chấm dứt, rất nhiều người lính trờ về với cuộc sống dân sự và phải mưu sinh như những nguời khác.

Ông Phan Trọng Khang cho biết cuộc chiến mưu sinh của bản thân:

“Cuộc sống của tôi thì tôi phải tự bản thân mình, không lấy sự hy sinh đóng góp xương máu của mình xa xưa để làm công thần đối với tổ quốc. tôi tự phấn đấu bươn chải kiếm sống nuôi thân, không trong chờ vào sự trả ơn tri ân của chính phủ. Tôi tự bản thân mình là chính.”

Chấp nhận hiện tại với cái nhìn của người an phận, ông Đỗ Vĩnh Hưng, người lính thuộc sư đoàn 341 năm xưa nói:

“Đến bây giờ, cuộc sống của tôi cũng bình thường như bao người lính trở về. Mọi vất vả so với mọi người thì...tuỳ thuộc từng người. Cuộc sống thì an nhàn cuộc sống thôi. Về ngẫm nghĩ lại so với nhiều người lính khác thì khá hơn nhiều. Còn lại, về tinh thần thì nó cũng...khó nói lắm.”

Có lẽ vì cái khó nói ấy nên dù trong cái an phận của ông vẫn không tránh được sự dè dặt có chút ngậm ngùi:

“Thật sự mà nói về xã hội bây giờ thì...nếu nói thẳng thì không thể nói, giống như con ốc sên ấy, thụt cổ vào, tự mình biết cách xử sự, cuộc sống bây giờ sợ ngóc đầu ra nó chặt mất.”

Cũng trở về sau cuộc chiến, bên cạnh những người lính “buông súng vác cày” khác phải chải với đời sống cơm áo hàng ngày thì cũng có những người đi theo niềm đam mê của riêng mình, như trường hợp ông Cao Đình Đông giờ là nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam. Ông tự nhận mình là:

“ Một người chiến sĩ văn nghệ thôi. Thích sáng tác những bức ảnh về quê hương đất nước con người và những cái gì mình thích thì mình chụp, gọi là yêu ảnh.”

Có lẽ thế mà cái nhìn của ông khá nhẹ nhàng. Ông cho biết về cuộc sống của mình:

“ Cũng lăn lộn trong cuộc sống với mọi ngành nghề từ đi buôn đi bán, lao động, làm thuê, làm thợ mộc, đẩy xe ba gác, đủ các kiểu. Cuộc sống cũng vất vả. Đến nay hơn 60 tuổi, nói chung cũng sống như những người dân bình thường trong xã hội cũng không có gì thắc mắc cũng như ấm ức. xã hội nào thì cũng có những cái không thể hoàn thiện hoặc toại nguyện theo cuộc sống của từng người được.”

Mỗi năm, đến ngày 30.4, những tưởng rằng trong họ vẫn luôn tồn tại niềm tự hào về ngày đại thắng mà họ đã góp phần không nhỏ thời tuổi trẻ. Thế nhưng, trong mỗi người họ bây giờ là một suy nghĩ khác nhau, và qua những lời tâm sự của họ, không còn tìm thấy âm hưởng của hình ảnh oai hùng năm xưa. Ông Đỗ Vĩnh Hưng nói:

“Bây giờ cũng không biết nói thế nào. Nói vắn tắt thì không thể nói. Nói dài dòng thì không biết nhiêu cho đủ. Hiện tại nếu nói về sự hài lòng thì không ai hài lòng được cả. Có những người chiến đấu như tôi, khổ hơn tôi nhưng họ vẫn hài lòng, chấp nhận cuộc sống này thì làm sao tôi không hài lòng với cuộc sống của mình được.”

Riêng ông Phan Trọng Khang thì cho biết điều mà ông và đồng đội của ông mong mỏi là một điều khác, vượt cả sự thắng- thua, vui- buồn thường được nêu ra nhân dịp 30/4. Ông cho biết:

“Mỗi năm đến ngày 30 tháng 4, tôi nghĩ rằng tôi không vui mừng gì cả. Tôi nghĩ bên cạnh niềm vui đó thì phía bên kia của tôi và đồng đội tôi sẽ có những nỗi buồn. Nên tôi thấy đó là sự bình thường. Đáng lý ra cả một thế hệ chúng tôi đã bỏ ra tuổi trẻ để giành lại giang sơn đất nước thì lẽ ra đất nước phải được phát triển tốt hơn và dân tộc tổ quốc phải được coi là trên hết. Những người lính dù phía bên này hay bên kia thì đồng bào dân tộc phải được coi là trên hết. Tất cả phải kết nối cùng nhau để xây dựng lại đất nước. Còn khuếch trương chiến thắng để làm nỗi buồn cho người khác, để gây ra chia rẻ trong đồng bào thì tôi cảm nhận điều đó cũng không nên.”

Những người đã từng chiến đấu cho ước mơ về một đất nước thống nhất ấy, họ đều mang một sự ngậm ngùi khi nhắc về đồng đội của mình, hoặc về mục tiêu mà họ đã cống hiến.

“Cái buồn là chúng tôi và đồng đội chúng tôi, những người may mắn còn sống sót được trở về, còn số anh em hy sinh không để lại dấu vết, mồ mả, tên tuổi thì rất nhiều. Chúng tôi không nghĩ là sự hy sinh đó đòi hỏi một công lao gì to lớn nếu điều đó vì mục tiêu tổ quốc, chính nghĩa. Cái người ta cảm thấy xót xa là sự hy sinh ấy nó không phải như mục tiêu, lý tưởng ban đầu đem lại. Người ta cảm thấy như bị lừa dối.”

40 năm trôi qua, chiến tranh đã kết thúc nhưng mục tiêu và lý tưởng của những người lính Bắc Việt năm xưa có vẻ như vẫn còn rất xa vời.

Friday, April 24, 2015

Đôi dép người tù cải tạo

Nguyễn Bá Chổi
Theo RFA-2015-04-24



Thiếu nữ Saigon trước 1975-Files photo

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, hắn “được Cách Mạng nhân đạo khoan hồng tập trung để bảo vệ tính mạng cho, vì nếu để ở ngoài sẽ bị nhân dân trả thù”.

Huyện Củng Sơn thuộc tỉnh Tuy Hòa là vùng hoạt động của “Cách Mạng” trước 75. Lúc mới “nhập môn” giữa vùng rừng núi này, mỗi lần đi ra ngoài “học tập lao động để sau này trở về không còn bóc lột như thời Mỹ Ngụy nữa, mà biết tự mình làm ra của cải vật chất hầu nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp cho xã hội”, hắn nơm nớp sợ đồng bào địa phương có tiếng là dân Cách Mạng, sẽ trả thù (thù gì thì hắn không biết), nếu họ bắt gặp và nhận ra hắn là “ngụy quân.”

Một hôm, trên đường đi “lao động là vinh quang” ngang qua khu chợ, có mấy người dân chạy theo đoàn tù binh. Hắn lo lo; đang lúc chuẩn bị tinh thần chịu trận “nhân dân trả thù” thì có người dí vào túi áo hắn gói thuốc lá Sông Cầu. Đó là một nhân dân hoàn toàn xa lạ. Hắn sững sờ, chưa kịp nói lời cảm ơn thì người đàn bà ân nhân đã lách vội vào đám đông như tìm đường chạy trốn. Từ đó về sau, nhiều người trong đám tù và hắn lâu lâu lại được “nhân dân trả thù” như thế - khi cục đường mía, lúc miếng kẹo lạc.

Lại một hôm, đám tù được thả lỏng phân tán mạnh ai nấy tự đi tìm... cỏ tranh để cắt (về lợp nhà). Hắn được một phụ nữ quần áo vá đùm vá đụp mặt hốc hác, chạy đến trước mặt, mắt dáo dác ngó trước ngó sau một vòng rồi dí vào tay cho cái bánh ú làm bằng bột củ sắn mì với nhân hột mít. Chị ta nói,” Anh ăn cho đỡ đói. Bây giờ chúng tôi mới hiểu ra... và thương các anh quá”.

Không thấy “nhân dân trả thù” mà chỉ gặp nhân dân “thương các anh quá”, nhưng Cách Mạng vẫn nhất quyết tiếp tục “bảo vệ tính mạng cho Ngụy quân ngụy quyền, những kẻ có tội với nhân dân mà lấy hết trúc Trường Sơn làm bút, lấy sạch nước Biển Đồng làm mực cũng tả không xiết”. Tháng lại tháng. Năm qua năm. Đêm đêm nằm nêm cối đến ngộp thở trong những dãy nhà được bao bọc bởi nhiều lớp kẽm gai xen kẽ lớp xương rồng rồi lớp mìn bẫy, lớp hầm chông. Ngày ngày đi ra ngoài làm đủ thứ công việc của người tù khổ sai.

Khi đi lẫn lúc về, đoàn tù binh phải dừng lại nơi cổng ra vào để lính gác đếm. Đi, đếm rất mau; về, vừa đếm vừa khám xét khắp người tù xem có lận theo trong túi áo thắt lưng con cóc con nhái, con rắn con rít, hay cọng rau nạm cỏ (như cỏ sam heo ăn được là tù ăn được)... gọi chung là những thứ “cải thiện linh tinh” bị cấm ngặt, nên trong khi chờ đợi, cứ phải ứa gan với cái bảng đỏ to tổ chảng trước mặt treo vắt ngang giữa hai cái lô cốt chằm chằm hai bên cửa ra vào, có hàng chữ màu vàng khè “KHÔNG CÓ GÌ QUÍ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO” phía trên hàng chữ “TRẠI CẢI TẠO A30” . Mỗi lần như thế, hắn lại hình dung ra cảnh tú bà cho treo trước cửa nhà chứa của mụ, cái băng trắng chữ đỏ “Chữ Trinh đáng giá ngàn vàng”.

“Ngày như lá tháng như mây”, chỉ là với thế giới bên ngoài. Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Hắn thường bày tỏ rằng, nhờ Ơn Trên phù hộ hắn mới qua khỏi hơn 2500 cái "thiên thu tại ngoại”, để có ngày được “Cách mạng khoan hồng” cấp cho tờ “Giấy Ra trại”. Trên đường về với gia đình tận vùng Cao Nguyên, hắn phải ghé lại Nha Trang để chờ mua vé xe cho chặng đường cuối. Hắn đi lang thang để nhìn lại cảnh cũ người xưa nơi thành phố mà hắn đã qua nhiều thời kỳ gắn bó. Thuở nhỏ “du học”; lớn đi thi Tú Tài; mấy tháng học Không Trợ tại Trường Không Quân, và những lần “quá cảnh” trên đường đi đi về. Người thiếu nữ đầu tiên đi qua đời hắn cũng từ bãi thùy dương cát trắng này. Nha Trang đã là một phần đời hắn.

Hắn đi ngang quầy bán thuốc lá lẻ bên lề đường Nguyễn Hoàng. Bỗng dưng hắn nhớ và thèm một điếu thuốc CAPSTAN ngày nào. Sau khi tính nhẩm và chắc chắn số tiền Trại cải tạo cấp cho theo tiêu chuẩn nhà nước làm “của ăn đi đường” còn đủ để mua được hai điếu thuốc lá Song Long (hắn biết giá thuốc vì Trại thỉnh thoảng có mua giùm cho những ai có tiền cần mua), hắn mạnh bạo tiến đến phía quầy bán thuốc. Đã gần bảy năm, nay hắn mới được thấy lại nụ cười chào khách của những người bán thuốc lá bên đường mà trước kia hắn thường gặp. Hắn hân hoan như vừa tìm lại được một điều gì quý hóa đã mất từ lâu lắm. Nhưng bỗng dưng hắn chưng hửng khi thấy mặt cô gái bỗng nhiên tối sầm lại và tỏ vẻ dửng dưng với khách. Hắn ngạc nhiên trước thái độ thay đổi đột ngột của cô gái. Hắn kiểm điểm lại mình, và đinh ninh mình không hề có cử chỉ khiếm nhã nào hay nói năng gì khác ngoài lời hỏi mua thuốc lá. Hắn sực nhớ lúc nãy cô gái có liếc mắt xuống đôi chân hắn. Hắn chợt thoáng “lý đoán” ra nguyên nhân. Nhìn thẳng vào mặt cô bán thuốc, với vẻ nghiêm trang, hắn nói:

“Anh vừa từ trại Cải tạo ra, đang trên đường về, nên đành phải mang đôi dép này”. Khi hắn vừa mới nói đến “Anh vừa từ trại cải tạo ra”, cặp mắt cô gái sáng lên và đôi má cô ửng hồng, nhếch lên để lộ ra cái lúm đồng tiền. Hình như cô muốn nói điều gì mà không cất lên được. Cô luống cuống lấy trong hộc ra gói thuốc Hoa Mai còn nguyên rồi bằng hai tay đưa lên sát ngực hắn, với ánh mắt thương cảm trìu mến:

“Anh cầm lấy, em biếu anh. Rất tiếc bây giờ không còn thuốc trước 75”.

Hắn đã bỏ hút thuốc từ lâu, nhưng vẫn nhớ mãi gói thuốc của ba mươi năm về trước. Mỗi tháng Tư về, hắn lại càng thấy món nợ hắn mắc mỗi to hơn.

Không phải nợ gói thuốc lá cô gái biếu. Nhưng là nợ chính cuộc đời cô mà hắn đã không bảo vệ được. Để ít ra cô khỏi phải nhìn thấy những Đôi Dép Tháng Tư đưa dân Nam đến cảnh bần cùng khốn nạn.

Ba lần đổi tiền

Hà Minh Thảo
Theo RFA-2015-04-24
000_ARP4090005.jpg
Đường phố Sài Gòn ngày 13 tháng 5 năm 1975.-AFP photo

Từ ngày 30.04.1975, khi cầm tờ giấy bạc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, người dân Sài gòn, một Thủ đô từng có mỹ danh Hòn ngọc Viễn đông, mang một nỗi buồn mất mát : Đồng tiền Việt Nam Cộng hòa sẽ đi vào dĩ vãng… Việc ‘đổi tiền’ bị đảng Cộng sản đưa vào ngữ vựng ‘cách mạng’ khủng bố người dân Việt như một nỗi kinh hoàng vì đây là một vụ cướp bằng luật do nhà nước ban hành.

Đổi tiền ngày 22.9.1975

Ngày 20.09.1975, bỗng nhiên có tin từ Ban Điều hành ngân hàng Đại Á cho nhân viên biết là không nên về sớm (lúc đó, tại ngân hàng thương mại, chúng tôi không còn bao nhiêu việc để làm) hầu chờ lệnh Ngân hàng Quốc gia… Quá 12 giờ, các nhân viên kế toán được yêu cầu có mặt tại chi nhánh Việt Nam Thương tín Đa kao lúc 12 giờ hôm 21.09.1975 để đi nhận việc mới. Nhận việc ngày Chúa nhật là một điều lạ ? Nhưng chúng tôi tự vấn an nhau ‘Thời cách mạng mà!’.

Đúng giờ định, chúng tôi có mặt đầy đủ nhưng chỉ gặp nhân viên bảo vệ chi nhánh. Ông cho biết chỉ nhận lịnh đón chúng tôi vào chờ mà thôi… Chờ mãi đến gần 15 giờ, đề tài để trò chuyện cũng đã cạn, chúng tôi kéo nhau đi ăn ‘bánh cuốn Tây Hồ’… Từ khoảng 17 giờ, có thể người dân ngửi được mùi ‘biến cố tiền tệ’ sắp bùng nổ : người ta ăn uống tới tấp, nhiều người sẵn sàng trả giá để mua hàng với giá cao khó tưởng tượng. Tiếp theo, đài phát thanh yêu cầu người dân phải về nhà trước 23 giờ để đợi thông báo quan trọng. Lúc 2 giờ ngày 22.09.1975, đài loan tin về quy định đổi tiền và kéo dài thời gian giới nghiêm đến 11 giờ sáng. Thời gian đổi tiền sẽ bắt đầu vào lúc 11 cho đến 23 giờ cùng ngày, tức chỉ có 12 giờ đồng hồ để hoàn thành việc thu và đổi tiền. Thể thức :

- Hối suất : 500 đồng Việt Nam Cộng hòa = 1 đồng Cộng hòa Miền Nam Việt Nam;

- Mỗi gia đình chỉ được đổi 100.000 đồng cũ ra thành 200 đồng mới để tiêu dùng thường nhật. Phần còn lại, Nhà nước giữ lại…

Lúc 6 giờ ngày Đổi tiền, chiến dịch bắt đầu : một xe nhà binh GMC đến đón chúng tôi có ‘đồng chí’ Phường ủy Phường Trần Quang Khải, Quận nhất, đi kèm. Nói chuyện với chúng tôi, ông kể lể công thống nhất đất nước của Đảng và hứa hẹn một tương lai tốt đẹp cho toàn dân. Thấy tôi mỉm cười, ông đưa ‘thẻ vàng’ cảnh cáo : không tin Đảng.

Sau đó, nhóm ‘ngân hàng’ chúng tôi bị chia mỗi người đến một Bàn (đơn vị phụ trách Đổi tiền) để nhận nhiệm vụ Kế toán. Bàn, nơi tôi đến đặt tại một nhà mà chủ đã vượt biên ở đường Nguyễn Văn Thạch. Sau đó, một đồng chí mặc kaki, mang dép râu với nón cối tới và tự giới thiệu là y sĩ bộ đội, Bàn trưởng. Tiếp đến, hai công chức Ngân khố để làm Thủ quỹ : một tiền cũ và một tiền mới. Bàn trưởng, tính tình hiền hậu, mở lời nhờ chúng tôi giúp anh hoàn thành công tác và, vì anh không rõ qui định về Tờ khai gia đình ở Sài gòn thế nào, nên nhờ chúng tôi xem dùm. Anh ‘cử’ tôi làm Thư ký giữ và phát đơn.

Cuối cùng, những ấn phẩm và tiền mới có những trị giá khác nhau cũng được chở tới. Đúng 11 giờ, Bàn Đổi tiền mở cửa tiếp các khách hàng ‘miễn cưỡng’, tôi cảm thấy bị cưỡng bách phải nhận Tờ khai gia đình, xem, trả lại kèm hai mẫu đơn và xin nộp lại khi đã khai xong với số tiền mặt cũ.

Trong số những đồng bào đến đây, tôi tiếp Giáo sư H.T.S, Thầy cũ đã dạy ở Đại học Luật khoa Sàigòn. Ông giải thích nhà ông ở Làng Đại học bị ‘lấy’ và đưa Tờ khai gia đình cho tôi. Không thể để người bị ‘cướp’ bị đến hai lần, tôi nhận văn kiện và nói : ‘Thầy để tôi lo.’ Bao nhiêu đó đủ để nhận biết nhau. Tôi trả hồ sơ cho ông và nói đủ lớn để Bàn trưởng nghe : « Tờ khai gia đình của Thầy có ghi ‘Tạm trú’. Như vậy ‘được rồi và sau khi khai xong, Thầy sớm nộp lại. Chào Thầy ». Cười và bắt tay nhau. Trong số khách đó, có những người đến xin đơn về khai và, sau khi, nghe theo bàn tán thế nào, trở lại xin đơn khác… Thôi thì tiền của người ta (họ không phải là kẻ ‘chấp hữu vô căn’… mà chỉ là nạn nhân chế độ) nên tôi cứ để cho chủ gia đình tự quyết định theo ý.

Khi đồng bào trở lại nộp đơn, tôi đọc xét và ghi sổ kế toán, tiền cũ được Thủ quỹ tiền cũ nhận, đếm đúng với số khai, cắt góc tờ giấy bạc và lưu lại. Sau đó, Thủ quỹ tiền mới giao những tờ giấy bạc mới cho khách và Bàn trưởng ký chung cuộc và trao một bản đơn cho đương sự. Bản kia trao cho tôi để lưu. Xong cho một gia đình. Có vài gia đình thắc mắc, vì nghe các du kích dạy bảo ‘cộng sản sẽ san bằng giàu nghèo’, sao không được lãnh 200 đồng tiền mới như nhà trước. Tôi chỉ trả lời : không có chỉ thị. Thật nghèo mà tin cộng sản !

Các lãnh đạo cao cấp, tại Hà nội, hình như đã không thể thẩm lượng số tiền đang lưu hành tại Việt Nam Cộng hòa cũ, nơi nền kinh tế phồn thịnh hơn Miền Bắc cộng sản nhiều vì, sau ngày 30.04.1975, hàng loạt hàng hóa và vàng bạc từ Sài gòn đã được chở về Hà Nội, kể cả 16 tấn vàng mà ‘người cộng sản’ phao tin ông Nguyễn Văn Thiệu đã chở đi khỏi nước. Cuộc đổi tiền đã kéo dài ba ngày và chỉ mới thanh toán cho mỗi gia đình 200 đồng tiền mới mà thôi.

Xin ghi thêm những điều biết được khi đọc Việt Báo ngày 04.10.2006.

« Ngay sau khi Cộng quân tiến chiếm Sài gòn trưa ngày 30.04.1975, Ban Quân quản các ngân hàng đã tiếp thu Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và các ngân hàng khác ‘với tiền, vàng còn nguyên vẹn là một chuyện ngoạn mục. Việc xử lý sau đó còn ngoạn mục hơn Ừ. Đó là lời ông Lữ Minh Châu, Trưởng ban Quân quản các ngân hàng Sài gòn – Gia định, người tổ chức tiếp quản toàn bộ tiền, vàng của chế độ cũ. Ngoài ra, ông Châu còn xác nhận : Về … 16 tấn vàng vẫn còn nguyên vẹn trong kho của ngân hàng Ừ. Về tiền, ông cho biết : « Toàn bộ tiền và vàng dự trữ trong ngân hàng chúng ta tiếp quản nguyên vẹn cùng với đầy đủ hồ sơ sổ sách. Theo thống kê thì khối lượng tiền trong lưu thông thời điểm đó là 615 tỉ, gồm tiền mặt trong lưu thông 440 tỉ, còn lại nằm trong tài khoản tiền gửi.

Sau khi tiếp quản, tài sản thuộc Ngân hàng Quốc gia được bàn giao toàn bộ cho Ngân hàng Trung ương Chính phủ Cách mạng lâm thời, mang tên Ngân hàng quốc gia miền Nam, do ông Trần Dương làm Thống đốc ». Theo Wikipedia, khi kiểm kê tiếp thu, trong kho hầm sắt Ngân hàng Quốc gia Việt Nam có 1.234 thoi vàng và một số tiền cổ bằng vàng, tức hơn 16 tấn. Đó là tài sản quý kim và tiền tệ của nước Việt Nam Cộng hoà. Sau đó, đến phiên tiền tệ của người dân được cướp đi bởi các cuộc Đổi tiền.

Tuy nhiên, khi ông cho biết ‘Trong kho dự trữ còn có 125 tỉ tiền in theo kiểu mới chưa phát hành, riêng số giấy bạc này được lệnh phải thiêu hủy, vì đó là số giấy bạc mà chính quyền Sài Gòn chuẩn bị để đổi tiền’. Từ ‘đổi tiền’ mà ông nói ở đây không cùng nghĩa vì đó là những tờ giấy bạc có mệnh giá lớn được in chờ ngày phát hành. Ngày phát hành được cơ quan thẫm quyền loan báo trước và, đến ngày đó, Viện phát hành giao lượng giấy bạc này cho các ngân hàng hay những ngân khố để chi trả cho người thụ hưởng hợp pháp đúng định giá. Đồng thời, Viện này cũng có thể chỉ định thu hồi các loại tiền khác để tiêu hủy.

Ngày 25.09.1975, nhân viên tất cả các Bàn đổi tiền được tập họp về vũ trường Maxime cũ để tổng kết. Nhân dịp này, Bí thư Thành ủy khen chiến dịch ‘Đổi tiền’ đã đạt thành quả tốt đẹp hơn cả chiến dịch Hồ Chí Minh (chiếm Miền Nam) vì khi thảo luận chiến dịch này, Bộ Chính trị nắm vững quân số và phương tiện, nhưng khi ‘Đổi Tiền’ thì họ không có đủ số nhân sự động viên cũng như số lượng tiền cũ và công việc. Sau đó, tôi đã làm công tác thống kê.

Các vị ‘đỉnh cao trí tuệ’ muốn có những số liệu tiền mặt của những gia đình mà gia trưởng là các sĩ quan hay công chức đang ‘đi cải tạo’, nhưng khi lập bảng Thống kê, vì các ông đang vắng mặt, các bà đã đứng đơn xin đổi tiền và chỉ ghi nghề nghiệp mình đang làm hay nội trợ. Nhờ đó, tôi cảm thấy nhẹ nhàng…  Sau đó, theo Wikipedia, từ đầu năm 1976, các gia đình có tiền đổi được phép rút 30 đồng mới mỗi tháng, nhưng đến tháng 12/1976 thì trương mục được khóa lại.

Đổi tiền ngày 03/5/1978

Sau khi thống nhất Việt Nam năm 1976, đảng Lao động Việt quyết định xã hội chủ nghĩa hóa nền kinh tế thị trường, theo nghị quyết khóa III, xóa bỏ tư sản thương mại và dân tộc, xây dựng hợp tác xã,… Kỳ Đổi tiền 1978 được quyết định bởi Thủ tướng bởi sắc lệnh số 88 CP ngày 25.04.1978 và khai triển ngày 03.05.1978. Theo đó tiền tệ hiện lưu hành tại hai miền Nam Bắc hết giá trị giao hoán và những ai đang sở hữu tiền cũ này phải đem đổi lấy tiền mới.

Dân thị thành được đổi tối đa:

- 100 đồng cho mỗi hộ 1 người;

- 200 đồng cho mỗi hộ 2 người;

- Hộ trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 50 đồng/người;

- Tối đa cho mọi hộ thành phố bất kể số người là 500 đồng.

Dân quê được phép đổi theo ngạch sau:

- 100 đồng cho mỗi hộ 2 người ;

- Hộ trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 30 đồng/người;

- Tối đa cho mọi hộ dưới quê bất kể số người là 300 đồng.

Số tiền đang có trên mức tối đa phải khai nộp và ký thác vào ngân hàng. Khi cần dùng có lý do chính đáng thì tiền đó có thể rút ra. Một điều buộc nữa là trương chủ phải chứng minh số tiền này là tiền kiếm được bằng sức lao động chân chính.

Đang làm việc tại Phòng Tiền tệ Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, tôi tham gia Kiểm tra Tồn quỹ các cơ quan nhà nước tại Thành phố, đặt tại lầu 10 Ngân hàng Thành phố. Tổ (đơn vị kiểm tra) gồm một Tổ trưởng (tại Tổ chúng tôi: một lãnh đạo Ngân hàng Kiến thiết, vui tính và biết điều), một công an cấp tá giáo điều và chúng tôi hai kế toán.

Cơ quan đầu tiên mà Tổ kiểm tra tiếp là Trường đại học Y khoa. Sổ sách kế toán và tồn quỹ phù hợp qui định Ngân hàng Thành phố, nhưng hơi cao. Lý do mà mọi người điều biết : Tiền mặt không được giữ tại cơ quan quá định mức, nhưng khi cần thì Ngân hàng không có đủ để cung ứng. Sau đó, khi làm việc với một đơn vị quân báo và tìm thấy những số tiền mặt được dùng để chi trả cho việc may quân phục đen. Tổ trưởng đặt câu hỏi và được trả lời là để giả lính Khmer đỏ và xâm nhập và Cam bốt. Lúc đó, Khmer đỏ thỉnh thoảng tấn công Việt Nam và giết người Việt và Việt Nam chuẩn bị đánh vào Cam bốt năm 1979.

Cơ quan mà việc kiểm tra kéo dài và khó khăn nhứt là Trường Đảng, đặt tại Trường Bộ binh Thủ đức cũ. Khi tiến hành kiểm tra, vài thành viên Trường Đảng đã đưa cao tay cho thấy họ có súng…

Sau một ngày làm việc không kết quả, hôm sau, trước khi bắt đầu, Trưởng đoàn cho biết : tối hôm qua, Đảng ủy Trường đã họp và quyết định nói thật…

Khi kiểm tra sổ kế toán, tôi thấy ngay có nhiều trang không có số cộng từ trên xuống không có, nhưng có số mang sang trang sau. Tôi hỏi tại sao như vậy ? Trong khi một cô kế toán ‘sếp’ đang cố gắng giải thích thì cô kế toán kia nhỏ nhẹ ‘ba em đi học tập’ khiến tôi nghĩ đến tình chiến hữu (dù là quân nhân, cảnh sát hay công chức cũng phụng sự Tổ Quốc  Việt Nam Cộng hòa). Do đó, tôi khuyên hai cô phải làm thế nào để đúng, nhưng rồi xếp sổ lại. Cơ quan ‘Khám Chí hoà’ cũng có những vi phạm, nên giờ cơm trưa, Tổ trưởng và Trung tá công an được mời về ăn. Buổi chiều, sau khi làm Biên bản kiểm tra tồn quỹ, trong khi tôi đánh máy năm bản, Trưởng đoàn nhà tù mời các thành viên Tổ uống bia. Tôi từ chối. Mang bia đến, nhưng không có ly, nên phải đến nhà bếp mượn để uống khiến thành viên các Tổ khác biết. Rồi vì ghen ghét không được uống bia, nên họ đã họp toàn thể các Tổ để tố quê nhau…

Đổi tiền ngày 14.9.1985

Ngày 12-9-1985, báo Tuổi Trẻ đăng tại trang nhất: ‘Bẻ gãy thủ đoạn tung tin đổi tiền của gian thương’và đã viết: ‘Với sự tăng cường hiệu lực của bộ máy chuyên chính vô sản mọi hậu quả tin đồn phải được thanh toán triệt để’. Thế rồi, sáng 14.09.1985, hệ thống loa phóng thanh đường phố loan tin Đổi Tiền. Đó là sự khác biệt giữa biện pháp do cộng sản chủ trương và những sự Đổi Tiền ở những nước dân chủ mà chúng ta đã xem khi bắt đầu bài này. Trước cướp đó, Phan Văn Khải, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Phan Văn Khải viết báo biện luận ‘Đổi tiền là vì lợi ích của nhân dân lao động’.

Vì đang hành nghề cho doanh nghiệp tư nhân, nên tôi không bị buộc phải tham gia Đổi tiền lần này.

Nẩy mầm trong Tự do

Hồ Phú Bông
Theo RFA-2015-04-24
000_ARP3893347.jpg
Bộ đội Bắc Việt tuần tra các đường phố Đà Nẵng hôm 21/4/1975- AFP photo

Chúng tôi cưới lúc HH đang học năm cuối bậc cử nhân tại viện Đại Học Đà Lạt. Cưới xong, sống với đồng lương lính Việt Nam Cộng Hòa mà phải mướn nhà để ở nữa thì dễ dàng hình dung được chúng tôi đã sống như thế nào. Nhưng rất hạnh phúc!

Chấp nhận như thế với hy vọng sau khi HH hoàn tất Đại học sẽ bắt tay vào gầy dựng tương lai. Chúng tôi không có giấc mơ của cô bé đang đội thúng trứng trên đầu mà mơ có một đàn gà, rồi bán đàn gà để mua con bò sữa... mừng đến nỗi nhảy cẫng lên làm thúng trứng rơi xuống đất. Không, không mộng mơ như thế. Nhưng lịch sử miền Nam bị sang trang đột ngột chúng tôi bỗng chốc trở thành cô bé đó. Và còn hơn thế nữa. Không những vỡ mấy cái trứng trên đầu mà còn vỡ nát cả trái tim! Giấc mơ bị gãy đổ. HH trở thành nạn nhân của học lực. Tôi trở thành nạn nhân của “ôm chân đế quốc, bán nước cầu vinh”.

Chế độ mới đẩy HH về vùng Kinh tế mới. Đẩy tôi vào trại Tập trung cải tạo! Đêm đêm phòng họp đốt đèn dầu. HH ôm đứa con mới sinh vào lòng để nghe xỉa xói “tội ác ngụy quân/ngụy quyền”, để biết như thế nào là “công điểm/hợp tác xã”. Như thế nào là cuốc đất, trồng khoai, làm cỏ... Biết “bình bầu tiên tiến”. Biết như thế nào là “lao động là quang vinh”! Tôi phải biết như thế nào là “ăn gan người, uống máu người”! Phải biết như thế nào là “khoan hồng nhân đạo của chế độ ưu việt Xã hội Chủ nghĩa”, là “đỉnh cao trí tuệ của loài người”...! Còn Thông cáo “Tập trung 10 ngày” trở thành thời gian lê lết từ trại giam nầy đến trại giam khác, từ Nam ra Bắc. Thân tàn ma dại từ giữa rừng thiêng đến hai vòng tường cao nghễu nghện có công an canh gác ngày đêm, với hai ba tầng cửa khóa, với tháng năm vô tận! Phải hiểu ra là “ngày XHCN” khác hẳn với ngày thường. Thời gian của XHCN là thứ thời gian khác, không phải tính bằng vòng quay trái đất, ngày/đêm có 24 giờ!

Điều lạ lùng nhất là cùng là người Việt Nam, cùng trên một đất nước mà họ gọi là “Thống Nhất”, nhưng đem lưu đày chúng tôi ra phía Bắc? Tại sao trước khi đưa chúng tôi đến một vùng nào thì đã tuyên truyền cho đồng bào sống quanh đó rằng chúng tôi là “bọn giết người”, “ăn thịt người” như trở bàn tay? Chế độ đã “giáo dục” người miền Bắc ghê tởm người miền Nam, rồi tin tưởng như thế, nên đưa chúng tôi ra đó để lưu đày!

Dày công “giáo dục” kỳ thị Bắc/Nam đến đỉnh điểm như vậy rồi bây giờ lại ra Nghị quyết 36, kêu gọi “Hòa hợp Hòa giải”!

Nếu “ngụy quân, ngụy quyền” là “ác ôn, là nợ máu” thì càng nên nhốt tù chúng tôi tại ngay nơi chúng tôi đã sống, đã gây ra “tội ác” để hàng ngày trực tiếp nhận “hậu quả” khinh bỉ của người miền Nam! Hẳng đây là cách cải tạo nhanh nhất và đúng nhất. Thế giới sẽ thấy được chế độ mới là “tốt lành”, “ngụy quân, ngụy quyền” cần phải “ăn năn, hối cải”!

Biến cố Mậu Thân 1968 làm sụp đổ không biết bao nhiêu giấc mơ của thanh niên miền Nam. Đang học, đang có công việc tốt bỗng bị Tổng động viên. Mà không bị Tổng động viên cũng nhập ngũ vì chiến tranh đã đến từng góc phố, từng gia đình. Xã hội miền Nam hỗn loạn. Bọn hoạt đầu chính trị, bọn giựt dây, bọn cán bộ nằm vùng xé nát từng gia đình, từng mảnh đời, từng ước mơ. Tại các thành phố thì đặc công gài bom, trường học bị pháo kích (chính xác là khủng bố nếu theo cách gọi bây giờ). Giao thông thì đường bị đắp mô, mìn nổ, xe lật, cầu sụp. Ở quê thì ngày Quốc gia/đêm Cộng sản. Bóng đêm là tội ác bao trùm.

Những người Quốc gia có uy tín thường là nạn nhân bị giết rồi vùi thây trước khi trời sáng. Kẻ thù bây giờ là chiến tranh nhiều mặt. Là du kích. Máu người miền Nam đổ càng nhiều thì người miền Nam không thể đứng khoanh tay. Sợ chết, sợ lắm nhưng phải cầm súng. Phải lên đường! Lên đường mà không biết đích thật chân tướng kẻ thù, vì họ cùng nhân dáng, cùng ngôn ngữ, nếu không muốn nói “cũng là chỗ quen biết”, chỉ khác nhau khối óc. Khối óc họ bị đầu độc bằng hai loại “thuốc mê” cực kỳ nguy hiểm. “Thuốc mê” Mù quáng và “thuốc mê” Căm thù! Hậu quả là mãi đến 40 năm sau trong số họ vẫn có người còn bị ngấm nặng!

Họ là cộng sản từ miền Bắc xâm nhập. Họ là Mặt trận Giải phóng miền Nam nối dáo!

Vì lệnh Tổng động viên nên các Quân trường Sĩ quan không đủ chỗ, chúng tôi bị đưa vào Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, chịu 2 tháng huấn nhục tại đó trước khi chuyển tiếp. Tôi còn nhớ trong Đêm Văn Nghệ ngoài trời, ngồi bệt trên cỏ nghe một nam ca sĩ hát “... người yêu tôi tôi mới quen mà thôi...” để xúc động. Nếu ở miền Bắc thì người viết và người hát bài nầy trong bối cảnh như thế sẽ bị tội nặng! Chỉ một điều nhỏ nầy thôi đã cho thấy sự khác biệt lớn giữa Cộng sản và Tự do.

Thời đó mà cầm được bàn tay người mình yêu là đã tuyệt vời, huống gì để nói chuyện lên đường! Mái tóc phủ gáy của bọn tôi vừa mới bị hớt “cua”, mới lớ ngớ tập cà phê/thuốc lá. Đêm trực ứng chiến ở giao thông hào mới biết cắt cử đứa lén đi mua bia. Vâng, bỏ lại người yêu sau lưng, bỏ lại thành phố, bỏ cả tương lai để đi vào vùng khói lửa nên tập tễnh...“Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?”!

Tôi đã ghi lại cảm xúc ngày đó trong một bài thơ mà cho đến bây giờ đọc lại vẫn còn “thấm”.

“... Tôi khôn lớn trong lời ru của mẹ

Nhịp võng ầu ơ trăng sáng lúa vàng

Tiếng hát câu ca điệu hò đôi lứa

Yêu quê hương qua lũy tre làng...”

Vì thế, thật đau khi phải cầm súng “bắn” lại chính trái tim mình:

“... mũi súng vô tình bắn lại trái tim

Trái tim có lũy tre, cây đa bóng mát,

có làng xóm thanh bình mùa rộn tiếng chim...”

Trong khói lửa, tôi cầm súng với tâm trạng lơ ngơ lớ ngớ như thế đó!

Khi bị đày ải trong các trại tù từ Nam ra Bắc tôi mới nhận ra “thua là phải rồi”! Một bên lơ ngơ lớ ngớ tự vệ (như tôi) còn bên kia thì hừng hực căm thù nổ súng. Chiến tranh không có thứ chiến lược tự vệ mà thắng, ngoại trừ chiến thuật tự vệ chờ đối phương kiệt sức! Việt Nam Cộng Hòa đã tự vệ mà hậu phương thì bị bọn nối dáo gây hỗn loạn, rồi mất cả hậu cần khi “Đồng Minh tháo chạy”, trong lúc phía bên kia vừa bất chấp máu xương, vừa được cả khối cộng sản hỗ trợ liên tục khi chữ ký trên Hiệp Định Ba Lê chưa kịp ráo mực. Và cho ghi sổ nợ! Sau nầy thư khố mới phanh phui ra được tài liệu tuyệt mật là văn bản Phạm Văn Đồng ký từ năm 1958 dâng biển đảo cho Trung cộng làm quà để vay súng đạn. Để tiêu diệt anh em nhân danh “cứu đói miền Nam” và “chống đế quốc Mỹ xâm lược”!

Kết cuộc bên thua bị nhốt tù. Bên thắng thì phải gửi thanh niên làm lao nô tại các nước cộng sản để trả nợ chiến tranh!

Đó là thân phận người Việt Nam do chế độ cộng sản mang lại!

Nợ máu xương với nhau là điều không thể chối cãi, đành thế! Nhưng còn nợ chia rẽ, hận thù thì dai dẳng những 40 năm mà vẫn còn như mới! Người miền Nam sau cú ngất 30 tháng Tư đang từ từ hồi tỉnh! Phe thắng thì đang cố che dấu sợ hãi bằng những lễ hội “hoành tráng”. Họ cho tổ chức rầm rộ ngày “Giải Phóng”. Năm nay sẽ có 6.000 quân với vũ khí hiện đại, diễu hành ngay tại trái tim của miền Nam, Sài Gòn! Họ muốn chứng tỏ sức mạnh nhưng chắc không phải với kẻ thù đang xâm lược (!) vì nếu như thế họ phải tổ chức ngay tại Hà Nội hoặc các tỉnh sát nách với kẻ thù! Còn tổ chức tại Sài Gòn thì đã hẳn là có mục đích khác. Là muốn phô trương công cụ đàn áp trước sự hồi sinh lòng yêu nước, chống độc tài đảng trị bóc lột đang trỗi dậy trên cả nước, đặc biệt là người miền Nam, để răn đe biến cố có thể xảy ra. Như 90 ngàn công nhân hãng Pou Yuen, Bình Dương, đình công chống chế độ về luật Bảo hiểm An sinh Xã hội mà quốc hội của họ mới thông qua. Như “gia đình Đoàn Văn Vươn miền Nam” Nguyễn Trung Can & Mai Thị Kim Hương bị cưỡng chiếm đất ở Thạnh Hóa, Long An phản ứng bằng acid, bình ga. Như đồng bào Vĩnh Tân, Ninh Thuận vừa nghèo, vừa ngộp thở vì bụi xỉ than do nhà máy Trung Quốc thải ra, dân kêu gào nhưng cứ bị làm ngơ, cùng đường đành liều mạng chận Quốc lộ-1A, dùng gạch đá, bom xăng để phản đối...!

Chế độ đang dùng súng đạn phô trương sức mạnh với người dân thay vì với kẻ thù! Như chính ông Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng quốc phòng, đã tuyên bố “vấn đề xung đột giữa Việt Nam với Trung Quốc chỉ là chuyện xích mích giữa anh em trong nhà”! Còn hệ thống pháp luật thì phiên xử về cái chết của nghi can Ngô Thanh Kiều ở Tuy Hòa, đã nói lên tất cả. 5 sĩ quan công an đánh chết nạn nhân ngay tại đồn mà nhận án treo nên dư luận phẫn nộ. Vì thế Chủ tịch nước phải trấn an, ra lệnh xử lại. Nhưng bản án xử lại, cho dù được chuẩn bị kỹ, cũng chẳng làm ai hài lòng. Biết rõ như thế nên chính quan tòa phải họp báo ngay sau phiên xử để thanh minh, ông nói nguyên văn là “Không phải án bỏ túi”!

Được tin tôi ra tù, HH bỏ vùng Kinh tế mới về lại Sài Gòn, mang về hơn nửa tạ khoai lang củ, 1 con gà trống thiến và 50 đồng! Có tiền tôi hí hửng cùng đứa bạn, ra tù trước tôi, và đứa em út ghé Phở Quỳnh đường Trương Minh Ký (cũ), thêm 2 cái cà phê “xây chừng”, đến lúc trả tiền mới bật ngửa! Trong đầu tôi vẫn nghĩ 1 đồng VC đổi những 500 VNCH nên có được 50 là lớn lắm. Hóa ra tiền HH cắc củm bao nhiêu năm ở Kinh tế mới chỉ còn dư lại mấy đồng lẻ! Sống với cha mẹ và nhà của chính mình nhưng không có “hộ khẩu” nên “bất hợp pháp”.

Cuối cùng, công an khu vực đến nhà trao tôi lệnh trục xuất. Phải rời khỏi thành phố trong vòng 48 giờ! Đến bây giờ tôi vẫn không thể hiểu được thứ luật rất lạ lùng đó. Chúng tôi sống trong gia đình của chính mình mà “bất hợp pháp”! May mắn, ngay đêm đó bạn tôi đến nhà thông báo việc chiếc ghe vượt biên, chuẩn bị ra ngã Cửa Đại, Mỹ Tho bị “bể”[1] nên phải đi cấp tốc. “Bỏ của chạy lấy người”! Tôi rời gia đình trong đêm, chịu “nhốt gà”[2] ngoài bãi hai ngày đêm để chôn dầu vượt biển, bỏ lại vợ con sau lưng! Cuối năm 1991 chúng tôi được đoàn tụ tại vùng đất Tự do. Tính ra cưới nhau chưa tới 2 năm đã phải chia tay ròng rã 12 năm!

Tranh thủ thời gian còn có thể, HH và hai con chúng tôi đến trường ngay. Cuối cùng cả ba mẹ con đều thành công. Xin cám ơn nước Mỹ bao dung. Một đất nước bình đẵng cho mọi người, mọi cơ hội!

Nhìn lại, chúng tôi như những hạt giống bị giẫm đạp, “trầy vi trốc vảy” ngay trên chính quê hương nhưng may mắn chưa bị giập nát nửa chừng, nên khi đến được vùng đất tốt lại lặng lẽ nẩy mầm. Một vài cháu tại địa phương khi gặp chúng tôi thường đùa với HH: “Cô mà học được thì tụi cháu không có lý do gì để bào chữa tại sao không học nỗi”!

Chúng tôi là những hạt giống vừa cỗi, vừa bị thương tích trầm trọng nhưng may mắn gặp được đất tốt nên còn cơ hội để nẩy mầm, trong lúc đó, những hạt giống nguyên thủy Việt Nam, ngay trên đất mẹ, lại bị thứ “văn hóa Xã hội Chủ nghĩa” đầu độc tàn nhẫn. Xem những video-clips phát tán trên Net thấy các cháu nữ sinh còn quá bé bỏng, lẽ ra là biểu hiện của ngây thơ trong trắng, của dịu dàng, là nét độc đáo Văn hóa Việt Nam trong thơ văn, đã đánh nhau công khai trong lớp học, ngoài đường phố, lột áo quần nhau... trước nhiều người đứng xem và cổ vũ. Học đường mà như thế thì tương lai Việt Nam sẽ về đâu?

Thời gian đã đằng đẵng 40 năm chứ ít ỏi gì và dân số đang là 80 - 85 triệu liệu vẫn cam tâm cúi đầu? Khi người dân cúi đầu thì gông cùm kiềm kẹp tăng thêm. Nhưng khi ngẩng đầu, như 90.000 công nhân Pou Yuen vừa rồi, thì chế độ sợ hãi. Sợ hãi nên vội vàng chấp nhận yêu sách!

Một chế độ nhìn đâu cũng thấy kẻ thù là dấu hiệu rõ nhất của sợ hãi cao độ! Vấn đề còn lại là người bị trị biết đoàn kết và ngẩng cao đầu!

Hồ Phú Bông, 19/4/2015

Tiếng lóng: [1] là bị lộ [2] số người vượt biên được phân tán nhỏ, gửi ở từng nhà.

Wednesday, April 22, 2015

Lịch sử nhìn từ âm bản

Đặng Thơ Thơ
2015-04-21  

Ánh mắt thất thần của những người di tản tháng 4/1975-Files photo

Hàng năm cứ vào tháng tư, lúc cơn gió Hạ Lào khắc nghiệt xoáy về thành phố, những đám mây màu da cam lại bắt đầu phát sáng trên không, ký ức của tôi lại bừng sống dậy với những hình ảnh của một cuộc chiến không thể nào tàn. [1]

30 tháng 4 năm 1975 là ngày miền Nam tiếp thu miền Bắc. Xe tăng Việt Nam Cộng Hòa đi từ năm cửa ô tiến vào đường Thanh Niên. Dân chúng đứng hai bên đường cầm cờ vàng ba sọc đỏ vẫy chào. Gió lùa lên từ hai phía hồ Tây và hồ Trúc Bạch phe phẩy những giải khăn tang trắng cột trước nòng đại bác. Những người lính thuộc nhiều binh chủng đều bị trọng thương, nhưng họ vẫn đứng nghiêm trong tư thế trình diện nhân dân Hà Nội. Xe tăng đi ngang Văn Miếu, vòng quanh chùa Một Cột rồi chuyển hướng tiến về phía quảng trường Ba Đình. Buổi trưa, tiếng xích sắt chiến xa nghiến rát bỏng trên mặt đường tráng nhựa.

Cả thế giới bàng hoàng chứng kiến lịch sử trên những màn ảnh TV đen trắng. Ngày tàn của cuộc chiến. Cộng sản đã quy hàng. Nước Mỹ ngạc nhiên đến câm lặng và Kissinger buột mồm chửi Fuck! Tiếng chửi đã được đài BBC thu lại, được cả tỷ lỗ tai loài người thu lại. Sau này ông ta đã viết khá nhiều cuốn sách để bôi xóa nó đi.

Ký ức của một người bị bắn vào đầu sẽ có nhiều sai lệch.

Những gì tôi nhớ được đến ngày hôm nay, là do tôi cất giữ ở trong đầu. Nếu họ đập đầu tôi lúc đó, họ sẽ nhìn thấy…
Xe tăng tiến từ từ đến quảng trường Ba Đình trong tiếng hô hào vang dội, rồi xe quay về

phía lăng Hồ Chí Minh. Nhưng xe tăng không ủi xập tường, không phá hủy lăng như người ta tưởng. Quân đội miền Nam giữ đúng tư cách, họ giải giới vũ khí trong tinh thần nhân bản. Xe tăng ngừng giữa những hàng cây. Gió tháng tư hiu hiu ngọt mùi hoa sữa. Những ủy viên trung ương đảng cộng sản đang đứng dưới cột cờ. Họ đã bỏ quần áo đại cán thay trang phục thường dân. Họ gỡ lá cờ đỏ sao vàng xuống. Những người lính miền Nam lặng lẽ làm nhân chứng. Cuộc hạ kỳ nào cũng làm chúng ta bùi ngùi, dù lá cờ thuộc về phe nghịch. Đây là lúc gấp lại quá khứ như thể quá khứ chỉ là một mảnh vải hình chữ nhật, một mảnh vải che vừa vặn chiếc quan tài.

Đầu những người lính miền Nam vẫn còn quấn băng che lỗ đạn bắn vào màng tang hôm trước. Dáng họ lảo đảo. Có thể thấy máu vẫn còn chảy bên dưới mớ tóc dính bệt trán, bên dưới thái dương…

Ký ức tôi rất nhạy với mùi máu. Máu vẫn còn rỉ trong đất dù những xác chết đã ngưng thở. Chín cái xác người vẫn còn nằm đó, đại tá Đặng Sĩ Vinh và vợ con, mỗi người một viên đạn ghim giữa sọ. Những lá cờ vàng ba sọc đỏ đang che phủ thi thể và xác chết trở thành biểu tượng bình lặng nhất của cuộc chiến.[2] Nhưng mùi máu vẫn đi xuyên qua vải, xộc lên mũi, lạnh óc. Mà máu đâu chỉ là máu thôi? Máu còn là nước rửa tội. Có những tội lỗi chỉ rửa sạch được bằng máu này. Sự phản bội chẳng hạn. Cho nên chúng tôi cần nhiều máu lắm, để lau chùi sự phản bội của một tập thể, của những hiệp ước, của trước và sau chiến tranh, của một vị tướng ngang tàng đến đứa con cầu tự[3]. Sự phản bội không thuộc riêng ai, nó như thuộc tính của con người.


Di tản tháng 4/1975

Vậy là cuộc giải giới đã hoàn thành trong tình huynh đệ. Họ đã bắt tay nhau. Người chiến thắng đã đưa tay ra trước. Tấm hình người bộ đội và lính biệt động đứng cạnh nhau đã xuất hiện trên trang nhất của các nhật báo toàn cầu. Báo Times còn tiết lộ họ chính là anh em ruột (nguồn tin lấy từ tờ Chính Luận – Sài Gòn).

Trong buổi lễ bàn giao ở trụ sở Trung Ương Đảng Hà Nội, người chiến thắng đã nói:

“Trong chiến tranh, chúng ta dù theo đuổi những lý tưởng khác nhau, đều đã hành xử như những người lính can trường. Nỗ lực này cần phải được ghi nhận từ mọi phía. Con cháu chúng ta khi học lịch sử Việt Nam sẽ không khen người thắng không chê kẻ bại, nhưng sẽ ghi nhận sự can trường hay hèn nhát của những người tham chiến [4].

Chúng tôi sẽ không bắt giam những người cách mạng. Bộ đội không phải đi học tập cải tạo, không phải lao động khổ sai. Ngay cả đảng viên cũng vậy. Chúng tôi sẽ không xử tử chủ tịch nước, không đấu tố tổng bí thư, không chôn sống bộ chính trị. Những nhà tù sẽ phải phá đi. Ba mươi năm qua chúng ta đã chơi một trò chơi điên rồ, và cám ơn Trời Phật, trò chơi đã chấm dứt.”

Ký ức tôi vẫn chơi trò nhìn từ âm bản, nhìn bóng tối thành ánh sáng, nhìn trắng thành đen, nhìn cỏ xanh thấy ra máu đỏ.

Tôi đang xoay chiều lịch sử trong thế giới của riêng mình, lịch sử của những người đã chết. Đó là một lịch sử rất hiền, hiền như bài luận văn ngày khai trường của tuổi thơ Nam bộ. Bài luận văn được nắn nót viết bằng mực tím.

Nhưng lịch sử không viết bằng mực tím.

Dưới chân tượng người lính Thủy Quân Lục Chiến, những giọt máu cuối cùng của Nguyễn Văn Long đang trút xuống để viết lên lịch sử. Máu tuôn ồng ộc trên những bậc thang. Máu rút qua khe cỏ thấm giữa lòng đá, máu trở về đất và nằm mãi nơi đó. Pho tượng lính đã bị kéo xập. Gạch vụn đổ lên xác người thiếu tá. Mỗi người có cách viết lịch sử riêng của họ. Người ta đã bôi xóa nhiều thứ khỏi thực tại nhưng vẫn còn ký ức là vùng bất khả xâm phạm. Bạn tôi Hồ Ngọc Cẩn đang đứng giữa phiên tòa công cộng. Anh đã dùng đến viên đạn cuối cùng. Đến phiên những người công an chĩa súng và bạn tôi trở thành tên phản động, thành tay sai đế quốc, thành kẻ phản bội nhân dân. Bản án của họ vội vã, lấp liếm, trá ngụy. Họ xử tử ngay giữa chợ. Hồ Ngọc Cẩn nói: “Cho tôi mặc quân phục miền Nam, cho tôi chào lá quốc kỳ lần chót, rồi hãy bắn tôi.”

Trong ba điều ước, người cộng sản chỉ cho anh điều cuối.

Những anh hùng liệt sĩ hai miền đang gượng dậy từ cuộc mất máu. Lê Anh Tuấn không nhặt khẩu colt .45 văng giữa lòng thuyền. Lê Văn Hưng nhét súng lục dưới nệm và bỏ quên ở đó. Lê Nguyên Vỹ bước tới tương lai, khẩu súng để lại dưới cột cờ của tổng hành dinh doanh trại[5]. Vũ khí không còn hữu dụng nữa. Họ cùng Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai và Nguyễn Khoa Nam đang chỉ huy đoàn xe tăng đi ngược đường Trường Sơn, theo Quốc Lộ 1 băng qua những vùng chiến thuật. Khắp nơi mặt đất nở hoa huệ trắng. Chỉ có mùi huệ tinh khiết mới át nổi mùi tử khí còn tươi roi rói.

Ra đến Bắc, đoàn xe tăng biến thành xe tải đi khắp thành phố làng mạc. Những chiếc xe tải mang gạo, mang nhu yếu phẩm, mang thuốc men, mang sách vở từ trong Nam ra phân phát cho dân miền Bắc.

Dân chúng ùa ra đường ăn mừng hòa bình. Những người con bộ đội đã trở về. Lưu Quang Vũ ngồi viết những bài thơ khác, trên sân khấu của anh là những vở kịch khác và một định mệnh khác ngoài đời. Dương Thu Hương nếu có khóc cũng sẽ là những giọt nước mắt khác, trên những vỉa hè khác, cho những thân phận khác. Truyền hình trên thế giới nhận định: “Đây mới là đổi đời thật sự. Người miền Bắc ăn mừng sự phá sản của chế độ tem phiếu và hộ khẩu. Họ ăn mừng ngày tàn của chế độ cộng sản. Từ nay trở đi, chuyện đấu tranh giai cấp chỉ là một khái niệm gớm ghiếc. Những từ ngữ ghê rợn như tịch thu nhà, đánh tư sản, kiểm kê, kinh tế mới… chỉ là những giải nghĩa lỗi thời trong tự điển. Cơn ác mộng của miền Bắc ba mươi năm ‘kháng chiến chống Mỹ’ đã qua đi.”

Cơn ác mộng sẽ qua đi nếu chúng ta bám cứng vào cuộc sống? Buổi chiều trên dốc Thiên Thu, những vong linh ở nghĩa trang Quân Đội bay chập chờn lên đỉnh núi Châu Thới, những vong linh nhìn về trời và hát vu vơ:

“Chiều lên trên đồi cao, hát trên những xác người, tôi đã thấy tôi đã thấy…”


Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng Trần Văn Hai tuẫn tiết trong ngày 30/4/1975.

Trên cuộc đời, những hiện thực này không phủ nhận nhau. Những hiện thực của âm và dương không triệt tiêu nhau. Chúng cùng tồn tại.

Ủy ban quân quản miền Nam quyết định lưu giữ tất cả những di tích văn hóa lịch sử dựng lên từ thời cộng sản. Họ cũng quyết định không đốt sách, dù là sách tuyên truyền, dù là nghệ thuật minh họa. Tượng Lê-nin đứng gác công viên Hà Nội cũng để nguyên. Những bài ca từ thời hồng và chuyên cũng vậy. Âm nhạc sẽ đi qua cánh đồng thời gian không biên giới. Tiến Quân Ca vẫn cứ là niềm tự hào của nhiều thế hệ từng tham gia kháng chiến.

Ký ức tôi rất dễ bị tổn thương với những bài ca. Những ca khúc có khả năng chứa đựng ký ức giúp con người. Những lời ca vẫn làm tôi phải khóc như một đứa bé thơ: Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi, đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống… Bài hát đầu tiên trong đời sẽ là bài ca cuối cùng cưỡng chống lại quá trình tẩy xóa của quyền lực trên trí nhớ. Một nguyên tắc mặc nhiên đã ngấm vào ý thức: Dù cho thây phơi trên gươm giáo, thù nước lấy máu đào đem báo… Công dân ơi mau hiến thân dưới cờ…

Bài ca này anh em chúng tôi sẽ hát trước giờ cố thủ, trước khi kề súng sát màng tang.

Họ đã thành công trong việc cố thủ Cần Thơ, đã giữ được quân khu 4 và bảo toàn tỉnh Chương Thiện. Đoàn xe khởi hành đúng ngày 30 tháng 4. Theo hoạch định, họ sẽ đến Hà Nội kịp thời để dự đám tang tập thể trên phố Khâm Thiên. Phát tang vào đúng giờ thả bom, cả khu phố khoác áo xô gai để trở. Cả trăm cỗ quan tài đặt tạm trên nền hố bom, gạch vỡ. Nến chảy leo lét giữa những căn hộ không mái không tường.

Mùi hương nặng mà vẫn không át nổi mùi tử thi trong trận dội bom B-52 hôm trước. Sáu giờ chiều là lúc cửa âm mở, là lúc những vong linh nhập vào làn khói đang bốc lên uể oải để hiện nguyên hình dạng. Khói hương lẩn khuất đọng giữa lối đi trên phố, không tan.

Đám tang xong, những người lính sẽ quay về Huế thăm nấm mồ tập thể từ sau cuộc thảm sát Mậu Thân. Đoàn xe của họ sẽ lại băng ngang vĩ tuyến 17, nhiều lần như vậy, ranh giới ấy bây giờ chỉ còn là một đường nứt đã phai mờ.

Đầu tôi mang một vết nứt rất tình cờ. Chính vết nứt đã làm mọi thứ không thể khít khao ăn khớp với nhau được nữa. Vết nứt là một biên giới trũng sâu đầy ma ảo. Chúng tôi đã vượt qua biên giới. Đất nước trải rộng trước mắt chúng tôi như cuốn phim chiếu lên màn trời: Đoàn xe băng ngang những giao thông hào, những đồi kẽm gai, những bãi mìn xương trắng. Những nấm mồ hoang quanh trại cải tạo. Những xác người phình trương sóng tấp vào bờ. Những căn nhà xiêu dột chỉ còn mẹ già nói chuyện với con trên bàn thờ liệt sĩ.

Chúng tôi đi ròng rã nhiều năm, vẫn đang đi tới, đi không ngừng nghỉ. Chúng tôi đi theo dấu máu chảy và máu chúng tôi vẫn đổ ra không thể nào cầm. Máu của chúng tôi phải dư thừa, phải sung mãn, phải đủ để chia đều cho lương tâm thắng trận và danh dự của miền Nam bại trận.

[1] Phỏng theo câu mở đầu trong bài văn Ngày Tựu Trường của Thanh Tịnh: “Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc…”
[2] Đại tá Đặng Sĩ Vinh cùng vợ và bảy người con cùng tự sát vào ngày 30 tháng 4, 1975 tại nhà riêng.
[3] Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, tác giả cuốn hồi ký Con Cầu Tự, đã quay về định cư ở Việt nam.
[4] Dựa theo nhận định của Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại trong cuốn hồi ký Can Trường Trong Chiến Bại.
[5] Thiếu tá Hải Quân Lê Anh Tuấn sau lệnh bỏ súng của tổng thống Dương Văn Minh vẫn hiên ngang chỉ huy đoàn chiến đỉnh về Bến Lức. Khi bị chận đêm 30 tháng 4, 1975, không còn lối thoát, thiếu tá Tuấn tự sát bằng Colt 45 chứ không chịu đầu hàng (theo Hồ Văn Kỳ Thoại). Tướng Lê Văn Hưng sau khi tự bắn vào đầu đã giấu súng dưới nệm, vì sợ vợ ông tìm thấy súng sẽ tự vận theo (theo lời kể của bà Phạm Thị Kim Hoàng, vợ tướng Hưng). Tướng Lê Nguyên Vỹ đã tự sát dưới cột cờ tổng hành dinh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Lai Khê trước sự chứng kiến của binh sĩ.

40 năm sau Chiến tranh Việt Nam: Ai vui, ai buồn?

Nhiều người tị nạn Việt Nam lúc đầu đã đặt chân tới một trại tị nạn dựng lên tại căn cứ thủy quân lục chiến Camp Pendleton ở miền nam California.
Nhiều người tị nạn Việt Nam lúc đầu đã đặt chân tới một trại tị nạn dựng lên tại căn cứ thủy quân lục chiến Camp Pendleton ở miền nam California.
VOA Tiếng Việt
21.04.2015
Sau khi phải hủy bỏ kế hoạch kỷ niệm ngày 30/4 tại một căn cứ thuỷ quân lục chiến ở Nam California, người Mỹ gốc Việt ở tiểu bang California giờ đã tìm được một địa điểm mới, nơi họ có thể treo cờ và hát quốc ca Việt Nam Cộng hòa.

Hàng nghìn người đã bỏ chạy khỏi tổ quốc để tới Mỹ, và nhiều người trong số đó ban đầu đã đặt chân tới một trại tị nạn dựng lên tại căn cứ thuỷ quân lục chiến gọi là Camp Pendleton ở miền nam California.

Ông Jason Johnston, phát ngôn viên của căn cứ này, cho biết các quan chức tai trụ sở của lực lượng thuỷ quân lục chiến Mỹ nói rằng lá cờ của miền nam Việt Nam trước đây không thể được treo lên tại các cơ quan liên bang vì chính phủ Mỹ chỉ công nhận chính quyền Việt Nam hiện thời.

"Trong chương trình buổi lễ tại địa điểm mới này quốc kỳ và quốc ca Việt Nam (Cộng hòa) sẽ được tôn trọng và tôn vinh với các nghi thức nghi lễ của chương trình. Mục đích chính nữa là muốn cho giới trẻ Việt Nam biết và hiểu rõ rằng từ đâu mà người Việt Nam có mặt ở Hoa Kỳ, và hiểu rõ hơn về những thành quả, những đóng góp của người Việt trong 40 năm."-Ông Nguyễn Khanh, phát ngôn viên ban tổ chức lễ kỷ niệm 30/4.

Nay thì buổi lễ sẽ được tiến hành tại một trường trung học ở thành phố Garden Grove vào ngày 25/4 tới đây.

Ông Nguyễn Khanh, phát ngôn viên của Ban tổ chức sự kiện này cho VOA Việt Ngữ biết thêm chi tiết:

“Ban tổ chức dời địa điểm về trường trung học Bolsa Grande ở thành phố Garden Grove. Đề tài của chương trình đã đổi từ “Hành trình đến tự do và vươn tới” thành “Ngày tưởng niệm quốc hận năm thứ 40”, năm thứ 40 sau chiến tranh Việt Nam, miền nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản và hàng trăm người tị nạn Việt Nam đã rời Việt Nam để tìm đến bến bờ tự do. Chắn chắn trong chương trình buổi lễ đó tại địa điểm mới này quốc kỳ và quốc ca Việt Nam (Cộng hòa) sẽ được tôn trọng và tôn vinh với các nghi thức nghi lễ của chương trình. Mục đích chính nữa là muốn cho giới trẻ Việt Nam biết và hiểu rõ rằng từ đâu mà người Việt Nam có mặt ở Hoa Kỳ, và hiểu rõ hơn về những thành quả, những đóng góp của người Việt trong 40 năm.”

Ban tổ chức cho biết, dự trù sẽ có từ 5.000 tới 10.000 người tham gia lễ kỷ niệm đánh dấu sự kiện mà nhiều người ở Mỹ gốc Việt hiện gọi là “ngày quốc hận”.

Trong khi đó tại Việt Nam, chính quyền sẽ tổ chức diễu binh và diễu hành với sự tham gia của hàng nghìn người tại TP HCM để đánh dấu ngày được gọi là “thống nhất đất nước”.

Ngoài ra, kế hoạch kỷ niệm được đích thân Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt còn bao gồm các hoạt động văn hóa và bắn pháo hoa tại nhiều địa điểm ở nơi từng được gọi là ‘Hòn ngọc Viễn Đông”.

Bình luận về các hoạt động rầm rộ này, luật sư Lê Công Định viết trên trang Facebook cá nhân: “Chiến thắng đồng bào ruột thịt mà diễu binh lớn để làm gì, hoà giải dân tộc kiểu này ư? Nói và làm khác xa nhau bởi suy nghĩ không đúng như lời, nó thể hiện ở hành động”.

Nhà bất đồng chính kiến này viết tiếp: “Cứ gợi nhớ quá khứ đau thương bằng những buổi lễ hống hách như vậy, thì trách chi bên kia luôn nhắc đến ngày ấy như ngày quốc hận. Muốn người khác quên thù hận và gác lại quá khứ, thì chính mình phải vượt qua sự cao ngạo của kẻ chiến thắng”.

"Chủ nghĩa này, chủ nghĩa kia, đã chia người Việt ra làm hai phía, và vì vậy đã xảy ra cuộc chiến. Vì vậy, bây giờ là lúc các anh chị em nên ngồi lại với nhau để mà cùng khôi phục lại đất nước. Nhưng muốn có tự do dân chủ, và khôi phục đất nước thì phải đấu tranh để chấm dứt sự độc tài của chính quyền cộng sản. Lúc đó mới hy vọng được rằng chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước được,"-Blogger Điếu Cày.

Trong khi đó, nhận định về tiến trình hòa giải dân tộc, blogger Điếu Cày nói với VOA Việt Ngữ từ Mỹ:

“Cái chủ nghĩa này, chủ nghĩa kia, đã chia người Việt ra làm hai phía, và vì vậy nó đã xảy ra cuộc chiến. Vì vậy, bây giờ là lúc các anh chị em nên ngồi lại với nhau để mà cùng khôi phục lại đất nước. Nhưng muốn có tự do dân chủ, và khôi phục đất nước thì phải đấu tranh để chấm dứt sự độc tài của chính quyền cộng sản. Lúc đó mới hy vọng được rằng chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước được, bởi vì hiện nay họ vẫn cho rằng chỉ có họ mới có quyền lãnh đạo đất nước. Như ông Võ Văn Kiệt đã nói, nước Việt Nam là của tất cả người dân Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam đều có quyền đóng góp và tham gia điều hành đất nước. Nước Việt Nam không phải của riêng một cá nhân hay tổ chức chính trị nào.”

Trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm ngoái, tại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang đánh giá cao vai trò của Việt Kiều tại Mỹ trong mối quan hệ song phương.

Tổng thống Obama nói cộng đồng này là ‘một trong những nguồn sức mạnh lớn giữa hai nước’ và là ‘chất keo dính bền chặt cho quan hệ của bất kỳ hai quốc gia nào’.

Đáp lại, ông Sang cũng ngỏ lời cảm tạ chính phủ Hoa Kỳ về ‘sự chăm sóc hết sức chu đáo’ đối với người Mỹ gốc Việt hàng chục năm qua.

Trong khi hai nhà lãnh đạo phát biểu, bên ngoài Tòa Bạch Ốc, hàng trăm người gốc Việt hô to các khẩu hiệu phản đối tình trạng vi phạm nhân quyền ở trong nước - một vấn đề ông Sang thừa nhận rằng Hà Nội và Washington vẫn còn nhiều điểm khác biệt.

Trả lời VOA Việt Ngữ khi ấy, nhà lãnh đạo Việt Nam bày tỏ mong muốn rằng người Mỹ gốc Việt sẽ làm “cầu nối” nhằm thúc đẩy mối quan hệ Hà Nội - Washington.