Tuesday, September 26, 2017

Bộ phim dài không có hậu

 Bùi Tín
Theo VOA-25/09/2017  
Poster của phim The Vietnam War.

Poster của phim The Vietnam War. Poster của phim The Vietnam War.

Bộ phim dài 10 tập (18 tiếng đồng hồ) của 2 đạo diễn Mỹ Ken Burns và Lynn Novick đã được trình chiếu rộng rãi trên TV cũng như trên internet.
Nhiều người chăm chú xem, thưởng thức và bình luận. Người khen khá nhiều, cho rằng các tác giả đã dày công sưu tầm, tuyển chọn những đoạn phim, hình ảnh tiêu biểu, quý giá nhất, có được cách nhìn khách quan, đa chiều.
Nhiều người phân vân, chê trách bộ phim có nhiều thiếu sót, chưa nói lên đầy đủ bản chất của cuộc chiến, tuy có đầu đề là «Chiến tranh Việt Nam», nhưng lại nặng về cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam!
Riêng với người Việt Nam, bộ phim bị chê trách nhiều hơn là khen.
Ở trong nước, ban tuyên huấn của Đảng Cộng Sản ra chỉ thị cho bộ máy truyền thông không trình chiếu, không bình luận, không bàn tán về bộ phim này, chắc là vì chưa nói lên được công lao của đảng trong toàn thắng « giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước», còn nêu lên các vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế, trại cải tạo sĩ quan viên chức Viêt Nam Cộng Hòa và vụ thuyền nhân bi thảm.
Người phát ngôn bộ Ngoại giao cho rằng bộ phim không có giá trị vì không nói lên được chính nghĩa và thiện chí của đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân và nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh cách mạng.
Cộng đồng người Việt ở nước ngoài nói chung đánh giá thấp, phê phán khá mạnh bộ phim, cho là không khách quan, không cân đối, không công bằng, sai lệch trong đánh giá thấp chính quyền miền Nam, đánh giá thấp quân đội Việt Nam Cộng hòa, nhìn nhận sai lệch quá ưu ái với phong trào chống chiến tranh trên đất Hoa Kỳ.
Tất nhiên cuộc chiến tranh kéo dài trong gần 30 năm, với 2 chiến trường miền Bắc, miền Nam Việt Nam, lây lan sang Cam-bốt, Lào, dính liền với cuộc chiến tranh lạnh giữa 2 phe gồm các siêu cường, cường quốc trên thế giới, với biết bao diễn biến với nhiều mặt phức tạp, khó lòng mô tả cho đầy đủ, làm vừa lòng mọi người, ở mọi phía.
Nhưng dù sao đây cũng là một cố gắng to lớn, mang cách nhìn phóng khoáng, đa diện ít định kiến, hiếm hoi, so với các bộ phim đã xuất hiện xưa nay.
Theo ý riêng của tôi, đây là cuốn phim hoành tráng, mang nhiều cố gắng, phản ánh nhiều mặt, nhiều nhân vật tiêu biểu của cuộc chiến.
Chỗ đứng chính trị của các tác giả làm phim chưa rõ. Họ có đứng trên lập trường ủng hộ hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, bảo vệ nhân quyền, cổ súy sự tôn trọng pháp luật quốc tế, của những công dân của thế giới mới hay không? hay chỉ là lập trường lạnh lùng, trung lập, cách nhìn trung dung của người ngoài cuộc?
Điều mà hình như các tác giả bỏ qua là cuộc chiến thuộc thế kỷ XX, mà nay đã bước vào thế kỷ XXI. Phần lớn những diễn viên chính của cuộc chiến đã đi vào dĩ vãng, bộ phim này là để cho lớp con cháu họ xem và suy ngẫm cho cuộc sống hiện tại.
Có những sự kiện lịch sử phải cần một thời gian khá dài mới có thể đánh giá đầy đủ đúng, sai, tốt xấu, tiến bộ hay lạc hậu. Hậu quả của cuộc chiến ra sao? tốt đẹp hay bi đát cho từng bên, từng đối tượng. Như phải ngắm một quả núi từ xa.
Ví dụ như đối với nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam, tuy đảng cộng sản huênh hoang là chính nghĩa, thiện chí, yêu nước, giải phóng, thống nhất, đại thắng, hoàn thành sứ mạng vẻ vang… nhưng hiện nay tất cả là giả dối, lừa gạt, là bịa đặt, không có thật. Sự thật chỉ là con số không to đùng.
Họ nói độc lập, nhưng từ sau Mật ước Thành Đô (tháng 9/1990) Việt Nam sống dưới một chế đô Bắc thuộc, phụ thuộc cả về chính trị, kinh tế, đối ngoại vừa tinh vi vừa lộ liễu, vậy thì lời thề Độc lập và Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 chỉ còn là bánh vẽ.
Họ nói dân chủ XHCN, nhưng không hề có bầu cử tự do, chỉ có đảng chọn dân bầu, bỏ tù hàng trăm tù chính trị chống bành trướng, coi các công dân yêu nước, yêu dân chủ, nhân quyền là thù địch. Quốc hội chỉ là đảng hội khi 90% là đảng viên. Vậy dân chủ hay đảng làm chủ?
Họ nói giải phóng, hứa hẹn, cam kết hòa hợp dân tộc nhưng cầm tù hàng trăm ngàn sĩ quan, viên chức Việt Nam Cộng hòa, cho nửa triệu cán bộ chính trị, kinh tế, văn hóa, đảng viên, công an, giáo chức, viên chức miền Bắc trình độ yếu ớt vào tiếp quản, cai trị miền Nam, thực tế là phá phách toàn diện cuộc sống vốn tiến bộ hơn miền Bắc, vậy giải phóng hay kềm kẹp, đẩy lùi miền Nam?
Và lời hứa của ông Hồ sau chiến tranh sẽ xây dựng đất nước to lớn giàu mạnh gấp 10 lần thời chiến nay, đi đến đâu? Có nhiều nhà cao tầng, nhưng thu nhập bất công gấp trăm lần thời xưa, nạn tham nhũng vượt xa thời thuộc Pháp, thời phong kiến. Đời sống, thu nhập dân thường kém Thái lan, Malaisia hàng 20 năm.
Vậy thì chiến thắng, đại thắng để làm gì? Câu nói «dân ta tòan thắng đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai» trở nên cay đắng bẽ bàng. Đến nay phải công nhận rằng dân Việt Nam đã thua, thua to, thua triệt để, thua trắng tay. Linh mục Nguyễn Văn Lý nói không sai «Cộng hòa XHCNVN: chưa Độc lập - thiếu Tự Do – chưa Hạnh Phúc», là rất đúng, nhưng lại bị trả giá bằng hơn 10 năm tù!
Nhiệm vụ các nhà làm phim chân chính của nước ta là nên làm một bộ phim dài nói lên những sự thật ấy, khi mà bộ phim «The Vietnam war» đã bỏ quên.
Lẽ ra các nhà làm phim nói trên nên suy nghĩ để qua cuộc chiến tranh thế kỷ XX gợi ý cho những giải pháp cho các cuộc chiến, tranh chấp trong thế kỷ XXI này.
Vũ khí nguyên tử từng chuẩn bị được dùng ở Điện Biên Phủ, ở Triều Tiên, Cuba. Nay lại có nguy cơ nổ ra thật sự do cậu bé Kim Chính Ân - Ủn lên gân.
Các cuộc chiến ở Syria, Trung Đông, Ukraina… nên tìm ra giải pháp nào? Làm sao tiêu trừ nạn khủng bố do nhà nước Hồi giáo IS chủ trương?
Vai trò của Liên Hợp Quốc trong sứ mạng bảo vệ hòa bình, ngăn ngừa chiến tranh, cứu trợ các nạn nhân và người di cư ra sao?
Vai trò của Hoa Kỳ nên co lại lo cho «nước Mỹ trước hết» hay cần đóng vai cường quốc số 1 có trách nhiệm cao quý trên thế giới?
Bộ phim sẽ rất hay, hấp dẫn hơn, có ích khi nó có hậu nói đến hậu quả các cuộc chiến cho đến ngày hôm nay, mối quan hệ Việt Mỹ nay ra sao, Việt Nam đang trong tình hình thế nào và gợi ý, nhắn nhủ cho người xem tham gia vào giải quyết những vấn đề trước mắt của thế giới ra sao. Có lẽ nó cần bổ xung thêm 1 hay 2 tập kết thúc. Mong các nhà làm phim quan tâm.

Tăng thuế vẫn không thể cứu nguy nhà nước thiếu hụt

Nguyễn Quốc Khải
Theo VOA-22/09/2017  
Một cuộc đình công tại Việt Nam.
Một cuộc đình công tại Việt Nam. Một cuộc đình công tại Việt Nam.

Nhà nước có bộ nào thì Đảng CSVN có ban đó. Dân bị đánh thuế hai lần, sống trong tình cảnh “một cổ hai tròng”.
Kế hoạch tăng thuế
Trong tháng 8 vừa qua Bộ Tài Chánh Việt Nam đã đề nghị một số biện pháp sửa đổi liên quan đến thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế tài nguyên thiên nhiên.
Bộ Tài Chánh Việt Nam đã đề nghị tăng thuế giá trị gia tăng (GTGT) nói chung từ 10% lên 12%, dự trù bắt đầu có hiệu quả từ 2019. Thuế suất GTGT lại có thể tăng từ 12% lên 14% vào 2021.
Một số sản phẩm cần thiết đối với các ngành nông nghiệp, y tế, giáo dục, khoa học và kỹ thuật hiện nay chịu thuế suất GTGT 5%, sẽ phải trả 6% trong tương lai. Phân bón, dụng cụ nông nghiệp, và tàu đánh cá ngoài khơi cũng sẽ phải trả thuế GTGT thay vì hoàn toàn được miễn thuế như hiện nay.
Theo đề nghị của Bộ Tài Chánh, xe tải mui trần sẽ phải trả thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) cao hơn. Thuế suất 15% sẽ áp dụng cho xe có xylanh lên đến 2,500 phân khối, 20% cho xe có đến 3,000 phân khối và 30% cho các xe lớn hơn. Những gói thuốc lá gồm 12 điếu sẽ phải trả thuế suất TTĐB 75% kể từ 2019 và tất cả các gói thuốc lá sẽ phải trả thêm VNĐ 1,000 kể từ 2020. Nước ngọt hiện nay được miễn thuế, nhưng kể từ 2019 sẽ phải chịu thuế suất TTĐB là 10%.
(Chart: Nguyễn Quốc Khải)
(Chart: Nguyễn Quốc Khải)
Cũng theo đề nghị của Bộ Tài Chánh, thuế bảo vệ môi trường được dự trù tăng từ 3,000 VNĐ/lít xăng dầu lên đến VNĐ 8,000/lít. Đối với tài nguyên, thuế suất đã được tu chính vào 2015 và đã có hiệu lực từ 01-07-2016. Tuy nhiên tài nguyên có khung giá tính thuế mới bắt đầu có hiệu lực kề từ 01-07-2017.
Doanh nghiệp tiếp tục được hưởng thuế suất thuận lợi. Thật vậy hiện nay các doanh nghiệp chịu thuế suất thu nhập giảm xuống còn 20%, so với 32% trước đây. Theo đề nghị của Bộ Tài Chánh, thuế suất thu nhập doanh nghiệp mới 15% sẽ áp dụng cho các công ty nhỏ và trung bình có thu nhập hàng năm dưới VNĐ 3 tỷ, và 17% cho các công ty có thu nhập hàng năm trong khoảng từ VNĐ 3 tỷ – VNĐ 50 tỷ.
Hiện tại, thuế thu nhập cá nhân là 5% áp dụng cho những người có thu nhập hàng tháng từ VNĐ 5 triệu trở xuống và 10% cho VNĐ 5 triệu kế tiếp. Trong tương lai thuế thu nhập cá nhân là 5% sẽ áp dụng cho những ai có thu nhập hàng tháng từ VNĐ 10 triệu trở xuống.
Tóm lại, Bộ Tài Chánh đề nghị tăng thuế GTGT và tiêu thụ đặc biệt đồng thời giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân. Mục đích chính của những biện pháp này là để giảm ngân sách quốc gia thiếu hụt và nợ công.
Ngân sách quốc gia thiếu hụt
Ông Đinh Tiến Dũng, Bộ Trưởng Tài Chánh, từng tuyên bố rằng “Điều hành ngân sách như đi trên dây”. Thật vậy, Việt Nam đang gặp phải vấn đề ngân sách thiếu hụt trong nhiều năm qua và tương lai cũng không được sáng sủa. Theo thống kê của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund – IMF), ngân sách nhà nước thiếu hụt tăng từ VNĐ 22.1 ngàn tỷ (5% GDP) vào năm 2000 lên đến VNĐ 293 ngàn tỷ (6.5% GDP) vào năm 2016. Trong khi đó, nhà nước ấn định mức ngân sách thiếu hụt không được quá 3.5% vào năm 2020. Kể từ năm 2000 đến nay, năm nào ngân sách cũng bội chi. Theo dự đoán, ngân sách tiếp tục thiếu hụt vào những năm 2017-2018.
TS Lê Hồng Hiệp thuộc Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á (Institute of South East Asian Studies) tại Singapore, nhận định rằng chi phí về hành chánh, an sinh xã hội, lương bổng, đặc biệt an ninh và quốc phòng đã gia tăng đáng kể trong nhiều năm qua. Đây là nguyên nhân chính làm cho ngân sách thiếu hụt. Ngoài ra, Việt Nam còn phải trả tiền lời và vốn trên những món nợ công. Riêng tiền lời phải trả là VNĐ 95 ngàn tỷ cho năm 2016 và VNĐ 99 ngàn tỷ và VNĐ 126 ngàn tỷ lần lượt cho các năm 2017 và 2018 theo dự đoán.
Khoảng 98% nợ nước ngoài của Việt Nam trong những năm gần đây xuất phát từ nguồn Viện Trợ Phát Triển Chính Thức (Official Development Assistance - ODA) với lãi suất rất thấp khoảng 1% và thời gian hoàn trả nợ từ 15 – 40 năm. Trong số món nợ ODA, thông thường có ít nhất 25% là số tiền viện trợ không phải hoàn trả. Nay Việt Nam không còn được vay từ nguồn ODA nữa. Khi được xếp vào hạng các nước có thu nhập trung bình (middle income), Việt Nam phải trả tiền lời cao hơn và thời gian đáo nợ ngắn hơn.
Thu nhập cho ngân sách quốc gia của Việt Nam có gia tăng nhờ kinh tế phát triển khoảng trên 6% mỗi năm nhưng không bắt kịp chi phí. Thu nhập về thuế từ VNĐ 32.8 ngàn tỷ vào năm 2005 tăng gấp 23 lần lên đến VNĐ 761 ngàn tỷ vào năm 2016. Tuy nhiên thu nhập về dầu thô đã giảm xuống một cách đáng kể. Vào năm 2012 Việt Nam xuất cảng một số lượng dầu trị giá VNĐ 125 ngàn tỷ khi giá dầu thô (Brent crude) còn trên US$ 100/thùng. Nay con số này xuống chỉ còn 55 ngàn tỷ đồng vào 2016 và ước tính tiếp tục đi xuống tới khoảng VNĐ 40 ngàn tỷ trong hai năm tới 2017-2018 vì giá dầu thô trên thị trường quốc tế tiếp tục ở mức thấp. Trong 4 tháng vừa qua, giá dầu thô (Brent crude) ở trong khoảng US$ 48 - US$ 54.2/thùng. Khoản tiền viện trợ không phải hoàn trả cũng giảm từ VNĐ 10 ngàn tỷ vào năm 2012 xuống còn 3 ngàn tỷ vào năm 2016. Ngoài ra, theo báo cáo của Ngân Hàng Thế giới về kinh tế Việt Nam vào tháng 7, 2017, ngân sách nhà nước mất một số thu nhập vì việc hủy bỏ thuế nhập cảng (import tariff) qua những hiệp định thương mại tự do.
Nợ công gia tăng
Theo báo cáo của mạng tin tài chánh The Economist, tổng số nợ công của Việt Nam tính đến ngày 16-7-2017 là US$ 94.854 tỷ, khoảng US$ 1,039 mỗi đầu người. Nợ công của Việt Nam gia tăng liên tục trong nhiều năm qua, tương đương với 36% của tổng sản phẩm nội địa (gross domestic product – GDP) vào năm 2001. Con số này lên tới 62.4% vào năm 2016. IMF dự đoán nợ công của Việt Nam sẽ là 63.3% và 64.3% so với GDP vào 2017 và 2018 trong khi đó nhà nước giới hạn mức nợ công vào 2020 là 65% của GDP. Từ 2010 đến 2015, mức tăng trưởng của GDP trung bình là 5.9%. Trong khi nợ công tăng trung bình hàng năm gấp 2-3 lần GDP.
Dự đoán của Ngân Hàng Thế Giới còn bi thảm hơn. Theo đó nợ công có thể gia tăng đến 65.4% của GDP vào năm 2022. Tuy nhiên nếu bội chi ngân sách không giảm và tiếp tục ở mức độ của năm 2017, nợ công có thể gia tăng đến 70.1% của GDP vào 2022 tức là vượt xa mức cao tối đa. Ngoài điều kiện bội chi ngân sách vừa kể, nếu có thêm thay đổi lớn về lãi suất trên thị trường tài chánh quốc tế vào 2018, nợ công của Việt Nam có thể lên đến 74% của GDP vào 2022. Nhiều quốc gia cả giầu lẫn nghèo đều vay nợ ít hay nhiều để phát triển. Đối với Việt Nam tỉ lệ nợ công/GDP an toàn không thể quá 40%.
Ông Bộ Trưởng Tài Chánh Đinh Tiến Dũng trong buổi nói chuyện với Quốc Hội ngày 25-5-2017 cho biết rằng nợ công tăng nhanh như vậy là vì quản trị và sử dụng các món nợ yếu kém. Ông cũng nói thêm rằng một số cơ sở không có khả năng trả nợ khiến nhà nước phải lãnh chịu vì đã đứng ra bảo lãnh những món nợ này.
Khi nợ công lên cao, nhà nước sẽ phải bỏ ra những số tiền rất lớn để trả tiền lời hàng tháng. Do đó, ngân sách sẽ tiếp tục thiếu hụt, không có nhiều tiền để đầu tư vào những dự án phát triển kinh tế, mua võ khí cho quốc phòng.
(Chart: Nguyễn Quốc Khải)
(Chart: Nguyễn Quốc Khải)
Theo định nghĩa của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và Ngân Hàng Thế giới, nợ công bao gồm nợ trực tiếp bởi nhà nước (trung ương và đia phương) và những món nợ được chính phủ bảo đảm (public and publicly guaranteed debt - PPG). PPG có hai phần: quốc nội và quốc ngoại. Theo định nghĩa của chính phủ Việt Nam, nợ công không bao gồm nợ bởi Ngân Hàng Trung Ương, công ty quốc doanh và những cơ sở do nhà nước quản trị. Một số tài liệu nghiên cứu ở trong nước chỉ đề cập đến nợ công của chính phủ trung ương.
Giải pháp
Nợ công và thiếu hụt ngân sách nhà nước là hai khía cạnh của một vấn đề chung là tài chánh quốc gia. Chánh phủ Việt Nam dự tù tăng thuế giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt, và thuế bảo vệ môi trường để bù vào bội chi ngân sách khoảng VNĐ 450,000 tỷ. Biện pháp tăng thuế bị chống đối mạnh mẽ. Ô. Nguyễn Sinh Hùng, khi còn là chủ tịch Quốc Hội, cũng đã phải tuyên bố rằng đất nước lúc này không phải là lúc để tăng thuế. Việc dự trù tăng thuế môi trường từ VNĐ 3,000/lít xăng dầu lên đến VNĐ 8,000/lít bị dân chúng chỉ trích nặng nề vì giá xăng dầu ở Việt Nam đã quá cao so với thu nhập của người dân và so với các quốc gia trong vùng. Cuộc phỏng vấn của Đài Tự Do Á Châu (RFA) phổ biến vào ngày 18-04-2017 cho thấy một số chuyên gia kinh tế được tiếp xúc đều cho rằng tăng thuế xăng dầu quá mức chịu đựng của dân chúng và nền kinh tế. Người dân còn tố cáo rằng nhà nước tăng thuế môi trường nhưng không phải là để bảo vệ môi trường mà là để lấy tiền lấp vào lỗ trống trong ngân sách.
TS Vũ Thanh Tự Anh, một nhà nghiên cứu tại Harvard Kennedy School đồng thời là giám đốc nghiên cứu của Fulbright Economics Teaching Program tại Việt Nam, cho rằng không thể giải quyết tình trạng nợ công gia tăng và ngân sách thiếu hụt giản dị bằng cách bắt dân trả thuế thêm. Thuế GTGT “không có mắt”, không phân biệt giầu nghèo. Mọi người tiêu thụ phải trả cùng một thuế suất. Do đó, người ta gọi GTGT là thuế lũy thoái (regressive tax) thay vì lũy tiến (progressive tax). Nghĩa là nó làm tổn hại người nghèo nhiều hơn người giầu. Nhà nước không thể cứ chi tiêu bừa bãi, để cho cán bộ đục khoét tài sản quốc gia, rồi bắt dân è cổ ra chịu.
Biện pháp hữu hiệu hơn cả là cải tổ việc quản trị và sử dụng các món nợ vì đây là nguyên nhân to lớn góp phần vào nợ công gia tăng. Những công ty quốc doanh thua lỗ triền miên là những thí dụ điển hình. Vụ Trịnh Xuân Thanh làm thất thoát ngân quỹ của Tổng Công Ty Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam VNĐ 3,300 tỷ rồi trốn qua Đức đã thu hút sự chú ý của những nhà đầu tư quốc tế về tình trạng tham nhũng tại các công ty quốc doanh ở Việt Nam.
Khối tài sản đang nằm trong tay của các công ty quốc doanh ở Việt Nam trị giá khoảng US$ 300 tỷ. Nếu những công ty này hoạt động hữu hiệu đã mang lại nguồn tài chánh và kỹ thuật để phát triển đất nước. Nhưng kết quả trái ngược. Kế hoạch cải tổ khu vực quốc doanh qua việc cổ phần hóa đã tiến hành trong vài thập niên, nhưng chưa đạt được tiến bộ đáng kể. Những công ty quốc doanh vẫn tiếp tục nhận được nguồn tài trợ với những điều kiện ưu đãi so với các công ty tư nhân. Gần đây số một luật lệ được thiết lập để giảm bớt sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, ngăn cấm khu quốc doanh đầu tư vào những khu vực không phải là cốt lõi, ngăn chặn việc ăn cắp tài sản, và xúc tiến nhanh chóng việc tư nhân hóa một số công ty quốc doanh lớn.
Bộ Tài Chánh sẽ thâu về được khoảng 4 tỷ Mỹ kim khi hoàn tất việc bán 10 công ty bao gồm Công Ty Cổ Phần Sữa Việt Nam, Công Ty Đầu Tư và Phát Triển Công Nghệ FPT, Công Ty Cổ Phần Viễn Thông FPT, Bảo Hiểm Bảo Minh, Công Ty Tái Báo Hiểm Quốc Gia Việt Nam, Công Ty Nhựa Tiền Phong, Công Ty Nhựa Bình Minh, Công Ty Đầu Tư và Phát Triển Hạ Tầng Việt Nam, Công Ty Cổ Phần Cơ Khí Khoáng Sản Hà Giang, Công Ty Xuất Nhập Khẩu Sa Giang có thể mang về 3 tỷ Mỹ kim. Những dự định tương tự đang được sắp xếp.
Tư nhân hóa khu vực quốc doanh sẽ chấm dứt sự hoang phí tài nguyên quốc gia và mang lại một số tiền lớn lao cho ngân sách và bù đắp vào bội chi ngân sách. Để việc cải tổ khu vực quốc doanh nhanh chóng và hữu hiệu, biện pháp cổ phần hóa cần đi đôi với việc cải tổ ban quản trị của các công ty chưa thể giái vốn 100%. Nếu không, các nhà đầu tư sẽ không tin tưởng để bỏ vốn vào.
Chính Đảng CSVN với bốn triệu đảng viên là một gánh nặng lớn lao cho ngân sách quốc gia vì tất cả mọi chi phí cùa CSVN đều được trang trải bởi ngân sách quốc gia, từ lương bổng cho đến các cơ sở và hoạt động của Đảng CSVN. Theo số liệu của Bộ Tài Chánh Việt Nam, ngân sách của nhà nước đã dành cho Văn Phòng Trung Ương Đảng CSVN VNĐ 11.8 ngàn tỷ từ 2006-2015 (không kể năm 2009 vì không có số liệu), hơn cả Văn Phòng Quốc Hội (VNĐ 9.1 ngàn tỷ), Văn Phòng Chính Phủ (VNĐ 6.3 ngàn tỷ), và Văn Phòng Chủ Tịch Nước (VNĐ 1.0 ngàn tỷ). Ngân sách dành cho Văn Phòng Trung Ương Đảng CSVN chiếm 41.8% trong tổng ngân sách dành cho bốn cơ quan này trong thời gian chín năm. Xin nhấn mạnh một điều ở đây rằng ngoài Văn Phòng Trung Ương còn các văn phòng thành ủy, tỉnh ủy, huyện ủy. Dưới đó có đảng ủy xã/phường/thị trấn theo tổ chức của Đàng CSVN.
Hơn thế nữa ngân sách quốc gia còn tài trợ cho những tổ chức chính trị dưới hình thức các tổ chức ngoại vi và các tổ chức xã hội dân sự trá hình của Đảng CSVN, đặc biệt Mặt Trận Tồ Quốc, Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Hội Nông Dân Việt Nam, và Hội Cựu Chiến Binh. Sáu tổ chức này liên hệ mật thiết với Đảng CSVN, nhận được VNĐ 1.5 ngàn tỷ trong năm 2016 từ ngân sách nhà nước. Riêng việc quản lý Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh chi tiêu mất VNĐ 318.7 Tỷ trong năm 2016.
Trên thực tế, dân vừa đóng thuế cho nhà nước vừa đóng thuế cho Đảng CSVN. Ô. Nguyễn An Dân, tác giả bài báo “Đảng CSVN sẽ lấy tiền đâu để chi tiêu” trên mạng của “Tin Tức Hàng Ngày” gọi tình trạng này là “một cổ hai tròng”. Nhà nước có bộ nào thì Đảng CSVN có ban đó. Những nhà tài trợ quốc tế thường xuyên gây áp lực để tách Đảng CSVN ra khỏi ngân sách quốc gia. Nếu điều này tạm thời chưa thể thực hiện được thì một giải pháp thực tiễn cần áp dụng ngay là sát nhập cơ quan đảng vào nhà nước. TS Lê Hồng Hiệp cho biết rằng thí nghiệm này đã thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh có tên gọi là “nhất thể hóa cơ quan đảng và chính quyền”.
Kết luận
Trên nguyên tắc có bốn biện pháp để giải quyết ngân sách thiếu hụt (1) tăng thuế; (2) giảm chi tiêu; (3) phát triển kinh tế; và (4) biện pháp hỗn hợp. Giải pháp (4) hỗn hợp giữa (2) và (3) xem ra thích hợp nhất đối với tình hình Việt Nam hiện nay.
Tăng thuế làm người nghèo thiệt thòi một cách bất công, làm tăng lạm phát, cản trở việc phát triển kinh tế, và có thể làm cho ngân sách bội chi và nợ công rơi vào vòng luẩn quẩn. Hơn bao giờ hết, để phải đương đầu với ngoại xâm, Việt Nam phải xây dựng sức mạnh kinh tế để có sức mạnh quân sự. Phải đẩy mạnh xuất cảng mới có tiền mua võ khí. Một chiếc tầu ngầm lớp Kilo của Nga trị giá US$ 300-US$ 400 triệu.
Giảm chi tiêu là một giải pháp hơp lý và khả thi. Nó sẽ không những không cản trở mà trái lại còn giúp phát triển kinh tế. Cổ phần hóa những công ty quốc doanh, ngoại trừ một số ít cần nhà nước quản trị vì lý do an ninh và quốc phòng. Nhà nước không cần phải lo việc sản xuất giấy, quần áo, thực phẩm, bia và rượu, nước ngọt, nhựa, cao su, bảo hiểm, khai thác khoáng sản, … Giải thể những công ty quốc doanh thua lỗ. Biện pháp này còn có tác dụng tích cực cho kinh tế phát triển.
Loại bỏ hay sát nhập các cơ quan của Đảng CSVN cùng có nhiệm vụ giống nhự các bộ vào guồng máy nhà nước cũng sẽ tiết kiệm rất nhiều cho ngân sách. Giảm bớt số nhân viên đồng loạt cho tất cả các bộ trong guồng máy chính quyền dân sự và công an khoảng 10% – 20% trong vòng năm năm. Đây không phải là một giải pháp mới lạ. Nhiều quốc gia đã áp dụng như Canada vào thập niên 1990. Đối với Việt Nam, những chi phí thường xuyên hàng năm như hành chánh, lương bổng, an sinh xã hội, an ninh, và quốc phòng tăng rất nhanh trong vài năm qua. Những chi phí này chiếm khoảng 66.3% trên tổng chi phí của ngân sách nhà nước Việt Nam vào 2016, so với 18.7% trả tiền lời, và 15.0% chi phí đầu tư theo số liệu của Bộ Tài Chánh Việt Nam. Chi phí thường xuyên hàng năm là một yếu tố quan trọng nhất làm ngân sách thiếu hụt. Việt Nam cần phải sáng suốt và cương quyết thực hiện biện pháp này vì tình hình đất nước nguy ngập bị ngoại xâm đe dọa, giặc đã ở ngoài ngõ rồi, không cho phép chính quyền chần chừ được.
Tất cả những phần cần phải giảm chi kể trên đều là gánh nặng cho quốc gia, không nằm cho khu vực sản xuất. Cho nên biện pháp giảm chi này sẽ không làm kinh tế thoái hóa mà trái lại còn giúp cho nhà nước giảm được mất mát vì thua lỗ và giải tỏa được nguồn tài chánh để dành cho việc phát triển. Những biện pháp cải tổ kinh tế và cấu trúc chính quyền tích cực kể trên sẽ tạo thêm sự tín cậy vào nền kinh tế và sẽ khuyên khích đầu tư nước ngoài.
Một ảnh hưởng tích cực của việc ngân sách thiếu hụt dai dẳng và nghiêm trọng và nợ công tăng nhanh là nhà cầm quyền Việt Nam thấy đã đến lúc phải cải tổ sâu rộng cấu trúc của guồng máy chính quyền và kiểm soát nghiêm chỉnh chi tiêu cùa Đảng CSVN, không thể trao cho khu vực nhà nước yếu kém đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường.
Tài liệu tham khảo:
1. ADB, “Vietnam: Macroeconomic and Debt Sustainability Assessment,” 2010.
2. IMF, “Joint Bank – IMF Debt Sustainability Framework for Low-Income Countries,” April 14, 2017.
3. IMF, “Vietnam – Staff report for the 2017 Article IV Consultation – Informational Annex,” May 23, 2017.
4. Intellasia, “Fiscal Discipline Indispensable to Close Vietnam’s Budget Deficit,” July 1, 2017.
5. Kính Hòa, “Đảng CSVN Xài Ngân Sách Quốc Gia Như Thế Nào?” RFA. 26-3-2015.
6. Le Hong Hiep, “Growing Fiscal Deficit Presents a Major Risk for Vietnam,” ISEAS, July 2016.
7. PWC, “Vietnam Pocket Tax Book 2016,” March 2016.
8. Vu Thanh Tu Anh, “The Tax Debate: Why Raising VAT in Vietnam is just a Bad Idea,” VNExpress International, September 2, 2017.
9. World Bank, “Taking stock, an Update on Vietnam’s Recent Economic Developments,” July 2017

Hải cẩu thành Hồ quá ngạo mạn khi nói dân không hiểu luật là khỉ

Dân Đen (Danlambao) - Cường hào ác bá Đoàn Ngọc Hải, phó chủ tịch quận Nhất thành Hồ đang tác oai, tác quái để moi móc niềm tin trong quần chúng bằng cách đập, phá, hốt, cẩu. Trong những lần xua quân đi giành giật vỉa hè, Hải cẩu đã không ít lần bất chấp cái lý, cái tình để chứng tỏ mình là một kẻ hiểu biết pháp luật và chỉ làm việc bằng luật pháp.

Bộ mặt của Hải cẩu ngày càng trơ trẻn, chai lì đến độ bị người dân chửi rủa, thậm chí có người doạ giết cũng không làm cho Hải cẩu sợ sệt hay xuống nước. Hải cẩu nghĩ rằng mình là một người thông luật... rừng nên cứ theo truyền thống lâm tặc mà lộng hành, còn những ai đến địa bàn của Hải cẩu mà không biết luật thì cứ việc ra khỏi cái rừng mang tên giống cáo.

Đây không phải là chuyện hư cấu trong qui trình thực hiện ước mơ biến quận 1 thành Hồ trở thành Singapore. Nhưng đó chính là phát ngôn được phọt ra từ mõm của Đoàn Ngọc Hải trong một lần tranh cãi với một người tài xế bị Hải cẩu xử phạt. “Đến quận 1 này phải học luật, phải làm việc theo luật, chấp hành theo luật, còn không thì rời rừng cáo và vào rừng U Minh sống, chứ không thể ở quận 1”. Không biết do áp lực từ việc “phỏng hai hòn” vỉa hè hay do “di chứng” sau vụ cạp cái bậc tam cấp tại nhà hàng của bà mẹ vợ để lại đã khiến Hải cẩu mở mõm gây sốc. 

Có lẽ tên cường hào ác bá Hải cẩu này đang muốn gửi thông điệp rằng quận 1 là địa bàn của hắn, ai muốn đến đó phải sống và làm việc theo cách mà hắn cho là làm theo luật. Ai không thực hiện thì tất cả phải vào rừng U Minh mà sống. Quả thật Hải cẩu quá cao ngạo, giống khỉ Trường Sơn mà xem thường người thành phố khi ngụ ý muốn nói những người không hiểu luật thì khác nào loài... khỉ từ động Pắc Pó chui về hang Ba Đình.

Kể từ những ngày đầu, khi Hải cẩu xua quân đi moi móc niềm tin trong quần chúng bằng chiến lược đập, phá, hốt, cẩu, không ít người dân uất ức vì cách sử phạt cùng những hành vi đập phá thô bạo của lực lượng liên ngành do Hải cẩu cầm đầu. Đám lâu la này không thông báo trước thời hạn cũng như chẳng quan tâm đến cuộc sống khó khăn của những người bán hàng rong, những anh tài xế lái xe. Chúng bất ngờ ập đến, bốc, hốt, phá, cẩu bất cứ vật dụng gì mà chúng cho rằng đang lấn chiếm vỉa hè. Chúng cũng chả kiêng nể người gia hay phụ nữ đang phải vật lộn với gánh hàng rong, với xe cá viên chiên, xe hu tiếu để lo cái ăn, cái học cho con, cho cháu của họ trong một xã hội đầy dẫy những khó khăn.

Chúng cho rằng để lập lại văn minh đô thị là phải xử phạt, là phải đập phá, là phải hốt cẩu. Bất chấp đằng sau những vụ việc đó là cả một vấn đề cần giải quyết, là cần cả một chiến lược đường dài và khoa học, là cần phải tạo điều kiện cho người dân ổn định cuộc sống trước khi nghĩ tới chuyện thành Hồ trở thành Singapore.

Thời trước biến cố 30/4/1975, Sài Gòn nói chung và quận 1 nói riêng không bao giờ có chuyện chính quyền đi áp bức người dân trong việc làm ăn buôn bán dù họ có sử dụng vỉa hè. Trái lại những kế hoạch, chiến lược của chính quyền thời ấy là tạo mọi điều kiện thuận lợi nhằm giúp dân ổn định việc buôn bán, làm ăn để có cuộc sống tốt đẹp. Vì thế mỹ từ “Hòn Ngọc Viễn Đông” được những người nước ngoài ưu ái dành cho Sài Gòn mỗi khi nhắc đến.

Hải cẩu quên mất nguồn gốc xuất xứ của mình từng là đồng loại với lũ khỉ trong động Ba Đình đi cưỡng cướp miền Nam. Cũng chính tư duy của lũ khỉ trong động Ba Đình sau khi cướp miền Nam đã tàn phá Hòn Ngọc Viễn Đông trở nên tồi tệ như thế nào. Để rồi đến nay chúng lại muốn biến thành Hồ trở thành Singapore, một quốc đảo từng mơ ước được như Sài Gòn khi chưa bị lũ khỉ động Ba Đình cưỡng cướp.

Người dân vốn đã quá khó khăn dưới ách cai trị của cộng sản, nay lại thêm những hành động, những lời nói mang tính cường hào ác bá của Hải cẩu làm cho dân chúng thêm phẫn nộ. Nếu nói rằng đến quận 1 hay đến thành Hồ phải biết luật, làm việc theo luật như cách nghĩ của Hải cẩu thì chính Hải cẩu và lũ khỉ động Ba Đình của cộng sản phải tự nhìn lại. Chúng bất chấp luật để cưỡng chiếm miền Nam, sau đó cai trị nhân dân bằng luật của lũ khỉ chuyên dối trá và cướp bóc.

Sài Gòn đất chật người đông, lại thêm sự đổ bộ ồ ạt của lũ khỉ từ động Ba Đình ngày một đông. Nếu thật sự muốn phát triển và cường thịnh như Singapore hay Hòn Ngọc Viễn Đông thì điều đầu tiên là phải tống cổ lũ khỉ động Ba Đình ra khỏi Sài Gòn. Khi ấy mọi tứ tốt đẹp tự khắc sẽ đến mà không cần chiến lược hay qui trinh giành giật như tên cường hào ác bá Đoàn Ngọc Hải đang thực hiện.

26.09.2017

Quân đội làm kinh tế là nuôi dưỡng tệ nạn tham nhũng bất khả trị

Nguyễn Cao Quyền (Danlambao) - Quân đội làm kinh tế là những quân đoàn, sư đoàn và quân binh chủng mang năng lực quân đội ra kinh doanh chuyên nghiệp trên thương trường quốc gia và quốc tế. Kinh doanh bằng quân đội là kinh doanh bằng quyền uy, bằng kho tàng vô tận của “nước sông công lính”. Đó là làm ăn không cần vốn mà lời lãi thì to lớn. Lời lãi to lớn này làm nảy sinh ra nhiều nhóm lợi ích của nhà binh. Các nhóm này tranh giành chức năng của người dân để biến thành chức năng đương nhiên của người cầm súng.

Quân đội làm kinh tế tạo ra tầng lớp tư bàn nhà binh. Những người chủ tư bản này mang lon tướng tá, độc quyền hưởng thụ giàu có giữa cuộc sống cơ cực của người dân. Tư duy của ông chủ kinh doanh dần dần lấn át tư duy của người cầm quân trong trận mạc. Tư duy hưởng lạc sẽ dần dần lấn át tư duy của người lính vì nước quên mình.

Người dân coi quân đội là nơi “trong sạch” nhất, nhưng khi quân đội lao vào làm kinh tế thì không gian lý tưởng đó không còn nữa. Và khi tình cảm người dân dành cho người lính thuyên giảm thì an ninh tổ quốc cũng thuyên giảm. Những nơi có lý tưởng cao cả sẽ trở thành những nơi bị đồng tiền ngự trị.

Lời lãi nào có thể bù đắp được máu và sinh mạng của người dân, sự toàn vẹn của lãnh thổ và giá trị của biển cả non sông một khi khả năng và tinh thần chiến đấu của quân đội không còn nữa.

Tại các nước văn minh Tây Phương, từ lâu người ta đã nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề và từ lâu quân đội của họ đã tuyệt đối không còn được làm kinh tế nữa. Vấn đề này ngày nay chỉ còn lây lất tại một vài quốc gia chậm tiến như Tàu cộng và Việt Nam. Chúng ta thử cùng nhau nhìn lại quãng đường lịch sử gian nan chậm tiến đó.

Quân đội thời phong kiến bên Tàu

Thời phong kiến bên Tàu ta cần để ý đến đầu tiên là phái pháp gia mà đại diện là Thượng Ưởng đời Tần. Cách lý luận của Thượng Ưởng dựa trên nguyên tắc “Phú quốc cường binh”. Theo nguyên tắc này Thượng Ưởng tái cấu trúc bộ máy hành chánh đời Tần theo hướng quân sự hóa tập trung cao độ phục vụ cho chiến tranh và bành trướng.

Tới thời Tùy Đường thì vẫn áp dụng chính sách nói trên với cách thức hơi khác gọi là “Chế độ quân điền”. Nông dân phải tham gia vào quân đội khi cần thiết nhưng họ vẫn có quyền hưởng hoa lợi từ các hoạt động nông nghiệp. Đây là cách thức thứ nhất.

Cách thức thứ hai phổ biến hơn là triều đình phong kiến cho phép quân đội được tham gia vào các hoạt động kinh tế để trợ giúp cho ngân sách ít ỏi của triều đình. Đó là “Chế độ đồn điền”, một chế độ được các vua quan áp dụng trong một thời gian dài. Nhưng quân đội không được sử dụng đất của nông dân mà chỉ được sử dụng đất của nhà nước.

Kinh tế quân đội thời Mao Trạch Đông

Đến thời Mao thì quan hệ giữa quân đội và đảng CSTQ là mối quan hệ “cộng sinh”. Cả hai thiết chế này liên hệ với nhau mật thiết và không thể tách rời. Quan niệm tự cung tự cấp xuất phát từ lúc này và việc quân đội làm kinh tế trở thành đặc trưng của chế độ.

Từ năm 1938 quân đội của Mao được phép mở rộng các hoạt động sản xuất. Các tổ hợp quốc phòng vào thời điểm này là tiền thân của các tổ hợp kinh doanh quốc phòng sau này. Quân đội của Mao nắm gần như toàn bộ các hoạt động kinh tế tại các vùng kháng chiến.

Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1949 quân du kích Trung Quốc trở thành một đội quân chính quy. Các hoạt động kinh doanh không cần thiết phải giao cho chính phủ dân sự. Nhóm hậu cần quân đội trở thành quan trọng cho việc tái thiết nền kinh tế quốc gia. Hệ quả là trong giai đoạn này, mỗi khi quân đội được cần đến thì khoảng 10% nhân lực của quân đội bị gián đoạn công việc huấn luyện. Do đó nhiều khi nhu cầu quốc phòng không được đáp ứng đầy đủ.

Đặng Tiểu Bình và vấn đề thương mại hóa quân đội

Đặng Tiểu Bình lên ngôi, chính thức mở cửa cho nền kinh tế Tàu cộng. Bốn “hiện đại hóa” được đưa ra như chính sách cốt lõi để cải cách kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, khoa học công nghệ và quốc phòng. Quốc phòng trong giai đoạn này đóng vai trò thứ yếu để nhường chỗ cho nhiệm vụ phát triển.

Họ Đặng cho rằng vào thời điểm của ông ta duy trì một ngân sách quốc phòng quá cao là không cần thiết. Để bù đắp cho nhân sách quốc phòng suy giảm, quân đội được phép tham gia kinh doanh một cách sâu rộng hơn.

Trong giai đoạn từ 1984-1989 doanh thu từ các doanh nghiệp quân đội gia tăng nhanh chóng nhưng đồng thời tình trạng tham nhũng, lãng phí, rửa tiền, buôn lậu và các hành vi phạm tội khác cũng gia tăng một cách khốc liệt. Sự kiện Thiên An Môn năm 1989 làm cho các tệ nạn nói trên trở thành hết thuốc chữa. Tham nhũng lan tràn đến mức báo động cả về bề mặt lẫn chiều sâu.

Quá trình “thương mại hóa” đã hoàn toàn áp đảo quá trình “hiện đại hóa” của Đặng Tiểu Bình. Năm 1990 có hơn 15.000 công ty quốc phòng hoạt động; 75% trong số này được kiểm soát bởi quân đội.

Đến khi Giang Trạch Dân lên ngôi thì quá trình phi thương hóa quân đội ra đời. Phong trào này liền bị phong trào chuyên nghiệp hóa của tư lệnh hải quân Lưu Thanh Hoa và của tổng tham mưu trưởng Trương Vạn Niên lấn át.

Tham nhũng tiếp tục hoành hành không gì ngăn cản nổi đến nỗi thủ tướng Chu Dung Cơ phải nhập cuộc và đứng về phía Giang Trạch Dân. Kết quả cũng chỉ là con số không. Cho đến những năm 1998-1999, khi quá trình phi đầu tư của các doanh nghiệp quân đội được ban hành thì xu hướng thương mại hóa mới bắt đầu được chuyển giao cho các tổ chức dân sự của chính phủ.

Tập Cận Bình quyết liệt triệt tiêu xu hướng quân đội làm kinh tế

Quá trình phi đầu tư hóa các doanh nghiệp quân đội được đánh giá là quyết liệt nhất dưới thời Tập Cận Bình. Tuy nhiên quá trình này vẫn chưa hoàn tất. Trong nỗ lực hiện đại hóa, nhiều người tin rằng họ Tập sẽ cấm đoán hoàn toàn việc quân đội làm kinh tế để tập trung vào việc huấn luyện và chiến đấu.

Dự kiến cho tới năm 2018, những gì còn lại của cái được gọi là yếu tố kinh tế của quân đội sẽ không được dính líu gì với thị trường. Ngân sách quốc phòng tuyệt đối phục vụ việc mua sắm vũ khí, khí tài, trả lương, bảo hành, bảo dưỡng, nghiên cứu và phát triển.

Khi lên ngôi chúa tể, Tập Cận Bình thấy rõ là cho quân đội làm kinh tế có nghĩa là tạo cơ hội tốt cho nạn tham nhũng hoành hành. Cho nên chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” đã được áp dụng một cách quyết liệt.

Tập Cận Bình đã bỏ tù khoảng 50 tướng lãnh lớn nhỏ và tịch thu khoảng 100 tỷ đô la tiền xâm phạm phi pháp tài sản của nhân dân. Việc cấm quân đội làm kinh tế nằm trong chiện dịch “đả hổ diệt ruồi” rất tích cực của họ Tập hiện nay.

Việt Nam đang cố theo gương Tập Cận Bình nhưng vẫn còn nhiều lúng túng và gian dối

Ở Việt Nam, cho đến nay, quân đội vẫn giành giữ chức năng làm kinh tế. Những ông tướng nông dân ít học vẫn không chịu buông thả chức năng này vì họ không ý thức được làm như vậy là họ đang đặt quyền lợi của nhóm nhà binh lên trên quyền lợi của đất nước. Ho cũng không hiểu được là nếu tiếp tục ngoan cố như vậy là họ sẽ phá hỏng hai yếu tố mà quân đội phải có là tính tập trung và chuyên nghiệp.

Gương xấu nêu ra từ thủ tướng. Ngày 27/6/2006 sau khi nhận chức thủ tướng, Nguyễn Tấn Dũng nghiêm trọng tuyên bố: “Tôi quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng tôi sẽ từ chức ngay”. Ông Dũng tuyên bố như thế trước quốc dân nhưng trên thực tế thì chính phủ của ông lại là chính phủ tham nhũng tàn bạo nhất như chưa bao giờ thấy trong lịch sử dân tộc. Ông không từ bất cứ một mánh lới nguy hại nào để đục khoét của cải của nhân dân.

Làm như vậy ông đã bật đèn xanh cho cả bộ máy nhà nước hối hả lao theo con đường tham nhũng. Ông đã làm cho nền kinh tế của đất nước nhanh chóng suy đồi và lụn bại. Vậy mà ông không từ chức. Trái lại còn làm một lèo hai nhiệm kỳ thủ tướng.

Tham nhũng luôn luôn đồng hành cùng quyền lực, nên tại các nước dân chủ người ta đã nghĩ ra phương cách “tam quyền phân lập” để ngăn ngừa. Việt Nam cũng có tam quyền nhưng chưa phân lập. Ngoài ra đảng CSVN lại còn cho đảng viên đứng ngoài hiến pháp. Cho nên dù có tội tày đình đảng viên cũng không sợ bị pháp luật đụng đến.

Nền văn minh đặc quyền đảng trị là nền văn minh của quyền lực độc tài. Quyền lực của nhân dân bị đảng tước đoạt rồi đem chia chác trong nội bộ. Vì không có tam quyền phân lập nên cộng sản đã tạo ra một mảnh đất mầu mỡ cho tham nhũng phát sinh và phát triển.

Quân đội noi gương thủ tướng. Trong suốt hai nhiệm kỳ của Nguyễn Tấn Dũng, quân đội đã ào ra làm kinh tế như vũ bão. Hàng loạt tổng công ty, tập đoàn kinh tế quân đội ra đời. Bố con ông đại tướng bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh sấn sổ ra tham nhũng quyền lực như chỗ không người.

Trong khi đó thì giặc ngang nhiên quấy phá trên vùng biển của Tổ quốc, hàng ngày bắn giết dân lành. Dân chết như vậy nhưng các tướng quân đội vẫn án binh bất động vì cả tướng lẫn quân vẫn còn đang rất bận rộn khi công việc kinh tế giải quyết chưa xong.

Ngày 2/6/2017 thượng tướng thứ trưởng quốc phòng Lê Chiêm đã công bố quyết định sau đây: “Chấp hành ý kiến của chính phủ, bộ quốc phòng ra lệnh dừng tất cả các dự án tại đây. Quân đội không làm kinh tế nữa. Tất cả các xí nghiệp phải cổ phần hóa, thoái vốn và chuyển ra ngoài hết. Phải tập trung xây dựng quân đội chính quy hiện đại để bảo vệ nhà nước và nhân dân”.

Lệnh cấm nói trên dường như còn đang bị nhiều tướng lãnh khác phản đối trong đó có cà đại tướng bộ trưởng quốc phòng Ngô Xuân Lịch. Quân đội là lực lượng vũ trang mang sức mạnh và ý chí của dân tộc. Nên nhớ rằng quân đội lam kinh tế thì chỉ là một nhóm lao binh chuyên nghiệp chứ không phải là những đoàn hùng binh dũng mãnh làm cho địch khiếp sợ và giữ cho tổ quốc thái bình.

26.09.2017

Tính “khiêm tốn” của C. Mác, Lê-Nin, Hồ Chí Minh: bất cập, thiển cận, tư duy sổi

Trần Đắng (Danlambao) - Các Mác có câu danh ngôn: “Khiêm tốn bao nhiêu cũng chưa đủ, tự kiêu một chút cũng là nhiều.” Lê-nin dạy người CS phải khiêm tốn. Hồ Chí Minh (ông trên tờ tiền, tên Minh & có râu, tôi gọi là Minh “râu”) thì dạy “5 điều bác Hồ dạy”, câu cuối là “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”. Vậy đạo đức của CS phải có tính khiêm tốn trong đó. Nhưng có đúng không? Không đúng, thế mới gay, và tôi thách toàn bộ CS trong nước, ngoài nước tranh luận với tôi!

Coi các quảng cáo thì thấy họ “khè” chứ khiêm tốn gì?! Coca Cola luôn ra rả như ve sầu mùa hạ: “Luôn luôn Coca Cola!”, “Khi nào có niềm vui, khi đó có Coca Cola!”.

Ra chợ là thấy ngay sự không khiêm tốn. Người bán luôn chứng minh giá của ta hợp lý nhất, hàng tốt nhất, đẹp nhất, & họ “tốt khoe, xấu che”, là một tục ngữ ta, làm gì có khiêm tốn!

Tôi biết một người nọ đi mua đấu giá một căn nhà. Ông ta đi với một tỉ phú nổi tiếng. Những người đấu giá khác phát sợ, nói: “Ông này có tỉ phú ủng hộ, ta đấu không lại đâu, về thôi!” Kết quả là ông tỉ phú giúp người nọ mua được căn nhà giá rẻ, dù người được giúp không giàu có. Kết luận: Khi đi đấu giá phải khè ta giàu có, chứ khiêm tốn thì... ngu!

Đi tán gái, 4-5 anh nhằm một cô gái vừa xinh đẹp vừa đức hạnh, anh nào cũng tỏ ra ta là ứng viên số một, có đức, có tài, có sự nghiệp vững chắc, đố mà tìm ra anh nào khiêm tốn.

Bạn tôi, làm công chức. Anh thuộc loại học rộng hiểu nhiều, được cơ quan cử đi học cao học. Nhưng anh không dám phấn đấu giành danh hiệu Chiến sĩ thi đua 2 năm liền để được tăng lương vì sếp của anh không giỏi như anh, sẽ ganh ghét, đì tới số. Anh nghèo, mới sinh con, cũng muốn có lương cao hơn để nuôi con, mà không dám làm cái việc tiện tay. Anh cũng nói: “Nó sợ mình hơn nó lắm”. Ở môi trường này mà tài đức cao hơn người, tức khiêm tốn thì anh hóa ra thành cái nút chặn, không cho người khác tiến thân, sẽ bị ăn đá ném tay giấu đấy! Tôi thì rành việc công chức nào mà tài đức, mà trong “đức” có tính khiêm, người đó có tiềm năng làm lãnh đạo thì sẽ bị nói xấu, bị cài bẫy, v.v… để cho người đức tài đó rớt mà người đầy tham vọng khác lên. Ai cũng muốn làm vua trong nghề của mình nên vị trí cao là sự tranh giành phe phái hỗn độn, chứ không phải là người khiêm tốn thì được đề bạt.

Một vĩ nhân trong Đông Chu Liệt Quốc kể, ngay khi còn sống, dân đã gọi là thánh, ấy là Khổng Tử. Khổng Tử là người khiêm tốn tới mức vô ngã, không tự coi mình là chân lý. Ấy vậy mà ông đi đâu cũng bị xa lánh, theo một truyện trích từ Sử Ký của Tư Mã Thiên:

Ở nước Sở thì Khổng Tử không được lòng vua, dù triều đình công nhận thiên tài của ông:

“Chiêu Vương nước Sở định phong cho Khổng Tử miếng đất trong sổ sách có 700 lý (1 lý là nhóm gia đình 25 nhà). Quan lệnh doãn (như thủ tướng ngày nay) nước Sở là Tử Tây hỏi:

Trong số các sứ giả nhà vua phái đến các nước chư hầu có ai bằng Tử Cống không?

Không.

Trong số những người giúp đỡ nhà vua có ai bằng Nhan Hồi không?

Không.

Trong số các tướng của nhà vua, có ai bằng Tử Lộ không?

Không.

Trong số các quan của nhà vua, có ai bằng Tể Dư không?

Không.

Không những thế, tổ tiên nước Sở cũng chỉ được nhà Chu phong với cái tước hiệu là “tử” và năm mươi dặm đất (ý nói Sở trước kia chỉ nhỏ 50 dặm và chỉ có tước “tử”, nay lớn mạnh). Nay Khổng Khâu theo phép tắc của Tam Vương, làm sáng cả cơ nghiệp của Chu Công, Thiệu Công. Nếu dùng ông ta thì nước Sở làm thế nào mà được đời đời đường hoàng có đất vuông ngàn dặm? Văn Vương ở đất Phong, Vũ Vương ở đất Cảo đều chỉ là những ông vua có trăm dặm đất, thế mà rốt cuộc lại làm vương thiên hạ. Nay Khổng Khâu có được miếng đất làm cơ sở, lại có bọn học trò giỏi giúp đỡ thì đó không phải là phúc của nước Sở.” 

Chiêu Vương bèn thôi.

Khiêm tốn có khi xấu. Khiêm tốn là tốt, ta dễ thấy, như Mahatma Gandhi, thánh, đuổi thực dân Anh ra khỏi Ấn Độ không tốn một viên đạn, hay như tổng thống Mỹ Abraham Lincoln, đức hơn tài, mà đức là bao gồm tính khiêm tốn ở trong. Vậy khiêm tốn có tốt, có xấu, nó đa dạng, đa chiều chứ không phải lúc nào cũng tốt. Tính kiêu ngạo cũng vậy, có khi cần khuyến khích, có khi cần gạt bỏ, nó cũng đa dạng, đa chiều, chứ không phải lúc nào cũng xấu. Tính khiêm tốn như C.Mác, Lê-nin, Minh “râu” mà đòi đem làm khuôn vàng thước ngọc, 4,5 triệu đảng viên CS VN nghe theo thì có mà đi... ăn mày. Ba “thiên tài” này, vì thế là hạng có học vấn chưa đầy đủ, thiển cận, tư duy sổi, bởi cái tôi viết trên rất dễ thấy. Minh “râu” mỗi ngày đọc khoảng 25 tờ báo, các cố sự tương tự trên qua sách báo cũng dễ thấy, thế mà Minh “râu” cứ một mực làm như danh ngôn của tổ Mác.

Các dư luận viên ăn cơm chúa, múa tối ngày phản biện xem sao? Nếu bị tịt thì gọi DLV Tàu “khựa” giúp cho. Nếu không phản biện được thì như căn nhà ở VN thủng mái vậy, mưa dột, chịu ở dơ đó mà không cách nào lợp mái được, tức chủ nghĩa CS có điểm yếu không khắc phục được, mà đã yếu thì bại.

Thanh Hóa, 26-9-2017


Di chúc của Dư luận viên

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa C.C
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Công cuộc Gâu Gâu Cứu Chủ của đội ngũ khuyển ta, dù ngày càng khan cổ khô họng mỏi mõm, chịu nhiều gậy gạch, bị ăn đòn nhiều hơn nữa, song có phấn đấu gâu gâu đến đâu đi nữa thì nhất định ngày rã đám của đảng ta chẳng còn bao xa. Đó là một điều chắc chắn.

Tôi lo sợ đến ngày đó, tôi không biết phải trốn chui rúc mặt đi đâu để tránh mặt chòm xóm láng giềng, tránh mặt nhân dân cả nước.

Tôi học hành chẳng được bao nhiêu, song nhờ thuộc nằm lòng Di chúc của Bác Hồ từ lớp mẫu giáo mà biết được ông Đỗ Phủ người nước Anh Hai, đời nhà Đường, có câu tiếng Tung Quốc tôi không nhớ nổi, tôi chỉ biết nghĩa tiếng Việt là, “Người thọ 70 xưa nay hiếm”.

Nhưng đó là chuyện đời nhà Đường bên Tàu thời xưa; đời nhà Đảng bên Ta thời nay người thọ bảy bó chạy đầy đường; nhiều nhất là đảng viên, trong đó có kẻ vẫn sung sức như đồng chí nguyên TBT Nông Đức Mạnh 77 tuổi, trưởng nam (anh cùng cha khác mẹ của Nguyền Tất Trung) của Bác Hồ, đã vồ luôn cô bồ của con trai mình là Nông Quốc Tuấn làm vợ; vồ thành công, thành công, đại thành công, làm vẽ vang thêm sự nghiệp nối dõi tông đường của bác Hồ là cha già DT.

Còn tôi thì căn cứ vào tình hình “Hồ Chí Minh bắt chó náo loạn”, cộng với bản thân bị ăn cui ăn dùi trong khi hành nghề DLV theo nhịp độ ngày càng gia tăng dồn dập, nay đã nhừ đòn. Với tấm thân hình ma dại này, không biết đi chầu Bác lúc nào.

Vi vậy tôi để lại mấy lời này, phòng khi tôi đi gặp Bác, thì đồng bào cả nước “nghĩa tử là nghĩa tận”, đọc mà thông cảm, tha thứ cho tôi, đừng hận tôi nữa.

Tôi làm nghề DLV này cũng vì không biết làm gì hơn để có thu nhập mà sống qua ngày. Viết đến hai chữ “thu nhập”, tôi lại tủi thân buồn muốn khóc khi so sánh thanh niên Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh với mấy người Việt Nam già lão đang sinh sống ở nước ngoài. Họ chỉ cần lên xe buýt xuống đường cầm cái bảng đả đảo cộng sản là “có thêm thu nhập” khỏe re như đồng chí Phó Thủ tướng Nguyễn Thanh Sơn khẳng định, trong khi DLV như tôi gâu gâu suốt ngày suốt đêm mà không đủ tiền mua thuốc đỏ băng gòn để xức mặt toạc đầu u vì bị ăn dùi cui mệt nghỉ.

Gâu gâu gì thì gâu gâu, tôi vẫn biết đó là xấu: con chó sủa là nghề của nó, còn tôi là người mà đi gâu gâu không đâu vào đâu lại càng tệ hơn chó (“Chó đâu chó sủa lỗ không”, còn DLV bọn tôi toàn sủa trống không mà chẳng phản biện bằng chứng cứ lý luận đàng hoàng được điều gì). Nhưng như đã thưa ở trên là tôi không biết làm gì hơn ngoài nghề DLV.


Đó là tâm sự mà tôi chỉ dám ghi lại trong di chúc này, chờ ngày tôi chết đi là khi tôi không còn phải bận tâm, mắc mớ gì đến nhu cầu “thu nhập” để phải sủa bậy sủa càn nữa.

Tục ngữ Việt Nam có câu “Chó chết hết chuyện”, nhưng Dư luận viên chết vẫn bị dân tiếp tục chửi dài dài. Biết thế nên tôi viết di chúc này với mục đích chính là để xin đồng bào tha thứ cho.

Sau cùng tôi cũng xin họ hàng nhà Chó tha thứ cho hàng ngũ 80.000 Dư Luận Viên chúng tôi đã cướp đoạt nghề gâu gâu của Chó để sủa cho bọn chủ bất lương bấy lâu nay.

Hà Nội Ngày 26 Tháng 9 năm 2017

Dư Luận Viên

Đến ị mà anh Hải Cẩu cũng không cho


Bạn đọc Danlambao - Chuyện kể rằng Hồ Chí Minh có một chú Cẩu tên Hải. Chú cẩu này đang tả xung hữu đột khắp nơi trên địa bàn quận Nhất để thực hiện ước mơ biến quận Nhất của Hồ Chí Minh thành Singapore. Đã nhiều tháng qua chú cẩu tên Hải đem quân đi đập, phá, hốt, cẩu những nơi mà chú thấy ngứa mắt. Đi đến đâu chú Hải cẩu cũng để lại ấn tượng mạnh mẽ trong quần chúng.

Có nơi người buôn bán chửi chú Hải cẩu là đồ khốn nạn. Cái xe hủ tiếu, xe bánh mì hay cái tủ thuốc lá của người ta để trước nhà bao nhiêu năm qua không sao. Bỗng dưng nay lại nằng nặc đòi hốt, cẩu về kho mà không hề thông báo trước. Có nơi người dân chửi chú Hải cẩu là thằng đầu tôm, phân lộn lên đầu. Cái bậc thềm của toà nhà ngự trị cả trăm năm không hề gây cản trở gì. Thế mà Hải cẩu quyết đập, phá cho bằng được. Rồi đến cánh tài xế và chủ xe cũng nguyền rủa chú Hải cẩu rằng quá đáng. Người ta mới dừng xe chứ không đậu xe vậy mà cứ khăng khăng bắt người ta đóng phạt vì lỗi đậu xe trên vỉa hè. 

Vậy đó nên danh tánh của chú Hải cẩu ngày càng nổi lềnh bềnh trên các lều báo nhà nước cũng như trên các diễn đàn mạng xã hội. Thế nhưng có vẻ như Hải cẩu vẫn muốn tiếng tăm của mình ngày càng bay cao, bay xa, bay sâu vào quần chúng. Tiếng tăm ấy phải lan tỏa đến khắp hang cùng ngõ hẻm, các hàng ăn, quán nước và kể cả cái tolet cũng thấy được dáng dấp của Hải cẩu. 

Và mới đây hình ảnh của Hải cẩu một lần nữa trở thành để tài gây bão mạng xã hội khi ra lệnh đàn em của mình xử phạt một anh tài xề lái taxi. Lý do Hải cẩu phạt anh tài xế này chỉ vì anh đậu xe trong khuôn viên của cây xăng đặng đi ị. Anh tài xế cho rằng hải cẩu quá đáng vì anh ta đau bụng, tìm mãi mới có được chỗ để “giải quyết”. Giải thích mãi mà Hải cẩu không chịu tin và cho rằng anh tài xế này tự nói ra thôi. Đến lúc này anh tài xế đã mời Hải cẩu vào trong bồn cầu để kiểm chứng nhưng mọi lời giải thích đều trở nên vô nghĩa với Hải cẩu. Cuối cùng anh tài xế vẫn bị cẩu xe và đương nhiên sẽ phải đóng phạt vì mắc cái tội đau bụng trên địa bàn của Hải cẩu.

25/9/2017