Tuesday, March 3, 2015

Lại đề xuất phá giá tiền đồng

(NLĐO)- Các chuyên gia Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách đề xuất Ngân hàng Nhà nước nên chủ động phá giá tiền đồng từ 3-4% trong vòng 2-3 năm tới.

Các chuyên gia Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội lại đề xuất phá giá tiền đồng tại Báo cáo kinh tế Việt Nam quý 4-2014 vừa được công bố.
Cụ thể, các chuyên gia cho rằng sau nhiều năm có lạm phát cao, việc neo giá trị VNĐ vào USD khiến VNĐ bị định giá cao đã gây bất lợi cho hàng xuất khẩu và hàng hoá trong nước trước hàng nhập khẩu. Ảnh hưởng này trong nửa cuối năm 2014 còn nhân lên khi đồng USD tăng giá so với nhiều đồng tiền khác trên thế giới khiến VNĐ tiếp tục mạnh lên và hàng hoá nhập khẩu rẻ hơn. VEPR cho rằng Việt Nam điều chỉnh tỉ giá với biên độ hẹp trong nhiều năm gần đây là quá thận trọng và tiếp tục làm suy yếu khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.
Từ thực tế này, VEPR đề xuất Ngân hàng Nhà nước nên chủ động phá giá tiền đồng từ 3-4% trong vòng 2-3 năm tới, thông qua một số bước với biên độ 1-1,5% để trả lại sức cạnh tranh cho hàng hoá nội địa.
VEPR là một trong số các đơn vị nghiên cứu từng nhiều lần khuyến nghị Ngân hàng Nhà nước phá giá tiền đồng để không làm suy yếu sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước trước hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá trên thị trường quốc tế.
Năm 2014, tỉ giá chính thức được điều chỉnh tăng khoảng 1,4%, nằm trong giới hạn điều hành của Ngân hàng Nhà nước (1,53%), trong khi tỉ giá tự do tăng 2%. Riêng trong quý 4, tỉ giá chính thức tăng gần 1%, lên mức hơn 21.400 đồng/USD trong khi tỉ giá tự do là 21.600 đồng/USD. Tỉ giá giao động tương đối lớn buộc Ngân hàng Nhà nước phải 2 lần can thiệp vào thị trường tiền tệ.

T. Hà

QUỐC HẬN 30-4 THƯƠNG TIẾC NHƯNG NỮ ANH THƯ VNCH TỬ CHIẾN VỚI GIẶC THÙ CỘNG SẢN

Phạm Phong Dinh -- Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt !
NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH THỜI LỬA BINH
Trong cuộc chiến tranh bảo quốc chống ngăn cơn sóng đỏ của cộng sản quốc tế với đạo quân tay sai tiền kích của chúng là binh đội cộng sản Bắc Việt và Việt cộng miền Nam, khuôn mặt của những người vợ lính dường như đã rất mờ nhạt đằng sau chất muối trắng đẫm đầy trên lưng áo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng chiến tranh càng nặng độ thì hình ảnh những người chị vô danh ấy đã dần hiện rõ trong một ánh sáng diệu kỳ, mà chúng ta chỉ có thể cúi người thật sâu xuống để tôn vinh và ngợi ca. Ðó là những người lính không có vũ khí, không số quân, không tiền lương, không cả lương thực hành quân, nhưng là những người lính tỏa hào quang chói sáng nhất trong những hoàn cảnh nghiệt ngã thắt ngặt nhất, mà đã góp phần đem chiến thắng quyết định trên chiến trường.
Ðó là NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH, những người chị cao cả mà đã cùng chồng dấn mình trong cơn bão lửa của chiến tranh, cùng chia sẻ cái chết, có khi các chị hy sinh trước cả các anh. Những cái chết anh dũng trong âm thầm đó nào ai biết được. Không có Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ phủ trên chiếc quan tài được ghép thành từ những mảnh ván đơn sơ, không có chiếc huy chương Anh Dũng Bội Tinh Với Nhành Dương Liễu, không cả tiếng kèn truy điệu ai oán.
Những người lính đóng đồn cùng vợ con của các anh cùng sống chui rúc trong những cái hầm tối tăm ngột ngạt, dưới những những cái hố nhỏ ngập đầy nước. Những người lính nghèo nàn, rách rưới và tội nghiệp co ro ôm súng gác giặc và đánh giặc trong cái lạnh xé thịt của đêm. Ăn uống thì đạm bạc đến không có gì đạm bạc hơn được nữa. Một cái nồi cơm méo mó, với vài con cá nhỏ kho trong chất nước mắm hạng bét mặn chát những muối, một dĩa rau muống ruộng hay rau đắng xơ xác, mà có thể tìm thấy mọc đầy khắp những vũng nước đọng trên những cánh dồng lầy.
Cả gia đình người lính Ðịa Phương Quân hay Nghĩa Quân quây quần chung quanh mâm cơm đơn sơ đó chấp nhận sự thua thiệt của mình. Không than thở, không ta thán và vui lòng với niềm hạnh phúc mong manh của mình. Một năm 365 ngày, mười năm, hai mươi năm, cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến, hơn bảy ngàn đêm những người chị ấy chưa từng bao giờ biết ngủ yên giấc là gì. Chị thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng đại bác vọng ì ầm về thành phố từ phía mặt trận có anh ở đó, chị thổn thức nguyện cầu cho anh được bình yên, để anh có một ngày được về với chị và con, dù chỉ là những khoảnh khắc về phép thật quá hiếm hoi. Hay nếu chị cùng chồng trấn thủ lưu đồn, anh chiến đấu cơ cực như thế nào, anh ăn ngủ chập chờn ra sao, thì chị cũng cơ cực và chập chờn ngần ấy.
CHỊ PHẠM THỊ THÀNG, NỮ ANH THƯ ÐẤT GÒ CÔNG
Người vợ lính ở tiền đồn cáng đáng cùng một lúc hai công việc, mà công việc nào cũng biểu hiện hình ảnh và đức tính cao quí của người phụ nữ Việt Nam. Thứ nhất, đức tính đảm đang tận tụy của người vợ, người đàn bà Việt Nam quán xuyến chuyện gia đình, trông nom dạy dỗ con cái và nấu nướng những bữa ăn.
Thứ hai, khi quân giặc đã thấy dẫy đầy ngoài những vòng rào kẽm gai, thì những người nữ chiến sĩ chưa từng một ngày được huấn luyện ở quân trường ấy đã chiến đấu như bất cứ người lính chuyên nghiệp nào. Chị cũng biết dùng máy truyền tin gọi Pháo Binh, chị biết sử dụng thành thạo mọi loại súng trong đồn có, chị ném lựu đạn ác liệt và chính xác, tấm thân nhỏ bé của chị oằn nặng dưới những thùng đạn tiếp tế. Và chị cũng sẵn sàng nằm gói thân thiên thu trong chiếc poncho, để tên chị vĩnh viễn đi vào lịch sử. Chúng ta có nhiều người chị như vậy lắm. Ở ngay tại đồng Giồng Ðình này thì ít nhất cũng có những chị Phạm Thị Thàng và Trần Thị Tâm.
Ðêm 2.10.1965, với âm mưu làm xáo trộn hệ thống tiếp viện của những đơn vị diện địa trong khu vực Tiền Giang để dễ dàng thanh toán mục tiêu chính nào đó, chỉ trong một đêm Việt cộng đã tổ chức tấn công 11 vị trí của quân ta với quân số thật lớn. Ðồn Giồng Ðình thuộc tỉnh Gò Công cũng bị áp lực rất nặng của quân địch khi hứng chịu cuộc cường kích của 300 lính cộng.
Ðây là một lực lượng chính qui Việt cộng với hỏa lực rất mạnh, chúng quyết tâm hủy diệt đồn Giồng Ðình nhỏ bé, mà chỉ có vỏn vẹn một Trung Ðội Nghĩa Quân 24 tay súng trấn giữ. Là những con ác quỷ hung tợn và thâm độc, lực lượng cộng quân đã bố trí ở hướng có nhiều nhà dân chúng, vừa làm bia đỡ đạn cho chúng, vừa ngoác miệng tuyên truyền gây căm thù nếu quân ta bắn trả. Người dân, nhất là những ông bà lão già, đàn bà và trẻ con luôn luôn là những cái bia sống đỡ đạn cho bọn giặc hèn nhát gọi là những người “giải phóng”. Với quân số ấy, vũ khí hùng hậu ấy mà chúng cũng ngán ngại 24 chiến sĩ Nghĩa Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến nỗi phải cậy nhờ đến máu thịt của đồng bào để có cơ may thủ thắng, thì còn từ ngữ nào, hình dung từ tồi tệ nhất nào để diễn tả bộ mặt cùng hung cực ác rất đốn mạt của cộng sản nữa không.
Ðúng 2 giờ đêm, quân cộng dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thượng Úy Sáu Bích, đã mở cuộc tấn công từ hai mặt đánh vào Giồng Ðình, với sự tin tưởng điên rồ, rằng chúng sẽ thanh toán cái tiền đồn nhỏ xíu này trong một thời gian ngắn. Chiến thắng dường như là chắc chắn, vì với quân số mười lần hơn, mười đè một, dẫu chúng có thí chín tên thì cũng có thể hạ gục được một chiến sĩ Nghĩa Quân Giồng Ðình.
Trên lý thuyết, thì giả thiết đó dường như đúng. Nhưng trên trận địa, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn thể hiện những chuyện phi thường, mà rất hằng hiện hữu trên bất kỳ chiến trường nào, quả thật cộng quân đã chọn lầm mục tiêu. Sau ba đợt tấn công hung bạo, tưởng gạch đá cũng phải nát thành tro, đã chiếm được 2 trong số 3 lô cốt trong đồn, cộng quân vẫn phải rút trở ra. Cuộc tấn công lần thứ tư được hối hả tổ chức và thực hiện, với quyết tâm san bằng Giồng Ðình. Nhưng liệu 24 chiến sĩ Nghĩa Quân có cho phép điều đó không. Câu trả lời là không, không chỉ đến từ ý chí hừng hực tử thủ của các anh, mà còn là từ đôi bàn tay yếu mềm của những người vợ lính đang sống cùng với chồng con của các chị trong đồn. Phải, cuộc chiến thắng cuối cùng của Nghĩa Quân đồn Giồng Ðình sẽ không thể thực hiện được, nếu không có sự góp sức chiến đấu của những người chị này. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Không phải chỉ những người chị dũng cảm ấy không thôi, mà cả trẻ con cũng đánh.
Ðồn Giồng Ðình nằm ở một vùng thôn ấp hẻo lánh trong tỉnh Gò Công, do một Trung Ðội Nghĩa Quân trấn giữ, với thành phần chỉ huy gồm có anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, anh Lê Văn Hùng, Ðồn Phó và anh Lê Văn Mẫn, âm thoại viên. Trấn thủ một vị trí hung hiểm như vậy, không chỉ có 24 tay súng mà đã đủ, nên tất cả những người vợ lính trong đồn đều đã được chồng huấn luyện sử dụng thành thạo những loại máy móc truyền tin và vũ khí. Như vậy số tay súng đã được nhân lên gấp đôi.
Trong nhiều trường hợp, đến những giây phút tử sinh tuyệt vọng nhất, những em bé cũng tham chiến, khi các em gan dạ bò dưới lưới đạn của giặc để đem tiếp tế đến cho cha và mẹ. Không ai buộc những người vợ lính, con lính cầm súng đánh địch. Nhưng chính những người vợ lính, con lính ấy làm sao có thể ẩn náu tìm cái sống trong khi chồng và cha của họ sắp ngã gục ngoài chiến hào.
Khi chấm dứt đợt tấn công thứ ba, địch tạm rút để tái tổ chức tấn công, thì tình trạng bên trong đồn Giồng Ðình đã khá là bi đát. Ðã có đến 16 chiến sĩ Nghĩa Quân bị thương, chỉ còn 8 Nghĩa Quân còn chiến đấu được. Âm thoại viên Lê Văn Mẫn bị thương ở đầu trong lúc anh đang cố gắng gọi máy về Tiểu Khu.
Anh Mẫn gục xuống buông chiếc ống liên hợp. Chị Trần Thị Tâm, vợ anh Mẫn vội đặt con bên cạnh anh và chộp lấy ống liên hợp. Liên lạc được tiếp nối, chị Tâm nghiễm nhiên trở thành một âm thoại viên, và là cứu tinh của đồn Giồng Ðình. Ở một góc đồn, anh Lê Văn Hùng và chị Phạm Thị Thàng, vợ anh, và hai đứa con nhỏ đang phải đối đầu với một lực lượng quá đông của địch.
Nhìn ra ngoài hàng rào kẽm gai, giặc đã đã tràn vào đen ngòm như những con quái vật hung hãn. Anh Hùng chỉ còn trong tay cây tiểu liên Thompson và 16 trái lựu đạn, chị Thàng có một khẩu Carbine. Thật tội nghiệp cho hai đứa nhỏ, sức ép của bộc phá và súng SKZ của Việt cộng bắn vào quá gần, các em không còn khóc được nữa mà đã nằm bất động dưới chân hai vợ chồng anh Hùng. Chị Thàng thì thào:
- Chúng đang phá lô cốt chánh, để em bắn yểm trợ anh bò về giữ. Lô cốt mất là đồn mình mất, em nằm tại đây giữ mấy đứa nhỏ, nếu chúng tràn vào thì... thì... em ném lựu đạn ra, có thể cầm cự đến sáng được.
Anh Hùng ngần ngừ, anh rưng rưng nhìn vợ con, rồi nhìn về phía lô cốt. Tiếng súng từ lô cốt cuối cùng đã yếu ớt lắm, có lẽ mấy Nghĩa Quân cố thủ ở đó đã kiệt quệ quá rồi. Số phận của anh Thi Ðồn Trưởng thế nào. Anh Hùng lắc đầu không dám nghĩ đến chuyện xấu nhất đã xảy ra cho đồng đội. Nhưng nếu Việt cộng chiếm được lô cốt ấy, thì coi như đánh dấu chấm hết cuộc kháng cự. Anh Hùng phải quyết định, dù quyết định đó quá đau xót, là bỏ lại vợ con, mà trong lúc quân giặc đã hò hét ngay sát bên rồi:
- Anh chạy theo giao thông hào, em bắn yểm trợ cho anh.
Anh Hùng nhìn chị Thàng và hai đứa nhỏ lần cuối cùng. Trong lòng anh quặn lên một nỗi bi thương. Trời ơi, vợ con mình. Hai đứa nhỏ chẳng biết còn sống hay đã chết. Anh phóng mình xuống hào chạy băng băng về hướng lô cốt. Cây Carbine trên tay chị Thàng run lên, những tràng đạn rải vào những cái bóng đen đã quá gần. Anh Hùng đã bò vào được lô cốt, giữa những tiếng đạn nổ rền trời. May quá, anh Thi trưởng đồn vẫn nguyên vẹn. Súng SKZ của địch thụt ầm ầm, nhưng anh Hùng vẫn có thể nghe được từng tiếng lựu đạn nổ từ phía công sự của chị Thàng.
Nước mắt anh rơi lả chả trên nền đất. Anh đã đếm được đến con số 15, mà tiếng súng của địch vẫn nỗ dòn dã ngay sát tuyến phòng thủ của chị Thàng. Anh biết giây phút định mệnh thảm thiết nhất cũng đã điểm. Chị Thàng sẽ làm gì với quả lựu đạn thứ 16. Anh Hùng đau đớn rên lên trong lòng : “Chỉ còn một trái lựu đạn nữa thôi, làm sao em cầm cự được đến sáng”. Chính anh cũng không có được một giây để nghĩ tiếp cái gì sẽ xảy đến cho vợ con mình, vì dưới chân lô cốt anh tử thủ đã đông nghẹt quân giặc. Ðủ mọi thứ loại súng nỗ chát chúa khắp đồn, anh Hùng không biết chắc là mình đã nghe được tiếng nổ của trái lựu đạn thứ 16 chưa.
Cuộc chiến đấu đã kéo dài được một tiếng đồng hồ, quân địch đã phá được lớp kẽm gai cuối cùng và sắp tràn ngập đồn Giồng Ðình. Lúc đó là 3 giờ sáng rạng ngày 2.10.1965. Tình hình đã quá nguy ngập. Anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, quyết định thà hy sinh còn hơn là để đồn lọt vào tay địch. Anh giật lấy ống liên hợp từ tay chị Tâm và thét lớn:
- Hãy bắn lên đầu chúng tôi ! Bắn vào giữa đồn... Hai lô cốt thứ nhứt và thứ hai đã thất thủ. Tụi tui ở lô cốt thứ ba. Hãy bắn lên trên đầu chúng tôi, Việt cộng đông lắm. Bắn đi... bắn....
Sau tiếng gọi thống thiết của người Ðồn Trưởng, Pháo Binh Tiểu Khu Gò Công lập tức bắn vào đồn với loại đầu nổ cao. Loại đạn đặc biệt này nổ khi cách mặt đất chừng 4, 5 thước, rất hữu hiệu tiêu diệt biển người địch, quân ta núp trong lô cốt vẫn có hy vọng sống sót. Những cái bóng đen nhập nhoạng dưới ánh sáng hỏa châu văng tung tóe, tiếng kêu dẫy chết của chúng như tiếng rú của quỷ. Hàng tràng đạn nổ cao vẫn dội ùng oàng xuống đồn. Chiếc lô cốt cuối cùng vẫn đứng vững, anh Thi cùng anh Hùng từ trong những lổ châu mai bắn tỉa từng tên địch. Giữa tiếng súng nổ dòn, dường như người ta nghe âm thanh rì rì của máy bay. Không Quân Việt Nam đã tới. Những chiếc A1 khu trục cơ đã xuất kích. Ðến đây thì Thượng Úy Sáu Bích, tên chỉ huy trận đánh đã có thể nhận thấy rằng, cuộc tấn công đồn Giồng Ðình đã đánh dấu chấm hết, với phần thắng nghiêng về phía Nghĩa Quân Việt Nam Cộng Hòa. Lúc 4 giờ 30 sáng, chiến địa hoàn toàn im tiếng súng. Quân địch đã kéo những xác chết và những tên bị thương chạy trốn vào phía bóng tối.
Khi ánh hừng đông của một ngày mới đã lên, hai Ðại Ðội Ðịa Phương Quân do chính Trung Tá Tiểu Khu Trưởng Gò Công chỉ huy đã đến và tổ chức bung quân ra lục soát. Quân cộng đã để lại trận địa 23 xác chết, ở giữa đồn có 6 xác khác nằm bên cạnh lô cốt thứ ba, nơi mà anh Ðồn Trưởng Thi, Ðồn Phó Hùng và chị Tâm giữ máy truyền tin đã kháng cự mãnh liệt, thà chết không hàng. Những tên Việt cộng này mang trên mình rất nhiều lựu đạn và bộc phá, chắc là chúng quyết thí mạng để phá cho bằng được ổ kháng cự cuối cùng này.
Anh Thi và anh Hùng đã bắn địch theo lối xâu chéo, nghĩa là bắn chéo góc với nhau tạo thành một xạ trường quét gọn tất cả những tên cộng nào nằm trong đó. Ngày hôm sau, một người thường dân bị Việt cộng bắt đi tải thương lén trốn về được đã cho biết số bị thương của chúng chở đầy sáu chiếc ghe tam bản. Một lính cộng may mắn bị thương tên Dương Văn Thiều, 18 tuổi, sống sót và bị bắt làm tù binh. Tại sao may mắn ? Vì nếu anh ta bị kéo đi theo vào bưng biền, nếu không bị chết vì nhiễm trùng, bị những quân y sĩ Việt cộng cưa cắt bằng những loại cưa và đục của thợ mộc, thì cũng bị cấp chỉ huy ra lệnh mang anh đi thủ tiêu. Ðó là lý do giải thích tại sao sau ngày 30.4.1975, người dân Miền Nam hiếm thấy người thương phế binh cộng sản trên đường phố.
Nhưng đối với anh Hùng, thì tất cả những gì mà Viêt cộng đã trả giá cho cuộc tấn công không làm anh quan tâm. Ngay khi tiếng súng vừa chấm dứt., quân cộng đã rút đi, thì anh đã như một người điên lao mình ra chỗ chiến hào mà chị Thàng đã một mình một súng trấn giữ ở đó, với một niềm hy vọng mỏng manh, rằng đừng bao giờ trái lựu đạn thứ 16 được rút chốt. Anh Hùng bò vào khúc hào mà anh đã nuốt nước mắt chạy đi. Chị Thàng cùng hai đứa con của anh nằm chết bên cạnh ba xác Việt cộng. Anh Hùng gục xuống như thân cây chuối bị một nhát dao bén chém ngọt làm đôi. Anh biết, nếu trái lựu đạn thứ 16 nổ thì chị Thàng cũng đi vào cõi chết, vì chị Thàng sẽ không bao giờ cho phép giặc bắt chị hoặc đạn của chúng bắn vào người chị. Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt.
Tiếng nổ kinh thiên cùng với xác thịt và máu của người nữ chiến sĩ đó đã được đánh đổi với ba mạng giặc. Anh Hùng ôm xác vợ con vào lòng và gần như ngất xỉu. Nhưng khi nhìn ra ngoài, những xác giặc thù nằm ngỗn ngang khắp nơi, trong nỗi đau khổ tột cùng của mình, anh Hùng thấy trong lòng dậy lên một niềm tự hào đến nghẹn ngào. Sự hy sinh của chị Thàng đã cứu sống được tất cả những thương binh Nghĩa Quân cùng vợ con các anh, nhưng trên hết cứu sống chính sinh mạng của người chồng mà chị yêu mến. Những viên đạn Carbine và 15 trái lựu đạn của chị đã đóng góp vào sự tồn tại kỳ diệu của đồn Giồng Ðình. Một người lính chuyên nghiệp và thiện chiến nhất cũng chỉ làm được đến ngần ấy. Nếu cái lô cốt thứ ba không đứng vững, thì chắc chắn tất cả sinh mạng mấy mươi người Nghĩa Quân và vợ con của đồng Giồng Ðình đều sẽ chết hết.
Anh Hùng ẳm chị Thàng ra ngoài, để trông thấy những người còn sống, những người vợ lính khác đã gục đầu khóc tiếc thương chị Thàng. Những nấm mộ đất được đắp vội với ba tấm bia tang tóc. Một của chị Phạm Thị Thàng, và hai kia của cháu Lê Văn Dũng và Lê Tấn Sỹ. Ôi, những người vợ của lính trong thời lửa binh. Chị Phạm Thị Thàng, chị Trần Thị Tâm, và nhiều người chị khác trên khắp nẽo chiến trường, chị Thạch Thị Ðịnh, chị Bùi Thị Xiếu, chị Am Reng. Người lính của chúng ta, những công dân xếp hạng chót nhất trong bậc thang xã hội, nhưng là những người hứng chịu oan nghiệt trước nhất, là bức tường chắn cho sự an toàn của hậu phương phồn thịnh và hạnh phúc. Trong đời của các anh không có được một thứ ưu tiên vật chất nào cả, ngoài cái ưu tiên phải hy sinh và chết. Có những người lính từ Miền Tây ra tận miền hỏa tuyến hay trên vùng cao nguyên sương mù Miền Trung, nhiều năm liền không có lấy được một ngày phép về thăm gia đình. Nếu anh may mắn, thật đau xót, quân thù bắn anh bị thương, thì anh mới có cái diễm phúc được nắm trong tay tờ giấy phép. Còn nếu sự gọi là may mắn đó đi xa hơn một bước, anh chết, thì anh được phép dài hạn trở về và vĩnh viễn được an nghỉ ở nơi đã sinh ra anh. Ðầu năm 1972, trong một trận đánh của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại khu vực Cồn Tiên nằm sát phía Nam khu phi quân sự bên này bờ sông Bến Hải, một tiểu đoàn sau nhiều ngày cố gắng đã không thể chiếm được một cao điểm. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng gọi bốn người lính gốc Miền Tây lên hứa sẽ cấp mỗi anh mười ngày phép nếu các anh chiếm được ngọn đồi ấy. Bốn người tráng sĩ Kinh Kha đã nai nịt tề chỉnh, mang thật nhiều lựu đạn bò lên, mỗi người cầm một cây gậy ngắn dò đường. Ðêm tối như mực. Hễ chọt trúng cái lổ nào là thảy lựu đạn vô cái lổ đó, vì ở đó chính là cái miệng hầm chốt của địch. Ðến sáng, bốn người dũng tướng vô danh đó đã reo hò trương Cờ Vàng Việt Nam trên đỉnh cao điểm. Ôi, những ngày phép đã trở thành một ân huệ chứ không phải là một quyền lợi đương nhiên của những người lính trận.
Người vợ lính cùng chia sẻ với chồng những nỗi đắng cay thiệt thòi đó, bằng tất cả sự câm nín nhẫn nhục và vui lòng với những gì mình có. Một góc hầm tối tăm, một chiếc ghế bố cũ, vài cái nồi, chảo nhem nhuốc, những cái chén sành và những đôi đũa tre, cùng tiếng cười của lũ trẻ thơ cũng đủ làm nên thành niềm hạnh phúc vĩ đại của những người vợ lính. Chị Thàng đã chết đi, anh linh của chị cùng hai cháu bé đã thăng thiên lên cõi vĩnh hằng, nhưng những người còn sống cùng thời với chị, cho mãi đến tận bây giờ và ngàn đời sau, dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên tên chị. NGƯỜI CHỊ CAO CẢ PHẠM THỊ THÀNG. Vì tên chị đã được trân trọng ghi chép vào những trang bi tráng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam chống cộng sản quốc tế và Hà Nội, một lũ hung đồ diệt chủng, diệt dân tộc gớm ghiếc nhất của thế kỷ thứ 20 và của lịch sử hình thành nhân con người.
AMRENG, NGƯỜI NỮ CHIẾN SĨ CAO NGUYÊN
Quân cộng sản hành quân trên vùng cao nguyên thường khinh rẻ và húng hiếp các sắc dân Thượng rất thậm tệ. Chúng bắt trai tráng đi dân công, thậm chí cho bổ sung vào những đơn vị Thượng cộng, người làng thì bị ép buộc đóng góp lương thực, lúa gạo. Chúng dùng muối, là thứ tối cần của người dân miền cao, để đổi chác một cách rất bất lợi cho người Thượng. Người Thượng sống vất vả quanh năm, chỉ trông cậy vào những mảnh đất rừng khai phá để trồng trọt chút hoa màu hay trồng lúa rẫy, không đói đã là may lắm rồi, có còn đâu dư dả để cung phụng cho bọn phỉ cộng. Có nhiều trường hợp cả làng trong rừng sâu chịu không nỗi cảnh áp bức, giết chóc, đã kéo nhau ra quận hay tỉnh để xin nương náu với người Kinh.
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lập Bộ Phát Triễn Sắc Tộc để giải quyết những vấn đề của người thiểu số. Hàng trăm trại tiếp cư tị nạn cộng sản đã được thiết lập để đón tiếp đồng bào Thượng và giúp đỡ đồng bào tạo dựng cuộc sống mới. Ðất canh tác được cấp phát vô điều kiện cho đồng bào Thượng tị nạn cộng sản. Thông thường thì mỗi gia đình thiên tai hay tị nạn đều được cấp phát 10 bao xi măng và 20 tấm tôn để cất lại một căn nhà nhỏ. Một nước nhỏ, nghèo là Việt Nam Cộng Hòa, quanh năm chiến tranh, ngân khoản thiếu thốn, mà đã cắn răng gồng gánh giúp đỡ hàng triệu người đồng bào bất hạnh của mình. Không phải “Lá lành đùm lá rách nữa”, mà là “Lá rách đùm lá nát”. Ðã vậy mà thôi đâu, những làng định cư nhỏ bé và nghèo nàn ấy vừa được dựng lên chưa được bao lâu, thì Việt cộng đã tràn về đốt phá tan hoang. Những chiếc lá rách nát lại cắn răng san sẻ cho nhau những gì mình có. Dưới mắt cộng sản, thì những người dân chạy về phía chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa xin được che chở và giúp đỡ, đều mang cái tội tày trời là “dân ngụy”, là “phản động”, dù có bắn bỏ hay đốt cháy nhà cửa của họ cũng là chuyện trừng phạt đương nhiên của điều mà chúng gọi là cuộc “cách mạng giải phóng”.
Với bản chất là một lũ cướp chuyên nghiệp và man rợ, cộng sản Hà Nội hiện nay không bao giờ từ bỏ cơ hội chiếm đoạt đất khẩn hoang của người Thượng. Chúng chờ cho các sắc tộc Thượng khai phá rừng tạo dựng nên thành những vùng sinh sống màu mỡ trên những tỉnh cao nguyên, là chúng kiếm chuyện cứớp đoạt một cách trắng trợn ngay, nại lý do đất đai thuộc về quyền quản lý của nhà nước, người dân không có quyền sỡ hữu. Mặt khác, chúng áp dụng hình thái thực dân, cho di chuyển dân Kinh gốc Miền Bắc vào ở trên đất mà người Thượng đã sinh sống từ ngàn năm, lấn dần, lấn dần, người Thượng kém thế phải lùi mãi vào tận rừng sâu,ở chỗ chỉ có nước độc, bệnh hoạn và đói kém. Ðã thế mà cộng sản nào chịu buông tha, chúng vẫn cứ cho phép những người gọi là di dân tràn vào như vết dầu loang, để đồng bào Thượng chịu không nỗi phải chạy qua đất Miên xin tị nạn. Ðây là một tiến trình có chủ mưu, có sách lược để tiêu diệt dần mòn dân Thượng. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, những người di dân Miền Bắc đã không biết rằng mình đang được rải ra làm phên dậu phòng thủ dọc theo dãy biên thùy Trường Sơn, án ngữ con đường đổ xuống đồng bằng duyên hải, nếu có một đạo quân đánh sang từ đất Lào và Miên. Cũng tốt, cái phên dậu đó giống như con dao hai lưỡi, rồi cũng có một ngày những đồng bào di dân nghèo Miền Bắc đó sẽ trở thành một lực lượng mạnh có khả năng thọc sâu mũi dao vào tận tim của bọn cộng sản để tiễn chúng xuống tận đáy địa ngục.
Tức nước thì có lúc cũng phải vỡ bờ. Ngày 12.4.2004, nhiều chục ngàn dân Thượng của các sắc tộc sinh sống trong những tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac, Phước Long, Bình Long đã kéo vào những thành phố tỉnh lỵ để hình thành một cuộc phản kháng bất bạo động, phản đối cộng sản Hà Nội đàn áp đức tin đạo Tin Lành, chiếm đoạt đất đai và quyền sống căn bản của người Thượng. Dưới mắt cộng sản, dù chỉ là một biểu hiện phản đối nhỏ cũng đã được gán cho cái tội phản động, tội chết, chứ đừng nói gì đến những cuộc tập trung đông đảo như vậy. Hàng sư đoàn bộ binh của cộng sản đã được điều động lên phối hợp với công an đàn áp dã man cuộc tập trung. Hàng trăm đồng bào Thượng đã bị bắn chết, những người bị thương bị đem vào cô lập trong bệnh viện nhà nước, không ai có thể vào thăm viếng, kể cả những phóng viên và những nhà ngoại giao nước ngoài.
Ngày đầu xuân Tân Hợi 1971, trên miền cao nguyên của Quân Khu II, trong chiến dịch quân sự mà cộng sản gọi là Cao Ðiểm Tân Hợi nhằm quấy phá những tỉnh biên thùy đã không thực hiện được. Có thể bởi hậu quả của những cuộc hành quân Tây chinh vượt biên Cửu Long của Quân Ðoàn IV, Toàn Thắng của Quân Ðoàn III và Bình Tây của Quân Ðoàn II trong năm 1970 đã gây tổn thất nặng ở những kho tiếp tế hậu cần của cộng sản, nên chúng khó thể đủ sức mở được những mặt trận lớn như mong muốn. Ðêm 31.1.1971, lúc 3 giờ sáng, một lực lượng cộng quân tấn công vị trí của Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân tại làng Plei Kênh Săn thuộc tỉnh Pleiku..
Cuộc tấn công đã rất sớm bị thảm bại vì quân địch đã không thể ngờ rằng, có những người vợ lính cũng đã chiến đấu dũng mãnh như thế nào. Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân đa số chiến sĩ là người dân tộc Thượng, là những chiến sĩ sinh ra và lớn lên ở giữa núi rừng cao nguyên, đã hun đúc các anh trở thành những con người cứng rắn như những tảng đá khổng lồ trên triền dãy Trường Sơn. Người Thượng quen sống kiếp du mục du canh, nên khi người lính Thượng Ðịa Phương Quân đóng đồn ở đâu thì vợ con của các anh cũng đi theo và nhanh chóng thích ứng với môi trường cùng cuộc sống mới ở nơi đó. Tuy là phụ nữ, nhưng những người đàn bà Tây nguyên dẻo dai không kém gì người đàn ông Thượng. Vai mang gùi nặng trên lưng, chân trần chai sạn vì đá cứng và gai nhọn của núi rừng, cùng hoàn cảnh sinh tồn khắc nghiệt, bất cứ một người phụ nữ Thượng nào cũng đã được thiên nhiên rèn luyện nên thành một mẫu người khỏe mạnh, rắn rỏi, nhưng vẫn giữ được những dường nét mềm mại tràn đầy mạch sống. Cho nên khi cuộc chiến đấu nổ ra, thì những người đàn bà đó đã rất nhanh chóng trở thành những người nữ binh hăng hái cầm súng đánh địch. Một trong những người chị đó là chị Ksor Amreng, vợ của Binh Nhứt Kpa Dan.
Anh chị Dan và Amreng đều là người sắc tộc Djarai, sinh quán ở quận Phú Túc, tỉnh Phú Bổn. Từ sau khi thành hôn, anh Dan nhập ngũ, thì chị Amreng cũng đã theo chồng lên sinh sống trong những tiền đồn hẻo lánh ở biên giới trong quận Phú Nhơn, tỉnh Pleiku, những địa danh thật xa lạ với chị : Queng Mep, Plei Kênh Săn. Khi quân cộng sản Bắc Việt nổ súng tấn công Plei Kênh Săn, chị Amreng đã vững vàng trong tư thế phụ xạ thủ đại liên cho chồng. Khẩu đại liên M60 nằm phía sau những lổ châu mai nhỏ đã bị giới hạn rất nhiều khu vực tác xạ, anh Dan quyết định dời khẩu đại liên sang một vị trí khác có xạ trường rộng lớn và bao quát hơn. Trong lúc chị Amreng chạy đi chạy lại để khiêng những thùng đạn đại liên sang vị trí mới, thì có ba tên Ðặc Công Việt cộng đã nhào vào đánh cận chiến cới anh Dan. Anh Dan thật dũng cảm, như một con beo ở rừng xanh, bằng tay không anh đã vật lộn với chúng mà không nao núng. Chị Amreng vừa vác một thùng đạn đến, quát bảo anh Dan tránh ra xa. Hiểu ý vợ, anh Dan lăn một vòng, một trái lựu đạn M26 từ trong tay chị Amreng được ném tới. Ba tên Ðặc Công chưa kịp phản ứng, thì một tiếng nổ chát chúa đã đốn gục chúng xuống ngay bên cạnh đường giao thông hào. Khẩu đại liên M60 trong tay đôi vợ chồng Dan và Amreng đã bắt đầu nổ dòn dã ngăn chận tất cả những cuộc tấn công biển người của địch vào đồn. Anh Dan đang say mùi thuốc súng, anh đã không để ý nhiều tên Ðặc Công khác đã bò vào gần khẩu đại liên để mở cuộc cận chiến lần nữa.
Nhưng chúng không biết rằng người nữ binh vóc dáng nhỏ bé với khuôn mặt hiền lành như một em bé đã rất cảnh giác. Ba trái lựu đạn M26 đã được chị quăng ra rất chính xác vào những cái bóng đen đang bò lổn nhổn. Giữa tiếng súng nổ ầm ầm, chị Amreng đã có thể nghe thấy tiếng kêu gào thảm thiết của những lính địch trúng phải lựu đạn của chị. Ðến lúc này thì anh Kpa Dan chợt nhận ra rằng mình đã bị thương, chị Amreng lập tức trở thành xạ thủ chính, anh Dan lùi qua một bên làm xạ thủ phụ cho chị. Hào hùng không kém gì những đấng nam nhi, người nữ chiến sĩ ấy đã cùng với khẩu M60 đốn ngã hàng loạt cuộc tấn công của giặc. Sinh mạng của cái đồn nhỏ Plei Kênh Săn phần lớn trông cậy vào khẩu đại liên. Nói một cách chính xác, toàn tiền đồn cậy nhờ vào đôi bàn tay nhỏ nhắn của một cô gái mà ngày thường rất hiền hòa và ít nói này.
Khi ánh bình minh lên, giặc chấp nhận thua cuộc và đã rút đi, chiến trường đã hoàn toàn im tiếng súng, lũ chim rừng sau một đêm kinh hoàng đã ríu rít hát ca trên cành lá đón chào một ngày mới. Tin chiến thắng của Plei Kênh Săn đã bay về đến Pleiku và cái tên Ksor Amreng thật dịu dàng và thật đẹp ấy đã được người dân thành phố gọi là buồn muôn thuở này nhắc nhở nhiều. Kinh lẫn Thượng, đồng bào Pleiku đã chung góp gửi đến chị Amreng và Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân nhiều tặng phẩm và tiền thưởng. Thiếu Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh Quân Ðoàn II & Quân Khu II đã đích thân bay trực thăng đến Plei Kênh Săn trân trọng trao gắn cho người lính không số quân Amreng chiếc huy chương cao quí Anh Dũng Bội Tinh, một vinh dự hiếm có dành cho một người dân sự .
Tấm gương chiến đấu của chị Ksor Amreng là một trong nhiều tấm gương thầm lặng còn chưa được biết của những người chị trên cao nguyên trong cuộc chiến tranh bảo quốc bi tráng của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, những thế hệ đi sau anh chị Dan và Amreng sẽ mãi nhớ rằng, dòng máu kiên cường uy vũ bất năng khuất mà anh chị cùng những chiến sĩ Thượng từng một thời thể hiện dưới lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là một niềm kiêu hãnh sáng chói mà họ, những đồng bào Thượng đang bị kềm kẹp oan khuất dưới bàn tay sắt máu của cộng sản Bắc Việt, cũng sẽ có ngày vùng lên ném những quả lựu đạn và bắn những tràng đại liên vào giữa mặt bọn chúng, để hủy diệt chúng, bọn vô dân tộc vô thần đó, và cho chúng biết lòng quật khởi phi thường của người Nước Nam.
Phạm Phong Dinh

Cộng sản nói và làm

Người Quan Sát (Danlambao) - Vấn đề Người Quan Sát đưa ra cùng các bạn trong thôn hôm nay liên quan đến chủ quyền biển đảo quốc gia, một trong những tử huyệt của Cộng sản bị Tàu Cộng nắm thóp sau Hội nghị Thành Đô năm 1990, và là vấn đề hệ trọng của dân tộc.

Thời điểm cuối năm 2014, các lãnh đạo Cộng sản thường xuyên đăng đàn nói về chủ quyền, như một cách lấy lại niềm tin trong nhân dân sau cáo buộc dâng biển cho Trung Cộng bởi công hàm 1958 Phạm Văn Đồng.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Khôn khéo để bảo vệ chủ quyền


Tướng Phùng Quang Thanh nói: “Xu thế ghét Trung Quốc gây nguy hiểm cho dân tộc


Và thực tế là sau các phát ngôn đó thì Trung Quốc đã xây đảo nhân tạo tại Trường Sa hoàn tất. Lúc này báo lề đảng bắt đầu đưa tin: “Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa đe dọa hòa bình, phá hoại tự nhiên”

“Đó là những căn cứ quân sự mang tính chất tấn công”


“Biển Đông 2015: Đảo nhân tạo sẽ làm dậy sóng?”


Có thể thấy, vẫn là những chiêu thức đưa tin vô can như thể chóp bu Cộng sản Hà Nội đứng ngoài việc tạo cơ hội cho Trung Cộng độc diễn tại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Bằng các phát ngôn lừa bịp, Cộng sản Hà Nội phủi sạch tay việc Lê Đức Anh ra lệnh cho binh lính hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam không được nổ súng bắn trả quân xâm lược Trung Cộng tại đảo Gạc Ma năm 1988. Bằng các luận điệu xuê xoa người dân, Cộng sản Hà Nội đang cố tránh né trách nhiệm trong việc làm mất biển đảo quê hương. Có bao nhiêu người còn tin Cộng sản thực tâm bảo vệ chủ quyền và có bao nhiêu người sẽ lên tiếng khi những người đi đầu trong việc chống lại chủ trương xâm lược của Trung Cộng đã bị bắt bớ, đàn áp, tù đày?


TỔNG THỐNG MỸ OBAMA TỪ CHỐI TIẾP TỔNG BÍ THƯ CSVN NGUYỄN PHÚ TRỌNG TẠI VĂN PHÒNG PHỦ TỔNG THỐNG







Nguồn tin từ Giáo sư Carl Thayer, một nhà bình luận gia nổi tiếng của trường đại học "The University of New South Wales"cho biết là chuyến đi thăm Mỹ của Nguyễn Phú Trọng không được suôn sẻ vì Chính Phủ Mỹ bế tắc thỏa thuận đòi hỏi của phía CSVN là tiếp đón Nguyễn Phú Trọng tại Oval Office (Văn Phòng Tổng Thống).

Giáo sư cho biết thêm là Tổng Thống Obama đã từ chối thẳng thừng, không muốn tiếp Nguyễn Phú Trọng ở văn phòng của phủ Tổng Thống Hoa Kỳ.

Theo Giáo sư Carl Thayer thì phía CSVN đã vận động chính phủ Mỹ trong một năm trời để cho Nguyễn Phú Trọng được sang thăm Mỹ, tuy nhiên đây là vấn đề nan giải cho nước Mỹ vì Nguyễn Phú Trọng KHÔNG có liên hệ gì tới ngoại giao song phương giữa Mỹ và Việt Nam. Nguyễn Phú Trọng chỉ là thủ lãnh của một Đảng phái chính trị (CSVN).

Ngày 13/2/2015 Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã chính thức mời Nguyễn Phú Trọng sang thăm Mỹ không mang tính Quốc Gia mà chỉ là ngoại giao giữa 2 Đảng CSVN và Đảng Dân Chủ Mỹ. Phía CSVN đánh lận con đen bằng cách vận động để Tổng Thống Obama gặp Trọng giống như là một Quốc Khách, tuy nhiên cuộc vận động của CSVN gặp phải trở ngại lớn là Tổng Thống Mỹ Obama đã thẳng thừng từ chối gặp ông Trọng tại văn phòng Tổng Thống.

Không phải nước Mỹ bất lịch sự mà là vì TƯ CÁCH của ông Trọng đối với nước Mỹ chỉ là lãnh đạo của Đảng CSVN, không phải lãnh đạo của một Quốc Gia.

Đây là sự nhục nhã của Đảng CSVN vì trước đây chính phủ Mỹ đã chào đón anh Đỗ Thành Công (Cong Do) tại Oval Office (Văn Phòng Tổng Thống) mà lại từ chối đón tổng bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng. Chính phủ Mỹ đã xem anh Đỗ Thành Công là chính khách nhưng Nguyễn Phú Trọng chỉ là nhân vật cắc ké không hơn, không kém.

Photo: (1) Văn Phòng Oval Office của Tổng Thống Mỹ (2) Tổng Thống Mỹ George W. Bush đón tiếp anh Đỗ Thành Công tại Oval Office (3) Hình anh Đỗ Thành Công, ứng cử chức dân biểu tiểu bang California, Địa Hạt 27, vào năm 2016 (Cong T. Do for CA State Assembly)

Nguyễn Thùy Trang

Nguồn tham khảo: http://www.c3sindia.org/us/4767

Sài Gòn chấn động vụ giết chú, chặt xác rồi treo cổ tự tử

SÀI GÒN (NV) - Lại thêm một vụ chặt xác người thân ở Sài Gòn gây chấn động dư luận. Lần này là cháu giết chú mà không rõ nguyên nhân, bởi hung thủ sau đó đã tự tử.

Tờ Tiền Phong cho biết, ngày 2 tháng 3, 2015, công an quận 8 thành phố Sài Gòn xác nhận đang điều tra, làm rõ vụ án mạng xảy ra tại hẻm 172, đường An Dương Vương, phường 16, quận 8. Nạn nhân là ông Lâm Chấn Lương (63 tuổi) và hung thủ cũng là cháu ruột Lâm Kim La (34 tuổi) ngụ cùng nhà.


Ông Lâm Thiện Sơn vẫn bàng hoàng sau sự việc em trai và chú mất. (Hình: Tiền Phong)

Tin cho biết, khoảng 11 giờ 30 ngày 28 tháng 2, ông Lâm Thiện Sơn (38 tuổi) và vợ đi làm về nhà thì phát hiện người em trai là ông Lâm Kim La ở cùng nhà treo cổ chết trong nhà vệ sinh.

Ngay sau đó, ông Sơn đã báo với công an địa phương. Công an quận 8 và các đơn vị nghiệp vụ công an Sài Gòn đến khám nghiệm hiện trường và phát hiện trong phòng ngủ của ông La có 1 thùng carton bên trong có một số bộ phận cơ thể người, 3 con dao, 1 thớt gỗ, và 2 đèn pin tích hợp roi điện... Ngoài ra công an còn thu được 1 túi nylon và 1 bao xác rắn cũng chứa cơ thể người.

Ông Võ Văn Sáu, tổ trưởng tổ dân phố kể lại: Khi nhận được tin báo nhà ông Sơn có người tự tử, ông vội chạy đến thì thấy ông La chết trong tư thế treo cổ bằng dây thắt lưng tại nhà vệ sinh.

“Lúc đó, tôi ngửi thấy mùi hôi thối, nghi phát ra từ phòng ngủ của ông La, nằm cuối nhà. Khi công an đến, tôi cùng tổ công an đã dịch chuyển ghế bố chắn trước cửa phòng rồi vào trong kiểm tra thì phát hiện sự thật kinh hoàng. Ðó chính là những đoạn thi thể người, mà sau này xác định là xác ông Lương...” ông Sáu nói.

Theo ông Sơn, năm 2013, vợ chồng ông mua căn nhà nói trên và sống chung với gia đình, gồm: ông La; cha ruột là ông Lâm Chấn Như (64 tuổi) và ông Lâm Chấn Lương, em ruột ông Như. Hàng ngày, ông La, ông Như ngủ mỗi người một phòng ở tầng trệt, hai vợ chồng ông Sơn ngủ ở phòng trên gác; riêng ông Lương ngủ tại phòng khách. Từ ngày 26 tháng 2, vợ chồng ông Sơn không thấy ông Lương đâu, hỏi thì ông La nói ông Lương đi chùa một tuần mới về...

Từ những tang vật, kết quả khám nghiệm tử thi, bước đầu cơ quan cảnh sát điều tra xác định, thi thể bị phân khúc là của ông Lâm Chấn Lương. Cơ quan điều tra nhận định, nhiều khả năng ông La đã giết ông Lương, sau đó đã treo cổ tự tử. (Tr.N)

03-03- 2015 4:50:00 PM 

Tỉnh An Giang tung chiêu 'cướp' đất dân khi thua kiện

AN GIANG (NV) - Mượn đất của dân rồi không chịu trả, buộc người dân phải đi kiện. Ðến khi tòa tuyên án phải bồi hoàn cho dân, thì tỉnh tung chiêu kéo dài chờ người kiện chết để quỵt trắng.

Tờ Lao Ðộng đưa tin, sau khi bản án giám đốc thẩm đã tuyên ủy ban tỉnh An Giang phải bồi hoàn cho dân 5.95 tỷ đồng (khoảng $290,000 USD), mặc dù bản án có hiệu lực từ năm 2013, nhưng đến nay tỉnh này vẫn chưa thi hành án, trong khi người thắng kiện đã chết vì tuổi già, cạn kiệt sức lực sau hàng chục năm đeo đuổi vụ án.


Người thắng kiện đã chết mà nhà cầm quyền CSVN tỉnh An Giang vẫn chưa trả lại đất cho dân. (Hình: báo Lao Ðộng)

Theo hồ sơ vụ án, sau năm 1975, bà Trang Phù Dung (92 tuổi), ngụ phường A, thành phố Châu Ðốc, An Giang cho Phòng Lương Thực thị xã Châu Ðốc mượn hơn 3,000m2 đất tại chân núi Sam gần Miếu Bà Chúa Xứ làm trạm-kho thu mua lương thực.

Năm 1982, Phòng Lương Thực thị xã Châu Ðốc giải thể, chính quyền địa phương đã tự ý chuyển giao cho công an xã Vĩnh Tế làm trụ sở mà không thông qua bà Dung, nên bà Dung có đơn yêu cầu chính quyền địa phương trả lại nhà, đất nhưng không được giải quyết.

Năm 1996, công an xã Vĩnh Tế bàn giao nhà, đất nêu trên cho bưu điện tỉnh An Giang xây dựng khách sạn. Khi bà Dung đòi đất thì ủy ban tỉnh không trả mà ra quyết định cho bưu điện tỉnh An Giang thuê để sử dụng vào mục đích xây dựng Trung Tâm Bưu Ðiện và nhà nghỉ và bác yêu cầu đòi bồi thường của bà Dung.

Từ đó, bà Dung buộc phải kiện ra tòa. Thế nhưng, suốt 10 năm từ năm 2002 đến năm 2012, từ tòa sơ thẩm đến phúc thẩm bà đều bị thua cuộc. Không chấp nhận sự vô lý này, bà tiếp tục có đơn từ và công lý đã đến với bà Dung. Ngày 13 tháng 3, 2012, Tòa án Tối cao đã mở phiên tòa giám đốc thẩm, hủy toàn bộ các bản án sơ thẩm, phúc thẩm nêu trên.

Tại phiên tòa sơ thẩm lần 2, tòa án tỉnh An Giang đã buộc tỉnh này phải bồi thường cho bà Dung 5.95 tỷ đồng, phía thua kiện kháng cáo. Ðến 7 tháng sau, Tòa án Tối cao tại Sài Gòn mở phiên xét xử phúc thẩm và giữ nguyên án sơ thẩm, buộc tỉnh An Giang phải trả tiền cho dân, đồng thời phải nộp án phí.

Ðể kéo dài thời gian nhằm cướp trắng của người dân, gần nửa năm sau bản án có hiệu lực pháp luật, ngày 16 tháng 5, 2014, ông Vương Bình Thạnh, chủ tịch ủy ban tỉnh An Giang gởi văn bản cho chánh án Tòa án Tối cao và viện trưởng Viện kiểm Sát Tối Cao CSVN để kiến nghị đình chỉ việc thi hành án; kháng nghị bản án theo trình tự tái thẩm; hủy các bản án đã có hiệu lực pháp luật đồng thời bác yêu cầu khởi kiện của bà Trang Phù Dung.

Trao đổi với phóng viên báo Lao Ðộng, lý do tại sao án có hiệu lực vẫn không thi hành, ông Trần Khánh Dân, cục trưởng Cục Thi Hành Án tỉnh An Giang nói: “Án có hiệu lực nhưng tỉnh đang kiến nghị nên chưa thi hành. Hiện các cơ quan trung ương cũng chưa trả lời nên chúng tôi tiếp tục chờ.”

Ðúng như dự tính của giới cầm quyền tỉnh An Giang, trong khi nhiều năm không trả đất, khi thua kiện không chấp hành án thì người thắng kiện, vì tuổi cao sức yếu và cạn kiệt sức bởi hàng chục năm theo kiện, bà Dung đã chết trước Tết Nguyên Ðán vài ngày.

Theo Luật Sư Trần Hồng Phong, Ðoàn Luật Sư thành phố Sài Gòn, nếu bản án phúc thẩm đã tuyên ủy ban tỉnh An Giang phải trả tiền cho bà Dung, thì tỉnh phải chấp hành án ngay tức thì. Còn việc bản án này có được kháng nghị theo trình tự tái thẩm hay không lại là chuyện tính sau. (Tr.N)

03-03-2015 4:53:56 PM

Nguyên thượng úy công an buôn ma túy

(NLĐO) - Ra khỏi ngành công an với hàm thượng úy, Công tham gia mua bán trái phép chất ma túy và bị bắt giữ ở tỉnh Bến Tre.




Chiều 3-3, đại tá Đoàn Thế Tân, Trưởng phòng tham mưu Công an Bến Tre, người phát ngôn công an tỉnh xác nhận cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã khởi tố, thực hiện lệnh bắt tạm giam 4 tháng đối với Lê Trọng Công (SN 1982) nguyên thượng úy công tác tại đội kỹ thuật hình sự công an huyện Bến Lức (Long An) về tội mua bán trái phép ma túy.

Trung tuần tháng 9-2013, vợ của Công phát hiện chồng có mối quan hệ với một phụ nữ khác đang sinh sống trên địa bàn huyện. Bức xúc, vợ thượng úy Công cho người theo dõi nắm quy luật, thời gian đi lại để chờ cơ hội bắt quả tang. Lúc phát hiện chồng cùng bạn gái vào nhà nghỉ nằm ven quốc lộ 1 thuộc địa phận xã Thạnh Đức, vợ ông Công cùng một số người chạy vào bắt quả tang tại trận.

Ngày 15-11, Giám đốc công an tỉnh Long An ký và công bố quyết định buộc thôi việc đối với thượng úy Lê Trọng Công. Ra khỏi ngành, Trọng Công chơi với nhóm bạn bè ở thị trấn Bến Lức có biểu hiện mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy. Sau đó nhóm này bị công an huyện Bến Lức bắt giữ, riêng Trọng Công rời khỏi địa phương, xuống Bến Tre để tiếp tục hoạt động mua bán cái chết trắng.

Trọng Công là con trai lớn của trung tá Lê Công Xi, phó đội trưởng đội tuyên truyền, phòng công tác chính trị Công an Long An, chuyên viết về lĩnh vực tội phạm, trong đó có nhiều bài viết về tội phạm ma túy. Ông Công Xi cũng vi phạm đạo đức lối sống và bị kỷ luật khiển trách vào giữa năm 2014.
03/03/2015 17:46
H.Minh

Quan chức đi chùa

Theo NLĐO-03/03/2015 22:50
Một ngày trước khi Lễ hội đền Trần (Nam Định) phát ấn, hôm nay (4-3, nhằm 14 tháng giêng), tại thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng bắt đầu khai hội Minh thề: thề không trộm cắp, thề không tham nhũng.

Đây là lễ hội có ý nghĩa sâu đậm bởi gắn giá trị tâm linh với đời thực.

Có gốc tích từ thời Mạc Đăng Dung, bẵng đi hàng trăm năm, đến năm 2003, Minh thề được phục dựng, thu hút sự chú ý của cả nước. Nội dung chính của lễ hội là phần Miêng thệ (Minh thề). Trước đài thề, quan cũng như dân đồng thanh dõng dạc: “Ai dùng của công vào việc công, xin thần linh ủng hộ; ai lấy của công về làm của tư, cầu thần linh đả tử. Làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, xin thần linh tru diệt”.
Quan chức đi chùa

Giá trị văn hóa - xã hội của Minh thề đẹp đẽ là thế, vậy nhưng, theo các bậc cao niên địa phương, trong suốt hơn 10 năm lễ hội, chỉ dân thề chứ không thấy quan to thề; có vài cán bộ... thôn, cao lắm là xã, thề mà thôi!

Có gì khó hiểu đâu. Tâm chưa liêm, dạ không chính thì ai dám buông lời thề độc. 12 năm Minh thề đã vậy, năm nay cũng khó mà “bói” ra quan to đến thề.

Tình cảnh ấy trái ngược với nhiều lễ hội, lễ chùa khác thiên về cầu tài vọng lợi.

Sau lễ hội Minh thề năm ngoái, xuất hiện bức tranh biếm vẽ một giao lộ, tại đó cắm 2 lá cờ; phần đường cắm lá cờ có chữ “Hội tranh ấn thăng quan - Nam Định” thì ô tô chen giữa dòng người kẹt cứng; phần đường cắm lá cờ có chữ “Hội Minh thề không tham nhũng - Hải Phòng” thì chẳng một bóng người.

Và những ngày qua, người ta đã gặp khá nhiều xe công tại những lễ chùa đầu năm, tức là có đông quan chức đi chùa.

Ở đời, thường thì thiếu thứ gì người ta hay cầu thứ đó. Người dân nói chung vốn thiếu nhiều thứ nên đến lễ chùa những mong cầu được - ước thấy là hợp lẽ. Còn quan chức, hẳn nhiên “no đủ” hơn, thì đến những nơi ấy cầu vọng những gì?

Xin cho bản thân mình trước, tất nhiên rồi. Cầu cho quốc thái dân an - phong điều vũ thuận, chưa chắc! Nếu đến những chốn tâm linh này để chỉ vì “lo trước cái lo của thiên hạ” thì đố quan chức nào siêng đi để phải chịu đựng cảnh xa xôi, chen lấn, ngột ngạt.

Người dân không phản đối quan chức đi chùa bởi bất cứ ai cũng có quyền thể hiện tín ngưỡng văn hóa và thụ hưởng những giá trị tinh thần. Chỉ có điều, thay vì phải gặp quan chức ở lễ chùa, họ muốn quan chức có mặt tại nhiệm sở hơn và thực thi công vụ thật mẫn cán. Thay vì nghe quan chức khấn cầu cho dân giàu nước mạnh (nếu có!), họ muốn những “đầy tớ” của mình hãy làm tròn trách nhiệm “công bộc” đúng nghĩa.

Ấn tín đền Trần - đối với bất cứ ai có quyền thế - dù sở hữu giá trị tâm linh không thể chối cãi song sao thể sánh bằng niềm tin của dân chúng dành cho mình. Đâu phải cầu thần khấn Phật cho xa, mỗi quan chức chỉ cần biết “vì dân phục vụ” thì sẽ được dân kính, dân yêu.

Lòng dân mới chính là “lá ấn” quý nhất!

DƯƠNG QUANG

Hà Nội muốn làm thêm sân golf: Xây cho ai?

(Baodatviet) - Trong khi chưa có giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng các sân golf Hà Nội, tại sao lại đặt vấn đề xây sân golf mới?

Lý do gì để điều chỉnh quy hoạch?
TP Hà Nội đang xin ý kiến Bộ NN&PTNT về chủ trương đầu tư dự án sân golf gần 300ha ngoài đê sông Đuống thuộc huyện Gia Lâm và quận Long Biên. Ngoài sân golf còn có các hạng mục như bể bơi, khu tập gyms, tennis, nhà điều hành, trung tâm y tế, công trình phù trợ, hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ… Một phần dự án này nằm trong hành lang thoát lũ sông Đuống. 
Trao đổi với Đất Việt về chủ trương này, KTS Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch và Phát triển đô thị Hà Nội đặt ra rất nhiều câu hỏi mà ông cho rằng phải trả lời trước khi xem xét dự án sân golf này.
Ông cho biết, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch sân golf Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội cũng đang tiến hành rà soát lại, dự án nào cho triển khai cũng đã có.
Sân golf Vân Trì của Hà Nội
Tính đến thời điểm này, trên địa bàn thành phố có 8 sân golf, trong đó 3 sân đang hoạt động là Hà Nội, Vân Trì và Đồng Mô; 2 sân đã được sử dụng một phần là Hồ Văn Sơn, Long Biên; sân golf quốc tế Sóc Sơn đang xây dựng; sân Khu du lịch quốc tế cao cấp Tản Viên và Khu du lịch Hồ sinh thái Quan Sơn đang trong giai đoạn lập quy hoạch. Theo KTS Đào Ngọc Nghiêm, Hà Nội hiện nay không thiếu sân golf và chúng chưa phát huy hết giá trị. 
"Vậy lý do gì để điều chỉnh quy hoạch? Có cần thiết phải đầu tư hay không, nhu cầu như thế nào? Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, đặt ra vấn đề xây dựng sân golf mới để phục vụ cho đối tượng nào trong khi chưa đặt ra giải pháp nâng cao, khai thác và sử dụng hiệu quả các sân golf Hà Nội? Phải làm rõ những cái này", ông Nghiêm nói.
Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch và Phát triển Đô thị Hà Nội cho rằng, hội chứng sân golf đã được cảnh báo quá nhiều, trong khi lỗ hổng hiện nay là thiếu hành lang pháp lý, đặt ra quy chuẩn nhưng chưa chuẩn. 
"Sân golf gồm những cái gì, có khu điều hành, khu nhà ở hay các khu dịch vụ không..., tất cả đều không có quy định mà tuỳ thuộc vào người quản lý quyết  thế nào thì được như vậy. Nhiều sân golf chỉ làm cho xong đến khu nghỉ ngơi, biệt thự rồi dừng lại, chứ có ai chơi đâu".
Một vấn đề khác được KTS Đào Ngọc Nghiêm đặt ra liên quan đến hành lang thoát lũ. Theo đó, việc nghiên cứu hành lang thoát lũ và dòng chảy đang được thể hiện trong quy hoạch phân khu và vừa mới lấy ý kiến của các chuyên gia, các hội xã hội, nghề nghiệp cũng như người dân địa phương. Bởi thế, ông tự hỏi, đặt ra dự án sân golf mới có một phần nằm trong hành lang thoát lũ sông Đuống có sớm quá không?
"Vừa rồi, trong cuộc làm việc giữa Hà Nội với Chính phủ Hà Lan và Ngân hàng Thế giới có đặt ra vấn đề nghiên cứu biến đổi khí hậu. Trong đó, chỉ rõ Hà Nội không phải là nơi trực tiếp nhưng cũng chịu tác động của biến đổi khí hậu, nhất là vấn đề nươc biển dâng, kéo theo nước sông dâng lên. Do đó, cần phải cân nhắc và và có những cơ sở khoa học để xác minh lại trước khi phê duyệt dự án".
Không được xây dựng công trình trong hành lang thoát lũ
Trong khi đó, theo một chuyên gia thuỷ lợi thuộc Bộ NN&PTNT đề nghị giấu tên, trong 13 năm qua, Hà Nội không có lũ nên người dân và các doanh nghiệp muốn tận dụng các vùng đất còn trống. Tuy nhiên, về mặt thuỷ lợi, phải có không gian riêng dành cho lũ, do đó trong hành lang thoát lũ không được xây dựng bất cứ công trình gì. 
Đối với dự án sân golf nằm ngoài đê sông Đuống nói trên, vị chuyên gia này cho rằng cần xem xét cụ thể bản thiết kế nhưng về nguyên tắc, nếu dự án nằm trong chỉ giới thoát lũ thì không thể triển khai. Hiện nay có nhiều đơn vị muốn khai thác khu vực bãi giữa mà cũng không được chấp thuận.
"Cần phải xem vị trí các công trình của dự án họ muốn xây dựng ở đâu. Ví dụ, ngoài chỉ giới thoát lũ làm các công trình kiên cố, còn trong chỉ giới thoát lũ chỉ làm mỗi sân để đánh dạo thôi thì không có vấn đề gì nhiều. Tuy nhiên, nếu xây dựng thêm các công trình khác trong trong chỉ giới thoát lũ chắc chắn là không được".
Dưới tác động của biến đổi khí hậu, dự báo lưu lượng lũ ở sông Hồng, sông Đuống, sông Thái Bình sẽ tăng khoảng 10%.
"Nền địa chất của các hệ thống đê sông Đuống hơi yếu và đắp mới hơn so với đê sông Hồng nên thử thách của nó còn nhiều. Đây chính là nguyên nhân khiến những năm 1969, 1971 vỡ đê chủ yếu xảy ra ở khu vực này.
Nhiều năm qua Hà Nội không có lũ nhưng phải tính trường hợp xấu nhất", ông nói.
Nêu quan điểm về dự án sân golf ngoài đê sông Đuống, vị chuyên gia xin được giấu tên này cho rằng: "Hà Nội luôn mong muốn phát triển, nhưng cái gì cũng phải bình tĩnh, suy xét, nghiên cứu kỹ cái được cái mất. Mà quan điểm của Bộ NN&PTNT là làm thế nào để không hối tiếc, Bộ sẽ chỉ làm cái gì cực chắc chắn, không ảnh hưởng đến thoát lũ, an sinh xã hội của người dân".
  • Minh Thái

Biển lửa bao trùm Công ty Ninh Sơn vì cháy hơn 300 tấn bông vải

(LĐO) TRUNG THÀNH 

Nhà xưởng Cty Ninh Sơn bị biển lửa bao trùm.

Đến 12 giờ khuya 3.3, Công ty Ninh Sơn chuyên kinh doanh mặt hàng bông vải (đóng tại xã Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương) vẫn đang bị biển lửa bao trùm toàn bộ nhà xưởng trên diện tích gần 1.000m2 và đang lan sang một khu nhà xưởng bên cạnh có diện tích gần 700m2.

    Đặc phái viên Lao Động có mặt tại hiện trường mô tả, vụ hỏa hoạn đang lan sát khu nhà trọ có hàng chục phòng, buộc người dân phải di tản ra khỏi nhà. Hàng chục người dân đang di dời tài sản để tránh hỏa hoạn lan vào nhà trọ.
    Nhiều người dân cho biết trong sự khiếp sợ: Công ty Ninh Sơn bị bốc cháy vào khoảng 14 giờ chiều cùng ngày. Hơn 10 giờ cháy ròng rã nhưng đám cháy chưa được dập tắt.

    Hơn 300 tấn bông vải chứa trong khu nhà xưởng khiến cho vụ cháy càng lúc càng bùng phát lớn. Đặc phái viên Lao Động mô tả tiếp vào lúc 0 giờ 10 rạng sáng ngày 4.3: Một biển lửa bao trùm toàn bộ nhà xưởng làm rực sáng một vùng trời, khiến dân chúng cả khu phố ở xã Hòa Lợi, thị xã Bến Cát mất ăn, mất ngủ. Tại nơi này chưa bao giờ xảy ra vụ cháy lớn, lâu và gây lo sợ cho người dân đến thế.

    Lực lượng phòng cháy chữa cháy thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã huy động gần 10 xe tập trung chữa cháy ròng rã 10 giờ liền, nhưng chưa thể khống chế đám cháy vì hàng tăm tấn bông vải bắt lửa gây ra cháy quá lớn rất khó dập tắt.

    Theo bà Nguyễn Thị Phương Trang - đại diện Ban giám đốc Công ty Ninh Sơn: Công ty vừa nhập về hơn 300 tấn bông catton và thêm hàng dự trữ chuẩn bị đóng thành kiện xuất khẩu và bán cho thị trường nội địa. Bà Trang cho biết thêm, nhà xưởng đang cháy có diện tích khoảng 1.000m2 gần như bị thiêu rụi hoàn toàn. Hiện nay, lo nhất là khu nhà xưởng bên cạnh cho một đơn vị khác thuê chứa nhiều hàng hóa có diện tích gần 700m2.

    Hơn 12 giờ khuya lửa vẫn tiếp tục bốc cao ngùn ngụt. Phía sau nhà máy của Công ty Ninh Sơn là cánh rừng caosu đang rực lửa. Hàng trăm người dân chứng kiến hốt hoảng khiếp sợ.

    Bên trong nhà xưởng một màu đỏ của lửa. 
     Mọi thứ đang cháy rụi.

     Đám cháy lan ra bên ngoài.
    Người dân xung quanh không dám ngủ đến xem đám cháy.
     Lửa táp lên mái nhà xưởng.
     Các kiện bông vải ăn lửa góp thêm mồi cháy.
     Việc chửa cháy trong sự bất lực.

    Những người quyết tâm ngu

    Nguyễn Xuân Nghĩa (Danlambao) - Hai vợ chồng tôi làm nghề photocopy nhiều năm nay. Thực ra, trước kia gia đình tôi sống được là nhờ “công ơn của đảng”. Tại sao vậy?. Đảng cộng sản, như chúng ta đã biết chẳng làm được cái tích sự gì cho dân, cho nước, nhưng đảng lại tạo ra nhiều việc làm cho những ai làm nghề photocopy như tôi. Theo con số ước tính của tôi thì khoảng 70% các tài liệu người ta mang đến thuê tôi đánh máy, phô tô đều là tài liệu của đảng, nói về đảng hoặc dính líu đến đảng. Ví dụ, các văn bản tổng kết hoạt động của chi bộ, đảng bộ v.v... 6 tháng đầu năm, cuối năm, cả năm, các nghị quyết, các đợt phát động thi đua, như học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Các cuộc thi tìm hiểu lịch sử đảng, công ơn của đảng, rồi các diễn văn chào mừng, kỷ niệm ngày 30 tháng 4, ngày 3/2, ngày 2/9, ngày 19/5. Ngoài ra học sinh làm bài luận văn “Nói không với ma túy’ cũng “Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Sinh viên cao đẳng du lịch làm luận án tốt nghiệp bao giờ cũng chép lại của nhau câu mở đầu: “Dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng, ngành công nghiệp không khói nước ta đã...”

    Khi đã in ra một bản bằng máy in, còn phải phô tô ra hàng chục bản để chỉ thị, chủ trương chính sách của đảng cấp cao và đảng địa phương đi xuống tận quần chúng, cơ sở, để được quán triệt, thực hiện đến từng câu, từng chữ, Quận tôi lại có hai câu lạc bộ thơ. Một là Câu lạc bộ thơ cán bộ về hưu, hai là câu lạc bộ thơ của người yêu thơ. Các hội viên “thơ mình vợ người” này đều quen biết tôi hết. Cứ đến các ngày ngoài đường đỏ choét khẩu hiệu, cờ quạt... thì trong nhà vợ chồng tôi tối mắt tối mũi khen thơ, đánh thơ và phô tô thơ. Tuy đảng cộng sản Việt Nam không phải là lâm tặc nhưng họ là đám phá rừng làm giấy nhiều nhất so với các đám tổ chức khác. Có lần tôi phải ngậm đắng nuốt cay đánh máy một văn bản khá vớ vẩn. Ông khách là cán bộ cấp huyện về hưu, mới làm được cái hố xí tự hoại. Ông ta gán luôn cái thành công mà ông ta phải vay mấy triệu đồng làm cho xong kia là do công lao của Bộ Chính Trị. Ông ta chính trị hóa việc làm hố xí tự hoại. Ông viết: “Quán triệt nghị quyết, đường lối, chính sách, chủ trương, chỉ đạo... của Bộ chính trị và của cấp ủy về công tác xây dựng nông thôn mới...”. Tôi thấy lạ lùng quá, mới hỏi ông ta: “Nghị quyết nào của Bộ Chính Trị nói phải làm cái hố xí tự hoại?. Sao bác cứ gán những chuyện vặt vãnh ấy cho Bộ Chính Trị?”. Ông ta cười: “Thì tranh thủ mọi cơ hội, mọi việc mình làm gán nó cho Bộ chính trị? Hố xí vẫn là của mình, BCT có lấy đi đâu. Nói thế cho nhà mình được tiếng là gia đình cách mạng, ra phường xin xỏ cái gì cũng dễ...”

    Những người như tôi vừa kể nhiều lắm. Trong khi họ chờ tôi hoàn thành sản phẩm cho họ, họ nói chuyện về đảng cấp vĩ mô và đảng cấp làng xã mà họ biết tận mắt. Ai cũng kêu ca về nạn tham nhũng, cửa quyền, về đường lối, chính sách sai lầm. Có người hăng tiết còn nói về tội ác của đảng nữa kia. Nhưng khi tôi hỏi sao biết như vậy mà anh, (bác, chị...) vẫn cứ sinh hoạt đảng, làm thơ ca ngợi đảng? thì họ nhún vai. "Anh nói lạ thế! Tôi là đảng viên mà." 

    - Nhưng anh (ông, bà...) vừa oán thoán đảng với tôi đấy thôi?- Tôi nhắc lại câu nói nổi bật của họ

    - Đó là những câu tôi nói riêng với anh thôi, còn nói trước hội nghị đảng, hội nghị ủy ban mặt trận tổ quốc, v.v... tức là trước cái bọn “quyết tâm ngu” thì mình không nói khôn được...

    Từ ngày ấy tôi học được cách dùng cái từ “quyết tâm ngu” để chỉ người biết mà vẫn giả vờ không biết và để tiếp tục làm cái việc của người thực sự không biết. Nhưng lúc ấy tôi không nghĩ sâu hơn rằng cái ông nói với tôi, chê cái bọn “quyết tâm ngu” lại chính là người “quyết tâm ngu” bậc nhất.

    Rồi khi tôi viết các bài báo trái chiều với báo nhà nước, tôi bắt đầu chú ý đến việc tranh luận với các khách hàng là đảng viên đảng cộng sản “quyết tâm ngu”, của tôi.

    Thú thật là tôi không thành công nhiều về mặt này, ít người đọc, người nghe tôi mà không còn “quyết tâm ngu” nữa. Đã thế, hậu quả là cửa hàng của tôi ngày càng có ít khách hàng hơn. Ông bí thư chi bộ đảng, ông bí thư đảng ủy, bà hiệu trưởng các trường học trong vùng, bên công an... đều có chỉ thị cho cấp dưới, cho học sinh, sinh viên cách đối xử với cửa hàng photocopy của “tay Nghĩa phản động”. Thu nhập của chúng tôi chỉ đủ nuôi hai vợ chồng già, không đủ nuôi con trai thứ ba đang bị bên công an chính trị theo dõi, bao vây cả hành vi lẫn kinh tế. Một lần tôi trách một ông khách hàng ghé vào cửa hàng của tôi như một con bò đi lạc:

    - Không có anh và cái chi bộ “Quyết tâm ngu” của anh, tôi mất đi một khoản thu nhập... Tôi nói

    - Con tôi thi đỗ vào trường an ninh rồi ông Nghĩa ơi. Vì tương lại của con tôi, tôi vẫn phải “quyết tâm ngu”. Thông cảm cho nhé!

    Tôi buồn lắm. Sau khi ra tù, trở lại đứng cạnh cái máy phô tô tôi bắt đầu thử nghiệm các khách hàng mới của tôi, dù khách hàng bây giờ đa phần ở xa, đi đâu đó tạt qua, không hy vọng gặp lại và họ không phải là khách hàng tiềm năng... Cách đây vài hôm, tôi có một khách hàng, Người khách phô tô những 10 bài văn cúng đầu năm. Thấy người khách cứ nhìn vào cái máy phô tô Ricoh Aficio 1055 đang nhả ra mỗi phút 100 bản sao, xoèn xoẹt ngon lành, đều đặn, tôi gợi chuyện:

    - Nhật nó giỏi anh nhỉ?

    - Không chỉ Nhật giỏi mà tất cả các nước tư bản đều giỏi

    Người khách nói và... thú thật tôi bỗng trở thành người bị tuyên truyền cho chủ nghĩa tư bản. Mới đầu chỉ là cái máy phô tô, sau đó người khách đề cập đến không phải chỉ về hàng hóa của tư bản, chính trị của tư bản, mà còn về văn hóa, khoa học, giáo dục... Cái gì cũng thấy tư bản tốt cả, cái gì cũng nghe cộng sản xấu cả. Ngay đến cái chưa rõ tốt hay xấu của cộng sản, người khách cũng chỉ rõ cái logic dẫn đến cái xấu chắc chắn của nó. Tất cả lý luận của người khách dẫn người nghe rút ra kết luận là phải có đa nguyên, đa đảng, ba cái “pháp” phải độc lập, hai cái “vũ” phải tách riêng. Lý luận của anh chặt chẽ, tiếng nói của anh lôi cuốn. Nếu anh viết thành bài, đưa lên blog thì án tuyên truyền chống nhà nước là cái chắc. 

    - Anh hiểu biết rất rộng, lý luận sắc sảo. Nói gọn lại là anh biết đặt vấn đề, giải quyết vấn đề... Tôi khen

    - Tôi có gần 20 năm làm tuyên huấn của huyện ủy mà lại!- Người khách cười nói.

    Tôi kinh hãi hỏi:

    - Bây giờ anh còn làm nữa không?

    - Tôi đã về hưu đâu. Vẫn còn làm...

    - Đứng trước các cán bộ, đảng viên anh nói thế nào?

    - Tôi nói... Tôi nói: chủ nghĩa xã hội là mùa xuân của nhân loại, Bác Hồ là cha già của dân tộc. Tôi nói như đài...

    - Sao anh không nói như anh?

    - Dại! Dại! Anh ta hốt hoảng- Còn lương bổng của mình, còn học hành, nghề nghiệp của con cái. Nói như tôi vừa nói... chúng cho ra cuốc ruộng ngay, con cái bị mất việc ngay. Với bọn ngu ta phải nói như thế.

    - Với bọn ngu, ta phải “quyết tâm ngu”. Đúng không anh?

    - Nhưng tôi có quyền tự hào tôi chưa “quyết tâm ngu” bằng ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Sinh Hùng.... Bao nhiêu đây anh?

    - Tôi không lấy tiền. Tôi làm không cho anh. Tôi không làm cái nghề chỉ toàn gặp loại người “quyết tâm ngu” như anh nữa.

    - Tôi biếu anh 1 triệu để trong dăm ngày chưa tìm được việc khác, cái việc dẫn anh đến các cuộc tiếp xúc với toàn người khôn, anh có tiền đong gạo. Tôi nói thế này anh đừng đưa lên mạng. Trong cuộc cách mạng dân chủ & nhân quyền của chung chúng ta... các anh, chị đang để cho rất nhiều người “quyết tâm ngu” đứng ngoài vỗ tay tôn vinh các anh, và các anh thích để người ta tôn vinh hơn là đòi người ta vào cuộc. Chưa đến lúc bỏ nghề phô tô đâu anh Nghĩa ơi.

    Tôi không theo kịp anh ta để giả lại 1 triệu dù chỉ muốn ném mẹ nó đi.


    Tướng Giáp bỏ rơi đồng chí vì sợ 'bị nạn'

    Bạn đọc Danlambao - Trong chương trình bàn tròn trực tuyến của BBC hôm 27/2/2015, trả lời câu hỏi vì sao trong suốt cuộc đời, đại tướng Võ Nguyên Giáp không lên tiếng bảo vệ cho những anh em, thuộc cấp gặp nạn trong vụ án 'xét lại chống đảng', cựu đại tá Bùi Tín tiết lộ một thông tin đáng chú ý:

    "Năm 1977, tôi có tham gia phái đoàn chính thức do tướng Giáp cầm đầu đi cảm ơn các nước xã hội chủ nghĩa. Có mấy ngày nghỉ ở Sochi, tôi lợi dụng lúc vui vẻ để hỏi một câu: Tại sao khi những anh em dưới quyền bị nạn vụ 'xét lại' mà ông không lên tiếng?

    Ông ấy im một lúc rất lâu, rồi ông mới nói một câu thế này: Mình mà lên tiếng thì mình cũng bị nạn như các cậu đó.

    'Các cậu đó' tức là Lê Minh Nghĩa, Lê Trọng Nghĩa, Đỗ Đức Kiên... với một loạt hơn 40 người." 

    Vậy là đã rõ, vị tướng được coi là 'huyền thoại' của quân đội nhân dân VN không dám lên tiếng bảo vệ cho các đồng chí thân cận vì sợ 'bị nạn'. Ngay cả khi giữ chức bộ trưởng bộ quốc phòng, chính đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng trở thành nạn nhân của chính sách gieo rắc sự sợ hãi trong chế độ cộng sản, một chế độ do chính ông ta góp phần dựng nên.

    Tiết lộ của ông Bùi Tín cũng phần nào cho thấy cuộc chiến quyền lực diễn ra trong cung đình cộng sản hồi thập niên 60, giữa phe tướng Giáp và phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ.


    Video phút thứ 34, cựu đại tá Bùi Tín tiết lộ lý do khiến tướng Giáp không dám lên tiếng bảo vệ đồng chí trong vụ án 'xét lại chống đảng'