Friday, September 5, 2014

Hacker Trung Quốc lại tấn công hàng trăm website Việt Nam

HÀ NỘI (NV) - Trong vài ngày qua, hàng trăm website của Việt Nam đã bị hacker Trung Quốc đánh sập.

Trang Security Daily nhận định, chỉ trong năm ngày đầu tháng 9, có hơn 300 website Việt Nam bị vô hiệu hóa.

Danh sách các website của Việt Nam bị hacker Trung Quốc vô hiệu hóa và được trưng ra trên trang web hack-cn như một bảng báo công. (Hình: Tuổi Trẻ)

Trang Security Daily cho biết thêm, đợt tấn công lần này khởi đầu vào ngày 28 tháng 8 và nếu tính từ thời điểm đó, số website của Việt Nam bị hacker Trung Quốc đánh sập lên tới hơn 700 trang web.

Security Daily cho biết, đợt tấn công lần này do hai nhóm hacker lớn của Trung Quốc là 1937cn và Sky-Eye thực hiện.

Từ khi quan hệ Việt-Trung trở thành căng thẳng, đây là lần thứ hai hacker Trung Quốc tổ chức tấn công vào các trang web của Việt Nam.

Hồi thượng tuần tháng 5, hacker Trung Quốc đã từng tấn công hàng trăm website của Việt Nam và nhiều website vẫn chưa khôi phục hoạt động bình thường. Lúc đó, tờ Người Lao Ðộng cho biết, các website bị tấn công bao gồm cả những trang web của cá nhân, của doanh nghiệp và các tổ chức nhưng không cho biết đó là những website loại nào.

Một vài chuyên gia về an ninh trên Internet của Việt Nam nhận định, trước đó một chút, một số hacker của Việt Nam đã tấn công các trang web của Trung Quốc bằng hình thức từ chối dịch vụ DdoS và hacker Trung Quốc đáp trả.

Các chuyên gia về bảo mật từng cảnh báo về khả năng xảy ra một cuộc chiến trên mạng Internet giữa hacker Việt Nam và hacker Trung Quốc. Lúc đó, các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức sở hữu các trang Internet của Việt Nam sẽ bị thiệt hại nặng nhất vì “Hacker Trung Quốc rất đông, đã cài nhiều chương trình gián điệp vào các trang mạng tại Việt Nam từ nhiều năm trước. Thành ra nếu các trang mạng Việt Nam bị tấn công thì thiệt hại là rất nặng nề.”

Còn một yếu tố khác đã từng được cảnh báo hồi giữa năm ngoái. Ðó là gần như toàn bộ thiết bị mà các công ty viễn thông Việt Nam đang sử dụng là sản phẩm do hai công ty Huawei và ZTE của Trung Quốc sản xuất.

Giữa năm ngoái, Hiệp Hội An Toàn Thông Tin Việt Nam về an ninh thông tin cho biết, hiện có 6/7 công ty viễn thông ở Việt Nam đang sử dụng thiết bị và công nghệ do Huawei và ZTE cung cấp. Cũng theo báo cáo này, trên toàn Việt Nam, hiện có khoảng 30,000 trạm thu phát sóng (BTS) đang sử dụng thiết bị của Huawei và ZTE.

Trước nữa, chỉ tính riêng năm 2009, đã có hơn 5 triệu thiết bị như: modem, router, USB do Huawei và ZTE sản xuất đã được bán trên thị trường Việt Nam. Hiệp Hội An Toàn Thông Tin Việt Nam xác nhận là chưa thống kê được số thiết bị do Huawei và ZTE sản xuất, đã được bán tại Việt Nam.

Hồi tháng 10 năm 2012, Ủy Ban Tình Báo Của Hạ Viện Hoa Kỳ chính thức lên tiếng cảnh báo các doanh nghiệp Hoa Kỳ ngưng làm ăn với Huawei và ZTE. Ðây là hai công ty hàng đầu của Trung Quốc, chuyên cung cấp thiết bị, công nghệ trong lĩnh vực viễn thông. Ủy Ban Tình Báo của Hạ Viện Hoa Kỳ cho rằng, thiết bị, công nghệ của Huawei và ZTE có thể gây ra mối de dọa an ninh đối với Hoa Kỳ.

Lo ngại trước các vụ tấn công qua Internet xuất phát từ Trung Quốc, Ủy Ban Tình Báo của Hạ Viện Hoa Kỳ đề nghị không mua các thiết bị của Huawei và ZTE để lắp đặt cho hệ thống máy tính của các cơ quan chính phủ, nhằm ngăn ngừa rủi ro gián điệp.

Ủy ban này còn cảnh báo về nguy cơ các nhu liệu cũng như linh kiện do Huawei và ZTE sản xuất, có thể có các tác nhân độc hại được cấy vào đó để bán cho các khách hàng Hoa Kỳ. Ủy Ban Ðầu Tư Nước Ngoài của chính phủ Hoa Kỳ (CFIUS) cũng đã được cảnh báo nên ngăn chặn các vụ sát nhập, thâu tóm mà Huawei và ZTE thực hiện ở Hoa Kỳ. Sau Hoa Kỳ, Huawei và ZTE đã gây lo ngại tương tự khắp Châu Âu, Úc.

Hiệp Hội An Toàn Thông Tin Việt Nam từng cảnh báo về tình trạng nhiều máy chủ của các cơ quan chính quyền Việt Nam bị tấn công. Trong đó có 395 máy chủ âm thầm bị kết nối thường trực ra nước ngoài để đánh cắp thông tin mật. (G.Ð)

09-05-2014 5:53:12 PM 

Cha mẹ hoảng loạn vì nhiều học sinh bị đâm kim nhiễm HIV

THANH HÓA (NV) - Ðã có 35 học sinh được cha mẹ đưa đến các cơ sở y tế khám và mua thuốc phòng ngừa lây nhiễm HIV về cho con em uống do bị bạn đâm vật nhọn nghi nhiễm virus HIV.


Ngôi trường có học sinh bị nghi nhiễm HIV. (Hình: Báo Thanh Niên)

Báo Thanh Niên cho biết, ngày 4 tháng 9, ông Nguyễn Minh Ðức, hiệu trưởng trường THCS Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xác nhận, tại trường đã xảy ra vụ hàng chục học sinh bị bạn bè đùa nghịch đâm, chọc vật nhọn vào người, trong đó có một em đang bị nhiễm HIV.

Sự việc xảy ra trong giờ ra chơi buổi học sáng ngày 30 tháng 8, nhiều học sinh bị đâm vật nhọn vào người.

Tuy nhiên, do nghĩ là chuyện đùa nghịch nên phần lớn các em không báo lại với gia đình. Song một số em cũng đã phàn nàn bị đâm kim tiêm vào đùi và mông với cha mẹ.

Sau khi phát hiện có những em dùng các vật nhọn châm vào bạn khác, trong đó có đâm vào em Ng.D.C. là bệnh nhân nhiễm HIV. Thế là một số phụ huynh đã đến trường làm giấy báo cáo với nhà trường và công an xã vì lo lắng con em có nguy cơ lây nhiễm HIV.

Anh L.V.L, phụ huynh học sinh L.Th.Tr, học sinh lớp 7 cho biết, “Khi có một số phụ huynh lên trường làm giấy báo cáo, các cháu nghe và bàng hoàng chạy về nói gia đình mới biết. Con gái tôi nói bị anh Sỹ đâm một vật nhọn vào người.”

Còn anh N.Kh.T. cho biết, cô giáo chủ nhiệm kêu lên làm việc, có thu được trong cặp sách của một học sinh vật nhọn như đầu bịt miệng lọ keo 502. Sau đó giao nộp cho công an huyện.

“Nhà trường cũng đã tuyên truyền cho phụ huynh và nhờ tư vấn của y tế để giúp các em học sinh. Phụ huynh lo lắng yêu cầu đưa con em đi kiểm tra và trường đã thuê xe cùng phụ huynh đưa các em đi ngay sau đó,” thầy Ðức cho biết thêm.

Trước sự việc trên, cũng có tin đồn có người dùng kim tiêm vật các em học sinh ra hút máu.

Trả lời Thanh Niên, ông Lê Trường Sơn, phó giám đốc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Thanh Hóa cho biết, ngay sau khi nhận được thông tin đã cử người về Thọ Xuân để tìm hiểu sự việc, đồng thời tiếp nhận, tư vấn cho các phụ huynh, học sinh.

Trường đã bàn giao toàn bộ hồ sơ cho cơ quan điều tra và sự việc đang được nhà chức trách xác minh, làm rõ. (N.T)
09-05-, 2014 5:43:38 PM

Người Sài Gòn nhớ Sài Gòn xưa

Đường phố Sài Gòn ngày nay.RFA
Nhóm phóng viên tường trình từ VN 2014-09-05
Với những cư dân lâu năm của Sài Gòn, thành phố này ngoài ý nghĩa là nơi cư trú, đây còn là kỉ niệm và chiếc nôi văn hóa phía Nam đất nước, nơi lưu giữ những dấu vết cổ xưa để người Sài Gòn có thể ra đường, đi vài chục bước đã gặp những con phố sầm uất, phồn thịnh và trầm mặc, bắt gặp mùi hương lưu cửu của Sài Gòn ba trăm năm trước, và cách đó không xa, một Sài Gòn khác nhộn nhịp ngựa xe, ồn ào phố thị với nhịp điệu cuống cuồng, hối hả… Đó là đặc trưng của Sài Gòn. Tuy nhiên, thời gian gần đây, bóng dáng của Sài Gòn xưa đang dần mất đi, thay vào đó là một chuỗi những công trình bê tông hóa khiến cho thành phố ngày càng trở nên xa lạ với những ai từng gắn bó và sống với Sài Gòn.

Những dấu xưa mất dần

Một vị trí thức Sài Gòn, không muốn nêu tên, chia sẻ: “Thực ra thì Sài Gòn cũng chỉ là một thành phố trẻ thôi, 300 năm không phải là nhiều so với những thành phố khác trên thế giới nhưng so với trong khu vực Đông Nam Á thì Sài Gòn được biết đến không phải do bề dày lịch sử lâu dài của nó mà do nó được thiết kế, được dựng nên mang rất nhiều yếu tố lịch sử, cho nên nếu đập bỏ một di sản ngay giữa trung tâm Sài Gòn, mà thật ra là nó rất đẹp, không kịch cỡm, xấu xí nếu kịch cỡm, xấu xí thì nó đã không đứng vững được hơn 100 năm như thế này, nếu lưu giữ được nó thì Sài Gòn mới là Sài Gòn. Bây giờ người ta đang chứng kiến rất nhiều cảnh cưa đổ những hàng cây cổ thụ xanh, rồi phá chỗ này đập chỗ kia, thì nó đã mang lại nhiều vết thương trong lòng người yêu Sài Gòn lắm rồi, có lẽ đừng xoáy thêm vào vết thương đó trong lòng người Sài Gòn nữa!”
Bây giờ người ta đang chứng kiến rất nhiều cảnh cưa đổ những hàng cây cổ thụ xanh, rồi phá chỗ này đập chỗ kia, thì nó đã mang lại nhiều vết thương trong lòng người yêu Sài Gòn lắm rồi.
-Một cư dân Sài Gòn
Theo vị này, Sài Gòn hiện tại đang mất dần vẻ đẹp của một thành phố mệnh danh hòn ngọc viễn đông một thời, hay nói cách khác là thành phố trung tâm của phía Nam, đồng thời cũng là thủ đô của một nhà nước dân chủ ngắn ngủi này đang mất dần dáng vẻ riêng của nó và đi đến chỗ nó cũng giống y hệt mọi thành phố mới xây dựng, cũng bê tông và thiếu vắng những hàng cây trăm tuổi, cũng nhộn nhịp ngựa xe nhưng thiếu vắng sự bồi hồi của những khu phố yên tĩnh, cổ xưa, cũng thiếu vắng hẳn một triết lý trong xây dựng.
Sở dĩ nói rằng thành phố Sài Gòn hiện tại thiếu hẳn triết lý xây dựng bởi vì thông qua các dự án đập phá và xây dựng, chẳng bao lâu nữa, độ tuổi của thành phố này chỉ còn vài chục năm, không còn là thành phố ba trăm năm như trước đây người ta thường nói. Bởi vì mỗi thành phố có những nét riêng để phân biệt nó với thành phố khác, những nét riêng mang tính lịch sử, thương mại, văn hóa và cư dân cùng với nhịp điệu sống rất riêng của họ. Và khi qui hoạch thành phố, dù muốn hay không, người ta buộc lòng phải nghĩ đến những giá trị đó.
Nói về triết lý xây dựng thành phố, vị này chia sẻ thêm rằng trong xây dựng, nếu có triết lý xây dựng, người ta sẽ chú ý đến những chi tiết gắn với lịch sử, thời gian và có thể qui hoạch mở rộng thành phố để bằng mọi giá giữ lại những nét thuộc về văn hóa, lịch sử. Trường hợp hàng cây xanh trên trăm tuổi bị chặt bỏ để xây dựng đường tàu điện ngầm và phá bỏ thương xá Tax để xây dựng một trung tâm thương mại lớn hơn và nhiều trường hợp qui hoạch vô tội vạ khác cho thấy hiện tại, Sài Gòn không có triết lý xây dựng. Và điều này sẽ dẫn đến hậu quả là một thành phố lai căn ra đời.
Nghĩa là trên danh nghĩa, người ta nói rằng đây là thành phố có độ tuổi lâu đời, nhưng mọi bằng chứng về tuổi đời của thành phố thì tìm không thấy. Và với đà xây dựng này, cái điều người ta tìm thấy được ở thành phố Sài Gòn sẽ chẳng có gì ngoài những dãy nhà tầng tầng lớp lớp bê tông nhưng lại thiếu vắng cây xanh và những con đường luôn đông nghẹt người, tấp nập, đua chen nhưng trống rỗng, vô hồn.

Lấy đi dấu vân tay của một con người

sai-gon-400.jpg
Cây xanh ở Sài Gòn không còn nhiều như trước nữa. RFA PHOTO.
Một cư dân Sài Gòn tên Thi, chia sẻ, sự mất đi của rất nhiều công trình cổ ở thành phố Sài Gòn cũng như hàng cây xanh trăm tuổi và thương xá Tax gần đây đã khiến cho ông thấy hụt hẫng một cách khó hiểu. Vì với ông, mỗi sáng, chừng 5h, đạp xe đi dạo qua những con phố còn vắng bóng người, chỉ có cây xanh và những căn nhà còn ngái ngủ, chỉ có thương xá Tax, dinh Độc Lập, chùa Giác Lâm, cầu chữ Y, phố Lê Công Kiều… lướt qua tầm mắt, ông luôn có cảm giác Sài Gòn rất bình yên, thân thiện và đáng yêu hơn bất kì thành phố nào. Bởi cái nơi ông sinh ra, lớn lên, học hành, làm việc, lấy vợ, sinh con rồi làm ông ngoại, cái nơi mà ông chứng kiến nhiều bận dâu bể, chứng kiến hai chế độ chính trị đi qua, cái nơi mà mới ngày hôm qua, ông còn là một cậu sinh viên trên ghế nhà trường, hôm nay phải hốt hoảng không biết tương lai sẽ ra sao, mọi sự đổi thay trong chốc lát đối với ông kể từ sau 30 tháng Tư năm 1975 đến nay… Sài Gòn đã thành máu thịt của ông, mỗi một góc phố cũ kĩ giống như một nét vân tay để nhận dạng một con người, và thành phố này là một con người hiện hữu trong ông.
Việc xóa dần những dấu vết cũ trên thành phố, với ông Thi chẳng khác nào người ta cố tình lấy đi mọi dấu vân tay của một con người, và sau đó lại tiếp tục phẫu thuật thay hình đổi dạng, thay cả máu và cuối cùng là thay họ đổi tên, biến con người này thành một con người khác nhưng nghiệt ngã là con người khác đấy vẫn mang căn cốt của con người xưa mà lại không thể giống được chính họ. Đó là bi kịch của một thành phố, cũng là bi kịch lịch sử, nó phản ánh sự thiếu vắng những giá trị tinh thần.
Theo ông Thi, có lẽ không riêng gì ông mà sẽ có rất nhiều trí thức nói riêng và cư dân Sài Gòn nói chung tiếc nuối những giá trị đã gắn kết vào tâm thức của họ, những nét xưa cũ của một Sài Gòn hoa lệ, sầm uất, phồn thịnh và lịch lãm đang dần mất đi, thay vào đó là một thành phố mới mẽ với tên tuổi mới mẽ và lộn xộn trên mọi nghĩa, từ dân cư cho đến nhịp sống, Sài Gòn đã vĩnh viễn bị mất đi bóng dáng hòn ngọc viễn đông một thuở.
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Việt Nam thiếu trầm trọng vaccine ngừa bệnh tật

HÀ NỘI (NV) - Trong tám tháng qua, Việt Nam chi gần 4 tỉ Mỹ kim để nhập hàng xa xỉ và hàng tiêu dùng mà Việt Nam đã sản xuất được nhưng vẫn thiếu vaccine để phòng ngừa bệnh tật cho trẻ em.

Từ cuối năm ngoái đến nay, tuy nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm lan rộng trên toàn quốc nhưng trẻ em Việt Nam không được chích ngừa vì vaccine giúp chúng không mắc những chứng bệnh nguy hiểm đó trở thành khan hiếm.


Chích ngừa cho trẻ em. Việt Nam chi tiền nhập nhiều thứ hàng xa xỉ, trừ... vaccine. (Hình: Thời báo Kinh Tế Sài Gòn)

Trò chuyện với tờ Thời báo Kinh Tế Sài Gòn, ông Ðỗ Tuấn Ðạt, giám đốc công ty Vaccine và Sinh Phẩm số 1 của Viện Vệ Sinh Dịch Tễ, xác nhận, năm nay, nhu cầu về một số loại vaccine, đặc biệt là nhu cầu về loại vaccine “6 trong 1” (ngừa các bệnh: bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm gan siêu vi B và viêm màng não) đã tăng từ ba đến bốn lần so với năm ngoái.

Từ cuối năm ngoái đến nay, do nhiều loại bệnh truyền nhiễm lan rộng song vaccine ngừa những bệnh này lại trở thành của hiếm. Phụ huynh nhiều trẻ sơ sinh đã đưa con đi khắp nơi xin chích ngừa nhưng các cơ sở y tế tại Việt Nam không có vaccine để đáp ứng.

Hồi đầu tháng 7, Cục Y Tế Dự Phòng của Việt Nam khuyến cáo phụ huynh nên cho trẻ em dưới 15 tuổi chích ngừa viêm màng não mủ và viêm não Nhật Bản. Trong sáu tháng đầu năm nay, tại Việt Nam có 324 ca viêm não do các loại virus gây ra và có 5 ca trong số này tử vong.

Vào lúc đó, Sài Gòn dẫn đầu Việt Nam về số bệnh nhi bị viêm não và một bác sĩ làm việc tại bệnh viện Nhi Ðồng 1 ở Sài Gòn cho biết, nguyên nhân chính khiến số trẻ bị viêm não và viêm màng não tăng vọt là vì chúng không được chích ngừa vaccine “6 trong 1.” Bác sĩ này cho biết, việc trẻ không được chích ngừa không phải do phụ huynh lơ là mà vì thiếu vaccine.

Ðến nay, vaccine vẫn thiếu trầm trọng. Tháng trước, một số tờ báo cho biết, nhiều người ngụ ở Hà Nội đã bồng con, ẵm cháu đổ đến Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Quốc Gia và Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Hà Nội để cho chúng chích ngừa. Do lượng “vaccine 6 trong 1” có giới hạn, nên tại hai nơi này, chen lấn, giành giật phiếu chích ngừa đã trở thành bình thường.

Tình trạng khan hiếm vaccine “6 trong 1,” có tên thương mại là Infanrix Hexa xuất hiện từ cuối năm trước nhưng không được giải quyết.

Có vài lý do khiến Infanrix Hexa khan hiếm tại Việt Nam. Lý do đầu tiên là vì Bộ Y Tế Việt Nam không dự đoán được tình hình dịch bệnh để chủ động dự trữ vaccine, đáp ứng nhu cầu chích ngừa của dân chúng và hạn chế dịch bệnh. Lý do thứ hai là trong khi Bộ Y Tế Việt Nam yên tâm với việc có Quinvaxem (loại vaccine “5 trong 1,” do Nam Hàn sản xuất) vì Việt Nam được viện trợ thì dân chúng không tín nhiệm bởi Quinvaxem được xem là nguyên nhân khiến nhiều trẻ sơ sinh thiệt mạng. Cũng vì vậy Bộ Y Tế Việt Nam từng phải ra lệnh tạm ngưng sử dụng Quinvaxem.

Các công ty chuyên nhập cảng-phân phối vaccine ở Việt Nam nói rằng, họ đã phải tìm đủ cách để vét loại vaccine này từ những quốc gia không có dịch, không dùng hết để mang về chích cho trẻ con Việt Nam nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu.

Hồi tháng 7, Cục Quản Lý Dược của Bộ Y Tế Việt Nam thông báo là cuối tháng 7, một công ty chuyên nhập cảng dược phẩm sẽ cung cấp 10,000 liều vaccine “5 trong 1” có tên là Pentaxim. Giữa tháng 8, một công ty khác sẽ đưa về thêm 100,000 liều vaccine 6 trong 1,... Dù số lượng vẫn chẳng là bao so với nhu cầu nhưng Cục Quản Lý Dược gọi đây là nỗ lực để dân chúng “yên tâm chờ đợi.”

Nay đã sang tháng 9, trong khi các tỉnh, thành phố cần hàng chục ngàn liều vaccine để chích ngừa cho trẻ em thì các công ty chuyên nhập vaccine chỉ cung cấp được từ 50 đến 100 liều vaccine cho mỗi tỉnh, thành phố. (G.Ð)
09-05- 2014 1:58:02 PM

Việt Nam vẫn nhập cây tăm, sợi chỉ từ Trung Quốc

(Baodatviet) - Những mặt hàng trong nước sản xuất được như cây tăm, sợi chỉ, cục xí muội… Việt Nam đã nhập từ Trung Quốc nhiều năm nay, số lượng ngày càng tăng.
Nhập từ cây tăm, sợi chỉ

Báo cáo của Tổng cục Thống kê và Bộ Công thương cho thấy kim ngạch xuất khẩu cả nước 8 tháng đầu năm đạt 97 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 9,8 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Ngược lại, trong tổng số 93,3 tỷ USD kim ngạch nhập khẩu hàng hóa, có đến 27,6 tỷ USD các doanh nghiệp phải nhập từ thị trường Trung Quốc.
Theo đó, với nhu cầu tiêu dùng thường tăng trong những tháng cuối năm sẽ đẩy con số nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc về Việt Nam có thể chạm mốc 40 tỷ USD trong năm nay.
Hiện Việt Nam nhập khẩu hàng hóa, nguyên phụ liệu, vải các loại, xơ sợi dệt các loại, nguyên phụ liệu dệt may da giày, máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng, chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo, thức ăn gia súc và nguyên liệu...
Thậm chí dù là nước xuất khẩu tre và các sản phẩm từ tre rất lớn, nhưng hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu các mặt hàng được sản xuất từ nguyên liệu này. Cùng với đó là một lượng lớn tăm, đũa từ Trung Quốc lên đến hàng nghìn tấn thẩm lậu vào nội địa mà không được kiểm soát.
Tăm tre Trung Quốc đội lốt doanh nghiệp Việt tràn lan trên thị trường Việt Nam
Tăm tre Trung Quốc đội lốt doanh nghiệp Việt tràn lan trên thị trường Việt Nam

Về vấn đề này, ông Trần Văn Tuyến, chủ cơ sở sản xuất tăm tre xã Quảng Phú Cầu, Ứng Hòa, Hà Nội từng cho biết trên VTV rằng, vấn đề không phải làm tăm, đũa khó, mà cái khó là tìm được thị trường tiêu thụ cho sản phẩm. Không cạnh tranh được về giá cả, mẫu mã của Trung Quốc, nhiều làng nghề tăm tre truyền thống chấp nhận bỏ thị trường mà lẽ ra đó phải là thế mạnh.
Ngay như chợ Đồng Xuân (Hà Nội), chợ đầu mối cung cấp hàng hóa cho các chợ miền bắc và một số tỉnh miền trung có thời điểm hàng Trung Quốc chiếm tới 90%, tiểu thương tại chợ đã từng lên tiếng chê doanh nghiệp Việt Nam thua kém doanh nghiệp Trung Quốc khi không thể sản xuất cái kim, cuộn chỉ, sản xuất các sản phẩm hoa quả khô trong khi nguồn nguyên liệu dồi dào... Đồng thời cũng không biết cách tiếp thị, phân phối, làm khó tiểu thương.
“Doanh nghiệp Trung Quốc có cách tiếp thị rất tốt, các vị nên học Trung Quốc vì họ tiếp thị từ giám đốc, cho đến lãnh đạo đến tận nơi, xem tận mắt, thuê hẳn chỗ kinh doanh tiếp thị hàng. Người mua chỉ cần mua 2- 3 đôi người ta cũng bán nhưng doanh nghiệp trong nước lại bắt chúng tôi nếu phải mua vài trăm đôi trong khi quầy hàng có hơn 2m2 nên chúng tôi không thể nhập hàng. Cái này là kém người ta”, bà Nguyễn Thị Dung- tổ trưởng tổ buôn bán giày dép tại chợ Đồng Xuân từng nói.
Lời giải bài toán giảm phụ thuộc?
Vấn đề kinh tế Việt Nam phụ thuộc kinh tế Trung Quốc đã được đặt ra mạnh mẽ và quyết liệt vào thời điểm Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển Việt Nam. Ông Vũ Viết Ngoạn - Chủ tịch Uỷ ban giám sát tài chính Quốc gia từng cảnh báo: “Nhập khẩu những nguyên liệu, máy móc là đầu vào cho quá trình sản xuất còn chấp nhận được. Nhưng nhập cả que tăm, đôi đũa… cùng rất nhiều hàng hoá mà Việt Nam đã sản xuất tốt thì không ổn”.
Nhập siêu từ Trung Quốc so với tổng nhập siêu từ tất cả các quốc gia giai đoạn 2000 - 2013. Đơn vị: tỷ USD. Nguồn: Tổng cục Hải quan
Nhập siêu từ Trung Quốc so với tổng nhập siêu từ các nguồn khác giai đoạn 2000 - 2013. Đơn vị: tỷ USD. Nguồn: Tổng cục Hải quan
Ông Vũ Viết Ngoạn nhận xét, ngay cả với nguyên vật liệu đầu vào, các doanh nghiệp Việt cũng nên cân nhắc tìm nguồn khác ngoài Trung Quốc để đa dạng hoá, tránh rủi ro.
Nêu quan điểm về vấn đề này, trên tờ TBKTSG, TS Phạm Sỹ Thành- Giám đốc Chương trình Nghiên cứu kinh tế Trung Quốc thuộc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) từng cho biết, Việt Nam chưa nhận được những ích lợi từ thương mại giống như những gì mà Malaysia, Thái Lan, Philippines hay Singapore nhận được từ Trung Quốc, vì vậy, cần cải thiện chất lượng thương mại với Trung Quốc.
"Vấn đề thực sự của nhập siêu với Trung Quốc là nhập khẩu từ nước này đang trực tiếp phục vụ cho hoạt động sản xuất thường ngày (bao hàm cả ý nghĩa cung cấp công nghệ) của các doanh nghiệp nằm trong lãnh thổ Việt Nam. Chỉ 20% kim ngạch nhập khẩu là hàng tiêu dùng. Điều này tác động lâu dài đến khả năng nâng cấp công nghệ của doanh nghiệp bản địa.
Có khả năng Việt Nam rơi vào hiệu ứng giải công nghiệp hóa sớm khi chỉ xuất khẩu được sang Trung Quốc các hàng hóa dựa vào tài nguyên và nhập khẩu hàng công nghiệp chế tạo thành phẩm. Về lâu dài, sẽ làm suy giảm năng suất của Việt Nam dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn", TS Phạm Sỹ Thành nói.

Hà Anh

Sài Gòn vay tiền Thái Lan để chống ngập

SÀI GÒN (NV) - Trước tình trạng Sài Gòn càng ngày càng dễ ngập, khi ngập thì vừa sâu, vừa lâu, chính quyền thành phố Sài Gòn vừa xin phép chính quyền Việt Nam được vay Thái Lan 33,7 triệu Mỹ kim.

Khoản vay vừa kể sẽ được dùng để xây dựng cống ngăn thủy triều tại Tân Thuận, quận 7, nhằm kiểm soát thủy triều và tăng khả năng tiêu thoát nước cho Sài Gòn trong mùa mưa. Theo dự kiến, dự án cống ngăn thủy triều Tân Thuận cần 52 triệu Mỹ kim. Chính quyền thành phố Sài Gòn sẽ bỏ ra hơn 14 triệu Mỹ kim.


Cảnh này đã trở thành bình thường ở Sài Gòn. (Hình: Thời báo Kinh Tế Sài Gòn)

Thái Lan giờ trở thành một trong những quốc gia cung cấp ODA cho Việt Nam và chính quyền thành phố Sài Gòn xin được dùng khoản ODA đó. Khoản ODA của Thái Lan chưa đầy 40 triệu Mỹ kim nhưng có nhiều ràng buộc. Chẳng hạn phải sử dụng công ty tư vấn và nhà thầu của Thái Lan.

Dự án thực hiện bằng vốn vay của Thái Lan phải sử dụng ít nhất 50% giá trị khoản vay để mua hàng hóa và dịch vụ của Thái Lan... Tuy nhiên chính quyền Việt Nam và chính quyền thành phố Sài Gòn khó có thể có lựa chọn khác nếu muốn giải quyết tình trạng Sài Gòn dễ ngập, khi ngập thì vừa sâu, vừa lâu.

Nguyên nhân khiến Sài Gòn dễ ngập, khi ngập thì vừa sâu, vừa lâu là vì thủy triều càng ngày càng thất thường. Dù trời không mưa, nhiều khu vực ở Sài Gòn vẫn có thể ngập mỗi tháng hai lần do thủy triều dâng cao. Một lý do khác khiến Sài Gòn dễ ngập, khi ngập thì vừa sâu, vừa lâu là vì thành phố này đang bị lún nặng do khai thác nước ngầm quá mức, bề mặt bị bê tông hóa trên một diện tích quá lớn và quá nhiều cao ốc.

Tại Sài Gòn hiện chỉ có cống ngăn thủy triều Nhiêu Lộc-Thị Nghè để kiểm soát tình trạng ngập úng do mưa và do thủy triều dâng cao trong phạm vi khoảng 350 héc ta thuộc các quận 1, 3, 10, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Gò Vấp và Tân Bình.

Theo kế hoạch, Sài Gòn cần thêm 11 cống ngăn thủy triều có quy mô lớn nữa. Chưa kể cống ngăn thủy triều Nhiêu Lộc-Thị Nghè đã hoàn thành cách nay 6 tháng nhưng chưa thể vận hành đúng mức bởi còn thiếu trạm cấp điện cho cống ngăn thủy triều này.
Chính quyền thành phố Sài Gòn đã xây dựng các van ngăn thủy triều nhỏ ở các quận 4, 6, 7, Thủ Ðức,... nhưng giới chuyên môn nhận định đó chỉ là giải pháp tạm thời. Họ khuyến cáo phải xây thêm đê bao, hồ điều hòa lượng nước, hệ thống cống ngăn thủy triều nhưng trong vài năm gần đây, công quỹ của cả chính quyền Việt Nam lẫn chính quyền thành phố Sài Gòn đã cạn.

Tình trạng ngập lụt ở Sài Gòn có khuynh hướng trầm trọng hơn vì sạt lở ở khu vực ven sông Sài Gòn đang diễn ra vừa nhanh, vừa rộng. Theo một thống kê thì tại Sài Gòn hiện có khoảng 1,600 cây số đê và bờ bao. Nhiều đoạn đê thường xuyên bị vỡ, nhiều đoạn khác có thể sạt lở bất kỳ lúc nào.

Hồi 2010, chính quyền Việt Nam chi ra 100 ngàn tỉ để tổng công ty Công Nghiệp Sài Gòn (CNS) xây dựng nhà máy sản xuất cọc vách nhựa uPVC ở Củ Chi để gia cố và phát triển thêm hệ thống vách ngăn thủy triều. Tuy nhiên dự án này vẫn chưa thể đóng góp gì cho việc chống ngập ở Sài Gòn vì thủ tục quá rườm rà. (G.Ð)
09-05- 2014 1:56:07 PM
Theo Người Việt

Đừng bỏ dở cuộc vận động thoát Trung

 000_Hkg10094037.jpg
Một cửa hàng tại Hà Nội bán lồng đèn, đồ chơi mùa Trung Thu nhập từ Trung Quốc. Ảnh chụp hôm 05/9/2014. AFP photo
Nam Nguyên, phóng viên RFA 2014-09-05
Phong trào vận động thoát Trung, bớt lệ thuộc về kinh tế với Trung Quốc được làm nóng sau vụ giàn khoan Hải Dương 981, nay có vẻ đang trầm lắng. Phải chăng ảnh hưởng chính trị với Bắc Kinh đang chi phối vấn đề này và làm cho cuộc vận động của giới nhân sĩ trí thức trở nên vô nghĩa. Nam Nguyên tìm hiểu vấn đề này.
Cuộc khủng hoảng giàn khoan Hải Dương 981 và thái độ gây hấn trịch thượng của Trung Quốc với Việt Nam đã làm cho người Việt Nam sực tỉnh và có thêm một cơ hội để đặt vấn đề thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc, bớt lệ thuộc Trung Quốc về kinh tế.
Khi chủ đề thoát Trung lan đến Quốc hội, Nhà nước Việt Nam trong chừng mực đã để cho giới học giả nhân sĩ trí thức tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm với chủ đề thoát Trung, ít ra là trên lĩnh vực kinh tế và văn hóa, báo chí cũng được đưa tin khá thoái mái về chủ đề này. Tuy vậy sau khi Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương 981 sớm hơn dự định, việc Việt Nam tự nhận lỗi về các cuộc biểu tình bạo động chống doanh nghiệp Trung Quốc và sau chuyến đi cầu hòa Bắc Kinh của ông Lê Hồng Anh, nhân vật đứng hàng thứ 5 trong Bộ Chính trị, Đặc phái viên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, thì dư luận cho là nỗ lực vận động thoát Trung đã trở nên vô nghĩa?
Chúng tôi nêu câu hỏi này với nhà phản biện TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, một tổ chức tư nhân ở Hà Nội đã tự giải thể và được ông trả lời:
“Tôi nghĩ cũng không phải là vô ích vì đây là một quá trình, những thảo luận bàn luận như thế còn phải bàn luận nhiều nữa. Mình cũng đừng nghĩ rằng khi bàn luận một việc như thế thì nó tìm ra được giải pháp ngay và giả sử có tìm ra một giải pháp mà một số giới nào đó, ví dụ các nhà trí thức chẳng hạn nghĩ rằng đó là giải pháp hay, nhưng chưa chắc đó đã là giải pháp thật hay, cần yêu cầu nhà nước phải thực hiện ngay. Tôi nghĩ quá trình như thế nên tiếp tục và nó có cái lợi của nó. Còn những người nghĩ rằng có cuộc thảo luận như thế rồi chẳng có ý nghĩa gì cả bởi vì nhà nước, nhà chức trách người ta chưa thèm để ý đến. Tôi nghĩ rằng nếu mà phán xét như vậy nó hơi vội và không hiểu đúng tình hình. Bởi vì những người phán xét như thế có thể là những người rất nóng vội mà cuộc sống thì không thể nóng vội được.”
Nhà nước Việt Nam tự hào về mức Tổng sản phẩm nội địa năm 2013 đạt 176 tỷ USD, tổng kim ngạch xuất khẩu hơn 130 tỷ USD. Tuy vậy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thế giới lệ thuộc nguyên liệu, máy móc của Trung Quốc. Không những thế, hàng hóa Trung Quốc cũng tràn ngập thị trường Việt Nam từ thành thị cho tới thôn quê. Hàng tiêu dùng Trung Quốc có giá rất rẻ, dù mang tiếng xấu về tính độc hại vẫn được đại đa số người dân Việt Nam chấp nhận. Dự kiến trọn năm 2014 tổng lượng hàng hóa mà Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá khoảng 40 tỷ USD. Trong đó chênh lệnh cán cân thương mại hay nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc sẽ ở mức trên dưới 25 tỷ USD.
Không dễ thoát Trung
Theo Giáo sư Vũ Văn Hóa, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, Việt Nam phải xây dựng lại nền tảng, cơ sở hạ tầng, tổ chức lại sản xuất và tiêu thụ, nếu muốn thực hiện giảm lệ thuộc về kinh tế với Trung Quốc. Đây là một quá trình có thể kéo dài tới 10 năm. Chừng nào mà Việt Nam chưa thực tế khởi sự một tiến trình thoát Trung thì đích đến lại càng xa vời hơn.
Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, hiện sống và làm việc ở Hà Nội phân tích tình trạng thực tế của Việt Nam, khiến cho Việt Nam vẫn phải lệ thuộc kinh tế đối với Trung Quốc:
“Hiện nay từ 2011, 2012, 2013, 2014 doanh nghiệp Việt Nam chết như rơm rạ sau một trận bão, hàng trăm nghìn doanh nghiệp chết thì làm sao nền kinh tế phát triển được. Từ chỗ doanh nghiệp chết thì lấy hàng hóa nào mà bán ra sản xuất hàng hóa gì bây giờ đây. Ngoài ra vấn đề chi phí sản xuất của Việt Nam, một loại chi phí lớn của Việt Nam là chi phí quan hệ chi phí tham nhũng chiếm bao nhiêu phần trăm? có lĩnh vực thì 5%, lĩnh vực thì 10%, có lĩnh vực còn cao hơn nữa. Chi phí quan hệ nó như thế góp vào chi phí sản xuất thì làm sao cạnh tranh với nước ngoài, không riêng gì với Trung Quốc. Việc này Đảng và Nhà nước đưa ra các chính sách gọi là phòng chống tham nhũng, học theo đạo đức Hồ Chí Minh ..v..v.. nói thì nhiều nhưng mà làm chưa được bao nhiêu. Đó là những vấn đề về quản lý nhà nước, vấn đề lãnh đạo.”
Thoát Trung không chỉ là sự mong muốn của giới nhân sĩ trí thức chuyên gia mà còn là của đại đa số người dân Việt Nam. Nhà giáo Đỗ Việt Khoa, hiện sống và làm việc ở Hà Nội góp ý:
“Người dân bình thường nào cũng thấy Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc quá nhiều. Lệ thuộc vào chính sách, lệ thuộc vào các quyết định chính trị, lệ thuộc cả từng mặt hàng sản xuất nữa. Gần đây phong trào báo chí trả lời người dân phản ánh rất nhiều, người dân mong muốn tìm cách thoát Trung, nhưng mà thoát thế nào khi mà những người đứng đầu quốc gia này không muốn thoát, thậm chí họ lại muốn lệ thuộc chặt hơn nữa thì thoát thế nào?
Theo giới chuyên gia đặt ra vấn đề thoát Trung về kinh tế tất nhiên đi trước phải là giảm lệ thuộc chính trị, tiến tới một thế đứng chính trị độc lập. Việt Nam dù chịu ảnh hưởng ít nhiều từ Trung Quốc nhưng vẫn phải có tư duy độc lập. Có một số ý kiến cho rằng, nếu Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh dân chủ văn minh thì sẽ không còn phải đặt vấn đề thoát Trung nữa. Đông đảo người dân Việt Nam từng góp ý trên báo chí do nhà nước quản lý: “Đừng bàn ‘thoát Trung’ nữa mà hãy hành động.”

Chủ tịch Bình Dương xây biệt thự 'khủng' nhờ… trồng cây cao su?



CTV Danlambao - Trước thông tin tố cáo chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, ông Lê Thanh Cung sở hữu số tài sản khổng lồ lên đến hàng trăm tỷ đồng, hôm 4/9/2014, ban tuyên giáo Bình Dương đã tổ chức buổi họp báo nhằm biện minh cho cấp trên của mình.

Ông Cung hiện đang sở hữu căn biệt thự nguy nga trị giá hàng chục tỷ đồng, cùng rừng cao su 100 ha trị giá hàng trăm tỷ đồng.

Chủ tịch Bình Dương
Lê Thanh Cung
Nguồn gốc số tài sản bất minh này được trưởng ban tuyên giáo Bình Dương, ông Nguyễn Minh Giao giải thích là do ông Lê Thanh Cung có trước khi được bổ nhiệm làm lãnh đạo tỉnh.

“Số tài sản của ông Cung không có dấu hiệu tham ô, tham nhũng”, báo Dân Trí trích lời ông Giao khẳng định.

Vị trưởng ban tuyên giáo cũng thừa nhận việc ông Lê Thanh Cung sở hữu căn biệt thự và khu vườn cao su là có thật, “nhưng diện tích và giá trị thì không phải như vậy”.

Theo ông Giao, diện tích khu rừng cao su bát ngát mà ông Cung sở hữu “chỉ vài chục héc ta”, chứ không đến 100 héc-ta như báo chí đưa tin.

Còn về căn biệt thự nguy nga trị giá hàng chục tỷ đồng của ông chủ tịch Bình Dương, ông Nguyễn Minh Giao lý giải tiền xây biệt thự là nhờ ông Cung thu hoạch từ việc... trồng cao su. 

“Còn nguồn tiền để xây dựng căn biệt thự, tại thời điểm cao su đang lên giá (từ năm 2000 đến 2004 - PV), với hàng chục héc ta cao su, thu hoạch khoảng 50 triệu đồng/ngày thì việc xây dựng căn biệt thự vài tỉ đồng là chuyện bình thường”, trưởng ban tuyên giáo Bình Dương lý giải.

Biệt thự nguy nga trị giá hàng chục tỷ đồng của ông Lê Thanh Cung 
ở  phường Định Hòa, TP Thủ Dầu Một, Bình Dương.

Nguồn gốc khu rừng cao su trăm tỷ của chủ tịch Bình Dương

Dựa trên các thông tin có được, xin khẳng định rằng toàn bộ số tài sản khổng lồ của chủ tịch Bình Dương, ông Lê Thanh Cung có được là do tham nhũng và ăn cướp.

Khu rừng hàng trăm hec-ta cao su ở xã Long Nguyên, huyện Bến Cát rơi vào tay gia đình ông Cung là kết quả của nhiều đợt cướp đất, tham nhũng, đổi chác giữa các quan tham Bình Dương.

Toàn bộ các bằng chứng về hành vi tham nhũng, cướp đất dân nghèo của Lê Thanh Cung đã được tố cáo trên Danlambao tại các bài viết:



Khu rừng cao su trên trăm hec-ta trị giá hàng trăm tỷ đồng của chủ tịch Bình Dương
Ông Lê Thanh Cung còn có tên gọi khác là Chín Cung, sinh năm 1954 tại Bình Dương. Nếu không có gì thay đổi, tháng 12 năm 2014 này, tức khoảng 3 tháng nữa thì ông Cung sẽ phải về hưu.

Trước khi hạ cánh an toàn, ông chủ tịch Bình Dương đã kịp cài cắm phe nhóm và con cái vào những vị trí quan trọng trong bộ máy quyền lực tỉnh.

Dân oan Trần Thị Hài, nạn nhân bị Lê Thành Cung cướp đất

Bà Trần Thị Hài
Khi còn làm phó chủ tịch huyện Bến Cát, ông Lê Thành Cung đã ký quyết định cướp đoạt 5,2 ha đất trồng điều của bà Trần Thị Hài và chồng là ông Đỗ Thành Huấn.

Vụ cướp đất trắng trợn đã khiến bà Trần Thị Hài trở thành dân oan, mười mấy năm đội đơn khiếu kiện, oan khuất thấu trời.

Sau các vụ cướp đất, ông Lê Thành Cung ngày càng leo cao, cuối cùng lên giữ chức chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương. Bằng quyền lực trong tay, chính Lê Thanh Cung đã ra lệnh công an bắt giam bà Trần Thị Hài vì đã lên tiếng tố cáo. 

Năm 2006, bà Hài bị bắt giam 5 tháng 24 ngày tù. Đến cuối năm 2012, bà tiếp tục bị kết án 9 tháng tù giam sau khi biểu tình tại Hà Nội với thông điệp ghi trên áo“yêu cầu Chủ Tịch Lê Thanh Cung đối thoại”.

Sau khi ra tù vào tháng 9/2013, bà Trần Thị Hài vẫn tiếp tục đấu tranh một cách kiên cường để đòi công lý.

VN nên ra lệnh cài dây thay cho đu dây

Nguyễn Giang -bbcvietnamese.com
15:09 GMT - thứ năm, 4 tháng 9, 2014

Tin về mấy vụ tai nạn giao thông thảm khốc dịp nghỉ lễ 30/8-02/9 vừa qua ở Việt Nam tưởng như chỉ lại trở thành những con số thống kê để đăng báo mà rồi đâu sẽ lại hoàn đấy.
Nhưng sự có mặt của một số nhân vật cao cấp lại khiến dư luận chú ý hơn đến hai vụ tai nạn mà theo tôi không đáng phải gây ra con số người chết lớn như vậy.
Đó là tin Bộ trưởng Giao thông Vận tải, ông Đinh La Thăng đã phải xuống tận nơi thị sát chiếc xe khách tai nạn ở Lào Cai hôm 2/9, làm chết ngay lập tức 12 người và ít nhất 41 người khác bị thương.
Cùng ngày, Trung tướng Công an Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Tư, cũng tử nạn trong một vụ tai nạn trên Quốc lộ 5, đoạn qua Hưng Yên.
Các báo Việt Nam đưa tin khác nhau về nguyên nhân của vụ này.
Trang Người Lao Động ngay hôm 02/09 đưa tin dẫn lời nhân chứng lại lý giải vụ tai nạn là do xe chở Trung tướng Tư đâm qua dải phân cách và lao sang làn đối diện.
Trang web của Bộ Công an Việt Nam thì mô tả tai nạn là do xe ô tô khách đã lao qua dải phân cách cứng sang chiều ngược lại và đâm vào xe ô tô bảy chỗ đang đi chiều Hà Nội - Hải Dương.
Báo chí cũng nói các túi khí nổ tung ra nhưng vẫn không ngăn được các hành khách chiếc xe này bị chết thảm.
Chưa bàn về chi tiết vụ việc còn đang được điều tra, tôi chỉ xin giới thiệu một số chi tiết tương tự ở Anh về tai nạn xe cộ và biện pháp an toàn mà cụ thể nhất là dây an toàn (seat belt) trong xe hơi.

Va đập trong xe

Trung tướng Công an Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Tư tử nạn trong một đâm xe trên Quốc lộ 5"
Trong vụ như thế này, ở Anh người ta gọi là ‘tai nạn tử vong xảy ra trong phương tiện’, hay ‘in-vehicle fatality’.
Câu hỏi khi ấy luôn được phía điều tra, có thể là cảnh sát hay công ty bảo hiểm xe, đặt ra là xem những người ngồi trong xe có cài dây an toàn vào thời điểm tai nạn hay không.
Vì dây an toàn trong các loại xe sản xuất thời nay đều có ba điểm thắt chặt ở vai, bụng và cạnh hông nhằm không cho người bị bay về phía trước hay văng sang một bên khi xe bị đâm hoặc tự đâm vào vật cứng.
Chính dây an toàn giữ chặt người ở vị thế đúng chỗ túi khí (airbag) bung ra, hạn chế được rất nhiều sức va đập có thể lên tới cả tấn, tính theo gia tốc của hai chiếc xe đâm thẳng đầu vào nhau.
Nếu không cài dây an toàn, túi khí có bung ra cũng trở nên vô nghĩa vì không đỡ được cho nạn nhân thường bị văng đập khủng khiếp trong xe.
Trong rất nhiều trường hợp họ đập đầu vào ghế trước, hoặc văng đập vào nhau.
Có khi người ngồi ghế sau bị đẩy bay thẳng lên, giết chết người ngồi ghế trước.
Có trường hợp người trong xe bị đẩy xuyên qua kính trước, lao ra ngoài và tử nạn khi đập vào xe đối diện hoặc vật cứng nào đó.
Còn nếu có cài dây và túi khí nổ đúng vị trí, trong cả những trường hợp xe bị lật mà khung xe còn nguyên - hình chiếc Toyota bảy chỗ trong vụ ở Hưng Yên không thấy bị nát vỏ – thì khả năng sống sót vẫn còn.
Trong vụ ở Lào Cai cũng vậy, nếu các hành khách đều cài dây an toàn thì kể cả khi xe lao xuống vực, người ta có thể chỉ bị treo và ‘khóa chặt’ trong ghế dây an toàn nhưng vẫn có nhiều cơ hội sống sót nếu được cứu kịp thời.

Diễn viên Rita Royce quảng cáo cho chiến dịch khuyến khích cài dây an toàn năm 1957

Cài dây an toàn trong xe khách là điều bắt buộc cho các tuyến xe đường dài tại châu Âu chạy tốc độ cao trên xa lộ, khác với xe bus không có 'seat belt' vì chạy tốc độ thấp trong đô thị.
Tất nhiên mỗi vụ tai nạn xảy ra một kiểu và nếu không tử vong, nạn nhân có thể bị gẫy xương tay chân, hoặc chấn thương gây tổn hại về chạy chữa lâu dài và điều này khiến các công ty bảo hiểm Anh luôn quan tâm ai có lỗi.
Ở Anh, người lái xe chỉ có lỗi khi không bắt buộc trẻ em cài dây an toàn trong xe, còn hành khách là người lớn phải tự chịu trách nhiệm cho mình có cài dây hay không.

Văn hóa ‘thoải mái’

Có một sự thật là ở Việt Nam, thói quen cài dây an toàn khi đi xe hơi nhỏ cũng như xe khách gần như là không có.
Người Việt Nam thường cho rằng cài dây là “không thoải mái” nhất là khi đi xe cùng bè bạn, thân nhân, người ta thích quay sang nói chuyện.
Đi xe ở Việt Nam, tôi thường thấy người lái xe lại càng hiếm khi cài dây, điều gây ra nguy hiểm cho chính bản thân người này và hành khách.
Vì một va chạm quá mức bình thường có thể khiến người lái đập mặt vào vô-lăng, chỉ cần ngất đi thì xe cũng mất người điều khiển trong giây phút quan trọng, có thể khiến những hành khách khác gặp nạn theo.
Ở Anh, thống kê của Bộ Giao thông (Department for Transport) cho thấy từ khi bắt buộc ai đi xe hơi cũng phải cài dây an toàn số ‘tử vong trong xe’ vì tai nạn đường bộ giảm đi 60%.
Con số tử vong giảm từ 2245 người (1983) xuống 888 người năm 2012, chưa kể con số người bị thương cũng giảm 67% cùng thời gian, và những khoản tiết kiệm cho xã hội hàng triệu bảng Anh tiền bảo hiểm, chi phi y tế...
Nhưng lệnh bắt buộc đeo dây an toàn khi đi xe cộ không tự nhiên mà đến.

Sang thập niên 1980, Anh bắt buộc cài dây an toàn và cảnh báo khá 'rùng rợn' về tai nạn

Nó là kết quả của một quá trình vận động lâu dài, từ thập niên 1950 khi xe hơi cá nhân được phổ biến tại Anh, cộng với các tiến bộ trong ngành xe hơi.
Tổ chức Royal Automobile Club (RAC) thành lập từ cuối thế kỷ 19, hiện có 7 triệu thành viên cũng đóng vai trò thúc đẩy, quảng bá cho việc dùng dây an toàn, và vận động chính quyền ra lệnh bắt cài dây.
Nhưng vào thập niên 1950 và 60 người ta chỉ khuyến khích mà chưa bắt buộc cài dây an toàn cho tới khi nhiều yếu tố hội tụ lại khiến chính phủ ra tay.
Nhà nước Anh biết rằng phát triển công nghệ xe hơi – một động lực của nền kinh tế hiện đại - cần đi kèm với văn hóa dùng xe an toàn và hệ thống pháp luật bảo vệ người sử dụng phương tiện.
Các công ty bảo hiểm Anh cũng ngày càng thấy có quyền lợi trong việc vận động cho một văn hóa dùng xe an toàn.
Cài dây an toàn không chỉ làm giảm các vụ tử vong và giúp giảm đi cả các vụ chấn thương cột sống phần cổ (whiplash), vốn gây tốn kém nhiều năm cho các công ty bảo hiểm và ngành y tế vì khó chữa khỏi hẳn.
Như thế, yếu tố xã hội dân sự (các hội, câu lạc bộ chơi xe), nhà nước, và kinh tế (ngành bảo hiểm) đã kết hợp với nhau, đưa đến chỗ lệnh bắt buộc cài dân an toàn có hiệu lực từ 1983.

Nhưng sẽ tốt hơn nếu Bộ trưởng Thăng ký ngay được một quyết định buộc mọi công dân phải cài dây an toàn trong xe hơi"

Trở lại hai vụ tai nạn ở Việt Nam hôm 2/9 vừa qua.
Báo chí Việt Nam ca ngợi Bộ trưởng Đinh La Thăng đến tận nơi để thị sát và chỉ đạo việc cứu nạn cho vụ ở Lào Cai.
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thì chỉ đạo điều tra các vụ tai nạn nghiêm trọng này.
Nhưng sẽ tốt hơn nếu Bộ trưởng Giao thông Vận tải Việt Nam thay vì phải đu dây xuống vực rất nguy hiểm cho bản thân, ký ngay được một quyết định buộc mọi công dân phải cài dây an toàn trong xe hơi.
Như thế các vụ tai nạn đáng tiếc chắc chắn sẽ giảm trong chốc lát, vì tôi tin là Việt Nam thực hiện được lệnh bắt cài dây an toàn, như lệnh bắt đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy vốn được báo chí nước ngoài khen là rất hợp thời, áp dụng nhanh chóng và đồng bộ.

Lao động TQ ở VN: vấn đề hay cơ hội?

 BBC-10:14 GMT - thứ năm, 4 tháng 9, 2014

Tâm lý 'bài Hoa, kỳ thị' không hề có trong dân tộc Việt Nam, đó là ý kiến của một nhà văn hóa học trong cuộc tọa đàm trực tuyến hôm 04/9/2014, giữa các vị khách là các chuyên gia và nhà quan sát với BBC về hiện tượng số đông lao động và người di cư Trung Quốc tại Việt Nam.
Từ Sài Gòn, nhà văn hóa học, Giáo sư Trần Ngọc Thêm nói:
"Tôi nghĩ rằng tâm lý bài Hoa, kỳ thị không hề có trong dân tộc của chúng ta," nhà nghiên cứu nói và điểm lại các giai đoạn tiếp xúc chính giữa người Hoa với Việt Nam từ lịch sử tới nay.
"Bây giờ cái người ta quan ngại là lao động phổ thông và các thương lái, thương lái rõ ràng, phần lớn là những người sang đây chui và làm ăn phần lớn không đường đường chính chính.
"Thông thường dòng chảy lao động phổ thông là từ nước nghèo hơn đến nước có thu nhập cao hơn. Thế nhưng trong trường hợp này ở nước ta (Việt Nam) thì hơi bị ngược lại."Giáo sư Trần Ngọc Thêm
 "Rõ ràng là một lực lượng đáng quan ngại và gây khó khăn rất nhiều cho kinh tế nước ta (Việt Nam)."

'Nghịch lý và lo ngại'

Giáo sư Thêm cho rằng đang tồn tại một nghịch lý và một điều đáng lo ngại đáng nói về dòng nhập cư người Trung Quốc vào Việt Nam.
Ông nói thêm: "Lực lượng thứ hai là các lao động phổ thông. Thông thường dòng chảy lao động phổ thông là từ nước nghèo hơn đến nước có thu nhập cao hơn. Thế nhưng trong trường hợp này ở nước ta thì hơi bị ngược lại. Trung Quốc thu nhập trung bình cao hơn của chúng ta.
"Nước đi thường người ta giải quyết công ăn việc làm cho dân chúng. Còn với nước đến, thường thường có nhu cầu, thông thường là nước có GDP (tổng thu nhập quốc nội) cao hơn, người ta thiếu lao động phổ thông là một.
Lao động TQ ở Việt Nam
Số đông lao động và người nhập cư Trung Quốc vào VN đang là thách thức, hay cơ hội?

"Cái thứ hai là dân chúng người ta không mặn mà với các công việc 3D. Tức là những công việc bẩn (dirty), nguy hiểm (dangerous), rồi là hạ thấp nhân phẩm (disgraceful) v.v...
"Còn chúng ta (Việt Nam), thì lao động phổ thông, chúng ta đang cần xuất khẩu đi nước ngoài, trong khi đó lại tiếp nhận lao động phổ thông của Trung Quốc sang.
"Và một điều đáng lo ngại hơn, như tôi đã nói, ở Trung Quốc thu nhập trung bình cao hơn chúng ta, vị thế cao hơn nước ta, những người lao động phổ thông ấy trình độ thấp, sang đây với một tư cách, một tư thế lại là những người có cái gì đó họ tự hào họ có phần coi thường người Việt Nam chúng ta.
"Và như vậy nó rất dễ dẫn đến những xung đột và để lại những hậu quả không mong muốn về mặt xã hội, văn hóa."

'Thiếu lao động có tay nghề?'

Khi được hỏi liệu Việt Nam có thực sự bắt buộc phải tuyển nhiều lao động Trung Quốc vì VN chưa có đủ lao động có tay nghề với trình độ phù hợp tại chỗ hay không, Tiến sỹ Trần Tuấn, chuyên gia đào tạo và chính sách cộng đồng nói:
"Đây là một thế giới phẳng, rõ ràng việc Trung Quốc thắng thầu, sau đó đưa đội ngũ nhân công của họ từ Trung Quốc sang Việt Nam để làm, câu trả lời liệu đội ngũ công nhân Trung Quốc này là loại đội ngũ lao động có nghề, có kỹ năng chuyên môn, có kiến thức chuyên môn thích hợp hay không, thì câu hỏi này phụ thuộc vào chính lãnh đạo các khu kinh tế đó đánh giá.
"Cho đến lúc này, hình như chưa có được một nghiên cứu nào đầy đủ để chỉ ra trình độ của người nhập cư lao động TQ vào VN là ở mức độ nào và cụ thể kỹ năng chuyên môn họ đạt được đến đâu"Tiến sỹ Trần Tuấn
"Tôi cho rằng cho đến lúc này, hình như chưa có được một nghiên cứu nào để chỉ ra rằng là các trình độ của người nhập cư lao động Trung Quốc vào Việt Nam là ở mức độ như thế nào và cụ thể là các kỹ năng chuyên môn họ đạt được đến đâu.
"Thế còn nhận định của một lãnh đạo ở cấp tỉnh nói rằng ấy là những cán bộ cung cấp những kiến thức kỹ năng mà ở Việt Nam thiếu, thì tôi cho rằng đây là một nhận định có lẽ của một cá nhân. Chúng ta cần có một bài báo khách quan, một nghiên cứu khách quan để nêu ra những số liệu khách quan.
Lao động Việt Nam
VN hàng năm vẫn đào tạo và xuất khẩu đội ngũ lao động 'có tay nghề' ra thị trường quốc tế.

"Điểm thứ hai, tôi cho rằng khi đưa lao động từ nước ngoài sang, các nhà kinh doanh, các nhà đầu tư luôn luôn nghĩ đến các vấn đề lợi nhuận kinh tế, cho nên chắc chắn rằng ở đây bài toán được đặt ra là liệu có thực sự Việt Nam không có được đôi ngũ nhân công đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật đó hay không.
"Câu hỏi này là câu hỏi phải được trả lời và nhận định, và tôi cho rằng chúng ta có thể phỏng vấn trực tiếp các bộ phận liên quan vấn đề này. Còn vấn đề tay nghề và liên quan đào tạo người lao động, hiện nay chúng ta phải thấy rằng hiện nay ở Việt Nam thực sự chúng ta có được đội ngũ hàng năm kể cả trẻ, cũng như là đã ra trường, kể cả đội ngũ học đại học và các trường kỹ thuật và chúng ta hiện nay đang có một số lượng lớn.
"Và tôi cho rằng về khả năng học nghề và hệ thống trường nghề của chúng ta là có, tất nhiên để đáp ứng loại hình nghề như thế nào, thì nó phụ thuôc vào từng chuyên môn cụ thể, nhưng tôi cho rằng trước hết hạ tầng cơ sở của chúng ta là có, đội ngũ nhân lực để sẵn sàng đáp ứng việc học nghề là chúng ta có. Nhất là khi chúng ta đang dư thừa đội ngũ lao động sẵn sàng có thể đi làm ở các nước khác.
Formosa Hà Tĩnh
Bạo lực xảy ra ở Hà Tĩnh, Bình Dương và vài nơi khác tại VN sau vụ giàn khoan HD-981.

"Cho nên tôi cho rằng nếu như thực sự ở trong điều kiện ở Việt Nam có nhu cầu về nhân lực, thì hoàn toàn chúng ta có thể đáp ứng được bằng cách khởi động các hệ thống đào tạo để có thể phục vụ ngay, cung cấp cho thị trường ở trong nước."

Có chính sách hạn chế nhập cư?

Được hỏi về chính sách, pháp luật quản lý, kiểm soát nhập cư đối với người nước ngoài, người lao động nước ngoài vào Việt Nam hiện nay, Phó Giáo sư Hoàng Ngọc Giao, chuyên gia về chính sách pháp luật nêu quan điểm:
"Ngay khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa và mời gọi các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, thì chính sách đối với việc sử dụng lao động người nước ngoài đã được thể hiện rất rõ ở trong luật đầu tư, cũng như ở trong luật lao động.
:Nhiều bằng chứng là họ sống trong lòng dân cư VN trong các làng xã của VN, gây ra bất ổn, rất nhiều vấn đề có thể nói là những vấn đề xã hội, xung đột với người dân địa phươngPGS. TS. Hoàng Ngọc Giao
"Và hiện nay trong pháp luật hiện hành ở Việt Nam, chính sách này đã tương đối đầy đủ và chặt chẽ, chính vì điều đó, khi xảy ra các hiện tượng như thông tin đại chúng đã đưa là lao động phổ thông của Trung Quốc vào (dự án) Bauxite Tây nguyên, lao động phổ thông của Trung Quốc vào những dự án lớn như Formosa, Vũng Áng, Hà Tĩnh, với tư cách người nghiên cứu chính sách và pháp luật, điều băn khoăn của tôi là vấn đề không phải ở chỗ chúng ta không đủ nguồn nhân lực để cung cấp cho các dự án.
"Mà vấn đề là trách nhiệm của chính quyền trong việc thực thi pháp luật nhự thế nào. Luật pháp của chúng ta (Việt Nam), ngay trong Nghị định năm số 102 năm 2013, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn lao động liên quan người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam đã có quy định rất rõ là các nhà thầu khi nộp hồ sơ thầu phải có nội dung yêu cầu liên quan đến vấn đề sử dụng lao động như thế nào.
"Trong đó chỉ được cho phép sử dụng những lao động có kỹ thuật cao mà người Việt Nam không thực hiện được và trong Nghị định này cũng nói rất rõ là nghiêm cấm các nhà thầu sử dụng lao động phổ thông để đưa vào các dự án, đấy là quy định của luật.
"Thứ hai, về mặt quản lý nhà nước, cũng quy định rất rõ là hàng quý, nhà thầu phải báo cáo với Ủy ban Nhân dân Tỉnh nơi dự án đó hoạt động, hàng nửa năm cũng như một quý, Sở Lao động cũng như Công an thanh tra kiểm soát việc sử dụng lao động.

Thương lái Trung Quốc
Thương lái Trung Quốc mua 'đủ thứ lạ đời ở VN' và có thể dừng thu gom 'bất thình lình'.

 "Tình hình xảy ra là hàng nghìn lao động Trung Quốc ở (dự án) Bauxite Tây Nguyên, hàng nghìn lao động Trung Quốc ở Bình Dương, mà là các lao động phổ thông, báo chí đưa rất rõ nhiều bằng chứng là họ sống trong lòng dân cư Việt Nam trong các làng xã của Việt Nam, gây ra bất ổn, rất nhiều vấn đề có thể nói là những vấn đề xã hội, xung đột với người dân địa phương, vậy mà bao nhiêu năm nay vấn đề này dường như vẫn chưa được giải quyết."

'Căn tính tiểu nông hám lợi'

Trước câu hỏi có thể tư vấn gì cho chính phủ, nhà nước và cả người dân Việt Nam để ứng phó hiệu quả, biến 'thách thức' thành 'cơ hội' trong câu chuyện số đông lao động và người nhập cư Trung Quốc vào Việt Nam các năm gần đây và hiện nay, Giáo sư Trần Ngọc Thêm nói
"Tôi thấy rằng người Việt Nam chúng ta có một căn tính tiểu nông rất rõ rệt, và một trong những hệ quả của căn tính tiểu nông, nông nghiệp đó là hám lợi. Và cái hám lợi nó giết chúng ta."
Dẫn ra các trường hợp về thực phẩm, hàng hóa "độc hại" được cho là có nguồn gốc từ Trung Quốc, cũng như việc có luật nhưng để lao động phổ thông Trung Quốc nhập cư tùy tiện, tràn lan vào Việt Nam... như những ví dụ, nhà nghiên cứu đặt vấn đề:
"Phải chăng có những cán bộ địa phương nào đó hám lợi đã nhận thù lao, khoản phần trăm gì đó của những người Trung Quốc có liên quan để rồi đưa lao động phổ thông ấy vào, hàng nghìn người, hạng vạn người không thể nào là lao động kỹ thuật và lao động phổ thông thì chúng ta đang thừa?

"Như vậy tôi cho rằng chúng ta (Việt Nam) phải rà lại chính mình, xem lại cách quản lý vấn đề tham nhũng ở tất cả mọi cấp, vấn đề nhận hối lộ ở tất cả mọi cấp. Nếu làm được điều đó, tôi chắc rằng chúng ta sẽ giữ vững biên giới của mình, giữ vững chủ quyền của mình.
 "Phải chăng có những cán bộ địa phương nào đó hám lợi đã nhận thù lao, khoản phần trăm gì đó của những người TQ có liên quan để rồi đưa lao động phổ thông ấy vào, hàng nghìn người, hạng vạn người không thể nào là lao động kỹ thuật và lao động phổ thông thì chúng ta đang thừa?"Giáo sư Trần Ngọc Thêm
"Và chúng ta có tư thế của mình như ông cha ta đã từng có tư thế khi nói chuyện với người bạn láng giềng rất lớn, có quan hệ rất lâu đời, nhưng mà chúng ta không phải nhục nhã, không phải hèn kém," Giáo sư Trần Ngọc Thêm nói với BBC.
Các khách mời tham gia cuộc tọa đàm của BBC gồm Giáo sư Trần Ngọc Thêm, Giám đốc Trung tâm Văn hóa học Lý luận và Ứng dụng thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Tiến sỹ Trần Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu & Đào tạo Phát triển Cộng đồng và Phó Giáo sư Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách Pháp luật và Phát triển, thuôc Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam.

Video:100 năm trồng người-Lể khai giảng.


Hết thuốc chữa

VRNs (05.09.2014) – Washington DC, USA – Đã  hết thuốc chữa 3 chứng  bệnh di căn của Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN): chia rẽ, tham nhũng và suy thóai tư tưởng sau 45 năm  không giữ được lời thề trước vong linh Hồ Chí Minh về  “xây dựng chỉnh đốn đảng”.

140905004
Chuyện này không mới, nhưng đã được nhiều viên chức đảng lập lại trong các bài viết hay phát biểu nhân dịp kỷ niệm 45 năm (2.9.1969 – 2.9.2014)  ngày bản Di chúc của ông Hồ Chí Minh để lại cho đảng, theo đó ông Hồ viết: “ Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình….Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau….”

Tuy nhiên, theo lời Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu thì ngày nay: “Vấn đề đoàn kết trong nội bộ Đảng vẫn còn là một điểm yếu diễn ra ở mức độ này, mức độ khác, ở nơi này hoặc nơi khác chưa tốt vì chưa thực hiện được tốt chế độ tự phê bình và phê bình như Bác dạy: “Giữ gìn đoàn kết như con ngươi của mắt mình” cho nên sức chiến đấu của Đảng chưa phát huy được, Đảng cũng chưa thật làm tốt hạt nhân cho sự đoàn kết toàn dân.”

(Phỏng vấn của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) ngày 27.08.2014)

Vậy tại sao đã 45 năm mà lời thề lúc đó của Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn vẫn chưa làm được ?

Hồi ấy trong Điếu văn đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 09 tháng 09 năm 1969, ông Lê Duẩn đã thay mặt cho đảng CSVN thề 5 điều.

Về Đòan kết trong đảng ông Lê Duẩn nói “Vĩnh biệt Người, chúng ta thề: “Hết lòng hết sức giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi.”

Nhưng, sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, đảng viên mọi thành phần, mọi cấp đã  tự coi mình như “chim được thả lồng” và  “tự giải phóng” gia đình khỏi ách kìm kẹp của đảng để tự do đi kiếm ăn để bù lại “những tháng năm cơ cực cơm vắt, muối hột” trong rừng sâu nước độc.  Mỗi cán bộ, đảng viên đều tự chế ra những luật cho riêng mình để moi tiền dân, tiền nhà buôn và doanh nghiệp kể cả  đục khoét công qũy, tiền dự án kinh tế, thậm chí ăn chặn cả tiền trợ cấp xã hội cho người nghèo, xén bớt tiền cơm dành cho học trò nghèo, thương binh và cả của gia đình thuộc thành phần “liệt sỹ”  miễn sao được “no cơm ấm cật”.

Vì vậy đảng đã phân hoá, chênh lệch  giàu-nghèo xuất hiện trong dân và giữa cán bộ, đảng viên với nhau thì phát sinh hố sâu ngăn cách mở rộng, lún sâu giữa những kẻ có chức, có quyền và thành phần cô thân, yếu thế cấp nhỏ.

Về phương diện chính trị, từ năm 1976 sau ngày thống nhất Nam-Bắc,  hai phe Cộng sản Bắc-Trung tự cho mình quyền xóa bỏ lá cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam, giải tán quân du kích miền Nam và Tổ chức Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do phe Cộng sản miền Nam đứng đầu, nhưng được Hà Nội  hậu thuẫn từ ngày thành lập 08.06.1969.

Từ đó vai trò của người miền Nam trong Chính phủ mới, phần đông chỉ làm bù nhìn cho hai phe miền Bắc và miền Trung.

Uất ức vì bị “đẩy sang lề đường”, một nhóm cựu kháng chiến nổi tiếng miền Nam đã đứng ra thành lập “Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ” vào năm 1985 bởi các ông Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng, Đỗ Trung Hiếu, Nguyên Phong Hồ Hiếu.

Câu lạc bộ lấy ngày 23 tháng 9 năm 1986 làm ngày ra mắt để kỷ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến nhưng mãi đến tháng 5 năm 1986 nhóm này mới được cấp giấy phép hoạt động. Sau biến cố sinh viên nổi dậy đe dọa chế độ Cộng sản ở Trung Hoa năm 1989 bị đàn áp đẫu máu tan rã  tại qủang trường Tiananmen, Tổng Bí thư đảng Nguyễn Văn Linh, người chủ trương “đổi mới, mở cửa hội nhập với thế giới” đã ra lệnh Câu lạc bộ đình chỉ hoạt động vào tháng 03.1989.

Từ đó, mối rạn nứt Nam-Bắc càng ngày càng lan rộng trong tòan miền Nam, kể cả trong dân đến độ nhiều người miền Nam đã coi người miền Bắc là “quân xâm lược”, ấy là chưa kể tình trạng ngăn cách sâu thẳm chưa biết bao giờ mới có thể hàn gắn giữa đảng Cộng sản với người dân Việt Nam Cộng hòa cũ vì chủ trương kỳ thị, xếp người VNCH vào hàng “công dân bại trận”  vẫn tồn tại cho đến 2014 trên mọi phương diện!

Đó là lý do tại sao vấn đề chưa có “đòan kết trong đảng và trong dân” luôn luôn là mối đau nhức nhối ám ảnh  các lãnh đạo CSVN trong suốt 39 năm qua, từ 1975.

 HỌC MÃI CŨNG CHÁN

Ông Lê Duẩn còn thề: “Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của HỒ CHỦ TỊCH. Noi gương Người, toàn thể nhân dân ta, thanh niên ta nguyện ra sức trau dồi mình thành những con người mới, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội mới, mang lá cờ bách chiến bách thắng của HỒ CHỦ TỊCH tới đích cuối cùng.”

Nhưng tất cả những phong trào đảng đề xướng gọi là “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trong tòan đảng từ sau ngày Hồ Chí Minh qua đời rồi lan qua tòan dân trên cả nước từ ngày 03-02-2007 đều đã “nước đổ đầu vịt”.

Vì vậy, ông Lê Khả Phiêu mới nói với VOV rằng: “Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, tác phong Bác Hồ chưa thật thấm nhuần, còn hình thức giữa lời nói và việc làm thường trái ngược nhau, những căn bệnh như: quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, xa dân, thiếu tôn trọng dân… Những đảng viên như vậy rõ ràng không xứng đáng là học trò, là đồng chí của Bác. Đây là một vấn đề mà mọi đảng viên và cấp ủy các cấp phải thực hiện một cách đầy đủ tinh thần của lời thề. Từ những cán bộ cấp cao cũng như cán bộ phụ trách công việc ở các cơ sở phải nhìn nhận, đánh giá mình một cách nghiêm túc và phải có biện pháp khắc phục hiệu quả.”

(Phỏng vấn của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) ngày 27.08.2014)

Trong Di chúc, ông Hồ Chí Minh còn lưu ý: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” , nhưng đối với một số đông đảng viên, nhất là những kẻ có chức có quyền  thì “cầm quyền” cũng phải đồng nghĩa với “cầm tiền” nên tệ nạn Tham nhũng đã có cơ hội tự do thăng hoa “sống mạnh sống hùng”để cho đội ngũ cán bộ “biết làm ăn” có cơ hội tậu nhà cao cửa rộng, xe hơi, ruộng vườn, rủng rỉnh tiền của  tiêu xài theo đúng tiêu chuẩn của phương châm “chết chóc mặc bay tiền thầy bỏ túi”.

Do vậy mà từ năm 2003, dưới thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đã ban hành  Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”  để tiếp tục công việc “xây dựng chỉnh đốn đảng, dẹp tham nhũng và uốn nắn  chệch hướng tư tưởng trong đảng.”

Một đọan trong Nghị quyết này đã nói lên tình trạng vào lúc bấy giờ, sau 17 năm thi hành chủ trương Đổi mới thời ông Nguyễn Văn Linh (1986):”Trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng đang bộc lộ một số yếu kém: sự suy thoái về tư tưởng chính trị; tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm, bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước chậm được củng cố và đổi mới. Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy rmạnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa đất nước, Đảng phải có biện pháp phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục củng cố, chỉnh đốn, để ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ.”

Nhưng cũng giống  như đợt “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” , công tác phòng, chống tham nhũng cũng đã bị cán bộ coi là “trò đùa” cho đảng viên “tiêu sầu” trong giờ nhàn rảnh. Lý do việc làm này thất bại vỉ họ nhìn đâu cũng có cán bộ tham nhũng, nhất là những kẻ giữ các chức vụ cao trong đảng.   Vì vậy cán bộ, đảng viên sẽ bị  coi là  kẻ “lạc dòng, ngọai đạo” nếu không biết tham nhũng !

 LẠI NGHỊ QUYẾT GIẬT LÙI

Đến năm 2012, sau một năm cầm quyền, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Ban Chấp hành khóa XI lại bắt chước ông Lê Khả Phiêu ra Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 về “ Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.”

Nghị quyết viết: “Công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Nổi lên một số vấn đề cấp bách sau đây:

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân….

“Cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến chốn, kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, nói không đi đôi với làm, hoặc làm chiếu lệ…

Đến chuyện suy thoái tư tưởng thì ngày nay đã có rất đông đảng viên không còn tin vào đường lối của đảng, nhất là việc đảng cứ mãi “điên rồ,lạc hậu và chậm tiến” duy trì chủ nghĩa phá sản Cộng sản Mác-Lênin nên Nghị quyết đã kêu gọi: “ Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng”  và phải “Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.”

Nghị quyết cũng đã đặt nặng việc phòng, chống tham nhũng vì tệ nạn này vẫn “còn nghiêm trọng” ở khắp nơi.

Như vậy thì hỏng to rồi còn gì nữa mà hô với hào. Hãy cứ tính theo thời gian dài của 45 năm, từ ngày có bản Di chúc ông Hồ để lại  cho đến khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phải lập lại chuyện thối tha nhức nhối này trong Diễn văn tại Hội nghị phòng, chống tham nhũng tòan quốc hồi tháng 5.2014: “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là công việc rất quan trọng, liên quan đến sự phát triển bền vững của đất nước, của chế độ, nhưng cũng cực kỳ khó khăn, phức tạp. Bởi tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, nó diễn ra trong nội bộ chúng ta, liên quan đến lợi ích vật chất, tiền tài, danh vọng của tổ chức và cá nhân con người; đụng chạm đến những người có chức, có quyền. Đảng và Nhà nước ta đã thấy sớm và đã chỉ đạo làm nhiều lần, làm quyết liệt việc này cho nên mới được như ngày nay. Nhưng rõ ràng, còn nhiều việc phải làm và còn phải làm lâu dài, quyết liệt hơn nữa, với quyết tâm cao hơn nữa, bền bỉ, kiên trì, không thể nóng vội. Cũng cần cảnh giác với những âm mưu của các thế lực thù địch, phần tử xấu muốn lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để thổi phồng mặt xấu, bôi nhọ, phá hoại Đảng ta, Nhà nước ta, chế độ ta.”

Vậy thì bây giờ phải giải quyết bằng cách nào ?

Hãy nghe ông Lê Khả Phiêu nói với VOV, sau khi được hỏi: “Theo ông, trong bối cảnh hiện nay, thách thức lớn nhất đối với Đảng Cộng sản Việt Nam và đất nước Việt Nam là gì?

Ông Phiêu: “Đến nay, về Kinh tế, Văn hóa, Xã hội, Đối ngoại, tuy đã có những thành tựu quan trọng nhưng vẫn còn nhiều khó khăn nhất là về kinh tế.

Trong những khó khăn, thách thức như đã nêu trên thì thử thách lớn nhất chính là bản thân Đảng: những cái yếu kém, khuyết điểm, nhược điểm nổi lên là bản lĩnh, năng lực và phẩm chất, phương thức lãnh đạo của một Đảng cầm quyền, những căn bệnh như quan liêu, cửa quyền, xa dân, không tôn trọng dân, vô cảm trước những hành động vi phạm đến quyền dân chủ và lợi ích chính đáng của nhân dân, cá nhân chủ nghĩa, nạn tham nhũng, tham quyền, nhóm lợi ích. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên, sự lõng lẽo trong chấp hành các nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng: tự phê bình và phê bình, tập trung và dân chủ… Tình hình đó nói lên sức chiến đấu của Đảng đang giảm sút, lòng tin của dân đối với Đảng ngày một phai nhạt. Những tồn tại, yếu kém đó, mặc dầu đã đấu tranh nhiều lần ở trong Đảng nhưng vẫn chưa khắc phục được.”

“…Vì vậy Đại hội Đảng lần thứ XII này đề nghị cần tập trung giải quyết cho đến nơi đến chốn việc xây dựng củng cố Đảng… Phải thấy được cái yếu và ra sức khắc phục, mỗi đảng viên và tổ chức Đảng phải xem xét lại bản thân, nhất là các đồng chí cấp cao từ Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cơ quan quyền lực của nhà nước như: Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp.”

Đó là những mơ ước của cá nhân ông Phiêu thôi. Nếu lấy kinh nghiệm từ 5 năm ông giữ chức Tổng Bí thư khóa VIII rồi cộng thêm 10 năm nữa thời ông Nông Đức Mạnh làm “chưởng môn” 2 khoá IX và X trước khi trao quyền lại cho ông Nguyễn Phú Trọng (khoá XI) từ 2011 thì ta thấy đảng CSVN vẫn “dậm chân tại chỗ” rồi lại “đi giật lùi” trong công tác “xây dựng chỉnh đốn đảng” , trong đó có chuyện “đòan kết” , xoá bỏ “suy thoái đạo đức, tư tưởng” và và dẹp “tham nhũng”.

Như vậy có phải đảng đã “hết thuốc chữa” những khuyết tật di căn của mình rồi không hay đảng cứ ì ra đấy để  mặc cho dân khốn đốn ?

Phạm Trần