Wednesday, June 8, 2016

Gần 96% ‘đại biểu quốc hội’ là đảng viên CSVN

HÀ NỘI (NV) - “Chỉ 21 đại biểu trong số 496 đại biểu là người ngoài đảng (chiếm 4.2%), Quốc Hội Khóa XIV của CSVN có tỉ lệ đảng viên cao nhất từ trước đến nay. Chỉ có 2 người tự ứng cử trúng cử. 

Hai đoàn viên “đoàn thanh niên Cộng Sản” ngồi chơi với máy điện thoại trong khi bà cụ ngồi ở phòng bỏ phiếu rảnh rỗi chẳng có gì làm. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Báo Tuổi Trẻ thuật lại báo cáo “thành công” tại phiên họp Hội đồng bầu cử quốc gia sáng 8 tháng 6, 2016 của ông Chánh Văn Phòng Nguyễn Hạnh Phúc cho biết như trên nà nói “có 496 người trúng cử đại biểu Quốc Hội Khóa XIV, thiếu 4 đại biểu so với dự kiến.”

Kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc Hội ngày 22 tháng 5, 2016 của chế độ độc tài đảng trị nhưng vẫn hô hoán “dân chủ đến thế là cùng” dự trù sẽ được loan báo trong ngày 9 tháng 6, 2016 từng được báo chí trong nước bật mí cho thấy nó không suôn sẻ như sự đạo diễn độc diễn của đảng CSVN, dù kết quả không mấy ai ngạc nhiên.

Tất cả 19 ông bà trong Bộ Chính Trị cũng như 15 tướng quân đội và 3 tướng công an được “cơ cấu” làm “đại biểu quốc hội” đều trúng cử. Báo Tuổi Trẻ liệt kê ra cho biết những người được “cơ cấu” làm “đại biểu” trúng cử với các con số mô tả là “Cơ quan đảng 12/12; Cơ quan chủ tịch nước: 3/3; Cơ quan của quốc hội: 104/113; Cơ quan của chính phủ: 17/17; Cơ quan mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên: 25/31; Tòa án nhân dân tối cao: 1/1; Viện Kiểm Sát nhân dân tối cao: 1/1; Bộ Quốc Phòng 15/15; Bộ Công An: 3/3.”

Theo tờ Tuổi Trẻ tường thuật “Với số lượng 21 đại biểu là người ngoài đảng, Quốc Hội Khóa XIV có tỉ lệ đảng viên cao nhất từ trước đến nay, đồng thời cũng giữ luôn kỷ lục về số lượng ủy viên trung ương đảng trúng cử (gần 100 người).”

Thật ra những người gọi là “ngoài đảng” cũng đều là những người được đảng CSVN cài cắm để làm bù nhìn trong quốc hội vốn được báo giới quốc tế gọi là “quốc hội con dấu cao su,” tức hoàn toàn làm theo lệnh của đảng.

Khoảng 50 người ứng cử độc lập, tức không phải do đảng CSVN cài cắm, đã bị chế độ Hà Nội tìm đủ mọi cách vớ vẩn để gạt ra ngoài ngay từ đầu. Họ là các người tham gia đấu tranh dân chủ hóa đất nước, các tổ chức xã hội dân sự hoặc doanh nhân, luật sư, nhà báo độc lập, tức các thành phần không thuộc loại “bảo sao nghe vậy.”

Các ứng viên thuộc xã hội dân sự biết là thế nào cũng sẽ bị cái đảng “dân chủ đến thế là cùng” gạt ra ngoài nhưng vẫn nhất quyết nộp đơn tham gia để lộ rõ bản chất xảo quyệt, nói một đàng làm một nẻo của đảng CSVN.

Tuy nhiên, kết quả chỉ có 496 người “trúng cử” đại biểu quốc hội, tức thiếu mất 4 người, để lộ cho thấy “cử tri” tại Việt Nam không còn hoàn toàn ngoan ngoãn như mấy chục năm qua nữa. Một số địa phương cử tri đi bầu rất ít, một số địa phương phản kháng bằng cách gạch bỏ hết hoặc gần hết tên hầu hết những người được đưa ra ứng cử. Dù vậy, tin tức tuyên truyền vẫn loan báo những địa phương đó có tỉ lệ cử tri đi bầu gần 100%.

“...Việc bầu cử quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp là việc đưa một số người vào các cơ quan gọi là dân cử, để thực hiện thể chế hóa các nghị quyết của đảng, nói nôm na là hợp thức hóa các nhiệm vụ của đảng. Việc lựa chọn người do đảng Cộng Sản chuẩn bị và chỉ đạo thực hiện từ đầu tới cuối. Hoạt động của Ủy Ban Bầu Cử và người dân đi bầu chỉ là diễn trò cho vui, không ai có thể tác động vào kết quả và có giá trị gì vào việc bầu cử này ngoài đảng Cộng Sản Việt Nam. Nói tóm lại, đó là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa mà người dân bắt buộc phải thực hiện.”

Nhà báo tự do Nguyễn Vũ Bình, nguyên là một ký giả của tạp chí Cộng Sản, viết như vậy trong một bài phân tích về “Về tỉ lệ phiếu bầu trúng cử đại biểu Quốc Hội Việt Nam” trên Internet ngày 8 tháng 6, 2016. (TN)

08-06-2016 4:23:29 PM 

Đại học Việt Nam: cái gì là điều đúng phải làm?

06/08/2016 - 14:52 

Trong bối cảnh các tranh luận xung quanh đại học Fulbright Việt Nam (FUV) hiện vẫn đang là thời sự, tôi xin giới thiệu lại một tham luận tại Hội thảo « Khoa học xã hội thời hội nhập » do ĐHQGTPHCM tổ chức ngày 15/12/2011. Từ góc độ của một người từng làm việc nhiều năm trong lĩnh vực giáo dục đại học tại Việt Nam, cả ở khu vực đại học công lẫn khu vực đại học tư, tôi (cũng như nhiều người làm giáo dục khác) nhìn thấy một số thách thức mà FUV phải đương đầu và phải vượt qua, nếu muốn thực hiện được các mục tiêu mà những người sáng lập đã tuyên bố. Tôi sẽ trình bày những thách thức đó trong một (hoặc một vài) bài viết sắp tới. Vì tôi sẽ phải nhắc lại một số ý và nhất là một số phân tích về cuốn sách của Michael Sandel, nên tôi xin phép giới thiệu lại để quý độc giả của blog đọc trước bài tham luận dưới đây, tạo điều kiện dễ dàng hơn cho chúng ta khi cùng nhau tìm hiểu các thách thức chờ đợi FUV.
Quý độc giả cũng lưu ý rằng, bản tham luận dưới đây của tôi được trình bày ở ĐHQGTPHCM và sau đó được công bố trên báo Tia Sáng. Tuy nhiên, thay vì tiếp thu các ý kiến (của nhiều người trong đó có tôi) nhằm xây dựng và phát triển đại học, thì, như chúng ta đã chứng kiến trong những năm qua, đàn áp tự do giảng dạy và tự do học thuật trở thành chiến dịch thường trực của nhà cầm quyền, điển hình là vụ Nhã Thuyên. Nhắc lại điều này để chúng ta xác định cùng nhau rằng những thách thức mà FUV phải đối diện không hề nhỏ, và không hề dễ vượt qua.
Bài giảng bậc đại học (ngành khoa học xã hội và nhân văn)
                Trước mắt tôi là bản dịch tiếng Việt của cuốn « Justice: what’s the Right Thing to do?" (Bản dịch tiếng Việt của Hồ Đắc Phương vừa được NXB Trẻ ấn hành năm 2011, với nhan đề: Phải/trái – đúng/sai). Nội dung cuốn sách là bài giảng của Michael Sandel, Giáo sư đại học Harvard. Tôi dựa vào việc phân tích vài điểm trong cuốn sách này để trả lời câu hỏi: bài giảng ở bậc đại học (ngành khoa học xã hội và nhân văn) là gì?
            Chúng ta sẽ tìm hiểu cặn kẽ đoạn xác định mục tiêu này của Michael Sandel để làm rõ một số đặc điểm của một dạng bài giảng ở bậc đại học :
Aristotle, Immanuel Kant, John Stuart Mill, John Rawls sẽ xuất hiện trong quyển sách này. Nhưng thứ tự họ xuất hiện không phải theo thời gian. Cuốn sách này không phải giới thiệu lịch sử tư tưởng mà là cuộc hành trình suy ngẫm đạo đức và chính trị. Quyển sách không cố gắng chứng minh triết gia nào ảnh hưởng tới triết gia nào trong lịch sử tư tưởng chính trị, mục tiêu của quyển sách là mời gọi độc giả xem xét cẩn trọng quan điểm về công lý và sự xem xét mang tính phê bình của mình, để xác định mình nghĩ gì, và tại sao lại vậy .
            Chúng ta thấy gì ở đây?
            Trước hết, bài giảng là một vấn đề khoa học, ở đây là vấn đề công lý (justice). Và đó là một « hành trình suy ngẫm » (cụ thể trong bài này là suy ngẫm về đạo đức và chính trị) của người giảng viên, Michael Sandel.
            Thứ hai, để có thể suy ngẫm, giảng viên phải tìm hiểu toàn bộ lịch sử của vấn đề này, kể từ Aristotle trở đi, để xem vấn đề đã được khai thác như thế nào, xử lý như thế nào, quan niệm của các triết gia ra sao. Tuy nhiên, như ông nêu rõ,  ông không làm công việc giới thiệu lịch sử tư tưởng, không so sánh đối chiếu để xem xét các ảnh hưởng hay sự phát triển. Nghĩa là ông không nghiên cứu các tác giả của quá khứ như là một đối tượng tĩnh, không nghiên cứu kiến thức như là kiến thức trong sách vở. Mà các kiến thức đó được dùng như là nền tảng, cơ sở trên đó ông tiến hành quá trình « suy ngẫm » của mình. Như vậy bài giảng này là kết quả của hoạt động tư duy, của sự suy nghĩ cá nhân, là đóng góp riêng của giảng viên ; chứ không chỉ là kết quả của một sự tóm lược hay giới thiệu các tác giả khác.
            Thứ ba, đối tượng của sự suy ngẫm là thực tại, là những gì đang diễn ra trong đời sống hiện tại. Kiến thức của quá khứ được dùng để soi chiếu vào thực tại, để nhằm giải quyết các vấn đề của thực tại. Sandel không nhằm mục đích giới thiệu Aristotle, Kant… mà cùng với họ tiếp tục suy nghĩ về vấn đề công lý trong thời đại của ông, về những nan đề mà nó tiếp tục đặt ra trong xã hội Mỹ và trên toàn thế giới hiện tại.
            Sandel đặt vấn đề bằng những sự kiện trong đời sống Mỹ: vấn đề giá cắt cổ, huân chương Tử Tâm và gói cứu trợ. Michael Sandel suy ngẫm về các hiện tượng đang xảy ra: hiện tượng mua bán các bộ phận của cơ thể con người, cụ thể là trường hợp mua bán thận; hiện tượng thuê mang thai hộ;  chính sách chống kỳ thị ; vấn đề tuyển sinh đại học; hiện tượng mộ lính: việc bắt lính hay thuê lính ở Mỹ thể hiện sự công bằng hay vi phạm sự công bằng như thế nào; v.v… Chính trên những thực tế này của thời đương đại mà Sandel đối thoại với các triết gia quá khứ, xem xét những quan điểm rất khác biệt của họ và những điểm cần tranh cãi ở họ. Cách làm này khiến ông có thể đặt vấn đề theo kiểu: « Kant có bảo vệ Bill Clinton không? » ( Phải/trái – đúng/sai , sđd, tr. 198)
             Như vậy, bài giảng thuộc dạng này không hướng đến mục đích trình bày kiến thức trong sách vở của người khác. Bài giảng hướng tới việc nhận thức và giải quyết các vấn đề của đời sống thực, của xã hội trong đó giảng viên đang sống. Sandel nói rõ : « Đây không phải chỉ là vấn đề triết học. Nó nằm ở trung tâm của những nỗ lực tiếp sinh khí cho các thảo luận chính trị và đổi mới đời sống dân sự của chúng ta » (Phải/trái – đúng/sai, sđd, tr. 362).
            Cuối cùng, mục tiêu của bài giảng không phải chỉ là trình bày hành trình và kết quả suy ngẫm của giảng viên, không phải chỉ là sự giới thiệu thành quả của tư duy, mà « mục tiêu của quyển sách là mời gọi độc giả [trên giảng đường là sinh viên] xem xét cẩn trọng quan điểm về công lý và sự xem xét mang tính phê bình của mình, để xác định mình nghĩ gì, và tại sao lại vậy ».
            Điều này có nghĩa là gì ? Có nghĩa là những suy tư của giảng viên phải hướng tới việc khơi dậy sự suy tư ở trong mỗi một đối tượng giao tiếp, mỗi sinh viên. Giảng viên biến đối tượng suy tư của mình thành ra đối tượng suy tư của sinh viên, đưa họ tới việc nhận thức xã hội của họ, và tự nhận thức về chính họ, tự xem xét các suy nghĩ của họ. Mục đích của sự giảng dạy cuối cùng là giúp sinh viên biết cách đặt ra các vấn đề, nhận diện các vấn đề của xã hội, nhận thức các thao tác xử lý vấn đề, nhận thức về chính mình, về những gì đang có trong đầu mình, về những gì đang diễn ra xung quanh mình.  
            Như vậy, sinh viên tham gia vào hành trình suy ngẫm của giảng viên để tự xây dựng nên hành trình suy ngẫm của chính mình. Quá trình suy ngẫm đó đòi hỏi các yếu tố không thể thiếu : kết quả tư duy của những người đi trước (danh sách nhiều khi rất dài và thông thường phải trở về tận thời Hy Lạp cổ đại xa xưa), thực tế xã hội đương đại, sự thật và giới hạn của chủ thể tư duy. Chính quá trình suy ngẫm này sẽ là cơ sở để họ sẽ lựa chọn quyết định hành động như thế nào.
            Để có thể thực hiện một bài giảng theo cách thức mà Sandel đã làm đòi hỏi người giảng viên phải sử dụng tự do của mình trong việc lựa chọn nội dung chủ đề bài giảng, đòi hỏi người giảng viên phải tự do đối diện với thực tế đời sống, tự do sử dụng các dữ liệu thực tế thuộc mọi lĩnh vực, mọi phạm vi : từ đường lối, chính sách của nhà nước, phương thức điều hành của chính phủ, cho đến các sự kiện, hành động thuộc về các nhóm xã hội hoặc mỗi cá nhân trong xã hội.
            Ở đại học Việt Nam, tình trạng chung là ngành khoa học xã hội lạc hậu rất nhiều so với khu vực và  thế giới. Vì sao? Do nguyên nhân chủ quan của người giảng dạy? Do các yếu tố khách quan? Dĩ nhiên là do cả hai.
            Bài viết này không có tham vọng đề cập một cách toàn diện tới các nguyên nhân tạo nên sự yếu kém của ngành này, mà chỉ nêu lên một số lí do, chắc chắn là chưa đầy đủ, khiến cho bài giảng ở đại học mang tính phổ thông nhiều hơn là tính đại học, và khiến cho nội dung giảng dạy bị lạc hậu.
            Trước hết, đó là quy định về chương trình cố định và các môn học bắt buộc. Quy định về chương trình khung và các môn học cụ thể mang tính chất bắt buộc, trên thực tế, là một cách thức hữu hiệu để buộc giảng viên trở nên lạc hậu và cùn mòn, dù muốn hay không. Người ta không thể không lạc hậu nếu trong vòng mười năm hay hai mươi năm buộc phải giảng đi giảng lại một bài giảng.
            Nếu không có cơ chế để mỗi giảng viên tự quyết định các bài giảng của mình, nếu không có cơ chế để giảng viên có thể trình bày các kết quả nghiên cứu độc lập của mình như là nội dung của các bài giảng, thì không thể khuyến khích họ phát triển nghiên cứu. Quy định về chương trình cố định đi ngược lại với những đòi hỏi về sự phát triển của nghiên cứu. Chừng nào nghịch lý này còn chưa được giải quyết, cộng với điều kiện làm việc quá nhiều khó khăn, thì đại học Việt Nam vẫn cứ là nơi hủy hoại nguồn năng lượng chất xám của giảng viên.
            Chính cơ chế tạo điều kiện cho giảng viên phát triển nghiên cứu, kết hợp với cơ chế để cho sinh viên tự do lựa chọn môn học, sẽ là một trong những yếu tố góp phần xác định giảng viên có đáp ứng được yêu cầu của đại học không, có đủ năng lực để làm việc ở đại học không. Đại học muốn có chất lượng thì một trong những điều kiện căn bản nhất là phải có một đội ngũ giảng viên đảm bảo được chất lượng đại học. Và một trong những điều kiện căn bản để giảng viên đảm bảo được chất lượng đại học (ngoài phẩm chất tư duy và nỗi lực tự thân của họ) là đời sống của họ phải được đảm bảo để họ có thể tập trung cho công việc của mình ở trường đại học. Chừng nào các nhà quản lý còn chưa nhận thức được điều này và chưa có những chính sách để hiện thực hóa nó, chừng đó vẫn chưa có hy vọng gì đối với việc nâng cao chất lượng đại học, và chuyện hội nhập với thế giới chắc vẫn chỉ là một mơ ước mang tính không tưởng.
            Liên quan đến nhận xét về việc bài giảng đại học của chúng ta nặng tính phổ thông, chỉ cần làm một so sánh nhỏ về tên các bài giảng ở đại học Phương Tây và ở đại học Việt Nam trong lĩnh vực này, ta sẽ thấy bài giảng đại học Phương Tây mang tính vấn đề, còn bài giảng của đại học Việt Nam mang tính chất giới thiệu kiến thức. Ví dụ, các bài giảng của chúng ta, ở các khoa văn học, thường là : Văn học Việt Nam (thế kỷ…), Văn học Việt Nam (giai đoạn…), Văn học Pháp (thế kỷ…), v.v... Hoặc là tên của các tác gia : Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hugo, Balzac, Faulkner, v.v… Như vậy bài giảng thường nặng về văn học sử, giới thiệu kiến thức tổng quát. Giảng viên có thể soạn bài một lần để giảng trong nhiều năm. Ở Phương Tây, đối với những năm đầu của bậc đại học, các bài giảng vẫn phải hướng tới mục đích cung cấp các kiến thức nền tảng của ngành học cho sinh viên. Tuy vậy, giảng viên vẫn có quyền thực hiện việc cung cấp kiến thức nền thông qua các vấn đề cụ thể, chứ không chỉ nhất thiết phải trình bày lịch sử của vấn đề hay giới thiệu kiến thức một cách khái quát. Xem chương trình cho sinh viên hai năm đầu của Khoa Lettres, Art et Cinéma, ở đại học Paris 7, Pháp, ta thấy: bài giảng của Félix Perez, Vụ án và cái chết của Socrate - Thành bang trong quan niệm của Platon.  Bài giảng của Jean-Christophe Reymond: Vấn đề diễn giải và nhận thức về bản thân ở thời Phục Hưng. Bài giảng của Régis Salado: Hư cấu và sự thật trong thơ. V.v… Đấy là một số bài giảng dành cho sinh viên hệ Licence của Khoa Lettres, Art et Cinéma, năm học 2010-2011. Các bài giảng này không lặp lại chương trình của năm trước.
            Các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn ở đại học Việt Nam ít có liên hệ với thực tế. Tình trạng chung là có một khoảng cách, nhiều khi rất xa, giữa kiến thức được giảng dạy (kiến thức trong sách vở) cho sinh viên và thực tế đời sống, giữa các nghiên cứu về quá khứ và xã hội hiện tại. Bài giảng thường nặng về truyền thụ lại kiến thức của người khác, chứ ít khi là một « hành trình suy ngẫm » của giảng viên. Những nghiên cứu, phát hiện về thời quá khứ của giảng viên ít khi được sử dụng để góp phần vào việc suy nghĩ về các vấn đề của xã hội đương thời.
            Một ghi nhận khác là ngành khoa học xã hội và nhân văn ở các trường đại học Việt Nam không những chỉ lạc hậu so với các đại học quốc tế, mà còn lạc hậu so với chính các hoạt động xuất bản trong nước và so với những nỗ lực riêng lẻ của các cá nhân ngoài xã hội.
                Bình thường, đại học là bộ phận đi tiên phong trong việc đề xuất các tư tưởng, các khuynh hướng nghiên cứu, các giải pháp cho xã hội ; và ở mức độ thấp hơn, đại học đi tiên phong trong việc ứng dụng và cập nhật các nghiên cứu của thế giới. Nhưng ở Việt Nam, thời gian gần đây, xem ra đại học lại lẽo đẽo đi sau, không tiến kịp sự vận động của xã hội. Trong khi bản dịch tiếng Việt các tác phẩm kinh điển của Kant, Hegel, Nietzsche, John Stuart Mill,  Durkheim, Deleuze (Ta biết rằng ở đại học phương Tây, Kant, Nietzsche, Heidegger… các triết gia nói chung (cả các triết gia phương Đông), không chỉ được giảng dạy ở khoa Triết, mà còn được nghiên cứu ở tất cả các khoa về khoa học xã hội và nhân văn) …, bản dịch những nghiên cứu mới của thế giới về triết học Marx, đã lưu hành nơi nhiều tầng lớp độc giả thì thử hỏi có bao nhiêu trường đại học đưa các tác phẩm đó vào chương trình giảng dạy, trong lúc mà, về nguyên tắc, sinh viên của khoa nào cũng phải học môn triết ? Điều này khiến ta phải đặt câu hỏi: đại học có đảm nhận được vai trò của nó hay không? giảng viên đại học có đảm nhận được vai trò của mình hay không?
            Tuy nhiên để trả lời những câu hỏi này, ta vấp phải một câu hỏi khác, khi đi tìm câu trả lời cho nó có lẽ ta sẽ phần nào chạm tới thực chất của ngành khoa học xã hội và nhân văn ở đại học Việt Nam: vai trò của giảng viên đại học là gì ? là một người làm công, buộc phải hoàn thành một chương trình được ấn định sẵn ? hay là người thúc đẩy sự phát triển của đời sống bằng các nghiên cứu sâu về thực trạng xã hội và về con người?
               Chừng nào mà người nghiên cứu và giảng dạy vẫn còn gạt sang một bên các vấn đề đặt ra trong xã hội họ đang sống, không chọn lựa các vấn đề của thời đại họ làm đối tượng nghiên cứu, chừng đó vẫn còn chưa có khoa học xã hội thực sự. Kể cả đối với những chủ đề tưởng như mang tính vĩnh cửu : chân lý, công lý… thì người ta cũng không thể tư duy một cách thực sự nếu không xuất phát từ những dữ liệu của đời sống hiện tại, như cách mà Sandel đã làm. Và nếu giảng viên không tư duy thực sự thì làm sao có thể dạy cho sinh viên cách tư duy ?
               Chừng nào mà nội dung nghiên cứu và giảng dạy ở đại học còn chưa theo kịp với thời sự nghiên cứu của thế giới, không đi cùng nhịp với những quan tâm và không nắm bắt được các vấn đề đang đặt ra cho giới học thuật quốc tế,  chừng đó vẫn còn chưa thể nói tới việc hội nhập với thế giới một cách bình đẳng. Chúng ta có thể tổ chức các hội thảo với sự tham gia của các nhà khoa học trên thế giới, nhưng điều đó không đảm bảo cho các nghiên cứu của chúng ta đạt tới đẳng cấp quốc tế. Khi nào chúng ta có các tham luận được trình bày trong các hội thảo quốc tế có uy tín, có các bài báo được công bố trên các tạp chí quốc tế, và ở mức độ cao hơn có các chuyên luận được tham khảo trong giới nghiên cứu và được dịch ra tiếng nước ngoài, lúc đó chúng ta mới thực sự khẳng định được vị thế của mình so với các đồng nghiệp trên thế giới.
                Dĩ nhiên, không phải mọi giảng viên đại học đều ở mức độ của Sandel. Song các giảng viên đại học đều làm việc theo cùng cách thức như vậy (họ suy nghĩ và công bố các suy nghĩ của họ trong các bài giảng, rồi xuất bản thành bài báo hoặc thành sách), và đại học cũng phải được tổ chức theo một mô hình nhất định để đảm bảo cho các nhân vật như Sandel xuất hiện. Chúng ta biết tầm quan trọng của môi trường làm việc, qua trường hợp Trần Đức Thảo chẳng hạn ; ta biết ông đã sáng chói ở Paris ra sao và tàn lụi ở Hà Nội như thế nào. Điều quan trọng khiến cho các năng lực của Trần Đức Thảo bị tàn lụi, theo tôi, không phải là khó khăn về đời sống vật chất, mà là khó khăn về tư liệu, không có môi trường học thuật, và nhất là tư duy không được phát triển một cách tự do.
               Ta cũng biết tại miền Nam trước 1975, các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy triết học ở đại học nở rộ, sôi nổi như thế nào, và sau 1975 đã chìm xuống ra sao. Nếu ta không đối diện với các sai lầm của quá khứ để tìm cách giải quyết thì có nguy cơ ta vẫn sẽ tiếp tục những sai lầm đó, và vì chúng được duy trì trong hiện tại nên chúng sẽ trở thành một di sản tồi tệ mà ta để lại cho thế hệ tương lai.
               Để có thể phát triển thì không thể không thay đổi. Bởi lẽ bản thân khái niệm « phát triển » bao hàm trong nó ý niệm về sự thay đổi. Có thể nào bàn về sự phát triển mà lại gạt sang một bên yêu cầu về sự thay đổi? Làm sao có thể tạo được những bước phát triển mang tính chất đột phá mà lại không tiến hành những thay đổi căn bản? Có lẽ đây là thời điểm ta cần trả lời dứt khoát một số câu hỏi : ta có muốn thay đổi không ? Ta có thể thay đổi hay không ? Ta có đủ các điều kiện cần cho sự thay đổi hay không ? Ta có khả năng tạo ra các điều kiện cho sự thay đổi và có khả năng thực hiện các thay đổi hay không ? Nếu từ chối thay đổi thì ta sẽ tồn tại như thế nào trong cái thế giới đang thay đổi với tốc độ chóng mặt này ?
            Cuối cùng, xin mượn lại câu hỏi của Sandel, “JusticeWhat’s the Right Thing to do?” Tôi biến đổi câu hỏi ấy chút ít để kết thúc, hoặc để mở ra:
            Đại học Việt Nam: cái gì là điều đúng phải làm?
Nguyễn Thị Từ Huy

Chương trình "60 phút Mở" được nhiều hơn mất





Liên tiếp trong những ngày gần đây, chương trình "60 phút Mở" của VTV, với các chủ đề “Chia sẻ trên Facebook để làm gì?” và "Người ta làm từ thiện vì ai?" đã khiến cho mạng xã hội phát điên, với các ý kiến khác nhau mà đa phần là ở mức phẫn nộ. Trước cơn sốt của dư luận, tôi đã quyết định dành ra 120  phút để theo dõi 02 clip video nói trên với mục đích tìm hiểu về tâm lý và cảm nhận của người Việt khi tiếp nhận các thông tin.
Do ít có điều kiện theo dõi các chương trình TV trong nước, nên tôi phải mất công tìm hiểu từ đầu xem chương trình "60 phút Mở" của VTV có từ khi nào và nguồn gốc của nó bắt nguồn từ đâu? Qua tìm hiểu được biết "60 phút Mở" là chương trình trên kênh VTV6, phát sóng 9h sáng chủ nhật cách tuần, với nội dung bàn luận về các vấn đề xã hội trên nhiều góc độ, khía cạnh. Được biết, chương trình "60 phút Mở" không phải là chương trình mới đối với khán giả ở Việt nam, mà nó được sản xuất theo format chương trình "60 Minutes" nổi tiếng của đài CBS - Mỹ từ tháng 10/2015. Chương trình "60 Minutes" được coi là một trong những chương trình truyền hình điều tra hay nhất của Mỹ và năm 2002, TV Guide đã xếp "60 Minutes" ở vị trí thứ 6 trong danh sách những chương trình truyền hình đáng xem nhất mọi thời đại.
Thực ra các chương trình kiểu "60 phút Mở" trên truyền hình tôi được xem từ rất lâu rồi. Ở các nước tiến bộ, trước khi nhà nước thông qua một quyết định hoặc ra một văn bản luật hay khi xuất hiện một hiện tượng, sự kiện  xã hội được dư luận quan tâm... Khi đó các kênh TV sẽ mời các khách mời đến bàn thảo và người dân có thể tham gia góp ý kiến thông qua các tin nhắn hoặc sử dụng đường dây nóng để góp ý kiến. Đây có lẽ là cách nắm bắt dư luận một cách nhanh nhất, trong điều kiện không cần thiết phải trưng cầu dân ý. Bản chất của việc làm này là các nhà làm chính sách muốn nghe phản ứng của dư luận, thông qua các ý kiến khác nhau, kể cả ý kiến trái chiều để điều chỉnh trước khi đi tới một quyết định cuối cùng.
Dưới các tiêu đề “Chia sẻ trên Facebook để làm gì?” và "Người ta làm từ thiện vì ai?", cũng là những câu hỏi mà dư luận xã hội quan tâm và những câu hỏi tương tự như thế cần được đặt ra thường xuyên để trao đổi nhằm tìm ra câu trả lời. Với mục đích hướng cho mọi người có ý thức chung đối với cộng đồng trong các vấn đề xã hội. Trên thực tế việc lạm dụng chia sẻ các nội dung trên mạng xã hội Facebook cũng không ít lần khiến chúng ta bực mình, cũng như việc nhiều người mượn danh nghĩa công việc làm từ thiện để trục lợi hoặc PR hình ảnh của một nhóm hoặc cá nhân v.v... Theo tôi, đó là những điều có thật, không thiếu để kiểm chứng trong thực tế. Đây là những vấn đề xã hội quan tâm và mong muốn tìm một câu trả lời chung, mang tính chất tích cực cho cộng đồng. Điều đó cho thấy, các chủ đề của chương trình "60 phút mở" của VTV đặt ra là hoàn toàn cần thiết..
Vậy tại sao dư luận lại phản ứng hết sức mạnh mẽ đối với các chương trình này và tới mức VTV đã phải vội vàng gỡ clip video “Chia sẻ trên Facebook để làm gì?” sau vài tiếng đồng hồ? Các tờ báo đã không ngại ngần chạy các title "Dư luận phát sốt" hay "Cộng đồng mạng nổi điên"... để diễn tả hiệu ứng của chương trình "60 phút Mở" trong hai lần phát sóng liên tiếp gần đây. Khi mà đa phần các ý kiến đều thể hiện sự chê bai, công kích thậm chí là chửi bới đối với người dẫn chương trình là bà Tạ Bích Loan hay các khách mời ngồi ở vị trí người phản biện là ông Hồng Thanh Quang hay mới nhất là TS. Đặng Hoàng Giang. Thậm chí một nhà giáo ở miền Trung đã viết rằng "Tôi, công dân nước CHXHCN Việt Nam, chính thức đề nghị Ban Tuyên giáo TƯ, UVTƯ – Tổng giám đốc Trần Bình Minh giải tán ngay cái chương trình này! Bởi vì nó rất độc hại, nguy hiểm. Nó đã cố tình định hướng cho giới trẻ sống vô cảm, bất lương!". 
Và liệu các phản ứng gay gắt của dư luận xã hội có đúng hay chưa?
Thông qua phản ứng của dư luận xã hội và những điều chỉ trích mà chúng ta thấy, đó là thái độ bất bình, thậm chí là giận dữ của đa số người khi xem các chương trình này. Có lẽ chỉ với lý do duy nhất là những người trong chương trình "60 phút Mở" không nói đúng theo ý của họ muốn nghe, nghĩa là các bên có các suy nghĩ khác nhau. Điều đó cho thấy sự hạn hẹp trong tư duy của số đông người Việt nam, họ chưa tạo cho mình một ý thức biết lắng nghe  và tôn trọng các ý kiến khác biệt. Trong lúc nay cả những người tham gia chương trình đã thể hiện cho thấy họ luôn tỏ ra tranh khôn, dẫn đến các thái độ hấp tấp, thiếu bình tĩnh.
Song điều đó có lẽ không bằng chuyện có nhiều người phán như thánh, họ chê bai, chỉ trích thậm chí là chửi rủa về điều mà họ cho là màn đấu tố. Nhưng khi được hỏi, bạn đã xem trọn vẹn chương trình đó chưa thì họ thú thực là chưa xem. Vậy không biết họ dựa vào cái gì để bình phẩm? Tôi đã xem rất kỹ chương trình này và thấy rằng không có gì gọi là đấu tố cả. Cá nhân tôi tin rằng, những ai khi chia sẻ và khẳng định điều đó là một màn đấu tố, thì nhiều khả năng là họ chưa xem hoặc xem chưa hết chương trình này. Nếu không thì vấn đề nhận thức của họ chắc chắn có vấn đề (!?).
Phải thừa nhận, phần đầu của chương trình “Chia sẻ trên Facebook để làm gì?” đã khiến cho không ít người xem phải nổi máu nóng vì bực tức, khi có sự truy vấn quá mức bình thường của người dẫn chương trình và một vài khách mời ở vị trí phản biện. Nếu đây là sự cố ý để gây kịch tính thì quả là ê kíp làm chương trình này đã thành công, vì rất hấp dẫn. Với những người vẫn bảo lưu ý kiến cho rằng đây là một màn đấu tố thì xin các bạn tự đặt câu hỏi "Tại sao Cảnh sát khi thẩm vấn tội phạm mà người ta không gọi là đấu tố?". Và câu trả lời dành cho các bạn là, vì việc thẩm vấn đó có việc đối thoại (có hỏi, có đáp) chứ không phải là chuyện chỉ một bên được nói và một bên chỉ được phép nghe. Cho nên, chương trình "60 phút mở" trên VTV cũng như vậy thôi. Còn nếu cứ cố tình đổ cho họ đó là một màn đấu tố, thì có lẽ là chúng ta đang quy chụp họ.
Để hiểu rõ hơn, hãy lắng nghe ý kiến nhiếp ảnh gia Na Sơn nói với báo Thanh niên, trước nhiều ý kiến chỉ trích người dẫn chương trình - nhà báo Tạ  Bích Loan đã cố tình “ép”, không khác gì “đấu tố” đối với MC Phan Anh. Ông Na Sơn nhìn nhận rằng: “Không có đấu tố gì cả. Đây là chương trình tranh luận, ở Việt Nam chưa có, hoặc có ít những chương trình như vậy. Còn mọi người xem chương trình nước ngoài, các diễn giả và MC tranh luận với nhau, thậm chí tấn công quan điểm rất mạnh để các bên được nói tiếng nói của mình, người xem có thể rút ra từ đấy, chứ không phải bên nào đúng, bên nào sai cả. Tất cả đều thẳng thắn với nhau.”.
Tuy nhiên về phía VTV cũng cần rút kinh nghiệm trong việc thực hiện chương trình này, đó là vai trò của người dẫn chương trình, mà cụ thể là bà Tạ Bích Loan. Lẽ ra người dẫn chương trình hãy tỏ ra có sự công tâm hơn trong cách đặt các câu hỏi, trên cơ sở của một thái độ cầu thị, biết lắng nghe thay cho hành động tham gia truy vấn khách mời. Tiếc thay, người dẫn chương trình - bà Tạ Bích Loan vì mải chạy theo công việc định hướng nên đã vào hùa với những người đóng vai phản biện, nổi bật là Đại tá Hồng Thanh Quang. Bà Tạ Bích Loan quên mất đây là công việc của những khách mới tham gia hội luận bàn tròn, chứ đâu phải là việc của người dẫn chương trình? Điều đó cho thấy sự non kém, thiếu kinh nghiệm của người dẫn chương trình. Chính vì thế người ta mới cho rằng đó là một màn đấu tố. Tuy nhiên, VTV cũng như bà Tạ Bích Loan dường như đã sớm nhận ra điều đó và vai trò của người dẫn chương trình "Người ta làm từ thiện vì ai?" lần sau của bà Tạ Bích Loan cũng đã tỏ ra được cải thiện hơn.
Chỉ riêng các ý kiến của cộng đồng mạng hầu như không thay đổi, họ vẫn giận dữ và nổi nóng chỉ vì những phát biểu theo họ là quá mức sách vở của một vị khách mời ngồi ghế phản biện. Đó là TS. Đặng Hoàng Giang - Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng (CECODES) khi cho rằng "Khi đem quần áo của người dưới xuôi hoặc thiết kế của người nước ngoài cho người dân tộc thì về lâu dài người ta sẽ đánh mất bản sắc". Chỉ có vậy thôi, trong lúc đa phần mọi người đều cho rằng, ông TS. này có lẽ chỉ biết đến những chuyện cao xa, và họ còn gửi câu hỏi rằng "Giữa cái rét 0 độ C trong lúc bụng thì đói, áo ấm không đủ thì ông chọn cái "bản sắc văn hóa" hay một chiếc áo rét cũ?". Thì đã có không ít người có học hành, bằng cấp lại nổi nóng quá mức, thậm chí so ông TS này với trâu, bò? Thật ra điều mà TS. Đặng Hoàng Giang phát biểu dưới góc nhìn của một người làm công tác nghiên cứu chính sách, điều muốn cảnh báo chỉ là "Về lâu dài cần có một giải pháp từ thiện tối ưu là không làm cho người hưởng lợi từ việc từ thiện lười hơn." thì đâu có gì sai?
Việc dư luận xã hội có những ý kiến cực đoan xung quanh 02 chương trình "60 phút Mở" là điều cực kỳ nguy hiểm nếu xét ở góc độ ý thức. Điều đó cho thây, đa số người dân và trí thức ở Việt nam vẫn chưa thoát khỏi thứ tư duy đồng phục về tư tưởng. Nghĩa là mọi người phải chung một suy nghĩ và luôn nghĩ về một hướng. Đây là sản phẩm của một nền giáo dục của một chế độ độc tài. Họ không thể trả lời được rằng, trong một xã hội khi mà mọi người đều bình đẳng, thì họ nhân danh ai và họ lấy quyền gì để cấm người khác biểu lộ quan điểm của họ. Hơn nữa, nhiều người quên rằng đây là một chương trình truyền hình, được đạo diễn theo một kịch bản viết sẵn, quay tại trường quay 2 giờ đồng hồ và được biên tập lại còn 60 phút. Thì việc định hướng thì tất nhiên là phải có, ở đâu cũng thế luôn luôn có sự định hướng. Vì một trong những vai trò quan trọng của truyền thông là định hướng và dẫn dắt dư luận hay sao?
Qua xem nội dung 2 clip video từ đầu đến cuối, tôi có nhận xét, đây là một chương trình truyền hình đáng xem, có tính giáo dục cao. Trong điều kiện xã hội Việt nam hiện nay, khi dư luận chưa đồng tình và chấp nhận sự khác biệt, nhất là sự khác biệt về tư tưởng, thì đây là một chương trình cần thiết sẽ giúp cho mọi người làm quen. Để tạo cho mọi người sự cởi mở hơn trong việc đón nhận các ý kiến khác biệt, để biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt về tư tưởng.
Đáng tiếc rằng nhiều người không đu tỉnh táo để nhận ra rằng, chương trình "60 phút Mở" này của VTV thực sự là một bước tiến khá dài của truyền thông ở Việt nam, vốn là phương tiện độc quyền của Đảng CSVN. Họ đã, đang chấp nhận và cổ vũ cho một sự đa nguyên về tư tưởng, cho phép người ta công khai nói những suy nghĩ của mình, dù rằng điều đó có thể ngược lại sự định hướng của nhà nước. Việc những người tham gia chương trình giương các các tấm bảng biểu thị hagtag của mình ở phần cuối chương trình đã cho thấy điều đó. Trong một thể chế độc đảng, nhà nước nắm độc quyền về truyền thông thì chương trình "60 phút Mở" này của VTV là một viên ngọc quý. Những sai sót trong quá trình làm chương trình là điều tất nhiên phải có và nó sẽ được khắc phục hoàn chỉnh hơn thay vì yêu cầu bãi bỏ.
Theo VNN, trước sự tức giận của cư dân mạng, ca sĩ Thái Thùy Linh, khách mời tham gia chương trình 'Người ta làm từ thiện vì ai?' phải thốt lên: "Tôi thấy sợ cư dân mạng sau 2 chương trình '60 phút mở'. Họ sẵn sàng ném đá bắt cứ ai và biến một người nào đó trở thành tâm điểm của dư luận. Cư dân mạng thật đáng sợ với những chỉ trích, thóa mạ gay gắt, không cần quan tâm đến cảm nhận của người trong cuộc. Cá nhân tôi nghĩ, mỗi người trước khi ném đá một ai đó hay một chương trình nào đó thì cũng cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng. '60 phút mở' là cách làm truyền hình rất mới và không đáng bị mọi người chỉ trích như vậy".
Và nếu so sánh cái đó với những điều từ rất lâu người ta vẫn nói  về tư duy và ý thức của người Việt rằng: "Đa phần người Việt Nam chúng ta đón nhận những ý kiến phản biện bằng sự suồng sã của con vẹt và thói hách dịch của kẻ bề trên. Nó là biểu hiện cho sự cùm trói tư duy, không chấp nhận bất cứ quan điểm nào khác chủ kiến của mình và chỉ gìn giữ những định kiến mà không cần liên hệ với giá trị hiện thời – tự coi tầm hiểu biết của mình là chân lý bất biến.". 
Điều đó cũng có lẽ bởi người Việt mình vốn là một dân tộc thuần nông, thiếu nền tảng nhân bản song lại thừa sự vô trách nhiệm.
Ngày 08/06/2015
© Kami
* Đây là trang Blog cá nhân của Kami. Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á châu Tự do RFA.

Trên thù hận không thể gieo hạt giống tương lai

Tuankhanh06/08/2016 - 18:10 


Thư cho người bạn trẻ,
Khi bạn hỏi tôi về sự kiện liên quan đến ông Bob Kerry, tôi nghĩ mình phải trình bày dài hơn dự định.
Việc cựu quân nhân Bob Kerry có trở thành người đứng đầu của trường ĐH Fulbright VN (FUV) hay không, hôm nay chắc đã không còn là điều quan trọng nữa rồi. Những cuộc tranh luận gay gắt từ phía chống và phía thuận, đang cho thấy một Việt Nam đang bị xâu xé bằng ý thức hệ ngay trên thân thể của mình. Những mất mát và đau thương và chính Nhà nước Việt Nam sau 1975 vẫn luôn kêu gọi hãy khép lại, mở ra một chương mới hòa bình, đang bị một nhóm người mở lại, rạch ra: Không ai không thấy đang có một cuộc nội chiến khác còn ghê sợ hơn cả cuộc chiến 20 năm Bắc-Nam Việt Nam. Vết thương chưa bao giờ lành, nhưng đó không phải là vết thương của bên ngoài mang đến, mà vết thương của tự mình cào cấu.   
Ngôn ngữ của những người chống việc ông Bob Kerry làm Chủ tịch Hội đồng Tín thác (FUV) ngày càng rộ lên, mọi cách dẫn giải, vận dụng đủ các hình tượng, thủ pháp gây ảo giác, để lôi kéo thêm những người chống lại việc một trường đại học có một đại diện mà họ không muốn. Thật ra, Chủ tịch Hội đồng tín thác tức là người chịu trách nhiệm tìm nguồn lực tài chính, không phải là nhân vật giữ vai trò điều hành hay trực tiếp giảng dạy. Việc đánh vào người có khả năng vận động tài chính cho nhà trường vào phút chót, không khác nào ngụ ý việc muốn cản trở tiến trình hình thành trường FUV tại Việt Nam.
Mỗi người đều có sự không muốn rất riêng tư của mình. Có những cái không muốn dễ bộc lộ cho thấy tư cách và vụ lợi. Có những cái không muốn im lặng lùi vào hành động trong bóng tối, kể cả việc rút các bài phát biểu của ông Đinh La Thăng, bí thư thành ủy “Vượt lên thù hận, chúng ta mạnh mẽ hơn”. Có những cái không muốn rất công khai như “tôi sẽ không đem con của mình đến học ở trường của một tên sát nhân”, hay “đừng nhân danh người chết để đòi tha thứ”.
Dĩ nhiên, nhìn ở một góc khác, thật đáng sợ khi có loại phụ huynh mang con mình đến trường, khởi đầu cuộc sống thơ ngây của nó bằng cách dạy đứa trẻ biết căm ghét một người hiệu trưởng, cũng như không ai có quyền nhân danh người chết để phất ngọn cờ cơ hội về thù hận, mà sự thù hận đó không đại diện cho truyền thống nhân nghĩa và hòa ái của người Việt Nam từ ngàn năm.
Lịch sử trên sách giáo khoa của Việt Nam không có bài học rõ ràng. Ẩn dưới những con chữ khéo léo che đậy là phần lời giải tự thân của mỗi con người, mỗi gia đình. Ngoài những câu chuyện về thảm sát Thạnh Phong 1969 mà ông Bob Kerry có liên quan – luôn được tô đậm, thì các câu chuyện về chiến tranh Bắc Kinh xâm lăng 1979, Trung Quốc thảm sát ở Lão Sơn 1984, giết người và chiếm đảo Gạc Ma 1988… vẫn mù mờ như một bức tranh chuyển động theo vui buồn của người cầm quyền, dù sự kiện tươi mới nhất.
Bạo lực cách mạng trong chiến tranh và cả thời bình là điểm quan yếu cốt lõi của tư tưởng Marx-Lenin. Trong thời bình, bạo lực cách mạng là phải tạo ra một kẻ thù ngay trong ý thức để xây dựng sức mạnh của chính quyền. Và dĩ nhiên, bất chấp việc xâm lược, tấn công ngư dân Việt, phong tỏa biển… của Trung Quốc, Tập Cận Bình vẫn là được vỗ tay chào đón ở Quốc Hội Việt Nam như người bạn cao cả, và người Mỹ bị chọn trở thành kẻ thù, dù lúc này chỉ còn là kẻ thù trong tư tưởng. Thực tế cho thấy kẻ thù là một phép tính chứ không dựa vào giá trị hiện thực.
Vì thế, hôm nay người Việt bị phân hóa trong câu chuyện của Bob Kerry cho thấy: Một lớp người đứng về quan điểm kẻ thù được chỉ định, và một lớp người sống với hiện thực. Dĩ nhiên, quyền lựa chọn ở phía nào, là tự do tối thiểu của mỗi người, tùy theo nhận thức.
Đó không phải là ngoại lệ đầu tiên, ngay trong lịch sử dân tộc, những người soạn sách giáo khoa ăn lương nhà nước cũng đã sống với bạo lực tư tưởng khi dạy cho trẻ nhỏ phải biết căm ghét ngay vua Nguyễn Ánh “cõng rắn cắn gà nhà”, mà xóa mờ giá trị thống nhất đất nước đầu tiên của ông trong lịch sử. Bạo lực tư tưởng cũng ám thị người ta phải chọn yêu bằng việc nhập tâm “tiếng đầu đời con gọi Stalin”, bất chấp đó là nhà độc tài lừng danh của thế kỷ 20.
Trên thực tế, dân tộc Việt Nam thông minh hơn mọi lời tuyên bố, phát biểu hay áp đặt trên truyền thông nhà nước mà lâu nay vẫn diễn ra. Sự im lặng của họ chứa đầy hiểu biết và chọn lựa riêng. Nếu phải cầm súng hôm nay, họ biết kẻ thù là Bắc Kinh. Nếu phải lựa chọn từ sự kiện của ông Bob Kerry, chắc chắn người dân Việt Nam tỉnh táo sẽ không gieo hạt giống tương lai trên mảnh đất bị ghim giữ bằng thù hận – thậm chí có thể là thù hận chỉ định. 
Nhưng đáng tiếc, như lâu nay, mọi lựa chọn và quyết định vẫn chưa bao giờ thực sự là của nhân dân.
Có ai đó đã nói đừng lợi dụng chuyện Bob Kerry để khuấy động lịch sử - nhưng không có lửa làm sao có khói. Lịch sử đời của Bob Kerry rất ngắn ngủi nhưng ông ta minh bạch về tội lỗi của mình trước hàng triệu người. Còn Lịch sử vĩ đại của chúng ta vẫn bị gói buộc bằng những sợi chỉ đỏ tư duy, chỉ bởi với một ít người. Minh bạch thì chỉ có thể tái hiện, còn che giấu mới thật sự bị khuấy động.
Vậy thì tôi và bạn, chúng ta, sẽ chọn đứng đâu trong thế giới này? Chúng ta nên sống với thù hận hay với thứ tha?
Ngoài lẽ phải và sự thật mà chúng ta suốt đời cần đeo đuổi, còn một thứ nữa giúp chúng ta vượt qua sự thấp hèn của chính mình: đó là lòng vị tha.
Nếu không có sự tha thứ, làm sao Nelson Mandela (1918-2013) có thể duy trì được quốc gia Nam Phi lớn mạnh, thoát khỏi bóng ma thù hận về chế độ aparthied suốt từ năm 1948 đến 1990? Nhân cách của một người làm chính trị lớn, đã giúp cho ông Nelson Mandela hiểu rõ rằng muốn đi tới ngày mai, chỉ có thể tha thứ để cùng nhau xây dựng, giáo dục và phát triển.
Nếu không có sự tha thứ, làm sao đất nước Miến Điện với Aung San Suu Kyi có thể trở thành một quốc gia dân chủ hòa ái sáng chói, sau khi lật đổ chế độ độc tài quân sự sau 25 năm cai trị bằng súng và nhà tù, chỉ bằng những lá phiếu (tháng 11/2015). Ý nguyện cao cả và quyết định tha thứ của nhân dân đã dẫn đến một tương lai rực rỡ cho Miến Điện. Nếu không được tha thứ, chắc chắn người cầm nắm quyền lực, tướng Min Aung Hlaing sẽ không ngại mở ra một cuộc nội chiến mới với 500.000 quân trong tay, trong một đất nước chỉ có 50 triệu dân.
Chúa Jesus dạy rằng “hãy yêu kẻ thù của mình, để mặt trời có thể mọc trên cả cái ác và điều lành, để mưa có thể xuống nơi có lẽ phải và cả nơi bị bất công”.
Đức Phật dạy “Con người tự hủy hoại mình khi nuôi dưỡng hận thù”.
Không có tha thứ, loài người không thể bước vào thế giới văn minh với bình an cho mình và cho cả người khác. Không nhân danh lý tưởng để che đậy quyền lợi cá nhân, con người mới có thể chân thành với chính mình và đồng loại. Chỉ với tuệ giác, con người mới có thể nhận ra và tự tận diệt trăm lần bản thân mình hôm qua để tái sinh ngày hôm nay. Kẻ tội đồ có thể tái sinh làm Bồ tát. Kẻ tự xưng mình là Bồ tát thì mãi mãi trầm luân.
Và trên một mảnh đất bị cài đặt bởi hận thù và tuyên ngôn trá mị, làm sao chúng ta có thể tái sinh và tìm thấy một tương lai?

Hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt hồ ở Hà Nội

Chiều 8/6, hàng nghìn con cá chết nổi trắng trên mặt hồ Hoàng Cầu (quận Đống Đa, Hà Nội).
Hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt hồ ở Hà Nội - Ảnh 2.
Theo một số người dân quanh hồ, cá chết liên tục từ rạng sáng 8/6 và đến chiều cùng ngày vẫn chưa chấm dứt.
Hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt hồ ở Hà Nội - Ảnh 3.
Ven bờ hồ phía đường Mai Anh Tuấn là nơi cá dạt vào nhiều nhất.
Hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt hồ ở Hà Nội - Ảnh 4.
Ông Tám, một trong 14 người góp vốn nuôi cá ở hồ Hoàng Cầu cho biết: “Chúng tôi bắt đầu thả cá từ cuối năm 2009. Đến nay, trong hồ rộng khoảng 15 ha này có khoảng 200 tấn cá”.
Hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt hồ ở Hà Nội - Ảnh 5.
Số cá chết đến nay ước tính có thể lên đến vài chục tấn.
Hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt hồ ở Hà Nội - Ảnh 6.
Từ 1h sáng, khi cá còn lóp ngóp, rất nhiều người đã mang xô, chậu, túi nylon ra vớt. Nhưng đến chiều, lúc cá đã chết hẳn thì hầu như không còn ai vớt nữa.
Hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt hồ ở Hà Nội - Ảnh 7.
Một số con cá đã thối rữa, bốc mùi.
Hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt hồ ở Hà Nội - Ảnh 8.
Nhiều con nằm phơi bên vệ hồ làm mồi cho ruồi nhặng.
Hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt hồ ở Hà Nội - Ảnh 9.
Nguyên nhân ban đầu được dự đoán do cơn mưa lớn vào tối qua khiến nước bẩn tràn qua cống phía Hào Nam vào hồ.
Hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt hồ ở Hà Nội - Ảnh 10.
Đến 17h cùng ngày, cửa cống đã được công nhân Công ty thoát nước Hà Nội đóng lại để tránh nước tràn vào thêm.
Hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt hồ ở Hà Nội - Ảnh 11.
Công nhân vệ sinh liên tục vớt cá và rác thải.
Hàng chục tấn cá chết nổi trắng mặt hồ ở Hà Nội - Ảnh 12.
Những người dân sống quanh hồ lo ngại nếu không giải quyết kịp thời thì sẽ gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khoẻ.

8 người dọa tự thiêu ở Đà Nẵng sẽ khiếu kiện đòi lại nhà

Theo Zing-08-06-2016
Sau khi bị lực lượng chức năng TP Đà Nẵng cưỡng chế ra khỏi nhà, ông Hùng và bà Hương cho biết sẽ tiếp tục khiếu kiện vụ việc lên cơ quan cấp trên.

8 người dọa tự thiêu ở Đà Nẵng sẽ khiếu kiện đòi lại nhà

Sáng 8/6, ông Võ Văn Hùng và bà Đặng Thị Thu Hương (trú quận Hải Châu, TP Đà Nẵng), cho biết sáng qua, 8 người trong gia đình cố thủ, đổ xăng dọa tự thiêu là để phản ứng lại quyết định cưỡng chế ngôi nhà 209 đường Đống Đa của Chi cục Thi hành án dân sự TP Đà Nẵng.
“Bị cưỡng chế ra khỏi nhà quá oan ức, chúng tôi sẽ tiếp tục khiếu kiện”, ông Hùng cho hay.
Dì, cháu lôi nhau ra tòa vì tranh chấp nhà ở
Ngày 6/7/1991, vợ chồng ông Nguyễn Ngãi và bà Võ Thị Hồng ký giấy tặng cho chị ruột là bà Võ Thị Hiên ngôi nhà số 65 Đống Đa với diện tích 39 m2 (nay là số 209).
Nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Đức Lộc và bà Võ Thị Hoàng Yến (quốc tịch Hoa Kỳ) bán cho ông Ngãi, bà Hồng năm 1982.
Sau khi hoàn tất thủ tục, ngày 6/9/1999, UBND TP Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và đất cho bà Hiên.
8 người dọa tự thiêu ở Đà Nẵng sẽ khiếu kiện đòi lại nhà - Ảnh 1.
Ông Hùng cho biết sẽ tiếp tục khiếu kiện để đòi lại nhà. Ảnh: Nguyên Vũ.
Vì nhà ở xuống cấp, nên bà Yến gửi tiền về nhiều đợt gồm 24.000 USD cho bà Hiên xây dựng lại nhà. Ngày 24/2/2000, bà Hiên viết giấy cam kết với nội dung: “Tôi ký tên dưới đây là chủ sở hữu ngôi nhà 209 Đống Đa, Đà Nẵng.
Ngôi nhà trên là do người em ruột của tôi là Võ Thị Hoàng Yến, Việt kiều Mỹ tạo dựng và bỏ tiền ra xây cất toàn bộ cho tôi ở.
Vậy tôi cam kết rằng, sau này nếu tôi muốn bán hoặc sang tên cho người khác…, đều phải được sự đồng ý của em tôi…”.
Năm 2005, bà Hiên mất, không để lại di chúc cho người thừa kế. Gia đình ông Hùng, bà Hương tiếp tục ở trong ngôi nhà nói trên.
Sau đó, làm theo yêu cầu của bà Yến, 2 người này ký vào giấy “sẽ tiếp tục thực hiện cam kết của mẹ là bà Hiên”.
Ngày 1/1/2006, bà Hồng khuyên ông Hùng giao Giấy Chứng nhận quyền sở hữu đất và nhà đứng tên bà Hiên cho bà cất gửi để khỏi thất lạc.
Có được giấy tờ trên, bà Yến ủy quyền cho ông Nguyễn Nguyên Hà (trú quận Thanh Khê) gửi đơn khởi kiện ông Hùng, bà Hương lấy lại ngôi nhà 209 Đống Đa.
Qua nhiều lần xét xử TAND các cấp đều chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Yến, buộc ông Hùng phải giao toàn bộ nhà đất cho nguyên đơn.
Ông Hùng và bà Hương nhiều lần kháng cáo, cho rằng ngôi nhà 209 Đống Đa là do bà Yến bỏ tiền ra xây dựng nhưng về đất là của bà Hiên.
“Việc tòa buộc tôi cùng bà Hương ra khỏi nhà là quá oan ức. Chúng tôi chấp nhận trả lại tiền mà bà Yến đã gửi về xây nhà, còn đất là tài sản của mẹ tôi để lại nên chúng tôi có quyền thừa kế”, ông Hùng nói.
Tại tòa, bà Yến trình bày ngược lại, lô đất ở 209 Đống Đa là bà bỏ tiền mua và sau đó đầu tư xây nhà 3 tầng. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật khi đó,
Việt kiều không được sở hữu đất và tài sản trên đất nên bà nhờ chị ruột là bà Hiên đứng tên giúp.
Vì muốn trốn thuế nên bà Yến nhờ ông Ngãi và bà Hồng viết giấy với nội dung cho bà Hiên 39 m2 đất ở đường Đống Đa.
“Nay tôi có nhu cầu sử dụng căn nhà trên nên lấy lại và đồng ý hỗ trợ cho hai cháu Hùng và Hương 400 triệu đồng”, trích văn bản bà Yến trình bày tại tòa.
Viện kiểm sát và tòa có quan điểm trái ngược
Các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều nhận định, ngôi nhà 209 Đống Đa thuộc quyền sở hữu của bà Yến. Còn ông Hùng, bà Hương chỉ là người trông coi hộ.
Tuy nhiên, Quyết định kháng nghị ngày 19/6/2012 của Viện trưởng Viện KSND TP Đà Nẵng phản bác lại nhận định trên và cho rằng, việc tòa công nhận quyền sở hữu nhà cho bà Yến là trái pháp luật vì người này mang quốc tịch Mỹ.
Theo quy định của Luật Đất đai năm 1987 và 1993, bà Yến là Việt kiều nên không có quyền mua và sở hữu nhà tại Việt Nam. Nếu có xảy ra thì đây là giao dịch bất hợp pháp không được pháp luật công nhận.
Sau khi phân tích như trên, kháng cáo của Viện KSND TP Đà Nẵng, kết luận: “Bản án trên suy diễn không có căn cứ, trái với bản chất cam kết giữa bà Hiên với bà Yến.
Theo nội dung cam kết của bà Hiên thì bà Yến là người đã tạo dựng ra ngôi nhà, hoàn toàn không liên quan gì đến quyền sử dụng đất”.
Luật sư: Có dấu hiệu oan sai?
Trao đổi với Zing.vn, luật sư Trần Hùng (trưởng Văn phòng Luật sư Trần Hùng, Đà Nẵng), cho biết TAND các cấp đã đã cố tình đồng nhất 2 tài sản đất và nhà làm một dẫn đến nhận định sai về quyền thừa kế.
8 người dọa tự thiêu ở Đà Nẵng sẽ khiếu kiện đòi lại nhà - Ảnh 2.
Sau nhiều giờ thuyết phục, ông Hùng mới chịu mở cửa đến lực lượng chức năng đọc quyết định cưỡng chế. Ảnh: Nguyên Vũ.
“Trong sổ đỏ, bà Hiên là người đứng tên nhà và đất thì đương nhiên tài sản này là của bà ấy. Bà Yến không có tên trong sổ đỏ nên không có quyền gì cả.
Bà Hiên mất đi, dù không để lại di chúc nhưng những người con của bà ấy – ông Hùng và bà Hương mới là người được thừa kế tài sản theo quy định của pháp luật”, ông Hùng phân tích.
Vị luật sư này phân tích thêm, HĐXX cũng chưa làm rõ được số tiền mà bà Yến gửi về. 24.000 USD là bà Yến gửi về cho bà Hiên vay hay là biếu chị gái mua đất xây nhà.
Nếu bà Yến cho bà Hiên thì người em gái sẽ không có bất cứ quyền lợi nào trong ngôi nhà nói trên.
Trong trường hợp bà Yến chứng minh được mình đầu tư hoặc cho chị gái vay tiền để mua đất xây nhà thì người hưởng quyền thừa kế (tức ông Hùng và bà Hương) phải có trách nhiệm trả lại số tiền đó.
Theo hồ sơ, tại tòa bà Yến có chứng minh được mình đầu tư tiền nên lẽ ra HĐXX tuyên buộc bị đơn trả lại tiền cho nguyên đơn.
Việc TAND các cấp tuyên buộc ông Hùng, bà Hương trả lại ngôi nhà 209 là sai luật.
Chưa kể, bà Yến là Việt kiều – không thuộc diện được sở hữu đất và tài sản trên đất ở Việt Nam mà HĐXX lại buộc ông Hùng, bà Hương giao nhà cho bà ấy là vi phạm các quy định của pháp luật “, vị luật sư này lập luận.
Theo luật sư Hùng, vụ án này có dấu hiệu oan sai nên ông Hùng, bà Hương phải có đơn gửi Ủy ban Tư pháp của Quốc hội để họ xem xét.
Nhận đơn, cơ quan này sẽ có trách nhiệm nghiên cứu, nếu thấy có dấu hiệu oan sai thì họ sẽ kiến nghị TAND tối cao và Viện KSND tối cao xem xét lại.

NÓNG: CÔNG AN BẮN CHẾT ÔNG CỤ RỒI BỎ TRỐN

Sự việc xảy ra ngày hôm nay tại Thôn 7, Xã Long Hà, Huyện Phú Riềng, Bình Phước. Video được nhân chứng là anh Ngô Dỹ quay trực tiếp có 4 clips.

NÓNG: CÔNG AN BẮN CHẾT ÔNG CỤ RỒI BỎ TRỐN

Thùy Trang gom hết lại thành một clip để các bạn tiện theo dõi.
Đoạn Clip đầu các bạn sẽ nhìn thấy ông Cụ lết dưới lòng đường là lúc ông cụ đã gần chết. Khoản 10 phút sau thì ông chết gục trên xe máy khi bị công an đưa đi rời khỏi hiện trường nhằm che đậy tội phạm.
Nạn nhân bị bắn chết được xác định là ông Nguyễn Văn Nhing (76 tuổi, thường trú thôn 7, xã Long Hà, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước).
Theo anh Ngô Dỹ kể lại thì ông Cụ đã xông vào giữa một nhóm công an để bênh vực người con trai của ông bị công an bắt và đánh đập ngay giữa phố. Hai tên công an trong nhóm, đứng gần đó đã rút súng bắn vào người ông cụ gục xuống và ngồi lết dưới lòng đường.
Sau đó 2 tên công an bắn ông cụ liền bỏ trốn khỏi hiện trường. Một tên công an khác đi cùng nhóm bị người dân giữ lại, tuy nhiên hắn từ chối không nhận mặt 2 tên công an đã bắn chết người là ai.
Lúc nhóm công an tỉnh tới làm việc thì tên công an bị dân bắt không chịu ký vào biên bản nên người nhà nạn nhân và hàng xóm không chấp nhận thả ra.
Sau đó một viên Đại Tá tự xưng là phó Công An Tỉnh Bình Phước đến áp tải, hộ tống tên công an đang bị dân bắt nhưng bị người dân chống đối không chịu thả ra. Lúc nầy phía công an đã bắn chỉ thiên và xịt hơi cay để giải tán dân.
Người con trai thứ 3 của ông cụ (nạn nhân bị bắn chết) đã lớn tiếng phản đối phó công an tỉnh đến giải vây cho đồng bọn thì liền bị công an đánh gục tại hiện trường.
(*) Xin các bạn chia sẽ mạnh lấy lại công đạo cho gia đình nạn nhân.
Nguyễn Thùy Trang
Tin báo trong nước đã đưa, ông trúng đạn vào đầu tử vong:http://www.tienphong.vn/…/bi-trung-dan-vao-dau-tu-vong-vi-n…
Nguồn : FB Thuy Trang Nguyen

Ngành du lịch Việt Nam đi về đâu?

Một khách du lịch đi dạo trên bãi biển Nha Trang. Hình minh họa.
Một khách du lịch đi dạo trên bãi biển Nha Trang. Hình minh họa.
Một người bạn của tôi cùng gia đình vừa đi du lịch Nha Trang về quả quyết nói rằng sẽ không quay lại thành phố biển này nữa vì có cảm tưởng như “lạc đường sang Trung Quốc” trước cảnh quá nhiều khách du lịch Trung Quốc. Những tưởng việc du khách nước ngoài đến sẽ làm tăng thu nhập kinh tế cho người dân nơi đây, và ngành du lịch Việt nhưng ngược lại, phía hưởng lợi lại chính là Trung Quốc. Rất nhiều nhà hàng, khách sạn và các hoạt động du lịch khác hiện nay tại Nha Trang, Khánh Hòa do người Trung Quốc xây dựng, tổ chức và chỉ phục vụ cho khách Trung Quốc. Tất nhiên, những người chủ của các cơ sở kinh doanh đó núp bóng đằng sau người Việt Nam công khai đứng tên. Du khách Việt không thể đặt chỗ tại nhiều khách sạn và mua sắm ở một số cửa hàng trong khu vực du lịch.
Sự kiện người Trung Quốc lũng loạn ngành du lịch ở nước ngoài đang là một vấn đề nóng không chỉ riêng đối với Việt Nam. Tại Hàn Quốc, sau khi có chính sách cấp thẻ xanh cho các nhà đầu tư du lịch trên đảo Jeju, đất nước này đã rơi vào trạng thái “đứng ngồi không yên”. Hàng loạt khách sạn, khu nghỉ dưỡng được Trung Quốc xây dựng ồ ạt trên hòn đảo hút khách du lịch bậc nhất xứ Nam Hàn này. Mặc dù các nhà đầu tư vẫn bị kiểm soát chặt chẽ và trả thuế đàng hoàng cho chính phủ nước sở tại, người dân Hàn vẫn tỏ thái độ vô cùng giận dữ bởi sự thao túng của người Trung Quốc đang dần biến Jeju trở thành mảnh đất của Trung Hoa đại lục.
Đối với Việt Nam, tình hình còn trở nên tồi tệ hơn khi những người chủ Trung Quốc đang làm giàu miễn thuế trên mảnh đất này. Cuối năm 2015, Việt Nam nới lỏng thủ tục cấp thị thực cho người Trung Quốc với mức phí giảm xuống một nửa. Các chuyến bay thẳng từ các sân bay quốc tế Trung Quốc tới Cam Ranh cũng được thiết lập đầu năm nay nhằm thu hút khách du lịch. Tuy nhiên, dưới hình thức thị thực du lịch, nhiều người Trung Quốc đến Nha Trang với mục đích chính là kinh doanh chui. Bên cạnh việc mua lại các nhà hàng, khách sạn, họ còn tổ chức nhiều tour du lịch kín. Rất nhiều mặt hàng kém chất lượng từ Trung Quốc được “tuồn” vào các khu phố, gắn mác “Made in Vietnam” và bán với giá cắt cổ khiến hình ảnh đẹp của thành phố Nha Trang từ trước đang bị phai mờ trong mắt du khách bản địa cũng như từ nhiều nước khác. Thậm chí, họ còn chỉ nhận trao đổi tiền mặt bằng đồng Nhân dân tệ (đây rõ ràng là một hành động vi phạm luật.) Hậu quả là đồng tiền được sinh lời một cách xoay vòng trên chính đất Việt trong khi nước ta không hưởng được hưởng chút lợi nhuận nào. Tình trạng này mới đây đã được đề cập trên một số phương tiện truyền thông nhỏ như các trang báo mạng không chính thống, nhưng chưa có một vụ vi phạm nào bị khởi tố. Giới hữu trách tại thành phố này nắm bắt được thông tin cụ thể nhưng nói rằng chưa có bằng chứng cụ thể để điều tra những vụ việc vừa kể.
Trong những năm gần đây, tiềm năng phát triển du lịch tại Việt Nam là rất lớn, do đó việc đưa ra một số chính sách nhằm thu hút khách du lịch và đẩy mạnh ngành doanh nghiệp không khói này là việc làm đáng khuyến khích. Nhưng sự lộng hành và coi thường Việt Nam của các thương nhân Trung Quốc khiến chính chúng ta phải đặt câu hỏi về khả năng quản lý doanh nghiệp tại đất nước mình. Thẳng thắn mà nói, nhà chức trách Việt Nam cực kỳ nhanh nhạy trong khâu quản lý doanh nghiệp nội địa, các cơ sở kinh doanh dưới bất kỳ hình thức nào đều được đặt dưới sự kiểm tra định kỳ, không chậm trễ ngày nào, có khi còn kèm thêm những đợt thẩm tra đột xuất. Các doanh nghiệp Việt phải gánh chịu biết bao nhiêu khoản phạt từ trên trời rơi xuống như không treo biển hiệu kinh doanh, hay biển hiệu to quá mức quy định lấn đường chật phố, trong khi cố gắng hoạt động một cách minh bạch và đóng thuế đều đặn.
Tại các nước bạn trong khu vực như Thái Lan hay Indonesia, việc vận hành và quản lý du lịch rất có hiệu quả. Có thể vẫn còn những bất cập phổ biến tại hầu hết các nước đang phát triển, nhưng rõ ràng là không thấy sự lộng hành từ phía nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt từ Trung Quốc. Có lẽ nào Việt Nam mình không làm như thế được mà cứ mãi để mặc cho một quốc gia khác tự do ngông cuồng vi phạm chủ quyền của mình một cách trắng trợn?
* Blog 'Trong lòng Hà Nội' của Hoàng Giang là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Nhà ngoại giao thô lỗ, nhà quân sự hoảng hốt

Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry (trái) trao đổi với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) tại Đại Lễ đường Nhân dân sau vòng 8 Đối thoại Kinh tế và Chiến lược Mỹ - Trung, ngày 7 tháng 6 năm 2016.
Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry (trái) trao đổi với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) tại Đại Lễ đường Nhân dân sau vòng 8 Đối thoại Kinh tế và Chiến lược Mỹ - Trung, ngày 7 tháng 6 năm 2016.
Trung Quốc đang ở trong tình trạng bất ổn toàn diện. Về chính trị, cuộc tiến công của phe Tập Cận Bình vào thành lũy cuối cùng của phe Giang Trạch Dân – Tăng Khánh Hồng, phe được Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị đương nhiệm Lưu Vân Sơn bí mật tiếp sức, vẫn lần lữa vì không nắm chắc phần thắng.
Kinh tế bế tắc lớn, dự trữ ngoại tệ mỗi tháng hao hụt đến 300 tỷ đôla, kho sắt thép ế ẩm không xuất khẩu nổi lên đến hàng chục triệu tấn. Giá cả đắt đỏ, thất nghiệp gia tăng nhanh. Tình hình Hồng Kông không mấy dễ chịu khi ký ức u uất trong lòng dân về vụ tàn sát Thiên An Môn vẫn không giảm với thời gian, lại trùng với một năm kỷ niệm cuộc Biểu tình ô dù đầy khí thế. Tình hình Đài Loan còn tệ hơn với phong trào đòi tự trị và độc lập âm ỉ có thể bột phát, giới lãnh đạo mới không ai nhắc đến thỏa thuận ‘’ Một quốc gia- hai chế độ’’, do Bắc Kinh dựng lên.
Về đối ngoại, Bắc Kinh bối rối không kém. Mặc dầu đã phô diễn nền ngoại giao “nụ cười’’ mọi khu vực, chính sách tăng cường xây dựng căn cứ quân sự vùng Biển Đông được coi như trọng điểm bành trướng xuống phương Nam đang có nguy cơ bị phá sản, và bị phá sản to.
Đó là vì Hoa Kỳ và phương Tây đã dần dần nhận rõ nguy cơ bành trướng này và có quyết tâm ngăn chặn có hiệu quả. Hoa Kỳ đã củng cố các mối Liên minh toàn diện với Nhật Bản, Philippin, Ấn Độ, đang tranh thủ thêm Malaysia và Indonesia cùng Viet Nam thành đối tác hợp tác toàn diện, đồng thời xoay trục hẳn sang vùng châu Á – Thái Bình Dương , tổ chức các cuộc tuần tra quân sự chung của hải quân Hoa Kỳ với hải quân Nhật bản, Ấn độ và Philippin vào mọi vùng biển quốc tế trong khu vực biển Đông, không loại trừ một vùng nào. Hải cảng Cam Ranh, căn cứ hải quân quan trọng, lợi hại nhất trong vùng, mở rộng cửa đón các tàu quân sự các nước bạn và khách hàng vào nghỉ ngơi, bảo dưỡng, tiếp liệu, huấn luyện, diễn tập.
Trung Quốc đang cố che giấu dã tâm bành trướng, ra vẻ cùng các nước xây dựng một thế giới hòa bình, bình đẳng, phát triển, tỏ ra là ‘’một cường quốc có trách nhiệm’’ trên trường quốc tế. Thế nhưng dã tâm đó đã bị phơi trần, lên án ở nhiều nơi, trong bất cứ hội nghị quốc tế nào.
Mới ngày 31/5 vừa qua ở Ottawa, Canada, trong chuyến thăm Canada, ngoại trưởng TQ Vương Nghị, trong một cuộc họp báo chung với ngoại trưởng Canada
Stephane Dion, đã phạm một lỗi lầm ngoại giao khá nghiêm trọng . Đó là khi một nữ ký giả Canada chất vấn ngoại trưởng Canada về việc trong cuộc hội đàm ông có đề cập với phía TQ về trường hợp các nhà buôn sách báo ở Hồng kông bị bắt cóc,
về vụ hai vợ chồng nhà báo Canada Kevin và Julia Garratt bị bắt giữ, cũng như vụ TQ xây dựng các căn cứ quân sự ở Biển Đông, và những vi phạm nhân quyền hay không.
Lẽ ra phải để ngoại trưởng Canada trả lời trước thì ngoại trưởng TQ Vương Nghị nổi đóa ‘’ xông ra ‘’, mất bình tĩnh mắng mỏ cô nhà báo Canada rằng: ‘’ Cô không được kiêu ngạo, định kiến , cô có hiểu TQ không? cô đã đến TQ chưa? Đa số người dân TQ hiểu, cô không hiểu gì cả! ‘’.
Cả cuộc họp báo phản ứng, có người đòi Vương Nghị phải xin lỗi cô nhà báo về thái độ thô lỗ cực kỳ xấu trong quan hệ đối ngoại, lẽ ra để cho chủ nhà trả lời rồi ông ta có thể góp ý thêm. Rõ ràng hai vấn đề Nhân quyền và Biển Đông là hai gót chân A sin của TQ, Vương Nghị rất lo sợ bị phơi bày hai điều yếu kém xấu xa ấy ra ánh sáng.
Cũng đúng ngày 31/5 ở Singapore, trong cuộc họp quốc tế về an ninh Sangri-La, Đô đốc Tôn Kiến Quốc phó Tổng tham mưu trưởng quân đội TQ cũng ở trong tình trạng bị động khi bị lên án tới tấp về xây dựng các căn cứ quân sự ở Biển Đông.
Các nhà ngoại giao và quân sự TQ còn lo sợ vì tháng 6 này Tòa án trong tài quốc tế sẽ kết luận về vụ Philippin kiện TQ trong khu vực Biển Đông, TQ sẽ bị mất mặt trên trường quốc tế, làm cho Tập Cận Bình rất lo âu vì luôn lo giữ uy tín hão, danh dự của một cường quốc đang lên. Philippin đã đệ trình hơn 7 ngàn trang tư liệu và bản đồ chứng minh chủ quyền của mình, chủ yếu là bác bỏ 9 đoạn lãnh hải do TQ nhận xằng là của mình. Họ còn rất sợ là sau Philipin đến Việt Nam, Malaysia ... cũng đưa đơn kiện TQ. Tôn Kiến Quốc rất cay lại rất lo khi bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter tuyên bố : ‘’các căn cứ quân sự TQ ở Biển Đông chỉ là Vạn Lý Trường thành của sự cô lập ‘’. Các nhà ngoại giao và quân sự Bắc Kinh rất tức giận.
Giới quân sự TQ rất hiểu rằng tình hình quân sự của họ ở biển Đông là tiến lui đều khó.
Họ đe dọa sẽ lập ra ‘’khu nhận dạng phòng không’’ để khẳng định chủ quyền trên biển và trên không, nhưng Hoa Kỳ, các nước đồng minh của Hoa Kỳ và nhiều nước ASEAN đã tuyên bố trước là ‘’khu nhận dạng phòng không tại các không phận quốc tế là vô giá trị’’. Cảnh báo trước và thách thức kịp thời.
Đối với Việt Nam, nhân dân ta hiểu rõ và cảm nhận sâu sắc là kết bạn thân thiết với Hoa Kỳ và các nước dân chủ là xu hướng tất yếu, sáng suốt, nhìn xa thấy rộng của toàn dân ta. Thái độ toàn dân ta thân mật, tin cậy đối với TT B. Obama là rõ ràng, sâu sắc, đầy đủ, nói lên sự trưởng thành chính trị của dân chúng. Lãnh đạo có cảm nhận rõ và đồng tình sớm sủa và sâu sắc hay không? Lòng dân là thế, ý đảng rõ rệt ra sao?
Đúng vào lúc này, hãng thăm dò dư luận quốc tế PEW cho ra con số thống kê mới, cho biết hiện có 76 % dân VN muốn kết thân với Hoa Kỳ, trong khi đó 51% dân Đức, 23% dân Nga và chỉ có 10% dân Ai Cập muốn làm bạn hay liên minh với Hoa Kỳ. Bộ chính trị có thấu hiểu điều đó hay không. Và giá trị cao quý nhất mà Hoa Kỳ tiêu biểu chính là Dân chủ pháp trị, Tự do và Nhân quyền, không có điều gì khác.
Hãng Pew còn cho biết rõ theo điều tra ở 38 quốc gia, số nước không ưa thích Trung Quốc có tỷ lệ là : Nhật bản 89 %, Tây Ban Nha 85 %, Ý 83 %, Anh 82 %, Israel 79 %, Hàn quốc 79 %, Úc 79 %, Hoa Kỳ 60 %, Pháp 53 % ( theo Google và Reuters).
Lòng dân ở các lục địa không khác nhau là mấy. Rõ ràng dân các nước rất ít muốn kết thân với TQ, trong khi tỷ lệ muốn kết thân với Hoa Kỳ ngày càng cao thêm.
Đó chính là trình độ dân trí, chân thực, chuẩn xác, không thể coi thường được.
* Blog của nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.