Monday, May 6, 2019

Việt Nam Quốc tang: Ông Trọng ‘‘biến mất’’, ‘‘tranh đoạt quyền lực’’ bắt đầu ?



Điều gây chú ý nhất trong lễ Quốc tang tướng Lê Đức Anh, nguyên chủ tịch nước Việt Nam, hôm 03/05/2019, là sự vắng mặt của lãnh đạo Việt NamNguyễn Phú Trọng. Sự vắng mặt này có ý nghĩa như thế nào đối với chính trường Việt Nam ? Nhà báo Phạm Chí Dũng từ Sài Gòn phân tích.
Những điều gì đáng chú ý trong lễ tang ông Lê Đức Anh ?
Điểm đáng chú ý nhất trong lễ tang này, đó là không phải sự quan tâm đối với người đã chết, mà là sự hiện diện hay không của người còn sống – ông kiêm hai chức, tổng bí thư và chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng. Điều đặc biệt nhất trong lần này ông Nguyễn Phú Trọng đã không xuất hiện, mặc dù trước đó khoảng một tuần, bộ Ngoại Giao đã chính thức thông báo là ông Nguyễn Phú Trọng sẽ làm trưởng ban Tang lễ. Và sau đó, chủ tịch Quốc Hội là Nguyễn Thị Kim Ngân cũng thông báo là sức khỏe của đồng chí tổng bí thư, chủ tịch Nước đang hồi phục nhanh chóng. Và người ta trông chờ sự xuất hiện của ông Nguyễn Phú Trọng với một sự quan tâm chưa từng có.
Tôi nhớ rằng, đã lâu lắm rồi, mà có thể là chưa từng có một lễ tang nào mà người dân – khối cán bộ, công chức lại quan tâm đến mức như thế.
Và điểm thứ hai là khi ông Nguyễn Phú Trọng không xuất hiện, thì trưởng ban Lễ tang lại rơi vào một người khác. Đó là quan chức, phó thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình, cũng là một ủy viên Bộ Chính Trị. Tuy nhiên, sự xuất hiện của ông Trương Hòa Bình, với tư cách trưởng ban Tang lễ tướng Lê Đức Anh dường như có một sự mâu thuẫn rất lớn với một nghị định của chính phủ số 105, quy định phải là tổng bí thư hoặc chủ tịch Nước làm trưởng ban Lễ tang (1).
Từ việc ông Nguyễn Phú Trọng không có mặt trong lễ tang có thể suy ra những gì đang hoặc sắp diễn ra trong chính trường Việt Nam ?
Trước mắt là vấn đề cá nhân, vấn đề sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng. Và sau đó vấn đề thứ hai là những người có thể kế nhiệm Nguyễn Phú Trọng, và những thay đổi có thể dẫn đến đảo lộn trong chính trường Việt Nam trong thời gian tới, có lẽ là không bao lâu nữa.
Về sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng, mặc dù có những thông tin tích cực về việc điều trị của ông ta. Có những thông tin trước đó một tuần là ông ấy đang phục hồi, rồi tập xe lăn, cũng như tập nói, tập phát âm. Nhưng mà cho tới nay, đã hơn nửa tháng, từ khi ông Trọng bị một biến cố về sức khỏe ở Kiên Giang, nơi được gọi là « căn cứ địa cách mạng » của gia tộc Nguyễn Tấn Dũng, đã không có bất kỳ hình ảnh nào của ông Trọng. Mặc dù, báo chí, báo Đảng, hệ thống tuyên giáo vẫn ra rả đưa tin về chuyện ông Trọng, hôm nay gửi thư, điện chúc mừng giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên, ngày mai gửi thư điện mừng đến một số quốc gia khác. Thậm chí là kể cả hình ảnh ông Trọng ngồi trên giường bệnh cũng không có nổi. Điều đó cho thấy là vấn đề sức khỏe của ông Trọng không thể là vấn đề nhỏ, mà là vấn đề rất lớn.
Trong khi đó, chúng ta thấy chính trường Việt Nam đã bắt đầu có những xáo trộn ngầm. Dường như mọi chuyện đang ngưng trệ về nhiều mặt, khi ông Nguyễn Phú Trọng phải điều trị.
Đang điều trị hay là biến mất khỏi chính trường ?
Nếu nói là « biến mất » khỏi chính trường, thì người ta lại cho rằng tôi nói theo « thuyết âm mưu ». Nhưng thực sự là, trong nhiều trường hợp, thuyết âm mưu ở Việt Nam (hay cũng có thể gọi là các suy đoán, hay « tin đồn ») lại khá là gần với thực tế. Nếu kể đến trường hợp của trưởng ban Nội Chính Nguyễn Bá Thanh cuối 2014, đầu 2015, của bộ trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh giữa năm 2015, hay Trần Đại Quang, chủ tịch Nước vào năm 2017, 2018, thì có khá nhiều thuyết âm mưu, các thông tin đồn đoán bên ngoài, liên quan đến thuyết âm mưu đó lại được xác thực sau đó.
Cũng cần phải nhắc lại một hoàn cảnh của ông Trần Đại Quang. Trước khi chết chỉ có một, hai ngày ông Trần Đại Quang còn gửi thư, điện đến một số nước, và còn tiếp đoàn Trung Quốc. Sau đó thì ông ta lăn ra chết.
Nói như vậy, để cho thấy rằng, ở góc độ nào đó, khách quan mà nói, thuyết âm mưu (hay tin đồn) nó sẽ có tính xác thực, nếu như được thực tế chứng minh là đúng. Trong trường hợp ông Nguyễn Phú Trọng, có thể nói rằng, dùng từ ông ta « mất tích » hay « biến mất » khỏi chính trường Việt Nam, trong trường hợp này, vẫn có thể được. Chúng ta có thể so sánh, khi ông Trọng còn bình thường, chưa gặp vấn đề về sức khỏe, ít nhất trên mặt công luận, báo chí, thì tần suất xuất hiện là từ 2 đến 4 ngày, chậm lắm là 5 ngày. Có những giai đoạn, hàng ngày xuất hiện đều đặn. Nhưng từ 14/04/2019, khi xảy ra sự biến Kiến Giang, thì đã hơn nửa tháng rồi. Mà không xuất hiện, thì có thể dùng từ biến mất, hoặc mất tích
Xin giải thích rõ hơn về cái gọi là « thuyết âm mưu » ?
Với Nguyễn Phú Trọng, hiện nay có hai thuyết âm mưu, hay cũng có thể gọi là « suy đoán ». Một là ông Trọng cố ý, để né tránh việc đi « chầu Thiên tử ở phương Bắc », liên quan đến hội nghị BRI – thượng đỉnh Sáng kiến Một vành đai, Một con đường, do Trung Quốc tổ chức lần thứ hai. Thay vào đó là thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Đó là thuyết âm mưu thứ nhất. Và thuyết âm mưu nữa là ông Nguyễn Phú Trọng có thể là rơi vào tình trạng bệnh tật chủ ý như vậy, là một thủ đoạn chính trị, mang tên là « giả chết bắt quạ », thường được các triều đại Trung Quốc trong lịch sử sử dụng.
Hai suy đoán này có cơ sở không ?
Về thuyết âm mưu thứ nhất, để tránh đi hội nghị BRI ở Trung Quốc, có một cơ sở trước đó. Nguyễn Phú Trọng đã có một số động tác giãn Trung, và song song với giãn Trung là ngả về Mỹ. Biểu hiện chứng minh rõ ràng nhất, cho việc ngả về Mỹ, là cuộc gặp tổng thống Mỹ Donald Trump ở Washington sắp tới, nếu ông ta kịp phục hồi sức khỏe. Và trong cuộc gặp đó hai bên sẽ bàn về vấn đề tăng cường và làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác quốc phòng, và đặc biệt là vấn đề Biển Đông. Và kể cả sự hiện diện của một tàu sân bay thứ hai của Mỹ tại Biển Đông, có thể ngay tại cảng Cam Ranh. Và có thể bàn tiếp vấn đề hợp tác cấp chiến lược Việt – Mỹ.
Đó là cơ sở cho thuyết âm mưu về việc Nguyễn Phú Trọng tránh đi Trung Quốc. Tuy nhiên, để thuyết âm mưu này đúng, thì nó phải diễn ra một việc khác : Nếu Nguyễn Phú Trọng chủ động tạo ra tình trạng bệnh tật của mình đủ nặng, để khỏi phải đi Trung Quốc, thì ông ta đã phải tìm cách thông tin, bắn tin cho Trung Quốc, đặc biệt cho các cơ quan tình báo Trung Quốc nắm được việc này, tình trạng bệnh tật của ông ta như thế nào. Nếu như vậy, thì ông ta phải thông qua một cái kênh rất ưa thích : báo Đảng. Vấn đề là, làm sao để lý giải được : Vì sao từ ngày 14/04 ở Kiên Giang đến nay, đã không có bất cứ một dòng một chữ nào từ báo Đảng, về tình trạng bệnh tật thực chất của Nguyễn Phú Trọng, mà chỉ nói theo Tuyên giáo, có vấn đề gì đó. Còn dư luận viên thì nói là ông ta chỉ bị choáng nhẹ. Thế thì việc Nguyễn Phú Trọng không sử dụng kênh báo Đảng, cho thấy, cũng giống như các trường hợp đã xảy ra của Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh, Trần Đại Quang : Đảng giấu thông tin, bưng bít thông tin, ém nhẹm thông tin, chủ ý là không thông tin ra ngoài. Mà không thông tin ra ngoài, thì làm sao Trung Quốc có thể nắm được ? Mà nếu Trung Quốc không nắm được, thì làm sao có cơ sở để tin là bệnh thật.
Chuyện thứ hai là, nếu Nguyễn Phú Trọng chủ ý tạo ra bệnh của mình để « giả chết, bắt quạ », để thanh trừng trong nội bộ Đảng, thì ta lại vướng ngay phải điều mà dân gian gọi là « gậy ông, đập lưng ông ». Cái bẫy mà ông ta giăng ra với các đối thủ chính trị (bị sử dụng ngược lại). Quy định đưa ra năm 2018 : ủy viên Bộ Chính Trị, các ứng cử viên tổng bí thư phải bảo đảm được sức khỏe, có nghĩa là phải được sự xác nhận của ban Bảo vệ và Chăm sóc Sức khỏe Trung ương, hàng tuần, hàng tháng, và thậm chí hàng ngày…. Nếu như người ta nghĩ là ông ta bị bệnh (thật), thì sẽ có những phản ứng thậm chí mạnh mẽ.
Vì thế, cả hai thuyết âm mưu đều không đủ cơ sở thuyết phục. Mà giả thuyết thực tế nhất, gần gũi nhất, dễ cảm nhận được nhất, là ông ta ở cái tuổi này, đã bị một căn bệnh hành hạ. Nếu không cẩn thận, thì ông ta sẽ đi theo Trần Đại Quang và tướng Lê Đức Anh.
Một số dấu hiệu khác trong lễ tang có thể cho phép nhận định về những gì diễn ra trong chính trường Việt Nam ?
Tôi không nghĩ rằng có những dấu hiệu, dù là đặc biệt chăng nữa, trong lễ tang ông Lê Đức Anh lại đủ lớn, đủ sâu, để có thể cho thấy xu hướng, hoặc sự thay đổi lớn trong chính trường Việt Nam, ngoài yếu tố duy nhất như tôi đã nêu. Và nhiều người khác cũng đã biết. Đó là Nguyễn Phú Trọng không thể xuất hiện, và ông ta đang nằm nguyên trong tình trạng khó khăn về sức khỏe.
Khi Nguyễn Phú Trọng rơi vào tình trạng sinh, lão, bệnh, tử, như một quy luật không thể bác bỏ, thì ông ta buộc phải để lại một khoảng trống quyền lực rất lớn. Bây giờ có đến hai ghế (bị khuyết), chứ không phải một, là tổng bí thư và chủ tịch Nước. Khoảng trống quyền lực càng lớn thì chỗ trũng càng sâu, và nước chảy càng mạnh.
Có nghĩa là sẽ dâng lên một làn sóng, các quan chức cấp dưới của Nguyễn Phú Trọng, nổi lên để tranh đoạt quyền lực với nhau. Đang diễn ra một làn sóng ngầm, phân chia lại quyền lực. Giữa ba khối, khối Đảng, khối hành pháp và khối lập pháp.
Trước đây, khối Đảng chỉ huy tất cả, theo nguyên tắc là Đảng lãnh đạo toàn diện. Và gần đây nhất, từ năm 2017 đến nay, xuất hiện một quan điểm rất phổ biến trong nội bộ trong Đảng, là Đảng không làm thay, mà Đảng làm luôn.
Vào lúc cơ chế độc tôn, tập trung quyền lực vào tay Nguyễn Phú Trọng suy giảm, thì sẽ kéo theo việc cơ chế tập trung quyền lực về cấp trung ương cũng suy giảm theo. Tôi nghĩ rằng sẽ dẫn đến một hệ quả tất yếu là : Khối hành pháp và khối lập pháp sẽ dần dần tách ra khỏi khối Đảng, tăng cường tiếng nói của mình. Một cách độc lập tương đối, hơn là phụ thuộc gần như tuyệt đối vào khối Đảng trước đây. Không biết có phải là ngẫu nhiên hay không, mà trong thời gian ông Trọng bị bệnh, bị « mất tích », thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có một đề nghị đáng chú ý với Quốc Hội, là tăng quyền cho thủ tướng, một số quyền không quá quan trọng, nhưng có một động thái như vậy.
Tôi cho rằng mọi chuyện bắt đầu, và sắp tới sẽ diễn ra hai khuynh hướng. Khuynh hướng phân chia lại quyền lực giữa ba khối, và khuynh hướng ly tâm giữa khối địa phương với cấp trung ương. Và song song là xu hướng hình thành gần như chắc chắn một số « sứ quân » quyền lực hành chính và một số sứ quân lợi ích riêng, mà chúng ta thường gọi là « nhóm lợi ích ».
Nhiều người ghi nhận ông Trần Quốc Vượng, thường trực Ban Bí Thư, tức nhân vật số hai của Đảng, trong một số bức ảnh cho thấy đi một mình đến viếng, trong khi hai phái đoàn, của chính phủ và của Đảng, lại đều do thủ tướng đứng đầu. Phải chăng sự phân hóa, như nhà báo Phạm Chí Dũng nhận định, đã bắt đầu trong chính lễ tang này ?
Đúng là ông Trần Quốc Vượng lẻ loi, cô độc. Ông ta không nằm trong một đoàn nào cả, một đám đông nào cả. Tôi đặt câu hỏi là : Phải chăng đã có một sự sắp xếp cố ý ? Tôi cho đó đã là một thủ thuật chính trị, để chơi xấu lẫn nhau. Nếu đúng như vậy, thì đó quả là một sự phân hóa không nhỏ đâu.
Sau đám tang Lê Đức Anh, sắp tới vào giữa tháng Năm này sẽ diễn ra hội nghị trung ương 10. Nếu không có Nguyễn Phú Trọng, hoặc có Nguyễn Phú Trọng mà không có những nội dung đặc sắc theo ý của Nguyễn Phú Trọng, thì tôi nghĩ là ngay trong hội nghị đó sẽ diễn ra những phân hóa còn lớn hơn nữa, giữa khối Đảng, hành pháp và lập pháp. Và lúc đó, người ta sẽ chứng kiến vai trò của ông Trần Quốc Vượng, nếu không cẩn thận sẽ trở nên mờ nhạt đáng kể, không kém thua hình ảnh mờ nhạt của ông ta tại lễ tang của tướng Lê Đức Anh.
***
  1. Nhà báo Phạm Chí Dũng đã ghi nhận chính xác về việc có một mâu thuẫn « rất lớn » giữa vai trò « trưởng ban Lễ tang » trong Nghị định 105 về « Tổ chức lễ tang với cán bộ, công chức, viên chức » với diễn biến của buổi lễ ngày hôm qua. Trên thực tế, phụ trách Quốc tang có hai chức « trưởng ban ». Trưởng ban Lễ tang Nhà nước phải là nguyên thủ, hoặc tổng bí thư, và trưởng ban Tổ chức Lễ tang là một phó thủ tướng. Có trách nhiệm đọc điếu văn là trưởng ban Lễ tang Nhà nước. Như vậy, người làm thay vai trò của ông Nguyễn Phú Trọng không phải là phó thủ tướng Trương Hòa Bình, mà là thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, người đọc điếu văn hôm 03/05.

Cái giá phải trả nếu chấp nhận độc tài tòan trị


Quan nhất thời, dân vạn đại” nghĩa là quan chức nắm quyền chỉ là nhất thời, nhân dân với mãi mãi. Hay nói rộng hơn, triều đại nào rồi cũng kết thúc, chỉ có quốc gia là tồn tại mãi. Ngày xưa, mỗi triều đại phong kiến tồn tại đến hàng trăm năm, nó cột chặt vận mệnh đất nước với số phận triều đại đó. Triều đình thịnh, đất nước hùng mạnh; triều đình suy đất nước cũng suy theo. Vậy rõ ràng, với sự cột chặt số phận vào một triều đại thì phong kiến như vậy nó cứ đưa đất nước thịnh phút chốc rồi kéo đất nước suy yếu triền miên. Điều này nó làm cho mọi quốc gia thời xưa cứ tiến bao nhiêu rồi cuối cùng cũng lùi bấy nhiêu. Kết quả hàng ngàn năm các triều đại phong kiến nối tiếp nhau cai trị, xã hội loài người vẫn không hề phát triển.
Trong thời kỳ hiện đại, một triều đại có thể được tạm hiểu là chu kỳ nắm quyền của đảng cầm quyền. Ở tại những quốc gia đa nguyên đa đảng, thì đảng cầm quyền có chu kỳ nắm quyền tầm 5 năm (Hoa Kỳ chỉ có 4 năm) một khoản thời gian đủ để nhân dân kiểm chứng năng lực của đảng đó như thế nào? Nếu có năng lực tốt, tức kéo được sự phát triển đất nước đi lên thì dân sẽ bỏ phiếu để chọn đảng này tiếp tục cống hiến cho đất nước. Đến khi đảng này suy, lá phiếu người dân sẽ truất phế vai trò lãnh đạo của đảng này và thay bằng đảng khác để xứng đáng hơn.
Sự luân phiên lãnh đạo đất nước trong một nền chính trị đa đảng, về bản chất nó đã cắt đi sự gắn chặt số phận đất nước vào một đảng phái. Nó tận dụng những cái ưu của đảng phái trong một giai đoạn ngắn mà đất nước cần, cho nên những quốc gia dân chủ họ luôn tiến và bỏ ngày một xa những quốc gia độc tài. Đa đảng trong một môi trường dân chủ là vậy, là lấy cái tinh túy của đảng phái để đất nước phát triển. Con số tăng trưởng kinh tế không nói lên nhiều, mà chất lượng một nền chính trị mới quyết định sự thịnh suy của một quốc gia. Lợi dụng sự kém hiểu biết của người dân Việt Nam, ĐCSVN đã dùng những chỉ số tăng trưởng kinh tế để khỏa lấp một nền chính trị mang tính phá hoại của ĐCS.
Như đã nói, một triều đại phong kiến nó cột chặt số phận đất nước với nó đã làm cho hàng chục thế hệ sống như con vật, từ khi sinh ra đời đến khi về với đất đều sống trong bể khổ, bất an, mất tự do, thiếu thốn, và sợ hãi thường trực. Cuộc sống của nhân dân một nước vào lúc triều đại suy, thực chất nó như con vật nuôi nhốt chờ giết thịt chứ không bằng con vật hoang dã. Triều đình Hậu Lê (1428-1789) kéo dài đến 361 năm, nhưng thời kỳ thực sự thịnh thì bao lâu? Đất nước bắt đầu hồi phục sau chiến tranh dưới thời vua khai quốc Lê Thái Tổ, sau đó cực thịnh vào đời vua Lê Thánh Tông (1442-1497), và thành quả của Lê Thánh Tông để lại thì triều Hậu Lê này còn thịnh đến 30 năm sau khi vua lê Thánh Tông qua đời. Như vậy dưới triều đại Lê Sơ (tức Hậu Lê), Việt Nam có tổng cộng tầm 100 năm phát triển và thịnh vượng, còn sau đó là 260 năm là đất nước lầm than, chiến tranh loạn lạc. Lấy triều Hậu Lê để làm ví dụ, vì Hậu Lê là triều đại trị vì lâu nhất Việt Nam. Còn với những những triều đại khác, thời kỳ thịnh vượng không lâu đến như vậy.
Vậy qua đây chúng ta thấy nổi lên điều gì? Hầu hết mọi triều đại phong kiến, dù cho thịnh nhất thì thời gian đất nước hưng thịnh chỉ chiếm chừng từ 1/3 đến 1/4 tuổi thọ của triều đại đó mà thôi. Đấy là cái điểm yếu chết người của một triều đại phong kiến chuyên chế. Bản chất của phong kiến nó là độc tài toàn trị, nó gắn chặt số phận đất nước với một triều đại, và chính như vậy, Champa đã bị xóa xổ và các tộc người Chăm cũng đã gần như diệt vong. Triều đại suy, nếu cột chặt số phận quốc gia vào triều đại đó, rất có thể đất nước đó cũng mất theo. Và đất nước Việt Nam trong đó có 100 triệu dân hiện nay đang bị cột chặt số phận mình vào tảng đá khổng lồ mang tên ĐCS. Không ai không thấy ĐCSVN hiện nay đang chìm và kéo theo số phận Việt Nam.
Chỉ có con đường dân chủ hóa đất nước thì mới đảm bảo cho đất nước phát triển bền vững. Cái ưu việt của một thể chế dân chủ là luân phiên lãnh đạo. Sự trả giá nếu có của một đất nước chỉ gói gọn trong một nhiệm kỳ cầm quyền của đảng đó mà thôi, không thể có chuyện đất nước lâm vào cảnh lầm than đến gần 3 thế kỷ như thời Hậu Lê được. ĐCS đã cầm quyền đã 74 năm mà chưa một lần làm cho đất nước hưng thịnh như những triều đại phong kiến trong quá khứ, thì nó đã đi đến hồi thối nát rồi. Điều này cũng có nghĩa là, dưới triều đại CS, VN không có lấy một năm nào gọi là thịnh vượng cả. Sẽ không có sự bứt phá nào của đất nước trong triều đại CS này, đất nước sẽ từ từ lún xuống đáy của thế giới để rồi phải trả bằng một cái giá rất đắc – mất nước. Vì với CS, đất nước là thứ hoàn toàn có thể đem bán./.

Bà con nỡ lòng nào



Mấy ngày nay dân chúng trong cả nước đang rất bất bình về việc GIÁ ĐIỆN VÀ GIÁ XĂNG DẦU ĐỒNG LOẠT TĂNG MỨC ĐỘ PHI MÃ. Cũng phải thôi, đây là hai mặt hàng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân, và tác động rất lớn đến sản xuất kinh doanh. Khi giá điện, giá xăng tăng nó sẽ cấu thành già thành sản phẩm cao, do vậy sẽ làm giảm chỉ số tiêu dùng, và giảm sức cạnh tranh đối với những mặt hàng xuất khẩu.
Cái đám dân chúng hay suy nghĩ thiển cận, chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình, động chạm đến quyền lợi kinh tế là nhảy sếch lên mà không lo cho đất nước đang nợ nần chồng chất. Đảng và chính phủ đang lo sốt vó lên về khoản nợ công vượt trần GDP, tới mức trên 230 tỷ đô la. Mỗi ngày phải mở hầu bao trả tiền lãi 50 triệu đô là. Nếu không lo trả nợ được thì Đảng và Chính phủ nguy to. Phải nhớ lời dặn của TBT Nguyễn Phú Trọng: “còn Đảng còn mình”. Cho nên hãy vén cạp quần lên một chút để chung tay cùng Đảng và Chính phủ gánh vác nhiệm vụ trọng đại tháo gỡ núi nợ vượt tầm mắt.
Để bà con suốt từ Bắc vô Nam thông cảm cho Đảng và Chính phủ, xin tiết lộ thông tin nội bộ chút đỉnh: Trong các cuộc họp của UB Thường vụ QH, đã rất lấn cấn khi bàn về ngân sách, về nợ nần. Chủ nhiệm UB Kinh tế của Quốc hôi Nguyễn Đức Kiên báo cáo: “không còn đất để bán ngân sách sẽ âm nguồn thu”. Còn phó vụ trưởng vụ chính sách thuế Bộ Tài chính Nguyễn Văn Phụng thì nói: “không tăng thuế thì hán hẳn biển đông cho Trung quốc”.
Đấy, tình hình gay cấn lắm rồi. Nỡ nào bà con lại để Đảng và Chính phủ bán biển Đông cho TQ theo gợi ý của bộ Tài chính? Thôi thì cứ gồng mình lên mà nộp đủ thuế để cứu lây biển Đông, cứu lấy Đảng./.

Điện! diễn kiểu nào cũng dở!



Hơn tuần lễ nay dư luận dậy sóng vì câu chuyện điện.
Có rất nhiều giả định được nêu trong dân chúng:
1. Các nguồn khác cạn kiệt rồi, anh BOT đang bị dồn đến chân tường, kiểu gì rồi cũng phải điều chỉnh, nó không béo ngậy thơm, lừng hoài được. Phải nhờ anh điện gánh vác đỡ.
Khoáng sản đào lên bán sạch, càng bán càng lỗ. Nay bằng mọi cách phải tạo “Nguồn” để nuôi cái cần nuôi.
2. Dân Việt tiếng thế nhưng rất hiền. Tăng vậy chứ tăng nữa thì họ “Ồn ào nhưng vẫn lặng im” như vần thơ của Nguyễn Long mà thôi.
3. Nó là cái thiết yếu, ai kêu thì cứ kêu nhưng cắt điện cho 5 giờ là cong hết lên. Bằng chứng là món BOT đặt trạm ở Bình thuận thu phí cho Đồng Nai, Đặt ở Hà Nội thu cho chặng tận Vĩnh Yên vẫn phải chịu!
4. Dân mạng nói gì thì nói mà nghe với nhau cho …buồn, khi báo chí chính thống không dám dấn thẳng vào vấn đề cốt lõi, chưa sợ.3. Nó là cái thiết yếu, ai kêu thì cứ kêu nhưng cắt điện cho 5 giờ là cong hết lên. Bằng chứng là món BOT đặt trạm ở Bình thuận thu phí cho Đồng Nai, Đặt ở Hà Nội thu cho chặng tận Vĩnh Yên vẫn phải chịu!
Tạm nêu từng ấy cách, có thể trúng cái này hay cái khác, hoặc trúng tất, nhưng trúng cái nào cũng dở.
Đó là vấn đề sâu sắc, cốt lõi.
Giờ đến chuyện “Diễn”
Hôm, nay xem báo Tuổi trẻ, thấy có bài báo “Thủ tướng yêu cầu báo cáo việc tăng giá điện”.
Hay thật.
Nội dung, tính chất cái tin này giống như kiểu “Thủ tướng yêu cầu báo cáo về dịch cúm gà” hoặc “Thủ tướng yêu cầu báo cáo về vụ sập cầu N” chẳng hạn.
Có nghĩa là, đây là một vấn đề thời sự, một cú nảy sinh, một vụ việc bất thường như hai cái ô tô chở gạch húc vào nhau văng tứ tung ra, gây ảnh hưởng đến vài cái xe khác.
Có hai giả định được nêu:
Một là Thủ tướng không biết thật, giờ mới biết, thật đáng trách!.
Hai là Thủ tướng biết (Sao không biết được một chuyện hệ trọng như thế này), phương án nâng giá điện khủng khiếp, phải là chuyện hệ trọng, làm sao ngành điện “qua mặt” thủ tướng được.
Nếu biết mà bây giờ phải làm như xem xét lại rồi triết giảm một tí chút, như là để trấn an dư luận thì càng phiền.
Hình như (cứ cho là hình như thôi, cho nó lành) ông Thủ tướng bận kinh bang tế thế, không có thời gian quan sát vụ này nên chỉ thấy “Làm như vậy nhân dân “Tâm tư” lắm thôi.
Cho nên Ngài hướng đến giải quyết lại, là để giải quyết cái “Tâm tư” thôi, chứ về cốt lõi, từ tàn tàn rồi mọi việc sẽ đâu vào đó!.
Rất có thể sau động thái này, ngành điện sẽ “Chấp hành chỉ thị của TTg” giảm một chút giá điện.
Ví như giá điện đang là 100 đồng, vừa rồi tăng lên tới 170 đồng, nay thấy ồn ào quá, sẽ giảm xuống khoảng…10 đồng, còn 160 đồng, là xong!.
Lầm!.
Khi anh “vặt lông” giới xe cộ qua BOT, thực chất ảnh hưởng đến khoảng 20% dân số “dính” trực tiếp đến xe.
Nhưng khi đánh vào giá điện là ông đánh đánh vào nồi cơm từng nhà !.
Không ổn đâu!.
Làm ơn nhanh tay lên, dội một gáo nước lạnh vào chính cái đầu của mình cho tỉnh ta!.
Thật đấy các bề trên ạ!.
NHC

Nghề ăn trộm giờ hợp pháp rồi nhé!


Hoàng Hải Vân|

4 kẻ trộm được miễn tố, người bị trộm do phải tự vệ để bảo vệ tài sản của mình thì bị truy tố và yêu cầu bồi thường vì hành vi tự vệ đã gây thương tích cho kẻ trộm. Tóm tắt vụ án là như rứa. Nếu thành án lệ thì từ nay sẽ như thế này :
1- Ăn trộm trở thành một nghề hợp pháp (không bị truy tố). Bà con không được gọi là thằng ăn trộm nữa mà phải lễ phép gọi là anh ăn trộm hoặc ông ăn trộm.
2- Nếu các anh ăn trộm đến nhà, bà con phải mời uống nước, các anh ấy muốn uống bia hay cà phê thì lập tức cung phụng, tuyệt đối không được làm các anh ấy giận. Phải lễ phép hỏi các anh ấy cần cái gì thì đưa ngay cái đó, thứ nào nặng các anh ấy không tự mang đi được thì phải thuê xe chở tới nhà các anh ấy. Nếu để các anh ấy vác nặng té xuống gây thương tích thì bà con đi tù mọt gông đó.
3- Tất cả các hàng rào phải dở bỏ hết, để các anh ấy leo rào vào nhà lỡ ngã gây thương tích thì đồng bào ắt sẽ vào nhà đá gỡ lịch. Khóa cửa cũng tháo bỏ luôn, nếu để các anh ấy cạy khóa trầy tay nhiễm trùng thì bà con cũng sẽ đi tù.
4- Toàn dân phải thu gom tất cả dao rựa gậy gộc trong nhà mang đi nộp cho chính quyền để chính quyền cấp cho ăn trộm, còn bà con tuyệt đối không được sử dụng. Để các thứ đó trong nhà, lỡ các anh ấy tự té vào thì bà con cũng sẽ bị truy tố. Toàn dân sẽ trở về thời kỳ hái lượm, mọi thứ đều phải làm bằng tay.3- Tất cả các hàng rào phải dở bỏ hết, để các anh ấy leo rào vào nhà lỡ ngã gây thương tích thì đồng bào ắt sẽ vào nhà đá gỡ lịch. Khóa cửa cũng tháo bỏ luôn, nếu để các anh ấy cạy khóa trầy tay nhiễm trùng thì bà con cũng sẽ đi tù.
5- Sắp tới sẽ có trường đào tạo ăn trộm, các trường đại học sẽ có khoa ăn trộm, sẽ có bằng thạc sĩ, tiến sĩ ăn trộm. Việt Nam ta sẽ là nước đầu tiên có tỷ phú đô la ăn trộm. Các sách hướng dẫn khởi nghiệp ăn trộm sẽ bán chạy như tôm tươi.
Rứa hỉ! Nếu lãnh đạo công an và các cơ quan tư pháp thấy ngứa mắt khi đọc 5 thực tế có thể diễn ra như trên thì lập tức xử lý vụ án này cho đúng lẽ phải đi !

Sunday, May 5, 2019

Hòa giải và hòa hợp dân tộc: CSVN không thể chỉ kêu gọi suông.




Không có chuyện tránh từ “giải phóng”

Hoạt động cuối cùng của đợt “kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước” là màn bắn pháo hoa tại 3 điểm ở Sài Gòn vào lúc 9 giờ tối ngày 30/4/2019 với mô tả “mãn nhãn”, “thắp sáng bầu trời tp HCM”.
Cụm từ “kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng miền Nam” tràn ngập trên các trang báo mạng. Nếu gõ câu “kỷ niệm 44 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước” vào google có thể tìm thấy ít nhất khoảng 160 tin bài. Chỉ có trang “Nhân dân” của đảng CSVN thêm chữ “hoàn toàn” – giải phóng hoàn toàn miền Nam”. Dùng chữ “hoàn toàn”, hẳn họ quên mất rằng, ở thời điểm 30/4/1975, quần đảo Hoàng Sa thuộc miền Nam quản lý đã mất vào tay Trung quốc từ hơn 1 năm trước đó, mà những người lãnh đạo của Việt Nam dân chủ cộng hòa khi đó vẫn cứ tin là TQ “giải phóng và giữ hộ”
Còn nếu bỏ mấy chữ “giải phóng miền Nam” đi, gõ cụm từ “kỷ niệm 44 năm thống nhất đất nước” vào công cụ tìm kiếm thì chỉ thấy vài tin, nhưng là nói về màn bắn pháo hoa.
Như vậy, không có chuyện chính quyền Việt Nam tránh nói từ “giải phóng” trong dịp kỷ niệm 30/4 năm nay như một bài viết của RFA đã đặt dấu hỏi.
Đừng khét thêm vào nỗi đau tháng Tư
Việc tuyên truyền, khuếch trương chiến thắng của bên thắng cuộc chỉ khoét sâu thêm vào nỗi đau của bên thua cuộc.
Phân tích kỹ thì bên thua cuộc không chỉ là miền Nam mà bao gồm tất cả những người phải chịu tổn thất trong chiến tranh. Với khái niệm này, bên thua cuộc còn bao gồm hàng triệu người lính miền Bắc và dân thường đã ngã xuống trong nỗi đau đớn của gia đình họ. Bên thua cuộc còn bao gồm những người kỳ vọng vào một đất nước thống nhất cường thịnh nhưng lòng tin ấy đã đổ vỡ
Tóm lại, bên thua cuộc là nhân dân VN, còn bên thắng cuộc là những người phát động chiến tranh, giành thắng lợi và hưởng lợi từ chiến thắng ấy.
Nghĩ cho cùng
Mọi cuộc chiến tranh
Phe nào thắng thì nhân dân đều bại…
(Đá ơi – Thơ Nguyễn Duy)
44 năm đã quá đủ thời gian để nhìn nhận lại cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Người ta ngày càng rõ hơn các vấn đề như bản chất của cuộc chiến tranh, tại sao phe cộng sản thắng? Đất nước thống nhất đem lại cho nhân dân những gì? Có ý kiến đặt ngược vấn đề “ai giải phóng ai?”. Đây là một góc nhìn mới và nghiêm túc.
Có lẽ trong hiện thực xã hội mục ruỗng và bế tắc hiện nay, trước tương lai mù mịt của đất nước, phe thắng cuộc không còn gì hơn là bấu víu vào quá khứ mà người ta gọi là ăn mày dĩ vãng. Oái oăm thay, quá khứ ấy càng vén lên, càng đánh thức nó dậy thì càng bất lợi cho họ. Họ phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh. Chỉ cần đặt ra mấy câu hỏi mà ai cũng trả lời được là sẽ rõ vấn đề:
– Bên nào đem quân vượt vĩ tuyến 17 vào miền Nam?
– Gọi là chống Mỹ xâm lược, tại sao khi quân đội Mỹ chưa tham chiến hoặc sau khi họ rút quân, chiến tranh vẫn tiếp diễn?
– Tại sao miền Nam cần phải giải phóng và giải phóng khỏi cái gì?
– Tỉ lệ tử sĩ trong chiến tranh (tạm lấy số liệu của wikipedia) giữa CSVN & đồng minh / VNCH / Mỹ & đồng minh là 13,2/4,7/1 nói lên điều gì? Có phải đấy là cách để làm nên chiến thắng của phe cộng sản?
v.v…
Việc khuếch trương chiến thắng, sỉ nhục bên bại trận là môt sai lầm mà bên thắng cuộc cố tình không nhận ra do bản chất kiêu ngạo của họ. Nó không có tác dụng gì trong việc nâng cao tầm vóc cho họ mà chỉ làm tổn thương cho phía bên kia, duy trì và khoét sâu sự hận thù. Trong khi luôn miệng kêu gọi hòa giải, hòa hợp dân tộc thì 44 năm qua, cứ vào dịp 30/4, họ lại tưng bừng kỷ niệm chiến thắng, xoáy vào nỗi đau tháng Tư của đồng bào phải chịu tổn thất trong chiến tranh.
Là bên thắng cuộc, họ không những không có lòng khoan dung, cao thượng mà vẫn còn đó sự căm thù chế độ Việt Nam cộng hòa mặc dù nó đã đi vào quá khứ. Xóa sổ một chính thể, hàng triệu đồng bào bỏ chạy khỏi đất nước, hàng trăm nghìn người bỏ xác nơi biển cả, sa vào tay hải tặc, đày đọa hàng trăm nghìn cán binh VNCH trong các trại cải tạo chưa đủ làm họ thỏa mãn sao? Không thể tưởng tượng được, chỉ từ cử chỉ cầm lá cờ Việt Nam bé xíu vẫy của tổng thống Mỹ khi sang thăm Hà Nội mà ông thủ tướng lập tức nghĩ ngay đến “bọn phản động lưu vong người Việt”, và tưởng tượng ra “bọn” này “rã rời chân tay”.
Năm 2005, kỷ niệm 60 năm quốc khánh, ông Võ Văn Kiệt phát biểu:
“Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu…”
Phát biểu của ông Kiệt được nhắc lại với tần suất rất cao mỗi khi nói về hòa giải và hòa hợp dân tộc. Cho đến nay, không có một lãnh đạo cấp cao nào nói ra được một ý tương tự. Tiếc rằng, vì quan điểm tiến bộ, cởi mở của ông mà sau đó ông bị đồng chí của mình nghi kỵ, cảnh giác. Đã có những ý kiến nghi ngờ rằng cái chết của ông có uẩn khúc.
Lối cư xử với bên bại trận ở VN, làm người ta nghĩ đến cách giải quyết trong quan hệ Mỹ – Nhật sau khi Nhật Bản đầu hàng, để có được một nước Nhật ngày nay. Xa hơn nữa là cách giải quyết trong nội bộ nước Mỹ khi Liên bang miền Bắc chiến thắng trong cuộc nội chiến cách đây 1,5 thế kỷ để có một siêu cường Hoa Kỳ ngày nay. Nó khác hẳn với tư duy hẹp hòi, thiển cận và những hành động trả thù hèn hạ sau cuộc nội chiến kéo dài 20 năm ở VN của bên thắng cuộc và dai dẳng đến tận bây giờ
Không thể chỉ kêu gọi suông
Tác giả và một quân nhân Việt Nam cộng hòa. Ảnh Ngô Chí Thiềng
Về vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc, trái bóng luôn ở chân nhà nước cộng sản VN, đơn giản vì họ là bên thắng cuộc, ngoài ra họ là bên phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh. Họ có đủ quyền hành, lực lượng để chủ động trong việc ấy.
Để hòa giải và hòa hợp dân tộc, cần phải thể hiện bằng những việc làm cụ thể chứ không chỉ kêu gọi suông. Người ta nhìn vào hành động để biết nhà cầm quyền có thực tâm hòa giải không.
Những hành động cụ thể cần phải làm, trước hết cần dùng một tên gọi chính xác cho cuộc chiến tranh 1955 – 1975. Nếu ngại những từ “nhạy cảm” như “thôn tính”, “cưỡng chiếm”, có thể gọi là cuộc nội chiến hay chiến tranh Nam Bắc, chứ không gọi là “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” hay chiến tranh “giải phóng miền Nam”.  Cần loại bỏ vĩnh viễn những cụm từ “giải phóng miền Nam”, “đế quốc Mỹ và tay sai”, “ngụy quân ngụy quyền” ra khỏi đời sống xã hội. Phải bỏ ngày 30/4 ra khỏi ngày nghỉ lễ.
Ngày 30/4 là một biến cố lịch sử. Chỉ nên tổ chức những buổi hội thảo tự do không định hướng, không kén chọn thành phần để làm rõ hơn mọi khía cạnh cuộc chiến tranh 1955 – 1975, giai đoạn đau thương và đen tối nhất của lịch sử dân tộc.
Cần chấm dứt việc gây khó dễ khi xét lý lịch đi học, đi làm đối với con cháu quân cán binh VNCH. Phải loại bỏ sự phân biệt đối xử đối với những người có liên quan đến chế độ cũ. Không được gây cản trở mọi hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ những người có liên quan đến chế độ cũ, ví dụ hoạt động tri ân thương phế binh VNCH được nhà thờ Kỳ Đồng tổ chức hàng năm. Các nghĩa trang quân đội VNCH cần được chăm sóc chu đáo như những nghĩa trang liệt sĩ khác.
Đừng làm cho nỗi đau của đồng bào miền Nam kéo dài thêm, cứa mãi, đau day dứt, dai dẳng như xẻo thịt bằng con dao cùn và lấy sự đau đớn ấy làm niềm vui, niềm tự hào, kiêu hãnh của mình.
Những người được coi là thắng cuộc liệu có biết họ đang thua cuộc. Có trong tay cả một đất nước để rồi không biết làm thế nào cho “đất nước đứng lên”. Họ đang đứng trước một cuộc khủng hoảng toàn diện với những thách thức về lý luận, về phương pháp, về lòng tin, về sự thối nát của hệ thống chính trị và phải tìm cách thoát khỏi bế tắc. Việc thực tâm hòa giải bằng những việc làm cụ thể cũng là một cách khai thông bế tắc ấy
2/5/2019
NTT – Cựu chiến binh miền Bắc

Công nhân Việt tại Đài Loan biểu tình đòi chính phủ Việt Nam bỏ môi giới bóc lột lao động

RFA-2019-05-05   
Công nhân Việt Nam tại Đài Loan biểu tình trước văn phòng Văn hoá - Kinh tế Việt Nam tại Đài Bắc hôm 5/5/2019
Công nhân Việt Nam tại Đài Loan biểu tình trước văn phòng Văn hoá - Kinh tế Việt Nam tại Đài Bắc hôm 5/5/2019-Photo: RFA
Vào trưa ngày 5/5/2019, hàng chục lao động Việt tại Đài Loan đã tổ chức biểu tình trước văn phòng Văn Hoá - Kinh tế của Việt Nam ở Đài Bắc, phản đối môi giới lao động tư nhân ở Việt Nam vì coi đây là một hình thức bóc lột người lao động.
Những người biểu tình mang theo các biểu ngữ bằng tiếng Việt và tiếng Trung với các dòng chữ kêu gọi “huỷ bỏ môi giới”, “chấm dứt bóc lột sức lao động”.
Chị Thanh Hải, một người lao động Việt tại Đài Loan, người có mặt tại cuộc biểu tình, cho Đài Á Châu Tự Do biết: “em qua đây hết hơn 6.000 đô la. Ở làng em mọi người đi cũng đông, em hỏi đi công ty nào thì họ chỉ em đi. Qua rồi là không có liên lạc được với môi giới ở nhà”.
Anh Bạch Thế Du, đại diện Công hội di công Việt Nam - một tổ chức chuyên giúp đỡ cho những công nhân và cô dâu Việt Nam tại Đài Loan, đã đọc một tuyên bố ngắn. Tuyên bố viết “Chính phủ Việt Nam có phải là một chính phủ phục vụ vì dân, phục vụ cho nhân dân hay không? Nếu đúng như vậy thì tại sao những người lao động đến từ các nước như Indonesia, Thái Lan hay Philippines, họ chỉ phải trả mức phí từ 1.000 đến 3.000 đô la, mà người Việt chúng ta phải trả mức phí cao ngất ngưởng đến như vậy? Hay chính phủ Việt Nam là chính phủ chỉ biết quan tâm đến thuế phí, tham nhũng, o ép người dân, chỉ biết bắt tay với công ty môi giới bóc lột và hút máu của người lao động”.
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã hội, trong năm 2018, số lao động Việt ở Đài Loan là hơn 60.000 người. Đài Loan là thị trường thứ hai sau Nhật Bản về thu hút lao động Việt Nam.
Theo quy định của chính phủ Đài Loan, kể từ ngày 1/1/2017, lương cơ bản của người lao động ở Đài Loan là khoảng 21.000 Đài tệ, tương đương khoảng hơn 15 triệu đồng. Đây là mức lương cao gấp 3 thậm chí 4 lần mức lương của công nhân ở Việt Nam.
Thời gian qua có nhiều người Việt đã đến Đài Loan theo visa du lịch để lao động chui với hy vọng kiếm thu nhập khá. Một số đã bị cảnh sát Đài Loan bắt giữ và trục xuất về lại Việt Nam.

Con trai Nguyễn Bá Thanh bị Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đề nghị thi hành kỷ luật

 RFA-2019-05-05 
Ông Nguyễn Bá Cảnh
  Ông Nguyễn Bá Cảnh-Courtesy of Báo Lao Động
Uỷ ban Kiểm tra Trung ương Đảng vừa có đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật đối với ông Nguyễn Bá Cảnh, phó trưởng ban thường trực Ban Dân vận Thành Uỷ Đà Nẵng, con trai của cố Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh.
Kết luật của Uỷ ban đưa ra sau kỳ họp lần thứ 35 từ ngày 24 đến 26 tháng 4 cho biết ông Nguyễn Bá Cảnh đã vi phạm về phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm và các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.
Trước đó, vào ngày 12/4, Thành uỷ Đà Nẵng đã bỏ phiếu đồng ý đề nghị cách tất cả các chức vụ trong Đảng đối với ông Nguyễn Bá Cảnh.
Theo quy trình, Thành ủy Đà Nẵng trình Ủy ban Kiểm tra Trung ương báo cáo Ban Bí thư xem xét, quyết định kỷ luật ông Cảnh theo thẩm quyền.
Ông Cảnh bị xác định là vi phạm Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời vi phạm những điều đảng viên không được làm.

Có kinh tế thị trường là có tất cả

Theo RFA- Nguyễn Ngọc Già-3-5-2019  
Quán bán hàng rong ở gần khu du lịch Đồng Mô
 Quán bán hàng rong ở gần khu du lịch Đồng Mô-RFA
Nhiều năm trước, ông Nguyễn Tấn Dũng với tư cách Thủ tướng, đã đề nghị Hoa Kỳ công nhận Việt Nam có nền "kinh tế thị trường", nhưng bất thành.
Mới đây, ngày 8 và 9 tháng 4/2019, ông Nguyễn Văn Bình với tư cách Trưởng ban kinh tế Trung ương - Ủy viên Bộ Chính trị, trong chuyến thăm Hoa Kỳ [1], tiếp tục "công việc dở dang" của ông Nguyễn Tấn Dũng để lại, khi gặp Thứ trưởng Thường trực Bộ Thương Mại Hoa Kỳ Karen Dunn Kelly.
Ngắn gọn về kinh tế thị trường
Trước hết phải xác định, thế giới chỉ công nhân hai khái niệm "kinh tế thị trường" và "kinh tế phi thị trường".
"Kinh tế thị trường" là gì? Thật dễ hiểu, bởi nó dựa trên quy luật cung - cầu, cùng với việc nhà sản xuất phải biết sản xuất cái gì và sản xuất cho ai. Một khi không xác định rõ điều giản dị này, nhà sản xuất buộc phải bị đào thải.
Giáo sư Robert M. Dunn Jr. Giáo sư Kinh tế Đại học George Washington, Washington D.C đã chỉ rõ: "Kinh tế thị trường không phải là một ý thức hệ mà là một hệ thống các tập tục và thiết chế đã được kiểm nghiệm qua thời gian để làm sao mọi cá nhân và xã hội có thể sống và thịnh vượng về phương diện kinh tế".
Cũng theo vị giáo sư khả kính nói trên, kinh tế thị trường phải mang đặc tính: Phi tập trung, linh hoạt, thực tế và có thể thay đổi được, đồng thời nó không có một trung tâm điểm.
"Kinh tế phi thị trường" lại là nền kinh tế tập trung với bộ máy quản lý kinh tế nặng nề, cùng các chính sách kinh tế vĩ mô cho đến vi mô hầu như không thể thay đổi được. Nếu phải gọi là "thay đổi", nó chỉ làm bộc lộ rõ sự phản khoa học, vì thế luôn thất bại và làm xã hội ngày càng rơi vào khủng hoảng, đặc biệt khủng hoảng về niềm tin. Trong khi đó, niềm tin là một trong các "đòn bẫy" quan trọng của "kinh tế thị trường"!
Lý do làm cho "kinh tế phi thị trường" trở nên "đổ đốn" như vậy, bởi vì nó có một trung tâm điểm rất lớn - Bộ Chính trị - nơi có thể nói rằng, quy tụ toàn bộ những bộ não thủ cựu, xơ cứng, phản khoa học và chống lại các quy luật kinh tế - xã hội.
Tính khoa học của "kinh tế thị trường" đã làm cho nó tồn tại bất chấp thời gian và không gian.
Cho đến nay, giải Nobel Kinh Tế - một giải thưởng danh giá của thế giới - chưa bao giờ trao cho bất kỳ một người cộng sản nào. Điều đó chứng minh, "kinh tế phi thị trường" không thuộc về khoa học. Những gì không thuộc về khoa học luôn mang đến ngu dốt, đói nghèo và chết chóc.
"Kinh tế phi thị trường" vì phản khoa học, nên nó đồng thời chống lại loài người. Chính vì lẽ đó, một quốc gia có nền "kinh tế phi thị trường" cũng là một quốc gia vi phạm nhân quyền rất nặng nề.
Nói cách khác, những quốc gia vi phạm nhân quyền không bao giờ thật tâm muốn có một nền "kinh tế thị trường". Bởi kinh tế thị trường còn mang thuộc tính tự do.
Trong các dạng tự do, "tự do tư tưởng" là quan trọng nhất. Bởi nhờ nó mà con người luôn hứng khởi trong việc tạo ra những phát minh, làm ra những sản phẩm mới (không phải thứ đi ăn cắp như Trung Quốc đang bị cả thế giới chê cười). Kể cả lãnh vực văn hóa - nghệ thuật, vốn luôn đòi hỏi những sản phẩm mới hơn, lạ hơn và độc đáo hơn.
Ngoài ra, "tự do tư tưởng" cũng giúp con người tìm ra cung cách quản lý mới, cũng như các ứng dụng khoa học hiện đại nhằm phục vụ loài người ngày càng tốt đẹp hơn.
"Tự do tư tưởng" cũng giúp cho loài người tính đến những viễn cảnh xa hơn, nơi các vì sao trong vũ trụ còn đầy bí ẩn.
Có kinh tế thị trường là có tất cả
Trong Hiến pháp của nước CHXHCNVN, tại điều 51 nói rằng "Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" (!). Trong khi đó, tại điều 52 lại cho hay "Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường". Thật nghịch lý!
"Quy luật thị trường" chỉ có ý nghĩa và có giá trị đối với "kinh tế thị trường". Vì lẽ đó,  không một nhà kinh tế nào (dù đoạt giải Nobel Kinh Tế) có thể "giải nổi" bài toán "Dùng quy luật thị trường để giải quyết các vấn đề của kinh tế phi thị trường", vốn do những bộ não "tuyệt luân" của các Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSVN đưa ra (!).
Tính phản khoa học đã bộc lộ rõ và nó gây ra sự nhạo báng, không chỉ đối với trong nước mà lan rộng ra thế giới từ văn bản "cao thứ nhì" sau văn bản "cao thứ nhất" mang tên "Cương lĩnh ĐCSVN", vốn do ông Nguyễn Phú Trọng - Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước xác quyết một cách phản khoa học dù ông ta được biết là "giáo sư-tiến sĩ" chuyên ngành "Xây dựng đảng" (!).
Những ngày này, đông đảo người dân phẫn nộ dường như muốn "nổ tung lồng ngực" - không phải vì vui mừng cho ngày "giải phóng Sài Gòn" như ông Phạm Quang Nghị tuyên bố - mà là cho giá điện, giá xăng, giá dầu đang tăng đột biến, với phát ngôn vừa hàm hồ vừa tỏ ra thách thức và đe dọa người dân của Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải, ông ta nói [2]: "Nếu không tăng giá điện, EVN phá sản" (!).
Một quốc gia muốn phát triển hay bị suy thoái, trước hết từ lãnh vực năng lượng.
Việt Nam đang đương đầu với điều đó.
Người CSVN các cấp, họ không hiểu nổi, hậu quả giá năng lượng tăng vô lối, nguyên nhân chủ yếu là do Việt Nam không có nền "kinh tế thị trường", mặc dù hầu hết họ đều có đủ học hàm "giáo sư" và đầy học vị "tiến sĩ" (!) Đó là điều vô cùng mỉa mai cho Bộ Chính trị nói riêng và thể chế độc đảng toàn trị nói chung.
Liệu rằng, việc công nhận Việt Nam có "kinh tế thị trường" như người CSVN xin Hoa Kỳ, sẽ giúp họ giải quyết được những gì, khi mà "Cương lĩnh ĐCSVN là số 1" và "Hiến Pháp (phản khoa học) là số 2" (?)
Rất tiếc! Người CSVN - mãi đến nay - vẫn không nhận ra, tự thân họ đang chới với giữa "không trung" của "cái nền" "kinh tế thị trường định hướng XHCN", mà vốn dĩ ông Nguyễn Phú Trọng từng ta thán [3]: "Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa", mặc dù, không rõ sức khỏe của ông ta hiện nay ra sao nữa (?!).
Hay là người CSVN các cấp họ nghĩ rằng:
Giá xăng, giá điện, giá dầu
Ba giá tăng đều, chẳng đáng lo đâu (?!)
Hãy để "kinh tế thị trường" dạy cho người CSVN một bài học, đến nỗi không còn gì có thể cứu vãn thể chế độc đảng toàn trị! Không lâu đâu!
__________________________

Nguyễn Ngọc Già

An ninh ngăn chặn người đến đón và thăm Anh Ba Sàm vừa mãn hạn tù 5 năm

RFA-2019-05-05  
HÌnh minh hoạ. Blogger Anh Ba Sàm - Nguyễn Hữu Vinh và cô Nguyễn Thị Minh Thuý (phải) tại toà phúc thẩm ở Hà Nội hôm 22/9/2016
 HÌnh minh hoạ. Blogger Anh Ba Sàm - Nguyễn Hữu Vinh và cô Nguyễn Thị Minh Thuý (phải) tại toà phúc thẩm ở Hà Nội hôm 22/9/2016-AFP
An ninh đã được huy động đến nhà của Anh Ba Sàm - tức Nguyễn Hữu Vinh, ở Hà Nội sau khi ông mãn hạn tù 5 năm trở về nhà.
Ông Nguyễn Hữu Vinh, chủ trang blog Anh Ba Sàm chuyên về điểm tin tình hình trong nước, thế giới và các bài viết về dân chủ, nhân quyền vừa mãn án 5 năm tù giam và ra khỏi trại giam vào chiều ngày 5/5/2019.
Trên trang facebook Phan Trí Đỉnh, một người hiếm hoi được có mặt ở nhà Anh Ba Sàm vào chiều ngày 5/5, blogger Anh Ba Sàm đã lên tiếng cảm ơn mọi người đã quan tâm và cho biết anh vẫn khoẻ, đồng thời cũng cho biết nhà của blogger bị an ninh ngăn chặn rất kỹ.
Chiều ngày 5/5, luật sư Trần Vũ Hải viết trên trang facebook cá nhân, cho biết ông cũng bị an ninh chặn khi mang hoa đến tặng Anh Ba Sàm.
Trước khi Anh Ba Sàm được mãn hạn tù, vợ anh là chị Lê Thị Minh Hà cho Đài Á Châu Tự Do biết an ninh đã nói với chị là sẽ không để các bạn bè của Anh Ba Sàm đến đón anh theo kiểu “Trống giong cờ mở” và doạ nếu gia đình vẫn làm như vậy thì họ sẽ thả Anh Ba Sàm ở giữa đường, nơi vắng vẻ.
Từ ngày hôm trước khi Anh Ba Sàm được tự do, một số nhà hoạt động viết trên Facebook cá nhân, cho biết họ được an ninh đến tận nhà "khuyên" và ngăn không cho đi đón blogger Anh Ba Sàm
Sau khi mãn hạn trở về, Anh Ba Sàm đã trả lời Luật Khoa Tạp Chí và cho biết trước khi ra tù, an ninh đã đến phòng giam của anh và đòi thu giữ khoảng 1.000 trang tài liệu mà blogger đã viết, bất chấp sự phản đối của blogger.
Ông Vinh và đồng sự Nguyễn Thị Minh Thúy bị bắt khẩn cấp vào ngày 05/5/2014 và phải đến 2 năm sau ngày 23/3/2016 mới đem ra xét xử sơ thẩm.
Ông Nguyễn Hữu Vinh bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên mức án 5 năm tù giam với cáo buộc tội danh "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân" theo điều 258 BLHS năm 1999.
Bà Nguyễn Thị Minh Thúy cũng bị tuyên 3 năm tù giam với cùng tội danh.
Theo cáo trạng của VKSND Tối cao, cơ quan An ninh điều tra xác định, từ khi được lập đến khi ông Vinh, bà Thúy bị bắt, blog "Dân quyền" do 2 người quản trị đã đăng 2.014 bài, 38.567 phản hồi và có 3.243.330 lượt người truy cập.
Blog "Chép sử Việt" đã đăng 383 bài, 3.401 phản hồi và có 480.353 lượt người truy cập.
Cơ quan An ninh điều tra - Bộ Công an đã có quyết định trưng cầu giám định nội dung các bài viết.
Kết luận giám định do Cơ quan An ninh điều tra - Bộ Công an trưng cầu cho thấy, có 24 bài viết được cho là "có nội dung sai sự thật, không có căn cứ; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bôi nhọ các cá nhân, làm ảnh hưởng đến uy tín, cơ quan, tổ chức".
Ngoài ra, các bài viết này cũng được nói là "đưa ra cái nhìn bi quan một chiều, gây hoang mang lo lắng, làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo đất nước của Đảng, Chính phủ, Quốc hội và Nhà nước".
Nhiều vi phạm tố tụng trong vụ án của blogger Anh Ba Sàm được chỉ ra như: sau khi 2 người bị bắt 9 ngày sau VKSND mới phê chuẩn quyết định bắt người hay 2 công ty FPT và VDC bí mật theo dõi và lấy trộm dữ liệu thông qua đường truyền Internet của ông Vinh, bà Thuý một cách trái pháp luật; dữ liệu này sau đó được làm căn cứ để khởi tố vụ án...

Xe quân sự bị lật, 30 lính bộ binh gặp nạn

Chiếc xe quân sự bị lật ngửa. (Hình: Zing)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Chiếc xe quân sự thuộc một sư đoàn của quân đội đã bất ngờ bị lật tại huyện Quốc Oai, khiến hàng chục lính bộ binh bị thương, phải đưa đi cấp cứu.
Theo báo Người Lao Động, vào khoảng 2 giờ chiều 5 Tháng Năm, 2019, chiếc xe quân dụng của Trung Đoàn 102 thuộc Sư Đoàn 308, Quân Đoàn 1 (hiện đang đóng tại huyện Quốc Oai, Hà Nội) chở 30 lính bộ binh chạy trên quốc lộ 21A, hướng đi Xuân Mai thì gặp nạn.
Khi đến địa phận thôn Long Phú (xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai), do tránh một xe hơi phía trước, tài xế xe quân sự bẻ lái khiến xe bị lật.
Nói với báo Zing, ông Phùng Đức Thắng, chỉ huy trưởng quân sự huyện Quốc Oai, cho biết tai nạn khiến nhiều lính bộ binh bị thương. Chiếc xe quân sự lật giữa quốc lộ, hư hỏng khiến đoạn đường bị tắc nghẽn.
“Sau khi được sơ cứu, các nạn nhân đã được đưa về đơn vị, không ai bị thương nặng,” ông Thắng cho hay.
Trung Đoàn 102 đóng quận tại xã Phú Mãn, cùng huyện và cách hiện trường tai nạn khoảng 5 km. (Tr.N)

Bắc Kinh ‘mập mờ đánh lận con đen’ sẽ dẫn đến xung đột trên Biển Đông

Nhóm tàu đánh cá “dân quân biển” của Trung Quốc có tàu hải giám hộ tống biểu dương sức mạnh tập thể trên biển. (Hình: globaltimes.cn)
HỒNG KÔNG, Trung Quốc (NV) – “Trò mập mờ đánh lận con đen” của Trung Quốc khi dùng các tàu bán quân sự và tàu đánh cá trong tranh chấp chủ quyền sẽ gia tăng nguy cơ xảy ra xung đột trên Biển Đông. Chính sách đó không phải là không ai nhìn thấy nên sẽ làm mất ổn định tại các vùng biển đang tranh chấp chủ quyền giữa các nước ở khu vực.”
Báo Soth China Morning Post (SCMP) hôm Chủ Nhật, 5 Tháng Năm, 2019 dẫn lời báo động của một chuyên viên về an ninh khu vực cho hay như vậy.
Thời gian gần đây, Bắc Kinh đã đưa tới 275 chiếc tàu đánh cá có sự hộ tống của các tàu hải giám đến vây quanh một bãi cát gần đảo Thị Tứ hiện do Philippines trấn giữ trong quần đảo Trường Sa. Manila đã phản đối gay gắt với Bắc Kinh về nguy cơ trở thành điểm nóng, gây mất ổn định, an ninh khu vực.
“Đội tàu đông nghịt với khả năng chịu đựng dài ngày tại một chỗ không phải là chuyện nhỏ nhờ khoảng cách không xa lắm với các đảo nhân tạo gần đó của Trung Quốc, chẳng hạn như đảo Su Bi. Nơi đây có thể cung cấp trú ẩn cho những tàu đó nếu thời tiết bão tố.”
Ông Collin Koh, một nhà nghiên cứu tại viện nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam School of International Studies thuộc đại học Nanyang Technological University ở Singapore nhận xét.
“Các tàu đó có thể dừng tại các cơ sở (trên đảo Su Bi), tiếp nhận nhiên liệu, thực phẩm rồi quay trở lại vây đảo Thị Tứ, chứ không cần phải trở về bến cảng tại lục địa,” ông Koh nói trên SCMP.
Những năm gần đây, đặc biệt từ lúc Bắc Kinh ồ ạt và gấp rút xây dựng 7 đảo nhân tạo trên Biển Đông, nhiều nhà phân tích thời sự đã báo động về sự hiện diện quá đông đảo của lực lượng bán quân sự và đội tàu “dân quân biển” của Trung Quốc, xuất hiện ngày mỗi nhiều hơn trước.
Cuối Tháng Ba, 2019, Sở An Toàn Hàng Hải của tỉnh Quang Đông loan báo sẽ bắt đầu đóng chiếc tàu cho hải giám lên tới 10,200 tấn, dự trù hạ thủy trước Tháng Chín, 2021. Chiếc tài này tương đương với một chiếc khu trục hạm cỡ lớn, được coi như tàu lớn nhất trong lực lượng bán quân sự của Bắc Kinh.
Cuối năm ngoái, Bắc Kinh loan báo 3 trung tâm quan sát hải dương đã bắt đầu hoạt động tại các đảo nhân tạo Đá Chữ Thập, Su Bi và Vành Khăn. Ba đảo nhân tạo này được coi là 3 đảo nhân tạo lớn nhất mà Trung Quốc bồi đắp tại Trường Sa, trên đó, có các phi đạo dài 3,000 mét cùng các giàn hỏa tiễn phòng không, hỏa tiễn chống tàu biển, các đài radar, hàng trăm cơ sở quân sự.
Đến Tháng Giêng năm nay, Trung Quốc loan báo đã xây dựng trung tâm cứu hộ hàng hải trên đảo nhân tạo Đá Chữ Thập nhằm hậu thuẫn cho các vài trò “cứu mạng người.” Trong khi Bắc Kinh khoe các cơ sở vừa kể sẽ giúp bảo vệ an toàn hàng hải, các nước khác nhìn thấy trong đó có sự mập mờ giữa nhu cầu dân sự và quân sự của Trung Quốc. Giới chuyên gia gọi đó là “chiến thuật vùng xám” nhằm đánh lừa các nước khác.
Hồi tuần trước, Tư lệnh Lực lượng Mỹ khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương cảnh cáo Bắc Kinh là sẽ đối phó với các tàu hải giám, tàu “dân quân biển” như tàu quân sự của Trung Quốc. Đô Đốc John Richardson được báo Anh Quốc Financial Times (FT) thuật lời như trên qua một cuộc phỏng vấn phổ biến trên mạng hôm Chủ Nhật, 28 Tháng Tư, 2019.
Trong cuộc phỏng vấn của báo Financial Times, Đô Đốc Richardson nói rằng ông “xác định rõ rệt rằng Hải Quân Hoa Kỳ sẽ không (thể) bị hiếp đáp và vẫn tiếp tục thực hiện các hoạt động thường lệ và hợp pháp trên thế giới.”
Năm ngoái, người ta thấy nhiều máy bay quân sự Trung Quốc đã giáp xuống đảo Đá Chữ Thập dù Bắc Kinh từng tuyên truyền nhiều lần là các đảo nhân tạo họ bồi đắp chỉ cho các nhu cầu dân sự. Những gì người ta nhìn thấy từ xa qua hình ảnh vệ tinh đã chứng minh ngược lại.
“Các tòa nhà (cao tầng) trên các đảo nhân tạo thường được mô tả là nhà tạm trú cho ngư dân và các mục tiêu dân sự khác, nhưng cũng có thể được lính sử dụng,” ông Koh nhận định.
Theo ông Koh, việc Bắc Kinh mập mờ gia tăng sử dụng các lực lượng hải giám và dân quân biển sẽ càng làm cho các nước ASEAN thêm âu lo, cũng như thêm khó khăn cho việc đàm phán một Bộ Quy Tắc Ứng Xử (COC) giảm thiểu nguy cơ xung đột võ trang. (TN)

Cựu Phó Thủ Tướng CSVN Vũ Văn Ninh bị ‘sờ gáy’

Cựu Phó Thủ Tướng CSVN Vũ Văn Ninh. (Hình: BaoChinhphu.vn)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Hôm 5 Tháng Năm, Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương của đảng CSVN phát đi thông cáo cho biết, Cựu Phó Thủ Tướng CSVN Vũ Văn Ninh (thời Nguyễn Tấn Dũng, nhiệm kỳ 2011-2016), bị đề nghị kỷ luật vì “có vi phạm, khuyết điểm trong việc quyết định chủ trương thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại một số doanh nghiệp thuộc Bộ Giao Thông-Vận Tải [CSVN].”
“Vi phạm của Ban Cán Sự Đảng Giao Thông-Vận Tải [CSVN] và các đồng chí nêu trên [ông Ninh và một số quan chức khác] đã gây thất thoát lớn tiền và tài sản của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và ngành giao thông, gây bức xúc trong xã hội, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật.”
Các báo nhà nước ở Việt Nam cùng ngày đăng lại nguyên văn thông cáo nêu trên mà không đưa bình luận hoặc có thêm chi tiết gì về “vi phạm” của ông Ninh.
Chuyện ông Ninh bị “sờ gáy” diễn ra trong bối cảnh người ta vẫn chưa rõ bệnh tình của Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước CSVN Nguyễn Phú Trọng thế nào sau ba tuần ông này vắng mặt liên tiếp tại các sự kiện quan trọng từ khi bị đột quỵ trong chuyến thăm tỉnh Kiên Giang.
Việc “cái lò” của ông Trọng “đốt” tới một cựu phó thủ tướng như ông Ninh cũng làm một số người hồ hởi, dấy lên suy đoán về khả năng ông Nguyễn Tấn Dũng rồi đây cũng sẽ nằm trong danh sách cựu quan chức có sai phạm “gây bức xúc trong xã hội, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật.”
Trước khi ngồi vào ghế phó thủ tướng, ông Ninh từng làm thứ trưởng rồi sau đó là bộ trưởng Tài Chính [CSVN], chủ tịch Hội Đồng Quản Lý Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam; chủ tịch Hội Đồng Quản Trị (nay Là Hội Đồng Thành Viên) Tổng Công Ty Đầu Tư và Kinh Doanh Vốn Nhà Nước, trưởng Ban Chỉ Đạo Trung Ương Về Giảm Nghèo Bền Vững, trưởng Ban Chỉ Đạo Đề Án Cơ Cấu Lại Các Tổ Chức Tín Dụng.
Ông Ninh được ghi nhận có bằng cao học Tài Chính Ngân Sách, Quản Trị Kinh Doanh và bằng Lý Luận Chính Trị Cao Cấp.
Một bài trên trang tin tài chính CafeF.vn hồi Tháng Mười Hai, 2015, dẫn lời ông Vũ Văn Ninh: “Bộ Giao Thông-Vận Tải [CSVN] đã rất tích cực trong việc cổ phần hóa, có vướng mắc là bàn bạc và tìm giải pháp để tháo gỡ ngay. Một vấn đề cần phải rút kinh nghiệm đó là cần phải xử lý kịp thời những vướng mắc. Từ thực tiễn cổ phần hóa, rút ra điều quan trọng, đó là quá trình cổ phần hóa của Bộ này đạt được kết quả này là quyết tâm chính trị của người đứng đầu, mà cụ thể là Bộ Trưởng Đinh La Thăng. Bộ trưởng đã tích cực họp với các đơn vị có liên quan để tìm phương án tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp cổ phần hóa.”
“Quá trình cổ phần hóa, sắp xếp lại doanh nghiệp thuộc Bộ Giao Thông-Vận Tải [CSVN] hiện đã hoàn thành cơ bản và có những chính sách, trong đó có những đề xuất, cơ chế của Bộ đã chuyển thành cơ chế chung, ví dụ như cơ chế bán vốn theo lô đã tháo gỡ kịp thời những vướng mắc của việc bán vốn nhà nước. Đối với những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ tỷ lệ chi phối, bộ cũng đã cơ bản hoàn thành. Điều quan trọng là sau cổ phần hóa những doanh nghiệp này đã nâng cao năng lực hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt, đã thể hiện rõ qua các chỉ tiêu như tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, lợi nhuận đều tăng, trong khi nợ phải trả đã giảm mạnh,” ông Vũ Văn Ninh được trang tin dẫn lời thời điểm đó. (T.K.)

Công an xã ở Đồng Nai bị tố ép 2 cô gái quan hệ tình dục

Hai nữ nhân viên được giải cứu khỏi quán cà phê. (Hình: Báo Đồng Nai)
ĐỒNG NAI, Việt Nam (NV) – Một công an viên của xã Lộ 25, huyện Thống Nhất bị tố cáo nhiều lần dùng chức vụ để ép hai cô gái quan hệ tình dục với ông ta.
Ngày 4 Tháng Năm, 2019, báo Đồng Nai dẫn tin từ Công An huyện Thống Nhất (tỉnh Đồng Nai), cho biết đã nhận được phúc trình của Công An xã Lộ 25 về trường hợp chị TTKH (21 tuổi, quê Đồng Tháp) tố ông V.Q.T, công an viên xã Lộ 25 ép quan hệ tình dục.
Hiện trưởng Công An xã này đã tạm đình chỉ công tác đối với ông T. đồng thời báo sự việc lên huyện để điều tra.
Theo trình bày của chị H., do cuộc sống khó khăn sau khi từ Đồng Tháp lên Sài Gòn làm việc, thông qua một công ty môi giới việc làm, chị H. được một ông chở đến xã Lộ 25 và bị đưa vào làm việc tại một quán cà phê ở xã Lộ 25 (huyện Thống Nhất).
Chị T.T.K.H kể lại toàn bộ sự việc với báo chí. (Hình: Người Đưa Tin)
Chị H. cho biết, trong thời gian làm việc tại quán cà phê, hàng đêm chị bị chủ quán ép quan hệ tình dục với nhiều người. Do không được liên lạc ra bên ngoài nên chị H. không cầu cứu được và đã nhiều lần bị chủ quán đánh đập, bỏ đói và bắt nhốt.
Đặc biệt, trong số khách đến quán, có ông V.Q.T. đã nhiều lần bắt ép chị H. quan hệ tình dục và dọa nếu không làm theo ý ông ta thì sẽ “không cho tạm trú tại đây.”
Không thể chịu đựng được cuộc sống quá khắc nghiệt, chị H. đã tìm cách liên lạc với Câu Lạc Bộ Hiệp Sĩ Nhơn Trạch (tỉnh Đồng Nai) và được các “hiệp sĩ” đến giải cứu. Khi vừa được giải cứu ra khỏi quán, trên người chị H. có nhiều vết thương nghi bị đánh.
Ngoài chị H., còn một nữ tiếp viên khác là chị T.T.Y.,(22 tuổi, quê Cà Mau) cũng được giải cứu khỏi quán và tố cáo ông T. đã nhiều lần ép quan hệ tình dục. (Tr.N)