Sunday, September 30, 2018

Cách mạng Công nghiệp 4.0 và sự thay đổi tư duy chính trị

cach-mang-cong-nghiep-4.0

Vốn là một người làm công việc liên quan đến truyền thông, cập nhật liên tục các thông tin, tin tức hàng ngày hàng giờ, song khi đọc một bài viết liên quan đến "Cách mạng Công nghiệp 4.0" (bit.ly/2xmZ2W1) của quyền Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng thì bản thân tôi (một người cao niên hơn tướng Hùng) đã thấy cần phải xem xét lại tư duy già cỗi của mình.
Vắn tắt thế này, Cách mạng Công nghiệp 4.0 còn gọi là một cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đã và đang diễn ra tại một số nước phát triển. Đó là sự tiếp nối của các cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 1, sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất; Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt; Và Cuộc cách mạng lần thứ 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Cách mạng Công nghiệp 4.0 được xây dựng trên nền tảng Kỹ thuật số, sẽ diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý. Ví dụ, trong lĩnh vực Vật lý sẽ với những robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới và công nghệ nano v.v...
Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 này sẽ mang đến cho nhân loại cơ hội để thay đổi bộ mặt các nền kinh tế - xã hội, tuy nhiên nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro khôn lường. Các chuyên gia cho rằng, Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 không chỉ là cơ hội tạo ra sự đột phá, bứt phá vươn lên của một quốc gia, mà nó còn tạo ra khả năng một sự chuyển đổi có tính hệ thống bao gồm tác động lên xã hội dân sự, cơ cấu quản trị và sự minh bạch thông tin đối với một quốc gia.
Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng tiếp cận và tiến hành  Cách mạng Công nghiệp 4.0 thì Việt Nam có những lợi thế là, "Người có quá nhiều quá khứ hoành tráng, có quá nhiều hạ tầng 1.0, 2.0, 3.0 sẽ không có đủ can đảm phá huỷ, chỉ có những ai đang không có gì hay có rất ít thứ trong tay. Chúng ta đang có mọi thứ để thắng vì chúng ta không có gì trong tay, không có gì để mất.".
Điều đáng nói là, qua bài viết liên quan đến "Cách mạng Công nghiệp 4.0" (bit.ly/2xmZ2W1) của quyền Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng vừa kể đã cho thấy vấn đề tư duy của mỗi người cần phải có những thay đổi căn bản. Mà cụ thể theo ông Nguyễn Mạnh Hùng thì, "Chung qui chỉ có một chữ là LÀM NGƯỢC. Cách mạng 4.0 mở ra một cơ hội về sự làm ngược nhưng mang lại kết quả bất ngờ, cơ hội của các đột phá, cơ hội cho những người đi sau, nhưng không phải những người đi sau mong muốn giống người đi trước, đi theo cách này thì mãi mãi là người đi sau.". Nghĩa là trước đây, cạnh tranh là làm giống người khác và làm tốt hơn họ, thì bây giờ cạnh tranh là khác biệt, là làm khác người khác để vượt lên trên họ.
Đây là một vấn đề hết sức quan trọng đối với những người quan tâm đến hiện tình đất nước và muốn có một sự thay đổi cơ bản đối với chính trị Việt Nam. Đó là phải thay đổi hoàn toàn tư duy cũng như cách thức đấu tranh chống "cộng sản Việt Nam". Vì một khi bạn đã bền bỉ đi theo một lối mòn trong 43 năm qua mà không đến đích, cũng có nghĩa là các bạn đã lạc đường. Mà đã xác định là bị lạc đường, thì cách nhanh nhất trong lúc mất phương hướng là đi ngược lại đường cũ.
Ví dụ một chuyện nhỏ mà không nhỏ, đó là việc vận động đấu tranh chống "cộng sản Việt Nam" (cụm từ cộng sản Việt Nam được để trong ngoặc kép) đã là một sự ngộ nhận, sai lầm và hết sức có lợi cho nhà cầm quyền ở Việt Nam hiện nay. Nếu chúng ta hiểu nguyên lý cốt lõi của Chủ nghĩa Cộng sản là, không thừa nhận việc bóc lột và công hữu hóa tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân. Đó là điều ưu việt của Chủ nghĩa Cộng sản mà đảng CSVN đã nhồi sọ người dân trong nước để lừa họ theo và ủng hộ hàng chục năm qua. Trên thực tế đảng cầm quyền ở Việt Nam hiện nay ngoài danh xưng đảng Cộng sản Việt Nam thì họ không còn mảy may còn gì là cộng sản. Đó chỉ là một chính thể độc tài, toàn trị trong một cơ cấu chính trị, kinh tế và xã hội mang tính tư bản thời kỳ hoang dã.
Chuyện như thế người dân trong nước ai cũng hiểu, nhưng chỉ có những người đấu tranh ở hải ngoại hiện nay không hiểu, và vô tình họ đang tiếp tay cho đảng Cộng sản Việt Nam lừa dân. Không thể trách người dân trong nước có suy nghĩ, "Chính quyền hiện nay ở Việt Nam phải như thế nào thì những người chống cộng mới gọi họ là Cộng sản chứ" - mượn lời ông Nguyễn Phú Trọng.
Bài học vỡ lòng của môn Khoa học Chính trị là, vạn vận, cả kinh tế - chính trị xã hội luôn luôn vận động và thay đổi không ngừng. Vì thế tư duy chính trị nhạy bén thì phải phán đoán được, để thay đổi nhanh hơn nhằm đón bắt các cơ hội.
Mượn chuyện Cách mạng Công nghiệp 4.0 để bàn chuyện đấu tranh hiện nay, với hy vọng cần có một sự thay đổi thật lớn về tư duy chính trị, tư duy tranh đấu. Như thế mới có thể có hy vọng trong vấn đề thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Nếu như chúng ta vẫn cứ dậm chân tại chỗ với những bài bản và cách thức không hề thay đổi trong hàng chục năm qua, trong lúc nhà cầm quyền Việt Nam như mọt con tắc kè đổi màu theo hướng có lợi cho họ nhất. Đó là lý do họ luôn vững như bàn thạch.
Ngày 29 tháng 09 năm 2018
© Kami
* Đây là trang Blog cá nhân của Kami. Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á châu Tự do RFA

Thực hiện quyền tiếp cận thông tin để thúc đẩy dân chủ

Theo RFA-Nguyễn Trang Nhung-2018-09-30  
Hình minh hoạ. Sạp báo trên vỉa hè ở Hà Nội hôm 13/5/2008
 Hình minh hoạ. Sạp báo trên vỉa hè ở Hà Nội hôm 13/5/2008-AFP
"Không biết một năm Hà Nội in băng rôn hết bao nhiêu tiền nhỉ?"
"Lại sửa đường à, tháng trước vừa sửa cơ mà! Sao sửa lắm thế không biết?"
"Tượng đài kia to quá! Không biết xây hết bao nhiêu tiền nhỉ?"
"Ơ. Thuế của mình đang được dùng làm những việc gì?"
Đó là một vài câu hỏi được đặt ra trong một video được thực hiện bởi Trung tâm hỗ trợ giáo dục và nâng cao năng lực cho phụ nữ (CEPEW), Ngân hàng thế giới (World Bank), và Nhóm tư vấn độc lập về chính sách và quyền con người (IHRA). [1] Video là một hướng dẫn đơn giản và dễ hiểu về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin được quy định trong Luật Tiếp cận Thông tin 2016 (sau đây viết tắt là Luật TCTT), có hiệu lực kể từ 1/7/2018.[2]
Thông tin trong phạm vi điều chỉnh của Luật TCTT là "tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra." (Khoản 1, Điều 2), và tiếp cận thông tin theo luật này là "việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin" (Khoản 1, Điều 3). Để tiếp cận các thông tin khác, các văn bản quy phạm pháp luật khác, phù hợp, được áp dụng.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin lần đầu được quy định là quyền công dân tại Hiến pháp 1992, theo đó, công dân có quyền "được thông tin" (Điều 69). Hiến pháp 2013 kế thừa quy định này từ Hiến pháp 1992, song nếu Hiến pháp 1992 phát biểu quyền này như một quyền thụ động, thì Hiến pháp 2013 tiến bộ hơn khi phát biểu quyền này như một quyền chủ động, theo đó, công dân có quyền "tiếp cận thông tin" (Điều 25).
Quyền tiếp cận thông tin có cơ sở pháp lý quốc tế là Điều 19 Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền Con người (Universal Declaration of Human Rights – UDHR) năm 1948, và Khoản 2, Điều 19 Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights – ICCPR) năm 1966. Việc quy định quyền tiếp cận thông tin trong Hiến pháp và cụ thể hóa quyền này trong Luật TCTT là một biểu hiện của sự tuân thủ ICCPR của Việt Nam, với tư cách thành viên của công ước kể từ năm 1982.
Khái niệm quyền được thông tin xuất hiện đầu tiên tại Thụy Điển trong Luật Tự do Báo chí năm 1776. Bên cạnh việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận, luật này quy định rằng công dân có quyền "tiếp cận tài liệu công".[3] Đến năm 1990, có 13 nước ban hành luật tiếp cận thông tin.[4] Đến nay, hơn 100 nước ban hành luật này.[5] Có thể kể đến một số nước là Columbia (1885), Phần Lan (1919), Mỹ (1966), Na Uy (1970), Pháp (1978), Úc (1982), Canada (1983), Thái Lan (1997), Nhật Bản (2004), và Ấn Độ (2005).[6]
Sự ra đời của Luật TCTT tại Việt Nam là một bước tiến trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin. Trước khi luật này có hiệu lực, công dân vẫn có quyền tiếp cận thông tin, song hạn chế hơn, thông qua các quy định rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Phòng chống Tham nhũng, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Kiểm toán Nhà nước, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, v.v.
Với Luật TCTT, công dân có cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin, tạo điều kiện cho việc thực hiện và phát huy các quyền con người, các quyền công dân khác, như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, ứng cử, bầu cử, hội họp, biểu tình, tham gia quản lý nhà nước và xã hội, v.v, đồng thời thúc đẩy phòng, chống tham nhũng, nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.
Hình minh hoạ. Thông tin được tiếp cận, không được tiếp cận và được tiếp cận có điều kiện theo Luật TCTT
Hình minh hoạ. Thông tin được tiếp cận, không được tiếp cận và được tiếp cận có điều kiện theo Luật TCTT Nguồn: CEPEW
Các thông tin dược đề cập trong các câu hỏi ở phần đầu của bài viết này chỉ là một vài trong nhiều loại thông tin mà công dân có quyền tiếp cận. Khoản 1, Điều 17 Luật TCTT quy định 14 loại thông tin mà các cơ quan nhà nước phải công khai, bao gồm thông tin về ngân sách nhà nước (điểm đ), nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, nguồn viện trợ phi chính phủ (điểm e), đầu tư công, chi tiêu công (điểm g), tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức (điểm l), v.v. Ngoài ra là một số loại thông tin khác mà công dân được tiếp cận, trong đó có thông tin được tiếp cận có điều kiện.
Luật TCTT quy định chi tiết trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu. Việc cung cấp thông tin có thể được thực hiện một cách trực tiếp tại trụ sở cơ quan cung cấp thông tin, hoặc qua mạng điện tử, hoặc qua dịch vụ bưu chính, fax. Luật TCTT được áp dụng đối với thông tin được tạo ra sau ngày 1/7/2018. Đối với các thông tin được tạo ra trước ngày này, các văn bản quy phạm pháp luật khác quy định về tiếp cận thông tin và có hiệu lực trước ngày này được áp dụng, theo Nghị định 13/2018.
Trong những năm gần đây, Luật TCTT và các tin tức liên quan được phổ biến khá rộng rãi trên truyền thông chính thống. Tuy nhiên, rất ít người dân, kể cả giới hoạt động dân chủ, quan tâm đến luật này. Thiết nghĩ, đây là một thiếu sót của người dân nói chung và giới hoạt động dân chủ nói riêng khi chưa quan tâm và chưa có những hành động cần thiết để nâng cao hiểu biết và thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Vì vậy, điều cần làm là quan tâm, tìm hiểu và xa hơn là thực hiện quyền này để thúc đẩy dân chủ.
Chú thích:
[1] Video 'Quy trình tiếp cận thông tin'
https://www.youtube.com/watch?v=ub5Y40q-a90
[3] Trung tâm Hỗ trợ Giáo dục và Nâng cao Năng lực cho Phụ nữ – CEPEW (2015), Giới thiệu về quyền tiếp cận thông tin
[4] Như [2]
[5] Ngày Quốc tế vì Tiếp cận Thông tin Toàn cầu
https://en.unesco.org/iduai2016/about-day
[6] Như [2]
* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

GDP luôn tăng, sao dân vẫn khổ?

Trần Nguyên Thao (Danlambao) - Bạn đọc thường thấy truyền thông lề đảng ca ngợi triển vọng kinh tế Việt Nam lúc nào cũng nằm trong vận hội mới, nhân công rẻ, thể chế chính trị ổn định, tiềm năng rất lớn và cơ hội đầu tư cao,... Từ bức tranh mầu hồng vừa nói đã “vẽ” ra số liệu GDP của Việt Nam tăng đều đặn. Nhưng khi đối chiếu với đời thường lại khiến cho nhiều giới băn khoăn: kinh tế lên mà sao dân vẫn khổ, nợ công lại cao, đến độ không còn khả năng vay mượn... Các thông tin trái nghịch nhau khiến bạn sống trong môi trường “nhiễu sóng”. Bài này bằng lối trình bầy đơn giản nhất, nêu lên những sự kiện gần đây, giúp bạn nhận ra phần nào thực trạng nền kinh tế khi đọc các số liệu tăng trưởng GDP do chế độ công bố.

GDP viết tắt từ Gross domestic product là số liệu tổng sản phẩm quốc nội, ghi lại kết quả sản xuất hàng hóa, dịch vụ, do người cư ngụ cùng một vùng hay quốc gia trong thời gian nhất định nào đó, thường là một, ba, sáu tháng hay mỗi năm. Cách tính GDP là một ngành đòi hỏi chuyên môn. Có (3) phương pháp để tính GDP: chi tiêu, trị giá gia tăng và thu nhập [1]. 

GDP thường được sử dụng để phân tích cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, trình độ phát triển và mức sống của con người.

Sau năm 1975, cán bộ Vc ngoài Bắc vào Nam khoe khoang: để tạo tính bất ngờ và tiết kiệm xăng nhớt, máy bay của ta “núp trong mây” chờ cho khi máy bay Mỹ bay gần, các đồng chí lái của ta mới cho máy bay xông ra đánh úp khiến giặc lái của Mỹ trở tay không kịp, bị ta bắt sống ngay trên mây! 

Từ sau ngày Việt Nam mở cửa, 1986 cán bộ Vc làm quen và nói một cách rất “hồn nhiên” trước công chúng về nhóm chữ GDP. Nhưng nếu hỏi rạch ròi về ý nghĩa GDP ra sao thì hầu như ú a, ú ớ. Đa số cán bộ Vc cũng chỉ nói đến GDP với chủ tâm “lòe” dân, như câu chuyện máy bay núp trong mây. 

Từ lâu nay GDP Việt Nam là những số liệu gây ra nhiều nghi ngờ, tranh cãi, kể cả những chuyện rất “bất ngờ”, nghe đến ai cũng há họng, ngạc nhiên... Phía nghi ngờ cho rằng, GDP Việt Nam được trình bầy theo hướng “tô hồng”. Kẻ cầm quyền thì “chưa hài lòng”, còn muốn tô “đậm” hơn nữa “mới đạt” đúng chỉ tiêu của đảng. 

Tiến sỹ Vũ Quang Việt, từng phục vụ tại Cục Thống Kê Liên Hiệp Quốc cẩn trọng rằng: “có thể tạm kết luận là tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam do Tổng Cục Thống Kê tính là cao hơn sự thật”.

Còn Tiến sỹ Nguyễn Bích Lâm, Tổng Cục Trưởng Thống Kê lại nói: "kinh tế Việt Nam vẫn tồn tại một số hoạt động kinh tế chưa quan sát được. Đối với các hoạt động này, chúng tôi đã nghiên cứu và soạn thảo đề án “thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát ở Việt Nam”, nhằm tính toán bổ sung vào quy mô GDP trong thời gian tới".

Đề án này đưa ra nhằm thi hành ước muốn của nội các đương nhiệm, mong tìm mức thu nhập của các ngành nghề hoạt động ngầm trong phạm vi gia đình hay các loại nghề bất hợp pháp như cờ bạc, mãi dâm, buôn lậu... để làm cho tổng sản lượng quốc gia (GDP) có thể tăng thêm đến 31% nữa. 

Việc tính toán kinh tế ngầm vào GDP bị đa số chuyên gia tố cáo là, âm mưu này chỉ nhằm phục vụ mục đích làm cho GDP có vẻ lớn hơn khiến quy mô nợ công giảm xuống và tiềm ẩn nguy cơ nới rộng hơn trần nợ công. Tức là Hà Nội thấy hết tiền đến nơi, phải chuẩn bị tài liệu để đi vay thêm nợ. 

Chủ nhiệm Khoa, trường Đại học Xây dựng, Hà Nội, Giáo Sư Nguyễn đình Cống trong một bài viết có đoạn: “được thông báo GDP của quốc gia tăng ngoạn mục mà cứ băn khoăn. Nó tăng nhờ cái gì? Tại sao GDP như vậy mà nợ nước ngoài vẫn tăng và không biết GDP tăng thì toàn dân được lợi gì? Riêng lão già hưu trí như tôi thấy bị thiệt so với mấy năm trước vì lương hưu tuy có thêm chút ít, nhưng lạm phát và giá cả tăng nhanh hơn”. 

Hôm 17 tháng 08, các báo đảng đều đăng: bình quân mỗi người gánh hơn 35 triệu đồng nợ công năm 2018 [2], tăng gần 4 triệu đồng mỗi người so với năm 2017 (mức 31 triệu đồng).

Dân chúng chưa bao giờ được chính thức thông báo, Việt nam tính GDP theo phương pháp nào. Còn Tổng Cục Thống Kê nói là GDP của Việt Nam tính theo thông lệ quốc tế. 

Giới chuyên gia nói là Hà Nội tính GDP theo phương pháp chi tiêu: GDP = (tiêu dùng + đầu tư + xuất khẩu) - nhập khẩu. Phương pháp này đo lường GDP bằng cách thu thập các dữ liệu về: 

* Tiêu dùng của toàn dân (C: consumtion)

* Tổng vốn đầu tư (I: Investment) 

* Chi tiêu của chính phủ (G: Government Spending)

* Xuất khẩu (X: Exports) 

* Nhập khẩu (M: Imports) 

X-M: xuất khẩu ròng (NX).

Do giá trị tổng sản lượng hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế (Y) phải bằng tổng chi tiêu để mua lượng hàng hóa và dịch vụ đó nên tổng chi tiêu bằng GDP (Y) = C + I + G + X-M [3] 

Xuất khẩu (X) là hàng hoá, dịch vụ được sản xuất ở trong nước, đem bán ra cho người tiêu dùng ở nước ngoài.

Nhập khẩu (M) là những hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ở nước ngoài, được mua về để tiêu dùng trong nước.

Nếu X > M gọi là xuất siêu; M > X gọi là nhập siêu; X = M là cân bằng thương mại.

Trên thực tế, theo Giám đốc Nghiên cứu Phát triển Ngân hàng MB (Military Commercial Joint Stock Bank), Đàm nhân Đức “tăng trưởng về quy mô cũng như về số lượng của chỉ tiêu GDP thực ra chưa phản ánh được đầy đủ bức tranh của nền kinh tế, chẳng hạn doanh nghiệp FDI chuyên về khai thác tài nguyên sẽ chuyển phần lợi nhuận về nước họ nhưng vẫn được thể hiện trong GDP của Việt Nam”.

Còn những khoản tiền khổng lồ khác do tham nhũng được chuyển ra bên ngoài để mua các loại bất động sản, đầu tư, cất dấu trốn thuế, chi tiêu xa xỉ... những số liệu chi tiêu to lớn vừa nói chắc chắn là của những người thuộc nhóm quyền lực trong nước, là tiền thuộc mục “tiêu dùng toàn dân” được tính vào GDP, nhưng thực tế khối tài sản đó đã được chuyển bằng nhiều cách ra khỏi nước rồi!

Phúc trình của Hiệp hội Chuyên viên địa ốc quốc gia Hoa Kỳ (NAR) công bố hôm 18/7 cho biết, công dân Việt đứng ở vị trí thứ 9, với số tiền bỏ ra ước tính hơn 3 tỷ đôla, chiếm 2% tổng số tiền người nước ngoài chi ra để mua nhà ở Mỹ. Con số này tăng gấp đôi so với một năm trước. Trên báo mạng nêu đích danh một vài người tiêu biểu cho việc chuyển tài sản khỏi Việt Nam [4].

Bất cứ dự án đầu tư nào do cán bộ nhà nước hay do Bắc Kinh thực hiện như dẫn chứng dưới đây, mà tham nhũng càng nhiều, lãng phí càng lớn, chất lượng càng kém thì GDP càng tăng! 

Dự án sửa chữa đoạn đường số 356 chỉ dài 2.2 cây số, nằm từ ngã ba Nguyễn bỉnh Khiêm đến đập Đình Vũ, Hải Phòng. Theo các số liệu Thanh tra đưa ra, vốn đầu tư ban đầu cho đoạn đường ngắn này chỉ là 314,9 tỉ đồng. Nhưng sau đó, vốn bị "đội lên" tới 1.310,9 tỉ đồng, tương đương 56 triệu Mỹ Kim. Nếu đoạn đường này không phải sửa chữa thêm nữa, thì 1.310,9 tỷ sẽ được coi là tiền đầu tư hạ tần cơ sở, cộng trong GDP. Nhưng giá trị thật của đoạn đường là rất nhỏ, trong khi số liệu “ma” khác biệt gần 1000 tỷ [5]. (báo Giao Thông Vận tải 18-07-18).


Đường tàu điện đầu tiên của Việt Nam, được xây dựng bởi nguồn vốn ODA của Trung cộng, chạy thử nghiệm đầu tiên vào tháng 8/2018. Tàu điện ngầm ở Hà Nội dự kiến sẽ bắt đầu hoạt động vào năm 2019, trễ bốn năm so với lịch trình dự kiến. Tổng mức đầu tư đổ vào dự án này lên đến 18.000 tỷ đồng (770 triệu Mỹ Kim), gấp hơn hai lần so với kế hoạch ban đầu là 8,7 nghìn tỷ đồng.

Hôm 15-09, Vc khánh thành công viên lãnh tụ cs Cu-ba, Fidel Castro rộng 16 mẫu [6] tại Quảng Trị, được khởi công từ năm 2015, với mức đầu tư 115 tỷ đồng. Khoản chi này cũng sẽ ghi vào GDP trong phần “G” chi tiêu chính phủ.

Theo báo Dân Trí, thời gian qua, một số dự án liên quan đến vay vốn, hợp tác với Trung cộng tại Việt Nam đã để lại tiếng xấu và hệ lụy rất lớn cho nền kinh tế, như các công ty: phân đạm Hà Bắc, Ninh Bình, gang thép Thái Nguyên giai đoạn hai...

Gần đây nhất, tang lễ của chủ tịch nước, ông Trần đai Quang, ước lượng lên đến khoảng 20 tỷ đồng, cũng thuộc khoản chi tiêu chính phủ (G:Government Spending)

Quỹ Heritage ở Washington, Hoa Kỳ công bố kết quả điều nghiên đầu năm nay về “Chỉ số tự do kinh tế 2018”, theo đó Việt Nam xếp hạng 141/180 với 53,1 điểm, mức tổng điểm thấp hơn điểm bình quân khu vực và thế giới. Trong 43 nền kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam đứng hạng 35, thua Lào (53,6 điểm, hạng 34), Myanmar (53,9 điểm, hạng 33) và Campuchia (58,7, điểm hạng 22) [7].

Viện Toàn cầu McKinsey (MGI) trong khảo sát mới nhất (Sept 14) dẫn chứng [8] “Việt Nam có một số lượng lớn doanh nghiệp nhà nước kém năng suất, với tỉ lệ tăng trưởng hằng năm chỉ đạt 3,8% từ 2006-2016, trong khi các doanh nghiệp tư nhân đạt 4,9%, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,7%”. Đây là minh chứng, nền kinh tế và thị trường công nhân lệ thuộc nơi người ngoài.

Đến đây thì hẳn bạn đọc đều quá rõ lý do dân vẫn khổ, mà số liệu GDP của Việt Nam vẫn tăng.

Cái thuở Vc cai tri bằng lừa phỉnh đang qua mau chóng. Cuộc cách mạng tin học sẽ giúp người dân choàng tỉnh dậy, bước ra khỏi cơn mê, và nhận ra rằng, phải dứt bỏ chủ nghĩa xã hội bịp lừa mới có cơ may đưa Dân Tộc Việt Nam khỏi tình huống tụt hậu đương thời.

Sept 18 2018


______________________________________

Chú thích:









Huy Đức - Người phu quét đường cho lộ trình "nhất thể hóa" của Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng

Vũ Đông Hà (Danlambao) - Sau khi một số "người phu quét đường" vung chổi khai quang con đường "nhất thể hóa" cho Nguyễn Phú Trọng (1), "công tác" dọn đường được chuyển từ một cơ quan truyền thông "độc lập" của nước ngoài sang một trang "Facebook cá nhân độc lập". Với nhan đề "Nhất thể hóa" (2), Huy Đức là người kế tiếp cầm chổi quét đường để góp phần làm thông thoáng lối đi cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bước lên ghế Chủ tịch Nước. 

Điểm cần lưu ý là quyết định nhất thể hoá hoàn toàn nằm trong tay đảng độc tài, những người dân "làm chủ đất nước" không có một ảnh hưởng gì lên quyết định này. Do đó, đọc bài của Huy Đức cần phải "cảm nhận" từ vị trí của những đảng viên, cán bộ, uỷ viên TƯĐ - là những đối tượng mà Nguyễn Phú Trọng muốn thuyết phục - qua cái loa mang tên Huy Đức. 


Mở đầu bài viết ngắn trên FB cá nhân, Huy Đức viết: 

"Tôi không bình luận nhân sự cụ thể. Nhưng nếu quyết định để Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước lần này trở thành tiền lệ thì cũng rất có ý nghĩa. Ít nhất "biên chế" sẽ chỉ còn là Bộ Tam thay vì Bộ Tứ." 

Một câu ngắn nhưng có nhiều điều muốn thuyết phục các đối tượng nhắm đến: 

- Không nói về nhân sự, không viết tên người nhưng mọi đảng viên đều biết đó là Nguyễn Phú Trọng; 

- Làm "tinh gọn biên chế" cho đảng; và 

- Việc nhất thể hoá không phải chỉ làm một lần "cho" cá nhân Nguyễn Phú Trọng mà là tạo tiền lệ "rất có ý nghĩa" cho đảng sau này. 

Những điều trên không dễ thuyết phục người dân đứng ngoài đảng - vốn không phải là đối tượng mà Huy Đức nhắm đến. Tuy nhiên, với đảng viên, quan chức đắm mình trong "hệ suy nghĩ của đảng"  - "đảng hệ", cho những ai "trung thành" với đảng, thì nó khá thuyết phục. 

Huy Đức viết tiếp: 

"Nhất thể hoá tạo tính chính danh cho người đang thực sự nắm quyền lực tối cao ở Việt Nam. Từ thay đổi tưởng chỉ “cấu thành hình thức” này, trong quá trình vận hành, chắc chắn sẽ làm xuất hiện nhiều tình huống, gợi ý cho Việt Nam cải cách. Cho dù vẫn một đảng, về mặt lý thuyết, VN sẽ tiến gần hơn tới một nền cộng hoà bán tổng thống." 

Huy Đức muốn đảng viên, quan chức đừng tưởng rằng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ cần tính chính danh, đừng nghĩ rằng nó chỉ cho có hình thức, mà còn là để cải cách Việt Nam thành một "nền cộng hòa bán (!?) tổng thống". Dĩ nhiên, Huy Đức không muốn tốn chỗ FB - vốn rất dư thừa - để viết thêm: một "nền cộng hoà bán tổng thống" do một đảng độc tài cai trị và mọi quyết định từ nhân sự lãnh đạo đến chính sách đều nằm trọn trong tay tổng bí thư kiêm chủ tịch nước. 

Một cách ngắn gọn, điều mà Huy Đức muốn gửi gắm, thuyết phục là cần có một Tổng thống Nguyễn Phú Trọng cho một nước "Bán Cộng hoà" Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 

Và Huy Đức tiếp tục làm người rao hàng, tiếp thị cho tham vọng một mình một chợ, làm vua cả nước, quyền lực đối nội, đối ngoại thu về một mối của Nguyễn Phú Trọng: 

"Chủ tịch - nên là chức danh duy nhất được coi là nguyên thủ - thống lĩnh lực lượng vũ trang và đại diện Nhà nước trong các hoạt động đối ngoại. Đây là cái ghế mà chỉ ai thực sự là một chính trị gia hàng đầu mới nên ngồi vào." 

Chính trị gia hàng đầu? Ai là người chấm điểm, quyết định để một chính trị gia ngồi vào vị trí hàng đầu đó? Trong thể chế thật sự dân chủ, chính trị gia hàng đầu là người đứng "hàng đầu" trong một cuộc bầu cử thật sự công bằng, minh bạch. Nhưng đối với Huy Đức, viết như vậy thì các đối tượng đảng viên mà Huy Đức muốn thuyết phục đương nhiên sẽ hiểu, sẽ biết (vì đó là điều duy nhất họ có thể hiểu, có thể biết: "chính trị gia hàng đầu" đương nhiên là tổng bí thư, người đứng hàng đầu của đảng. "Logic" đó rất là... logic, và không thể khác hơn: Chiếc ghế nguyên thủ đó, ghế chủ tịch nước đó chỉ có tổng bí thư "mới nên ngồi vào"

Có nâng thì phải có... hạ. Nâng "chính trị gia hàng đầu" (của đảng) lên làm nguyên thủ của một nước cộng sản "bán" cộng hoà thì phải hạ những ngôi vị khác trong hệ thống quyền lực xuống . Do đó Huy Đức hạ - và đây là phát súng cảnh cáo nhắm vào những kẻ - cụ thể là Nguyễn Xuân Phúc - có ý đồ tranh giành, phá thối mộng đế vương hay không thuần phục hoàng đế tương lai: 

"Trong khi đó, Thủ tướng chỉ nên là một nhà kỹ trị. Vai trò của Thủ tướng là thiết lập được một nền hành chính công chuyên nghiệp và đưa ra được các công cụ hành pháp kịp thời để phát triển kinh tế - xã hội. Không nên làm Thủ tướng mất thời gian vào các cuộc họp bàn chuyện bắt bớ hay các buổi tiếp tân hình thức." 

Nói một cách khác, trong triều đình đã có vua Trọng thì chỉ có tể tướng Phúc, phục vụ vua và chỉ cúi đầu chăm chú lo việc triều đình theo chiếu chỉ của vua. Tể tướng không có quyền quyết định bắt ai; người chủ lò muốn ai vào lò chỉ có thể là vua; và nhất là tể tướng không được qua mặt vua trong những lễ tiếp tân trong nước lẫn ngoài nước với các nguyên thủ quốc gia khác. 

Cũng trong mối tương quan "vua" và "tể tướng", Huy Đức đi từ "hạ" sang con đường "diệt" nếu tể tướng không được lòng vua: 

"Tuy nhiên, nếu các chính sách của ông (thủ tướng) và nội các kinh tế có dấu hiệu phục vụ cho lợi ích nhóm thì ông và các thành viên mà ông chọn có thể phải đối diện với các cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm hay thậm chí bị bắt bớ. Vì, cơ quan điều tra có một vị trí độc lập hơn với “nội các"." 

Trong cú quét trên, người phu quét đường đã quét người dân và đại biểu quốc hội của họ (dù đây là một cơ chế bù nhìn, tay sai của đảng) xuống cống. Mọi quyết định trừng phạt đối với "tể tướng" và nội các "các bộ" của triều đình phải nằm trong tay vua Nguyễn Phú Trọng. Bỏ phiếu hay bỏ vào lò là quyền của vua vốn là người nắm đầu nắm cổ "cơ quan điều tra có một vị trí độc lập hơn với nội các".Xin lưu ý là chỉ "độc lập hơn..."  chứ không phải là độc lập tuyệt đối theo đúng nghĩa của nó. 

Để thuyết phục quần chúng đảng viên, cán bộ quan chức mạnh hơn, Huy Đức lôi Võ Văn Kiệt - người được thành phần cộng sản miền Nam kính mến - cũng là thành phần có khuynh hướng chống "bắc kỳ có lý luận" Nguyễn Phú Trọng - để gián tiếp thuyết phục: Nguyễn Phú Trọng cũng giống như Võ Văn Kiệt. Huy Đức đã dùng lời nói của Võ Văn Kiệt - “Thủ tướng Phan Văn Khải là một nhà kinh tế hàng đầu của đất nước” và lời của Phan Văn Khải “về bản lĩnh chính trị tôi không thể nào so sách với đồng chí Võ Văn Kiệt” để xếp đặt thứ tự tôn ti giữa một "chính trị gia hàng đầu" và một "nhà kỹ trị", giữa một "nguyên thủ" và một "người đứng đầu "nội các kinh tế", hay nói cho đúng nghĩa triều đình phong kiến - giữa một ông vua và một tể tướng. 

Vì vậy, Huy Đức không ngần ngại viết: "Cho dù bị trì hãm trong cái kiềng “Tam Nhân”, ông Kiệt đã hành động như một nguyên thủ và ông Khải thực sự là người đứng đầu “nội các kinh tế”. Ông Khải là một nhà kỹ trị." 

Ông Kiệt chính là ông Trọng và ông Khải chính là hình ảnh của ông Phúc mà Huy Đức muốn các đảng viên miền Nam liên tưởng đến. 

Trong phần kết luận, Huy Đức gửi thông điệp... giùm cho Nguyễn Phú Trọng đến đảng viên: 

"Đừng sợ tập trung quyền lực vào một người. Nếu tôn trọng các nhánh quyền lực nhà nước theo thẩm quyền được ghi trong Hiến pháp thì không ai có thể lạm quyền dù họ là nguyên thủ. Nước cũng chỉ nên có một “vua”. Ai cũng muốn đứng đầu. Ai cũng làm chính trị mà thiếu một người kỹ trị thì chính trường rất dễ thành đất “quần ngư tranh thực”; thị trường chỉ là chợ đen; hành chính rối ren và xã hội không thể nào ổn định." 

Đó là lời hiệu triệu của người phu quét đường: Đừng sợ các đồng chí! Tam quyền phân lập đã được ghi trong hiến pháp của đảng! Đừng sợ tập trung, đừng sợ lạm quyền! Nước phải có một vua. Nước không thể để ai muốn đứng đầu là đòi đứng đầu! Vua phải là... hoàng thượng, tể tướng phải là tôi trung, triều đình không thể là một cái chợ đen mà cần một người - một mình một chợ đỏ. 

Và kết thúc là là lời kêu gọi, lời chào hàng cho cửa tiệm "Bán cộng hoà xã hội chủ nghĩa" của chủ tiệm Nguyễn Phú Trọng: 

"Con đường để một quốc gia đi đến thịnh vượng còn rất dài. Nhưng với những gì vừa diễn ra chiều nay, nếu không phải để tập trung quyền lực mà nhằm mở ra một hướng đi thì thời gian không lúc nào là quá trễ để bàn một lộ trình đáng hy vọng hơn cho đất nước." 

Lộ trình Nhất Thể Hoá với ông vua Nguyễn Phú Trọng cưởi con ngựa Tàu chính là "lộ trình đáng hy vọng" của Huy Đức - hay viết đúng người đúng việc: "lộ trình đáng hy vọng" của Nguyễn Phú Trọng.

Sau Huy Đức, sẽ là đám quân "nguyên" tay cầm sổ hưu tay cầm chổi đại diện cho thành phần "lão thành cách mạng", sẽ là các "cử tri" đại diện cho nguyện vọng người dân, lần lượt xuống vỉa hè làm phu cho con đường mang tên Nhất Thể Hoá. Ở cuối con đường đó đã để sẵn một ngai vàng nhập cảng từ Bắc Kinh với hàng chữ mạ vàng "Tổng Thái thú Nguyễn Phú Trọng".

Đối với các đảng viên - đối tượng mà Huy Đức nhắm đến, những người mà Nguyễn Phú Trọng muốn tranh thủ sự ủng hộ cho giấc mộng Lê Chiêu Thống của ông ta, đây là lúc mà họ cần đặt câu hỏi: Liệu họ có thể tiếp tục bảo vệ quyền lợi của mình qua sự trung thành với đảng nếu đảng CSVN rơi vào tay của một kẻ sẵn sàng phục vụ, làm nô lệ, tiếp tay cho thiên triều phương bắc để biến Việt Nam thành một tỉnh lỵ của Tàu? Quyền lợi của họ sẽ còn gì khi đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là một chi bộ của đảng Cộng sản Tàu và dù là người mang thẻ đảng, họ cũng chỉ là một công dân hạng hai trong nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa?

30.09.2018

Việt Nam chống lại Hốt Tất Liệt

Lauren Hilgers * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch - Ngày nay, khu vực nơi sông Bạch Đằng đổ vào vịnh Bắc Bộ và vịnh Hạ Long ở miền bắc Việt Nam là nơi ruộng lúa, làng mạc và ao cá xen kẽ lẫn nhau. Nhưng cách đây 700 năm, trước khi những thế hệ nông dân đã thay đổi địa hình ở đây, vùng này là bãi bùn ven biển trải dài hàng chục cây số vuông, một vùng đất ngập nước thay đổi không ngừng nơi dòng sông chảy tỏa vào những con suối ngoằn ngoèo đầy trầm tích. Những hòn đảo hiện ra rồi biến mất theo thủy triều, những bãi bồi chìm dưới cửa sông sâu, và cả cồn cát và những dòng chảy mà tàu bè có thể đi lại được đều không thể nào tin tưởng. Khu vực này thời đó dân cư thưa thớt, nhưng sông Bạch Đằng là cửa ngõ vào trung tâm quyền lực của Việt Nam. Sông Bạch Đằng là phụ lưu của sông Hồng mà trải dài từ miền nam Trung Quốc đến Vịnh Bắc Bộ. Theo sông Bạch Đằng đi vào nội địa độ 112 km, thuyền buôn - hay hải quân xâm lược - sẽ gặp kinh thành Thăng Long, trung tâm triều đại nhà Trần của Việt Nam.

Nhiều lần quân xâm lược đã theo sông Bạch Đằng đến Thăng Long, cho nên trong suốt nhiều thế kỷ những nhà lãnh đạo quân sự người Việt đã nghiên cứu các phụ lưu và thủy triều mà thay đổi địa hình theo mỗi lần triều lên và triều xuống. Kiến thức này là nền tảng cho chiến thuật quân sự tiên tiến và đóng vai trò quyết định trong trận hỏa công kỳ tích vào năm 1288 giữa lực lượng của tướng Việt Nam Trần Hưng Đạo và đoàn chiến thuyền được hoàng đế Trung Quốc đầy thế lực Hốt Tất Liệt đưa sang. Trận Bạch Đằng đã làm cho địa hình đầm lầy sáng rực lên với lửa cháy và thuyền chìm khắp nơi, và ban cho Trần Hưng Đạo một vị trí danh dự trong lịch sử Việt Nam.

Ngày nay, dấu tích của trận đánh này, một trong những chiến thắng oanh liệt nhất của Việt Nam, nằm chôn kín dưới bao lớp bùn và ruộng lúa. Trong năm năm qua, một đoàn các nhà khảo cổ quốc tế đã và đang cố gắng dựng lại trận Bạch Đằng - từ vị trí của địa hình đến sự chuẩn bị về chiến thuật cho vị trí ấy- trên khắp hàng cây số bờ biển. “Một trong những điều lý thú về nơi chúng tôi đang làm là có lẽ vào thời ấy không có người sống ở đấy khi trận đánh diễn ra,” Mark Staniforth, giáo sư nghiên cứu cao cấp tại Đại học Monash ở Melbourne, Úc. “Người ta bắt đầu đến đấy vào năm 1500 sau Công nguyên, họ bắt đầu xây dựng trên những hòn đảo và họ bắt đầu khai hoang đất quanh các đảo.” Hiện nay các nhà khảo cổ đang tìm kiếm chứng tích của trận đánh dựa trên công trình từ thập niên 1950. Đề án cũng đang cố gắng phát triển khả năng nghiên cứu khảo cổ sâu hơn và chia sẻ dữ liệu ở Việt Nam mà họ hy vọng sẽ mở thêm ra nhiều khu vực của địa điểm trận đánh cho công cuộc nghiên cứu.

Triều đại nhà Trần được thành lập vào năm 1226 ở Đại Việt (quốc hiệu Việt Nam lúc bấy giờ), khi một dòng họ giàu có âm mưu chống lại vị vua bị tâm thần của triều đại nhà Lý để đặt Trần Thái Tông mới lên tám tuổi lên ngôi. Trong suốt thời gian trị vì 30 năm của vua Trần Thái Tông, đế quốc Mông Cổ ở phương bắc mở rộng bờ cõi ra khắp Á Âu dưới thời con cháu của Thành Cát Tư Hãn. Nhằm mưu toan đánh vào sườn để chiếm nhà Tống ở phía nam Trung Quốc, Mông Cổ xâm lăng Việt Nam lần thứ nhất bằng đường bộ vào năm 1257, chỉ ngay sau khi vua Trần Thái Tông băng hà. Cho dù ban đầu chiếm được kinh đô Thăng Long, gần Hà Nội bây giờ, nhưng cuối cùng quân xâm lược đã bị đánh đuổi, tuy triều đại nhà Trần phải đồng ý nạp cống.

Nhờ lập được nhiều chiến công chiến binh Hốt Tất Liệt dày dạn chinh chiến đến năm 1260 đã vượt qua hẳn những người cháu khác của Thành Cát Tư Hãn để trở thành đại hãn thứ năm của đế quốc Mông Cổ và là người sáng lập ra nhà Nguyên. Vào năm 1276 ông đánh bại nhà Tống và thống nhất Trung Quốc lần đầu tiên trong 300 năm. Ông bắt đầu thực hiện những công trình xây dựng, tái kiến thiết sông đào Đại Vận Hà của Trung Quốc, mở rộng Cung điện Mùa Hè tráng lệ ở Bắc Kinh, và bắt đầu cho lưu hành tiền giấy. Ông cũng sai con mình, Thoát Hoan, cố gắng tái chiếm Việt Nam, lúc ấy dưới thời Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của nhà Trần. Vào năm 1284 Mông Cổ lại chiếm được Thăng Long, nhưng lại một lần nữa bị các tướng người Việt dùng chiến thuật du kích và đồng không nhà trống đánh đuổi đi. Lại thua đau, Hốt Tất Liệt thay đổi chiến lược và nhắm vào con đường thủy phía nam. “Nhìn lại thì thấy, hể khi quân Mông Cổ đánh trên đất khô ráo, họ đều hầu như thắng.” Staniforth nói. “Họ có chỗ không giỏi là họ không đánh giỏi ở trên thuyền.”

Jun Kimura, một trong những thành viên của đoàn khảo cổ nghiên cứu về trận Bạch Đằng, đã dành phần lớn nghề nghiệp của mình nghiên cứu về những trận hải chiến của Hốt Tất Liệt, mà trận đầu tiên là đánh Nhật. Vào năm 1274 và lần nữa vào năm 1281, hạm đội Mông Cổ bị quân phòng thủ Nhật Bản và những cơn bão lớn đánh bại. (Vào năm 1281 một trận bão tên bây giờ là Kamikaze, hay “thần phong” kéo dài đến hai ngày đã tiêu diệt cả hạm đội Mông Cổ.) Ở một nơi ngoài khơi Nhật Bản, Kimura đã góp phần khai quật lên những mỏ neo, mũ sắt, tên sắt, và một bộ đồ vật bằng gốm rỗng mà các nhà khảo cổ tin có thể là những lựu đạn đầu tiên từ một trong những cuộc xâm lăng thất bại.

Để chinh phục Việt Nam lần thứ ba, Hốt Tất Liệt nghĩ ra một chiến thuật dựa vào quân số áp đảo được đưa sang bằng đường bộ và đường biển nhằm tạo thế gọng kìm vây chặt kinh đô Việt Nam từ nhiều hướng. Hạm đội của ông dưới quyền chỉ huy của tướng Mông Cổ Ô Mã Nhi chiếm được thương cảng Vân Đồn, gần Vịnh Hạ Long. Cánh quân di chuyển về hướng nam bằng đường bộ hợp binh với cánh thủy quân ở Vân Đồn rồi cùng nhau ngược sông Bạch Đằng tiến về hướng tây, có thể luôn luôn bám theo nơi rộng nhất và dễ vào nhất trên sông. Họ đánh vào Thăng Long mà ít gặp phải sự cản trở của hoặc lực lượng Việt Nam hay chính địa hình. Lần này, quân Mông Cổ tự cho là đã sẵn sàng đối phó với chiến thuật đồng không nhà trống của Việt Nam. Họ đang mong chờ đoàn thuyền chở lương thực đến sớm sau khi quân họ chiếm kinh thành. Tuy nhiên, những thuyền lương thực ấy sẽ không bao giờ đến được sông Bạch Đằng.

Vào năm 2008 Kimura lúc ấy là nghiên cứu sinh tiến sĩ ở trường đại học Texas A&M, và người bạn sinh viên cao học Randy Sasaki nhận được email từ Lê Thị Liên, nhà khảo cổ ở Viện Khảo Cổ Học của Việt Nam, người đã biết họ quan tâm đến những cuộc hải chiến của Hốt Tất Liệt. Chị đã thấy tại nhà một người sưu tập địa phương một cặp mỏ neo gỗ rất lớn đã được phát hiện ở sông Hồng. Nhà sưu tập nghĩ chúng có thể liên quan đến hạm đội của Hốt Tất Liệt.

“Jun đến gặp tôi và nói, ‘Đây là cơ hội đi coi xem chúng ta hiện nay có thể nghiên cứu được gì từ phía Việt Nam,’” Staniforth, lúc ấy ở trường đại học Flinders ở Adelaide, nhớ lại. Nhưng Kimura cũng chỉ ra rằng “nghiên cứu sinh tiến sĩ chẳng có tiền,” vì thế Staniforth và James Delago, lúc ấy là chủ tịch Viện Khảo Cổ Học Hàng Hải ở Texas A&M bắt đầu góp phần lập ra nhóm thăm dò, hợp tác. Do lịch sử gần đây của mình, Việt Nam từ lâu đã là một quốc gia khó khăn cho các nhà khảo cổ Phương Tây nghiên cứu. Mặc dù suốt trong nhiều năm các nhà nghiên cứu Việt Nam đã khảo cứu ở một số địa điểm, nhưng kết quả tìm được của họ được xuất bản chủ yếu bằng tiếng Việt. Staniforth và Delago đã thấy Liên là người cộng tác địa phương.

Trong chuyến viếng thăm lần đầu, Kimura và Sasaki thấy những mỏ neo gỗ ấy thực sự có trong khoảng từ thế kỷ thứ mười tám hay mười chín - nhưng Liên hướng đoàn sang mục tiêu mới. Vào thập niên 1950 các nhà khảo cổ Việt Nam đã khám phá ở phía đông Hà Nội một phòng tuyến dưới sông ở một cánh đồng gần nơi sông Bạch Đằng gặp biển. Họ đã tìm thấy một bãi cọc gỗ dày, bị chôn vùi trong bùn, nhô lên theo nhiều góc độ khác nhau. Sử sách ghi rằng những phòng tuyến như thế - những bãi cọc được cắm vào lòng sông và bờ sông - nằm trong kế hoạch phòng vệ thủy quân ở Trận Bạch Đằng vào năm 1288, và cũng được dùng trong hai trận chiến xưa kia trong cùng khu vực để chống lại quân xâm lăng của triều đại nhà Hán và triều đại nhà Tống lần lượt vào năm 938 và 981. Nhưng hiện nay người ta không rõ cọc được dùng như thế nào trong mỗi trận đánh, hay chiến thuật quân sự nào dùng đến chúng. Vào thập niên 1950 những nhà khảo cổ Việt Nam cho là những cọc họ tìm thấy có từ thời Mông Cổ xâm lăng, nhưng có nhiều câu hỏi chưa được giải đáp và lúc ấy họ không có cách nào xác định niên đại rõ ràng của chúng. “Họ có những chứng cứ rất tốt, những chứng cứ lịch sử.” Staniforth nói, “nhưng họ đã không có những chứng cứ khoa học.” Các báo cáo chính thức ghi lại việc khám phá ra nhiều trường hợp như thế ở các địa điểm xây dựng trong khu vực, và những người dân địa phương báo cáo tình cờ khám phá ra những cọc gỗ trong đồng ruộng của họ. Tuy nhiên trước năm 2010 không có nhà khảo cổ nào đã phản ứng trước những báo cáo khác này.

“Những nhà nghiên cứu Việt Nam trước đây thật sự không thể nào giải thích cách các cọc được phân bố,” Kimura, hiện giờ ở đại học Tokai tại Tokyo, nói. “Vào thời thập niên 1950 người ta không thể dùng cách xác định niên đại bằng phương pháp carbon phóng xạ hay GPS,” ông nói tiếp. “Chúng tôi may mắn là vào năm 2009 một nông dân địa phương báo cáo ông ta đã thấy nhiều đặc điểm kỳ lạ trong ao cá. Trước tiên chúng tôi tiến hành khai quật thử và tìm ra những cọc gỗ tập trung ở đấy - không phải là những cọc cá biệt.” Khám phá này xảy ra bất ngờ, phần lớn vì nó không quan hệ với nơi những cọc lần đầu tiên được phát hiện. Đây là bãi cọc mới, riêng biệt.

Thật khó mà bỏ qua những sự giống nhau giữa hai địa điểm. Loại gỗ cọc và cách cắm gọc xuống đất đều giống nhau. “Chúng tôi cẩn thận ghi lại đường kính của các cọc và thấy có sự nhất quán giữa hai địa điểm,” Kimura nói. Ông và Staniforth trở lại Việt Nam vào năm 2010, 2011, và 2013 để khai quật ao cá ấy ở sông Bạch Đằng, tìm kiếm thêm các địa điểm, và huấn luyện các nhà khảo cổ Việt Nam để bắt đầu tìm kiếm những tàn tích của những thuyền Mông Cổ ở chính sông Bạch Đằng. Các nhà khảo cổ đã đưa máy bơm nước vào và khai quật bốn cái mương đầy bùn mà họ cuối cùng mở rộng thành một bãi đầy cọc. Họ khám phá tổng cộng 55 cọc, cùng với những mảnh gốm và mẩu gỗ. Có lẽ quan trọng nhất, những mẫu từ các cọc này có cách đây khoảng độ 700 năm, nghĩa là chúng hầu như chắc chắn liên quan đến cuộc xâm lăng của Mông Cổ.

Về sự phân bố và phương hướng thì những cọc này tương tự như những cọc được tìm thấy vào thập niên 1950. Chúng được cắm vào đất ở những góc nghiêng. Nhiều cọc được cắm thành hai cột chạy từ đông sang tây, dọc theo có lẽ là cái dốc cao của bờ sông. Những cọc khác được tập trung thành những cụm dày dặc như thể để hình thành những vật chướng ngại trọng điểm. Và nhiều cọc còn được cắm theo từng cặp với đầu nhọn của cọc bắt chéo vào nhau. Qua nghiên cứu vị trí và phương hướng của những phòng tuyến này, đoàn các nhà khảo cổ quốc tế bắt đầu thấy chính xác cách Trần Hưng Đạo đã hình thành, kế hoạch, và thực hiện chiến lược mà sẽ làm triều đại nhà Nguyên miễn cưởng nếu dám trở lại Việt Nam.

Những người lính Mông Cổ của Thoát Hoan tiến đến Thăng Long gặp sự kháng cự rất ít, thấy kinh thành bị người Việt bỏ trống và đốt cháy. Quân Mông Cổ thấy chẳng có gì quan trọng để chinh phục và lại càng chẳng có gì để ăn. Quân xâm lăng không biết làm gì hơn là chờ hạm đội chở lương thực rất lớn đang tiến chậm chạp ngược dòng sông,

Ngay khi hạm đội này tiến vào sông Bạch Đằng, lực lượng Việt Nam bắt đầu hành động. Họ chỉ có một vài tháng để đặt bẫy kỹ lưỡng. Trần Hưng Đạo đã nghiên cứu những trận đánh trước kia chống lại người Trung Quốc ở sông Bạch Đằng, đặc biệt trận đánh chống lại triều đại nhà Hán vào năm 938, và ông và các phó tướng của ông rất thông thuộc địa hình. Chính dòng sông hay thay đổi này sẽ được dùng làm vũ khí chính của họ. Ông dùng hình thể của địa hình làm sườn cho các phòng tuyến, kết hợp chặt chẽ với hình dạng đặc thù của đá và những nơi thủy lộ hẹp hẳn lại tự nhiên. Ông huy động một lực lượng lao động lớn bắt đầu chặt đủ số cây để làm cái bẫy khổng lồ mà sẽ cho phép lực lượng Việt Nam chuyển từ phòng vệ sang tấn công. Lực lượng lao động này cần phải làm việc nhanh - cây từ những rừng rậm cách đấy rất xa được đưa về, được đẽo thành cọc, và rồi được đặt đúng vào vị trí. “Đây là một hoạt động hậu cần rất lớn,” Staniforth nói, “Hoạt động như thế ắt hẳn phải cần đến cả hàng ngàn người Việt Nam địa phương, hay có lẽ nhiều hơn nữa.”

Kimura nói những giả thuyết trước kia về Trận Bạch Đằng đều cho rằng người Việt Nam dùng cọc chỉ để chặn toàn bộ cửa sông-rộng độ 183 mét - rồi chèo thuyền ra tấn công quân Mông Cổ đã bị ngăn chặn hay tấn công họ khi họ cố chạy thoát vào bờ. Đoàn khảo cổ đã mang đến những công cụ hiện đại để vẽ bản đồ địa hình và cách mà địa hình đã thay đổi kể từ năm 1288, và họ thấy một trận đánh khác hoàn toàn. “Chúng tôi nhận thức,” Staniforth nói, “các dòng sông này đều quá sâu và quá khó,” cho người Việt Nam để chỉ ngăn chặn chúng hoàn toàn bằng cọc. 

Staniforth và Kimura dùng hình ảnh từ vệ tinh và các bức không ảnh, cùng với nhiều mẫu khoan địa chất trên phạm vi rộng mà trong các lớp địa tầng của chúng có chứng cứ khu vực này đã thay đổi như thế nào theo thời gian. Họ nhận thấy một địa hình khác, biến đổi hơn, địa hình mà đã tạo nhiều cơ hội cho Trần Hưng Đạo để tổ chức phòng thủ và dàn trận cọc một cách chiến lược. “Đó là một loạt các đảo nhỏ mà chìm dưới nước khi thủy triều lên. Có lẽ xưa kia có năm dòng chảy nhưng hiện nay chỉ còn có ba dòng chảy. Hai dòng chảy kia hầu như đã biến mất dưới những đồng ruộng,” Staniforth nói, “Các bãi cọc tồn tại chỉ để dẫn dụ các thuyền vào chỗ trống hẹp hơn mà rồi được bịt kín bằng vật gì khác, có lẽ bằng bè mảng.”

Sử sách ghi hạm đội chở lương thực của Mông Cổ - độ 400 thuyền - đã bị lực lượng Việt Nam đánh bại ở đâu đấy gần thành phố cổ Vân Đồn, mặc dù những nhà khảo cổ vẫn chưa tìm ra địa điểm. Không có lương thực như mong đợi, Thoát Hoan quyết định rút quân ra khỏi Thăng Long. Họ xuống thuyền và đi xuôi dòng sông. Lực lượng Việt Nam đang chờ họ, và lừa hạm đội đang tháo chạy - hoặc khiến họ đi chậm lại hay đi nhanh hơn - để Thoát Hoan chắc chắn phải đến đúng nơi và đúng lúc và bị mắc cạn giữa các bãi cọc khi thủy triều rút.

Các nhà khảo cổ tìm thấy những cọc làm từ ba loại gỗ khác nhau: gỗ đào hoa tâm, gỗ từ các cây chanh, và gỗ thiết mộc. Chúng hiện đều dễ vỡ và đã bị hà ăn hại. Các cọc đều thuộc về những nhóm có ba cỡ khác nhau-độ 5, 13 và 20 phân về đường kính. Những cọc nhỏ nhất trong số các cọc này đúng ra chẳng có ích lợi gì nhiều trong việc ngăn chặn các thuyền Mông Cổ.

“Nếu ta nhìn các bãi nơi họ cắm cọc, ta nhận thức rằng, đúng, một phần mục đích của họ là ngăn chặn thuyền địch,” Staniforth nói. “Nhưng ít nhất một phần mục đích là ngăn cản quân Mông Cổ thoát ra khỏi thuyền để vào đất liền khô ráo.” Người Việt đã chiếm các vị trí trên nhiều đảo ở dòng sông, và rồi củng cố những vị trí này bằng những cọc nhỏ hơn nhằm ngăn cản quân địch trốn thoát không bơi được vào đất liền khô ráo. “Những cái cọc nhỏ này cơ bản chính là hệ thống gây sát thương,” Staniforth nói. “Nếu ta có những cọc nhỏ cắm dày dặc này thì những cọc với đường kính từ tám đến mười phân là trở ngại rất lớn đối với con người.”

Không thoát được bằng đường thủy bởi các cọc lớn, những bãi bồi, bè mảng, và thuyền Việt Nam cũng như bị chôn chân trên thuyền bởi các cọc nhỏ, quân Mông Cổ đành bị tiêu diệt một cách bất ngờ. Từ trong đảo và đất cao bùn lầy an toàn, Trần Hưng Đạo và quân Việt Nam đã phóng ra những bè mảng đã được đốt cháy âm ỉ vào thuyền địch. Các thuyền bị cháy thiêu rụi, và quân Mông Cổ bị tiêu diệt phần lớn. Ô Mã Nhị bị bắt và bị hành hình, còn Thoát Hoan suýt chết, để rồi bị cha mình Hốt Tất Liệt tức giận lưu đày. Hai bên trao đổi tù binh, và mặc dù nhà Trần chấp nhận thần phục triều đại nhà Nguyên, nhưng Trung Quốc sẽ không trở lại Việt Nam cho đến cuộc xâm lăng thành công hơn của triều đại nhà Minh vào đầu thế kỷ thứ mười lăm.

Việc tìm thấy và nghiên cứu kỹ càng các bãi cọc gần cửa sông Bạch Đằng hé lộ một số chiến thuật người Việt đã dùng để đánh bại Mông Cổ, nhưng vẫn có rất nhiều thứ tiềm ẩn ở bên dưới các đồng ruộng và ao hồ. Trong lúc khai quật, Kimura, Staniforth, và các đồng nghiệp của họ đã tìm được những mảnh gỗ phẳng mà có thể là những đồ gỗ đã được chế tạo, cũng như những mảnh gỗ mà chứng tỏ những dấu hiệu chế biến, chẳng hạn như lỗ dây thừng để vận chuyển. Những cái này có thể là những tàn tích rải rác của nhiều thuyền Mông Cổ bị cháy, nhưng cho đến nay các nhà nghiên cứu đã không tìm thấy các vỏ thuyền hay những tàn tích khác của thuyền.

Nhưng họ nghĩ những con thuyền rất có thể ở dưới đấy. “Khi thuyền bị cháy, nó không cháy hoàn toàn,” Delago nói, hiện giờ ông là giám đốc di sản hàng hải ở chương trình Bảo tồn Hàng hải Quốc gia của Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia. “Những phần trên của thuyền bị cháy rất nóng, nhưng thuyền sẽ vỡ ra và chìm. Vỏ thuyền thường thường vẫn còn nguyên vẹn.” Ông tin ở đâu đấy dưới những đồng ruộng, hay có lẽ nằm dưới những nghĩa địa địa phương, mà đa phần bị cấm không được thăm dò khảo cổ.

Công cuộc tìm kiếm những thuyền này vẫn tiếp tục, kể cả tìm dưới nước ở ngay tại sông. Kimura muốn mở rộng nghiên cứu, và hy vọng tìm thấy nhiều bằng chứng về trận đánh về phía Mông Cổ, chẳng hạn như trường hợp các lựu đạn gốm và những di vật khác từ những cuộc xâm lăng Nhật Bản của Mông Cổ. Trong khi họ thực hiện đề án này, các nhà nghiên cứu từ Hoa Kỳ, Úc, và Nhật sẽ làm việc chặc chẽ với các đồng nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng khả năng của Việt Nam cho những đề án khảo cổ lớn hơn, phức tạp hơn, ngay cả khi chính họ cũng đang tìm kiếm nhiều câu trả lời. Viện Khảo Cổ Học của Việt Nam đã thành lập phòng khảo cổ học dưới nước của mình, và Kimura, Staniforth, và những nhà khảo cổ khác tổ chức trường tại chỗ vào mỗi mùa hè để giúp đào tạo những nhà khảo cổ Việt Nam trên những địa điểm ở phía nam sông Bạch Đằng, nơi nước nhìn rõ hơn là ở trong khu vực trận chiến. “Tôi là người tin tưởng chắc chắn vào việc bên ngoài không áp đặt nghị trình nghiên cứu,” Staniforth nói. “Chúng tôi đang đưa đề án này ra thế giới, thay vì đưa đề án đến Việt Nam.”

Lauren Hilgers là ký giả ở Brooklyn, Hoa Kỳ.

Nguồn

Dịch từ tạp chí Mỹ Archaeology số tháng Ba/tháng Tư 2016. Trang 48-53. Tựa đề nguyên tác “Vietnam vs. Kublai Khan”.

Bản tiếng Việt: