Tuesday, July 4, 2017

Anh Thạc sĩ, cái Iphone và nhân quyền

Mẫn Nhi -05-07-2017
(VNTB) Trong cuộc hội thảo về Xã hội dân sự tại Hà Nội vào tháng 6 vừa qua, trong phần thảo luận đã xuất hiện một quan điểm trái chiều của ông Vũ Xuân Thành (Thạc sĩ Quan hệ kinh tế quốc tế), nhằm phản bác lại luận điểm về “dân chủ”, “đa đảng”, và cái “iphone”.

Quan điểm này tiếp tục được ông Vũ Xuân Thành tập hợp lại thành một nội dung bài viết hoàn chỉnh và đăng trên Facebook cá nhân, trước khi được biết đến nhiều hơn trên Tuần báo Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh (cũng do ông gửi).

Tuần báo Văn Nghệ tiếp tục bôi xấu chữ "lý luận - phê bình" bằng cách dễ dãi đăng tải những bài viết kiểu vu vơ, cảm tính như thế này.

Vậy, nội dung bài viết của ông Vũ Xuân Thành trên Tuần báo Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh có gì đáng chú ý?

“Dân chủ”

Một trong những luận điểm mà ông nhấn mạnh trong toàn bài viết là vấn đề đa đảng và dân chủ.

Ông Vũ Xuân Thành giải thích nó như sau: Dân chủ thật sự không chỉ đơn thuần cái tên gọi, mà nó cần dựa trên hai nền tảng chính là Văn hóa và Dân trí. Nếu hai yếu tố này không phù hợp với mô hình dân chủ hiện hành, dân chủ chỉ là hình thức.

Điều này ông Thành đề cập rất đúng, bởi yếu tố dân trí và văn hóa là một trong những yếu tố cấu thành của dân chủ, và nó cũng hình thành nên một lối phản biện, một lối tự do ngôn luận có tính lý luận và khoa học, hoặc thậm chí cảm tính nhưng không quá cực đoan.

Đáng tiếc, giá như ông Vũ Xuân Thành dừng lại ở đây thì bài viết của ông đã được đánh giá cao. Tuy nhiên, sau đó ông lại nhấn mạnh rằng: Dân chủ chi tiết hơn là người dân có quyền được sống được hưởng mọi an sinh xã hội, được pháp luật bảo vệ, được nói lên tiếng nói của mình trong các diễn đàn hợp pháp chứ không phải là biểu tình trái phép với những băng rôn khẩu hiệu chửi bới chống đối Nhà nước.

Dân có quyền được sống, được pháp luật bảo vệ là đúng. Nhưng sẽ thiếu nếu bỏ quên thành tố là người dân được phép “làm những gì mà pháp luật không cấm” – tức là thực hành lối sống pháp lý thường ngày. Khi người dân lên tiếng nói của họ, tiến hành các cuộc biểu tình thì đó là quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận được ghi nhận trong Điều 25 Hiến Pháp của Nhà nước. Hiện nay, quyền biểu tình chỉ bị hạn chế trong các trường hợp vì an ninh – quốc phòng và vấn đề mang tính chất cộng đồng, tuy nhiên, hiện nay Luật biểu tình vẫn bị treo nên việc xác định yếu tố “hạn chế” là khó khăn. Dù thế, trong trường hợp vận dụng luật, thì sẽ vận dụng luật theo hướng đáp ứng các yêu cầu và chuẩn mực mà Việt Nam cam kết với quốc tế về quyền con người. Tuy nhiên, trong thực tế - gần như bất cứ cuộc biểu tình nào không do nhà nước tổ chức đều bị quy kết là “chống đối nhà nước”, mặc dù nó phản đối thảm họa Môi trương Formosa; lên tiếng đòi hỏi sự minh bạch của nhà nước; lên tiếng đòi hỏi trách nhiệm – giải trình chính sách từ chính phủ.

Do đó, không có định nghĩa gì về cái gọi là “trái phép” ở đây, bởi nếu ông Vũ Xuân Thành hay bất kỳ ai sử dụng cụm từ đó, đều có nghĩa là vi hiến và phi dân chủ.

Chưa dừng tại đó, Việt Nam sở dĩ càng không có dân chủ, chính là Việt Nam đã không thực hiện đúng các ký kết về Công ước liên quan đến Nhân quyền. Trong đó các Điều khoản được ghi nhận trong Điều 25 Hiến pháp, hoặc bị treo hoặc bị làm sai lệch. Quyền tự do báo chí, xuất bản hiện nay không có liên quan đến sự công nhận các tổ chức báo chí tư nhân; quyền tự do hội họp bị hạn chế khi các tổ chức xã hội dân sự độc lập ra đời và bị nhà nước coi là “phản động”; quyền tự do ngôn luận trở thành một hiểm họa đối với những cá nhân, tổ chức lên tiếng phê phán các chủ trương – chính sách của nhà nước, mà một trong số đó là hàng loạt những “nhà bất đồng chính kiến” bị bắt giam và kết án liên quan đến thảm họa môi trường Formosa gần đây; quyền tự ứng cử được thể hiện rõ vào năm 2016 – khi hàng loạt ứng viên độc lập bị sách nhiễu, đấu tố và đánh rớt; quyền bầu cử bao năm qua bị đánh đồng trở thành “nghĩa vụ” và buộc phải bầu cho những nhân vật đã được lên danh sách sẵn. Chưa kể hàng tá điều luật mơ hồ liên quan đến “an ninh quốc gia” được ghi nhận trong Bộ luật hình sự 2015; việc treo Luật biểu tình và Luật về Hội,…

Câu hỏi đặt ra là: Nhà nước lấy quyền gì hạn chế và cấm khi những quyền của con người trên được ghi nhận trong Hiến Pháp? Bản thân, chính ông Cựu Chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng cũng từng phản ứng rằng: Hiến pháp nói về quyền tự do và chỉ hạn chế bằng luật, thế thì bây giờ các đồng chí định hạn chế cái gì, cấm cái gì phải đưa vào đây chứ để nghị định là không được đâu.

Và những thứ được liệt kê nêu trên thể hiện bản chất thực tế của sự thiếu dân chủ, chứ không phải là việc chỉ thông qua một “hội thảo” mà có thể nhận định rằng: Việt Nam Dân chủ. Điều này là khá ngô nghê về nhận thức và hời hệch về mặt lý luận.

Ông Vũ Xuân Thành lại “lý luận” tiếp: các vị muốn lấy Dân chủ nhân quyền kiểu Mỹ để áp dụng tại Việt Nam, trong khi bản thân nước Mỹ, dân chủ chưa được đảm bảo khi người da đen ngày ngày bị phân biệt đối xử, người châu Á bị kỳ thị, tù nhân bị đánh đập quay video làm trò?

Thực ra, dân chủ của Mỹ chưa thực sự hoàn hảo, và ngay cả tổ chức Liên minh xã hội dân sự cũng đánh giá, mô hình chính trị Mỹ có nhiều khuyết điểm. Bản thân người viết cũng nhấn mạnh, dân chủ kiểu Mỹ không hoàn hảo, thậm chí có nhiều khuyết tật. Tuy nhiên, quyền lực nhà nước của Mỹ đã bị phân tán và thực sự bị kiểm soát bởi người dân. Chính vì yếu tố này đã khiến cho Tổng thống Donald Trump không thể tiến hành (hay ban hành) có điều luật theo ý của của ông ta (bao gồm cả lệnh cấm nhập cảnh từ 6 nước) mà ngược lại, ông bị buộc phải lắng nghe mọi ý nguyện người dân (bao hàm cả nhóm người thiểu số). Nước Mỹ vươn lên hàng siêu cường nhờ vào tính chất dân chủ kiểu Mỹ như vậy chứ không phải dân chủ chia đều “nợ công” của Việt Nam. Điều quan trọng, là một “thể chế dân chủ” khá hơn đến giờ vẫn chưa xuất hiện. Và có bao giờ ông Vũ Xuân Thành trả lời được câu hỏi, một chế độ dân chủ kiểu Mỹ dù giàu có và khống chế chính trị thế giới như thế còn chưa là hoàn hảo, thì một chế độ độc tài quyền lực và kém về điều hành kinh tế làm sao “khá” hơn cho được? Cụ thể, Việt Nam – một đất nước bao nhiêu năm “đang phát triển” và là nơi quan chức tích tụ của công (như cách quan chức Yên Bái làm) chẳng phải là một ví dụ điển hình hay sao?

Việc người da đen bị phân biệt đối xử là có, nhưng hãy nhìn xem tiến trình mà người Mỹ từ khi lập quốc cho đến nay. Khi mà người da đen bị tước quyền bỏ phiếu, phải đi vào một hàng lối riêng,… cho đến khi họ được phép đi bầu và có một vị Tổng thống người da đen. Đó là cách xác lập nhân quyền của Mỹ, chứ không phải khư khư ôm giữ lấy một thứ “nhân quyền giả hiệu”, trong đó quyền được đi bầu và ứng cử bị vùi dập như Việt Nam hiện nay. Nhân quyền kiểu Mỹ không tuyệt đối đến mức khiến chính phủ Mỹ không vi phạm nhân quyền, vấn đề nằm ở sự loại trừ các trường hợp vi phạm nhân quyền, và sự vi phạm (ở đây đề cập đến quyền công dân trong nước) khác Việt Nam là không hề có sự chủ ý của hệ thống và không hề diễn ra liên tục thường xuyên như Việt Nam.

Mẹ Nấm và phiên tòa bị tước đoạt quyền con người là một minh chứng. Tại Mỹ, người chỉ trích chính quyền không đối mặt với án tù “an ninh quốc gia”, trong khi Việt Nam thì ngược lại; tại Mỹ bất đồng chính kiến dù bị truy tố nhưng anh vẫn có đầy đủ quyền trước pháp luật và được tuyên trắng án – trong khi Việt Nam hoàn toàn không có chuyện như vậy (vai trò luật sư, viện kiểm soát, tòa án về mặt độc lập quyền lực với chính đảng không có).

Và có một ý mà ông Vũ Xuân Thành (người tự nhận là có hàng thập niên sống ở Mỹ và châu Âu) bỏ quên không nhắc lại là ông lên tiếng phản ứng sự thất bại của bà Hill Clinton dù số phiếu phổ thông cao hơn, nhưng ông lại không hiểu bản chất quyết định và giám sát quyền lực thông qua hệ thống bầu cử “Đại cử tri đoàn”. Và đây chính là yếu tố đặc sắc nhất của một nền dân chủ, nhân quyền liên quan đến tôn trọng về mặt luật pháp ghi nhận của Mỹ.

Dân chủ, phải hiểu cách thức người dân có quyền giám sát, tác động đến quyền lực thông qua biểu hiện giản đơn nhất là bầu những người lãnh đạo, từ địa phương đến trung ương. Chứ không phải là lên danh sách sẵn và đang tìm kiếm cách “nhốt quyền lực vào cơ chế” như hiện nay.

Và “Đa đảng”

Đa đảng là một trong những hình thức của dân chủ, là bước đi hình thức của sự đa nguyên. Anh Vũ Xuân Thành dựa vào cái gọi là “địa chính trị, phát triển xã hội, trình độ dân trí, văn hóa” để tham khảo trước khi tiến hành đa đảng, đa nguyên ở Việt Nam là điều không sai. Cái sai của ông là hiểu nó quá “thô”, khi nhấn mạnh do Việt Nam “xã hội đa dân tộc, đa tôn giáo, dễ phát sinh mâu thuẫn tôn giáo và sắc tộc” nên nếu đa đảng sẽ dẫn đến sự phức tạp (được hiểu là loạn). Người viết tự hỏi một đất nước đa sắc tộc, tôn giáo như Mỹ sẽ là gì nếu không phải là thứ mà anh Vũ Xuân Thành nêu ra? “Hợp chủng quốc” đã cho thấy tính chất đa dạng văn hóa, sắc tộc, vùng miền lẫn trình độ chính trị của người dân, thậm chí với 200 triệu dân (gấp đôi Việt Nam) thì theo “lý luận của ông Vũ Xuân Thành” nó sẽ càng phức tạp hơn chứ? Vậy mà Mỹ đã điều tiết tốt, nó chứng tỏ cái gọi là “đa đảng” sẽ loạn vì những yếu tố nêu trên là hời hợt và mang tính ngụy biện. Úc cũng vậy, Úc cũng là một nước đa văn hóa, đa sắc tộc, đa tôn giáo và là nơi mà năm 2011, đã đón nhận hẳn 1,3 triệu di dân – vậy mà Úc vẫn phát triển, vẫn điều tiết tốt trong điều kiện đa đảng đấy thôi?

Thứ hai, ông Vũ Xuân Thành lo ngại “dân trí chưa cao”, giả sử như đúng thật, thì đây cũng chính là lý do vì sao cần phải đẩy mạnh nhân quyền, trong đó có quyền lập hội – ngôn luận – báo chí-xuất bản,… khi người dân được tiếp cận rỗng rãi nhất thì thực hành nhân quyền cũng sẽ khiến dân trí tăng cao. Không nói đâu xa, việc người dân nắm được Thông tư 65 và các văn bản luật liên quan khi bị bắt trên đường đã là một biểu hiện sống động liên quan đến dân trí và ý thức quyền con người của mình.

Do đó, sự lo ngại về dân trí hay hệ quả của “đa đảng” là một thứ cảm tính, vốn dĩ không nên có ở một người thạc sĩ về quan hệ quốc tế.

Điều tiếp theo, anh Vũ Xuân Thành dẫn ra một số nước có “điều kiện lịch sử tương tự Việt Nam” như Pakistan, Bangladesh, Sri Lanca, Bolivia, Peru nhưng theo đường “đa đảng” và đều bất ổn. Để đi đến kết luận ra, “đa đảng không có nghĩa là dân chủ, thịnh vương”.

Thực ra, “đa đảng” không có nghĩa là dân chủ, thịnh vượng; nhưng không có “đa đảng” thì không thể nào có dân chủ, thịnh vượng. Anh Vũ Xuân Thành nhìn sang 5 nước đa đảng mà bỏ quên hàng trăm nước đa đảng còn lại; anh nhìn sang Pakistan mà quên không nhìn Ấn Độ; nhìn Baladesh mà không nhìn Đài Loan; nhìn ScriLanca mà quên không nhìn Singapore;… Và đây là biểu hiện của dân chủ giả hiệu/ dân chủ hình thức mà anh Vũ Xuân Thành từng nhắc đến. 

Và dường như cách thức “phản biện” của anh Vũ Xuân Thành luôn là cách đem những điểm xấu nhất của một số nước theo lối “đa đảng, dân chủ” ra để chứng minh.

Kinh tế: thiếu bền vững

Anh Vũ Xuân Thành cho rằng, theo World bank, kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng mạnh, và kể từ năm 1990, Việt Nam là một trong những nước có mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người nhanh nhất thế giới, trung bình 6.4%/năm trong những năm 2000.

Thú thật, người viết khuyến nghị anh nên tập trung nghe nhiều hơn, đọc nhiều hơn các báo cáo liên quan đến tình hình kinh tế Việt Nam. Mà trong đó, tài liệu đáng chú ý nhất giúp anh có thể “phản biện” tốt hơn là báo cáo “Việt Nam: 2035”.

Bởi theo các chuyên gia hiện nay, Việt Nam tăng trưởng thiếu bền vững, mức tăng trưởng 6.4% của thập niên 2000 là hoàn toàn dựa vào nguồn nhân công giá rẻ; nguồn tài nguyên dồi dào và nguồn vốn ngân sách nhà nước. Và có lẽ, anh nên hiểu vì sao ĐCSVN đưa ra Nghị quyết Hội nghị T.Ư 5 về phát triển kinh tế tư nhân. Tức là các yếu tố trên đã không còn hoặc đã “giảm”, khiến tăng trưởng bị kéo lùi lại.

Anh Vũ Xuân Thành tham gia đầy đủ các buổi của Hội thảo Xã hội dân sự thường niên II, nhưng anh lại không chú ý đến phần trình bày của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, trong đó bà cho biết: Trong đánh giá 10 năm của Intel tại Việt Nam, Việt Nam chỉ tạo 3% giá trị gia tăng. Một số liệu đáng chú ý nữa, quy mô GDP/dân số theo phấn đấu đến năm 2035 mà Việt Nam sẽ đạt được là 0.8% - tương ứng với quy mô kinh tế năm 1820 (cuối đời Gia Long, đầu đời Minh Mạng) [1].

Nếu để ý hoặc thực tâm “hứng thú với hội thảo này, vì bản thân vốn là người quan tâm đến chính trị” như cách anh bày tỏ, thì anh đã không dẫn chứng số liệu bề nổi của nền kinh tế Việt Nam như vậy.

Ngay cả về “tính ưu việt của KTTT định hướng XHCN”, anh không hề dẫn chứng ra một số liệu nào rõ rệt, mà chỉ vu vơ là có “sự ghi nhận khách quan của cộng đồng quốc tế” và những câu nhận định vô thưởng, vô phạt. Người viết đang tự hỏi là “ghi nhận khách quan” nào từ cộng đồng quốc tế mà hai thị trường lớn nhất, đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam là EU và Mỹ đến nay vẫn chưa “công nhận tính thị trường” của nền kinh tế Việt Nam?

“Dư luận viên” và Iphone

Trong buổi hội thảo, anh Vũ Xuân Thành bào chữa mình không phải là một “dư luận viên 3 củ”, nhưng cách anh trình bày đã khiến người đọc buồn cười về cả sự tự cao đối nghịch với nhận định của anh.

Cái anh cho là người tham gia hội thảo “hiểu biết nông cạn” thực ra nó gán đúng với cách anh trình bày quan điểm của mình. Cái anh gọi là “phân tích” để đi đến kết luận hội thảo là “dối trá và lừa mỵ” thực chất là mớ nhận định mang tính hờ hợp, quy kết và chụp mũ. Anh nhận định cái hiện tượng mà hoàn toàn bỏ quên bản chất nhân quyền và dân chủ ở các nước đa đảng, và ở Việt Nam (như cách người viết bày tỏ phía trên). Nguy hiểm nhất là anh tự cao, sự tự cao về một người “được sống ở châu Âu và Mỹ cả thập kỷ” để phán xét vấn đề, giả như có đi chăng nữa thì tôi tiếc cho thời gian đó anh không chịu đi thư viện thường xuyên để tìm hiểu về hệ thống “cử tri đoàn” của Mỹ.

Điều buồn cười không dừng tại đó, mà nối tiếp ở việc, anh không hiểu một nguyên lý giản đơn nhất là, cũng giống như Iphone (là một sản phẩm mang tính toàn cầu, được tổng hợp từ các yếu tố sáng chế) và được người dùng tiếp nhận, thì nhân quyền (dân chủ) cũng có tính giá trị và phổ quát như vậy. Tại Mỹ, tam quyền phân lập đã chứng minh hiệu quả tốt nhất qua việc đình chỉ các sắc lệnh của Tổng thống; đảm bảo tính tự vệ (dùng súng) của người dân; đảm bảo quyền tự do báo chí và ngôn luận; đảm bảo tính chất quyền lực giữa chính phủ và liên bang, và là nơi quyền lực bị đa số kiểm soát. Và nó được hiện thực vào thực tế chứ không phải là nằm trên…. giấy.

Nhân quyền phổ quát, giá trị sống còn nên nhiều nơi tiếp nhận qua việc ký kết các công ước nhân quyền. Và Việt Nam cũng sẽ không tách ra khỏi điều đó.


Điều cuối cùng là liên quan đến cái tâm và tầm của ban biên tập Tuần báo Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh, khi  tiếp tục bôi xấu (hạ thấp) chữ "lý luận - phê bình" bằng cách dễ dãi đăng tải những bài viết kiểu vu vơ, cảm tính như thế này.

Hàng loạt ngân hàng ngoại muốn rút vốn khỏi Việt Nam, trùng hợp hay xu hướng?

Theo Bizlive-04-07-2017

Hàng loạt ngân hàng ngoại muốn rút vốn khỏi Việt Nam, trùng hợp hay xu hướng?

Trong thời gian gần đây, khá nhiều ngân hàng lớn trên thế giới đang hoạt động tại Việt Nam đã có động thái thu hẹp hoạt động, hoặc rút vốn khỏi một ngân hàng nội. Vậy, chuyện gì đang xảy ra với hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam?


Hàng loạt ngân hàng ngoại muốn thu hẹp hoạt động, rút vốn
Mới đây, Ngân hàng TMCP Quốc tế ( VIB ) vừa công bố nhận chuyển giao toàn bộ hoạt động của Ngân hàng Commonwealth Bank of Australia (CBA) Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh. Toàn bộ cuộc chuyển giao dự kiến sẽ được hoàn tất trong quý III năm nay.
Được biết, CBA Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh bắt đầu hoạt động vào năm 2008. Hai năm sau, ngân hàng mẹ CBA đã đầu tư vào VIB với phần vốn góp 15% và sau đó nâng tỷ lệ lên 20%. Hiện CBA là nhà đầu tư chiến lược và cổ đông lớn nhất của VIB. Ngân hàng đến từ Úc cũng đang giữ 2 ghế trong HĐQT và 1 ghế trong BKS của VIB.
Như vậy, sau gần chục năm hoạt động tại thị trường Việt Nam, CBA đã bắt đầu có động thái chuyển giao. Theo một số chuyên gia, về bản chất, đây là sự thu hẹp hoạt động tại Việt Nam của ngân hàng.
Dù không diễn ra rầm rộ nhưng có thể thấy, trong thời gian gần đây, khá nhiều ngân hàng lớn trên thế giới đang hoạt động tại Việt Nam cũng đang có những động thái tương tự.
Hồi giữa tháng 6 vừa qua, trên trang web chính thức, Techcombank đã có thông báo về việc xin ý kiến cổ đông thông qua đề xuất mua lại 19,41% vốn mà HSBC nắm giữ sau 12 năm gắn bó.
Với mức giá mua đề xuất không thấp hơn 23.455 đồng/cổ phần, ước tính giá trị thương vụ sẽ lên đến hơn 4 nghìn tỷ đồng.
Việc thoái vốn của HSBC được dự báo sẽ gây áp lực cho Techcombank tìm đối tác có đủ tiềm năng để bán lại số cổ phần này, cũng như khiến ngân hàng phải hoãn kế hoạch tăng vốn điều lệ từ mức 8.878 tỷ đồng lên mức 14.000 tỷ đồng trong năm 2017.
Trước đó hai tháng, ngân hàng ANZ Việt Nam ra thông cáo cho biết đã bán toàn bộ mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam cho một đối tác nước ngoài là ngân hàng Shinhan Việt Nam.
Thỏa thuận với ngân hàng Shinhan Việt Nam bao gồm chuyển giao 8 chi nhánh và phòng giao dịch của ANZ Việt nam tại Hà Nội và Tp.HCM, cũng như nhân viên khối dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
Phụ thuộc vào sự chấp thuận của các cơ quan có thẩm quyền, ANZ dự kiến cuộc chuyển giao mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ cho ngân hàng Shinhan Việt Nam sẽ được hoàn tất vào cuối năm 2017.
Trước đó, hồi cuối tháng 3/2016, “ông lớn” Standard Chartered cũng đã gây xôn xao thị trường khi bất ngờ rút hai đại diện của mình khỏi ACB. Và tại ĐHĐCĐ thường niên ACB năm 2017 tổ chức hồi tháng 4 mới đây, phía Standard Chartered cũng đã xác nhận kế hoạch thoái vốn đang trong tiến trình thảo luận. Theo quy định, nhà đầu tư tổ chức là nước ngoài muốn rút ra khỏi ngân hàng Việt Nam thì phải rút khỏi HĐQT 18 tháng trước ngày chuyển nhượng cổ phần.
Vì sao?
Việc hàng loạt các “ông lớn” trong ngành tài chính thế giới muốn rút vốn khỏi ngân hàng Việt sau một thời gian hợp tác chỉ là do sự thay đổi về chiến lược kinh doanh hay là một điềm báo gì khác về môi trường kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam?
Trao đổi với phóng viên BizLIVE, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, đây là một xu hướng đáng lo ngại, cho thấy thị trường tài chính Việt Nam tiềm ẩn nhiều rủi ro và không mang lại lợi nhuận kỳ vọng cho các nhà đầu tư ngoại.
“Ngược với một số chuyên gia nhận định đây là một trường hợp riêng lẻ, tôi cho rằng đây là một động thái mang tính chất xu hướng. Và việc ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là ngân hàng phương Tây dần dần rút khỏi Việt Nam là một xu hướng đáng lo ngại”, ông Hiếu nói.
“Ngành ngân hàng Việt Nam trước đây từng là một địa chỉ hấp dẫn. Cách đây hơn 20 năm khi tôi mới về Việt Nam, có một làn sóng ngân hàng nước ngoài đổ về Việt Nam hoạt động dưới hình thức các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các văn phòng đại diện, sau đó thì có các ngân hàng 100% vốn nước ngoài được mở. Nhưng khoảng hơn 5 năm trở lại đây đã có hiện tượng ngân hàng nước ngoài dần dần rút vốn đầu tư khỏi các ngân hàng trong nước, nhường lại cổ phần cho nhà đầu tư trong nước hoặc các ngân hàng châu Á từ Hàn quốc, Singapore, Nhật Bản. Có lẽ các ngân hàng phương Tây đang dần thấy hoạt động kinh doanh ngân hàng Việt Nam có quá nhiều rủi ro và không tạo lợi nhuận trong khi có rất nhiều thị trường béo bở khác thu hút dòng vốn của họ”, chuyên gia nhận định.
Theo nhận định của TS. Hiếu, một loạt các vấn đề như tỷ lệ nợ xấu lớn, quả trị rủi ro nhiều thiếu sót trong khi quản trị doanh nghiệp còn hạn chế là những nguyên nhân chính làm giảm tính hấp dẫn của các ngân hàng Việt.
“Đối với các ngân hàng ngoại, quy trình quản trị doanh nghiệp như thế nào rất quan trọng. Họ đã quen với việc quản trị theo chuẩn mực quốc tế trong khi ngân hàng Việt lại thường điều hành theo kiểu “gia đình”, được điều hành bởi những cổ đông lớn. Tôi cho rằng, xu hướng này có lẽ sẽ còn tiếp tục trong những năm tới cho tới khi nào vấn đề xử lý nợ xấu có những điều kiện tích cực, quản trị rủi ro, quản trị doanh nghiệp được cải thiện”, ông Hiếu nói.

Trần Thúy

Truy tố 14 cựu cán bộ giao đất sai ở Đồng Tâm

Theo Zing.vn- 04-07-2017
14 người trong đó có lãnh đạo xã Đồng Tâm và một số phòng chuyên môn huyện Mỹ Đức sẽ bị đưa ra xét xử trong tháng 7.

VKSND huyện Mỹ Đức (Hà Nội) vừa ra cáo trạng truy tố 14 bị can là cán bộ địa phương liên quan đến sai phạm đất đai xảy ra tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

Nguồn tin từ cơ quan tố tụng cho biết, các bị can bị truy tố đều là cán bộ, lãnh đạo xã Đồng Tâm và một số phòng, ban chuyên môn của huyện Mỹ Đức. Họ bị truy tố về các tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ và Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Truy to 14 cuu can bo giao dat sai o Dong Tam hinh anh 1
 Người dân Đồng Tâm căng băng rôn khẩu hiệu trên đất đồng Sênh, khu vực người dân địa phương cho rằng bị chuyển nhượng trái phép. Ảnh: Công Khanh.
Theo nội dung vụ, từ năm 2002 đến 2013, một số cán bộ, lãnh đạo xã Đồng Tâm vì động cơ vụ lợi đã thực hiện việc cấp, giao đất trái thẩm quyền, hợp thức đất lấn chiếm cho một số hộ dân trái quy định.
Cán bộ Văn phòng đăng ký đất đai huyện Mỹ Đức, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mỹ Đức bị cáo buộc không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao, thiếu trách nhiệm trong việc thẩm định, thẩm tra nguồn gốc đất dẫn đến việc ký xác nhận không có căn cứ.
Tùng Lâm
Ngày 15/4, Công an Hà Nội đã thực hiện lệnh bắt 4 người xã Đồng Tâm về hành vi chống người thi hành công vụ. Nơi đây trở thành "điểm nóng" khi người dân địa phương bao vây lực lượng làm nhiệm vụ, bắt giữ 38 cán bộ, chiến sĩ đưa về nhà văn hóa thôn Hoành.
Đến 18/4, 15 chiến sĩ CSCĐ đã được bàn giao cho chính quyền, 3 người tự giải cứu. Ngày 21/4, người dân Đồng Tâm trả tự do ông Đặng Văn Cảnh, Trưởng ban Tuyên giáo huyện Mỹ Đức.
Hôm sau, Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã về xã Đồng Tâm đối thoại, cam kết không truy cứu trách nhiệm hình sự người dân xã Đồng Tâm về vụ việc hôm 15/4. Sau đó, 19 cán bộ, chiến sĩ bị giữ tại nhà văn hóa thôn Hòanh đã được thả.
Ngày 13/6, Công an TP Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án bắt giữ người trái pháp luật, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản để điều tra vụ việc xảy ra tại xã Đồng Tâm.

Monday, July 3, 2017

Trung Quốc ‘gần hoàn tất’ các căn cứ quân sự tại Trường Sa

Ngô Đồng 
Theo VOA-03/07/2017
Trong một cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Đồng Nai.
Trong một cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Đồng Nai.
Không ảnh mới chụp giữa Tháng 6-2017 cho thấy các cơ sở và tòa nhà quân sự của Trung Quốc tại các đảo nhân tạo khổng lồ họ bồi đắp tại quần đảo Trường Sa gần hoàn tất.
Một mặt, Bắc Kinh nói khu vực Biển Đông hoàn toàn hòa bình yên tĩnh, đả kích các “thế lực ngoài khu vực” cố tình kích động cho nổi sóng. Mặc khác, những gì họ đang ráo riết tiến hành, biến những bãi san hô thành những căn cứ quân sự tối tân, khống chế cả khu vực thì không ngừng nghỉ một giây.
Theo một bản tường trình cuối Tháng Sáu của bộ phận Sáng kiến Minh Bạch Hàng Hải Á Châu (AMTI) thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (CSIS) tại Hoa Thịnh Đốn, cứ cách ít ngày là người ta lại thấy có thêm những cơ sở mới được hoàn tất và các trang bị quân sự sẵn sàng sử dụng.
Nhà chứa hỏa tiễn, các cơ sở truyền tin, viễn thông, radar và các cơ sở hạ tầng trên ba đảo nhân tạo Đá Chữ Thập, Vành Khăn và Su Bi nhìn thấy qua các tấm không ảnh cho người ta thấy rằng trong khi các cuộc đàm phán cho một Bộ Quy Tắc Ứng Xử đang diễn ra, Trung Quốc vẫn nhất định phát triển các căn cứ quân sự tại Trường Sa, nhằm kiểm soát toàn bộ khu vực.
Theo AMTI, đảo Chữ Thập tiếp tục là căn cứ quy mô và tân tiến nhất của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa. Tháng Hai vừa qua, AMTI đã thấy 8 nhà chứa được kiên cố hóa với mái che kéo dài ra, co lại được ở cả ba đảo nói trên mà người ta tin sẽ là các vị trí đặt các giàn hỏa tiễn. Trong vòng ba tháng trở lại đây, Trung Quốc làm thêm 4 nhà chứa như vậy trên đảo Chữ Thập nhưng chưa thấy tại các đảo Vành Khăn và Su Bi.
Tại đảo Vành Khăn, Trung Quốc đã tạo dựng được một mạng lưới viễn thông và radar rất lớn. Một hệ thống an-ten rất lớn thấy xuất hiện góc phía nam của đảo. Người ta tin rằng nó giúp họ nâng cao khả năng theo dõi các hoạt động ở khu vực. Khả năng này đặc biệt đáng để chính phủ Manila quan tâm vì đảo nhân tạo Vành Khăn tương đối gần với các khu vực Palawan, Reed Bank và Second Thomas Shoal.
Thêm nữa, một vòm radar lớn mới đây thấy được thiết trí trên một tòa nhà ở mặt phía nam của đảo Chữ Thập, chứng tỏ đây là một hệ thống radar hay viễn thông tầm cỡ lớn. Một tòa nhà tương tự cũng đang được xây dựng mặt phía bắc của đảo Chữ Thập trong khi hai tòa nhà khác tương tự ở đảo Vành Khăn.
Một vòm radar nhỏ hơn được dựng trên một tháp gần nhà chứa hỏa tiễn cho hiểu là nó có thể kết nối với các radar của các hệ thống hỏa tiễn được bố trí tại đó.
Cuối cùng, hoạt động xây dựng đang tiến hành các cấu trúc ngầm dưới lòng đảo, mỗi đảo có 4 cấu trúc, có vẻ như chúng được dùng làm kho đạn hoặc cất giữ những thứ thiết yếu. Các cấu trúc lớn chôn ngầm dưới lòng đảo được cho là các nơi trữ nước ngọt và nhiên liệu, theo một bản tường trình gần đây của Ngũ Giác Đài.
Hồi Tháng Ba 2017, AMTI từng báo động, các hoạt động xây dựng các cơ sở , các giàn radar, hệ thống viễn thông, phi đạo tại ba đảo nhân tạo Chữ Thập, Vành Khăn và Su Bi coi như hoàn tất. Họ có thể điều động máy bay, hỏa tiễn, và các trang bị viễn thông, các loại võ khí đến đây bất cứ lúc nào.
Tháng 5-2014, vào lúc dư luận thế giới chú ý vào cuộc đối đầu trên biển giữa Việt Nam với Trung Quốc khi Trung Quốc đưa giàn khoan nước sâu Hải Dương HD-981 tới khoan tìm dầu khí ở phía nam quần đảo Hoàng Sa, trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc đã được các tàu nạo hút cá đá lòng biển, bồi đắp một loạt 7 bãi đá ngầm ở quần đảo Trường Sa thành 7 đảo nhân tạo khổng lồ.
Việt Nam thế yếu nước nhỏ, chỉ đưa ra các lời tuyên bố chủ quyền suông trong khi Bắc Kinh tiến hành kế hoạch khống chế toàn bộ khu vực Biển Đông từ các căn cứ tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Phi Luật Tân kiện Trung Quốc ra Tòa án Trọng Tài Quốc Tế và phán quyết của Tòa hồi Tháng 7 năm ngoái phủ nhận tuyên bố chủ quyền “Lưỡi Bò” của Trung Quốc trên Biển Đông.
Trung Quốc tuyên bố không công nhận phán quyết dù cũng là một trong những nước ký vào Bản Công Ước Quốc Tế về Luật Biển (UNCLOS) như Việt Nam và Phi Luật Tân.
Với phi đạo tại cả Hoàng Sa và Trường Sa, các phi cơ chiến đấu, cảnh báo sớm và tuần thám của Trung Quốc có thể hoạt đồng gần như bao trùm cả Biển Đông. Các hệ thống radar và các hệ thống cảnh báo sớm đặt tại các đảo nhân tạo ở Trường Sa và ở quần đảo Hoàng Sa cũng có khả năng tương tự.
Năm ngoái, người ta đã thấy Trung Quốc bố trí hai đơn vị hỏa tiễn phòng không tầm xa HQ-9 trên đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa. Người ta tin rằng chúng cũng sẽ được đưa tới bố trí trên các đảo nhân tạo tại Trường Sa.

Biển Bình Thuận đang bị đầu độc như thế nào?

Lê Anh Hùng 
Theo VOA-03/07/2017
Bộ Tài nguyên - Môi trường chấp thuận cho Điện lực Vĩnh Tân 1 nhận chìm gần 1 triệu m3 bùn thải ra vùng biển Bình Thuận.
Bộ Tài nguyên - Môi trường chấp thuận cho Điện lực Vĩnh Tân 1 nhận chìm gần 1 triệu m3 bùn thải ra vùng biển Bình Thuận.
Ngày 28/6 vừa qua, truyền thông nhà nước đưa tin, Bộ Tài nguyên - Môi trường đã chấp thuận cho Công ty TNHH Điện lực Vĩnh Tân 1 nhận chìm gần 1 triệu m3 bùn thải ra vùng biển thuộc xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Đây là khối lượng bùn, cát sau nạo vét vũng quay tàu và khu bến chuyên dùng, phục vụ cho việc xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1.
Sự kiện một khối lượng bùn thải khổng lồ sắp được xả ra tại một địa điểm cách không xa khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Cau (một trong 16 khu bảo tồn biển trên cả nước) đã gây xôn xao dư luận, đặc biệt là trong bối cảnh khu bảo tồn này đã phải lên tiếng kêu cứu vì tình trạng ô nhiễm do các nhà máy điện thuộc Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân gây ra suốt mấy năm nay.
Lý do Cty Điện lực Vĩnh Tân 1 đưa ra để được cấp phép xả đổ chất thải trên biển rất dễ được “thông cảm”. Tờ Pháp luật TP HCM ngày 3/11/2016 cho biết: “Theo hồ sơ xin phép Bộ TN&MT của công ty này thì khối lượng nạo vét đổ thải lớn. Nếu đổ thải, lưu giữ, xử lý trên đất liền thì phải có diện tích lớn nhưng địa hình tại huyện Tuy Phong phức tạp, không có mặt bằng để thực hiện.”
Quả vậy, Vĩnh Tân và khu vực xung quanh là một vùng đất chật hẹp: một bên là núi, một bên là biển, ở giữa là một dải đất hẹp, với địa hình phức tạp. Đây là khu vực vừa cách xa nguồn cung cấp than, vừa cách xa các trung tâm tiêu thụ điện năng, lại rất nhạy cảm về môi trường, với một khu bảo tồn biển chỉ cách đất liền vài km.
Vì thế, thật khó hiểu khi người ta lại cho xây dựng ở đây một trung tâm nhiệt điện khổng lồ, quy mô lớn nhất cả nước, với 5 nhà máy nhiệt điện than: Vĩnh Tân 1, Vĩnh Tân 2, Vĩnh Tân 3, Vĩnh Tân 4 và Vĩnh Tân 4 mở rộng. (Để hình thành mặt bằng trung tâm nhiệt điện người ta phải tiến hành san lấp hàng trăm ha mặt biển. Bãi xỉ của Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 rộng hơn 60ha, với chiều cao thiết kế 27m. Tuy nhiên, mới sau hơn 2 năm hoạt động, nó đạt đạt độ cao 12m.)
Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 đã hoàn thành và đi vào hoạt động từ ngày 9/9/2014. Cả hai tổ máy của Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 đều đã thực hiện đốt than lần đầu thành công, dự kiến sẽ lần lượt đi vào hoạt động từ quý IV năm 2017 và quý II năm 2018. Ba nhà máy còn lại đều đang trong quá trình thi công.
Mới một trong tổng số năm nhà máy chính thức đi vào hoạt động mà hàng loạt vấn đề về môi trường đã xẩy ra xunh quanh trung tâm nhiệt điện này.
Mặc dù ra đời sau Khu Bảo tồn biển Hòn Cau nhưng các dự án của Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân vẫn được phép chồng lấn lên khu bảo tồn thiên nhiên này đến hơn 1.000ha. Điều này cho thấy là ngay từ đầu, vấn đề môi trường ở đây đã bị đặt xuống hàng thứ yếu. Ông Nguyễn Hữu Quý, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Bình Thuận, nhận định: “Chịu tác động ô nhiễm từ các nhà máy nhiệt điện ở Vĩnh Tân, các khu dự án khác, Khu bảo tồn biển Hòn Cau bị xóa sổ chỉ còn là vấn đề thời gian. Chất lượng nước biển tại đây cũng sẽ thay đổi không còn giữ được độ mặn đặc biệt như trước đây... Các đồng muối Cà Ná, Vĩnh Hảo còn bị khói bụi từ các nhà máy này tác động. Không sớm thì muộn diêm dân và các công ty muối ở những vùng này sẽ đối mặt với nguy cơ biến mất...”
Theo người dân địa phương, nước thải của Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 xả ra biển, nóng hơn nhiệt độ bình thường của nước biển, khiến hải sản biến mất. Vào tháng 2, 3 hàng năm, tôm hùm con ở rạn san hô rất nhiều, nhưng nay cũng không còn. Nước dưới biển nằm ở độ sâu 10m lúc nào cũng nóng hâm hẩm, các rạn san hô gần bờ đều bị chết, ốc sò thì chết hả họng, cua tấp vô bờ chết thúi. Nước thải của Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 xả ra biển gây ô nhiễm tới 5 lý, mỗi lần kéo lưới lên là thấy nước đỏ và nóng hâm hẩm.
Từ ngày 14-16/4/2015, hàng ngàn người dân địa phương đã đổ ra quốc lộ 1A đoạn chạy qua đây, khiến giao thông Bắc - Nam bị ách tắc hàng chục km, để phản đối việc Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 thải bụi than và xỉ vào môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng, không chỉ trên đất liền mà cả một vùng biển rộng lớn.
Ngày 28/4/2017, trước việc nhiều hộ dân sống gần bãi chứa tro xỉ than trên phản ánh, hàng chục hecta cây trồng ở xã Vĩnh Tân bỗng lụi tàn rồi chết dần, gây thiệt hại cho sản xuất, UBND tỉnh Bình Thuận đã có văn bản giao Sở TN-MT phối hợp với UBND huyện Tuy Phong thông báo kết quả phân tích mẫu nước giếng, mẫu đất tại khu vực gần bãi chứa tro xỉ than của Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 cho các hộ dân biết, đồng thời khuyến cáo người dân tạm thời không nên sử dụng nguồn nước ngầm (nước giếng) vào mục đích tưới tiêu cũng như ăn uống. Theo đó, kết quả phân tích hàm lượng Clorua trong nước ngầm của 3/4 hộ dân nơi đây vượt ngưỡng từ 1,2 đến 1,8 lần; hàm lượng Clorua trong 4/5 hồ nước phục vụ nhu cầu tưới tro xỉ vượt từ 1,05 đến 1,8 lần; hàm lượng tổng số muối tan ở một số nơi mặn và rất mặn.
Vùng đất từ Phan Rang đến Tuy Phong - Bắc Bình có khí hậu bán hoang mạc, khô nóng, nắng nhiều, lượng mưa ít nhất trong cả nước. Nguồn nước chính mà người dân Tuy Phong thường sử dụng là nước ngầm và nước giếng. Vì thế, việc tro và xỉ than của các nhà máy chỉ được xử lý đơn giản bằng cách quy tập vào bãi rồi tưới nước lên sẽ làm nẩy sinh hai vấn đề nan giải: (i) lượng nước tưới làm hao hụt nguồn nước ngọt vốn đã ít ỏi dành cho sinh hoạt của người dân cũng như phục vụ canh tác; và (ii) các chất độc trong tro và xỉ than vốn có hàm lượng rất cao, khi được tưới nước hoặc gặp trời mưa chúng sẽ ngấm vào mạch nước ngầm và sau một thời gian sẽ khiến toàn bộ vùng đất và vùng biển xung quanh bị nhiễm độc, bởi theo vòng tuần hoàn, cuối cùng nước sẽ chảy ra biển.
Quốc kỳ Trung Quốc đang tung bay tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1, và sẽ còn bay phấp phới ở khu vực xung yếu này trong hàng chục năm tới. Ảnh: Lê Anh Hùng
Quốc kỳ Trung Quốc đang tung bay tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1, và sẽ còn bay phấp phới ở khu vực xung yếu này trong hàng chục năm tới. Ảnh: Lê Anh Hùng
Đáng quan ngại hơn, trong 4 nhà máy nhiệt điện tại Vĩnh Tân (tổng công suất của hai nhà máy Vĩnh Tân 4 và Vĩnh Tân 4 mở rộng chỉ bằng Vĩnh Tân 3) thì Trung Quốc làm tổng thầu EPC đến 3 nhà máy là Vĩnh Tân 1, Vĩnh Tân 2 và Vĩnh Tân 3, đồng thời là chủ đầu tư của Vĩnh Tân 1, nhà máy vừa được Bộ TN-MT cho phép xả gần 1 triệu m3 bùn thải ra biển. (Theo mộtđiều tra mới đây của Trung Quốc, hơn 70% doanh nghiệp nước này vi phạm về môi trường.)
Mới một nhà máy chính thức hoạt động mà tình trạng ô nhiễm môi trường ở Vĩnh Tân đã nghiêm trọng như vậy thì khi tất cả các nhà máy của trung tâm nhiệt điện lớn nhất cả nước này đi vào vận hành tình hình còn trầm trọng đến đâu? Đó là câu hỏi mà có lẽ không một người dân Việt Nam nào muốn nghe câu trả lời.
Xem ra, giống như ở Vũng Áng (Hà Tĩnh), số phận một vùng biển quan trọng và nhạy cảm cả về môi trường lẫn an ninh quốc phòng của Việt Nam lại được người ta đặt vào tay Trung Quốc một cách rất chi là vô tư.
Câu hỏi mà công chúng Việt Nam muốn được giải đáp ở đây là: Trách nhiệm này thuộc về ai?

Trách nhiệm của Quân Ủy và Bộ Quốc Phòng

Bùi Tín 
Theo VOA-03/07/2017
Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cũng là Bí Thư Quân Ủy Trung Ương nên có trách nhiệm lớn nhất.
Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cũng là Bí Thư Quân Ủy Trung Ương nên có trách nhiệm lớn nhất.
Dư luận trong nước gần đây rộ lên nhiều nhận xét bình luận về trách nhiệm của Quân Đội Nhân Dân trong việc làm biến nhiều đất quốc phòng thời chiến tranh thành đất tư nhân của nhiều sỹ quan cấp cao, đặc biệt là các tướng thuộc Quân khu VII, Quân khu IX, trước khi về hưu. Các tướng nguyên Tư Lệnh, Chính Uỷ, Tham mưu trưởng đều được cấp vài chục hécta đất một cách bán chính thức, có thể nói là tư túi, không theo một chính sách công khai của Nhà Nước.
Tôi được biết tại các tỉnh, các Đảng Ủy và Bộ Chỉ huy tỉnh đội Bộ đội Địa phương cũng theo gương các Quân khu, chia chác đất Quốc Phòng cho nhau một cách tự do, hào phóng, bất chấp đó là tài sản công của quốc gia.
Trong chiến tranh, theo nhu cầu quốc phòng, nhiều vùng đất của tư nhân được trưng dụng để xây doanh trại, bãi tập, trường bắn, nhà máy quốc phòng, quân y viện, trường quân chính, sân bay lớn, sân bay dã chiến, sân bay dự bị, sân bay trực thăng, các ụ súng cao xạ, trận địa tên lửa và pháo phòng không, rải ra ở khắp nơi.
Lẽ ra, khi chiến tranh kết thúc, nhiều đất Quốc phòng không còn cần thiết phải được trả lại cho nhân dân để phục vụ cho phục hồi và phát triển kinh tế. Nhưng việc này bị hoặc cố ý hoặc vô tình sao nhãng, gây thiệt hại to lớn cho đất nước và nhân dân.
Sự cố gặp trở ngại trong việc mở rộng kéo dài đường băng trong sân bay Tân Sơn Nhất, phải tính đến xây dựng sân bay mới Long Thành giá gần 20 tỷ đô la, sự kiện Đồng Tâm do Tổng công ty Quân đội Viettel nhòm ngó đất Quốc phòng của sân bay Miếu Môn đã không còn xử dụng, sự kiện đơn vị quân đội khai phá cả một dãy núi đá vôi trong Vịnh Hạ Long, tàn phá cảnh quan khu vực đã được UNESCO xếp hạng, lấy cớ đây là đất … quốc phòng; là những việc điển hình rất đáng lo ngại.
Đã đến lúc Quân Ủy Trung Ương và Bộ Quốc Phòng phåi kiểm điểm trước toàn dân và Quốc Hội một cách nghiêm túc vấn đề hệ trong này và có kế hoạch khắc phục những sai lầm, thiếu sót, sơ hở theo đúng Luật Nhà Nước và kỷ luật Quân đội.
Xin nhớ trách nhiệm của Quân đội nhân Dân là bảo vệ cuộc sống an bình của nhân dân, bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân, bảo vệ từng tấc đất của Tổ Quốc, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của đất nước, không tơ hào từ mũi kim sợi chỉ của nhân dân.
Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cũng là Bí Thư Quân Ủy Trung Ương nên có trách nhiệm lớn nhất trong những sai lầm, thiếu sót trên đây.
Việc buông lỏng để cho Quân Đội và Công An kinh doanh kinh tế tự do không hạn chế suốt mấy chục năm qua cũng là sai lầm mang tính chiến lược, làm thiệt hại vô vàn tài sản công, làm hư hỏng biết bao sỹ quan chạy theo lợi nhuận, thành tư sản tỷ phú đỏ, sống xa hoa sa đọa, kinh doanh nhà nghỉ là nhà chứa trá hình, lỏng lẻo tay súng, mất bản chất nhân dân cao quý. Đây là điều Đảng CS Trung Quốc nghiêm cấm 16 năm nay, vì cho rằng Quân Đội làm kinh tế sẽ tha hóa tất yếu, tay súng sẽ lỏng lẻo, bản chất nhân dân bị bào mòn, sẽ mất chất không sao cưỡng lại nổi.

Tư pháp đang được ‘cải tiến’ hay ‘cải lùi’?

Thiện Ý 
Theo VOA-03/07/2017
Hình minh họa.
Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá 14 đang xem xét sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự 2015. Trong một phiên họp của Quốc hội, Đại biểu Bắc Kạn Nguyễn Thị Thủy đề nghị đưa vào Bộ luật Hình sự 2015 nghĩa vụ của luật sư phải tố giác thân chủ mình khi phạm một số tội nghiêm trọng, đặc biệt là tội xâm phạm an ninh quốc gia. Lý do người đề xuất áp dụng trách nhiệm hình sự đối với luật sư không tố giác thân chủ phạm tội là vì nhân dân, vì sự bình yên của nhân dân. Nhiều người cho rằng đây là một đề xuất khá bất thường, đáng lo ngại. Vì những đề xuất bất thường này xem ra lại được sự ủng hộ của không ít đại biểu Quốc hội. Bằng chứng là đề nghị này đã được giữ lại trong dự thảo sửa đổi, bổ sung nơi Điều 19, Khoản 3 Bộ luật Hình sự 2015, dẫn đến một phản ứng mạnh mẽ của nhân dân trong nước, nhất là giới luật sư và luật gia.
Một câu hỏi được đặt ra: Quốc hội Việt Nam đang cải tiến hay cải lùi hệ thống tư pháp và pháp luật nói chung, luật pháp liên quan đến nghề luật sư tại Việt Nam nói riêng?
Trong văn thư của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh đề ngày 12-6-2017 “Về việc góp ý đối với Khoản 3 Điều 19 của Bộ luật Hình sự 2015”, sau khi đưa ra ba căn cứ lập luận khá vững chắc, đã đi đến kết luận rằng “Việc giữ lại Khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015 là một bước lùi trong pháp luật hình sự; tạo sự xung đột pháp luật với các quy định có liên quan; hạ thấp vai trò, chức năng xã hội của luật sư; làm “vẩn đục” đạo đức nghề nghiệp luật sư, đi ngược lại thông lệ của nghề luật sư trên thế giới. Và như thế là không phù hợp với Chiến lược cải cách tư pháp của Bộ Chính Trị và chiến lược phát triển nghề luật sư Việt Nam đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ…”
Tranh luận xung quanh việc luật sư có nghĩa vụ tố giác thân chủ, trong một bài viết trên báo điện tử Người Đưa Tin,GS.TS Lê Hồng Hạnh - Viện trưởng viện Pháp luật và Kinh tế ASEAN, Tổng Biên tập tạp chí Pháp luật và Phát triển, đã đưa ra 8 căn cứ lập luận để đi đến “kiến nghị loại bỏ luật sư ra khỏi chủ thể phải tố giác tội phạm…”.
Ông viết “Loại bỏ luật sư ra khỏi các chủ thể phải tố giác tội phạm theo Điều 19, Dự thảo luật Sửa đổi, bổ sung BLHS 2015. Đó là phương án tối ưu để đảm bảo cho hệ thống pháp luật Việt Nam không mâu thuẫn với các công ước quốc tế đã ký và đặc biệt là đảm bảo phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013, với chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, về thúc đẩy và phát triển dân chủ. Phương án này cũng cho thấy giá trị đạo đức và nhân văn của pháp luật hình sự Việt Nam….”.
Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với các căn cứ và lập luận của đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh và của Giáo sư Tiến sĩ Lê Hồng Hạnh. Chúng tôi cho rằng nếu quốc hội đương nhiệm giữ lại và thông qua Khoản 3 Điều 19 trong luật bổ sung Bộ luật Hình sự 2015, là đã “cải lùi” chứ không “cải tiến” hệ thống tư pháp nói chung và luật pháp liên quan đến nghề luật sư nói riêng. Điều này trái với tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính Trị và kế hoạch 5-KH/CCTP ngày 22-2-2006 của Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương; trái với Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 5-7-1011 của Thủ tướng Chính phủ. Tất cả đều theo chiếu hướng cải cách là để đáp ứng với đòi hỏi thực tế, phù hợp với thời kỳ “mở cửa” hội nhập với thế giới bên ngoài (sau 1995); sau khi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thất bại(1975-1985), không thể cứu vãn dù đã cố gắng thực hiện chủ trương chính sách “Đổi mới” (1985-1995).
Hiệu quả chủ trương chính sách “Mở cửa” để cứu nguy chế độ sau hơn 20 năm từ 1995 đến nayViệt Nam đã thay da đổi thịt như thế nào, bộ mặt phồn vinh ra sao; nhân dân Việt Nam đã có được một đời sống tốt đẹp hơn so với 20 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa (1975-1995) không cần nói ra thì mọi người ai cũng thấy. Đó là nhờ sự chuyển đổi kính tế qua con đường làm ăn “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” như đảng và nhà nước nói để tuyên truyền lừa mị; song thực chất cũng như thực tế “Kinh tế thị trường” đã và đang theo định hướng “tư bản chủ nghĩa” đã là tất yếu.Nhưng cũng chính sự chuyển đổi kinh tế theo chiều hướng này đã đưa đến chuyển biến về mặt chính trị theo chiều hướng dân chủ hóa từng bước nên thực tế các quyền dân chủ, dân sinh, nhân quyền người dân ngày càng được tôn trọng và hành xử ra sao so với hơn 20 năm trước đây ai cũng biết. Do đó, hệ thống tư pháp và pháp luật Việt Nam cần “cải tiến” cho phù hợp cũng là một “tất yếu”. Trình độ chuyên môn, năng lực nghiệp vụ của luật sư Việt Nam cũng cần được nâng cao ngang tầm cao của một luật sư quốc tế là điều cần yếu. Vì vậy, quy chế pháp lý, qui định pháp luật cho cá nhân cũng như đoàn thể luật sư Việt Nam cũng không thể khác với các luật sư và luật sư đoàn quốc tế. Nghĩa là luật sư phải được luật pháp bảo vệ các quyền hành nghề như các luật sư khác trên thế giới, trong đó có quyền độc lập, an toàn cá nhân, quyền giữ bí mật nghề nghiệp, không thể quy kết trách nhiệm hình sự chỉ vì luật sư đã không khai báo những gì mà thân chủ tin cậy đã cho mình biết trong các vụ án mà mình nhiệm cách. Vả lại, khi nhiệm cách cho một thân chủ, các hành vi phạm pháp đã xẩy ra hay chưa kịp xẩy ra bị can đã bị bắt giữ; việc điều tra, tìm bằng chứng kết tội là nhiệm vụ của các cơ quan điều tra (công an, viện kiểm sát…); trong khi luật sự chỉ làm nhiệm vụ gỡ tội, minh oan cho thân chủ (nếu thực sự họ vô tội), hay tìm cách làm giảm nhẹ hình phạt (nếu thân chủ có đủ chứng cớ phạm tội thật mà có những tình tiết giảm bớt hình phạt).Đây là một nguyên tắc quốc tế bất di bất dịch thể hiện sự quân bình và công bình trong việc xét xử và kết án những nghi can trước tòa án: Công tố buộc tội, luật sư gỡ tội, chánh án hay hội đồng xét xử nghe lý lẽ, bằng chứng đôi bên để kết tội hay tha bổng.
Nay nếu quốc hội thông qua điều luật buộc luật sư phải tố cáo tội trạng của thân chủ mình, là “cải lùi” về thời kỳ “bào chữa viên nhân dân” với “Đoàn bào chữa viên nhân dân” là những cá nhân công nhân viên (một trong những điều kiện..) trong một đoàn thể công quyền như công tố đoàn và thẩm phán đoàn đều có ăn lương nhà nước, chung nhiệm vụ xét xử tội phạm theo các nghị quyết của đảng (về chủ trương, chính sách được thể chế hóa thành pháp luật ). Pháp lệnh ngày 18-12-1987 của Hội đồng Nhà nước về tổ chức luật sư và nghị định số 15/HĐBT ngày 21-2-1989 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quy chê Đoàn luật sư. Căn cứ trên những văn kiện pháp lý hành chánh này, các Đoàn luật sư được thành lập thay thế cho các đoàn bào chữa viên nhân dân trên cả nước. Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, ban hành quyết định số 635/QĐ-UB ngày 24-10-1989 V/V Thành lập Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, nơi “Điều 3: Đoàn Luật sư thành phố được chính thức hoạt động và đoàn bào chữa viên nhân dân thành phố chấm dứt hoạt động kể từ ngày ban hành quyết định này”.
Nhớ lại vào năm 1989 khi thành lập Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, theo yêu cầu góp ý với Đại Hội 8 đảng CSVN của Hội Luật Gia Thành phố Hồ Chí Minh, lúc đó còn ở trong nước, tôi đã viết bài tham luận “Vai trò của luật sư trong nền dân chủ pháp trị xã hội chủ nghĩa”. Hai năm sau, một nhân viên báo Sàigòn Giải phóng có đến gặp tôi nói là để đưa tiền nhuận bút 30 đồng lúc đó cho bài tham luận vừa nêu được báo đăng tải và chuyển đạt lời mời cộng tác viết bài cho báo của lãnh đạo. Tôi ngạc nhiên nói là bài tham luận này tôi đã viết cách nay hai năm mà. Nhân viên này cho hay là vì lúc đó “Đảng chưa có quan điểm về dân chủ pháp trị” nên không dám đăng mà giữ lại vì thấy có giá trị.Như thế phải chăng bắt đầu từ năm 1989 đảng và nhà nước CSVN mới có quan điểm về “Dân chủ pháp trị”? Thế nhưng cho đến nay việc thực hiện quan điểm này có tiến bộ đôi chút, nhưng vẫn không thoát được vòng Kim cô “Xã hội chủ nghĩa” nên các quyền dân sinh, dân chủ và nhân quyền vẫn chưa thực hiện đầy đủ, vẫn bị bóp nghẹt. Công cuộc cải cách hệ thống tư pháp và luật pháp trong đó có luật liên quan đến nghề nghiệp luật sư vẫn nủa nạc nửa mỡ?
Thực ra khi chúng tôi đưa ra tiêu đề tham luận “Vai trò của luật sư trong nền dân chủ pháp trị xã hội chủ nghĩa” vào thời điểm năm 1989 là có tính gượng ép cho phù hợp thời thế. Vì “Dân chủ pháp trị” (cai trị bằng pháp luật) không thể có trong “chế độ xã hội chủ nghĩa” (độc tài toàn trị, cai trị bằng nghị quyết của đảng CS độc quyền thống trị). Do đó trong bài tham luận mới đây về luật hóa buộc luật sư phải tố cáo tội lỗi thân chủ của mình, Gs.Ts Lê Hồng Hạnh có lẽ cũng đã gượng ép theo kiểu viết và lách, rào trước đón sau khi mở đầu bài viết “Tôi mong Bộ luật Hình sự sau khi được ban hành sẽ không một lần nữa trở thành đề tài phê phán của xã hội, đồng thời để nền dân chủ và hệ thống tư pháp hình sự của đất nước không phải trải nghiệm những bước lùi được báo trước. Bài viết này trao đổi một số vấn đề về hình sự hóa việc luật sư không tố giác thân chủ phạm tội…”
Chúng tôi thành tâm ước mong quốc hội hiện nay trong thời kỳ “Mở cửa” (hội nhập vào nền văn minh thế giới) phải là quốc hội của dân, khác với quốc hội trong thời kỳ “Đóng cửa” (xây dựng xã hội chủ nghĩa khép kín đã thất bại hoàn toàn) là quốc hội của đảng CSVN. Sự khác biệt cần được thể hiện qua nhiệm vụ lập pháp theo chiều hướng cải tiến hệ thống tư pháp và pháp luật, trong đó có pháp luật liên quan đến nghề nghiệp luật sư, đóng vai trò cần yếu trong “nền dân chủ pháp trị” thay vì cố duy trì hệ thống tư pháp và pháp luật xã hội chủ nghĩa lỗi thời.

Ô nhiễm



Hoảng hốt trước thống kê về số bệnh nhân ung thư mỗi năm: 200.000 người.
Hoảng hốt về tình trạng thực phẩm bẩn, nguồn nước bẩn, môi trường bẩn cướp đi 75.000 sinh mạng Việt mỗi năm.
Đấy là những thứ ô nhiễm có thể nhìn thấy và đếm được qua từng...xác người.
Còn những ô nhiễm khác, có thể chưa đếm được qua từng xác người như vậy nên ít thấy ai hoảng hốt - Đó là ô nhiễm báo chí truyền thông, ô nhiễm giáo dục.
Và một thứ nữa, ô nhiễm đến cực điểm, di căn, bục rã, thối inh nhưng ít ai nhìn thấy, hay nhìn thấy mà không dám nói ra: đấy là ô nhiễm tư tưởng.
Báo chí bẩn, giáo dục bẩn, tư tưởng bẩn. Những thứ đó ung thư thì giết chết cả dân tộc, quốc gia.