Friday, June 29, 2018

Đại biểu Quốc hội có phải tuân theo mệnh lệnh của bí Trọng để phạm tội phản quốc đến cùng?

Le Nguyen (Danlambao) - Một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ với 4 lần bị bắc thuộc và 7 lần chúng xua đại quân sang đánh chiếm nước ta nhưng giặc thù truyền kiếp phương bắc, dù sử dụng đội quân thiện chiến áp đảo về quân số, vũ khí. Cũng như chúng sử dụng nhiều thủ đoạn thâm độc, bạo tàn, độc ác, khắc nghiệt trong cai trị đến độ “Trúc Nam Sơn không ghi hết tội... Nước Đông Hải không rửa sạch mùi” như lời trong bản hùng văn Bình Ngô Đại Cáo của đức Nguyễn Trãi, vẫn không thể tiêu diệt, đồng hóa và xóa tên Việt Nam khỏi bản đồ thế giới.

Các giai đoạn Việt Nam bị bắc thuộc, bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đình phương Bắc được lưu lại trong lịch sử theo thứ tự niên lịch sau:

1- Bắc thuộc lần thứ nhất (179 TCN hoặc 111 TCN - 39): nhà Triệu, nhà Hán.

2- Bắc thuộc lần thứ hai (43 - 541): nhà Đông Hán, Đông Ngô, Tào Ngụy, nhà Tấn, nhà Tề, nhà Lương.

3- Bắc thuộc lần thứ ba (602 - 905): nhà Tùy, nhà Đường. Trong giai đoạn tự chủ từ 905-938 có một thời gian Việt Nam rơi vào tay Nam Hán.

4- Bắc thuộc lần thứ tư (1407 - 1427): còn gọi là thời thuộc Minh.

Cũng như theo tài liệu lịch sử, kể từ năm 939 đến năm 1840 tổng cộng là 900 năm Việt Nam giành độc lập tự chủ thì giặc tàu đã bảy lần xua quân xâm lược hầu tái lập nền thống trị dân tộc, đất nước Việt Nam. Trong 7 lần xua đại quân sang đánh chiếm nước ta có: Hai lần nhà Tống; ba lần nhà Nguyên; một lần nhà Minh và một lần nhà Thanh.

Lịch sử cho chúng ta thấy, tất cả các triều đại Trung Hoa đều theo đuổi một chính sách nhất quán, là quyết tâm xâm chiếm nước ta, đặt lại nền thống trị biến Việt Nam thành quận huyện thuộc Tàu.

Sống cạnh tên láng giềng tham lam, xấu tánh luôn chờ cơ hội thôn tính nước ta nên tổ tiên nòi Việt luôn đề cao cảnh giác, luôn nhắc nhở cháu con đề phòng họa Trung Hoa. Điển hình là chúc thư đanh thép của đức vua Trần Nhân Tôn có đoạn đọc được như sau: 

“...Họa Trung Hoa!
Tự lâu đời truyền kiếp!

Kiếm cớ này bày chuyện nọ! TÀ MA!
Không tôn trọng biên cương theo quy ước
Tranh chấp hoài! Không thôn tính được ta
Chúng gậm nhấm Sơn Hà và Hải Đảo
Chớ xem thường chuyện vụn vặt Chí Nguy!

Gặm nhấm dần
Giang Sơn ta nhỏ lại
Tổ ĐẠI BÀNG thành cái tổ chim di

Các việc trên khiến Ta đây nghĩ tới
Canh cánh bên lòng “ĐẠI SỰ QUỐC GIA”!
Chúng kiếm cớ xua quân qua ĐẠI VIỆT
Biến nước ta thành quận huyện Trung Hoa!...”

Đó lời nhắn nhủ của tổ tiên gửi lại cho muôn đời con cháu nước nam thời lịch sử xa. Trong lịch sử cận đại, ở thời cuộc chiến tự vệ của Việt Nam Cộng Hòa chống sư xâm lăng của đội quân đánh thuê cộng sản Bắc Việt “ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc...” ông cố vấn Ngô Đình Nhu bào đệ của tổng thống Ngô Đình Diệm cũng đã tiên báo và cảnh giác về hiểm họa Trung Hoa trong tác phẩm Chính Đề Việt Nam nguyên bản tiếng Pháp. Bản tiếng Việt là của một tác giả lấy bút danh là Tùng Phong được nhà xuất bản Đồng Nai, Sài Gòn xuất bản lần đầu tiên năm 1964, cảnh báo về hiểm họa Trung Hoa có đoạn viết như sau:

“Các nhà lãnh đạo miền Bắc, khi tự đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng, đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta, mà lại còn đe dọa đến sự tồn vong của dân tộc.

Sở dĩ, tới ngày nay, sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa thành hình, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa chính trị, vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì việc Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian.”

Thành thật mà nói, không chỉ có ông Ngô Đình Nhu công dân VNCH nhận ra hiểm họa Trung Hoa,thấy rõ dã tâm đại Hán mà trong đội ngũ của đội quân đánh thuê cho Nga-Tàu vẫn có người thấyđược họa Trung Hoa, và vì nỗi sợ hiểm họa Trung Hoa nên cố thủ tướng Võ Văn Kiệt là người đảng viên cộng sản duy nhất dám ra mặt chống lại lệnh đảng, lệnh tổng bí thư.

Diễn tiến vụ việc “nỗi sợ họa Trung Hoa” mạnh hơn nỗi sợ đảng thời nhà sản của Võ Văn Kiệt được nhà văn lề đảng Hoàng Lại Giang ghi lại như sau: 

“Đất nước chúng ta từng có vụ “nạn kiều” vào những năm 70 của thế kỷ 20. Lúc ấy giữa Ta và Tàu rất căng thẳng. Nhiều người Hoa, dù đã sống lâu đời ở ta cũng được Tàu vận động treo cờ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông. Vận động người Hoa biểu tình, kêu gọi người Hoa trở về nước...

Lê Duẩn và Lê Đức Thọ bàn với nhau cho tàu Trung Quốc cập cảng Sài Gòn chở người Hoa về nước. Lê Đức Thọ điện cho Võ Văn Kiệt bí thư thành ủy TP.HCM và Võ Văn Kiệt trả lời dứt khoát:

- “Không thể! Không được!”

Lê Đức Thọ nói tiếp:

– Đây là mệnh lệnh của anh Ba (Lê Duẩn).

– Nếu đây là mệnh lệnh của anh Ba thì nhờ anh Sáu (Thọ) báo cáo lại với anh Ba, tôi xin chịu bất kỳ hình thức kỷ luật nào cũng được, nhưng chấp hành mệnh lệnh anh Ba cho tàu Trung Quốc cập cảng Sài Gòn thì tôi không thể…Tôi đã cho rải mìn dày đặc dưới lòng sông rồi. Ngay cả cập cảng Cần Giờ cũng không thể huống hồ cập cảng Sài Gòn…

-Có gì Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) cứ nói, tớ nghe.

– Tôi hỏi anh Sáu, nếu cho nó vào đây, rồi nó ở lại, không chịu đi nữa, anh Sáu làm cách nào?

Lê Đức Thọ báo cáo lại với Lê Duẩn. Lê Duẩn im lặng một lúc rồi nói:

– Sáu Dân có cái lý của nó. Nếu như thằng Tàu vào cảng Sài Gòn, nó ở lại, không chịu ra, chẳng lẽ ta đánh, ta bắt nó. Lúc ấy nó lu loa lên… Thế là ta tạo cớ cho nó mang quân sang xâm lược nước ta…”

Ngày nay họa Trung Hoa không còn là suy diễn lo sợ viển vông như ông Ngô Đình Nhu, Võ Văn Kiệt mà nó hiển hiện ra trước mắt với đám lãnh đạo tay sai bán nước cầu vinh ngày càng táo tợn hơn, chúng chẳng xem ai ra gì!

Họa Trung Hoa hiển hiện trước mắt như thế, chắc hẳn trong đám lãnh đạo csVN, không có ông bà nào không biết dã tâm của giặc Tàu đối với nước ta. Thế nhưng, thời nay có ông bà lãnh đạo nào có đủ dũng khí, can đảm dám lên tiếng chống lại chủ trương lớn của đảng, mệnh lệnh của tổng bí thư “bán nước cho Tàu” như sáu Dân Võ Văn Kiệt? Chẳng có ông bà nào có dũng khí như Võ Văn Kiệt cả!

Năm trước đây, năm 1917 Nguyễn Phú Trọng đã ký 15 văn kiện hợp tác giữa Trung Quốc và Việt Nam có một số điểm đáng chú ý như sau:

1- Thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

2- Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Kinh tế Trung ương với Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc.

3- Công thư trao đổi về việc hỗ trợ kỹ thuật lập quy hoạch tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.

4- Tuyên bố Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Trung Quốc đến năm 2025.

5- Hiệp định khung hợp tác cửa khẩu biên giới đất liền giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Tổng cục Hải quan Trung Quốc.

6- Bản ghi nhớ về hợp tác triển khai viện trợ không hoàn lại chuyên về lĩnh vực y tế công cộng giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam với Bộ Thương mại Trung Quốc.

7- Bản ghi nhớ giữa Bộ Công thương Việt Nam và Tổng cục Giám sát chất lượng, kiểm nghiệm kiểm dịch quốc gia Trung Quốc về việc tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hàng rào kỹ thuật thương mại.

...

Đọc 15 văn kiện mà Nguyễn Phú Trọng ký kết với Tàu đã lộ ra việc lãnh đạo đảng cộng sản Linh-Mười-Đồng xin làm khu tự trị, một tỉnh lỵ của Tàu ở hội nghị Thành Đô năm 1990 là sự thật không thể chối cãi. Tất cả nội dung trong 15 văn kiện hợp tác Việt-Trung chỉ ra cho mọi người thấy, chuyện xin làm khu tự trị trực thuộc trung ương Bắc Kinh không còn là đồn đoán vô căn cứ và không thể lu loa đổ cho thế lực thù địch xuyên tạc nói xấu.

Cụ thể là trong các văn kiện thỏa thuận hợp tác giữa Tàu cộng với Việt cộng quy định các cơ quan cấp bộ của chính phủ phải hợp tác với một tổng cục, đặt bộ máy hành chánh Việt Nam và ban tuyên giáo, các cơ quan truyền thông Việt Nam như đài truyền hình, đài phát thanh, cơ quan báo chí, nhà xuất bản nằm dưới sư quản lý của chính quyền trung ương Bắc Kinh, là chỉ giấu chỉ ra bước chuẩn bị cho Việt Nam sáp nhập làm một tỉnh lỵ của Tàu.

Ông Nguyễn Phú Trọng trong nhiều năm làm tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam đã thậm thụt ký nhiều “văn kiện hợp tác” cắt từng phần lãnh thổ, từ bỏ từng phần chủ quyền quốc gia để chuẩn bị cho bước sáp nhập Việt Nam vào Tàu.

Dù ông Trọng ngang nhiên ký các văn kiện bán nước lộ liễu vẫn chẳng có tên lãnh đạo cao cấp nào dũng cảm dám lên tiếng phản đối như Võ Văn Kiệt đã chống đảng, chống tổng bí thư, vì nỗi sợ họa Trung Hoa...

Có lẽ vì nhìn thấy sự hèn nhược của các đồng chí lãnh đạo nên Nguyễn Phú Trọng được đàng chân lân đàn đầu. Mới đây, Nguyễn Phú Trọng chủ trì hội nghị trung ương đảng ra nghị quyết làm luật đặc khu, luật an ninh mạng nhằm hiện thực hóa 15 văn kiện hợp tác Việt Trung, là bước chuyển tiếp cho việc thi hành mật ước Thành Đô do Linh-Mười-Đồng ký kết với Tàu trên tinh thần “thà mất nước hơn mất đảng” vào năm 1990 của thế kỷ trước.

Qua những gì bí Trọng cấu kết với Tàu gây nguy hại cho an ninh quốc phòng, cho độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đã đủ yếu tố cấu thành tội phản quốc, có ghi trong bộ luật hình sự của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa làm ra. Không những lôi kéo “đồng chí” phạm tội, bí Trọng còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn chỉ đạo đàn em thông qua nghị quyết trung ương đảng và ngầm đôn đốc thủ tướng Phúc, chủ tịch quốc hội Ngân, bộ trưởng Dũng chuyển thông điệp “chủ trương lớn của đảng” đến đại biểu quốc hội nhằm thông qua luật đặc khu, luật an ninh mạng.

Như thế rõ ràng tổng bí thư Trọng đã cố tình vừa lôi kéo, vừa lợi dụng chức vụ quyền hạn gây sức ép lên đồng đảng nhằm thực hiện hành vi phạm tội phản bội tổ quốc đến cùng!

Vậy, các ông bà lãnh đạo cao cấp trong đảng, nhà nước và các đại biểu quốc hội có phải nghe theo mệnh lệnh của Nguyễn Phú trọng bán nước cho giặc Tàu để phạm tội phản bội tổ quốc đến cùng? Hay can đảm như ông Sáu Dân chống lại chủ trương lớn của đảng và mệnh lệnh của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng để lưu danh thiên cổ?

Nói chung gần 60 năm trôi qua những lời tiên báo về họa Trung Hoa của công dân VNCH Ngô Đình Nhu đã dần trở thành sự thật: “...Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì việc Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian...”


No comments:

Post a Comment