Wednesday, June 6, 2018

Mối nguy của Đặc Khu Tự Trị

 Nguyễn Xuận Nghĩa Theo RFA_2018-06-05  
Phú Quốc, Việt Nam
 Phú Quốc, Việt Nam-AFP

Dự luật rồ dại

Nguyên Lam: Nguyên Lam xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa, chuyên gia tư vấn kinh tế của Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do từ năm 1997 tới nay. Thưa ông, dư luận trong và ngoài nước đã xôn xao bàn tán về một dự luật có thể được Quốc hội Việt Nam biểu quyết vào ngày 15 này để lập ra ba khu trự trị kinh tế có quy chế hành chính đặc biệt tại Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Khi theo dõi hồ sơ đó, ông có thể chia sẻ những nhận xét gì cho thính giả của chúng ta?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin nêu ba nhận xét sơ khởi trước khi ta tìm hiểu sâu xa hơn về các mối nguy cho Việt Nam trong một dự luật thuộc loại rồ dại nhất.
- Thứ nhất, khi thấy dư luận bàn tán, Chủ tịch Quốc hội cho biết là Bộ Chính Trị của đảng Cộng Sản Việt Nam đã thông qua nên Quốc hội sẽ ban hành thành luật. Theo phạm trù kinh doanh, ta có hiện tượng quản lý rất lạ, là Bộ Chính Trị như Hội đồng Quản trị của một doanh nghiệp, là cơ chế chưa hề sống trong lĩnh vực kinh doanh của thị trường và không thể biết mọi chi tiết khúc mắc của đời sống thật mà vẫn có quyền quyết định tuyệt đối cho ban quản trị là Nhà nước gồm có Quốc hội và Chính phủ chấp hành. Nếu Đảng trả lương cho nhân viên Quốc hội và cán bộ Chính phủ và có quyền tăng lương hay kỷ luật thì còn có sự hợp lý.
- Nhưng Đảng không kiếm ra tiền và lương bổng của đảng viên cán bộ lại do tiền thuế của 93 triệu người dân chu cấp mà người dân không được tham khảo hay có tiếng nói. Nếu là một doanh nghiệp, người dân làm chủ, thuộc hội đồng cổ đông và phải được quyền lên tiếng để Hội đồng Quản trị theo đó mà làm cho có lợi. Với mô thức kỳ lạ hiện nay, Việt Nam là một doanh nghiệp tất nhiên phá sản!
- Thứ hai, một số chuyên gia ở trong và ngoài nước đã lên tiếng về vụ nảy. Tôi quý trọng sự hiểu biết của nhiều chuyên gia quốc nội, nhưng thông cảm là quý vị đó không thể nói hết vì họ chưa được tự do nên chỉ có thể nói chi tiết chuyên môn mà tránh đụng vào “cái vẩy ngược của con rồng”, là hệ thống chính trị của một đảng bịt mặt và khỏi bị trách nhiệm nhờ cái thế độc quyền. Họ đành nhẹ nhàng khuyên ý Đảng nên hợp với lòng dân chứ không thể than rằng lòng dân phải hợp với ý Đảng. So với thời xưa thì một số chuyên gia đã giỏi hơn nhiều, nhưng so với thiên hạ thì đấy là một thất thu về trí tuệ, nên cũng là một mất mát cho xứ sở.
- Ý thứ ba là Việt Nam đi chậm hơn các nước cùng trình độ nên còn loay hoay với mô hình “đặc khu kinh tế” đã lỗi thời. Mà Việt Nam còn chìm xuống đáy với ba đặc khu chỉ chuyển giao công nghệ cờ bạc và mại dâm làm xã hội sa đọa, khi quỹ đất đã cạn nên chỉ làm lợi cho các tay trong đã biết trước mà đầu cơ địa ốc, và lại còn đe dọa an ninh quốc gia vì địa thế chiến lược của ba nơi này.
- Nếu lạc quan thì dự luật đặc khu sẽ sản sinh ra các lãnh chúa người Việt và từ đó dẫn tới nạn phân hóa vì có nhiều lãnh địa trong một quốc gia chỉ thống nhất ở hình thức. Về thực tế thì dưới bóng rợp của một đế quốc không che giấu tham vọng bành trướng là Trung Quốc, dự luật sẽ dẫn đến chế độ tô giới và Bắc thuộc.
Nguyên Lam: Thính giả của chúng ta biết rằng ông không mấy lạc quan và thường có lời cảnh báo, nhưng Nguyên Lam không ngờ là ông lại bi quan đến như vậy! Xin đề nghị ông giải thích thêm về chuyện này.
Nếu lạc quan thì dự luật đặc khu sẽ sản sinh ra các lãnh chúa người Việt và từ đó dẫn tới nạn phân hóa vì có nhiều lãnh địa trong một quốc gia chỉ thống nhất ở hình thức. Về thực tế thì dưới bóng rợp của một đế quốc không che giấu tham vọng bành trướng là Trung Quốc, dự luật sẽ dẫn đến chế độ tô giới và Bắc thuộc.
-Nguyễn Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói về bối cảnh trước, Việt Nam có ba nhược điểm lớn là năng suất công nghiệp quá thấp, bội chi ngân sách quá cao và sau mấy chục năm thu hút đầu tư nước ngoài thì ngoại quốc hưởng lợi chứ kiến năng, là kiến thức và khả năng của mình không tăng, lợi ích kinh tế cũng vậy. Bộ Kế hoạch hay ai đó có trách nhiệm chẳng lẽ không biết các nhược điểm ấy để cải tiến chiến lược công nghiệp hóa hay sao?
- Bây giờ cái đảng chưa khi nào quản trị kinh doanh lại bày ra một dự luật có tám tai họa: 1/ có thể cho nước ngoài thuê không phải trong khoảng 50-70 năm mà 99 năm; 2/ người chủ đầu tư có quyền bán lại hay chuyển giao thừa kế cho ai khác; 3/ có thể giảm thuế thuê đất; 4/ lại giảm thuế thu nhập trong nhiều năm để thu hút đầu tư; 5/ người Việt Nam có quyền vào các đặc khu ấy để đánh bạc và giải trí; 6/ chủ đầu tư trong đặc khu được quyền bội chi tới 70% của ngân sách; và 8/ khó hiểu nhất, chủ đầu tư có khi không còn khả năng trả nợ, khi đó, ai chịu trách nhiệm thì không rõ. Tôi miễn bàn về từng chi tiết mà cố tổng hợp qua tám đặc tính ác độc của dự luật. Trong một cơn ác mộng, nếu tôi làm tư vấn cho kẻ thù của Việt Nam, tôi sẽ đề nghị những điều quái đản kể trên, cho chết luôn!

Mối nguy từ Đặc Khu Tự Trị

Nguyên Lam: Ông nói cứ như cười mà không giấu được nét chua chát. Nguyên Lam xin chầm chậm hỏi ông vài chi tiết kỹ thuật cho thính giả của chúng ta hiểu mức độ nghiêm trọng của vấn đề này. Thưa ông, tiền đâu ra và ai sẽ trả?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Là đại diện cho người dân, ta hãy tạm tin như vậy đi, Nhà nước thu thuế để lo cho dân. Dự luật lo cho nhà đầu tư, nhiều phần là ngoại quốc, nên ào ạt miễn thuế và hoãn thuế, như qua các điều 40, 43 hay 45. Như vậy, khi ngân sách đã bội chi quá nặng, Nhà nước tìm tiền ở đâu ra hay là vét thuế nơi khác? Phải chăng người dân sẽ trả tiền cho dự án thu hút đầu tư này? Dân có được hỏi ý hay có được biết về những chi tiết bất công ấy không?
- Bước sang một lĩnh vực nhiều rủi ro khác cho xã hội là quy chế đặc miễn lao động cho người nước ngoài. Họ không cần giấy phép lao động nếu làm việc dưới 90 ngày hoặc trong cả năm không quá 180 ngày. Mọi chuyện, từ tuyển người, đặt mức lương hay bổng và miễn thuế v.v. có thể do Chủ tịch của đặc khu quyết định. Nhà nước thống nhất đang nặn ra các nhà nước con con trong lãnh thổ, là những nhóm lợi ích, và chỉ còn nhiệm vụ tìm tiền cung phụng yêu cầu của nhà đầu tư. Trong khi đó, các đặc khu này cũng có quyền trang bị võ khí và nhân sự bảo vệ. Người ta muốn lập sòng bạc hay xây pháo đài mà đề ra những chi tiết ấy?
Nguyên Lam: Nói về các mối nguy từ đặc khu tự trị, ông thấy là bà con nên chú ý tới điểm gì khác nữa sau khi ông vừa nói đến địa thế chiến lược của ba nơi này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Việt Nam là đối tượng chinh phục thực tế và gần gũi của Trung Quốc qua chiến lược bành trướng đã công khai hóa của họ. Ngẫu nhiên mỉa mai là Tết Mậu Tuất vừa qua, khi góp phần tổ chức Hội Chợ Tết tại miền Nam California, bản thân tôi nhắc đến ba chiến thắng trên sông Bạch Đằng, vào năm 938 là một năm Mậu Tuất, của Ngô Quyền để giành độc lập sau 1050 năm Bắc thuộc; rồi năm 981 khi Lê Đại Hành thắng quân Tống; lần thứ ba là năm 1288 nhờ chiến công lịch sử của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, mà then chốt là trận Vân Đồn trước đó của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư khiến quân Nguyên Mông bị cạn lương. Bây giờ, Vân Đồn là nơi Bắc phương sẽ đóng cọc và khống chế miền Bắc!
- Tại miền Trung, sau khi đã chiếm Hoàng Sa và Trường Sa ở ngoài biển, họ sẽ trụ tại đặc khu Bắc Vân Phong, rồi trên đường bành trướng từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương, đảo Phú Quốc trong ra Vịnh Xiêm La sẽ là vị trí chiến lược của Trung Quốc. Người ta lầm tưởng là thiên hạ sẽ vào đó đánh bạc, Trung Quốc vào nơi đó thì sẽ thiết trí khí cụ tình báo quân sự để theo dõi và khống chế. Các mỏm đá giữa biển Đông Nam Á mà họ còn làm thành đảo nhân tạo và căn cứ quân sự thì ba hòn đảo của ta sẽ là chiến lũy của họ! Ai bày ra chuyện đặc khu này mà ác độc như vậy?
Nếu không có một hội đồng có thực quyền được lập ra để theo dõi tình hình thực tế sau mỗi năm năm, 10 năm, và có quyền điều chỉnh lại những cam kết thì viễn ảnh bi đát lại là hiện tượng “Hoa quân nhập Việt”: người Hoa có võ trang vào làm chủ nước Việt ở những nơi sinh tử nhất của nước Nam.
-Nguyễn Xuân Nghĩa
Nguyên Lam: Thưa ông, vì thời lượng của chúng ta thì có hạn mà đề tài lại quá đa diện cho nên Nguyên Lam xin đề nghị ông nêu ra vài kết luận.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thứ nhất, nếu có chết thì cố chết cho chậm, việc gì phải ký giấy tự sát vào ngày 15 này?
- Tôi cho là những ai có thực tâm với đất nước thì nên tham khảo ý kiến của mọi thành phần liên hệ, từ doanh gia đến người am hiểu về an ninh, các chuyên gia kinh tế và luật pháp quốc tế xem thiên hạ xử trí ra sao. Lý tưởng là hỏi ý người dân chứ đừng nghĩ là họ không biết gì. Mà muốn vậy thì cần công khai hóa mọi chi tiết. Then chốt và sinh tử là các chi tiết mà Bộ Chính Trị bịt mắt có khi chẳng thấy ra các nhân tố cụ thể khác.
- Thứ hai, nhìn rộng ra ngoài, đảng phải học tập kinh nghiệm thất bại với cả chục đặc khu hay dự án có tầm cỡ như Bauxite tại Tây Nguyên, khu kinh tế gang thép Vũng Áng, dự án Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội, Chân Mây, v.v… Vì sao đã thất bại mà còn đòi tái diễn với ba đặc khu kinh tế tự trị đó? Thứ ba, nếu không biết thì học ngoại quốc: nên mời các chuyên gia quốc tế vào làm tư vấn về mọi khía cạnh lợi hại, miễn là các chuyên gia ấy không do Bắc Kinh tuyển chọn và đài thọ. Thứ tư, học xong thì sẽ biết Việt Nam khỏi cần đặc khu kinh tế nữa sau hơn 20 năm mở cửa ra ngoài với nhiều hiệp ước tự do thương mại và đầu tư đã ký kết với quốc tế. Sau cùng, nếu lỡ dại thì cũng nên cài trong hợp đồng các điều kiện tái xét. Một hội đồng có thực quyền phải được lập ra để theo dõi tình hình thực tế sau mỗi năm năm, 10 năm, và có quyền điều chỉnh lại những cam kết. Đấy là điều kiện tối thiểu và thông thường trong mọi giao kèo dài hạn. Nếu không, viễn ảnh bi đát lại là hiện tượng “Hoa quân nhập Việt”: người Hoa có võ trang vào làm chủ nước Việt ở những nơi sinh tử nhất của nước Nam.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về những nhận định này.

Dân Đê La Thành tiếp tục biểu tình phản đối lấy đất

RFA-2018-06-06   
Người dân cư ngụ tại gần 140 nhà mang số lẻ ở Đê La Thành, Hà Nội
Người dân cư ngụ tại gần 140 nhà mang số lẻ ở Đê La Thành, Hà Nội-rfa
Một số người dân cư ngụ tại gần 140 nhà mang số lẻ ở Đê La Thành, Hà Nội vào ngày 5 tháng 6 tiến hành biểu tình phản đối kế hoạch lấy nhà của họ của địa phương.
Những người biểu tình mang theo biểu ngữ với nội dung kêu cứu đại biểu quốc hội giúp giải quyết tình trạng thu hồi đất với lý do làm bãi gửi xe và trồng cây xanh.
Một người dân trong diện bị giải tỏa cho Đài Á Châu Tự Do biết lý do phản đối:
“Nói về dự án Vành Đai 1, chúng tôi mong làm lâu rồi nhưng không làm. Còn dự án không có trong qui hoạch làm đường lại mở ra như cây xanh, bãi đổ xe ô tô…Trong khi ấy những dự án đều có mà nay thành những tòa nhà thương mại bán rất đắt.”
Theo người này thì dân trong diện có nhà bị giải tỏa bức xúc do những bất hợp lý như cơ quan chức năng không thông báo cho dân sau khi cho dựng bản đồ qui hoạch lên. Khi người chất vấn thì bị chỉ lên thành phố. Đơn đến trung ương được chính phủ chỉ đạo xuống thành phố nhưng thành phố không giải quyết mà chỉ hứa.
Người dân này nói tiếp: “Thành phố làm việc phải có giấy trắng, mực đen chứ không phải lời nói. Các cơ quan ban ngành phải làm đúng chứ không thể che mắt dân, lừa chính phủ làm những điều sai pháp luật.
Khi chúng tôi hỏi họ đùn đẩy cho nhau khiến dân không tin nữa. Muốn dân tin, thì phải bảo đảm quyền lợi cho dân. Muốn lấy, muốn làm gì phải có qui hoạch, có thông báo và sự đồng thuận của dân.”
Một phụ nữ từng ở địa phương 20 năm cũng trình bày:
“Trước đây họ thông báo lấy ngoài đường nhưng nay lấy luôn nhà tôi; họ nói lấy để làm đường nhưng có chỗ lấy để làm nhà cao tầng”.
Một phụ nữ khác còn cho biết việc khi phản đối bị những thành phần đeo băng đỏ ngăn chặn:
“Hôm trước có người đeo băng đỏ kéo người dân lên xe nên chúng tôi phải bảo vệ nhau. Tôi không yêu cầu quan chức giải quyết; nhưng nếu muốn làm gì phải có lý do đàng hoàng, chứ không thể cứ đeo băng đỏ mà bắt người dân.”
Tin cho biết vào ngày 19 tháng 5 vừa qua, người dân có gặp được chủ tịch thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung về vụ việc liên quan và được ông này hứa sẽ tổ chức cuộc đối thoại sau 10 ngày.
Đến ngày 29 tháng 5, lời hứa không được thực hiện nên dân lại biểu tình. Dân lại được hứa một thời điểm nữa là vào ngày 10 tháng 6 tới đây sẽ có cuộc đối thoại.

Lại thêm người chết trong đồn công an ‘trong tư thế treo cổ’

Vợ và con trai bên cạnh quan tài ông Nguyễn Hữu Tấn, chết với vết cắt rất sâu vòng quanh cổ chỉ sau một ngày bị công an tỉnh Vĩnh Long bắt giữ hồi Tháng Năm, 2017. (Hình: Facebook Lê Nguyễn Hương Trà)
CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Một người đàn ông 31 tuổi được báo cáo là “chết trong tư thế treo cổ” tại nhà tạm giữ của công an thành phố Cà Mau.
Trong bản tin hôm Thứ Ba, 5 Tháng Sáu, 2018, tờ Thanh Niên thuật lại theo báo cáo ngày 5 Tháng Sáu, 2018, của công an thành phố Cà Mau, cho biết: “Khoảng 3 giờ 35 phút cùng ngày (5.6), cán bộ nhà tạm giữ phát hiện ông Nguyễn Việt Khoa (31 tuổi, ngụ khóm 3, phường 8, thành phố Cà Mau) trong tư thế treo cổ tại buồng giam số 1, khu C của nhà tạm giữ.”
Tờ báo vừa kể viết, “Ngay sau đó, ông Khoa được sơ cứu và đưa đến bệnh viện đa khoa Cà Mau cấp cứu, tuy nhiên ông Khoa đã tử vong” và cho biết thêm rằng, “Cũng theo báo cáo, nghi can Nguyễn Việt Khoa bị tạm giữ do liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma túy.”
Năm nào cũng xảy ra hơn chục vụ nghi can hay người bị tạm giữ chết bất thường tại trụ sở công an các nơi tại Việt Nam. Phần lớn vu cho họ tự tử. Đây là các chối tội giết người quen thuộc của công an CSVN dù những dấu hiệu tra tấn, nhục hình dẫn đến cái chết của họ nhìn thấy rất rõ bằng mắt thường. Pháp y của công an CSVN là “người nhà” nên luôn luôn vo tròn bóp méo các chứng cớ để giúp đám điều tra viên thoát tội.
Dù vậy, cũng không thấy tờ Thanh Niên cho hay ông Khoa có được khám nghiệm pháp y hay không. Không thấy có hình ảnh nào của Nguyễn Việt Khoa sau khi chết mà chỉ viết thòng thêm câu quen thuộc, “Hiện vụ việc đang được điều tra làm rõ.”
Một vụ khác, hồi đầu Tháng Tư vừa qua, cũng tờ Thanh Niên cho hay (và cũng theo báo cáo của “Ủy Ban Nhân Dân” thành phố Cà Mau) thì “lực lượng chức năng tiến hành mời” ông Nguyễn Trọng Tý, 57 tuổi, “về trụ sở để làm rõ. Nhưng ông Tý không chấp hành.”
Lý do là, trưa ngày 1 Tháng Tư, 2018, ông Tý bị bà L.T.H, 37 tuổi, ngụ khóm 4, P.6, thành phố Cà Mau, đến công an P.7 “trình báo việc mình bị ông Nguyễn Trọng Tý chửi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”
Tờ báo viết, “Khi lực lượng làm nhiệm vụ ra về thì ‘bất ngờ ông Tý tự bật ngửa và té xuống nền xi măng’ rồi tử vong sau đó.”
Không có một cuộc điều tra độc lập nào để biết sự thật “tự bật ngửa và té xuống nền xi măng rồi tử vong” của ông Tý hay ông ta chết vì một nguyên nhân nào khác.
Trong năm 2017, ít nhất có 13 người đã chết tại trụ sở công an CSVN tại các địa phương dù chỉ mới bị tạm giữ một vài giờ hay một hai ngày.
Đầu Tháng Năm, 2017, ông Nguyễn Hữu Tấn, một tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, ăn chay trường, sống bằng nghề bán hủ tíu chay dạo, đã chết với vết cắt rất sâu vòng quanh cổ chỉ sau một ngày bị công an tỉnh Vĩnh Long bị bắt giam khi vu cho ông “tàng trữ” cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH. Thân nhân ông cho hay nhà của họ không có cờ VNCH nào hết. Để chạy tội giết người công an nói “trong khi bị giam, ông Tấn đã lấy dao rọc giấy của điều tra viên khi ông ta vắng mặt để tự tử.”
Công an Vĩnh Long còn đưa ra chứng cứ với một video clip mờ mờ ảo ảo và ông lại mặc quần áo tù sọc dù ông mới bị bắt, chưa có án để bị bắt mặc quần áo tù nhân. Khi nhìn thi thể ông Tấn, thân nhân thấy sọ ông bị móp sâu, cổ có 3 vết cắt rất dài và rất sâu không kể những vết tích khác vì không thể tự gây ra được những thương tích đó.
Thân nhân ông Tấn bác bỏ những lời chối tội rất vụng về của công an Vĩnh Long và đòi làm rõ đến cùng để truy tố kẻ gây ra cái chết dã man cho ông, nhưng rồi vụ việc vẫn bị công an nhận cho chìm xuồng.
Hồi năm 2015, Bộ Công An CSVN báo cáo với Quốc Hội rằng trong thời gian ba năm từ 2012-2014, “số người bị bắt, tạm giữ hình sự lên tới trên 200 nghìn người.” Trong số đó “đã xảy ra 226 trường hợp chết tại nhà tạm giữ, trại tạm giam trên toàn quốc. Nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp tử vong này được Bộ Công An lý giải là do bệnh lý và do đối tượng bị tạm giữ, tạm giam tự sát.” Nhiều báo tại Việt Nam đưa tin.
Sau báo cáo vừa kể, những năm sau, không thấy Bộ Công An báo cáo tiếp về các trường hợp chết bất thường khi người ta vừa mới bị tạm giam. Còn người dân thì vẫn tiếp tục chết đột ngột dù nhà cầm quyền CSVN đã ký vào công ước quốc tế về chống tra tấn và nhục hình của Liên Hiệp Quốc từ Tháng Mười Một, năm 2013. (TN)

Cả trăm đại biểu Quốc Hội CSVN thường trốn họp và ‘ngủ gật’

Báo Lao Đông ngày 24 Tháng Ba, 2016, cóp lại hình ảnh trên đài truyền hình nhà nước VTV3 khi ba ông “đại biêu nhân dân” ngủ say sưa trong phiên họp Quốc Hội. (Hình: Lao Động)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – “Một bộ phận không nhỏ” các ông bà gọi là “đại biểu Quốc Hội” có thể cả trăm người, thường không có mặt trong các phiên họp của Quốc Hội dù đã được “đôn đốc.”
Tờ Thanh Niên hôm Thứ Ba, 5 Tháng Sáu, 2018, cho hay: “Kỳ họp này, Tổng Thư Ký Quốc Hội Nguyễn Hạnh Phúc lại phải ra công văn gửi đến các trưởng đoàn đại biểu Quốc Hội các địa phương để đôn đốc các thành viên trong đoàn của mình ‘tham gia đầy đủ các phiên họp của Quốc Hội’ vì có những đoàn vắng hơn nửa số đại biểu.”
Báo vừa kể nói: “Theo ông Nguyễn Hạnh Phúc, qua theo dõi thực tế và báo cáo của các đoàn đại biểu Quốc Hội tại kỳ họp này, một số phiên họp tại hội trường có số đại biểu vắng mặt nhiều hơn 20% tổng số đại biểu Quốc Hội, trong đó có đoàn vắng trên 50% số đại biểu.”
Quốc Hội CSVN gồm hầu hết là những ông bà đảng viên cao cấp ở trung ương và các địa phương, được đảng CSVN “cơ cấu” làm “đại biểu Quốc Hội” qua trò “đảng cử, dân bầu” trong khi vẫn nắm giữ các chức vụ quan trọng cả trong đảng và chính quyền.
Theo tờ Thanh Niên, đây không phải lần đầu có chuyện phải nhắc nhở các ông bà “đại biểu nhân dân” đừng trốn họp, nhưng là “việc mà tổng thư ký Quốc Hội thường phải làm trong các kỳ họp.”
Hồi “Tháng Chín, 2017, khi Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội cho ý kiến về chương trình kỳ họp thứ 4, tổng thư ký Quốc Hội cũng đã phải ‘đề nghị Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội chỉ đạo các vị trưởng đoàn quán triệt đến đại biểu Quốc Hội nâng cao hơn nữa trách nhiệm trước cử tri và nhân dân cả nước để tham dự đầy đủ các phiên họp của Quốc Hội,’ vì tại một số phiên họp, số đại biểu vắng quá nhiều,” tờ Thanh Niên viết.
Tờ Thanh Niên viết thêm rằng, “Năm 2016, cử tri cả nước đã xôn xao về việc đại biểu Quốc Hội ngủ gật. Thậm chí, khi đi tiếp xúc cử tri, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân còn được cử tri đề nghị nhắc các đại biểu đừng ngủ gật.”
Trước nữa, “vào kỳ họp thứ 10 của Quốc Hội khóa 13, nguyên Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng cũng đã phải lưu ý các đại biểu cần dành thời gian tối đa cho kỳ họp, không được vắng họp vì những lý do không chính đáng.”
Vắng mặt thường xuyên phải kể đến những ông “đại biểu nhân dân” cộm cán nhất như tổng bí thư đảng, chủ tịch nước, thủ tướng. Không mấy khi người ta thấy những ông này có mặt nhưng không biết các ông có nhận được văn thư “đôn đốc” đi họp hay không.
Quốc Hội CSVN bầu bán 5 năm một lần sau mỗi kỳ đại hội đảng sắp xếp lại. Trên danh nghĩa, Quốc Hội có 500 “đại biểu” nhưng năm nay một số rơi rụng vì bị cáo buộc nhiều thứ tội, từ “cố ý làm trái…” đến tham nhũng, ăn hối lộ.
Nổi bật nhất trong số “đại biểu” bị cưa ghế là Đinh La Thăng, cựu ủy viên Bộ Chính Trị, cựu bí thư Thành Ủy Sài Gòn bị kết án 31 năm tù qua hai vụ xử vì những tội khi còn nắm Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam. Trịnh Xuân Thanh, cựu phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, trước đó là chủ tịch Tổng Công Ty Xây Lắp Dầu Khí PVC (công ty con của Petro Vietnam) bị kết án tù chung thân.
Quốc Hội CSVN bị truyền thông quốc tế gọi là “con dấu cao su (rubber stamp)” được nặn ra chỉ để thông qua những đạo luật do đảng soạn sẵn. Những buổi “chất vấn” hoặc thảo luận các dự luật chỉ mang tính hình thức “màu mè dân chủ.”
Bởi vậy, ngày 1 Tháng Sáu, 2018, trong phiên thảo luận về “chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2019 và điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 2018,” đại biểu Lê Thanh Vân của tỉnh Cà Mau đã một lần nói thẳng: “Việc xây dựng nhà nước pháp quyền của chúng ta còn rất xa,” vì “luật Quốc Hội xây dựng vẫn còn là luật khung, luật ống; còn quản lý nhà nước chủ yếu bằng thông tư,” báo Thanh Niên tường thuật.
Quốc Hội CSVN cũng chỉ là một cái “hòm thư” nhận các đơn thư khiếu nại tố cáo của dân rồi chuyển đi đến các cơ quan cầm quyền các địa phương, còn không có thẩm quyền mở cuộc điều tra, giám sát. Thực tế này từng được đề cập nhiều lần. (TN)

Tuesday, June 5, 2018

Nhiều chuyên gia: Dự luật an ninh mạng ‘sai về bản chất’

VOA Tiếng Việt/Trân Văn/01/06/2018 
Thiên Hạ Luận  
Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phùng Xuân Nhạ.
Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phùng Xuân Nhạ.
Ông Phùng Xuân Nhạ, Bộ trưởng Giáo dục – Đào tạo, vừa tự biến chính mình thành bia cho dân chúng Việt Nam liệng ra đủ thứ từ ngữ, nhận định vốn chẳng hay ho chút nào cho cả uy tín của ông lẫn thể diện của chính phủ, khi đề nghị Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Dự luật sửa đổi Luật Giáo dục Đại học theo hướng loại bỏ việc “thu học phí”, cho phép hệ thống giáo dục đại học chuyển sang “thu giá dịch vụ đào tạo”.
Có một điểm đáng ngạc nhiên là tuần trước, ông Nguyễn Văn Thể, Bộ trưởng Giao thông – Vận tải, đồng liêu của ông Nhạ, vừa “ôm đầu máu” tháo chạy, vứt lại quyết tâm thay đổi những “Trạm Thu phí” cho các công trình giao thông được đầu tư theo hình thức BOT thành “Trạm Thu giá”, giữa con đường đưa Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Lúc các “Trạm Thu giá” đồng loạt chào đời, thiên hạ đã từng mỉa mai, nếu “thu phí” trở thành “thu giá”, hẳn sẽ có ngày viện phí trở thành “viện giá”, học phí trở thành “học giá”, lệ phí trở thành “lệ giá”, cước phí trở thành “cước giá”, án phí trở thành “án giá”, thậm chí đảng phí có thể sẽ được đổi thành… “đảng giá”! Chẳng ai dè trong bối cảnh như vậy, giữa lúc dân chúng thuộc đủ mọi giới đang sôi sùng sục như thế, ông Nhạ vẫn “xô cửa xông vào, liều mình như chẳng… có”!
Ngoài yếu tố có nhiều chuyện khó… ngờ, cuộc đời rõ ràng là còn có nhiều người mà nhận thức, ứng xử, ý kiến cũng thuộc loại… khó ngờ!
Đối diện với viễn cảnh “thu học phí” có thể được chuyển đổi thành “thu giá dịch vụ đào tạo” – theo… “qui định của pháp luật”, Cù Mai Công nhận định: Lúc này, chính phủ… “zui” thiệt. Vừa yên chút xíu là có vị… chọt cho… dân chửi! Hết Kim “Tiêm” (lối ví von có tính miệt thị bà Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Y tế) đến Thể “BOT” (ông Nguyễn Văn Thể, Bộ trưởng Giao thông – Vận tải), Tuấn “Đại cục” (ông Nguyễn Văn Tuấn, Tổng cục trưởng Du lịch thuộc Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch), tới Nhạ “Giá”!
Phạm Uyên Nguyên, bạn của Công, cho rằng: Chính trường đang bị biến thành… hí trường! Diệu An, một người bạn khác, tin đó là kiểu tấu hài để Quốc hội và nhân dân đỡ buồn ngủ! Quân Võ Minh Quân nghi ngờ, chính phủ hiện giờ không phải “chính phủ kiến tạo” mà là “chính phủ… chọc ngoáy”. Lam Hồng Nguyễn trấn an, tuy chưa có chính phủ kiến tạo nhưng rõ ràng nội các hiện nay là… chính phủ vui vẻ, đáng… phấn khởi! Hoài Lê thắc mắc: Trời nắng, nóng lắm hay sao mà phát bệnh nhiều vậy?..
Tuy rất khó có thể thống kê xem trên các diễn đàn điện tử, mạng xã hội như facebook có bao nhiêu người nguyền rủa, mỉa mai những quyết định như đổi tên những “Trạm Thu phí” cho các công trình giao thông được đầu tư theo hình thức BOT thành “Trạm Thu giá”, những ý tưởng như loại bỏ việc “thu học phí”, cho phép hệ thống giáo dục đại học chuyển sang “thu giá dịch vụ đào tạo”, những biện giải kiểu như một nhóm du khách Trung Quốc đồng loạt mặc áo thun quảng bá lãnh thổ Trung Quốc bao gồm cả biển Đông của Việt Nam, khi làm thủ tục nhập cảnh Viện Nam là “sự cố nhỏ” và khuyến cáo đừng để “sự cố nhỏ anh hưởng đến… đại cục”,… song có thể khẳng định, con số ấy không dưới hàng triệu và gần như không có ai biểu đạt sự đồng tình với các viên chức hiện là thành viên chính phủ.
Những từ như “ngu”, “điên”, “ngáo đá” (nhận thức đi vắng do dùng ma túy tổng hợp quá liều), khốn nạn,… càng ngày càng phổ biến trên các diễn đàn điện tử, mạng xã hội khi công chúng tham gia bàn luận về những sự kiện có liên quan đến viên chức trong hệ thống công quyền tại Việt Nam. Không ít người trong số này đề nghị xem lại việc canh giữ các bệnh viện tâm thần vì dường như chưa chặt chẽ, thành ra để “sổng”
nhiều… bệnh nhân, khiến… toàn dân khó chịu. Tuy nhiên cũng có những facebooker như Phạm Hoài Nhân, thay mặt… “Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2” (vốn vẫn được dân chúng gọi là Nhà thương Điên Biên Hòa), thông báo, bệnh viện này sẽ không nhận các bệnh nhân từng là Bộ trưởng hoặc Đại biểu Quốc hội vì “vượt quá khả năng điều trị”.
***
Có một điểm rất đáng lưu ý là dẫu số lượng lời nguyền rủa, miệt thị, mỉa mai tăng rất nhanh, mức độ bất bình, thất vọng về hệ thống công quyền của công chúng càng ngày càng cao nhưng các viên chức ở đủ mọi cấp, thuộc đủ mọi ngành vẫn tỏ ra rất vô tư cả trong hành động lẫn phát ngôn. Sự vô tư ấy đã vượt qua mức bình thường và nó khiến người ta nghi ngại đó là sự vô tư có… chủ đích. Đâu phải tự nhiên mà danh sách những viên chức trong hệ thống công quyền từ trung ương đến địa phương, ứng xử, phát ngôn,…vô tư đến mức đáng ngại càng ngày càng dài.
Trường hợp ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Việt Nam, có thể xem là … nặng nhất.
Sau những tuyên bố khiến dư luận trở thành bão, kiểu như: Đừng thắc mắc về công xa, các quốc gia khác còn sắm phi cơ riêng cho lãnh đạo! Nợ nần của Việt Nam không chỉ khoảng 120 tỉ Mỹ kim như Ngân hàng Thế giới công bố mà còn cao hơn nhưng chẳng có gì để phải hốt hoảng! Các dự án BOT không ảnh hưởng đến người nghèo! BOT có sai sót nhưng không tù mù! Giá xăng ngày càng tiệm cận với giá thế giới, đó là thành công về mặt điều hành!.. ông Kiên vẫn tiếp tục “lập ngôn” cho thiên hạ rủa. Tuần trước, ông Kiên bảo: “Thu giá” là… luật định, phải chờ khoảng năm năm nữa, sau khi Quốc hội xem xét, sửa luật mới tính đến chuyện bỏ hay không! Tuần này, ông Kiên chọc ngoáy đám đông thêm một lần nữa: Tại sao nhiều quốc gia có China Town, bang California của Mỹ có Little Saigon toàn người Việt,… nhưng không nơi nào lo ngại về an ninh, quốc phòng mà dân Việt Nam lại lo Trung Quốc kiểm soát các đặc khu mà hệ thống công quyền muốn thành lập?
Giống như nhiều lần trước đó, hàng ngàn facebooker đã tự nguyện xúm vào làm công việc mà họ gọi là “thông… não” cho ông Kiên. Theo đó, các khu China Town ở nhiều nơi trên thế giới, Little Saigon ở California – Mỹ không khiến ai lo vì chúng chỉ là những khu dân cư mà toàn bộ hoạt động phải tuân theo luật pháp của quốc gia sở tại, toàn bộ sinh hoạt được đặt dưới sự giam sát của chính quyền sở tại, khác hẳn với bản chất của các đặc khu… Thế nhưng chẳng có gì bảo đảm, thêm lần này nữa ông Kiên sẽ im lặng, ngưng huyên thuyên, bởi dường như ông Kiên có nhu cầu được xỉ vả.
***
Cũng nên nhắc lại hàng loạt tuyên bố cùng kiểu: Đất nước có bao giờ được như thế này chăng (?) của ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng CSVN. Hoặc mới đây, bất kể hàng loạt diễn biến đáng ngại cho chủ quyền Việt Nam trên biển Đông, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam, vẫn khẳng định: Kinh tế quốc phòng trên biển, thế trận quốc phòng toàn dân trên biển ngày càng tốt hơn. Dù thế giới và khu vực phức tạp nhưng chúng ta vẫn giữ được ổn định…Rồi bất kể những câu hỏi về thống kê, thu – chi vang vọng từ năm này sang năm khác và chưa bao giờ được trả lời thỏa đáng, ông Đinh Văn Nhã, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội Việt Nam, vẫn hùng hồn: Ngân sách của ta không còn gì là không minh bạch nữa rồi, đã là đỉnh cao của quốc tế, đỉnh cao về minh bạch... Không hiểu các phát ngôn này là biểu hiện của loại tâm bệnh nào.

Hiểu câu "Bình minh đang tới đất nước chúng ta" của thủ tướng như thế nào?


Phiếm luận
Thủ tướng Phúc rất hay ví von. Ví dụ tỉnh nào ông cũng bắt làm đầu tàu. Nhiều đầu tàu quá mỗi cái nó chạy đi một hướng thì mỗi tỉnh sẽ bị kéo văng đi khỏi thực thể, như kiểu tứ mã phanh thây. Ông ưa dùng những chữ gây ấn tượng mạnh như đầu tàu, thủ phủ, giấc mơ, trung tâm, thu nhỏ, cô gái đẹp ngủ quên... và chỗ nào ông cũng áp vào. Nhà báo Trương Duy Nhất dày công thông kê chỉ trong 2 năm 2016-2017, ông nói được 60 câu để đời như thế. Có vẻ thủ tướng là người rất hồn nhiên.
Trong 60 câu ấy, ở đây chỉ xin bàn đến một câu mà tôi cho là thú vị hơn cả: "Bình minh đang tới đất nước chúng ta".
Có lẽ ông dùng sai từ ngữ. Bình minh là khoảng thời gian lúc mặt trời gần mọc. Bình minh còn gọi là rạng đông. Nghĩa đen của bình minh là bắt đầu của một ban ngày (để phân biệt với bắt đầu của một ngày mới tức là lúc nửa đêm). Vì vậy, người ta dùng chữ bình minh để ví với giai đoạn bắt đầu của một số sự vật, hiện tượng như thuở bình minh của vũ trụ, bình minh của trái đất, bình minh của loài người, bình minh của tân nhạc. Một cuộc tình cho dù kết quả là sự đổ vỡ nhưng cái buổi ban đầu lưu luyến cũng có thể gọi là bình minh.
Trái nghĩa với bình minh là hoàng hôn. Hết hoàng hôn là bóng đêm. Nghĩa bóng của hoàng hôn là giai đoạn chuẩn bị kết thúc của một sự vật, hiện tượng như tuổi hoàng hôn của cuộc đời, hoàng hôn của chế độ.
Bình minh không mang ý nghĩa xấu hay tốt, nhưng có thể mang ý nghĩa đẹp bởi vẻ nguyên sơ của nó. Hình ảnh một em bé sơ sinh rất đáng yêu nhưng chưa biết lớn lên em có trở thành một người có ích cho xã hội hay không.
Với một quốc gia, bình minh là thuở dân tộc ở đó hình thành và quần tụ ở một dải đất nhất định và đã có một nhà nước sơ khai. Với nước ta đó là dân tộc Việt với nhà nước Văn Lang. Có thể ví thời kỳ Hùng Vương là bình minh của đất nước. Chứ 4 nghìn năm sau, sao còn gọi là bình minh. Nói như ông Phúc thì chẳng hóa ra đất nước chúng ta chưa hình thành
Ông Phúc có thể dùng chữ “rực rỡ” – thời kỳ rực rỡ đang tới đất nước chúng ta. Tuy chữ “rực rỡ” có thể đúng hay không đúng với thực tế, nhưng sẽ đúng về cách dùng từ theo tinh thần lạc quan, lãng mạn của ông.
*
Nhưng giật mình ngẫm lại, tôi thấy mình hình như đã sai, không hiểu đúng ý thâm ý của ông Phúc. Ông nói bình minh đang tới đất nước chúng ta có nghĩa đất nước ta bây giờ đang còn là đêm đen. Phải rồi, nói đất nước ta bây giờ đang đêm đen là rất đúng. Những biểu hiện của nó, từ chính trị, kinh tế, xã hội, cho đến cuộc sống bị áp bức, lầm than, đói khát dân chủ, nhân quyền của đại đa số người VN hiện nay, chẳng nói lên đêm đen là gì.
Có lẽ, với vị trí thủ tướng của mình, ông Phúc không thể nói toạc ra bóng đêm đang bao phủ lên đất nước ta. Nói như vậy thì chức thủ tướng của ông ắt bay đi trong giây lát. Có những điều không thể nói thẳng thì người ta tìm cách diễn đạt khác đi hoặc vòng vèo một tí, gọi là nói ám chỉ. Ở đây, thủ tướng tìm đến cách diễn đạt vòng vèo là bình minh đang đến. Trước bình minh là gì, mọi người phải tự hiểu.
Và vì vậy thủ tướng Phúc đang mơ hết đêm trời lại sáng như qui luật của tự nhiên. Tôi cũng đang mơ như thế, cả dân tộc này đang mơ như thế. Nói như một bài thơ “Nhật ký trong tù”: “Ngồi trên hố xí đợi ngày mai”.
Không biết nói thế có đúng ý ông Phúc không, nhưng rõ ràng phân tích về chữ nghĩa, tôi buộc phải hiểu như thế, với tinh thần mong muốn những điều tốt đẹp sẽ đến với đất nước chúng ta.
5/6/2018
Nguyễn Tường Thụy

Khoảng khắc ấy, được làm người


 (Xin Cám ơn những con người thầm lặng tôi thấy hôm nay)
 Sau những giờ phút tức giận, thậm chí là tuyệt vọng... có lúc tôi lại cảm thấy vô cùng thú vị về giai đoạn này của nước mình. Một giai đoạn rực rỡ xảo trá của những kẻ cầm quyền, và u uất khủng khiếp của hàng triệu người dân đang nhìn thấy viễn cảnh mình bị cai trị bởi bọn phản bội.
Dưới bề mặt lặng yên của đời sống, là sự sôi sục của từng con người vô danh. Những con người trước đây chỉ vì miếng cơm manh áo, vì gia đình của mình nên luôn im lặng, luôn chấp nhận... nay đã bật lên lời phản đối như một tiếng khóc. Thậm chí, có người viết trên facebook, nhân danh cả gia đình mình để phản đối - tức phần quan trọng nhất mà họ vẫn che chắn, giấu vào trong - giờ cũng đưa ra để minh chứng và bày tỏ một nguyện vọng được làm người.
Làm người - hai tiếng ấy ở đất nước này, bây giờ nghe thật vất vả làm sao. Những người không quen biết mà tôi nhìn thấy, rõ là sau khi cố dành dụm, chắt chiu, chấp nhận mọi thứ để mong được chút an sinh, giờ thì họ đã không còn nhẫn nại nổi, bật lên tiếng kêu cuối cùng là mong được làm người, và là người Việt Nam.
Thật thú vị - làm người - điều mà mấy trăm đại biểu quốc hội chắc cũng không mơ thấy nổi rằng họ có được khả năng ấy, dù vẫn được các chủ nhân ông, chủ nhân bà ve vuốt bộ lông và hàng ngày ám thị, gọi bằng "người".
Trong đêm, một thanh niên tham gia vào các nhóm tuyên truyền phản dư luận nhắn cho tôi như một tự thú đầy hoang mang. Bạn ấy kể là nhóm của bạn ấy được hướng dẫn cách thức phản dư luận như "đọc luật đặc khu chưa", chỉ là "kinh tế và phát triển", bị ảo tưởng về "thuyết âm mưu", coi chừng là "kỳ thị"... Và rất nhiều thứ khác. Nhưng ngay cả người thanh niên bị định hướng suy nghĩ ấy cũng ngơ ngác hỏi "sự thật là sao vậy chú?"
Đó là một câu hỏi khó với tôi, và có lẽ với rất nhiều người khác. Vì cốt lõi của câu hỏi là sự thật, điều mà 90 triệu dân Việt đói khát nó từ nhiều thập niên nay. Một câu hỏi khó bao gồm về mối quan hệ nồng ấm riêng của hai đảng cộng sản, chứ không phải của nhân dân và tổ quốc Việt Nam.
Nhưng chí ít, điều mà mọi người Việt Nam nên thú vị là dù sự thật bị ẩn giấu nơi nào đó, nó vẫn đủ sáng chói để in bóng trên mặt đất, đủ để nhận rõ cuộc sống hôm nay.
Với cách cầm quyền hiện tại, người ta nhận ra loại chủ nghĩa xã hội chư hầu, đã tạo ra đủ một lớp người không ngần ngại để khoe khoang thú tính của mình khi có cơ hội liếm láp vào quyền lực, vì chút lợi trên máng ăn riêng sẳn sàng vặn vẹo lý trí để tung hô điên cuồng và chà đạp quê hương, dân tộc mình. Chương trình "đổi quê hương lấy ghế" đang lan từ quan đến các loại trí thức, con mọn của nhà nước. Thật bỉ cực cho tổ tiên Việt Nam, nhưng âu cũng là chưa lúc nào như lúc này, thú vị vì dễ nhận mặt nhau, dễ gọi tên đúng về giống loài.
Giờ phút như tiếng chuông gióng lên buồn bã về số phận. Tôi cũng như những con người vô danh đang phản đối luật đặc khu nhượng địa 99 năm, chỉ là một đám đông cô thế trước hệ thống cầm quyền cả quyết. Sự cô độc đó, chợt nhắc tôi về bài thơ của Bắc Đảo trong sự kiện Thiên An Môn 1989. Trước lằn ranh của chọn lựa sống còn, ông viết rằng mình vô danh, chỉ có cây bút làm bạn, và rồi cũng để lại, từ biệt mẹ lên đường để chọn, dẫu phải chết, để được làm người.
Làm người đôi khi là cả một chặng đường dài, nhưng đôi khi chỉ là một khoảnh khắc chọn lựa. Tôi cũng đã bỏ lại cây viết của mình, nói từ biệt bình an trong tiếng chuông của số phận, và xin được góp một chỗ đứng cùng các bạn, những người vô danh, cô thế đang lên tiếng về quyền làm người Việt Nam trên quê hương mình. Tôi muốn rơi nước mắt khi nhìn những dòng viết phản đối có khi yếu ớt, có khi kềm chế và có khi đầy tuyệt vọng. Tôi biết, chúng ta cùng muốn được làm người, và phải là một người Việt Nam tự do, dù sợ hãi.
Vì vậy, tôi mang ơn các bạn.

Đặc khu kinh tế: Khi con nghiện đi cầm cố


Có thể nói rằng cho đến khi cái gọi là “Quốc hội” Việt Nam được chỉ thị của Bộ Chính trị Đảng CSVN đưa ra bàn bạc để thông qua cái gọi là “Luật Đơn vị hành chính đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc” thì âm mưu bán nước đã lộ rõ trước quốc dân đồng bào.
Cả đất nước dậy sóng phẫn nộ, bởi ba vị trí được đưa ra để làm “Đặc khu” kia là các vị trí hiểm yếu nhất về an ninh quốc phòng của đất nước. Oái oăm thay cái gọi là “luật” này mở đường cho việc “nước ngoài” - mà ai cũng hiểu rõ và chỉ rõ ra rằng đó là Trung Cộng – được thuê với thời hạn 99 năm.
Ba vị trí này nằm ở cả ba miền Bắc – Trung – Nam suốt chiều dài đất nước. Nghĩa là chỉ cần ba điểm này, kết hợp với Hoàng Sa, Trường Sa đang được anh “bạn vàng” của đảng – kẻ thù truyền kiếp luôn âm mưu bành trướng của dân tộc – “thống nhất quản lý” cùng với Bauxite ở Tây Nguyên và Formosa Vũng Áng, thì cái lưới rất mềm mại của Trung Cộng đã có thể cột chặt đất nước ta khỏi quẫy đạp.
99 năm, nghĩa là với 5 đời người, đưa nhà cho kẻ thù ở hẳn là rất có ý nghĩa trong việc “giao thiệp” với kẻ thù của dân tộc.  
“Dâng đất cho giặc - Bán nước có văn tự”
Có lẽ trong lịch sử đất nước ta, chỉ có thời Cộng sản mới có chuyện cho kẻ thù dân tộc mượn, thuê lãnh thổ mà thôi.
Còn nhớ, trên tuyến biên giới phía Bắc nước ta, có những điểm cao xen kẽ giữa Trung Cộng và Việt Nam, khi Trung Cộng đưa lý do đến những vùng xa xôi của họ rất khó khăn nên đặt vấn đề “mượn” những con đường qua lãnh thổ Việt Nam, thì với tinh thần “Quốc tế vô sản cao cả”, đảng CSVN không ngại ngần cho “mượn”.
Thế rồi từ “mượn” cho đến chiếm chỉ là một quá trình. Và sau cuộc chiến 1979, thì phần lãnh thổ Việt Nam mà những con đường Trung Cộng được đi qua đã biến mất.
Cái gọi là “hiệp định biên giới” do đảng lén lút ký với kẻ thù vào năm 1999, đã làm cho khối người dân vào tù, mất xác chỉ vì tò mò đòi hỏi đảng minh bạch chuyện biên giới.
Thế rồi, khi từng vùng lãnh thổ cụ thể như Bản Giốc, Ải Nam Quan và nhiều nơi khác không cánh mà bay, người dân chỉ biết ngửa mặt kêu Trời.
Lịch sử sẽ còn ghi lại những tên bán nước hại dân là những tên cầm đầu cái đảng Cộng sản và ký Hiệp định này như Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và những cái loa, công cụ như Lê Công Phụng – Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, trưởng đoàn đàm phán biên giới với cái tội làm biến đi 15.000 km vuông đất liền và 11.000 km vuông mặt biển dâng cho Trung Cộng.
Khi những nỗi đau từ việc mất đất đai trên biên giới, mất mặt biển của Tổ Quốc chưa nguôi, thì người ta bắt đầu đối mặt với việc Trung Cộng ngang nhiên xây dựng kiên cố, biến những phần lãnh thổ đang chiếm cướp của Việt Nam như Hoàng Sa, Trường Sa thành những pháo đài quân sự.
Đảng câm như thóc, không một động thái nào khả dĩ ngoài cái băng cassete cũ kỹ quay đi quay lại đến chán tai từ mồm cái gọi là “người phát ngôn Bộ ngoại giao” hoặc những cuộc “giao thiệp” với sứ quán của giặc Tàu để tỏ cho thiên hạ biết hết sự hèn hạ của cái đảng “quang vinh” này.
Kế đến, tiến thêm một bước công khai trong ván bài thôn tính lãnh thổ, tên bạn vàng của đảng, kẻ thù khốn nạn của đất nước này tiến hành vào ngay cửa nhà mình khoan thăm dò dầu khí. Cả đất nước bừng lên phẫn nộ, bằng những cuộc biểu tình rầm rộ thể hiện tinh thần yêu nước.
Đến lúc đó, đảng mới ra mặt bán nước cách trắng trợn bằng cách đàn áp, bắt bớ và hãm hại những người yêu nước. Trên mặt trận tuyên truyền, đảng leo lẻo rằng “Đã có đảng và nhà nước lo”.
Đám thân người đầu lợn mang tên Dư luận viên, những kẻ chỉ biết cho ăn no là nhảy cỡn lên réo eng éc ca ngợi đảng và được đảng sử dụng như những cái loa, những công cụ đi trấn áp người yêu nước.
Điều hài hước ở đây, là tên Dư luận viên Quang Lùn – kẻ có ông nội và ông ngoại được đảng chiếu cố cho chết đói trong nhà tù Cộng sản hồi Cải cách ruộng đất – đã nói huỵch toẹt ra nhiệm vụ của chúng là “Làm những việc mà đảng và nhà nước không làm được”. Đó là những việc mà đảng không thể giơ cái mặt thớt ra trước thiên hạ khi muốn đổ mắm tôm, khủng bố, đổ sơn, chửi bới hoặc phá phách người yêu nước thể hiện tinh thần của họ, thì đảng xua đám này ra làm càn và đứng đằng sau bảo kê.
Những hành động đó, nhằm dập tắt thái độ người dân thể hiện tinh thần yêu nước, dập tắt tất cả mọi lời nói, ngôn ngữ và hành động liên quan đến lãnh thổ của Tổ Quốc.
Mỗi lần Tổ Quốc bị hạ nhục, bị xâm lăng, khi người dân phản ứng, đảng liền hô hoán “Vì đại cục” để dẹp sự phản ứng của người dân.
Kết quả là cả gần 100 triệu người Việt phải bầm gan, ứa máu cho đảng mặc sức tung hoành bắt tay với giặc mà bán nước.
Việc bán nước được bắt đầu bằng những phương pháp “thâm như Tàu” về mọi mặt đã dần dần trói tay chân người Việt lại về văn hóa, kinh tế, chính trị, giao thương với bên ngoài…
Trong quá trình đó, nhằm chỉ lo bảo vệ cái ghế quyền lực của đảng đã cướp được, nhà cầm quyền CSVN đã tìm mọi cách hành động. Oái oăm thay, người dân đọc được ngày càng rõ hành động “hèn hạ với giặc, hung hãn với dân và phản dân hại nước” của họ.
Thế rồi từng bước một, từ lớn đến nhỏ theo một lộ trình vạch sẵn, đảng CSVN đã chỉ thị cho đám rối mang tên “Quốc hội” tiến thêm một bước mới là ra “luật” nhằm đưa lãnh thổ vào tay giặc mà nói theo ngôn ngữ dân gian là “Bán nước có văn tự”.
99 năm và hậu quả khôn lường
Tôi đã đến tòa nhà cao nhất thành phố Thâm Quyến của Trung Cộng bên bờ sông Thâm Quyến tiếp giáp với Hong Kong. Ở đó, trên tầng cao nhất của tòa nhà, có một bức tượng sáp bằng người thật. Đó là tượng Nữ Hoàng Anh Elyzabeth và Đặng Tiểu Bình trong cuộc gặp gỡ khi bàn về việc trao trả lãnh thổ Hong Kong lại cho Trung Quốc.
Người hướng dẫn nói với tôi rằng: Khi Đặng Tiểu Bình nói lời cuối cùng trong buổi gặp gỡ đó là bằng mọi giá, phải lấy lại Hong Kong, Nữ Hoàng Anh Elyzabeth đã choáng. Điều đó như một sự khẳng định khát khao lãnh thổ bằng mọi giá đối với bọn bành trướng mà trước đó, triều đình Mãn Thanh, suy đồi và yếu nhược đã phải cho mượn hoặc thuê đến 99 năm, một cái mốc mà nhiều đời không còn nhớ.
Và ngày này, Cộng sản Việt Nam đang tiếp tục bước vào những bước chân của một thể chế suy đồi rồi sụp đổ hơn cả trăm năm trước.
Có điều là ở đây có sự khác biệt lớn. Đó là Triều đình Mãn Thanh xưa kia, còn biết mà cho nước Anh, hoặc Bồ Đào Nha những nước văn minh kia mượn, thuê lãnh thổ. Để rồi từ đó, người dân Hong Kong và Macau được phồn vinh, thịnh đạt.
Còn Cộng sản Việt Nam dâng cho Tàu lãnh thổ của mình, thì người dân sẽ biến thành những vùng như Tân Cương, Tây Tạng… những nơi mà mạng người dân không bằng một con ruồi và người Hán cai trị họ như súc vật.
Chỉ bởi đơn giản rằng, chính người dân Đại lục còn nhục nhằn đói rách thì làm sao cộng sản có thể đối xử tốt với người dân thuộc địa, chư hầu của mình.
Rồi 99 năm sau, khi mấy đời người đã qua đi. Tiền đồ và của hồi môn mà chế độ cộng sản này để lại cho con cháu là hàng núi tiền nợ, một cơ đồ cạn kiệt hết mọi tài nguyên, nguồn sống, đất nước biến thành sa mạc, ô nhiễm mọi nơi, suy vong dòng giống… thì thử hỏi con cháu chúng ta sẽ tồn tại bằng gì?
Nguyên nhân của mọi nguyên nhân: Con nghiện đi cầm cố
Nhiều người hỏi rằng, tại sao đến giờ này, nhà cầm quyền CSVN luôn nghĩ ra được lắm chiêu trò đến vậy, vừa lạ lùng, vừa đảo ngược các giá trị văn hóa lịch sử xưa nay và đi ngược lại lợi ích đất nước, dân tộc?
Xin thưa là ở đây có hai nội dung cụ thể để nhà cầm quyền CSVN đặt ra, hăng hái thực hiện và mục đích của nó.
Thứ nhất, với thể chế cộng sản, việc giữ cái ngai vàng cướp được là quyền lực, để bóp nặn người dân là mục đích, biến người dân thành nô lệ là chuyện đương nhiên không cần suy nghĩ. Bởi xưa nay, với họ Chủ nghĩa cộng sản mới là quan trọng, còn dân tộc, đất nước chỉ là thứ không được tính đến.
Chính vì thế, khi người dân có can ngăn việc đưa Bauxite vào Tây Nguyên, đưa Formosa vào Hà Tĩnh… với những hậu quả được báo trước, thì đảng vẫn bỏ ngoài tai. Và câu nói nổi tiếng cho sự phản động đang được nhắc đến là “Đây là chủ trương lớn của đảng, phản đối cũng phải làm”. Để rồi hậu quả thì dân chịu.
Thứ hai, là với chế độ độc tài, tham nhũng đến mức lũng đoạn và suy đồi hiện nay, cơn khát tiền đã trở thành một thứ ma túy mà càng dùng càng phải tăng liều lượng.
Đến mức mà nhà nước sau khi bán hết tài nguyên đất nước, vay nợ tứ phương không đủ cho cơn nghiện hút của mình, thì việc tính đến bán nhà bán đất là tất yếu. Mới đây thôi chính phủ đã quyết định vay 17 tỷ đồng để trả nợ 11 tỷ. Con số vay để trả nợ làm người ta giật mình nhớ lại thành ngữ “giật gấu vá vai” mà dân ta thường sử dụng xưa nay cho những kẻ bần cùng.
Khi đảng trở thành con nghiện, tiêu phá đến những đồng cắc cuối cùng, tài sản, tài nguyên đã bị đào lên bán lỗ, thì việc cầm cố gia tài, thổ nhưỡng là chuyện hẳn nhiên phải đến.
Bên cạnh đảng “tài tình, sáng suốt và quang vinh” kia, ông bạn vàng của đảng đang tiến hành một mô hình “Chủ nghĩa đế quốc chủ nợ” bằng cách cho vay và áp lực để đối thủ phải cho nhượng đất, thuê lãnh thổ rất thành công. Srilanka là một ví dụ gần đây nhất khi buộc phải cho Trung Cộng thuê cảng 99 năm mới  được giảm nợ là một ví dụ.
Cũng từ muôn đời nay, anh bạn vàng của đảng vốn cao tay và thâm trầm luôn biết dùng đồng tiền đi trước, để mua cả bộ máy, cả hệ thống thì việc một đảng tham nhũng, đục khoét mắc bẫy là chuyện bình thường.
Và khi cơn nghiện đã đến mức phát bệnh, thì việc trí trá bằng luật, bằng “Quốc hội”… chỉ là những màn diễn thô kệch mà thôi. Chính Nguyễn Thị Kim Ngân đã nói: “Bộ Chính trị đã kết luận rồi… phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật đặc khu”. Để rồi qua đó, chúng có thể to mồm mà nói rằng “Quốc hội là của dân, sai thì dân chịu chứ kỷ luật ai” – Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Chủ tịch “Quốc hội Việt Nam”.
Vì thế, khi Nguyễn Thị Kim Ngân nói rằng: “một đồng rót vào đây là để hút về mấy chục, mấy trăm đồng chứ không phải làm đặc khu để nhiều năm sau nhìn lại thấy không được gì” cũng chỉ làm cho người dân phì cười mà nhắc lại câu nói dân gian: “Đừng nghe cave kể chuyện, chớ nghe con nghiện trình bày” mà thôi.
Suy cho cùng, nếu cái gọi là “luật đặc khu” này được đem ra áp dụng thành công để bán cơ đồ cho giặc, thì lỗi này lại ở chính hơn 90 triệu người dân Việt Nam. Bởi từ xa xưa, Tản Đà đã nói:
Chỉ bởi thằng dân ngu quá lợn
Cho nên, chúng nó mới làm quan
Ngày 1/6/2018
J.B Nguyễn Hữu Vinh

Dự luật "lập 3 đặc khu cho thuê 99 năm" hay dự luật bán nước?


Song Chi.
Có nên giao đất đặc khu vượt quá đời người? - Ảnh 2.
Khu vực cảng Cái Rồng, Vân Đồn, Quảng Ninh, nơi đây sẽ có các dự án khu đô thị thông minh, hiện đại xây dựng sát bên bờ cảng, nhìn ra biển - Ảnh: NGỌC QUANG
Mấy ngày qua từ trên báo chí chính thống cho đến trên mạng đã có quá nhiều bài viết bày tỏ sự lo ngại về dự án lập Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc (đặc khu) cho nước ngoài (mà nhiều khả năng là Trung Quốc) thuê với thời hạn 99 năm, về những hệ lụy khôn lường của dự luật này, nhất là trong khía cạnh an ninh, quốc phòng, chủ quyền đất nước…Người viết không muốn nhắc lại những điều đó nữa. Chỉ có một câu hỏi: Chúng ta thấy gì qua việc Quốc hội của nhà nước CHXHCN VN chuẩn bị bấm nút thông qua đề xuất "lập 3 đặc khu cho thuê 99 năm"?
1. Sự bất lực, bất tài, vô trách nhiệm của một đảng cầm quyền. Điều hành, lãnh đạo đất nước kiểu gì mà lâu nay bao nhiêu tài nguyên đất nước đào lên bán, bao nhiêu thuế phí các loại nhân dân è cổ ra đóng, bao nhiêu ngoại tệ mồ hôi xương máu của đồng bào ở nước ngoài và người đi lao động xuất khẩu gửi về hàng năm, cộng thêm tiền cho vay ưu đãi từ các nước trong nhiều năm qua, vậy mà cứ càng ngày càng nợ, nợ ngập mặt; mỗi năm cứ làm ra mười đồng thì trả lãi cho các nước hết bảy đồng, đến nỗi cuối cùng phải cắt từng phần thân thể đất nước ra cho thuê dài hạn?
2. Quốc hội chỉ là một cơ quan bù nhìn, cái gì mà Bộ Chính trị “đã kết luận rồi” là phải thông qua, thật ra từ trước tới giờ với mọi luật lệ của nhà nước này đều như thế, đều do Bộ Chính trị quyết định, qua câu nói của bà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân “Bộ Chính trị đã kết luận rồi, dự thảo luật không trái Hiến pháp, phải bàn để ra luật chứ không không thể không ra luật” (“Phải bàn để ra được luật đặc khu”, VnEconomy)
3. Lộ mặt những kẻ tham tiền, bán nước, đó là những kẻ công khai ủng hộ việc thông qua dự luật này! Trong đó có bà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân với câu nói trên đây, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu với câu phát biểu “Làm đặc khu là theo đúng nguyên lý là “dọn chỗ” để thu hút “phượng hoàng”đến làm tổ.” (“Phó Chủ tịch QH: Dọn chỗ đón 'phượng hoàng' vào đặc khu”, VietnamNet), Bộ trưởng KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng “đề nghị cho phép giữ nguyên thời gian cho thuê đất 99 năm như dự thảo. Bởi đây cũng là 1 chính sách vượt trội của nước ta và nhiều nước đã thực hiện” (“Đặc khu: Bộ trưởng KH&ĐT đề nghị giữ nguyên thời gian cho thuê đất 99 năm”, VietnamNet), ông Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc Hội Việt Nam với câu nói “Tại sao cứ sợ ảnh hưởng của Trung Quốc tại các đặc khu. Tại sao ở Úc, Pháp, Mỹ… đều có Chinatown. Ở California mình có Little Saigon. Ở đó toàn người Việt, nói bằng tiếng Việt, thì bang California có lo ngại vấn đề an ninh quốc phòng hay không?” (phỏng vấn trên Nhadautu.vn (9/5/2018),…và những kẻ khác nữa. Lịch sử rồi sẽ ghi danh bọn tội đồ bán nước công khai này.
4. Có thể tin vào những lời cam kết, hứa hẹn của những ai đang ra sức ủng hộ dự luật hay không? Hãy nhìn lại xem, có ai đếm được bao nhiêu lần đảng và nhà nước cộng sản VN có những quyết định, những chọn lựa sai lầm trong hơn 7 thập kỷ qua? Sai lầm từ trong lựa chọn mô hình thể chế chính trị, con đường đi cho đất nước, chọn bạn, chọn đồng minh, chọn giải pháp thống nhất bằng chiến tranh… cho đến những sai lầm về kinh tế đã đẩy VN ngày càng tụt hậu, ngập trong nợ nần và ngày càng lệ thuộc nặng nề vào Trung Cộng. Mới đây nhất trong vụ Bauxite Tây Nguyên hay Formosa, bất chấp sự ngăn cản của bao nhiêu trí thức, nhà khoa học, nhà chuyên môn và dân chúng, cái đám quyết liệt ủng hộ những dự án đó cũng nói hươu nói vượn rằng dự án sẽ lời ra sao, kinh tế VN sẽ cất cánh như thế nào…Bây giờ bauxite Tây Nguyên lỗ ngập mặt, Formosa chưa thấy lời đâu nhưng tác hại về môi trường, sức khỏe con người thì quá rõ…
Vậy mà bây giờ chúng lại quyết liệt ủng hộ việc cho Tàu thuê đất thành đặc khu trong 99 năm và vẽ ra những cái lợi trên trời. Ai tin được? Và nếu thất bại thì 99 năm sau bọn chúng, những kẻ đề xuất hay ký quyết định thông qua việc thành lập các đặc khu ngày hôm nay có còn sống để mà chịu trách nhiệm, thậm chí cả cái đảng cộng sản cũng có còn tồn tại để mà chịu trách nhiệm? Hay lại cũng các thế hệ con cháu người Việt trong tương lai phải hốt phân cho chúng? (Đó là nếu như VN còn tồn tại để mà sửa chữa lại những di hại kinh hoàng do chế độ cộng sản để lại)!
5. Nhưng điều đáng buồn và đáng lo hơn nhiều là có bao nhiêu phần trăm trong số gần 100 triệu dân Việt cả trong và ngoài nước quan tâm, lo lắng đến dự luật này?
Lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt đã từng vài lần mất nước, trong đó có 1000 năm đô hộ giặc Tàu, 100 năm đô hộ giặc Tây. Và trong thế kỷ XX, một chế độ tự do, dân chủ hơn, nhân bản, thịnh vượng hơn là chế độ VNCH đã bị bức tử, mất vào tay chế độ cộng sản độc tài, lạc hậu, luôn luôn đặt quyền lợi của đảng, của chế độ lên trên lợi ích của đất nước, dân tộc. Đó là những trang sử buồn, những bài học đau đớn cho cả dân tộc. Những bài học đó không lẽ vẫn chưa đủ thức tỉnh người Việt?
Nếu lần này VN lại mất vào tay Trung Cộng thì tương lai của đất nước này, dân tộc này còn tồi tệ đến đâu?

Tòa phúc thẩm y án với nhóm 14 người bị buộc tội khủng bố

RFA-2018-06-05  
Phiên tòa phúc thẩm xét xử 14 người bị buộc tội trong vụ đốt kho xe vi phạm giao thông ở Đồng Nai cũng như cho đặt bom ở Sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày 5/6/2018.
 Phiên tòa phúc thẩm xét xử 14 người bị buộc tội trong vụ đốt kho xe vi phạm giao thông ở Đồng Nai cũng như cho đặt bom ở Sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày 5/6/2018.-Screen capture of VNEXPRESS's video
Tòa phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 5 tháng 6 tuyên y án sơ thẩm đối với 14 người bị buộc tội trong vụ đốt kho xe vi phạm giao thông ở Đồng Nai cũng như cho đặt bom ở Sân bay Tân Sơn Nhất vào dịp 30 tháng tư năm 2016.
Theo đó, mức án đối với anh Đặng Hoàng Thiện vẫn giữ nguyên 16 năm tù giam và quản chế 5 năm tại địa phương; anh Nguyễn Đức Sinh 10 năm tù, quản chế 3 năm; các bị cáo còn lại từ 1 năm 6 tháng tù treo tới 12 năm tù giam với cáo buộc ‘khủng bố nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’ theo điều 84, Bộ Luật Hình sự năm 1999.
Theo truyền thông trong nước, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh nói rằng do các bị cáo còn trẻ và nhận thức hạn chế nên đã bị thế lực xấu trong và ngoài nước lôi kéo; tuy nhiên, tòa vẫn quyết định bác bỏ kháng cáo và giữ nguyên mức án sơ thẩm đối với 14 người này.
Cơ quan chức năng Việt Nam cho rằng hai người đang sống ở nước ngoài gồm Lisa Phạm và Đào Minh Quân đã chỉ đạo, lôi kéo Đặng Hoàng Thiện, Nguyễn Đức Sinh và những người khác tham gia thực hiện các vụ được gọi là khủng bố nhằm chống phá chính quyền nhân dân.
Cụ thể vào ngày 22/4/2016, các đối tượng này đã nhận chỉ đạo của Lisa Phạm mua vật liệu chế tạo bom xăng kích nổ bằng điều khiển từ xa rồi lên kế hoạch và thực hiện vụ nổ tại sân bay Tân Sơn Nhất vào dịp lễ 30/4; đồng thời gây nổ tại nhà kho tạm giữ xe vi phạm giao thông của Công an Thành phố Biên Hoà khiến cho 320 xe hư hỏng nặng, thiệt hại gần 1.3 tỷ đồng.
Đối với  Lisa Phạm và Đào Minh Quân hiện đang ở nước ngoài, cơ quan chức năng Việt Nam nói rằng khi bắt được sẽ xử lý sau.

Đặc khu kinh tế và 99 năm: Bài toán cũ và lỗi thời

Cát Linh, RFA-2018-06-04 
Phú Quốc, 1 trong 3 khu vực nằm trong Dự thảo Luật Đặc khu kinh tế - hành chính cho thuê đất 99 năm
 Phú Quốc, 1 trong 3 khu vực nằm trong Dự thảo Luật Đặc khu kinh tế - hành chính cho thuê đất 99 năm-AFP
Ngày 15-6 sắp đến, Quốc hội sẽ hoàn tất quá trình thảo luận và quyết định việc thông qua Dự thảo Luật Đặc khu kinh tế đối với Vân Đồn – Bắc Vân Phong và Phú Quốc.
Hàng triệu triệu người Việt Nam đang nỗ lực lên tiếng phản đối về dự án cho nước ngoài thuê đất làm đặc khu kéo dài 99 năm.
Phần 1: Đâu là những giá trị kinh tế cốt lõi của đặc khu kinh tế và những ‘nguy cơ’ nếu thực hiện điều này ở Việt Nam.

Mô hình không mới

Thuật ngữ “Đặc khu kinh tế” được nhắc đến rất nhiều những ngày qua vốn dĩ không phải ý tưởng mới với Việt Nam, và càng không xa lạ với thế giới.
Có một cách lý giải đơn giản nhất để hiểu về Đặc khu kinh tế (Special Economic Zone - SEZ), hay còn gọi là khu kinh tế tự do, là các khu kinh tế được thành lập trong một quốc gia nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước bằng các biện pháp khuyến khích đặc biệt.
Ông Lê Hưng Quốc, Nguyên Phó giám đốc Sở Ngoại vụ TPHCM chia sẻ cùng RFA về lịch sử của mô hình này.
“Cái mô hình kinh tế này thế giới người ta đã làm và có thành công có thất bại. Thành công ở Thẩm Quyến, rồi Thượng Hải. Thế nhưng, nhìn ở phía thứ hai, như Ấn Độ chẳng hạn. Ấn Độ hồi năm 60, 70 làm đặc khu như thế thì lại thất bại. Thành thử ra Việt Nam mình cũng muốn tìm mô hình nào đó để thúc đẩy phát triển kinh tế thì hoàn toàn chính đáng. Bây giờ 90 triệu dân mà không tìm ra bước đột phá thì rất nguy.”
Nói đến sự phát triển của Trung Quốc, người ta hay nhắc đến Thâm Quyến, hay Thượng Hải. Trong một tài liệu do Cộng đồng tri thức và Giáo dục nghiên cứu cho biết, vào năm 1978, khi Trung Quốc thực hiện chính sách kinh tế “mở cửa”, Thâm Quyến chỉ là một làng chài nghèo nàn, bên cạnh Hồng Kong lúc đó là thuộc địa của Anh quốc, giàu sang hoa lệ hàng đầu châu Á. Sau 30 năm khi Thâm Quyến được phát triển thành SEZ, ngôi làng này trở thành một trong những trung tâm kinh tế hàng đầu Trung Quốc, với dân số gần 13 triệu người và GDP hàng năm lên đến gần 300 tỷ USD.
Quốc hội khoá 14 năm 2017 từng đã thảo luận Dự luật Đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt với 104 điều khoản. Nếu được thông qua, văn bản này sẽ là cơ sở pháp lý cho việc hình thành SEZ ở Phú Quốc (Kiên Giang), Vân Phong (Khánh Hoà), và Vân Đồn (Quảng Ninh).
Thời trước những ông như Võ Văn Kiệt cũng đã nghĩ đến chuyện lập đặc khu. Ở Trung Quốc như Thâm Quyến người ta cũng lập đặc khu và đã đạt được mục đích nào đấy. Việt Nam cũng đã thử lập đặc khu đấy chứ, ví dụ như Đặc khu Bà Rịa – Vũng Tàu. Xong rồi cũng không điều khiển gì được, rồi cũng tan. - GS Nguyễn Đình Cống
Chi tiết này được Giáo sư Nguyễn Đình Cống khẳng định là “Đúng” và nhấn mạnh ngay rằng “Cách đây ba bốn chục năm, việc đặc khu là việc hay.”
“Thời trước những ông như Võ Văn Kiệt cũng đã nghĩ đến chuyện lập đặc khu. Ở Trung Quốc như Thâm Quyến người ta cũng lập đặc khu và đã đạt được mục đích nào đấy. Việt Nam cũng đã thử lập đặc khu đấy chứ, ví dụ như Đặc khu Bà Rịa – Vũng Tàu. Xong rồi cũng không điều khiển gì được, rồi cũng tan.”
Ngay cả việc lựa chọn Vân Đồn – Bắc Vân Phong và Phú Quốc làm đặc khu kinh tế, Giáo sư Nguyễn Đình Cống cũng khẳng định không phải là ý kiến mới xảy ra vài tháng nay.
“Nó từ lâu rồi. Những điều thảo luận chỗ ấy là Thường vụ Quốc hội đã thảo luận từ năm 2017. Và năm 2016 người ta đã đề xuất. Như thế là người ta đã chọn 3 nơi ấy.”

99 năm: Không còn mang lại lợi ích

Một vấn đề cũng quan trọng không kém, nhận được sự phản đối rất lớn từ cộng đồng, đó là thời gian cho thuê đất 99 năm.
Giải thích về con số này, Giáo sư Nguyễn Đình Cống cho biết nó có điểm xuất phát từ Trung Quốc cổ.
“Con số 99 năm là 1 con số có trong lịch sử, nhà Mãn Thanh cho nước Anh thuê Hồng Kong 99 năm. Và người ta cũng kiêng con số 100. Sau này có nhiều nước học theo. Đấy là chuyện xưa cách đây hàng trăm năm, lúc mà công nghệ phát triển chậm, đầu tư lao động, tài chính là chủ yếu. bây giờ với giai đoạn cách mạng 4.0 không cần phải yêu cầu có thuê đất dài như thế. Tôi cho là không cần.”
Một thời gian dài 99 năm, có thể tương ứng với 3 thế hệ trong gia đình. Do đó, lợi ích kinh tế, xã hội, văn hoá có được trong thời gian đó là vấn đề không nhỏ. Đây là nội dung được tranh luận khá nhiều trong các phiên họp Đại biểu Quốc hội vừa qua. Ông Phùng Quốc Hiển, Phó Chủ tich Quốc hội nêu ý kiến "Một câu hỏi cần được trả lời rõ là 3 đặc khu này mang lại lợi ích gì cho đất nước. Chúng ta phải bỏ ra cái gì để thu được cái gì?”
Cái mô hình kinh tế này thế giới người ta đã làm và có thành công có thất bại. Thành công ở Thẩm Quyến, rồi Thượng Hải. Thế nhưng, nhìn ở phía thứ hai, như Ấn Độ chẳng hạn. Ấn Độ hồi năm 60, 70 làm đặc khu như thế thì lại thất bại. Thành thử ra Việt Nam mình cũng muốn tìm mô hình nào đó để thúc đẩy phát triển kinh tế thì hoàn toàn chính đáng. Bây giờ 90 triệu dân mà không tìm ra bước đột phá thì rất nguy. - Ông Lê Hưng Quốc
Trả lời cho câu hỏi này, Giáo sư Nguyễn Đình Cống nhắc đến những nội dung được đưa ra trong Dự thảo Luật Đặc khu mà ông cho là không thực tiễn và không hợp thời.
“Tôi đọc dự thảo Luật Đặc khu 85 điều, 6 Chương, viết rất nhiều những thứ vớ vẫn trong ấy, gần 3 vạn từ.”
Việc lập ra 3 đặc khu này theo tôi là lợi ích, hại nhiều. Vì thứ nhất, cách lập đặc khu như luật dự thảo ấy đã cũ quá, không phù hợp nữa. Thứ hai, nó quá thiên về ý chí chủ quan của 1 số người định mang tư tưởng ấy ra áp đặt cho 1 thực tế sinh động.”
Chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn định nghĩa Đặc khu kinh tế như những cửa ngõ để đón nhận nguồn lực từ bên ngoài, là 1 nơi để chính quyền bắt đầu hội nhập với thế giới có thể học hỏi những kinh nghiệm, và áp dụng rộng rãi trên toàn quốc. Do đó ông cho rằng mô hình này không còn mang lại lợi ích với Việt Nam hiện tại.
“Phải nói rằng Việt Nam trong mấy chục năm đổi mới và mở cửa thì tính hội nhập của Việt Nam vào kinh tế thế giới rất cao, Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam còn cao hơn cả GDP. Điều đó cho thấy độ hội nhập của Việt Nam rất sâu vào kinh tế thế giới. Tôi cảm thấy những cơ chế thoáng nếu có thể áp dụng ở 1 nơi thì có thể áp dụng lại ở những nơi  khác.”
Vấn đề ông đặt ra là nếu Việt Nam đã chấp nhận một mô hình kinh tế mở và có một cơ chế đầu tư nước ngoài như thế thì nên áp dụng rộng rãi ở các địa phương khác. Do đó, cá nhân ông cho rằng Việt Nam hiện tại không cần những mô hình đặc khu kinh tế như Quốc hội đang thảo luận.
Vì không cần nên cũng không thể mang lại lợi ích, đó cũng là ý kiến của Giáo sư Nguyễn Đình Cống.
“Thành ra trước đây có ý kiến cho rằng đặc khu cũng có lợi ích kinh tế nào đấy trong hoàn cảnh còn khó khăn, cần phải thu hút vốn liếng của nước ngoài. Nhưng tình hình Việt Nam hiện nay, thì nhiều nhà nghiên cứu và tôi cũng tán thành rằng đặc khu không mang lại nhiều lợi ích, không quan trọng.”
Thành ra trước đây có ý kiến cho rằng đặc khu cũng có lợi ích kinh tế nào đấy trong hoàn cảnh còn khó khăn, cần phải thu hút vốn liếng của nước ngoài. Nhưng tình hình Việt Nam hiện nay, thì nhiều nhà nghiên cứu và tôi cũng tán thành rằng đặc khu không mang lại nhiều lợi ích, không quan trọng. - GS Nguyễn Đình Cống
Ý kiến này đồng thuận với nhận định của ông Sebastian Eckardt, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, được Giáo sư Tương Lai trích dẫn trong bài viết của ông: “Đặc khu 1960 xây dựng là lúc kinh tế thế giới đóng, vì thế mà các ưu đãi thuế phát huy hiệu quả. Nhưng hiện nay Việt Nam là mở … chúng ta phải tìm kiếm nguồn đầu tư và tài nguyên phát triển trong tương lai trong mối quan hệ mới, cần những chính sách mới thay vì chỉ cởi bỏ thuế quan”.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hôm thứ Hai 4-6-2018 lên tiếng cho hay, dự thảo luật đang trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện để trình Quốc hội xem xét, thông qua vào cuối kỳ họp này. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sẽ phân tích các ý kiến góp ý và cuối cùng Quốc hội sẽ xem xét, cân nhắc nhiều mặt trước khi thông qua. Thủ tướng Phúc nhấn mạnh "Thẩm quyền cuối cùng thuộc về Quốc hội.”
Trong bài phóng sự kế tiếp, chúng tôi xin gửi đến phần phân tích Vì sao sự phản đối của người dân trong nước và cả chuyên gia quốc tế đều nhắm vào Trung Quốc?