Showing posts with label XaHoi-KinhDoanh-VietNam. Show all posts
Showing posts with label XaHoi-KinhDoanh-VietNam. Show all posts

Friday, January 13, 2017

Gần 3,8 tỷ lít bia được tiêu thụ trong năm 2016 T

TÂM AN  20:58 12/01/2017 
BizLIVE - Sản lượng bia năm 2016 của Việt Nam là 3,788 tỷ lít bia, tính trung bình mỗi người Việt uống 42 lít bia, tăng khoảng 4 lít so với năm 2015.

Gần 3,8 tỷ lít bia được tiêu thụ trong năm 2016
Ảnh minh họa.
Báo cáo tình hình phát triển công nghiệp, thương mại của Bộ Công Thương cho biết, sản lượng bia năm 2016 của Việt Nam là 3,788 tỷ lít bia. Như vậy, tính trung bình mỗi người Việt uống 42 lít bia, tăng khoảng 4 lít so với năm 2015.
Bộ Công Thương đánh giá mức sản xuất và tiêu thụ của các nhà máy bia trong nước cả năm 2016 tăng chậm ở mức 9,3% và chỉ bằng 85,6% kế hoạch năm. Việc tăng thuế tiêu thụ đặc biệt thêm 5%, lên mức 55% từ tháng 1/2016 là nguyên nhân khiến sản lượng sản xuất, tiêu thụ của các doanh nghiệp tăng không như kỳ vọng trong năm qua.
Trong khi đó, các doanh nghiệp sản xuất trong nước gặp khó khăn khi phải tăng giá bán sản phẩm để bù đắp chi phí, thuế. Ngoài ra, do phải nộp ngân sách tăng và bị truy thu thuế từ những năm trước theo yêu cầu của Bộ Tài chính và Kiểm toán Nhà nước... cũng khiến các doanh nghiệp bia trong nước gặp khó khăn nhất định trong cân đối dòng tiền.
Hiện mức thuế tiêu thụ đặc biệt áp đối với mặt hàng bia là 55% và sẽ tăng lên 65% sau một năm nữa, nhưng sức tiêu thụ bia trong nước vẫn không ngừng tăng. Dự báo năm 2017 sản lượng sản xuất của ngành bia trong nước đạt khoảng 3,988 tỷ lít, tăng 10% so với 2016.
Ngành bia đặt mục tiêu đến năm 2020, cả nước sản xuất 4,1 tỷ lít bia, đến 2035 sản xuất 5,5 tỷ lít bia.
Với mức tiêu thụ hàng tỷ lít bia mỗi năm, Việt Nam trong vài năm trở lại đây vẫn được đánh giá là một trong những thị trường bia lớn nhất Châu Á.
Đến nay cả nước có khoảng 129 cơ sở sản xuất bia; trong 63 tỉnh thành phố trên cả nước hiện nay chỉ có 20 tỉnh là không có cơ sở sản xuất bia. Sản lượng sản xuất của các cơ sở sản xuất tập trung ở các tỉnh thành phố lớn như TP.HCM, Hà Nội, Thừa Thiên - Huế... với sản lượng lên tới 4,8 tỷ lít bia/năm, đủ cung ứng cho thị trường trong nước.

Saturday, July 30, 2016

Chuyên gia Phạm Chi Lan: "Là người đóng thuế, tôi phản đối vay vốn Trung Quốc!"

Vay 300 triệu USD của Trung Quốc làm cao tốc Vân Đồn - Móng Cái

Dân trí Xung quanh đề xuất đang có dư luận trái chiều mới đây về vay một ngân hàng của Trung Quốc 300 triệu USD để làm đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ đã bày tỏ sự phản đối.

Thưa bà, gần đây Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) có đề xuất vay vốn 300 triệu USD của một ngân hàng Trung Quốc để phát triển cao tốc Vân Đồn - Móng Cái? Bà bình luận gì về đề xuất này?
Có cần thiết vay nợ làm cao tốc?
- Tôi có nghe và cảm thấy rất lo lắng. Trước tiên là chúng ta cần xem xét sự cần thiết làm 1 tuyến cao tốc này trong bối cảnh phải đi vay hay không khi nợ công đang lớn. Bên cạnh đó, cơ chế vay vốn sẽ thế nào, giao hết cho tổng thầu Trung Quốc hay sao?
Bộ GTVT đề xuất vay Trung Quốc 300 triệu USD để làm đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, thuộc tỉnh Quảng Ninh (ảnh minh họa)
Bộ GTVT đề xuất vay Trung Quốc 300 triệu USD để làm đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, thuộc tỉnh Quảng Ninh (ảnh minh họa)
Hơn nữa, làm đường cao tốc trên khá nhạy cảm về an ninh quốc phòng. Ở đó từng có những dự án gây bất lợi cho Việt Nam như địa phương từng cho họ làm 1 khu sân golf án ngữ vị trí quan sát quốc phòng quan trọng.
Làm tiếp con đường này có mang lại lợi ích cho khu vực Đông Bắc hay không thì đây là câu hỏi lớn, cần giải thích. Đặc biệt với Trung Quốc, tham vọng của họ không hề suy giảm, không hề che giấu là làm một con đường hai vành đai hoặc đường tơ lụa trên biển... Tất cả cái đó, có đáng để Việt Nam làm cao tốc ở chỗ nhạy cảm hay không chứ chưa nói vốn của ai.
Tại sao bà lại lo lắng khi vay vốn của ngân hàng Trung Quốc để làm đường ? Cũng có người cho rằng đây cũng là một nguồn lực để Việt Nam tận dụng phát triển?
- Vốn vay đúng là nguồn lực, dù giá rẻ nhưng chúng ta cũng phải xét toàn cục. Tôi nói như này, dự án giao thông của Trung Quốc tại Việt Nam như đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông là minh chứng và bài học. Việt Nam vay 1 đồng nhưng giờ đắt thêm gấp 3 đồng rồi mà vẫn chưa xong. Vay của họ ràng buộc đủ mọi thứ, trong khi rất nhiều nghi ngờ về chất lượng công trình rồi. Quyết liệt như ông Đinh La Thăng đã từng phải thốt lên, vay của Trung Quốc bây giờ đành phải chịu, không làm gì được.
Tại sao vết xe đổ như thế ? Điều tệ hại chưa kết thúc thì lại lao vào cái mới. Chúng ta thừa biết vay vốn của Trung Quốc thì phải đi kèm nhiều điều kiện: Vốn của người ta thì công nghệ của người ta, thầu phụ của người ta thậm chí lao công cũng của người ta nốt, vật tư của người ta hết. Họ cho vay để bán hàng họ, tạo việc làm cho họ, trong khi thời gian tiến độ và chất lượng chúng ta không kiểm soát được.
Vốn Trung Quốc, bài học xương máu ở đường sắt Cát Linh - Hà Đông
Nếu chúng ta giỏi trong giám sát thì cũng không để cho Cát Linh - Hà Đông chậm như vậy, không để cho đường ống nước sông Đà vỡ lần thứ 18 liên tiếp. Thế thì tất cả bài học đó rất rõ rồi. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hiện nhạy cảm đến mức, ngay cả những người dân bình thường cũng không muốn vay mượn của Trung Quốc. Vậy tại sao các cơ quan Nhà nước lại cứ muốn nhảy vào ?
Ngoài các dự án hạ tầng thì rất nhiều dự án liên quan đến Trung Quốc như dự án Nhà máy thép Thái Nguyên, các dự án xi măng, thủy – nhiệt điện... đủ các thứ. Bất cứ dự án nào của Trung Quốc cũng đầy rẫy vấn đề. Là người đóng thuế, tôi không ủng hộ vay vốn Trung Quốc vì chỉ mang lại lợi cho Trung Quốc mà tác hại cho Việt Nam là rất lớn.
Phải nói thên là Trung Quốc đang trong quá trình chuyển đổi tăng trưởng, đi kèm là các công nghệ cũ được thay bằng công nghệ mới, vật liệu cũ bằng vật liệu mới, và vòng đời của các công nghệ, kỹ thuật cũ này sẽ được xuất khẩu sang các nước khác qua ODA, qua vốn vay.
Bài học này chính bản thân các nước Châu Phi thì họ đã nhận ra rồi, đi kèm vốn rẻ của Trung Quốc là nhiều rủi ro về tài nguyên, ô nhiễm môi trường. Điều tôi đau chính là quá nhiều bài học đau xót vậy mà các người trách nhiệm tại Việt Nam vẫn chưa rút được kinh nghiệm, tôi không hiểu được.
Làm đường thông thương tốt với Trung Quốc?
Việc xây dựng đường cao tốc, sẽ giúp Việt Nam khai thác thị trường tiêu thụ của Trung Quốc, giúp kinh tế Việt Nam xuất khẩu, giảm nhập siêu từ nước này, đó là giả thuyết hợp lý?
- Vấn đề của Việt Nam là chơi với Trung Quốc vừa có lợi thế, nhưng vừa có thách thức lớn. Nhưng tôi cảm nhận được qua các con số thì Việt Nam được hưởng lợi rất ít mà thách thức phần lớn. Bây giờ để cải thiện nhập siêu từ Trung Quốc phải tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế chứ không chỉ dựa vào việc làm một con đường.
Quan hệ thương mại với Trung Quốc không trở ngại vì do con đường. Hàng năm Việt Nam nhập khẩu hàng chục tỷ USD từ Trung Quốc, cả trên đường bộ, đường biển, hàng không? Đó có phải là khó khăn do con đường hay không? trong khi xuất khẩu của ta sang Trung Quốc èo uột lại bảo thiếu đường.
Cải thiện phải cải thiện ở chỗ khác. Trong các tuyên bố của Trung Quốc, họ vẫn nói cải thiện thương mại với Việt Nam, nhưng họ nhập cái gì ?, toàn nguyên liệu thô, đào hết mỏ nọ đến mỏ kia. Rồi trong việc nhập khẩu của phía Trung Quốc, cũng có nhiều bài, thủ thuật như: nhập khẩu gạo kém chất lượng, chè trộn phân lân rồi đi rêu rao chất lượng của Việt Nam xấu để chúng ta mất thương hiệu.
Bà phản đối nhưng đặt giả sử làm con đường cao tốc là thiết yếu, vậy bà có sáng kiến gì? Hơn nữa, trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc, nước này vẫn không phải là chủ nợ của Việt Nam, các nhà tư bản Trung Quốc không phải nhà đầu tư lớn, sao chúng ta phải lo?
- Hiện nay, theo quan sát của tôi Trung Quốc không phải là đối tác đầu tư, nhà đầu tư lớn tại Việt Nam. Các dạng đầu tư của Trung Quốc chủ yếu là qua bỏ thầu giá rẻ, tổng thầu EPC khá phổ biến. Hiện đã hơn 90% tổng thầu ở Việt Nam là rơi vào tay Trung Quốc. Giá bỏ thầu của họ rẻ nhưng rồi thời gian lại bị kéo dài, giá tăng lên.
Nếu hiện nay, chúng ta cần làm, thì hình thức kêu gọi vốn bằng hình thức hợp tác công tư (PPP) là hình thức hợp lý. Tuy nhiên, hiện nay còn có nhiều vấn đề như chi phí quá cao, có rất nhiều cái thiếu minh bạch, bản thân các dự án không có chủ đầu tư tốt cho nên bức xúc cho xã hội, nghi ngờ PPP. Tôi phải nhấn mạnh, bản chất phương thức PPP như BOT làm đường là không xấu, nhưng vì mình làm tồi nên không kêu gọi được dự án tốt, không vì thế mà nói PPP không tốt được, trong khi thế giới đã rất nhiều dự án.
Tuy nhiên, phía các đơn vị đưa ra đề xuất lại cho rằng, không thu hút được các nhà đầu tư theo phương thức PPP vì tổng vốn dự án quá lớn lên đến 300 triệu USD, không nhà đầu tư nào đáp ứng được?
- Tôi cho rằng, nếu dự án lớn ta chia nhiều cấu phần, phần nào đấu thầu tư nhân, kêu gọi được vốn của tư nhân thì ta làm triệt để nhằm giảm đầu tư ngân sách. Còn phần nào khó quá, tư nhân chê, không ai nhận thì Nhà nước đứng ra làm. Đấy là việc dự án cấp thiết, quan trọng.
Các cơ quan Nhà nước đã thử kêu gọi chưa hay mới đưa đề án ra đã nói rằng tư nhân họ không làm. Các anh có kêu gọi tư nhân chưa mà vội kết luận tư nhân không muốn tham gia vào. Mới đề xuất dự án mà đã giao hẳn cho tổng thầu, giao hẳn như vậy thì đâu còn quy trình để chúng ta quản lý, giám sát nữa, đấu thầu hay chọn lựa nữa.
Xin trân trọng cảm ơn bà.
29/07/2016 - 06:00 
Nguyễn Tuyền 
(thực hiện)

Wednesday, April 13, 2016

7,3 tỷ USD đang được "cất giấu" ở nước ngoài?

Dân trí Trong quý III/2015, dòng vốn đầu tư khác mà cấu phần chủ yếu là tiền gửi ở nước ngoài, vốn không đáng kể ở những giai đoạn trước, đã gia tăng đột biến lên mức 7,3 tỷ USD. Xu hướng này dự kiến sẽ tăng sau khi Ngân hàng Nhà nước đưa lãi suất tiền gửi ngoại tệ về 0%.

Báo cáo kinh tế vĩ mô quý I của Viện nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR) dẫn số liệu thống kê đến quý III/2015 cho biết, cán cân thanh toán đã có những diễn biến bất thường sau sự kiện Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ vào tháng 8/2015.
Theo đó, cán cân tổng thể chuyển từ trạng thái cân bằng sang thâm hụt lớn 6,6 tỷ USD trong quý III/2015, chủ yếu do cán cân tài chính đổi chiều.
Đáng lưu ý, hai cấu phần quan trọng nhất của cán cân tài chính là dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài không có sự biến động đáng kể. Tuy nhiên, một nhân tố mới xuất hiện là dòng vốn đầu tư khác mà cấu phần chủ yếu là tiền gửi ở nước ngoài, vốn không đáng kể ở những giai đoạn trước, đã gia tăng đột biến lên mức 7,3 tỷ USD.
Khoản đầu tư khác, mà chủ yếu là tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài tăng rất mạnh trong quý III/2015
Khoản đầu tư khác, mà chủ yếu là tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài tăng rất mạnh trong quý III/2015
Trao đổi với phóng viên Dân trí, đại diện VEPR cho biết: "Vì con số này quá lớn và bất thường nên chúng tôi đã đưa vào báo cáo lần này. Bình thường, khoản này chỉ chưa tới 2 tỷ USD".
"Đây là diễn biến bất thường cần phải tiếp tục theo dõi xu hướng, giải thích và dự báo xu hướng chặt chẽ" - bản báo cáo của VEPR nhấn mạnh. Đồng thời, VEPR cũng lưu ý thêm, trong cùng giai đoạn trên, trạng thái ngoại hối của hệ thống ngân hàng thương mại không có sự biến động quá lớn.
Theo giả thuyết của nhóm nghiên cứu, diễn biến bất thường này, một phần có thể xem như tình trạng "bẫy thanh khoản" với ngoại tệ của hệ thống ngân hàng.
Với giả thuyết này, từ nửa cuối năm 2015, các ngân hàng thương mại không tìm được đầu ra cho dòng vốn tiết kiệm ngoại tệ nên gửi tiền không kỳ hạn hoặc kỳ hạn ngắn ở ngân hàng nước ngoài là giải pháp sinh lợi tối ưu nhất.
Thêm vào đó, việc đưa lãi suất huy động ngoại tệ về 0% đã triệt tiêu động lực tiết kiệm ngoại tệ có kỳ hạn và phần lớn các khoản tiền gửi ngoại tệ sẽ ở dưới dạng không kỳ hạn. Như vậy, dòng tiền gửi ở nước ngoài có thể sẽ tiếp tục gia tăng trong các giai đoạn sau. Giải pháp này cũng sẽ được các ngân hàng thương mại lựa chọn khi gặp khó khăn trong việc cân đối thanh khoản ngoại tệ và cung ứng các khoản vay ngoại tệ cho doanh nghiệp.
Để tận dụng được nguồn vốn ngoại tệ khối lượng lớn đang gửi ở nước ngoài, VEPR cho rằng, NHNN nên triển khai những giải pháp đồng bộ để tạo được niềm tin vào tiền đồng.
Thứ Tư, 13/04/2016 - 17:03 
Bích Diệp

Saturday, March 26, 2016

2 vạn doanh nghiệp đóng cửa, bội chi ngân sách 45.000 tỷ đồng

Theo Bizlive-03-26-2016
Số liệu trên vừa được công bố trong báo cáo kết quả kinh tế xã hội 3 tháng đầu năm 2016 của Tổng cục Thống kê.

GDP quý I/2016 ước tính tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trên cao hơn mức tăng cùng kỳ của các năm 2012, 2013 và 2014, tuy nhiên, lại thấp hơn mức tăng của năm 2015 cho thấy nền kinh tế của Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu chững lại.
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2016 ước tính đạt 182,4 nghìn tỷ đồng, bằng 18% dự toán năm.

Trong đó, thu nội địa chiếm 152,1 nghìn tỷ đồng; thu từ dầu thô 7,2 nghìn tỷ đồng; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 22,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt 31,8 nghìn tỷ đồng, chủ yếu do giảm thu từ nhà máy lọc dầu Dung Quất do giá dầu giảm.

Trong khi đó, tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2016 ước tính đạt 227,7 nghìn tỷ đồng , bằng 17,9% dự toán. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 40,1 nghìn tỷ đồng, tương đương với số chi trả nợ và viện trợ là 31,9 nghìn tỷ đồng.

Như vậy, trong 3 tháng đầu năm, Việt Nam đã bội chi ngân sách khoảng 45.000 tỷ đồng. 

Cũng theo Tổng cục Thống kê, trong 3 tháng đầu năm 2016, tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động là 20.044, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước.

Con số doanh nghiệp đóng cửa, giải thể thực tế quý I/2016 cao hơn 1.200 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm 2015 khi số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động của quý I/2015 là 18.700 doanh nghiệp.

Về số thành lập mới, quý I/2016 cả nước cả nước có 23.767 doanh nghiệp, tổng vốn đạt 186.000 tỷ đồng, tăng 24,8% về số lượng và tăng 67,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015. Số vốn đăng ký bình quân đạt 7,8 tỷ đồng.

Riêng trong tháng 3/2016, cả nước có hơn 9.800 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 72.900 tỷ đồng, tăng 76,6% về số doanh nghiệp và tăng 35,7% về số vốn đăng ký so với tháng trước.

Theo nhận định của cơ quan thống kê, nền kinh tế của Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu chững lại và cũng đang đối mặt với không ít những thách thức, khó khăn. 

Kinh thế giới diễn biến phức tạp, kinh tế Việt Nam cũng phải chịu nhiều bất lợi. Đặc biệt, tình hình hạn hán ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và xâm ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long đã ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và xuất nhập khẩu, Tổng cục Thống kê cho biết.



Friday, March 18, 2016

Giật mình với số doanh nghiệp “chết” trong các ngành tài chính ngân hàng, y tế!

T.M-07:48 19/03/2016
BizLIVE - Tài chính ngân hàng và y tế là 2 lĩnh vực có số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh nhất trong 2 tháng đầu năm với mức tăng lần lượt là 300% và 91,7%.

Giật mình với số doanh nghiệp “chết” trong các ngành tài chính ngân hàng, y tế!
Ảnh minh họa.
Báo cáo thống kê chuyên đề tình hình hoạt động doanh nghiệp của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và đầu tư) cho biết, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể những tháng đầu năm 2016 có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm 2015.
Cụ thể, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 02 tháng đầu năm 2016 của cả nước là 2.195 doanh nghiệp, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước. 
Trong tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước trong 02 tháng đầu năm 2016 có 905 công ty TNHH 1 thành viên chiếm 41,2%; 654 công ty TNHH 2 thành viên chiếm 29,8%; 370 công ty cổ phần chiếm 16,9% và 266 doanh nghiệp tư nhân chiếm 12,1%.
So với cùng kỳ năm 2015, số doanh nghiệp giải thể trong 2 tháng đầu năm 2016 tăng ở tất cả các loại hình doanh nghiệp. Trong đó công ty TNHH 1 thành viên có tỷ lệ tăng cao nhất là 41,2%, tiếp đến là công ty TNHH 2 thành viên là 29,8% và các loại hình còn lại. 
Xét theo quy mô vốn, số lượng doanh nghiệp giải thể phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký nhỏ dưới 10 tỷ đồng là 2.051 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 93,4% trên tổng số doanh nghiệp giải thể của cả nước, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2015.
Phân theo vùng lãnh thổ, tình hình oanh nghiệp đăng ký giải thể trong 2 tháng qua giảm tại một số vùng trong cả nước so với cùng kỳ năm 2015.
Cụ thể, khu vực Trung du và miền núi phía Bắc có 123 doanh nghiệp giảm 32,4%; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 270 doanh nghiệp giảm 29,7%; Đồng bằng Sông Cửu Long có 424 doanh nghiệp giảm 13,6% và Tây Nguyên có 68 doanh nghiệp giảm 9,3%.
Trong khi đó, khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Hồng lại có số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh. Theo đó, Đông Nam Bộ với 914 doanh nghiệp, tăng 65,3% và Đồng bằng sông Hồng có 396 doanh nghiệp, tăng 7%.
Phân theo lĩnh vực hoạt động, có 2 ngành, lĩnh vực có số doanh nghiệp giải thể giảm so với cùng kỳ năm trước gồm: Khai khoáng có 19 doanh nghiệp giảm 38,7%; Xây dựng có 212 doanh nghiệp giảm 28,9%.
Các ngành, lĩnh vực còn lại đều có số doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ năm 2015 như: Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội có 16 doanh nghiệp tăng 300%; Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có 23 doanh nghiệp tăng 91,7%; Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có 111 doanh nghiệp tăng 88,1%;...
Duy nhất, lĩnh vực hoạt động dịch vụ khác có số doanh nghiệp giải thể không thay đổi so với cùng kỳ năm 2015.

Monday, February 22, 2016

“Quan chức Việt uống rượu xịn hơn Nhật, viện trợ cho VN làm gì nữa?"

Theo Infonet-22/02/2016  07:54 

Có lần tôi nói chuyện với trưởng JICA, cơ quan viện trợ của Nhật Bản cho Việt Nam, ông nói có lần quan chức địa phương mời ông những chai rượu hàng nghìn đôla mà ở Nhật cũng không dám uống. Vậy thì Nhật Bản còn viện trợ cho VN làm gì nữa?"
Theo thống kê của các sở y tế trên cả nước, chỉ trong 8 ngày Tết, cả nước có hơn 5000 trường hợp nhập viện vì đánh nhau, trong đó có 13 người tử vong. Trong đó, nguyên nhân của rất nhiều vụ đánh nhau ngày Tết là do say rượu bia.
Đánh giá về mức độ tiêu thụ rượu bia của người Việt, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói: “Tôi nghĩ có một con số mà người Việt chẳng đáng tự hào gì đó là người Việt tiêu thụ bia nhiều nhất trong khu vực. Nhất là trong điều kiện Việt Nam là một nước nghèo, thu nhập thấp, chắt chiu nhiều, vẫn phải ngửa tay đi xin viện trợ và còn nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo cần phải làm trong nước”.
Theo bà Lan, trong điều kiện khó khăn như vậy nhưng  mức tiêu thụ rượu bia lại ở mức cực kỳ vô lý.
“Tôi cũng không hiểu nổi những người đàn ông Việt Nam. Trong khi người phụ nữ trong gia đình phải vất vả kiếm tiền, chung sức làm việc nuôi gia đình, cùng nuôi con cái, tạo điều kiện cho con cái học hành, thì đàn ông lại tiêu thụ rượu bia nhiều đến thế”, vị chuyên gia nhấn mạnh.
rượu bia, nước giải khát
Bà Phạm Chi Lan
Càng tàn tệ hơn, rượu bia là nguyên nhân của tai nạn giao thông, bạo lực trong gia đình. Chỉ vì rượu bia mà mất hết lí trí, tàn sát, đâm chém kể cả người thân, gia đình, hàng xóm...
“Mỗi dịp Tết tôi quá buồn về những con số về tai nạn giao thông. Mà trong đó có hơn 70% tai nạn giao thông nguyên nhân do rượu bia. Đó là chưa kể, bệnh tật do rượu bia, gây ra gánh nặng cho xã hội, gia đình.Tôi làm việc, biết những người có trình độ hẳn hoi nhưng có thói quen uống rượu bia quá nhiều, đến lúc bệnh tật, tử vong ở độ tuổi còn  rất trẻ”, bà Lan xót xa.
Bà Lan cho rằng, mặc dù Nhà nước đã có lệnh cấm không sử dụng rượu bia trong giờ làm việc, bữa trưa nhưng thực tế không cấm được hoàn toàn. Thậm chí đi về các nơi có thể thấy, người nhà nước, quan chức ở các địa phương dùng những chai rượu rất đắt tiền.
“Đã có lần tôi ngồi nói chuyện với trưởng JICA ở Việt Nam, cơ quan viện trợ của Nhật Bản cho Việt Nam, ông ấy nói có lần về địa phương, quan chức địa phương mời ông những chai rượu hàng nghìn đôla mà ở Nhật họ cũng không dám uống. Ngoài ra tiêu dùng những thứ rất đắt tiền, đồng hồ, điện thoại, ô tô…cao hơn rất nhiều  với mức sống.
Thế nên ông ấy mới nghĩ bụng, như vậy thì Nhật Bản còn đi viện trợ cho Việt Nam làm gì nữa”, bà Phạm Chi Lan kể .







“Đã có lần tôi ngồi nói chuyện với trưởng JICA ở Việt Nam, cơ quan viện trợ của Nhật Bản cho Việt Nam, ông ấy nói có lần về địa phương, quan chức địa phương mời ông những chai rượu hàng nghìn đôla mà ở Nhật họ cũng không dám uống những chai rượu như thế cả. Ngoài ra tiêu dùng những thứ rất đắt tiền, đồng hồ, điện thoại, ô tô…cao hơn rất nhiều  với mức sống. Thế nên ông ấy mới nghĩ bụng, như vậy thì Nhật Bản còn đi viện trợ cho Việt Nam làm gì nữa”, bà Lan kể lại câu chuyện.
Theo bà, Việt Nam không chỉ đứng top đầu về mức độ tiêu thụ rượu bia nhiều nhất nhất thế giới mà còn có tình trạng, nhiều quan chức của tỉnh nghèo đang phải ngửa tay xin viện trợ nhưng tiêu dùng rất hoang phí, không thích đáng.
“Tuy ông ấy không nói ra nhưng tôi nghĩ trong đầu ông ấy đang đặt câu hỏi những người đó sử dụng như vậy, phải chăng một phần tiền viện trợ đang chảy vào túi quan tham chứ không phải về đến tay người dân nghèo”, bà Phạm Chi Lan nói.
Cũng có nhiều ý kiến cho rằng cần đánh mạnh vào thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu bia để hạn chế tình trạng này. Trước ý kiến này, chuyên gia Phạm Chi Lan cho rằng đây là việc nên làm. Theo bà nên đánh vào thuế rượu bia để giảm thuế, những chi phí khác cho người dân như xăng dầu, chi phí tăng lên cho giáo dục, y tế…Nên tăng thêm thuế rượu bia để giảm đi những chi phí khác cho xã hội.
Hiện nay các nhà máy bia đua nhau mở ra, đó là nguồn thu cho địa phương. Chính vì thế mà có những chuyện như tỉnh nọ, tỉnh kia ra lệnh cho các cơ quan, doanh nghiệp sử dụng sản phẩm trong tỉnh nhà.
Theo chuyên gia Phạm Chi Lan, để giải quyết bài toán giữa một bên là thu ngân sách và một bên là hạn chế tiêu thụ rượu bia, thì nên tăng thu từ những cửa hàng kinh doanh rượu bia.
“Các cửa hàng bia mở ra tràn lan chứng tỏ họ thu được lời ghê gớm trong việc tiêu thụ. Đã có lần báo chí đã đưa, có người nước ngoài nhận xét cái dễ tìm nhất ở Việt Nam là cửa hàng bia vì nó có ở khắp nơi. Chính vì vậy tôi nghĩ đánh vào người tiêu dùng, người sản xuất đã đành nhưng đánh vào người kinh doanh như vậy. Họ là người trực tiếp đưa rượu bia tiêu thụ ra thị trường, trực tiếp khuyến khích người sử dụng”, Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhận định.
Tuy nhiên thuế má cũng chỉ là một phần bởi người uống rượu bia đủ tầng lớp, người giàu, nghèo đều có. Người giàu dùng rượu bia đắt tiền, còn người nghèo kiếm được 1 chút tiền, một chút tích lũy thì việc đầu tiên là mang đi nhậu. Chính vì thế, vị chuyên gia cho rằng, đòn về kinh tế không thể giải quyết được các vấn đề rượu bia ở Việt Nam, gốc rễ của vấn đề nằm ở văn hóa tiêu dùng. Ngoài việc giáo dục, tuyên truyền, theo bà Lan cần có biện pháp trừng phạt mạnh hơn với trường hợp sử dụng rượu bia quá nhiều.
Trong một cuộc họp bà Phạm Chi Lan đã từng phát biểu, Việt Nam xuất khẩu gạo được 3 tỷ USD, nhưng chi ra 3 tỷ USD để tiêu thụ bia.
Con số mà bà nêu ra đủ cho thấy mức độ tiêu thụ rượu bia của người Việt như thế nào. Mỗi năm Việt Nam chỉ xuất khẩu gạo được khoảng 3 tỷ USD, trong đó chưa kể tiền đầu tư giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thủy lợi, đường sá…Nếu tính  tất cả các chi phí thì trong 3 tỷ đó chúng ta chỉ thu được hơn 1 tỷ.
“Vậy bao nhiêu công sức của hơn 5 triệu nông dân vật lộn với ruộng đồng làm ra gạo chỉ đáng ngang tiền uống bia, như thế có đáng không? 3 tỷ đó có đáng với công sức của nông dân hay không. Điều này không bõ chút nào với việc tiêu thụ rượu bia nhiều như thế”, bà Lan nhấn mạnh.

Saturday, February 20, 2016

Đại gia dầu khí tháo chạy khỏi Việt Nam

Nhiều “ông lớn” dầu khí nước ngoài đang lần lượt rút lui khỏi các dự án lọc dầu nhiều tỷ đô ở Việt Nam do một phần lo ngại giá dầu khó phục hồi.

Trì hoãn và rút lui
“Hiện nay nhà đầu tư vẫn chưa có động thái gì mới để triển khai dự án. Chúng tôi vẫn chưa nhận được hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho dự án này. Nhà đầu tư hẹn đến giữa năm 2016 sẽ tính các bước tiếp theo”, một lãnh đạo của Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh Bình Định nhắc đến dự án lọc dầu Nhơn Hội với vốn đầu tư đề xuất lên tới 22 tỷ USD của Tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT).
Trong khi đó, vị lãnh đạo này cũng cho biết, việc chọn nhà đầu tư trong nước để cùng tham gia dự án cũng chưa có tín hiệu nào mới. 
Dầu khi, lọc dầu, Nguyễn Mại, hóa dầu, đại gia, tăng trưởng, công nghiệp hóa, Bộ Công Thương, vốn lớn, FDI
Siêu dự án lọc hóa dầu luôn gây tranh cãi
Đã hơn 4 năm kể từ khi siêu dự án lọc dầu này được hé lộ và gây xôn xao dư luận, tiến độ dự án này vẫn chỉ dừng lại ở bản kế hoạch trên giấy. Cũng phải nói thêm, khởi điểm nhà đầu tư đề xuất dự án này là số vốn 28-30 tỷ USD và khi đó giá dầu vẫn cao ngất ngưởng.
Dù chưa thể nói gì về tương lai đại dự án này nhưng một trong những nhiệm vụ chủ yếu năm 2016 được Ban Quản lý khu kinh tế Bình Định đặt ra là “tập trung phối hợp, hỗ trợ Tập đoàn PTT Thái Lan lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và triển khai Dự án Tổ hợp Lọc - Hóa dầu Nhơn Hội; Xúc tiến thu hút các dự án phụ trợ cho Dự án Tổ hợp Lọc – Hóa dầu”.
Cách đây ít lâu, Tập đoàn Gazprom Neft (GPN - Nga) đã chính thức có thông báo không tiếp tục đàm phán việc chuyển nhượng 49% cổ phần nhà máy lọc dầu Dung Quất với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.
Khi bày tỏ ý định mua 49% cổ phần của lọc dầu Dung Quất, Gazprom Neft đã đã đề xuất các gói ưu đãi với nhiều phương án khác nhau, trong đó phương án được Gazprom Neft trả giá cao nhất là khi được nhiều ưu đãi. Nhưng với sự rút lui này thì có vẻ các yêu cầu ưu đãi đã không có được sự gật đầu đồng ý.
Một tập đoàn khác cũng lặng lẽ rời bỏ dự án lọc dầu gần 4 tỷ USD ở Bà Rịa Vũng Tàu là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Qatar (QP). QP đã chính thức rút khỏi dự án Tổ hợp lọc hóa dầu Long Sơn với lý do là nằm trong định hướng tái cơ cấu và thay đổi chiến lược phát triển của QP. 
Dự án Tổ hợp lọc hóa dầu Long Sơn là dự án liên doanh của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tập đoàn SCG của Thái Lan và Tập đoàn QP. Vào tháng 9/2015 tại Qatar, đại diện của PVN, SCG và Công ty TNHH Hóa dầu Long Sơn (LSP) đã làm việc với QP về các điều khoản chuyển nhượng phần vốn của QP trong dự án lọc dầu Long Sơn.
Giá giảm: Mạo hiểm đầu tư lọc dầu?
GS.TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp Hội DN đầu tư nước ngoài cho rằng: Tôi ủng hộ việc các nhà đầu tư ngoại rút khỏi những dự án lọc dầu ở Việt Nam. Bởi vì trữ lượng dầu của Việt Nam không nhiều lắm, mỗi năm khai thác 14-15 triệu tấn dầu thô, như vậy chỉ 15-20 năm nữa là hết dầu. Nếu nhập dầu thô để sản xuất dầu tinh ở Việt Nam, rồi xuất khẩu thì giá trị gia tăng chỉ thêm 10%.
Dầu khi, lọc dầu, Nguyễn Mại, hóa dầu, đại gia, tăng trưởng, công nghiệp hóa, Bộ Công Thương, vốn lớn, FDI
Khu kinh tế Nhơn Hội
“Gần đây trên thế giới nguồn cung dầu thừa, giá dầu giảm mạnh, cho nên DN đầu tư cũng không lãi bao nhiêu nên họ rút” – GS Nguyễn Mại chia sẻ.
Tại hội thảo ở Đại học Kinh tế Quốc dân cách đây ít lâu, chuyên gia kinh tế TS Cấn Văn Lực cho rằng: Giá dầu giảm mạnh nên nhiều chủ đầu tư không đầu tư thêm vào dầu nữa. Tập đoàn PTT của Thái Lan ở Bình Định nói luôn giá dầu giảm chúng tôi đầu tư làm gì. Hiện nay cả Mỹ, Trung Đông ngừng không triển khai tiếp các dự án như vậy.
Thực tế, giá dầu giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 13 năm qua đang khiến các DN năng lượng thế giới phải cắt giảm đầu tư. Hãng tư vấn Wood Mackenzie cho hay có đến 68 dự án dầu khí lớn với tổng trị giá 380 tỉ USD đã và đang bị trì hoãn.
Những dự án lọc dầu ở Việt Nam cũng không nằm ngoài tình hình chung này. Song, GS.TSKH Nguyễn Mại lại có góc nhìn tích cực trước thực tế này.
Theo GS Nguyễn Mại, các dự án lọc dầu cần vốn đầu tư lớn, song giá trị gia tăng không cao, lại tạo ra không nhiều công ăn việc làm, nên đóng góp ngân sách cũng không lớn.
“Một dự án như lọc dầu Nhơn Hội phải sử dụng hàng trăm ha đất, nhưng số lao động trong chỉ khoảng dăm nghìn người. Trong khi đó, 100 ha đất, mới chỉ sử dụng 65 ha song nhà máy điện tử Samsung ở Bắc Ninh đã có 45 nghìn người có việc làm. Trong lúc đó, lọc dầu ô nhiễm môi trường ghê gớm. Do đó, những dự án lọc dầu của các nước như Singapore thường làm ngoài đảo, hoặc làm ở biển.
“Quan điểm của tôi từ lâu là không nên thêm nhà máy lọc dầu nữa. Công suất các nhà máy như trong quy hoạch dầu khí đã là đủ rồi. Chúng ta có nhiều hiệp định thương mại tự do mới, có cơ hội chọn các nhà đầu tư vào công nghệ cao, thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng, dại gì chọn lọc dầu", GS Nguyễn Mại nhấn mạnh.
Cùng quan điểm này, TS Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển lưu ý: tình huống này chính là cơ hội để thay đổi. Đó chính là cơ cấu lại kinh tế để chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
17/02/2016  01:00 
Hà Duy

Sunday, February 14, 2016

Bán lẻ Việt về tay ngoại: “Trông thế thôi mà nguy hiểm lắm”!

Nguyễn Tuyền-14/02/2016 - 08:00

Dân trí Xung quanh thông tin thêm một đại gia bán lẻ hàng đầu tại Việt tiếp tục bán mình cho đối tác ngoại, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương, khẳng định: Mua bán, sáp nhập (M&A) là chuyện bình thường trong kinh doanh, nhưng đối với ngành bán lẻ lại khác, trông vậy thôi nhưng nguy hiểm lắm!

Chiếm phần ngon, quả ngọt
Năm 2015 thực sự là năm “dậy sóng” đúng nghĩa của thị trường bán buôn, bán lẻ Việt Nam, khi lần lượt nhiều đại gia bán lẻ lớn nhỏ từng có thời kỳ hưng thịnh tại Việt Nam rơi vào tay của các ông chủ nước ngoài từ Thái Lan, đến Hàn Quốc, Nhật Bản… Điển hình nhất là các cuộc M&A Metro, Nguyễn Kim của tỷ phú Thái, rồi đến thông tin Big C được rao bán để cơ cấu vốn hoặc đàm phán tìm đối tác chiến lược.

Năm 2015 thực sự là năm “dậy sóng” đúng nghĩa của thị trường bán buôn, bán lẻ Việt Nam
Năm 2015 thực sự là năm “dậy sóng” đúng nghĩa của thị trường bán buôn, bán lẻ Việt Nam
Trước đó, có nhiều hãng bán lẻ của DN Việt trong nước cũng ồ ạt mở ra, nhưng rồi cũng thui chột hoặc chịu cảnh bán rẻ cho nước ngoài. Như kênh bán lẻ G7 Mart của Trung Nguyên hay trước đó, Family Mart (một liên doanh bán lẻ hơn 200 cửa hàng giữa đối tác Việt - Nhật) cũng phải bán mình cho đại gia Thái Lan vì lâm cảnh thua lỗ.
Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam gia nhập WTO cho biết: "Không có cách hiểu ngây thơ là các DN Thái mua lại hệ thống siêu thị Việt để mong muốn tìm kiếm lợi nhuận từ bán lẻ. Cái họ tính đó là chiến lược xâm lấn hàng Thái sang Việt Nam. Từ các siêu thị lớn đã bị mua, các hàng hoa quả, bánh kẹo... của Thái nghiễm nhiên sang Việt Nam trong khi đó, các loại trái cây, bánh kẹo Việt bị đánh bật ra ngoài cửa hàng tạp hóa, vỉa hè, lòng lề đường. Đối với người tiêu dùng thì đây là lợi ích, nhưng đối với sản xuất trong nước, đây thực sự là thất bại bởi sân của mình không giữ được thì sao chúng ta có thể đi đá sân nước ngoài được”.
Theo đánh giá của các hãng tư vấn kinh tế, 2015 là năm bùng nổ của mua bán sáp nhập tại Việt Nam với số thương vụ hoàn thành có giá trị trên 4,3 tỷ USD, tăng 40% so với cùng kỳ năm trước. Đà tăng này được dự đoán sẽ được kế thừa trong năm 2016 khi các hiệp định thương mại được thực thi và các văn bản luật pháp mới có hiệu lực.
Đánh giá về thị trường bán lẻ Việt Nam, các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước đều có chung nhận định: Việt Nam đang là điểm nóng của doanh thu bán lẻ của Đông Nam Á và châu Á, với sức mua lớn, dân đô thị đông, đặc biệt quá trình đô thị hóa ngày một mạnh hơn. Hiện tiêu dùng siêu thị, trung tâm thương mại (tiêu dùng hiện đại) chỉ chiếm 25% tổng mức bán lẻ, nhưng con số này tăng trưởng hơn 7% trong thời kỳ 2005 -2010 và tăng 12% trong 2010 cho đến nay.
Năm 2020, quy mô thị trường bán lẻ được dự báo sẽ đạt và vượt mức 10 tỷ USD, trong đó bán lẻ hiện đại sẽ chiếm trên 45% (4,5 tỷ USD), con số hấp dẫn hàng đầu châu Á. Nếu xu hướng đổ bộ ồ ạt của đại gia ngoại tiếp tục, các doanh nghiệp bán lẻ Việt sẽ tiếp tục bất lợi trong cuộc chia lợi lộc thị trường.
Dồn ép, đánh bật DN Việt, hàng Việt
Ngoài xu hướng có nhiều đối tác ngoại đến từ Nhật, Hàn hay Philipines đổ tiền trực tiếp mở siêu thị, kênh phân phối tại Việt Nam thì hoạt động đầu tư gián tiếp qua mua bán sáp nhập cho thấy bán lẻ Việt đang và sẽ là điểm nóng của khu vực, thu hút dòng vốn hàng đầu trong thời gian tới.
Theo nguyên Bộ trưởng Trương Đình Tuyển: Khi tôi còn làm Bộ trưởng Thương mại, điều trăn trở nhất của tôi là làm sao mở được càng nhiều kênh bán lẻ, cửa hàng phân phối càng tốt. Tư duy làm kinh tế của người Việt Nam là tiểu canh, tự làm, tự bán và không tuân theo quy luật thị trường. Chính vì vậy từ xưa đến nay, các doanh nghiệp Việt vẫn yếu nhất là khâu phân phối, liên kết.
Đến khi kinh tế thị trường xuất hiện, họ chạy đua sản xuất theo phong trào khiến được mùa mất giá, được giá lại mất mùa. Người có tư duy chủ yếu xuất hàng ra nước ngoài, còn bỏ bê thị trường trong nước.
Trong nước, thị trường tiêu dùng của hơn 90 triệu dân để cho các DN ngoại mặc sức nghiên cứu đến sử dụng các chiêu thức thâu tóm, ban đầu là liên doanh, hợp doanh, hiểu hơn thì họ mua cổ phần và giờ đây người Việt mới chóng mặt với các chiêu thức bỏ nhiều tỷ đô để mua đứt các siêu thị, cửa hàng phân phối, bán lẻ. Tham vọng của các ông chủ tư bản nước ngoài là cực lớn mà các DN Việt Nam không hề hay biết.
Theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, hệ thống bán lẻ là cứ điểm kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Chúng ta không thể thiếu được hệ thống này ở trong môi trường kinh doanh hiện đại. "Tôi thấy các DN Thái Lan mua Metro, Nguyễn Kim hay ý định đàm phán mua các hãng bán lẻ khác đều có ý đồ cả. Họ không đơn thuần là hãng bán lẻ mà là những tập đoàn kinh doanh đa ngành nghề, phân phối đủ mọi thứ nên việc chuyển hàng Thái sang Việt Nam là không khó, nhất là khi Việt Nam gia nhập thị trường tự do ASEAN.
Trong khi chúng ta còn loay hoay với xây dựng hệ thống phân phối, liên kết trong nước thì nhiều DN nước ngoài đã đặt 1 tảng đá lớn ngay giữa yết hầu của chúng ta. Nếu cứ ngồi rung đùi với ý nghĩ, còn hơn 75% tiêu dùng ở khu vực nông thôn”, ông Doanh nhấn mạnh.


Sunday, January 17, 2016

Kết quả liêm chính trong doanh nghiệp: Phí “bôi trơn” đang kìm hãm sự phát triển của DN *

VCCI vừa công bố kết quả báo cáo khảo sát “Hiện trạng thực hành liêm chính trong kinh doanh và nhu cầu hỗ trợ xây dựng năng lực của DN”. Theo đó, chỉ có khoảng 29% DN làm ăn minh bạch, không hối lộ, không vi phạm pháp luật trong kinh doanh.

Thực trạng triển khai các quy định trong hoạt động kinh doanh


Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ Đề án 12 – Chương trình Hành động Thúc đẩy Thực hiện Liêm chính trong Kinh doanh do Văn phòng DN vì sự Phát triển Bền vững thuộcVCCI triển khai thực hiện trong giai đoạn 2015 -2019.

Phí “bôi trơn” đang kìm hãm sự phát triển của DN

Câu chuyện mà chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đưa ra tại buổi công bố đã khiến nhiều người ngỡ ngàng, thậm chí là khó tin về tình trạng liêm chính trong doanh nghiệp. Theo đó, DN VN cứ làm ra 1 đồng thì phải chi gần 1 đồng để bôi trơn chính sách. Cụ thể, tiền bôi trơn của DN chiếm tới 0,72 – 1,02% lợi nhuận của họ. Nghĩa là DN làm ra 1 đồng lợi nhuận thì họ phải đóng ít nhất 0,72 đồng, thậm chí là cao hơn cả lợi nhuận tới 0,2 đồng cho phí tham nhũng, bôi trơn. Theo bà Lan, chính phí và thuế là hai lĩnh vực chiếm tới 40,8% trong số tổng lợi nhuận DN phải chi trả, đó là chưa nói đến hàng loạt các chính sách gia nhập thị trường khác nữa. “Như vậy, DN làm sao có thể phát triển được, bởi việc này khó có thể khởi động tinh thần kinh doanh của người Việt”, bà Phạm Chi Lan nói.

Có lẽ, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do chính bản thân các DN cũng chưa thực hiện nghiêm các cơ chế liêm chính trong kinh doanh. Điều này cũng khá phù hợp với kết quả cuộc khảo sát của VCCI tại 3 tỉnh/thành phố gồm Hà Nội, Đà Nẵng và TP HCM. Tham gia khảo sát có 180 DN gồm DN trong nước và nước ngoài hoạt động trong các lĩnh vực chế biến lương thực và thực phẩm, da giày, dệt may, ngành công nghiệp lắp ráp, điện – điện tử, ngân hàng…

55% DN nhận thức đầy đủ và hiểu đúng về liêm chính trong kinh doanh và họ đồng ý cho rằng liêm chính phải gắn liền với các nguyên tắc, chuẩn mực về đạo đức và quy phạm pháp luật tạo ra rào cản đối với nạn tham nhũng, hối lộ. Đối với khái niệm về minh bạch và bộ quy tắc ứng xử trong kinh doanh, hầu hết các DN đều hiểu khá đầy đủ và không có sự khác nhau chiếm từ 92,78% – 93,82%.

Khảo sát của VCCI cũng cho thấy, 29% DN cho biết đã triển khai chính sách về liêm chính. Tuy nhiên, khi thực hiện khảo sát, một số DN cho biết họ chưa thực hiện triển khai chương trình liêm chính tổng thể trong DN, nhưng họ đã triển khai các chính sách và quy định trong nội bộ DN như kiểm soát chi tiêu bao gồm nhiều cấp độ đánh giá, gới hạn chi tiêu và yêu cầu tài liệu hóa, thực hiện cơ chế báo cáo (chiếm trên 60%)… Một số lý do được các DN đưa ra cho việc chưa thực hiện và thực hiện chưa thành công chương trình liêm chính trong DN so với các Cty đa quốc gia là do chưa có đủ khả năng kiểm soát hết các quy định về hoạt động của DN, thiếu nhân lực, khó khăn trong việc xác định giá trị cốt lõi và nếu có triển khai thì việc phổ biến, đào tạo thường xuyên còn hạn chế, chưa có sự đồng thuận cao trong DN…

Liêm chính và minh bạch thực ra là lõi của quản trị kinh doanh, chi phối quá trình giao tiếp, trao đổi thông tin trong nội bộ DN.

Doanh nghiệp đừng săn tìm lợi nhuận ở “vùng nước đục”

Ông Nguyễn Quang Vinh, ủy viên Ban Thường trực, Phó Tổng Thư ký VCCI cho rằng, DN đừng chỉ đóng khung “liêm chính và minh bạch” trong khuôn khổ của giá trị đạo đức thuần túy bởi đây thực chất là sự kết hợp đầy thú vị giữa đạo đức và kinh doanh. Hay nói đúng hơn, liêm chính và minh bạch thực ra là lõi của quản trị kinh doanh, chi phối quá trình giao tiếp, trao đổi thông tin trong nội bộ DN, tương tác từ cả chiều trên xuống và dưới lên. Nó tạo nền tảng cho việc tạo dựng giá trị trong kinh doanh bởi nó đưa hoạt động DN vào một quy trình tuân thủ những giá trị đạo đức và chuẩn mực nhất định của một tổ chức, một quốc gia, và cao hơn nữa là quốc tế. “Nếu chỉ tìm những cơ hội săn tìm lợi nhuận ở “vùng nước đục”, đó là cách làm đã lâu rồi và chỉ mang tính ngắn hạn. Giờ đây, nền kinh tế phát triển đến mức, cơ hội thực sự chỉ dành cho những doanh nghiệp có cái nhìn dài hạn theo đuổi giá trị phát triển bền vững mà thôi” ông Vinh chia sẻ.

Cùng quan điểm, ông Florian Beranek, chuyên gia cao cấp về trách nhiệm xã hội, UNIDO cho rằng, các nguyên tắc liêm chính không còn giới hạn trong phạm vi tuân thủ phổ biến hiện nay mà thuộc về văn hoá DN. Đây là những nền tảng của một DN hiện đại có khả năng thành công trên thị trường toàn cầu. “Nói một cách ngắn gọn, liêm chính là một yếu tố phải có đối với những DN muốn tăng vị thế trong chuỗi sản xuất và nâng cao giá trị gia tăng”. ông Florian Beranek nói.
 17.1.16
Theo DĐDN

Wednesday, December 30, 2015

Một doanh nghiệp bị 45 đoàn thanh, kiểm tra 'thăm' trong vòng 1 năm

Thanh Niên Online-10:14 AM - 30/12/2015 
Lãnh đạo doanh nghiệp bức xúc: 'Đáng nói là doanh nghiệp chúng tôi đâu có sai phạm gì lớn, không bị đưa vào tầm ngắm gì, thực tế kết quả 45 lần thanh, kiểm tra đã cho thấy điều đó'
Một lãnh đạo (không muốn nêu tên) của Công ty CP Tổng công ty Thương mại Quảng Trị cho PV Thanh Niên biết chỉ trong năm 2015 có 45 đoàn thanh tra, kiểm tra đến làm việc tại doanh nghiệp này (8 đoàn làm việc tại công ty, 37 đoàn làm việc tại các đơn vị trực thuộc).  
Một doanh nghiệp bị 45 đoàn thanh, kiểm tra 'thăm' trong vòng 1 năm - ảnh 1
Cơ quan nào đến chúng tôi cũng đáp ứng các yêu cầu về giấy tờ, sổ sách. Nhưng nhiều khi chúng tôi mệt mỏi quá...
Một doanh nghiệp bị 45 đoàn thanh, kiểm tra 'thăm' trong vòng 1 năm - ảnh 2
Lãnh đạo doanh nghiệp 
Công ty CP Tổng công ty thương mại Quảng Trị

Ông này cũng thắc mắc vì sao một công ty thuộc nhóm nộp thuế cao nhất tỉnh Quảng Trị (năm 2015 nộp 31 tỉ đồng) lại bị thanh, kiểm tra quá nhiều lần, đủ các nội dung, trong đó nhiều nội dung thanh, kiểm tra trùng lặp.
“Cơ quan nào đến chúng tôi cũng đáp ứng các yêu cầu về giấy tờ, sổ sách. Nhưng nhiều khi chúng tôi mệt mỏi quá. Tôi ví dụ, chỉ một nội dung về môi trường nhưng có cả 4,5 đoàn đến làm việc liên tiếp. Nửa đêm vẫn có đoàn đến thanh, kiểm tra. Lại có lần, đoàn thanh, kiểm tra đến mà không có quyết định...", vị lãnh đạo doanh nghiệp cho biết.
"Đáng nói là doanh nghiệp chúng tôi đâu có sai phạm gì lớn, không bị đưa vào “tầm ngắm” gì, thực tế kết quả 45 lần thanh, kiểm tra đã cho thấy điều đó”, vị này nói.
Trao đổi với PV Thanh Niên qua điện thoại vào sáng 30.12, ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị cho hay ông đã ghi nhận thông tin phản ánh này trong một cuộc họp mới đây tại Công ty CP Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị. 
“Việc thanh, kiểm tra là rất cần thiết nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm. UBND tỉnh sẽ giao các cơ quan rà soát lại, nếu các đoàn thanh, kiểm tra mà nội dung trùng lặp thì đừng thành lập vì sẽ chồng chéo nhau, gây lãng phí, mất thời gian và tạo tâm lý không tốt cho doanh nghiệp”, ông Dũng nói.