Showing posts with label XaHoi-TapChi. Show all posts
Showing posts with label XaHoi-TapChi. Show all posts

Wednesday, February 21, 2018

Cuộc chiến bị lãng quên

 Mỹ Lan RFA 2018-02-16  
Tưởng niệm chiến sĩ hi sinh trong chiến tranh biên giới tại tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội ngày 17/02/2017
Tưởng niệm chiến sĩ hi sinh trong chiến tranh biên giới tại tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội ngày 17/02/2017  AFP
Rạng sáng 17/2/1979, Bắc Kinh ồ ạt xua quân tấn công Việt Nam, mở màn cho cuộc chiến khốc liệt 30 ngày liên tục và kéo dài 10 năm trên địa bàn 6 tỉnh biên giới Tây Bắc. Cuộc chiến không cân sức cũng đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều dân thường và hơn 4000 bộ đội Việt Nam, chủ yếu trong độ tuổi từ 18 đến 35. Mặc dù dành chiến thắng, cuộc chiến tranh vệ quốc này lại ít khi được nhắc tới và thậm chí đã có một thời gian rất dài, nó bị chìm sâu vào quên lãng.
Khu vực biên giới Thanh Thuỷ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, nơi được coi là chiến trường khốc liệt nhất trong cuộc chiến tranh biên giới nổ ra từ ngày 17/2/1979 và kéo dài 10 năm sau đó với những “lò vôi thế kỷ” hay “thung lũng gọi hồn”.
hơn 30 năm qua, lúc nào tôi cũng nghĩ đến những người thanh niên tuổi ngoài đôi mươi đã nằm lại ở mặt trận. Có nhứng gia đình vẫn chưa được công nhận là gia đình liệt sỹ cho nên là chúng tôi cũng thấy rất là tủi thân - cựu chiến binh Phạm Xuân Thanh
Đây là nơi hơn 4.000 liệt sĩ đã hy sinh khi chiến đấu giành lại từng tấc đất biên cương với quân đội Trung Quốc. Trong đó, có hơn 2.000 liệt sĩ, hài cốt vẫn nằm lại trên chiến trường xưa.
Trở về từ chuyến thăm và dâng hương các đồng đội cũ đã hy sinh tại mặt trận Vị Xuyên, ông Phạm Xuân Thanh, một cựu chiến binh chia sẻ:
Đến thời điểm hiện tại thì cuộc chiến gần như đã đi vào quên lãng. Tôi cũng là một thương binh từ mặt trận trở về. Hơn 30 năm qua, lúc nào tôi cũng nghĩ đến những người thanh niên tuổi ngoài đôi mươi đã nằm lại ở mặt trận. Có nhứng gia đình vẫn chưa được công nhận là gia đình liệt sỹ cho nên là chúng tôi cũng thấy rất là tủi thân.
Trên thực tế, mặc dù đã  cản trở thành công sự tấn công của quân đội Trung Quốc, dành chiến thắng về mặt quân sự,  đối nội cũng như đối ngoại, cuộc phản công vệ quốc của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam thời kỳ đó đã không được công nhận và tôn vinh một cách xứng đáng. Cũng theo ông Thanh, rất nhiều những người lính cho đến thời điểm này vẫn chỉ được xác nhận là mất tích chứ chưa biết chính xác họ đã hy sinh hay còn sống. Bên cạnh đó, gần bốn chục năm đã qua, nhà nước CSVN vẫn chưa có một thống kê chính thức về số lượng người hy sinh hay mất tích trong trận chiến này cũng như tổ chức những sự kiện mang tầm cỡ quốc gia nhằm ca ngợi những đóng góp và hy sinh của họ. Thậm chí, nhiều trường hợp mang thương tật từ mặt trận trở về nhưng do mất hết giấy tờ nên cũng không được công nhận là thương binh để có thể được hưởng những chế độ, chính sách ưu đãi. Ông Thanh cho biết thêm:
Chúng tôi cũng đã đặt ra những câu hỏi ví dụ như là cuộc chiến 81 ngày đêm ở thành cổ Quảng trị, lượng người hy sinh ở đó được ca ngợi. Còn riêng ở mặt trận Vị Xuyên, lượng người hy sinh nhiều như thế tại sao không được nhắc đến. Đến bây giờ thì chúng tôi biết là vì mục đích ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc nên mọi thông tin về cuộc chiến có thể nói là không muốn được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng làm ảnh hưởng đến quan hệ hai nước láng giềng.
Khi được hỏi về thái độ im lặng này của chính quyền CSVN, giáo sư Carl Thayer, thuộc học viện quốc phòng Úc cho biết:
Thực tế về cuộc chiến tranh này đã được cắt bỏ khỏi sách lịch sử và khỏi những lễ kỷ niệm phổ biến ở Việt Nam cho đến tận năm 2014.. Tôi không nghĩ là bởi vì các lãnh đạo Việt Nam muốn giảm nhẹ một thời kỳ quan hệ của Việt Nam. Bạn có thể tìm đến viện bảo tàng chiến tranh và không thấy có một trưng bày nào về cuộc chiến này với Trung Quốc. Nó là một lỗ đen. Nhưng tất nhiên với hàng ngàn người dân Việt Nam đã mất người thân
 bạn có thể tìm đến viện bảo tàng chiến tranh và không thấy có một trưng bày nào về cuộc chiến này với Trung Quốc. Nó là một lỗ đen. Nhưng tất nhiên với hàng ngàn người dân Việt Nam đã mất người thân trong cuộc chiến thì cuộc chiến này đã tồn tại - giáo sư Carl Thayer
Trên thực tế, trong thời kỳ Cải cách ruộng đất, chính quyền CSVN học tập Cách mạng văn hoá Trung Quốc đã tìm cách phá huỷ hàng vạn ngôi đình, chùa, miếu mạo vốn là nơi người dân Việt Nam thờ các vị vua qua các triều đại Đinh, Lê, Lý Trần cùng những vị anh hùng dân tộc đã có công đánh đuổi giặc Tàu. Bên cạnh đó là rất nhiều những tài liệu lịch sử lưu lại những chiến công hiển hách của dân tộc Việt trong trong suốt chiều dài 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước cũng bị chính quyền CSVN lúc bấy giờ tìm cách thiêu huỷ. Lý do theo nhiều người là để làm vừa lòng người anh em láng giềng Trung Quốc. Tuy nhiên, cho dù chính quyền CSVN có tìm cách làm cho lịch sử bị lãng quên thì trong lòng mỗi người dân Việt Nam, niềm tự hào dân tộc, tinh thần yêu nướcvà hơn cả là sự đề phòng đối với Trung Quốc thì chưa bao giờ bị dập tắt. Cũng tương tự như cuộc chiến tranh biên giới đầy mất mát đã xảy ra 39 năm trước đây, dù lịch sử Việt Nam không muốn nhắc nhiều nhưng với sự phát triển của internet và mạng xã hội, sự kiện này đã và đang được cộng đồng xã hội quan tâm nhiều hơn. Chắc chắn rằng, những hy sinh dường như bị lãng quên của những người lính trong chiến tranh biên giới năm nào, một ngày nào đó sẽ đền đáp một cách xứng đáng hơn

Wednesday, January 17, 2018

“Khắc phục hậu quả”

Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA 2018-01-17  
Bị cáo Trịnh Xuân Thanh tại tòa án ở Hà Nội hôm 11/1/2018
 Bị cáo Trịnh Xuân Thanh tại tòa án ở Hà Nội hôm 11/1/2018 -AP
Tuần qua, vụ các ông Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh và 20 bị cáo ra tòa    trong vụ án liên quan đến Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tổng công ty Xây lắp Dầu khí Việt Nam tiếp tục lôi kéo sự chú ý của dư luận. Diễn đàn Kinh tế đề nghị một cách lý giải bất ngờ về một hệ thống tòng thuộc kinh tế chính trị…
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, vụ xét xử các bị can liên hệ đến Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tổng công ty Xây lắp Dầu khí Việt Nam vẫn chưa kết thúc và có thể kéo dài đến tuần tới. Tuy nhiên, trong tiến trình xét xử, có một việc xảy ra với trường hợp ông Trịnh Xuân Thanh khiến dư luận thắc mắc. Theo cáo trạng của Hội đồng Xét xử, ông Trịnh Xuân Thanh chiếm hưởng bốn tỷ đồng bạc Việt Nam và bị đề nghị án chung thân với tội Tham ô tài sản. Sau đó, ông Trịnh Xuân Giới, cựu Phó ban Dân vận Trung ương, là thân phụ của bị cáo Trịnh Xuân Thanh, được báo Infonet của Bộ Thông tin-Truyền thông hôm Thứ Bảy 14 dẫn lời trình bày trước Hội đồng Xét xử rằng "gia đình chúng tôi khi được gặp Trịnh Xuân Thanh trong trại tạm giam có được nghe con trai tôi nói rằng không tham ô tài sản. Tuy nhiên, luật sư của con trai tôi tư vấn rằng để bày tỏ thiện chí, con trai tôi đã nhận trách nhiệm người đứng đầu thì hãy khắc phục hậu quả, số tiền này sẽ được trả lại nếu kết luận con trai tôi không tham ô. Chúng tôi đã tự nguyện nộp bốn tỷ đồng vào tài khoản tạm giữ của cơ quan điều tra." Thưa ông, thắc mắc của dư luận là về hiện tượng gọi là “khắc phục hậu quả” đó. Ông có cách lý giải nào về việc này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là nền pháp lý tại Việt Nam có những lý lẽ mà lý trí không giải thích được, vả lại vụ này chưa chấm dứt nên chúng ta cứ chờ xem. Tuy nhiên, trong chương trình hôm nay, tôi xin đề nghị là mình nên nhìn vào một trường hợp khác tại một nước xa xôi nhưng vẫn nằm trong lục địa Á Châu, đó là Vương quốc Saudi Arabia ở nhà gọi là Ả Rập Xê Út. Đầu năm lại dịp cận Tết, ta cũng nên có một tiết mục vui vui nhưng vẫn bổ ích cho thính giả của chúng ta.
Nguyên Lam: Nguyên Lam quen dần với cách tiếp cận vấn đề của kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, theo cái hướng gián tiếp mà lại soi ra nhiều lý giải bất ngờ. Thưa ông, vì sao ông lại nghĩ tới xứ Saudi Arabia?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, Vương quốc này tại Trung Đông vẫn nằm trong lục địa Á Châu, thuộc về khu vực Tây Nam. Lãnh đạo xứ này là một người đội bốn mũ hay nói cho đúng về trang phục là cuốn bốn cái khăn: là Quốc vương Saudi Arabia, Thủ tướng, người Canh phòng hai đền thánh Hồi giáo và thứ tư Lãnh đạo Hoàng tộc Saudi. Đó là vua Salman bin Abdulaziz. Xin có vài câu về cách đặt tên theo phong tục của họ: tên thì là Salman, “bin” nghĩa là con, và Abdulaziz là tên thân phụ. Chúng ta cứ gọi là Salman cho dễ nhớ. Sinh năm 1935, ông là hoàng tử thứ 25 của Quốc vương Abdulaziz bin Abdulrehman, người sáng lập xứ này vào năm 1932. Vua Salman lên ngôi từ đầu năm 2015, ở tuổi 79, và Tháng Sáu năm ngoái quyết định truất ngôi Thái tử của người cháu và đưa con là Mohammad bin Salman vào vị trí kế nhiệm rồi tuyên bố sẽ thoái vị. Sinh năm 1985, còn khá trẻ, Thái tử Mohammad bin Salman sẽ lên ngôi vua, nhưng là người vừa gây ra một trận động đất tại Trung Đông và bên trong xứ Saudi Arabia.
Nguyên Lam: Ngoài cách gọi tên khá đặc biệt của sắc tộc Á Rập, ông vừa nói vua Salman của quốc gia Tây Á này đội bốn cái mũ là giữ bốn chức vụ khác nhau. Cái đó là gì vậy, thưa ông?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Mỗi quốc gia lại có một hệ thống chính trị riêng, như Tập Cận Bình vừa là Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc, sẽ lại là Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kiêm Chủ tịch Trung ương Quân ủy hội của đảng và Chủ tịch Trung ương Quân ủy hội của Nhà nước, chưa kể cả chục vai trò then chốt khác! Trở lại vụ “khắc phục hậu quả” tại Saudi Arabia, xứ này thuộc sắc tộc Á Rập theo Hồi giáo và người cầm đầu quốc gia nên gọi là Quốc vương, cầm đầu nhà nước nên làm Thủ tướng, lại giữ vai trò về tôn giáo khi canh phòng hai ngôi đền thiêng liêng nhất của đạo Hồi, và sau cùng là người đứng đầu hoàng tộc Saudi.
- Gần đây, Quốc vương Salman tỏ ý từ bỏ vị trí canh phòng thánh địa và người kế nhiệm là Thái tử Mohammad cũng sẽ quyết định như vậy, nghĩa là lãnh đạo mới của Saudi Arabia đang hạ thấp tầm quan trọng của tôn giáo trong chính trị, là điều rất đáng chú ý vì hệ phái Hồi giáo của họ thuộc vào khá cực đoan. Việc đáng nói hơn nữa là Thái tử Mohammad bin Salman sẽ lên ngôi là người có tư tưởng đổi mới rất táo bạo vì vậy tôi mới nói đến một cơn địa chấn…
Nguyên Lam: Chúng ta bắt đầu đi vào chủ điểm, thưa ông, Thái tử Mohammad trù tính đổi mới ra sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ khi thành lập năm 1932, xứ này dựa trên hai cái trụ, thứ nhất là Hồi giáo theo một hệ phái cực đoan, thứ hai là dầu khí lần đầu tiên được khai thác kể từ năm 1938, cách nay đúng 80 năm. Hoàng tộc Saudi lập ra một chế độ kinh tế chính trị tôi xin gọi là “tòng thuộc”, tức là ban phát quyền lực chính trị và quyền lợi kinh tế cho các thành phần lệ thuộc vào mình, trước tiên là các Hoàng thân trong tông tộc, các giáo sĩ và giới chức bảo vệ chế độ.
Hoàng gia Saudi không thể tiếp tục ban phát quyền lợi cho tay chân mà không nhìn xuống số phận của bá tánh dân đen ở dưới
- Nhưng 80 năm sau, thời thế đã thay đổi và xứ này không thể mãi lệ thuộc vào nguồn lợi kinh tế tài chính chủ yếu là dầu thô, nhất là khi giá dầu giảm mạnh từ mấy năm nay. Nhẹ hơn, một số phong tục cũ phải được cách tân như Mohammad quyết định cho phép phụ nữ được lái xe hơi. Quan trọng hơn cả, sau khi kho lẫm cạn kiệt vì dầu thô sụt giá, Hoàng gia Saudi không thể tiếp tục ban phát quyền lợi cho tay chân mà không nhìn xuống số phận của bá tánh dân đen ở dưới. Trong khi đó, cả thế giới Hồi giáo chung quanh cũng rung chuyển nên lãnh đạo không thể không thấy mối nguy từ một cường quốc Hồi giáo của sắc tộc Ba Tư, theo hệ phái Shia đối nghịch và phải tìm phương tiện phòng thủ. Vì vậy, Mohammad mới nghĩ tới nền tảng tòng thuộc kinh tế chính trị của chế độ và muốn thay đổi.
Nguyên Lam: Thưa ông, ông Mohammad này muốn thay đổi như thế nào?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chuyện cứ như là ở bên Tầu hay bên Ta vậy! Mới đầu, Thái tử Mohammad trình bày một kế hoạch cải cách gọi là “Viễn ảnh cho năm 2030” mà chẳng ai tin là sẽ thành hình một mô thức công nghiệp hóa hiện đại, nhất là việc tư nhân hóa Tập đoàn Dầu khí Quốc doanh Aramco, là bán cổ phần cho tư nhân theo thể thức phát hành cổ phiếu đầu tiên, gọi là IPO để lấy tiền về cho công quỹ. Nào ngờ Quốc vương Salman còn lập ra Ủy ban Bài trừ Tham nhũng, mùng bốn Tháng 11 vừa qua thì ban sắc lệnh bổ nhiệm Thái tử Mohammad cầm đầu Ủy ban này. Ngay tối đó, Mohammad lập tức cho tống giam một số nhân vật trọng yếu của hoàng tộc, trong nội các và trên doanh trường, là các thành phần ưu tú của chế độ cho tới nay. Ly kỳ hơn thế, các Hoàng thân bị giam trong một khách sạn cực sang để ngã giá về tù và tiền. Nếu trả lại tiền đã lấy được thì có thể giảm án tù về tội tham nhũng.
- Thế rồi hôm mùng bảy vào tuần trước thì có 11 Hoàng thân bị tống giam vì tội biểu tình. Họ biểu tình phản đối quyết định ban hành hôm mùng bốn rằng từ nay họ phải trả tiền điện nước trong các dinh cơ chứ không thể trông chờ ngân sách mới kể từ đầu năm nay. Chuyện này làm dân chúng rất hả dạ vì ngân sách trợ cấp cho giới cao niên, sinh viên, binh lính và công chức thì tăng và lên tới 18 tỷ, chứ cho hoàng thân quốc thích thì bị cắt. Ai có tội thì còn bị bắt vào tù!
Nguyên Lam: Nếu thế thì thưa ông, trong mấy chục năm liền, các thành phần tòng thuộc ấy đã lấy công khố làm lợi riêng và ngày nay bị thanh trừng để trả lại các khoản tiền gọi là bất chính đó, có phải như vậy không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Cho tới nay thì chưa ai biết khối tiền gọi là bất chính hay tham ô đó lên tới bao nhiêu. Tờ Wall Street Journal bên Mỹ ước lượng là 800 tỷ đô la, cho Tổng sản lượng là 1.800 tỷ thì rất lớn, mà chưa ai kiểm chứng nổi. Năm 2014, hai cơ quan Wealth-X và UBS Billionnaire Census cho biết Saudi Arabia đứng hạng 10 trong 40 nền kinh tế có lắm tỷ phú nhất và đếm ra 57 tỷ phú Saudi có tài sản khoảng 166 tỷ đô la. Lần này ngoài việc bắt bớ, cả ngàn trương mục ngân hàng hay tài khoản của giới tòng thuộc bị phong tỏa để kiểm tra.
- Trong số bị tống giam có nhân vật khét tiếng giàu có và là anh họ của Thái tử Mohammad, đó là Hoàng thân Alawleed bin Talal, vì các tội danh rửa tiền, hối lộ và tống tiền viên chức nhà nước. Ông bin Talal này có khoảng 18 tỷ đô la đầu tư vào hơn chục ngành làm ăn lớn của quốc tế và hình như là năm 2015 còn nói là sau khi tạ thế thì sẽ đem tài sản trị giá 32 tỷ đô la của mình cho các hội từ thiện. Một nhân vật như thế mà nay ngồi tù làm quốc tế phải giật mình. Càng giật mình hơn là sau chín ngày tạm trú trong khách sạn Ritz-Carlton quá sang trọng mà chưa ngã giá xong việc “khắc phục hậu quả”, hôm 13 vừa rồi, Hoàng thân tỷ phú bin Talal bị đưa vào nhà tù kiên giam số một là al-Ha’ir. Có lẽ khung cảnh âm u đó sẽ có sức thuyết phục cao hơn!
Nguyên Lam: Có lẽ bây giờ thính giả của chúng ta hiểu ý nghĩa của “khắc phục hậu quả” là gì, khi ông  nói đến chuyện đang xảy ra tại Saudi Arabia. Thưa ông, người ta nên kết luận thế nào về hiện tượng kỳ lạ này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi không nói đến các rủi ro chính trị của Saudi Arabia mà xin nhìn qua một xứ khác là Cộng hòa Hồi giáo Iran, nơi vừa có biến động từ ngày 28 tháng trước, cũng xuất phát từ nỗi lầm than kinh tế của người dân và nổi lên thành sự chống đối ách độc tài, bất công và ngu dân vì giáo điều của đạo Hồi.
- Ngẫm lại thì chính quyền của nhiều nước đang phải đối phó với vấn đề kinh tế và xã hội, như nghèo đói, lạm phát, thất nghiệp, nạn bất công trong môi trường ô nhiễm, v.v. Trước những thách đố nguy ngập như vậy, việc một thiểu số ăn trên ngồi chốc chiếm đoạt lợi thế kinh tế nhờ quyền lực chính trị là điều khó chấp nhận được. Là quốc gia nhiều người cho là cổ hủ, phong kiến, lại bị khống chế dưới ách độc tài tư tưởng của tôn giáo, chẳng khác gì của một đảng chính trị, Saudi Arabia đang cố xoay qua hướng khác và tiến dần đến việc xóa bỏ hệ thống tòng thuộc ở trên để lo cho dân đen ở dưới. Họ có thể bị loạn trong bước ngoặt nguy hiểm này, nhưng chắc chắn là sẽ bị đại loạn nếu không thay đổi. Việt Nam cũng vậy thôi và người dân đang theo dõi chuyện “khắc phục hậu quả” không chỉ của vài chục người trên chóp bu mà của cả hệ thống kinh tế chính trị lạc hậu.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích lý thú kỳ này.

Wednesday, January 10, 2018

Tham nhũng và chủ quyền

RFA 2018-01-10  
Nguyên Bộ trưởng Giao Thông Đinh La Thăng (trái) đi bộ cùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (giữa) tại một buổi lễ ở Hà Nội hôm 2/7/2015
Nguyên Bộ trưởng Giao Thông Đinh La Thăng (trái) đi bộ cùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (giữa) tại một buổi lễ ở Hà Nội hôm 2/7/2015 -Reuters
Việc một số đảng viên cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam bị đưa ra tòa xét xử về tội tham nhũng khi quản lý tài sản của nhà nước từ nhiều năm trước là một biến cố hy hữu, nhất là khi một trong các bị cáo đã từng là Ủy viên Bộ Chính trị. Diễn đàn Kinh tế phân tích hiện tượng này từ một giác độ khác…
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, bắt đầu từ tuần này, hai đảng viên cao cấp là ông Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh cùng 20 bị cáo khác bị đưa ra tòa xét xử tại Hà Nội về tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và tội "Tham ô tài sản” khi họ thực hiện một số dự án kinh tế từ chục năm trước. Ông nhận xét thế nào về biến cố hy hữu đó?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin dùng một từ đơn giản là “tham nhũng” để nói về tội lợi dụng đặc quyền chính trị để kiếm đặc lợi kinh tế. Trong khu vực kinh tế ngoài chính trị thì chỉ có tội gian lận chứ không có tội tham nhũng. Trong vụ thanh trừng tham nhũng tại Việt Nam, hai cơ chế là đảng và nhà nước có những quy định khác biệt, và chính là đảng đã quyết định cho bắt giam các đảng viên cao cấp rồi nhà nước mới tiến hành thủ tục xét xử. Việc ông Đinh La Thăng từng là Ủy viên Bộ Chính trị có đầy triển vọng và việc ông Trịnh Xuân Thanh bị mật vụ Việt Nam bắt cóc tại Cộng hòa Liên bang Đức rồi ngầm giải giao về nước là các yếu tố đáng chú ý của vụ này. Đáng chú ý hơn vậy là việc làm sai trái của các nghi can đều xảy ra từ đã lâu mà nay mới bắt đầu bị đem ra thi hành kỷ luật. Vì vậy, chúng ta cần phân tích nội vụ từ nhiều giác độ khác nhau.
Nguyên Lam: Thưa ông, những giác độ ấy là gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thứ nhất, đảng cất nhắc nhân sự theo nhiều tiêu chuẩn không được công khai hóa, nhưng nhờ đó các đương sự mới được chỉ định vào bộ máy nhà nước. Thứ hai, các đương sự trục lợi bất chính khi ở trong bộ máy nhà nước, chứ ở trong bộ máy đảng thì khó làm tiền vì đảng không có chức năng làm ra tiền. Thứ ba, việc sai phạm hay tham nhũng đó kéo dài từ lâu, lan tỏa trong mọi lĩnh vực và lên tới cấp cao trong bộ máy chính quyền, kể cả bộ máy công an, như trường hợp Phan Văn Anh Vũ hay Vũ “Nhôm”. Thứ tư, nạn tham nhũng ăn sâu như vậy làm ruỗng nát chế độ kinh tế chính trị và đánh sụt uy tín của một đảng độc quyền cai trị.
Nhưng trách nhiệm của đảng nằm ở đâu trong một sâu chuỗi tham ô chằng chịt như vậy của quốc gia? _ Nguyễn Xuân Nghĩa
- Ngày nay, để khôi phục uy tín, đảng phải thanh trừng tham nhũng sau khi lập ra Ban Chỉ Đạo Trung Ương về Phòng, Chống Tham Nhũng do Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng làm trưởng ban chỉ đạo đúng bốn năm trước. Sau cùng, tình trạng tham nhũng kéo dài từ hơn 10 năm trước, khi Nông Đức Mạnh còn làm Tổng bí thư và Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng. Thời cực thịnh của loại đảng viên cao cấp có hành vi cấu kết thành những nhóm lợi ích đầy quyền thế để bao che cho nhau có thể đang chấm dứt và nay họ sẽ lần lượt ra đền tội. Nhưng trách nhiệm của đảng nằm ở đâu trong một sâu chuỗi tham ô chằng chịt như vậy của quốc gia? Đấy là ta chưa nói đến khía cạnh quốc tế.
Nguyên Lam: Nếu thế, có lẽ chúng ta nên nhìn ra ít nhất hai giác độ là kinh tế và chính trị trong các vụ án tham nhũng này. Thưa ông, có phải như vậy không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là ta còn cần nhìn tới giác độ quốc tế nữa. Thứ nhất, đảng có trách nhiệm lãnh đạo để đảm bảo cho quốc dân sự ổn định và phát triển kinh tế trong tình trạng an ninh. Thứ hai, vì trách nhiệm chính trị đó, đảng chỉ đạo công tác của bộ máy nhà nước, là cơ chế tiếp cận với kinh tế, an ninh và quốc phòng. Cơ chế đó bị ung thối vì tệ nạn tham nhũng đã mở rộng và củng cố dưới cái dù bảo vệ của đảng. Thứ ba, trong tiến trình thực hiện các dự án sai trái, cơ chế nhà nước do nhân sự được đảng chỉ định lại hợp tác với nước ngoài, trường hợp cụ thể ở đây là Trung Quốc. Đâm ra Trung Quốc có góp phần vào nạn tham nhũng tại Việt Nam và hiện nắm trong tay nhiều chứng cớ sai phạm.
- Năm năm sau khi lãnh đạo Trung Quốc thi hành kế hoạch diệt trừ tham nhũng trong nội bộ của họ thì đảng Cộng sản Việt Nam mới tiến vào giai đoạn ấy và có thể đang trông cậy vào sự trợ giúp của họ để thanh trừng hàng ngũ đảng viên bị biến chất của mình. Như vậy, nếu đảng thành công trong việc diệt trừ tham nhũng thì liệu có lệ thuộc hơn vào Trung Quốc không? Chúng ta đang thấy ra một vòng luẩn quẩn.
Nguyên Lam: Ông vừa nêu ra một điểm rất đáng suy ngẫm. Đó là Trung Quốc có ảnh hưởng tới chiến dịch phòng chống tham nhũng tại Việt Nam qua quá nhiều dự án gây tai tiếng, như Vũng Áng hay Formosa. Nhưng mặt kia, Trung Quốc cũng có chiến lược bành trướng về kinh tế lẫn quân sự khiến chủ quyền của Việt Nam bị đe dọa trong lãnh thổ và ngoài lãnh hải. Như vậy, làm sao đảng Cộng sản Việt Nam có thể khôi phục uy tín để duy trì vai trò lãnh đạo trong khi lại lệ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cho rằng đấy là một thắc mắc của nhiều người ở trong nước khi họ lập luận rằng ông Nguyễn Phú Trọng thuộc phe thân Tầu và càng củng cố thế lực nhờ chiến dịch giải trừ tham nhũng thì lại càng lệ thuộc vào Bắc Kinh. Ngược lại, cũng có người cho rằng vụ thanh trừng tham nhũng này chỉ là mặt nổi của chuyện đấu đá quyền lực chính trị nhằm tiến tới tranh thủ đặc lợi kinh tế của những người đã có cả chục năm bòn rút tài sản quốc gia nay sẽ phải ộc ra. Nếu chỉ lanh quanh trong vòng lý luận ấy thì người ta khó thấy được lối ra.
Nguyên Lam: Riêng ông thì thấy lối ra là gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta cần thấy một thực tế kinh tế chính trị rắc rối hơn vậy. Các đảng viên có tiếp cận với kinh tế và thị trường khi được đưa vào bộ máy nhà nước thì mới có biểu hiện tạm gọi là “cải cách”, còn giới đảng viên phụ trách về lý luận thì bảo vệ định hướng của đảng nhưng mang tiếng là thủ cựu vì sống ngoài kinh tế thị trường. Thứ hai, đảng viên nằm trong bộ máy nhà nước mới có cơ hội tham nhũng còn các đảng viên thuộc ban lý luận hay tuyên giáo thì không rờ tới bạc nên có thể được tiếng là liêm chính. Cách phân biệt ấy có tính chất phiến diện và không thực tế. Khi châm thêm yếu tố Trung Quốc thì bài toán càng rối mù.
Chỉ trong các chế độ độc tài, đảng viên tham nhũng mới lên tới vị trí lãnh đạo như làm Ủy viên Bộ Chính Trị. - Nguyễn Xuân Nghĩa
-Vì chẳng hóa ra là đảng viên tham ô lại thuộc phe cởi mở và nhiều người bị bắt là khi đang tìm cách sinh sống ở nước ngoài hay sao? Và ngược lại, các đảng viên muốn diệt trừ tham nhũng lại thuôc về phe thân Trung Quốc, là điều không dễ gì được quần chúng Việt Nam chấp nhận. Cũng xin nói thêm rằng các nước dân chủ Tây phương đều đề cao luật lệ minh bạch và cấm nạn tham nhũng nhưng cũng chủ trương phát huy nhân quyền và tự do của người dân, là điều mà đảng Cộng sản Việt Nam không chấp nhận. Vì vậy, câu hỏi then chốt là quyền của người dân nằm ở đâu trong sâu chuỗi tham ô và lệ thuộc ngoại bang đó?
Nguyên Lam: Đúng là một vòng luẩn quẩn rối mù như ông Nghĩa vừa trình bày. Nhưng thính giả của chúng ta muốn biết là làm sao thoát ra khỏi tình trạng này. Ông trả lời thế nào cho câu hỏi đó?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng tham nhũng dễ nảy sinh và phát triển trong một cơ chế độc đảng, nôm na là một chế độ độc tài. Chỉ trong các chế độ độc tài, đảng viên tham nhũng mới lên tới vị trí lãnh đạo như làm Ủy viên Bộ Chính Trị, là trường hợp Chu Vĩnh Khang hay Bạc Hy Lai của Trung Quốc và Nguyễn Tấn Dũng hay Đinh La Thăng tại Việt Nam.
- Một đảng chính trị có thể lãnh đạo khi đem lại cơm ăn áo mặc cho người dân, nhưng đảng viên nằm trong bộ máy nhà nước mà tham ô thì bị luật lệ của nhà nước, nói theo ngôn từ Việt Nam, là pháp quyền nhà nước, xử lý và nghiêm trị. Sở dĩ tham nhũng phát triển mạnh và lên tới thượng tầng chính trị của các chế độ độc tài là vì đảng quyền lại bí mật và cao hơn pháp quyền nhà nước.
- Đảng gây ra tham nhũng rồi cậy công diệt trừ tham nhũng để duy trì quyền lực, đấy là một hiện tượng tham nhũng chính trị. Trong mâu thuẫn cơ bản đó, người ta lồng thêm một lý luận sai rằng nếu thanh trừng các đảng viên có kinh nghiệm kinh tế và thị trường thì ai đảm bảo được sự ổn định và phát triển kinh tế cho quốc dân? Lý luận này sai từ đầu vì đảng viên được đưa vào bộ máy nhà nước để phụ trách về kinh tế lại dùng bộ máy đó để trục lợi trên đầu trên cổ của quốc dân.
Nguyên Lam: Phải chăng ông đang nói tới một khía cạnh khác của vấn đề tham nhũng là cơ chế dân chủ?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ tới một chuyện bất ngờ khác mà báo chí Việt Nam ít tường thuật. Hôm 21 tháng trước, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump vừa ban hành một Sắc lệnh Hành pháp mang tính cách đối ngoại. Đó là ra lệnh phong tỏa tài sản của những ai can tội chà đạp nhân quyền và tham nhũng.
- Cơ chế dân chủ, như điển hình ngày nay tại Hoa Kỳ, là sự bất ổn chính trị thường trực ở trên thượng tầng, nhưng bên dưới thì người dân và thị trường vẫn tự do vận hành và nạn tham nhũng bị cả xã hội kết án và bị pháp quyền nhà nước nghiêm trị. Nói cách khác, không gian sinh hoạt kinh tế tự do của người dân vẫn được bảo vệ.
- Trái lại, chế độ độc tài thì đem lại ổn định chính trị ở mặt ngoài, chứ bên trong thì vẫn nuôi dưỡng tham nhũng và dưới cùng thì người dân là nạn nhân của những “quả đấm thép” trong ngoặc kép và sau này sẽ lại è cổ trả nợ. Đâm ra bài toán tham nhũng lại là bài toán về quyền dân và nếu châm thêm hiệu ứng của Trung Quốc thì đấy là bài toán của chủ quyền dân tộc.
Nguyên Lam: Nói về chủ quyền dân tộc, Nguyên Lam xin đề nghị ông nêu ra một kết luận cho bài phân tích kỳ này về chuyện tham nhũng.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta có hai chọn lựa. Các nước dân chủ Tây phương có nhiều thế kỷ suy ngẫm và hành động với các khái niệm tưởng như trừu tượng là dân chủ và nhân quyền. Về đối ngoại, họ thường lên tiếng phê phán hay khuyến cáo mà không trực tiếp can thiệp vào lãnh thổ hay nội tình của xứ khác.
- Ngược lại, chế độ độc tài như tại Trung Quốc thì luôn luôn nói tới việc không can thiệp vào nội tình chính trị của xứ khác nhưng thực tế thì không chỉ can thiệp mà còn khuynh đảo và thậm chí xâm lấn nữa. Việt Nam nên nhìn vào viễn ảnh dài để xem là chủ quyền và sự thịnh vượng của quốc gia và quốc dân nằm ở đâu giữa hai ngả đó. Việc giải trừ tham nhũng và phá vỡ các nhóm quyền lực trong đảng là cơ hội chọn lựa cho một tương lai sáng sủa hơn.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích rất lý thú kỳ này.

Tuesday, January 3, 2017

Tổng kết tình hình Việt Nam 2016

Thanh Phương 
Theo RFI-26-12-2016
Tổng kết tình hình Việt Nam 2016
Tổng kết tình hình Việt Nam 2016 Người dân Hà Nội biểu tình kêu gọi bảo vệ biển sau vụ cá chết hàng loạt tại vùng biển miền Trung Việt Nam. REUTERS/Kham 
Formosa gây ô nhiễm khiến cá biển chết hàng loạt, thay đổi ban lãnh đạo sau những đấu đá quyết liệt ở Đại hội Đảng, Việt Nam tăng cường tiềm lực quân sự ở Biển Đông, Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí Việt Nam, nợ công tăng cao đến mức báo động. Đó là một số trong những sự kiện đáng chú ý của thời sự Việt Nam năm 2016.
Cá biển chết hàng loạt
Có thể nói sự kiện được bàn tán nhiều nhất và gây chấn động nhiều nhất trong năm 2016 là vụ cá biển chết hàng loạt tại các tỉnh miền Trung vào tháng Tư do các chất độc hại do nhà máy của công ty Formosa Hà Tĩnh thải ra biển. Thảm họa môi trường chưa từng có ở Việt Nam đã gây thiệt hại nặng nề cho ngư dân các vùng này, và thu hút sự chú ý của báo chí quốc tế trong nhiều tháng.
Theo thẩm định của chính phủ trong một báo cáo với Quốc Hội vào tháng Bảy, khối lượng cá bị chết tại các vùng bờ biển miền Trung vào tháng Tư vừa qua lên đến 115 tấn, gây tác hại đến việc kiếm sống của hơn 200 ngàn người, trong đó có 41 ngàn ngư dân.
Vào tháng 06/2016, công ty Formosa đã thừa nhận trách nhiệm gây ô nhiễm biển khiến cá chết hàng loạt và đã hứa sẽ bỏ ra tổng cộng 500 triệu đôla để làm sạch nước biển và bồi thường cho những ngư dân bị thiệt hại. Nhưng cho tới nay, nhiều người dân địa phương vẫn chưa nhận được tiền đền bù, nên vẫn tiếp tục biểu tình phản đối Formosa, đòi bồi thường và đòi đóng cửa công ty này. Trong tháng Chín, hàng trăm ngư dân cũng đã tới tòa án Hà Tĩnh nộp đơn kiện Forrmosa, nhưng các hồ sơ kiện của người dân đã bị tòa bác với lý do « không có đủ cơ sở đánh giá mức độ thiệt hại ».
Thảm họa cá biển chết hàng loạt đã gây phẫn nộ dư luận Việt Nam và đã khơi dậy một phong trào mạnh mẽ đòi chính quyền phải chú tâm hơn đến việc bảo vệ môi trường khi cấp phép cho các dự án đầu tư ngoại quốc.
Đối với các chuyên gia quốc tế về môi trường như ông Nguyễn Đức Hiệp tại Sydney trong khi trả lời RFI ngày 04/07/2016, vụ Formosa là một bài học đắt giá cho Việt Nam về việc kiểm soát tác động của các dự án đầu tư ngoại quốc tại Việt Nam đối với môi trường biển.
Nhưng họa vô đơn chí, không chỉ gặp nạn cá biển chết hàng loạt, các tỉnh miền Trung năm nay còn gặp những trận lũ lịch sử. Thêm vào đó, các hồ thủy điện còn đồng loạt xả lũ, khiến nhiều địa phương chìm trong biển nước. Theo số liệu thống kê chính thức thì các trận mưa lũ đã khiến hơn 230 chết và mất tích. Biết bao người dân đời sống vốn đã khó khăn nay càng thêm khốn đốn vì các trận mưa lũ, xã lũ.
Thay đổi lãnh đạo
Chính trường Việt Nam năm 2016 đã có nhiều thay đổi, với việc tại Đại Hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 họp vào đầu tháng Giêng, Ban Chấp Hành Trung Ương khóa mới đã bầu lại ông Nguyễn Phú Trọng vào chức tổng bí thư Đảng, chấm dứt một tuần họp kín đầy kịch tính với cuộc đấu đá quyết liệt giữa phe của ông Trọng với phe của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Việc ông Trọng giành phần thắng đã kéo theo việc thay đổi ban lãnh đạo chính quyền Việt Nam, với ba nhân vật đã được chọn trước lên thay thế ban lãnh đạo cũ: bộ trưởng Công An Trần Đại Quang lên làm chủ tịch nước, phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lên làm thủ tướng và phó chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân lên làm chủ tịch Quốc Hội.
Ba nhân vật nói trên đã được Quốc Hội mãn nhiệm bầu ngay vào chức vụ mới ngay cả trước khi diễn ra bầu cử Quốc Hội khoá mới vào tháng 05/2016, một sự kiện bất thường, tuy không phải là lần đầu tiên. Và Quốc Hội khóa mới dĩ nhiên là đã bổ nhiệm lại ba người vào vị trí cũ.
Nội bộ chính quyền Việt Nam 2016 cũng đã gặp không ít xáo trộn với vụ Trịnh Xuân Thanh, nguyên phó chủ tịch tỉnh Hậu Giang, cựu chủ tịch hội đồng quản trị Tổng Công ty Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam PVC bị cáo buộc là có « hành vi cố ý làm trái » gây thua lỗ hơn 3.000 tỷ đồng cho công ty. Nhưng chính quyền chưa kịp bắt thì ông Trịnh Xuân Thanh đã trốn ra nước ngoài, có tin đồn là đã trốn sang châu Âu, và cho tới nay vẫn biệt tăm, cho dù Việt Nam đã yêu cầu Interpol phát lệnh truy nã quốc tế đối với nhân vật này và tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã liên tục hô hào « phải bắt cho bằng được ».
Vụ Trịnh Xuân Thanh cho thấy là đấu đá nội bộ vẫn tiếp diễn ở Việt Nam, nhất là vì ông Vũ Huy Hoàng, cựu bộ trưởng bộ Công Thương, cấp trên trực tiếp trước đây của ông Trịnh Xuân Thanh, cũng đã bị kỷ luật, bị « cách chức » cho dù không còn là bộ trưởng nữa. Đánh vào ông Trịnh Xuân Thanh và ông Vũ Huy Hoàng cũng chính là đụng đến phe của Nguyễn Tấn Dũng.
Biển Đông : Việt Nam tăng cường tiềm lực quân sự
Về tình hình Biển Đông, đáng chú ý là trong năm nay là việc Hà Nội đã tăng cường tiềm lực quân sự và bồi đắp các đảo do Việt Nam kiểm soát để có thể đối phó với Trung Quốc. Ảnh vệ tinh Mỹ chụp ngày 30/11/2016 cho thấy Việt Nam có dấu hiệu bắt đầu công trình nạo vét tại Đá Lát (Ladd Reef), một đá thuộc quần đảo Trường Sa, bên trên có sẵn một ngọn hải đăng và một đồn lính nhỏ.
Trước đó, các hình ảnh vệ tinh do Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế Và Chiến Lược (CSIS) cũng cho thấy là Hà Nội đã mở rộng phi đạo và xây hai nhà chứa máy bay lớn trên một đảo của Trường Sa để có thể tiếp nhận những phi cơ mới của không quân Việt Nam, như máy bay giám sát biển PZL M28B và máy bay vận tải CASA C-295. Để mở rộng phi đạo, Việt Nam đã bồi đắp đảo cho lớn hơn, tương tự như việc Trung Quốc xây các đảo nhân tạo, tức bồi đắp các đá thành những đảo thật sự.
Hãng tin Reuters tháng 08/2016 tiết lộ rằng Việt Nam cũng đã bắt đầu triển khai các dàn tên lửa địa đối không ở quần đảo Trường Sa, nhưng Hà Nội chưa xác nhận thông tin này.
Với nguy cơ chiến tranh tái diễn với Trung Quốc do vấn đề Biển Đông, Việt Nam không có con đường nào khác hơn là phải tiếp tục hiện đại hóa quân sự, mua thêm vũ khí và thiết bị quân sự từ nhiều nguồn khác nhau, đặc biệt là từ Hoa Kỳ.
Mỹ bỏ cấm vận vũ khí
Trong năm 2016, quan hệ Việt - Mỹ tiếp tục được tăng cường, kể cả về mặt quốc phòng, đặc biệt với việc tổng thống Obama khi viếng thăm Việt Nam vào tháng 05 đã loan báo bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam. Bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương là điều mà Hà Nội vẫn thúc giục Washington làm trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng trên vấn đề chủ quyền Biển Đông. Tuy nhiên, ông Obama cũng đã nói rõ là việc bán vũ khí cho Việt Nam vẫn còn phải đáp ứng những yêu cầu của Mỹ, trong đó có yêu cầu về nhân quyền.
Theo báo điện tử của chính phủ Việt Nam, tổng thống tân cử của Mỹ Donald Trump, khi điện đàm với thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ngày 14/12, đã « khẳng định mong muốn hợp tác với Việt Nam để cùng thúc đẩy quan hệ ». Hai nhà lãnh đạo cũng đã « trao đổi phương hướng và biện pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư Việt Nam-Hoa Kỳ thời gian tới. »
Việt Nam đã hy vọng là thông qua hiệp định Tự Do Mậu Dịch Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương sẽ củng cố hơn nữa quan hệ với Hoa Kỳ, giảm bớt sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Thế nhưng, tổng thống tân cử Donald Trump đã dập tắt hy vọng đó khi tuyên bố rằng ngay trong ngày đầu tiên vào Nhà Trắng, ông sẽ rút Hoa Kỳ ra khỏi TPP, một hiệp định mà theo ông chỉ bất lợi cho nước Mỹ.
Tuy vậy, theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, trả lời RFI ngày 21/11/2016, Việt Nam còn nhiều kênh khác để tiếp tục hội nhập kinh tế thế giới.
Báo động nợ công
Nhưng trên con đường phát triển kinh tế, có một nguy cơ rất lớn đang rình rập Việt Nam, đó là món nợ công tiếp tục tăng cao và nay đã lên đến mức đáng báo động.
Theo các số liệu do chính phủ đưa ra thì tốc độ tăng nợ công của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 là 18,4% một năm, gấp 3 lần tăng trưởng kinh tế. Nợ công của Việt Nam năm 2016 được dự báo sẽ tăng lên mức 64%, tức là tiến ngày càng gần đến mức trần cho phép (65% GDP). Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 28/11/2016, chuyên gia tài chính Huỳnh Bửu Sơn ở Sài Gòn cho rằng nguyên nhân chính khiến nợ công Việt Nam tăng nhanh là do hiệu quả của đầu tư công quá thấp.
Hệ quả của tình trạng nợ công tăng cao là thâm hụt ngân sách triền miên. Việt Nam đang có nguy cơ là bị cuốn sâu vào vòng xoáy vay để trả nợ, vay để bù đắp thâm hụt ngân sách. Đây là những thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới. 

Wednesday, June 1, 2016

Nhiễm độc biển Việt Nam : Im lặng ‘‘khó hiểu’’ của ngành y

Trọng Thành 
Theo RFI-01-06-2016 
Nhiễm độc biển Việt Nam : Im lặng ‘‘khó hiểu’’ của ngành y Nạn cá chết miền Trung để lại nhiều chấn thương tâm lý. Trong ảnh, một cuộc biểu tình tại Hà Nội tháng 5/2016 phản đối tình trạng biển miền Trung nhiễm độc. Reuters.
Đã hai tháng kể từ khi cá chết hàng loạt được phát hiện tại Hà Tĩnh, đầu tháng 4/2016, hơn một tháng sau khi chính quyền hứa hẹn sẽ công bố nguyên nhân gây ra một thảm họa sinh thái, được coi là chưa từng có tại 4 tỉnh miền Trung, và có thể đối với toàn Việt Nam. Trong lúc chính quyền kêu gọi dân chúng trở lại du lịch vui chơi, tắm biển Quảng Bình và nhiều nơi khác, thì tại tỉnh láng giềng Hà Tĩnh – trung tâm của thảm họa cá chết -, nỗi lo nhiễm độc tiếp tục ám ảnh người dân. Ngành y tế Việt Nam có trách nhiệm gì trong việc tình trạng lo sợ nhiễm độc kéo dài tại khu vực biển miền Trung ?
Một thực tế rất tương phản đang diễn ra. Trong lúc trên các phương tiện truyền thông chính thống, vắng vẻ tin bài về nhiễm độc biển miền Trung (1), thì trên các mạng xã hội, thỉnh thoảng lại xuất hiện các tin, và cả clip về nhiễm độc hải sản gây tử vong tại khu vực này. Cùng lúc với việc tại một số tỉnh miền Trung, cụ thể là Hà Tĩnh, chính quyền cho mở rộng mạng lưới bán hải sản « an toàn », thì cũng có nhiều trường hợp hải sản người dân đánh bắt về không bán được. Nỗi lo nhiễm độc bao trùm đời sống cư dân nhiều vùng quê biển, càng làm tăng thêm tình cảm bế tắc hiện nay, khi rất nhiều ngư dân phải chấp nhận cảnh gác lưới, buông chèo. Trong tình trạng chính quyền không đưa ra thời hạn công bố thông tin chính thức về nguyên nhân cá chết, và nhiều nhân chứng tại chỗ ghi nhận việc dân cư mắc các chứng bệnh giống như ngộ độc do tiếp xúc với hải sản, thì câu hỏi về độ an toàn của nước biển và hải sản tại khu vực ven bờ tiếp tục ám ảnh không chỉ người dân tại khu vực này.
Vừa nhớ, vừa sợ biển
Về vấn đề này, Tạp chí Xã hội của RFI xin chuyển tới quý vị những chia sẻ của các nhân chứng tại chỗ và phần nhận định của bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên (Sydney, Úc) và bác sĩ Trần Tuấn, tiến sĩ ngành dịch tễ học (Hà Nội). Bác sĩ Trần Tuấn cũng là người phụ trách Liên minh Y tế Vì dân (EBHPD).
Trước hết, mời quý vị đến với khu vực thôn Đông Yên, cách khu vực nhà máy Formosa chừng một cây số về phía nam, qua tiếng nói của ông Mai Cường Quang (một cư dân thôn Đông Yên, xã Kỳ Phương, huyện Kỳ Anh) :
« Bây giờ, nếu người ta có đi biển, thì thứ nhất là tâm lý lo sợ : Lo sợ bị nhiễm độc, cơ thể bị tiếp xúc với nước cũng gây lo sợ. Cách đây hai ngày, có hai người đi đánh mực về, họ đi cho vui. Đánh được con mực về, rất là thèm, con mực rất tươi. Hai anh em xẻ thịt ra, luộc lên rồi chuẩn bị nhắm. Nhưng ruột của nó đem cho gà ăn, gà chết ngay tại chỗ. Một người khác đi đánh bắt được một con cá mú, cỡ dăm ba lạng. Thấy thèm, kho định ăn, nhưng kho lên con cá đổi màu, sợ không dám ăn. Đem ra bỏ cho gà ăn, gà cũng chết. Người trong làng ở đây, người ta kể như thế. Tâm lý người ta rất sợ chuyện đó (…) ».
Thầy giáo Lê Quốc Châu, người chủ trương quỹ từ thiện Áo Tơi, chia sẻ cảm nghĩ của ông về vấn đề này với một góc nhìn khác :
« Hiện nay, tôi cũng chưa thấy một người nào bị nhiễm độc, thấy mọi người cũng bình an thôi. Nhưng yếu tố tâm lý, tác động tâm lý thì rất lớn. Tức là người ta sợ bị nhiễm độc này nọ nhiều hơn là thực tế bị nhiễm độc. Hôm vào trong Mỹ Lợi, bà con cũng đánh cá về, nhưng không thấy bất cứ một ai mua cả. Còn thôn Đông Yên, xã Kỳ Lợi họ vẫn đánh cua ghẹ về, và một số nhà họ vẫn ăn(…) ».
Nhiều triệu chứng giống như ngộ độc
Sơ Hoài, làm việc tại một trạm xá của Cộng đoàn Mến Thánh giá Hướng Phương, tại huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh, cho biết tình trạng sức khỏe rất đáng ngại của nhiều người dân trong vùng, đến điều trị hàng ngày tại đây :
« Từ một tháng nay, trong làng họ đến chỗ chúng tôi rất đông. Mỗi ngày khoảng 50 người đến truyền dịch (nước muối sinh lý). Các triệu chứng phổ biến là : tức ngực, khó thở, đau bụng, đi ngoài, đau đầu, rồi tay chân mệt mỏi. Nói chung họ không có cảm giác là vui vẻ gì cả. Tội nghiệp lắm ! 
Trong thời gian qua, khi thấy họ như vậy, tôi khuyên họ đi khám bệnh viện đi. Đi khám về họ bảo bệnh viện xét nghiệm rồi nói không có chuyện chi cả. 
Ở đây có trường hợp rất nặng nữa là có một người khi đang đi lễ tại nhà thờ, thì bị xỉu. Một người đàn ông trai tráng. Đưa đến bệnh viện cấp cứu, thấy yếu quá nên chuyển vào Sài Gòn. Hiện tại đã gần một tháng rồi. Ba trường hợp nữa cũng đi khám (bệnh viện Sài Gòn). Đây là những người có điều kiện. Bệnh viện cho xét nghiệm, nói những người này ăn cá bị nhiễm độc (…) » (cũng theo sơ Hoài, hầu như gia đình nào tại khu vực này cũng có người mắc các triệu chứng nói trên).
Về phản ứng của ngành y tế trong vụ biển miền Trung nhiễm độc, bác sĩ Trần Tuấn nhận xét :
« Hiện nay, trên phương tiện thông tin đại chúng, về mặt chính thức của nhà nước, chưa có thông điệp rõ ràng về việc : Liệu có hay không tình trạng cá biển nhiễm độc tại khu vực này. Và nếu có thì căn nguyên ở đâu. Chúng tôi thấy rằng, chưa cần bàn tới căn nguyên, thì ít nhất phải khẳng định được là có bị nhiễm độc hay không. Bởi vì, thực sự nếu trả lời có bị nhiễm độc, thì có thể toàn bộ khu vực có nguy cơ nhiễm độc cá như vậy thì phải coi là khu vực có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe. Vậy thì, về mặt y tế, các biện pháp dự phòng phải được thực hiện, phải khoanh vùng nguy cơ bị dịch, và thực hiện các biện pháp giúp cho tránh tiếp xúc với các nguồn độc chất
Cho đến nay, chúng ta thấy rõ ràng là chưa có những biện pháp như thế. Tiếng nói của các cơ quan y tế, kể cả các hội. Sự im lặng này chúng tôi thấy là tương đối khó hiểu. 
Quả thực là chúng tôi là những người làm ngành y, cũng làm y tế dự phòng. Cho đến nay cũng không thể hiểu nổi, tại sao có một tình trạng im lặng mà chúng tôi cho rằng bất thường như thế này. Bởi vì ngành y là ngành lấy chăm sóc sức khỏe của người dân làm trọng. Mục tiêu chính là làm sao có thể để đảm bảo cho người dân tránh được nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe. Cụ thể tại một khu vực đã có hiện tượng cá chết nhiều như vậy, diễn ra trong một thời gian dài như vậy ».
Không thể đợi công bố căn nguyên cá chết !
Xử lý cuộc khủng hoảng môi sinh tại miền Trung về phương diện y tế có nhất thiết phải chờ đến khi có kết quả điều tra chính thức về nguyên nhân cá chết hay không, bác sĩ Trần Tuấn giải thích :
« Tôi nghĩ rằng nếu có tâm lý chờ đợi, cho đến khi tìm ra căn nguyên ngộ độc rồi mới bắt tay vào hành động, thì đây là một tâm lý không đúng với tinh thần khoa học dự phòng. Khi đã có hiện tượng cá chết và cá là một nguồn thực phẩm trực tiếp với người dân tại khu vực đó, cũng như nó có thể lan rộng ra, mà phải đợi đến khi tìm ra căn nguyên thì đã quá muộn. 
Ít nhất chúng ta phải theo dõi tình trạng sức khỏe của cư dân trong vùng, để xem xét xem liệu có tình trạng sức khỏe bất thường xảy ra hay không. Những trường hợp có khả năng liên quan đến tình trạng cá chết hay không. Như vậy, riêng về mặt lâm sàng, điều này hoàn toàn cho phép chúng ta có thể theo dõi các đối tượng trong khu vực, để từ đó có các chỉ định mạnh mẽ hơn trong việc bảo vệ sức khỏe của người dân ».
Bác sĩ Trần Tuấn đặc biệt nhấn mạnh đến những gì mà ngành y có thể làm được trước một cuộc khủng hoảng môi sinh như tại khu vực ven biển miền Trung hiện nay :
« Tôi nghĩ là sự im lặng này là một sự im lặng rất khó hiểu. Sự im lặng của Bộ Y Tế, cũng như hệ thống y tế đối với người dân đã là khó hiểu rồi. Điều thứ hai là lương tâm của người thầy thuốc, bác sĩ, thể hiện thông qua các nghiệp đoàn của mình, như Tổng hội Y học, Hội Y tế Công cộng, rồi Hội Y tế Dự phòng, Hội Y học Dự phòng… Đấy là những hội mà tôi cho rằng trực tiếp liên quan. 
Cá nhân tôi, tôi thấy, có thể là về mặt chính quyền, về mặt chính trị, có những vấn đề mà họ phải xem xét, phải nhìn nhận thế này thế kia, nhưng ít nhất, về mặt khoa học, về mặt chăm sóc sức khỏe, thì tôi chắc rằng không ai có thể ngăn cấm họ vào làm việc với người dân, để rồi khoanh khu vực lại, xác định vùng có nguy cơ, rồi tổ chức thiết lập việc theo dõi sức khỏe để giám sát xem có tình trạng bất thường gì xảy ra không, để nhanh chóng có các biện pháp dự phòng, ngăn ngừa các nguy cơ tiếp xúc, đánh giá các hiện tượng bất thường xảy ra với người dân vùng đó, kể từ vấn đề thực phẩm, cho đến nước uống, và các nguy cơ khác. Trong lúc tình trạng nguyên nhân chưa rõ ràng, thì mình phải xem một cách rộng rãi. Ngoài từ biển ra, còn vấn đề đất, không khí. Về mặt trách nhiệm, chúng ta không thể làm ngơ ở một khu vực xảy ra một thảm họa môi sinh như vậy, mà căn nguyên chưa được làm rõ ».
Về tình hình tại Kỳ Anh, chúng tôi đã gặp bác sĩ Phan Thị Xuân Liễu, giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện, qua điện thoại, nhưng không được hồi đáp. Về tình hình nhiễm độc do ăn cá biển, bác sĩ Trần Đắc Phu, cục trưởng Cục Y tế Dự phòng, đề nghị chúng tôi liên lạc với cơ quan quản lý an toàn thực phẩm (xem thêm phần giải thích của bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên bên dưới). Về phần mình, giáo sư Lê Vũ Anh, chủ tịch Hội Y tế Công cộng, giải thích hội của ông hiện đã quá tải, vì nhiều việc trầm trọng hơn, nên không thể quan tâm đến vấn đề này.
***
Bộ Y Tế đã im lặng, im lặng trước tình trạng môi sinh ven biển, cũng như im lặng trước cảnh ngộ nhiều ngư dân có các triệu chứng giống như nhiễm độc. Im lặng, bất chấp nỗi lo ngại rất lớn của nhiều người. Nỗi lo ngại không được làm sáng tỏ, không được giải tỏa, có thể trở nên trầm trọng hơn, và tiếp tục lan rộng trong xã hội. Những lo âu thái quá có thể biến thành chấn thương tâm lý, một thứ ngộ độc tinh thần, gây tác hại nặng nề đến sức khỏe.
Thực ra, xét trên một phương diện khác, Bộ Y Tế đã không hề im lặng. Kể từ đầu tháng 5/2016 đến nay, Bộ bắt đầu lên tiếng theo đúng chủ trương : Biển về cơ bản là sạch…, bất chấp nhiều hiểm họa tiềm tàng ở khu vực ven bờ (2). Sau khi chính quyền thừa nhận thảm họa vào cuối tháng 4, và chỉ ít ngày sau khi báo chí ngừng đưa tin rộng rãi, đến ngày 10/05, Viện Kiểm nghiệm An toàn Vệ sinh Thực phẩm Quốc gia của Bộ Y Tế đã nhanh chóng xác nhận 139 mẫu hải sản « an toàn » của bốn tỉnh miền Trung (3). Vấn đề xét nghiệm độ nhiễm độc của hải sản « gần bờ » như vậy dường như đã bị bỏ lơ, trong khi các mẫu cá chết đã được thu thập trước thời điểm lấy các mẫu hải sản sống.
Thảm họa cá chết chưa từng có và nguy cơ nhiễm độc đối với người dân ven biển miền Trung – đang có xu hướng bị dìm vào quên lãng - rõ ràng đặt ra trước công luận, vấn đề trách nhiệm của những người làm chuyên môn, những người làm nghề y tại Việt Nam. Trách nhiệm của giới cầm quyền cấp cao đã bị nhiều chỉ trích hay lên án trong công luận. Bác sĩ Trần Tuấn nhấn mạnh đến trách nhiệm của ngành y tế nói chung, của Bộ Y Tế, cũng như phía các hiệp hội nhà nước. Nhưng mặt khác, riêng về phía địa phương, nhiều nhân chứng ngay tại tỉnh Hà Tĩnh - tâm điểm của thảm họa cá chết - cho thấy, chính quyền các cấp cũng đã có nhiều áp lực không chính thức để buộc những người làm việc trong hệ thống phải im tiếng trước nỗi lo, nỗi khổ, nỗi đau của các ngư dân đồng hương. 
Thảm họa môi sinh chưa từng có đối với Việt Nam này cũng đặt các mạng lưới xã hội dân sự non trẻ, đang khát khao khẳng định tính độc lập của mình, trước một thách thức : Trong những điều kiện ít thuận lợi rất nhiều, nhưng ở một vị thế tự do hơn nhiều về tinh thần, liệu họ có thể làm gì để giúp đỡ có hiệu quả cho rất nhiều người dân biển đang không chỉ đau khổ vì bệnh tật, mà còn đang rất cô đơn, bối rối, hoang mang về mặt tinh thần ?
RFI xin chân thành cảm ơn sơ Hoài, các ông Mai Cường Quang, Lê Quốc Châu cùng các bác sĩ Trần Tuấn, Nguyễn Đình Nguyên đã dành thời gian cho chương trình Tạp chí Xã hội tuần này về cuộc khủng hoảng nhiễm độc biển miền Trung.
----
(1) Dư luận đặc biệt chú ý đến hiện tượng một số bài viết liên quan đến thảm nạn tại miền Trung bị gỡ bỏ, ví dụ như bài "Lời than thở của các loài cá", đăng trên ấn phẩm Thế giới tiếp thị(ấn phẩm đồng thời bị đình bản), hay bài "Kiểm tra Formosa: đụng đâu sai đó" trên Tuổi Trẻ. Hay thông tin về việc báo Tuổi trẻ Cười buộc phải thay trang bìa đả kích Formosa, với lời thoại của rùa vàng : "Giặc ở sau lưng nhà vua đó".
(2) Một số nhân chứng địa phương cho biết, nhiều hoạt động phổ biến kiến thức trong cộng đồng về phòng, chống độc từ biển đã bị đình hoãn, trong khi chờ đợi kết quả chính thức về nguyên nhân cá chết.
(3) Đa số các hải sản được thông báo an toàn là đánh bắt ngoài khơi, xa hơn 20 hải lý. Như vậy, một số nhỏ đánh bắt ven bờ vẫn được coi là an toàn. Hải sản ven bờ an toàn hay không an toàn ? Thông tin chính thống nhiều mâu thuẫn, và không rõ ràng, xung quanh vấn đề này cũng có thể làm tăng thêm hoài nghi.
Bệnh nghi do ngộ độc tại Hà Tĩnh : Y tế cộng đồng hay vấn đề cá nhân ?
(Phỏng vấn bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên)
Một bệnh như thế nào có thể được coi là vấn đề của y tế cộng đồng ?
Hiện tượng thứ nhất, trong một vùng, nếu chỉ có một vài người mắc thì không phải là vấn đề cộng đồng. Hiện tượng thứ hai, nếu có cả một làng bị cúm, nhưng là bệnh tái đi tái lại hàng năm, thì cũng không phải là vấn đề của một cộng đồng lớn.
Để được coi là một vấn đề cộng đồng, thứ nhất là phải là bệnh mới phát, hoặc là trong dạng cảnh báo có thể là một dịch, theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Một số bệnh khác, như nhiễm trùng dạng không phổ biến, chỉ cần ba người thuộc một quần thể khép kín bị mắc, là có thể coi là vấn đề cộng đồng. Có thể cuối cùng, đây cũng chỉ là một bệnh bình thường, nhưng thoạt tiên phải đặt vấn đề này trong lĩnh vực y tế cộng đồng, chứ không phải chỉ là vấn đề của một cá nhân hay của một gia đình.
Trong lĩnh vực y tế công cộng, tồn nghi về nhiễm độc do ăn cá tại Vũng Áng thuộc trách nhiệm của ngành an toàn thực phẩm hay y tế dự phòng ?
Thực phẩm không an toàn gây tác hại trên phạm vi rộng thì bên an toàn thực phẩm phải chịu trách nhiệm, bởi vì đây là thực phẩm đã được cho lưu hành trên thị trường. Trong khi đó, trường hợp cá chết Vũng Áng (hay cá đánh bắt tại Vũng Áng, trực tiếp tiêu thụ sau đó) chưa phải là cá đưa vào thị trường. Nếu xảy ra hiện tượng cá chết hàng loạt là yếu tố tự nhiên, người sử dụng ăn con cá chết (hoặc nghi vấn bị nhiễm độc tố) tại Vũng Áng, thì việc này không thuộc ngành an toàn thực phẩm, mà là thuộc về lĩnh vực sức khỏe - môi trường. Kể cả việc người dân không nghe khuyến cáo mà ăn cá, ngành y tế vẫn phải có trách nhiệm.
Kinh nghiệm của Úc hay một số nước khác xử lý ra sao một khủng hoảng có ảnh hưởng tâm lý nặng nề như trường hợp nghi vấn nhiễm độc tại Vũng Áng ?
Nếu đây là một vấn nạn xảy ra tại Úc, và mang tính cộng đồng, thì cần phải tính đến mấy yếu tố sau. Thứ nhất là với con người, thứ hai là tới môi trường. Trên con người, cũng như cộng đồng đều có ba vấn đề. Thứ nhất là sức khỏe hiện tại, thứ hai là sức khỏe tâm thần, tâm lý và thứ ba là xã hội. Về bệnh, mình phải quan tâm điều trị bệnh người ta mắc phải.
Về mặt tâm lý, phải xem xem, nếu bệnh lý, bệnh dịch đó đủ gây sang chấn tâm lý, thì lập tức họ có các đội, gọi là « đường dây nóng ». Ngành y tế cộng đồng, dịch tễ học sẽ làm việc với các đội chuyên viên tâm lý, hoặc các bác sĩ tâm thần, để làm công việc úy lạo cho người bệnh, hoặc những nạn nhân gián tiếp, hoặc trực tiếp.
Thứ ba là về sức khỏe xã hội, ví dụ như khi cả một cộng đồng bị ảnh hưởng do dịch, tức là nếu phải đóng cửa một nhà máy, một vùng du lịch,… thì đồng thời phải có biện pháp để nhanh chóng ổn định tình hình đời sống cho cả một xã hội. (…)
Trong trường hợp như tại Vũng Áng, trước mắt khi hệ thống y tế nhà nước để mặc người dân tự lo, thì người dân nên làm như thế nào ?
Đây là một vấn đề nan giải với tình hình Việt Nam. Vì tôi biết người dân ở Vũng Áng, Hà Tĩnh, không khá giả gì, chưa kể vấn đề bây giờ không có đánh bắt, thu nhập gì.
Bên cạnh đó, khó khăn thứ nhất là họ không có hướng dẫn phải đi làm cụ thể những gì, làm như thế nào, làm ở đâu. Phải có người biết chuyên môn đứng ra xem xét. Không phải mình muốn làm gì là được. Đầu tiên phải đặt ra giả thuyết. Căn cứ trên các triệu chứng, đặt giả thuyết xem nghi bệnh nhân bị gì. (…) Ví dụ, nếu tôi là người làm y tế, tôi phải chọn ra năm nghi vấn, ưu tiên xếp thứ tự từ một đến năm. Lúc đó, có điều kiện ít thì làm ít, điều kiện nhiều thì làm nhiều.
Tại trạm xá Vũng Áng, được nghe nói có một vài bệnh nhân, đi tới Sài Gòn để xét nghiệm, và được biết là nhiễm độc chì. Bác sĩ nghĩ gì về chuyện này ?
Đây là một thông tin rất thú vị. Nguồn nhiễm độc chì ở đâu nhiều nhất. Tôi nghĩ là từ công nghiệp. Mình không có kết luận từ trước, nhưng rõ ràng có một mối liên quan giữa việc nhiễm độc chì và nguồn chất thải công nghiệp. Giả định là từ đây cho đến khi đưa ra được câu trả lời "không", (thì vẫn) phải đặt vấn đề nghi ngờ và phải đi điều tra.
Vào tháng 2/2015, tôi được đọc báo trong nước, ở vùng Quỳnh Lưu (Nghệ An) và Hà Tĩnh, cũng có hiện tượng cá chết vào dịp Tết. Vào thời điểm đó, những người làm tài nguyên môi trường, theo tôi nhớ, đã phát hiện được lượng chì trong nước cao gấp 10 lần so với hàm lượng cho phép. Sau đó, chuyện này bị lãng quên. Như vậy phải xem xét vấn đề chất thải công nghiệp.
 

Monday, May 16, 2016

Việt-Mỹ: Vũ khí nặng hơn nhân quyền?

Thanh Phương 
 Theo RFI-16-05-2016 
  Reuters

Tổng thống Barack Obama sẽ viếng thăm chính thức Việt Nam từ ngày 22 đến 25/05/2016. Theo thông báo của Nhà trắng ngày 10/05/2016, trong chuyến viếng thăm đầu tiên này, ông Obama sẽ thảo luận với các nhà lãnh đạo Việt Nam về việc tăng cường hợp tác song phương Mỹ-Việt trong nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, an ninh, nhân quyền, cho đến các vấn đề khu vực và toàn cầu.
Nhưng điều mà Hà Nội đang trông chờ nhiều nhất, đó là Washington bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Cho tới nay, trở ngại chính trong vấn đề này vẫn là tình trạng nhân quyền tồi tệ của Việt Nam. Nhưng cho dù Hà Nội chưa có những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực này, rất có thể Hoa Kỳ cũng sẽ đi đến việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí.
Lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Hà Nội là một trong những « tàn dư » lớn của thời chiến tranh Việt Nam. Lệnh cấm vận này chỉ mới được dỡ bỏ một phần vào năm 2014.
Theo Reuters, một số cố vấn ở Nhà trắng và bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng hãy còn quá sớm để chấm dứt hoàn toàn những hạn chế đối với việc bán vũ khí sát thương, khi mà Việt Nam chưa có thêm những tiến bộ về mặt nhân quyền. Nhưng các quan chức khác, trong đó có nhiều người bên Lầu năm góc, thì chủ trương nên giúp Việt Nam nâng cao khả năng phòng thủ để đối đầu với một nước Trung Quốc ngày càng hùng mạnh.
Theo lời các quan chức Hoa Kỳ được hãng tin Reuters trích dẫn ngày 09/05/2016, tổng thống Barack Obama hiện vẫn đang cân nhắc việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Theo Reuters, quyết định cuối cùng của tổng thống Obama có thể là còn tùy thuộc vào những khuyến cáo sau chuyến viếng thăm Việt Nam của trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về dân chủ, nhân quyền và lao động Tom Malinowski và của trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Đông Á và Thái Bình Dương Daniel Russel.
Khi được hỏi là liệu Hoa Kỳ có sẽ thay đổi chính sách với Việt Nam trên vấn đề này hay không, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Mỹ Katina Adams đã tuyên bố rằng « nhân quyền vẫn là yếu tố chủ chốt trong chính sách của chúng tôi đối với Việt Nam ».
Nhưng theo nhận định của trang mạng Foreign Policy ( FP ) trong bài viết đăng ngày 09/05 vừa qua, có vẻ như Nhà trắng sẽ ra quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí trước khi diễn ra chuyến viếng thăm của tổng thống Obama tại Việt Nam.
Hiện giờ, vấn đề này vẫn gây chia rẽ nội bộ chính giới Hoa Kỳ, nhất là trong Quốc hội. Ngay chính chủ tịch Ủy ban Ngoại giao Thượng viện Mỹ Bob Corker ( Cộng hòa ), người đã từng ủng hộ việc bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí vào năm 2014, nay cũng do dự về việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm này. Một cố vấn của thượng nghị sĩ Corker nói với FP : « Mọi thay đổi chính sách theo hướng mở rộng hơn cần phải có được xem xét thêm và phải phù hợp với các lợi ích của Mỹ, trong đó có mong muốn về những tiến bộ nhân quyền ».
Nhưng về phần thượng nghị sĩ Dân chủ Ben Carbin, cũng là thành viên Ủy ban Ngoại giao Thượng viện, thì ủng hộ việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí, « nếu vấn đề nhân quyền được tính đến ». Bản thân ông Carbin đã từng đến thăm Việt Nam vào năm 2014 và đã nêu những quan ngại của ông về nhân quyền với các quan chức cao cấp của Hà Nội, kể cả với thủ tướng.
Theo FP, những người ủng hộ bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm cho rằng Việt Nam trong thời gian đã đạt được những tiến bộ về nhân quyền và tình trạng nhân quyền của Việt Nam còn khá hơn là một số đối tác thân cận của Hoa Kỳ như Ả Rập Xê Út hay Ai Cập.
Về phần chuyên gia Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Úc, Việt Nam muốn Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí là vì lý do chính trị hơn là quân sự. Theo lời ông Thayer, nhiều giới chức chính phủ Hà Nội vẫn sợ rằng Washington đang thúc đẩy « diễn biến hòa bình » thông qua việc đòi tiến bộ về nhân quyền. Theo cái nhìn như vậy thì việc duy trì chính sách cấm bán vũ khí một cách « phân biệt đối xử » đối với Việt Nam là một chính sách mang tính trừng phạt.
Vấn đề là theo các chuyên gia, Việt Nam vẫn chưa cho Hoa Kỳ biết là trong tương lai họ sẽ cần mua những vũ khí gì, và việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận chưa hẳn là sẽ mở đường ngay cho những hợp đồng vũ khí lớn.
Phần lớn các thiết bị quân sự của Việt Nam hiện nay là của Nga, trong đó có những tàu ngầm và chiến đấu cơ phản lực hiện đại. Bây giờ chuyển qua mua vũ khí do Mỹ sản xuất chắc là sẽ rất tốn kém cho Việt Nam.
Theo FP, giống như giữa Hoa Kỳ với Ấn Độ, hai nước Việt Mỹ có thể hợp tác trong việc tiếp cận công nghệ quốc phòng tân tiến. Nhân chuyền viếng thăm Việt Nam vào tháng 6 năm ngoái của bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter, hai nước đã ra tuyên bố chung kêu gọi hợp tác về công nghệ quốc phòng.
Giống như các nước khác trong khu vực, Việt Nam đang cần hiện đại hóa các hệ thống vũ khí, và mua các radar, máy bay giám sát không người lái hoặc máy bay trinh sát như P-3 Orion hay P-8 Poseidon, để giúp truy tìm các chiến hạm và tàu ngầm của Trung Quốc ở Biển Đông.
Về phần nhà báo Phạm Trần tại Washington thì đặt vấn đề bãi bỏ lệnh vũ khí trong bối cảnh Nga từ mấy năm qua đã hợp tác chặt chẽ với trong lĩnh vực này Việt Nam, tức là đã đi trước Hoa Kỳ mấy năm:
Nhà báo Phạm Trần, Washington16/05/2016http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160516-viet-my-vu-khi-nang-hon-nhan-quyen#

Sunday, May 15, 2016

Những bài hùng ca triệu người hát

Cát Linh, phóng viên RFA 2016-05-15  
000_A4697.jpg
Người dân xuống đường biểu tình tại Hà Nội hôm 1/5/2016.  AFP photo
Trong âm nhạc, mỗi một ca khúc là một câu chuyện. Mỗi một người sẽ chọn cho mình một ca khúc để hát, để yêu, chỉ vì họ nhìn thấy câu chuyện của chính họ trong ca khúc đó.
Thế nhưng, có những nhạc phẩm mà triệu triệu người cùng hát, cho cùng một mục đích. Và khi hát lên, thì cả triệu triệu người ấy đều có chung một nhịp đập từ trái tim. Đó là những bản hùng ca, những tác phẩm mà người sáng tác, người hát, và người nghe đều là một.
“Một cánh tay đưa lên
Hàng ngàn cánh tay đưa lên
Hàng vạn cánh tay đưa lên
Quyết đấu tranh cho một nền hòa bình công chính
Cách đây hơn 40 năm, người nhạc sĩ đầu đàn của phong trào du ca Việt Nam, Nguyễn Đức Quang đã viết ca khúc Cho đồng bào tôi để nói lên thân phận của người Việt Nam lúc bấy giờ.
Đập phá tan mưu toan, đầu hàng cái quân xâm lăng
Hoà bình phải trong vinh quang
Đền công lao bao máu xương hùng anh…” (Thề không phản bội quê hương)
Khi âm nhạc không còn là ngôn ngữ của riêng những bản tình ca, không còn là giai điệu dành riêng để ca ngợi những cuộc tình lộng lẫy hoặc khóc thương cho sự chia lìa đôi lứa, thì lúc đó, âm nhạc sẽ là một vũ khí sắc bén thay cho vạn lời nói. Vũ khí đó có thể làm bừng lên hào khí của cả một thế hệ.
Vũ khí đó có thể được lưu truyền và tiếp nối đến những đời sau, để những trái tim rực lửa với quê hương luôn sẵn sàng hát vang câu thề “thà chết chứ không hề lui, quyết không hề phản bội quê hương.”
Thưa quí vị, có phải chúng ta đang cảm thấy từng mạch máu trong cơ thể chúng ta đang nóng bừng lên cùng với những giai điệu hào hùng và rực lửa này không?
Có phải những ai nghe được lời ca mạnh mẽ, hùng hồn đầy nhiệt huyết của nhạc khúc này, thì chỉ cần nhắm mắt lại là có thể trở về ngay một thời trai trẻ của thế hệ hùng ca sử Việt?
Đó là thế hệ của Nguyễn Đức Quang, của Trầm Tử Thiêng, của Việt Thu, Nguyễn Tấn Lộc… những nhạc sĩ miền Nam Việt Nam thập niên 60.
Họ viết cho ai?
Họ viết cho điều gì?
“Cho đồng bào tôi ở khắp bốn phương trời
Hát những bài ca tôi đòi đã mòn hơi
Nghe nhau khóc thầm suốt đêm qua
Nghe bao nhiêu bạn khóc bên kia
Hoang mang cúi đầu chờ mong thượng đế
Cho đồng bào tôi thở nốt những hơi tàn
Buông thỏng bàn tay thua thiệt trước lầm than
000_A4666.jpg
Người dân biểu tình chống tập đoàn Đài Loan Formosa ở trung tâm thành phố Hà Nội vào ngày 01 tháng 5 năm 2016.

Đêm đêm hết sạch vá vay thêm
Hay mang xe đèo kiếm cơm ăn
Thân trâu kéo cày bên lũ hưởng nhàn…” (Cho đồng bào tôi)
Cho một nhà sư bị nhốt giữa sân chùa, vì phân phát tình thương mà thành mang trọng tội; cho linh mục bớt thềm oan khiên vì đấu tranh cho niềm tin và tình yêu tôn giáo; cho những người dân tộc thiểu số, những người Tây Nguyên không còn bị cầm chân nơi núi rừng; cho tiếng nói người dân được lắng nghe; cho tự do; cho quyền được nói…
Cho người Việt Nam!
Cho đồng bào tôi!
Cách đây hơn 40 năm, người nhạc sĩ đầu đàn của phong trào du ca Việt Nam, Nguyễn Đức Quang đã viết ca khúc Cho đồng bào tôi để nói lên thân phận của người Việt Nam lúc bấy giờ. 40 năm sau đó, cố nhạc sĩ Việt Dzũng đã mượn giai điệu của ca khúc này để viết lời thứ hai, cho thân phận và cuộc sống của người Việt Nam bây giờ.
Họ là ai?
Bước ra từ ca khúc đó, họ có thể là một vị luật sư, một đức cha, một nhạc sĩ, một nhà doanh nghiệp, một thanh niên trẻ trở về từ xứ sở tự do, một cô gái mang học vị tiến sĩ…
Họ là những người đấu tranh cho tiếng nói của một dân tộc.
Họ là những người luôn ấp ủ một hoài bão chung cho cái đẹp vì hoà bình, vì tình yêu dành cho hai tiếng Việt Nam.
“Việt Nam ơi
Thời gian quá nửa đời người
Và ta đã tỏ tường rồi
Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói
Mẹ Việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời
Người lầm than đói khổ nghèo nàn
Kẻ quyền uy giàu sang dối gian…”(Việt Nam tôi đâu)
Tình yêu quê hương đất nước là gì mà từ lâu rồi, nhạc sĩ Giáp Văn Thạch ví von đơn giản chỉ là chùm khế ngọt, là tuổi thơ thả chơi trên đồng? Với Phạm Minh Tuấn là giọt đàn bầu thon thả? Với cố nhạc sĩ Phạm Duy là lời ru dịu dàng của mẹ?
Cũng tình yêu ấy, nhưng nhạc sĩ Việt Khang, thế hệ nhạc sĩ yêu nước tiếp nối, thì lại kêu lên xót xa như đứa trẻ ngơ ngác, thảng thốt hỏi tìm Mẹ, ngày Mẹ không còn nữa: “Giờ đây Việt Nam còn hay đã mất?”
Câu hỏi được chính Việt Khang xót xa kêu lên khi đến quá nửa đời người, đã tỏ tường nhận ra “sau những ngày tàn lửa khói”, Mẹ Việt Nam của anh, của triệu người Việt Nam khác đang “đau từng cơn xót dạ nhìn đời, nhìn “người lầm than đói khổ nghèo nàn”, nhìn “kẻ quyền uy giàu sang dối gian”.
Triệu người Việt khác, ở khắp nơi trên thế giới ngày nay mỗi ngày nhìn về quê hương và tự hỏi:
Họ hát say sưa như dàn đồng ca đang trình diễn trên sân khấu. Chỉ có khác rằng, sân khấu của họ là những nơi họ tuần hành đòi quyền sống, là thánh đường, là những buổi tiệc chúc phúc cho tân lang, tân nương. 
Không kèn, không trống, không dàn nhạc với những nhạc cụ chuyên nghiệp, chỉ là những tiếng vỗ tay thay cho tiếng nhạc đệm, những gương mặt trẻ và ánh mắt sáng ngời vẫn hát vang những ca khúc của Nguyễn Đức Quang, của Việt Dzũng, của Trúc Hồ, của Việt Khang.
“Xin hỏi anh là ai?
Sao bắt tôi tôi làm điều gì sai?
Xin hỏi anh là ai?
Sao đánh tôi chẳng một chút nương tay?
Xin hỏi anh là ai?
Không cho tôi xuống đường để tỏ bày
Tình yêu quê hương này, dân tộc này đã quá nhiều đắng cay!” (Anh là ai)
Họ hát say sưa như dàn đồng ca đang trình diễn trên sân khấu. Chỉ có khác rằng, sân khấu của họ là những nơi họ tuần hành đòi quyền sống, là thánh đường, là những buổi tiệc chúc phúc cho tân lang, tân nương. Đó là nơi mà những bài tình ca truyền thống phải nhường chỗ cho các nhạc phẩm mưu cầu tự do dân tộc và quyền cho người dân Việt.
Đó là những bản hùng ca triệu người hát.
“Trả lại đây cho nhân dân tôi
Quyền tự do quyền con người
Quyền được nhìn được nghe được nói…”  (Trả lại cho dân)