Showing posts with label XaHoi-XayDung-CongTrinh-ThuyDien. Show all posts
Showing posts with label XaHoi-XayDung-CongTrinh-ThuyDien. Show all posts

Saturday, November 21, 2020

Kon Tum tiếp tay cho thủy điện, bất chấp thiệt hại tài sản của dân

 KON TUM, Việt Nam (NV) – Thay vì can ngăn nhà máy thủy điện không được tích nước vì chưa có phép và gây ngập ruộng rẫy của người dân, chính quyền huyện Ngọc Hồi lại làm ngơ để “nhà máy tích nước để chuyên gia Trung Quốc vận hành thử nghiệm.”

Ngày 19 Tháng Mười Một, người dân ở lòng hồ nhà máy thủy điện Plei Kần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, phản ảnh thủy điện này vẫn đang tích nước trái phép và vận hành máy, gây ngập con đường độc đạo và khu sản xuất hơn 300 hécta ở xã Đắk Rơ Nga, huyện Đắk Tô, khiến người dân khốn khổ vô cùng, lo mùa màng mất trắng.

Nhà máy thủy điện Plei Kần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, tự ý tích nước khi chưa có phép, gây ngập lụt ruộng rẫy. (Hình: Lê Kiến/Dân Việt)

Theo báo Dân Việt, các cửa xả của thủy điện Plei Kần được đóng kín, tổ máy phát điện vẫn đang vận hành, tiếng động phát ra ở trạm truyền tải điện của nhà máy vẫn kêu vù vù. Dưới chân đập nước cạn trơ, nhưng lòng hồ thì nước mênh mông.

Bất bình, người dân đề nghị Ủy Ban Nhân Dân huyện Ngọc Hồi nên lập biên bản vi phạm việc “tự ý tích nước khi chưa có phép” của công ty Tấn Phát, chủ đầu tư nhà máy thủy điện Plei Kần.

Trả lời báo Dân Việt, một cán bộ của huyện Ngọc Hồi cho biết: “Thủy điện Plei Kần đang tích nước và vận hành thử nghiệm máy hai ngày nay để đoàn chuyên gia Trung Quốc nghiệm thu, bàn giao kỹ thuật.”

Theo vị cán bộ này cho biết, thủy điện có tích nước nhưng “tích dưới khung cho phép an toàn hơn 1 mét.”

Được hỏi về việc sai phạm trên, ông Lê Như Nhất, giám đốc Sở Công Thương tỉnh Kon Tum, cho biết: “Sở chỉ nghe thông tin có đoàn chuyên gia Trung Quốc sang để kiểm tra, bàn giao kỹ thuật vận hành máy cho nhà máy thủy điện Plei Kần. Còn cụ thể thời gian khi nào, và có tự ý tích nước hay không thì sở không rõ.”

Để kiểm chứng thông tin, ông Nhất đã gọi điện cho chính quyền huyện Ngọc Hồi và chủ đầu tư xác minh. Sau đó, ông Nhất xác nhận: “Có việc thủy điện tích nước và vận hành máy nhưng chỉ tích nước một phần, tích nước ở mức thấp.”

Điều đáng nói là nhà máy thủy điện này đã từng vi phạm việc tương tự, và hiện vẫn chưa được giới hữu trách cấp phép vì công trình chưa được nghiệm thu do chưa xây dựng xong.

“Tới thời điểm này, thủy điện Plei Kần vẫn chưa được nghiệm thu và cho phép tích nước, vận hành máy. Theo nguyên tắc, đơn vị chưa cho phép tích nước mà tự ý tích nước là sai phạm,” ông Nhất thừa nhận.

Tin cho biết trước đó, nhiều tờ báo nhà nước đã phản ảnh, gần hai tháng qua nhà máy thủy điện Plei Kần liên tục tự ý tích nước trái phép để vận hành nhà máy khi chưa được cấp phép. Thậm chí, ngay trong mùa mưa bão đơn vị này vẫn “tích nước vô lối” khiến người dân trở tay không kịp, đe dọa đến tính mạng và tài sản của nhiều người.

Nghiêm trọng nhất là 350 hécta đất sản xuất tại xã Đắk Rơ Nga, huyện Đắk Tô, bị cô lập và ngập hoàn toàn… Trong khi cà phê, cao su đang vào mùa thu hoạch, nếu không hái kịp sẽ gây hư thối. Đến nay, đơn vị này vẫn chưa làm xong đường và đền bù thiệt hại cho dân.

Sở Công Thương tỉnh Kon Tum cũng đã có văn bản yêu cầu công ty Tấn Phát không được tiếp tục tích nước trái quy định, nếu vi phạm sẽ đề nghị tổng công ty Điện Lực Miền Trung không mua điện của nhà máy. Đồng thời, phúc trình Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kon Tum đề nghị Bộ Công Thương thu hồi giấy phép hoạt động.

Do thủy điện Plei Kần tích nước gây ngập, người dân phải đi trên bè tre vào rẫy rất nguy hiểm. (Hình: Lê Kiến/Dân Việt)

Ngoài ra, ủy ban tỉnh Kon Tum cũng đã yêu cầu công ty Tấn Phát “dừng ngay việc tích nước trái phép tại công trình thủy điện Plei Kần. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về an toàn tính mạng và tài sản của người dân do việc tích nước trái phép gây ra.”

Thế nhưng đến nay, các cơ quan liên quan vẫn chưa có quyết định chính thức về xử phạt vi phạm đối với thủy điện Plei Kần. Sự việc kéo dài, không giải quyết dứt điểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân, gây bất bình trong dư luận. (Tr.N) [qd]

Monday, September 3, 2018

Thủy điện xả lũ để tránh vỡ đập nên nhà trôi, cầu sập

Thủy điện Bản Vẽ xả lũ. (Hình: VietNamNet)
VINH (NV) – Những người đứng đầu của đập thủy điện Bản Vẽ tỉnh Nghệ An nhìn nhận việc xả lũ với lưu lượng lớn để tránh vỡ đập đã gây ra thảm họa nhà trôi, cầu sập cho khu vực hạ du.
Báo điện tử VietNamNet kể lại cuộc “trao đổi” với ông Tạ Thanh Hùng, phó giám đốc công ty thủy điện Bản Vẽ ngày 2 Tháng Chín thì được cho biết, “Ngày cuối Tháng Tám và đầu Tháng Chín, lòng hồ thủy điện Bản Vẽ lần thứ 2 chứng kiến mực nước đổ về cao nhất trong lịch sử. Lượng nước đổ về từ 930m3/s đến gần 4,300m3/s, gây thiệt hại nặng cho nhà máy.”
Trước lưu lượng nước dồn về hồ chứa tăng quá nhanh “chưa từng có” cho nên ông Hùng nói “buộc nhà máy phải xả lũ bằng lưu lượng nước đổ về.”
Thủy điện Bản Vẽ là công trình thủy điện xây dựng tại thượng nguồn Nậm Nơn tức sông Lam, lớn nhất miền Trung với công suất 320MW. Đập chính và nhà máy điện đặt tại bản Vẽ, xã Yên Na, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Nhiệm vụ của đập thủy điện Bản Vẽ là vừa cung cấp điện vừa giúp các khu vực hạ du “cắt lũ.” Nhưng những gì đang xảy ra lại trái ngược.
Cầu sập vì thủy điện xả lũ. (Hình: Vietnamnet)
Ông Hùng nêu ra các chi tiết thúc đẩy công ty thủy điện Bản Vẽ phải xả tối đa vì “mái đá gia cố dưới cao trình 92m bị xói, bóc sâu hư hỏng gần như hoàn toàn. Mái bê tông gia cố bờ phải bị xói, sập khoảng 120m. Mái đất tự nhiên bờ phải bị sạt lở nghiêm trọng, nguy cơ sạt tiếp vào nền đường vận hành N3, N4.”
Nói cách khác, ông gián tiếp nhìn nhận phải vội vã xả lũ tối đa để tránh vỡ đập, bất chấp những hệ quả gây ra cho khu vực cư dân bên dưới. Chỉ trong hai ngày 30 và 31 Tháng Tám, tại huyện Tương Dương đã có 239 nhà bị thiệt hại, trong đó 5 nhà bị sập, 10 nhà bị cuốn trôi, 37 nhà phải di dời khẩn cấp, 185 nhà bị ngập. Chiếc cầu “dân sinh” dài 150 mét gần nhà máy đã bị lũ cuốp trôi hai nhịp giữa.
Ngày 31 Tháng Tám, rất nhiều xã của huyện Tương Dương bị ngập sâu, hàng ngàn người dân hối hả bỏ chạy lên núi để giữ lấy mạng sống.
Ngày 15 Tháng Chín năm ngoái, báo chí trong nước tường thuật lời ông thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi đi thị sát ở Quảng Bình ra lệnh cho Bộ Công Thương (chủ của các công ty thủy điện) “không để các hồ thủy điện xả đập gây ra lũ.”
Các đập thủy điện vẫn hối hả xả lũ, gây ra ngập lụt với đủ mọi thứ hệ quả bắt người dân hứng chịu. Chỉ trong mấy ngày cuối Tháng Tám sang đầu Tháng Chín, thống kê cho thấy có 11 người chết và sáu người còn mất tích tại các tỉnh miền núi miền Bắc và bắc miền Trung. (TN)

Tuesday, October 17, 2017

VN có thể xây thêm 300-400 nhà máy thủy điện

RFA-2017-10-17   
Nhà máy thủy điện Hố Hô (Hà Tĩnh) xả lũ.
Nhà máy thủy điện Hố Hô (Hà Tĩnh) xả lũ.Courtesy of news.zing.vn
Truyền thông trong nước ngày 9/10 vừa qua dẫn lời đại diện Hiệp hội Năng lượng Việt Nam nói rằng nếu Việt Nam cho khai thác thêm 300-400 dự án thủy điện nhỏ và vừa thì sẽ góp phần bổ sung nguồn điện thiếu hụt trong các năm tới cho đất nước.

Tác động môi trường và con người

Tại Hội nghị toàn quốc về phát triển thủy điện vừa và nhỏ, năng lượng tái tạo do Bộ Công Thương tổ chức hôm 9/10, ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam nói rằng hiện nay Việt Nam đang phải đối mặt với nguồn năng lượng hóa thạch cạn kiệt như than, khí đốt. Trong khi đó đến năm 2020 Việt Nam phải tìm ra các nguồn điện bổ sung cho lượng thiếu hụt khoảng 100 tỷ kWh và con số này sẽ lên đến 300 tỷ kWh vào năm 20130.
Vì vậy ông Ngãi đề xuất tiếp tục khai thác thủy điện vừa và nhỏ vì chúng mang lại hiệu quả kinh tế và có công suất điện khá cao.
RFA trao đổi với Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật, một chuyên gia về môi trường, cũng là người đã vận động thành công việc hủy bỏ hai dự án thủy điện lớn trên sông Đồng Nai vì những tác động tai hại đến khu vực rừng quốc gia Nam Cát Tiên. Quan điểm của ông là phản đối việc phá rừng để xây dựng nhà máy thủy điện. Lý do ông đưa ra là ảnh hưởng đến hệ sinh thái:
Nếu làm thủy điện ở những vùng có rừng thì mình sẽ phá rừng để hi sinh làm thủy điện. Các dòng sông làm thủy điện có độ dốc tương đối cao và đa số những nơi đó là còn rừng. Nếu làm như vậy mình phải hi sinh môi trường, đặc biệt là đa dạng sinh học. Rừng không chỉ là cây như chúng ta nhìn vào mà còn nhiều loài khác nhau. Khi mình phá rừng, tổng thể hệ sinh thái phục vụ cho con người, và các loài khác trong chuỗi mắt xích sẽ bị phá hủy. Như vậy sẽ đe dọa đến sự tồn vong của loài người.
Khi không có nắng, không có gió là phải dùng Khi mình phá rừng, tổng thể hệ sinh thái phục vụ cho con người, và các loài khác trong chuỗi mắt xích sẽ bị phá hủy.
lượng dự trữ hoặc các nguồn năng lượng khác như nhiệt điện than, thủy điện để phát điện.
- Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật
Ông nói gần đây Việt Nam xảy ra nhiều trận hán hán, lũ lụt lịch sử mà nguyên nhân một phần lớn là do nạn phá rừng.
Trận lũ lụt đầu tháng 10 vừa qua đã khiến hơn 70 người thiệt mạng, hơn 200 ngôi nhà bị sụp đổ, hơn 40 ngàn ngôi nhà bị ngập, hơn 9000 gia súc và hàng trăm ngàn gia cầm chết đuối. Việt Nam gọi đây là trận lụt lịch sử trong tháng 10 ở Việt Nam.
Phó Giáo sư - Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu, thuộc Đại học Cần Thơ cho biết nguồn thủy năng ở Việt Nam hiện nay đã gần cạn kiệt. Nếu làm thêm nhà máy thủy điện thì khả năng lớn là trên các sông suối nhỏ:
Tại vì mình không nắm được các hồ sơ đó nên không biết những nhà máy thủy điện vừa và nhỏ nằm ở đâu, chiếm bao nhiêu diện tích và bao nhiêu rừng sẽ bị phá để phục vụ chuyện này.
Tôi nghĩ từ 300-400 là nhiều lắm.
Mặc dù hiện tại dự án cụ thể của các nhà máy thủy điện này chưa được công bố nhưng Tiến sĩ Lê Anh Tuấn nói rằng khả năng lớn sẽ được xây dựng ở các khu rừng núi hiểm trở bởi vì ở những địa hình dễ làm Việt Nam đều đã cho tiến hành xây dựng.
Ông nói rằng hiện tại rất khó đánh giá tác động cụ thể của các nhà máy này bởi vì chưa có một thông tin nào được công bố. Tuy nhiên theo ông, các nhà máy thủy điện bấy lâu nay đã để lại cho Việt Nam nhiều bài học về tác động môi trường và con người, mặc dù chúng cung cấp một lượng lớn điện năng cho cả nước:
Nó có nhiều vấn đề về môi trường, xã hội, ngoài yếu tố về kinh tế. Ví dụ chuyện di dân, những người sống ở khu vực lòng hồ sẽ phải di dân. Mà thường thường sẽ di chuyển đến chỗ khó khăn hơn chỗ ở cũ. Rồi vấn đề về tái định cư, và sinh kế của người dân ở đó bởi vì họ sống ở dưới thung lũng thì họ dễ dàng canh tác, bắt cá nhưng khi di dời, theo khảo sát của tôi, thì cuộc sống của họ khó khăn hơn rất nhiều.
Ngoài ra những hồ chứa như vậy phải hi sinh rất nhiều đất rừng. Mà rừng ở Việt Nam càng ngày càng thu hẹp và chất lượng không còn dồi dào như ngày xưa nữa. Nếu tiếp tục xây dựng thủy điện thì diện tích rừng càng ngày càng ít dần.
Ngoài ra, ông cho biết hồ chứa thủy điện sẽ giữ lại phần lớn phù sa trên sông, sẽ làm cho vùng hạ lưu gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp nhận phù sa. Bên cạnh đó sẽ cản đường di cư của các loài cá, hay ảnh hưởng đến vấn đề giao thông thủy trên sông.
Một vấn đề quan trọng nữa ông nêu ra đó là khi nhà máy thủy điện vận hành sẽ làm thay đổi các đặc điểm dòng chảy của sông. Dòng sông có lúc phải tích nước lại, có lúc phải xả nước nhiều, chứ không được chảy liên tục như trước đó.
Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật bổ sung thêm rằng việc xây dựng đập thủy điện có thể ảnh hưởng đến cuộc sống, văn hóa của người bản địa, đẩy họ vào tình thế vốn đã cô lập nay còn bị tổn thương hơn. Vô hình chung điều này sẽ ảnh hưởng đến tình hình ổn định chính trị để phát triển đất nước.
Một nguy cơ khác có thể xảy ra nếu phát triển quá nhiều nhà máy thủy điện, ông nói tiếp:
Đặc biệt ở Việt Nam luôn làm thiếu tính hệ thống. Vừa rồi ở Lào có vụ việc vỡ đập thủy điện. Nếu đập thủy điện bị vỡ như vậy sẽ tác động đến các đập khác, gây ra hiện tượng vỡ đập liên hoàn. Như vậy người dân ở vùng sâu sẽ không sơ tán kịp và nhiều người sẽ chìm trong vùng lụt, phải chịu mất mát về cả tính mạng con người và của cái vật chất.
Trong buổi Hội nghị về phát triển thủy điện nêu trên, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cũng nói rằng nếu Việt Nam có xây thêm nhà máy thủy điện thì cần hạn chế tối đa phá hoại rừng và phải có quy trình chặt chẽ trong việc xây dựng và vận hành hồ chứa.
thuydien
Xây dựng đập Xayaburi trên sông Mekong hôm 22/1/2014. AFP

Có khả thi?

Thủy điện là vấn đề gây nhiều tranh luận trong mấy năm trở lại đây. Tại miền Trung cứ đến mùa mưa lũ là các đập thủy điện lại xả lũ vì sợ vỡ đập. Điều này gây ra hiện tượng lũ chồng lũ ở khu vực vốn đã chịu nhiều thiên tai nhất trên cả nước. Những đợt xả lũ như vậy gây nhiều thiệt hại về vật chất và thậm chí là tính mạng của người dân.
Riêng tại Việt Nam hiện nay chưa có những nghiên cứu đầy đủ về tác động của các đập nước lớn như Sông Đà và Trị An, nhưng ngày càng có nhiều lo ngại về các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong ở Lào và Trung Quốc, một ngày nào đó sẽ kết liễu sự sống của đồng bằng sông Cửu Long. Tháng 5 vừa qua, các chuyên gia Việt Nam đã lên tiếng yêu cầu hoãn dự án thủy điện Pắc Beng ở Lào để bảo vệ 20 triệu dân Đồng bằng sông Cửu Long.
Tuy nhiên, cũng có nhiều quan điểm bảo vệ ngành thủy điện. Ngay trong buổi hội nghị, Phó vụ trưởng Vụ Thủy điện, Bộ Công Thương, ông Phan Duy Phú cho rằng, thủy điện nhỏ và vừa là nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia, là nguồn năng lượng sạch, có khả năng tái tạo và cần được khai thác hợp lý. Hay ông Bùi Thế, Phó giám đốc Sở Công Thương Lâm Đồng nói rằng các công trình thủy điện đã giúp tỉnh này phát triển kinh tế trong thời gian qua.
Trước đó Bộ Công Thương cũng từng đưa ra đánh giá rằng thủy điện nhỏ và vừa có nhiều lợi ích như cung cấp năng lượng, giúp đỡ nông nghiệp, mang lại công ăn việc làm cho dân,…
Tiến sĩ Lê Anh Tuấn nói rằng bây giờ còn quá sớm để đánh giá liệu việc xây dựng 300-400 nhà máy thủy điện có khả thi hay không:
Bởi vì số lượng lớn như vậy thì có thể có một số nhà máy khả thi. Nhưng khả thi cho cái gì mới được? Ví dụ khả thi về mặt kinh tế nhưng đôi khi không khả thi về mặt môi trường hay mặt xã hội. Nên phải có hồ sơ mới đánh giá được tính khoa học, khả thi hay tính bền vững,… Ví dụ nhà máy đó đặt ở vị trí phù hợp hay không, điều kiện nước có bảo đảm hay không, phải hi sinh bao nhiêu rừng, và bao nhiêu người dân phải di tản.
Rồi vấn đề về tái định cư, và sinh kế của người dân ở đó bởi vì họ sống ở dưới thung lũng thì họ dễ dàng canh tác, bắt cá nhưng khi di dời, theo khảo sát của tôi, thì cuộc sống của họ khó khăn hơn rất nhiều.
TS. Lê Anh Tuấn
Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật lại có cái nhìn khác. Ông cho rằng việc xây thêm số lượng lớn nhà máy thủy điện như vậy sẽ không khả thi khi đưa vào thực tiễn. Ông giải thích:
Quan điểm của Hiệp hội Năng lượng hay Bộ Công thương có thể cho là khả thi. Nhưng khi đưa ra thực tiễn sẽ không khả thi.
Ví dụ đơn giản như hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, đã được Chính phủ đưa vào quy hoạch từ năm 2001 cho đến năm 2011 là 10 năm. Nhưng đến 2012 Thủ tướng vẫn phải rút lại.
Nó không khả thi ngoài thực tế vì dân những vùng đó sẽ phản đối và công luận cũng sẽ phản đối khi môi trường tự nhiên bị hi sinh để làm thủy điện.
Tiến sĩ Lê Tuấn Anh nói rằng bản thân ông không phản đối thủy điện, nhưng với điều kiện là phải cân nhắc thật kỹ lưỡng những tác động nó mang lại. Ông cho rằng Việt Nam cũng nên cân nhắc các nguồn năng lượng khác thân thiện với môi trường mà giá thành ngày càng rẻ như năng lượng gió, mặt trời, thay vì cứ chú trọng đầu tư thủy điện truyền thống.
Trong khi đó, tại Hội nghị, Vụ trưởng Vụ Năng lượng Tái tạo ông Phạm Trọng Thực lại nói rằng thực tế năng lượng tái tạo chỉ đủ cung cấp thêm cho nguồn điện chứ không thể thay thế các nguồn khác. Khi không có nắng, không có gió là phải dùng năng lượng dự trữ hoặc các nguồn năng lượng khác như nhiệt điện than, thủy điện để phát điện.
Những ý kiến các chuyên gia đưa ra dẫn đến một câu hỏi rằng liệu Việt Nam có xem xét trận lũ lụt lịch sử này khi đưa ra quyết định xây thêm đập thủy điện hay không? Và liệu Nhà nước có thảo luận công khai với người dân tại những khu vực được chọn xây nhà máy hay không?

Sunday, July 2, 2017

Thủy điện Tuyên Quang xả lũ cuốn trôi hơn 70 tấn cá nuôi

Thủy điện Tuyên Quang xả lũ cuốn trôi hơn 70 tấn cá nuôi
Năm gia đình nuôi cá đặc sản trên sông Gâm trong tỉnh Tuyên Quang bị thiệt hại tổng cộng 6 tỉ đồng (hơn 265,000 Mỹ kim), khi nhà máy thủy điện Tuyên Quang xả lũ.
Báo Thanh Niên hôm Chủ Nhật 2 tháng 7 dẫn lời ông Ma Văn Long, phó chủ tịch huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, cho biết nhà máy thủy điện Tuyên Quang đã thông báo trước khi xả lũ trong đêm 29 tháng 6. Nhưng nước lũ làm đứt một phần cầu phao ở huyện Na Hang, khiến các khối phao va đập gây hư hỏng 39 lồng cá của người dân ở thôn Đầu, xã Yên Lập, huyện Chiêm Hóa. Chịu thiệt hại nặng nhất là gia đình ông Bùi Phương Diện với 35 lồng cá bị mất; 4 gia đình khác bị mất lồng 4 cá. Trong số 35 lồng cá bị cuốn trôi, có 29 lồng cá mất trắng, 6 lồng còn lại còn khối lượng cá khoảng 6 tấn. Hơn 70 tấn cá bị mất chủ yếu là cá lăng chấm, cá diêu hồng và cá rô phi.
Tin cho hay nhà chức trách huyện Chiêm Hóa đã điều động lực lượng trục vớt được 14 lồng cá bị cuốn trôi xuống gần nhà máy thủy điện ICT Chiêm Hóa ở khu vực hạ lưu sông Gâm. Số lồng cá còn lại đã bị nước lũ nhấn chìm.
Được biết trong mấy ngày trước đó, nhiều nơi trong các tỉnh Tuyên Quang, Sơn La và Lai Châu có mưa trên diện rộng. Giới chức nhà máy thủy điện Tuyên Quang cho biết hôm 29 tháng 6, trước áp lực lớn của lượng nước đổ về hồ thủy điện, họ quyết định mở 3 cửa xả đáy.
Huy Lam / SBTN

Monday, March 20, 2017

Tạm ngưng cấp giấy phép thủy điện: ‘Mất bò mới làm chuồng’

Các dự án thủy điện làm thay đổi dòng chảy khiến sạt lở tràn lan, rồi hạn hán, lũ lụt nghiêm trọng hơn trước. (Hình: Báo Kinh Tế và Dự Báo)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Thủ tướng Việt Nam vừa yêu cầu Bộ Công Thương tạm ngưng cấp giấy phép đầu tư cho những dự án thủy điện có thể “tác động tiêu cực đến môi trường, sinh thái.”
Theo báo điện tử VnEconomy, trong công điện về thủy điện được gửi đến nhiều cơ quan hữu trách hồi cuối tuần vừa qua, thủ tướng Việt Nam còn yêu cầu gia tăng kiểm soát việc quy hoạch, đầu tư, xây dựng, vận hành các công trình thủy điện ở khu vực Tây Nguyên vì có nhiều “tác động bất lợi đến môi trường, xã hội.”
Bộ Công Thương được yêu cầu phải cương quyết loại bỏ, chấm dứt thực hiện các dự án, công trình thủy điện không hiệu quả, không an toàn, ảnh hưởng bất lợi tới dòng chảy, môi trường và đời sống dân chúng.
Bộ này còn được yêu cầu cùng với Bộ Tài Nguyên-Môi Trường hoàn thiện quy trình vận hành các hồ chứa để vừa bảo đảm hiệu quả phát điện, vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng nước ở khu vực hạ du trong mùa khô, cắt – giảm lũ và các tác động tiêu cực trong mùa mưa.
Ngoài Bộ Công Thương, Bộ Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn cũng được yêu cầu tham gia buộc chủ đầu tư các dự án thủy điện trồng rừng thay thế trong năm nay, thu hồi giấy phép nếu không chấp hành.
Công điện vừa kể thể hiện một thái độ hết sức rạch ròi, cứng rắn với các dự án thủy điện, đặc biệt là những dự án thủy điện tại khu vực Tây Nguyên, nhưng tiếc rằng quá trễ!
Đầu thập niên 2000, chính quyền Việt Nam bắt đầu phóng tay, cho phép thực hiện ồ ạt hàng ngàn dự án thủy điện, đa số là thủy điện nhỏ và đã tạo ra một thảm họa mới cả về kinh tế, môi trường lẫn dân sinh.
Chẳng hạn, tại khu vực Tây Nguyên, ngoài chuyện nhiều nhà máy thủy điện được xây dựng rất cẩu thả, dẫn đến xảy ra hàng loạt tai nạn nghiêm trọng như vỡ đập, nứt đập… khiến người chết, nhà cửa, ruộng vườn bị hư hại, các công trình, dự án thủy điện đã làm Tây Nguyên mất 80,000 héc ta đất, gây xáo trộn sinh hoạt, sinh kế của 26,000 gia đình, phần lớn là người thiểu số.
Năm 2013, Ủy Ban Khoa Học-Công Nghệ-Môi Trường của Quốc Hội Việt Nam tiến hành thẩm tra các công trình thủy điện và xác định, việc quản lý chất lượng, an toàn tại các công trình thủy điện nhỏ chưa tuân thủ quy định của pháp luật, tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường.
Khoảng 30% đập chắn nước của các công trình thủy điện nhỏ chưa được kiểm định. Khoảng 66% đập chắn nước chưa được duyệt phương án bảo vệ. Khoảng 55% chủ đập chưa có phương án phòng chống lụt bão.
Ủy ban này cho biết thêm rằng, từ năm 2006 đến 2012, Việt Nam có 160 dự án thủy điện đã chuyển 19,792 héc ta rừng thành đất xây dựng công trình thủy điện. Đến nay, diện tích rừng được trồng thay thế chỉ chừng 3.7%.
Năm 2014, chính quyền Việt Nam chính thức thừa nhận, những dự án thủy điện tại Tây Nguyên là nguyên nhân chính tăng thêm đói nghèo, đẩy người thiểu số tới tột đỉnh của sự bần cùng. Chưa kể, chuyện xả lũ vô tội vạ của các công trình thủy điện sau những trận bão lớn còn làm chết thêm hàng trăm người, phá hủy nhiều khu dân cư, ruộng vườn, khiến hậu quả thiên tai thêm trầm trọng.
Tiếng là để tăng thêm nguồn điện nhưng từ khi có các dự án thủy điện, vào mùa khô, cả điện lẫn nước ở khu vực Tây Nguyên và miền Trung cùng thiếu. Hạn hán đang theo xu hướng năm sau nghiêm trọng hơn năm trước.
Cũng vào thời điểm đó, nhiều đại biểu Quốc Hội Việt Nam bắt đầu chỉ trích kịch liệt việc phát triển thủy điện theo phong trào, khiến Việt Nam mất thêm hàng chục ngàn héc ta rừng và khiến dân chúng sống ở khu vực hạ lưu của các công trình thủy điện thường xuyên lo âu vì những rủi ro không thể dự báo. Những đại biểu quốc hội ấy cho rằng, phải truy cứu trách nhiệm cá nhân trong chuyện cho phép thực hiện tràn lan các công trình thủy điện.
Tuy nhiên, cho đến nay, chẳng có cơ quan nào đáp ứng các đòi hỏi này. (G.Đ.)

Wednesday, February 15, 2017

Xây nhà máy nhiệt điện, nhà thầu Trung Quốc gây ô nhiễm cả vùng

Khói bụi gây ô nhiễm từ việc xây dựng nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 (Hình: Báo Thanh Niên)
BÌNH THUẬN (NV) – Để nhà thầu Trung Quốc thiết kế, xây dựng và thi công ẩu, một bãi đất rộng 58 ha ở Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 trở thành điểm gây ô nhiễm không khí trầm trọng.
Nói với phóng viên báo Thanh Niên, chiều ngày 14 Tháng Hai, ông Đỗ Văn Thái, phó giám đốc Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Bình Thuận xác nhận, việc Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1, xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, do các nhà thầu Trung Quốc thiết kế và đang thi công bãi xỉ than gây khói bụi, ô nhiễm môi trường “khá nghiêm trọng” do không thực hiện đúng với đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được duyệt.
“ĐTM được duyệt yêu cầu phải có nước mới được thi công. Nhưng nhà máy không dẫn nước về mà thi công “chay” nên gây ô nhiễm môi trường không khí vì mùa này là mùa gió mạnh. Chúng tôi sẽ có văn bản phúc trình Bộ Tài nguyên môi trường xem xét và yêu cầu các nhà thầu phải có giải pháp”, ông Thái cho hay.
Có mặt tại bãi xỉ than của Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 vào trưa cùng ngày, phóng viên báo Thanh Niên ghi nhận một bãi đất rộng (58 ha) toàn cát, đất xốp mịn được nhà máy san lấp tạo mặt bằng ngay sát bãi xỉ của Nhà máy Vĩnh Tân 2.
Đến khoảng 14 giờ, gió xoáy từ chân núi dội ra tạo thành những cơn lốc thổi đất cát mù mịt một vùng trời. “Những trận khói bụi như vậy thường kéo dài đến khoảng 16 giờ mới giảm, khi gió yếu dần”, ông Nguyễn Văn Sĩ, người dân địa phương nói.
Tuy nhiên, trả lời báo Thanh Niên cùng ngày, ông Phan Ngọc Cẩm Thành, phó tổng giám đốc Công ty điện lực Vĩnh Tân 1 biện minh, do mấy ngày vừa qua gió khá mạnh gây ra ô nhiễm bụi. “Chúng tôi có 4-5 xe, cứ vài giờ lại cho xe tưới nước một lần nhưng gió to quá vẫn xảy ra khói bụi”, ông Thành nói.
Trong khi đó, ông Võ Minh Thắng, phó giám đốc phụ trách Ban Quản lý dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân, Tập đoàn EVN lại thừa nhận: “Do Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 chưa đầu tư hệ thống nước vào bãi xỉ nên quá trình thi công đã gây khói bụi”. ( Tr.N)

Monday, February 6, 2017

Việt Nam không phản đối dự án thủy điện Pak Beng

Đoạn sông Mekong ở Lào, nơi thủy điện Pak Beng được xây. (Hình: VOISHMEL/AFP/Getty Images)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tổ chức Sông Ngòi Quốc Tế (International Rivers-IR) xem việc Ủy Hội Sông Mekong (MRC) khởi động Quy Trình Thông Báo – Tham Vấn Trước và Thỏa Thuận (PNPCA) với đập Pak Beng là vô trách nhiệm.
MRC là một tổ chức liên chính phủ bao gồm đại diện của Việt Nam, Lào, Cambodia, Thái Lan, được thành lập nhằm phối hợp quản trị và thúc đẩy phát triển các tài nguyên của sông Mekong một cách bền vững vì lợi ích chung của các quốc gia có liên quan.
Văn kiện nền tảng cho hoạt động của MRC là Hiệp Định Mekong được ký kết năm 1995. Theo hiệp định này thì bất cứ hoạt đông nào tác động đến Mekong cũng phải thực hiện PNPCA.
Tháng Mười Một năm ngoái, Lào gửi dự án xây dựng thủy điện Pak Beng cho MRC. Sau đó, MRC bắt đầu vận hành PNPCA trong vòng sáu tháng.
Pak Beng là dự án thủy điện thứ ba trong tổng số 11 dự án thủy điện của Lào trên sông Mekong.
Theo tính toán của giới khoa học, những dự án thủy điện mà Trung Quốc rồi sau đó đến Lào thi nhau xây dựng trên sông Mekong trong hai thập niên vừa qua sẽ hủy diệt dòng sông này và tác động đến sinh hoạt, sinh kế của khoảng 60 triệu người cư trú ở khu vực hạ lưu Mekong. Trong đó, thiệt hại của Việt Nam là trầm trọng nhất.
Hiện nay, tác động của các đập thủy điện trên sông Mekong đến Việt Nam đã rất rõ ràng: Đồng bằng sông Mekong thiếu lũ, thiếu phù sa, độ màu mỡ giảm, nước ngọt khan hiếm, nước mặn xâm lấn càng ngày càng sâu, chi phí cho sản xuất nông nghiệp tăng, nông dân phải dùng thêm phân bón, các loại thuốc bảo vệ thực vật nên xuất cảng nông sản khó khăn hơn.
Trước thông tin Lào gửi dự án xây dựng thủy điện Pak Beng cho MRC, ông Nguyễn Hữu Thiện, cựu trưởng nhóm tư vấn và đánh giá tác động môi trường hệ thống đập trên sông Mekong, cho biết, khi khô hạn, đập chắn nước của thủy điện Pak Beng sẽ cùng với đập chắn nước của các thủy điện khác làm nước về đồng bằng sông Mekong chậm thêm vài tháng, hạn hán và nước mặn xâm nhập vào đồng bằng sẽ trầm trọng hơn. Pak Beng cũng sẽ làm lượng phù sa, các chất hữu cơ, tôm cá giảm nhiều hơn. Đặc biệt, nếu thiếu phù sa sẽ không thể có giải pháp nào hữu hiệu để ứng phó với tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển ở đồng bằng.
Ông Lê Anh Tuấn, viện phó Viện Nghiên Cứu Biến Đổi Khí Hậu của Đại Học Cần Thơ, nhận xét, Pak Beng là bằng chứng cho thấy Hiệp Định Mekong thiếu hiệu quả, MRC thì bất lực. Cùng với các đập chắn nước của các dự án thủy điện khác, Pak Beng sẽ cắt đứt tính liên tục của dòng chảy sông Mekong, đẩy các quốc gia ở hạ nguồn tới sự thiếu hụt nguồn nước, nguồn phù sa, nguồn cá và các nguồn sống của nhiều hệ sinh thái khác.
Đến giờ, PNPCA chỉ là một công đoạn có tính thủ tục. Chưa chuyển cho MRC thực hiện PNPCA, nghĩa là chưa nghe tham vấn, chưa bàn bạc để tìm sự đồng thuận, chính phủ Lào đã cấp giấy phép cho công ty Datang của Trung Quốc đầu tư thực hiện Pak Beng.
Lào đã từng gạt bỏ mọi khuyến cáo của các chuyên gia môi trường, yêu cầu của MRC để thực hiện hai dự án thủy điện Xayaburi và Don Sahong. Cũng vì vậy, các tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế cùng cho rằng, MRC phải xem lại toàn bộ cách thức phối hợp quản trị và thúc đẩy phát triển các tài nguyên của sông Mekong một cách bền vững vì lợi ích chung của các quốc gia có liên quan.
Đó cũng là lý do IR hết sức thất vọng khi MRC chưa đặt định một giải pháp mới, hữu hiệu hơn PNPCA đã khởi động PNPCA do Lào chuyển tới.
Đáng ngạc nhiên là chính quyền Việt Nam, một thành viên của MRC, không có bất kỳ ý kiến nào trước vấn đề mang tính sống còn đối với chính quốc gia của mình. Tương lai của sông Mekong vẫn là chuyện của các tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế! (G.Đ.)

Wednesday, December 21, 2016

Xây dựng thủy điện bậc thang ào ạt ‘cần phải lên án’

Một chú bé chồng bè tạm ra khỏi nhà trên một cái ruột bánh xe hơi ở tỉnh Bình Định hôm 18 Tháng Mười Hai, 2016. Chỉ một tuần lễ có 24 người chết vì thủy điện xả lũ tại miên Trung Việt Nam. (Hình: STR/AFP/Getty Images)
SÀI GÒN (NV) – Tuy các con sông ở miền Trung đều nhỏ nhưng phải gánh rất nhiều các công trình thủy điện bậc thang dẫn đến hệ lụy ngập lụt chết người, tài sản, mùa màng, cầu đường thiệt hại.
“Quy hoạch thủy điện bậc thang ở các sông nhỏ là một sai lầm, là nguyên nhân sâu xa của lũ. Về mặt kỹ thuật không được làm điều này nhưng chúng ta vẫn cố để làm. Cần phải lên án điều này.” Trong một cuộc phỏng vấn của tờ Một Thế Giới hôm Thứ Hai, 19 Tháng Mười Hai, 2016, ông Vũ Trọng Hồng, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy Lợi thời ông Võ Văn Kiệt làm thủ tướng, chủ tịch Hội Thủy Lợi Việt Nam, nói như vậy.
Theo ông này, có một số nguyên nhân chính dẫn đến việc các đập thủy điện xả lũ “đúng quy trình” mà người dân không kịp chạy. Thứ nhất, những người điều hành đập thủy điện “không nắm được thông tin” về dự báo khí tượng để điều tiết nên chỉ hối hả xả lũ khi sợ vỡ đập, dẫn đến ngập lụt các khu vực hạ lưu.
Thứ hai, “các sông suối nhỏ cũng đều làm thủy điện bậc thang, mỗi sông 3 – 4 nhà máy thủy điện. Hơn nữa, khoảng cách giữa các nhà máy chỉ cách nhau khoảng vài chục cây số. Các nước không ai cho phép như vậy bởi vì khi đập này tích nước, chưa kịp xả hết thì nước từ đập kia lại chảy về rồi.”
Thứ ba, theo ông được thuật lời, “những vùng rốn lũ thì chúng ta lại cho phép dân cư vào ở rất nhiều, ví dụ như Hố Hô, đúng dòng sông Ngàn Sâu chảy, hai bờ không được xuống nhưng địa phương vẫn cho dân phát triển. Tình trạng này cũng tương tự ở các địa phương khác. Cho nên tác hại của ngập lụt nghiêm trọng hơn. Những vùng rốn rũ, quốc tế và đặc biệt là Mỹ không bao giờ cho dân vào ở, nhưng Việt Nam thì cứ cho.”
Theo ý kiến của ông Vũ Trọng Hồng, hiện Việt Nam sử dụng điện phần lớn từ 37 nhà máy thủy điện lớn, “nếu bỏ những thủy điện nhỏ này không ảnh hưởng gì nhiều. Nhà nước có thể xem xét những thủy điện nào có nhiều rủi ro như kiểu Hố Hô hoặc thủy điện bậc thang, không thu được lợi ích kinh tế nhiều thì đề nghị họ có thể thu xếp chấm dứt hoạt động.”
Theo các con số được tờ VNEconomy nêu ra ngày 14 Tháng Mười Một, 2016, hiện nay, trên cả nước Việt Nam có 306 dự án thủy điện với tổng công suất lắp máy Nlm=15,474 MW đang vận hành phát điện. Còn 193 dự án (5,663 MW) đang thi công xây dựng và 245 dự án (3,006 MW) đang nghiên cứu đầu tư. Đó là chưa kể 59 dự án (422 MW) có quy mô nhỏ “đang được tiếp tục rà soát.”
Nếu chỉ kể riêng về quy hoạch bậc thang thủy điện trên các dòng sông lớn đã vận hành phát điện 61 dự án (13,101 MW) và đang thi công xây dựng 31 dự án (3,580 MW); đang nghiên cứu đầu tư 15 dự án (730 MW), có 3 dự án (128 MW) chưa cho phép nghiên cứu đầu tư. Nhìn chung, hầu hết đều là những dự án thủy điện có công suất rất nhỏ.
Người ta đã biết sự tác hại của thủy điện từ lâu nay nhưng không thể loại bỏ được, theo ông Vũ Trọng Hồng, là vì “Có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó cũng có nguyên nhân lợi ích nhóm, có người này người kia cổ phần ở trong các nhà máy thủy điện nên rất khó xóa bỏ.”
Theo các con số thông kê sơ khởi từ “Ban Chỉ Đạo Trung Ương về Phòng Chống Thiên Tai” của nhà cầm quyền CSVN, các đập thủy diện miền Trung xả lũ hai tháng qua đã làm 111 người chết và mất tích, 121 người bị thương; hơn 300,000 ngôi nhà bị ngập, hư hại. Tổng thiệt hại ước tính trên 8,500 tỷ đồng hay khoảng $260 triệu. Nếu kể từ đầu năm đến nay, các loại thiên tai phối hợp với thủy điện xả lũ đã làm chết 235 người và thiệt hại tài sản khoảng $1.7 tỷ. (TN)

Wednesday, December 7, 2016

Thủy điện gây thảm họa cho dân miền Trung

Ông Võ Thanh Tuấn, huyện Tuy Phước, Bình Định, buồn rầu ngồi trên nóc trang trại bị ngập chìm trong lũ, khiến đàn vịt thịt 600 con của gia đình ông trôi mất. (Hình: Tuổi Trẻ)
ĐÀ NẴNG (NV) – “Các công trình thủy điện đang gây ra những tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến môi trường xã hội, khiến cho tình hình lũ lụt càng thêm trầm trọng…” là lời tố cáo tại buổi hội thảo ngày 6 Tháng Mười Hai, 2016.
Tại cuộc hội thảo “Vì sự phát triển thủy điện bền vững khu vực miền Trung-Tây Nguyên” tổ chức ở Đà Nẵng ngày nói trên được tờ báo điện tử Giáo Dục Việt Nam tường thuật, ông Huỳnh Phước, phó chủ tịch liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Đà Nẵng tố cáo rằng, gần 10 năm qua, việc đầu tư hệ thống thủy điện dày đặc ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên đã gây nên những thiệt hại về môi trường, kinh tế-xã hội.
Trong đó, rõ ràng nhất là tình trạng ngập lụt vùng hạ du do các thủy điện vận hành xả lũ không đúng quy trình. Nhiều hồ chứa xả lũ ào ạt, không báo trước khiến người dân trở tay không kịp, bị nước dâng lên cuốn trôi hết tài sản, đồ đạc.
Lên tiếng trong cuộc hội thảo, bà Tiến Sĩ Quách Thị Xuân của trung tâm tư vấn phát triển bền vững (Viện Nghiên Cứu Phát Triển Kinh Tế-Xã Hội Đà Nẵng) nêu ra những con số cho thấy, việc xây dựng các đập thủy điện đã phá hủy hàng ngàn hecta rừng tự nhiên. Tổng diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng phục vụ cho thủy điện là gần 1,390 hecta (do lòng hồ chiếm chỗ). Ngoài ra, hơn 9,292 hecta “biến mất” để phục vụ làm đất tái định cư và đất sản xuất cây lương thực hàng năm.
Khi lập dự án, các nhà đầu tư thủy điện hoặc là Bộ Công Thương Nhà Nước Trung Ương nếu là dự án lớn, hoặc của các địa phương nếu là các dự án nhỏ, đều cam kết trồng lại rừng. Tuy nhiên, bà Xuân nói các cam kết chỉ là lời nói dối.
Bà Xuân dẫn chứng, tính đến cuối năm 2014, cả tỉnh Quảng Nam chỉ mới thực hiện trồng rừng thay thế vỏn vẹn 24/700 hecta (tương đương 3.4% kế hoạch năm). Bốn nhà máy thủy điện “nợ” diện tích trồng lại rừng lớn nhất là: Sông Bung 2 (còn 426 hecta chưa trồng), Sông Tranh 2 (314 hecta), Sông Bung 4 (hơn 206 hecta) và Sông Bung 5 (106 hecta). Đó là không kể đến những vùng rừng đầu nguồn bị phá thêm “ngoài kế hoạch” để lấy gỗ bán kiếm lời.
Cuộc hội thảo về thủy điện hại dân diễn ra trong khi các đập thủy điện từ Quảng Bình đến Phú Yên theo nhau xả lũ gây lũ lụt kinh hoàng, nhà sập, cầu trôi, người chết, mùa màng, tài sản thiệt hại hàng ngàn tỉ đồng. Không những vậy, cả các hồ thủy lợi cũng xả lũ theo lại càng làm tình hình ngập lụt thêm thê thảm.
Hà Tĩnh thì có đập thủy điện Hố Hô (giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình) là đập nhỏ nhưng có 4 đập thủy điện đang xả lũ với lưu lượng lớn gồm Hương Điền xả 726 m3/s, Bình Điền (Thừa Thiên – Huế) xả 764 m3/s, Sông Tranh 2 (Quảng Nam) xả 748 m3/s và Sông Hinh (Phú Yên) xả 1,000m3/s.
Thành phố Huế và bảy huyện, thành phố của Thừa Thiên-Huế bị ngập. Theo tờ Tuổi Trẻ, Cuối chiều 7 Tháng Mười Hai, 2016, tất cả các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bình Định đều bị ngập lụt, lũ chia cắt. Nhiều nhà dân ở các huyện Tuy Phước, Hoài Nhơn ngập sâu 1-1.5m nước. Dự báo ngày 8 Tháng Mười Hai, ở Bình Định còn có mưa to đến rất to, lũ các sông tiếp tục lên. Từ đầu Tháng Mười Một, 2016 đến nay, toàn tỉnh Bình Định đã có 12 người chết, một người mất tích do mưa lũ.
Chiều ngày 3 Tháng Mười Một, ông Võ Đăng Thuận, phó Phòng Giáo Dục và Đào Tạo huyện Nam Trà My (Quảng Nam) cho biết, do ảnh hưởng của đợt lũ vừa qua khiến toàn bộ huyện này bị cô lập, nhiều điểm trường phải sơ tán giáo viên đi tránh lũ.
Cuối tuần qua, Chi Cục Phòng, Chống Thiên Tai khu vực miền Trung -Tây Nguyên tại Đà Nẵng cho biết, hiện nhiều hồ chứa thủy lợi và thủy điện ở các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên đang đồng loạt xả lũ.
Các hồ thủy lợi, thủy điện trên lưu vực sông Hương (tỉnh Thừa Thiên Huế) như: A Lưới, Hương Điền, Bình Điền, Trả Trạch và trên trên lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn (Quảng Nam) như: Sông Bung 4, Đăk Mi 4, Sông Tranh 2 đều xả lũ. Thủy điện An Khê-Ka Nak trên lưu vực sông Ba “xả lũ điều tiết” theo quy trình vận hành.
Vì lũ lụt đang diễn ra nên chưa thấy có những thống kê về thiệt hại mà người ta tin rằng rất lớn, khó tránh khỏi thiếu đói ở nhiều nơi cần được cứu trợ khẩn cấp.
Hồi Tháng Mười, hồ thủy điện nhỏ Hố Hô ở Hà Tĩnh xả lũ làm ngập lụt một vùng rộng lớn của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Sự thiệt hại ước lượng khoảng 1,000 tỷ đồng trong khi mỗi năm, công ty thủy điện Hố Hôi chỉ nộp được cho ngân sách hơn một tỷ đồng và chỉ cấp điện được cho dân số một huyện ở địa phương. (TN)

Monday, November 28, 2016

Kẻ nào cho chìm xuồng vụ thủy điện Hố Hô?

Kẻ nào cho chìm xuồng vụ thủy điện Hố Hô?
Thủy điện Hố Hô xả lũ đột ngột giết hơn 20 người dân Hương Khê - Hà Tĩnh. Ảnh Infonet
Đã một tháng trôi qua kể từ này 29/10/2016, vụ Thủy điện Hố Hô xả lũ đột ngột giết sống hơn hai chục người dân Hương Khê ở tỉnh Hà Tĩnh có thể bị xem như chìm xuồng, bất chấp tiếng kêu ai oán và nỗi hận ngút ngàn của các nạn nhân.
Ông Nguyễn Xuân Phúc – thủ tướng chính phủ – đã làm phần hành rất “công bộc” của ông là nghe Bộ Công Thương – cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý các công trình thủy điện – báo cáo về vụ Thủy điện Hố Hô, và sau đó ông Phúc… gật.
Vậy Bộ Công thương đã báo cáo gì?
Trong cuộc họp báo chính phủ vào cuối tháng 10/2016, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng nói gọn lỏn: “Công ty Thủy điện Hố Hô đã có những sai sót nhất định trong việc chấp hành về Luật Tài nguyên nước, cũng như quy trình vận hành hồ chứa…”.
Trong suốt chiều dài của bản báo cáo cực kỳ nhẫn tâm trên, cái mà không thể khiến những oan hồn nhắm mắt là đã không một dòng đề cập đến hơn hai chục mạng người Hương Khê bị lũ Hố Hô cuốn trôi và dìm chết.
Công ty cổ phần Thủy điện Hố Hô chỉ bị phạt hành chính với một số tiền còm cõi.
“Rút kinh nghiệm sâu sắc” từ vụ Thủy điện Hố Hô không bị hề hấn gì sau khi xả lũ giết người, trong cơn bão sau đó lại hiện ra những vụ công trình thủy điện khác cũng xả lũ đột ngột làm trôi nhà cửa của dân, để một lần nữa những cái chết lại hiện hình.
Thói bao che từ trên xuống dưới trong thể chế chính trị ở Việt Nam đã trút mọi tang thương lên đầu dân nghèo. Hẳn Công ty cổ phần thủy điện Hố Hô đã quá đủ thời gian để rút ra bài học, là cả EVN lẫn Vũ Huy Hoàng đều được những bàn tay bí mật đen đúa nào đó từ cấp cao che chắn đến mức tối đa. Họ không phải chịu bất cứ hình thức xử trị nào, tạo thành một tiền lệ đắt giá để những kẻ đi sau vẫn ung dung xả lũ lên đầu nhân dân.
3 năm trước, với vụ 15 nhà máy thủy điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đồng loạt xả lũ giết sống hơn năm chục mạng dân nghèo ở rốn lũ miền Trung, lịch sử đã đổ ập lên mảnh đất chỉ còn xơ và xác này vào mùa bão lũ cuối năm 2016.
Còn trách nhiệm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thì sao? Không một dòng tin tức nào trên báo chí cho thấy ông Phúc ngó nghiêng đến những oan hồn miền Trung chưa hề nhắm mắt. Thậm chí ngược lại, ngay sau cuộc họp với Thủ tướng Phúc, đến ngày 1/11/2016 giới lãnh đạo Bộ Công Thương đã đầy tự tin trưng ra công luận bản báo cáo về vài sai sót” của Thủy điện Hố Hô mà không có một từ nào về bất kỳ trách nhiệm nào trước vụ “thảm sát Hương Khê”. Cho tới nay Thủ tướng Phúc vẫn hoàn toàn im lặng!
Vào những ngày qua, một vài người dân đã tìm đến các luật sư để tìm cách khởi kiện Công ty cổ phần Thủy điện Hố Hô.  Không còn thể trông mong vào cái gọi là “chức trách” của chính phủ và Bộ Công Thương, người dân chỉ còn biết thưa ra tòa, dù rằng tòa án cũng là một tổ chức luôn phải chịu ý chỉ của đảng. Nếu người dân không đồng lòng và khởi kiện mạnh mẽ, tòa án có thể sẽ từ chối hồ sơ kiện Thủy điện Hố Hô. Như họ đã Tòa án Thị xã Kỳ Anh đã từng thẳng thừng từ chối hơn 600 hồ sơ của dân kiện Formosa.
Lê Dung / SBTN

Monday, September 26, 2016

Thảm họa lơ lửng trên đầu hàng triệu dân Quảng Nam

Một van của hầm dẫn dòng cho thủy điện Sông Bung 2 bị bục. (Hình: Vietnamnet)
QUẢNG NAM (NV) – Đó là nhận định chung của nhiều chuyên gia, viên chức và dân chúng tại tỉnh này về các công trình thủy điện nằm ở thượng nguồn Vu Gia – Thu Bồn.
Cách nay 15 năm, bất chấp cảnh báo của các chuyên gia về kinh tế, môi trường, chính quyền Việt Nam vẫn phóng tay phê duyệt cả ngàn dự án thủy điện trên khắp Việt Nam. Những dự án này đã tạo ra một thảm họa mới cả về kinh tế, môi trường lẫn dân sinh cho khu vực Tây Nguyên và miền Trung.
Riêng tại khu vực Tây Nguyên, ngoài chuyện nhiều dự án thủy điện được xây dựng rất cẩu thả nên đã xảy ra hàng loạt tai nạn nghiêm trọng khiến người chết, nhà cửa, ruộng vườn bị hư hại, các dự án thủy điện còn làm Tây Nguyên mất 80,000 héc ta đất, gây xáo trộn sinh hoạt, sinh kế của 26,000 gia đình, phần lớn là người thiểu số.
Năm 2014, chính quyền Việt Nam chính thức thú nhận, những dự án thủy điện tại Tây Nguyên là nguyên nhân chính tăng thêm đói nghèo, đẩy người thiểu số tới tột đỉnh của sự bần cùng. Chưa kể, chuyện xả lũ vô tội vạ của các công trình thủy điện sau những trận bão lớn còn làm chết thêm hàng trăm người, phá hủy nhiều khu dân cư, ruộng vườn, khiến hậu quả thiên tai thêm trầm trọng.
Tiếng là để tăng thêm nguồn điện nhưng từ khi có các dự án thủy điện, vào mùa khô, cả điện lẫn nước ở khu vực Tây Nguyên và miền Trung cùng thiếu. Hạn hán đang theo xu hướng năm sau nghiêm trọng hơn năm trước.
Ở miền Trung, chỉ Quảng Nam đã có đến 62 dự án thủy điện được phê duyệt. Các dự án thủy điện làm hàng triệu dân của tỉnh Quảng Nam lúc nào cũng nơm nớp vì không biết chúng sẽ giáng họa xuống đầu mình lúc nào.
Năm 2009, do lượng nước từ thượng nguồn tràn về vừa nhanh, vừa lớn, nhà máy thủy điện A Vương đột ngột xả lũ. Lượng nước khổng lồ từ trên cao tràn xuống biến làng Thác Cạn ở xã Đại Sơn, huyện Đại Lộc thành bình địa.
Năm 2012, song song với sự kiện đập chắn nước của nhà máy thủy điện sông Tranh 2 bị nứt, các huyện Nam Trà My và Bắc Trà My bắt đầu liên tục có động đất, mỗi năm hàng chục lần. Theo thời gian, cả tần suất lẫn cường độ của các trận động đất càng ngày càng lớn.
Hồi trung tuần tháng này, một trong các van của hầm dẫn dòng cho nhà máy thủy điện sông Bung 2 bị bục, nước trào ra khiến hai công nhân chết mất xác. Một ngôi làng có tên là Pa Oi, tọa lạc tại xã La e, huyện Nam Giang bị xóa sổ.
Thủy điện sông Bung 2 là một trong sáu nhà máy thủy điện với các qui mô khác nhau nằm dọc sông Bung theo kiểu bậc thang, may mắn là chỉ có 28 triệu khối nước tràn xuống vào lúc hồ chứa nước của năm nhà máy thủy điện bên dưới đang cần tích nước nên không xảy ra tình trạng vỡ dây chuyền.
Theo ông Huỳnh Khánh Toàn, Phó Chủ tịch tỉnh Quảng Nam thì theo quy hoạch, khu vực thượng nguồn Vu Gia – Thu Bồn, hiện đã có ba dự án thủy điện hoàn tất: Sông Tranh 2 (hồ chứa 740 triệu m3 nước), A Vương (hồ chứa 343 triệu khối nước), ĐăMil 4 (hồ chứa 310 triệu khối nước), sắp tới khi Sông Bung 2 và Sông Bung 4 hoàn thành sẽ có thêm hai hồ nữa chứa khoảng 500 triệu khối nước.
Đó cũng là lý do các chuyên gia ví von, đang có hàng chục quả bom nước, dung tích hàng trăm triệu khối lơ lửng trên đầu dân chúng Quảng Nam. Với lối quản lý – điều hành các công trình thủy điện như hiện nay và với diễn biến thời tiết hết sức khó lường như vừa qua, chẳng biết những quả bom nước này sẽ gieo họa lúc nào.
Trò chuyện với báo điện tử Vietnamnet, ông Phạm Hồng Giang, Chủ tịch Hội đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam, thừa nhận, chưa thấy nơi nào trên thế giới có nhiều “sự cố” về thủy điện vừa và nhỏ như Việt Nam. Ông Giang nói thêm, tự thân thủy điện không có lỗi, lỗi là ở con người.
Từ 2014, nhiều đại biểu Quốc hội Việt Nam đã từng chỉ trích kịch liệt việc phát triển thủy điện theo phong trào, khiến Việt Nam mất thêm hàng chục ngàn héc ta rừng và khiến dân chúng sống ở khu vực hạ lưu của các công trình thủy điện thường xuyên lo âu vì những rủi ro không thể dự báo. Những đại biểu Quốc hội này cho rằng, phải truy cứu trách nhiệm cá nhân trong chuyện cho phép thực hiện tràn lan các công trình thủy điện. Tuy nhiên chẳng có cơ quan nào đáp ứng các đòi hỏi này. Lúc đó đã vậy và bây giờ cũng vậy. (G.Đ.)

Monday, June 27, 2016

Gia Lai: Xây thủy điện trong khu bảo tồn: “Vì lợi ích quốc gia”?

Dân trí “Cho đến nay, thủy điện đã vắt kiệt các dòng sông. Thủy điện xây dựng làm chia cắt, manh mún hệ thống sinh thái, thủy văn. Vì vậy khi làm thủy điện, các bộ ngành, địa phương cần quan tâm và hết sức thận trọng, không thể làm với mọi giá”, PGS.TS Bảo Huy cảnh báo.

Khu bảo tồn lý tưởng
Có thể nói rằng, Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng (Kbang, Gia Lai) là khu bảo tồn vô cùng quý giá của nước ta hiện nay. Bởi hiếm có khu bảo tồn hay khu rừng nào lại có mật độ che phủ rừng lên đến 98,5%, sở hữu nhiều loại gỗ quý, nhiều loài động thực vật phong phú và đa dạng như ở đây.
Nói về Khu bảo tồn mà mình đang bảo vệ, ông Trịnh Viết Ty - Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng - tự hào: “Chúng tôi giờ không dám tăng độ che phủ của rừng lên nữa, bởi nó sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của một số loài cần có ánh sáng”.
Phong cảnh của Khu bảo tồn cũng rất đẹp khi sở hữu nhiều hệ thống thác đẹp, hoang sơ.
Chỉ có 1 dòng suối Say này, nhưng nó liên tục bị nhăm nhe làm thủy điện (Ảnh: Doãn Vinh)
Chỉ có 1 dòng suối Say này, nhưng nó liên tục bị "nhăm nhe" làm thủy điện (Ảnh: Doãn Vinh)
Câu hỏi đặt ra là tại sao các doanh nghiệp luôn muốn xây dựng dự án thủy điện trong khu bảo tồn này? Ông Ty phân tích, rừng ở khu bảo tồn cơ bản là rừng giàu, khả năng giữ nước rất tốt, có nước quanh năm, độ chênh nước giữa 2 mùa mưa và khô tương đối ít vì nơi đây có đến 9 tháng mùa mưa. Đặc biệt, độ dốc của suối Say trong khu bảo tồn tương đối cao, đặc biệt là đoạn cuối giáp danh với tỉnh Bình Định.
Chính vì vậy, Khu bảo tồn thiên nhiên này vô tình trở thành địa điểm lý tưởng để các doanh nghiệp nhắm vào làm nhà máy thủy điện. Một dòng suối dài chỉ vài chục km nhưng có đến 4 doanh nghiệp “nhăm nhe” xin lập dự án xây dựng thủy điện. Trong đó có Công ty cổ phần thủy điện Vĩnh Sơn- Sông Hinh đã đeo đuổi dự án này cả chục năm nay.
"Vì lợi ích quốc gia"?
Tỉnh Gia Lai đã có đơn trình lên Thủ tướng Chính phủ và một số Bộ ngành để phản đối các dự án thủy điện trong khu bảo tồn Kon Chư Răng.
Theo nội dung đơn của UBND tỉnh Gia Lai, dự án thủy điện không chỉ ảnh hưởng nặng nề đến hệ sinh thái của khu bảo tồn mà còn làm cạn kiệt khoảng 10km dòng suối Say. Trong văn bản của UBND tỉnh Gia Lai đã chỉ rõ hệ lụy của thủy điện “sai lầm thế kỷ” An Khê- Ka Nak, khi cả dòng sông Ba rộng lớn đã bị “chết”. Thủy điện An Khê- Ka Nak đã làm cho 7 huyện, thị tại Gia Lai với 45.000 người dân bị ảnh hưởng, nhiều ha hoa màu bị thiệt hại, môi trường sinh thái ở khu vực dòng sông cũng đang có diễn biến xấu. Đó là chưa tính đến hàng vạn người dân đang sinh sống ở tỉnh Phú Yên, nơi dòng sông Ba chảy qua cũng bị ảnh hưởng.
Trao đổi với PV Dân trí, ông Trịnh Viết Ty cho rằng, tất cả những dự án xây dựng thủy điện trong Khu bảo tồn Kon Chư Răng đều ảnh hưởng đến khu bảo tồn. Thủy điện sẽ làm mất một phần diện tích cây rừng, diện tích đất rừng cũng mất vĩnh viễn, ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng…
Tỉnh Gia Lai cho rằng khoảng 10km dòng suối Say sẽ cạn kiệt nếu xây dựng dự án thủy điện tại đây.  (Ảnh: Doãn Vinh)
Tỉnh Gia Lai cho rằng khoảng 10km dòng suối Say sẽ cạn kiệt nếu xây dựng dự án thủy điện tại đây. (Ảnh: Doãn Vinh)
Giải thích cho quyết tâm "10 năm đeo bám" dự án thủy điện tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, ông Huỳnh An- Phó Ban quản lý dự án thủy điện Vĩnh Sơn 2, Công ty cổ phần thủy điện Vĩnh Sơn- Sông Hinh- cho rằng, việc làm của công ty chỉ là “vì lợi ích quốc gia” (?!)
Đánh giá về việc xây dựng thủy điện hiện nay, PGS.TS. Bảo Huy, công tác tại Khoa Nông lâm nghiệp, Trường Đại học Tây Nguyên nhận định, thực tế cho thấy ở Việt Nam những năm qua, việc xây dựng thủy điện chủ yếu chạy theo lợi nhuận, nhiều khi bất chấp các tác động của nó. Một thủy điện xây dựng không hợp lý sẽ gây ra việc mất cân bằng thủy văn, gây hạn hán mùa khô, lũ lụt mùa mưa; mất cân bằng sinh học các loài, chuỗi thức ăn của hệ sinh thái tự nhiên gồm sông suối, rừng. Theo PGS.TS. Bảo Huy, điều này còn có thể làm biến mất một số loài đặc hữu và dần dẫn đến suy kiệt rừng, sinh cảnh tự nhiên; làm mất sinh kế của những cư dân sống dựa vào hệ thủy văn...
“Cho đến nay, thủy điện đã vắt kiệt các dòng sông. Thủy điện xây dựng làm chia cắt, manh mún hệ thống sinh thái, thủy văn. Vì vậy khi làm thủy điện, các bộ ngành, địa phương cần quan tâm và hết sức thận trọng, không thể làm với mọi giá”, PGS.TS Bảo Huy cảnh báo.
27/06/2016 - 07:26
Thiên Thư- Trần Linh


Wednesday, April 13, 2016

Thủy điện được cấp phép xây dựng tràn lan ở cao nguyên

Đập thủy điện sẽ được xây dựng tại khu bảo tồn Kon Chư Răng. Ảnh: Tuổi Trẻ
Trong khi người dân Cao nguyên Trung phần đang phải khốn khổ vì hạn hán mà phần nhiều là do các đập thủy điện không chịu xả nước, thì mới đây, tỉnh Đắk Lắk lại cấp phép cho doanh nghiệp xây dựng đập thủy điện. Điều đáng lên án là dự án này nằm ngay trong vườn Quốc gia Yok Đôn, và để xây dựng thủy điện, doanh nghiệp sẽ chặt bỏ 53 hecta rừng khộp tại nơi này.

Lý giải cho việc cấp phép cho doanh nghiệp xây đập thủy điện, phía chủ đầu tư là Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Xây Dựng Và Ứng Dụng Công Nghệ Mới, khu rừng đặc dụng nằm trong khu vực xây dựng thủy điện là rừng nghèo, việc xây đập không hề ảnh hưởng nhiều đến hệ sinh thái ở đây. Người cấp phép cho doanh nghiệp này là ông Lữ Ngọc Cư, nguyên Chủ tịch tỉnh.
Trong khi đó, một doanh nghiệp ở Gia Lai vừa xincho xây thêm 2 đập thủy điện tại địa phương này. Chính quyền tỉnh đã bàn giao cho đơn vị chủ trì đi khảo sát. Điều đáng nói là 2 đập thủy điện này lại được cho xây dựng trong khu bảo tồn Kon Chư Răng.
Không phải tự dưng hàng loạt doanh nghiệp lại muốn xây dựng đập thủy điện tại những khu rừng già, khu bảo tồn. Vì tại nơi đó còn có rất nhiều loại gỗ quý, thân to. Ngoài việc xây đập thủy điện, doanh nghiệp còn khai thác gỗ để bán. Rừng trên Cao nguyên Trung phần kiệt quệ cũng vì những doanh nghiệp này.
Đợt hán hán kỷ lục 2016 đã làm cho đời sống hàng triệu người dân ở Cao nguyên khốn đốn. Một phần là do thiên tai, nhưng phần đa là do nhân tai. Mặc do người dân thiếu nước tưới tiêu cho ruộng đồng, vườn rẫy, các đập thủy điện vẫn khước từ xả nước để cứu nông nghiệp.
Theo các nhà khoa học, cao nguyên không hề thiếu nước. Chỉ khoảng 14% lượng nước hàng năm được sử dụng để phục vụ cho nông nghiệp và đời sống người dân. Số còn lại đã bị các đập thủy điện giữ lại. Chính việc đó đã làm cho người dân cao nguyên hứng chịu đợt hạn hán khốc liệt nhất từ trước đến nay.
Hạn hán ở cao nguyên chắc chắn sẽ chưa dừng ở đây, vì theo những con số từ phía chính quyền cho biết, hàng chục dự án xây đập thủy điện đã được phê duyệt. Các đập thủy điện này sẽ hình thành trong một vài năm tới đây.
Người dân Cao nguyên Trung Phần khốn đốn. Chỉ có một nhóm nhỏ các doanh nghiệp thủy điện hưởng lợi. Rất nhiều lãnh đạo địa phương lại còn hùn vốn, bắt tay với doanh nghiệp xây dựng thủy điện để kiếm chác.
04/12/2016 - 21:01
Ngọc Quân/SBTN