Showing posts with label LichSu-ChienTranh. Show all posts
Showing posts with label LichSu-ChienTranh. Show all posts

Friday, March 2, 2018

Các lực lượng lãnh thổ (diện địa)

VNCH- Ngọc Trương (Danlambao) trích dịch - Phần tiếp theo của bài diễn thuyết do Tiến sĩ Lewis Sorley trình bày tại Vietnam Center, Đại học Texas Tech, Lubbock, Texas.

Sau cuộc tấn công Tết 1968, thay đổi Tư lịnh lực lượng Mỹ, tướng Creighton Abrams thay tướng Westmoreland, chuyển mục tiêu với quan điểm khác nhiều về bản chất và cách hành xử cuộc chiến.

Tướng Abrams nhấn mạnh "một cuộc chiến" gồm hành quân, bình định và gia tăng khả năng của quân đội Việt Nam. Hai yếu tố sau đã từng bị bỏ quên, nay được coi quan trọng và cũng ưu tiên như các cuộc hành quân.

Các hoạt động quân sự cũng có thay đổi lớn. Thay vì "tìm và diệt" giờ đây "quét và giữ", khi địch quân bị đẩy ra khỏi khu vực đông dân, các lực lượng đồng minh ở lại, đóng quân thường xuyên tại đó, không bỏ đi, không để địch quân tái chiếm vào một ngày khác. Có lẽ là sự phát triển quan trọng nhất của toàn bộ cuộc chiến, là sự bành trướng to lớn của Lực lượng diện địa của Nam Việt Nam.

Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh gọi "mở rộng và nâng cấp lực lượng Địa phương quân và Nghĩa quân (ĐPQ/NQ) là đóng góp quan trọng và nổi bật nhất của Hoa Kỳ" trong cuộc chiến.

Trung tướng Ngô Quang Trưởng lưu ý rằng những thành tựu trong việc bình định xã, ấp, gia tăng dân số sống trong vùng chính phủ kiểm soát, hay lưu thông đều hòa trên các trục lộ giao thông là công trạng chưa bao giờ được ca ngợi của ĐPQ/NQ.


Khi Tướng Abrams đến Việt Nam vào tháng 5 năm 1967, quân đội Nam Việt Nam gồm có Lục quân, Hải quân, Thủy quân lục chiến và các đơn vị Không quân. Lực lượng diện địa tách biệt và xa rời gồm ĐPQ và Nghĩa quân. Hai lực lượng nầy đảm trách an ninh địa phương, ĐPQ dưới quyền Tỉnh trường, Nghĩa quân dưới quyền Quận trưởng.

ĐPQ/NQ vẫn ở tại địa phương, đóng vai trò "giữ đất" trong chiến dịch "quét và giữ". Đến năm 1970, quân số ĐPQ/NQ tăng lên khoảng 550.000, và được sáp nhập vào quân đội chính-quy, chiếm hơn phân nửa sức mạnh toàn quận. 

Thật ngẫu nhiên, vừa qua Bing West và một khách mời tham gia "Giờ tin tức với Jim Lehrer" của truyền hình PBS để nói về hiện hình ở Irac. 

Một trong số họ đã trích dẫn "khái niệm" quét sạch và giữ "của Condeleeza Rice." 

Nếu ai quan tâm đến nguồn gốc của khái niệm đó, sẽ đi thẳng một đường từ ĐPQ/NQ ở Nam Việt Nam tới tướng Creighton Abrams tới tướng Harold K. Johnson và Nghiên cứu của PROVN, tới Đại tá Jasper Wilson.

William Colby, sớm được bổ nhiệm từ tháng 10 năm 1968, làm phó cho tướng Abrams đặc trách yểm trợ bình định, giải thích tầm quan trọng của các yếu tố: 

"Về an ninh lãnh thổ, trọng tâm chính là cải tiến ĐPQ/NQ, chiếm gần phân nửa quân đội bây giờ"

"Chúng tôi bắt đầu từ tháng 10 năm trước. Trong cuộc hội thảo tướng Abrams, xác định ba mươi bước cần thực hiện, bao gồm việc phái các nhóm cố vấn làm việc cạnh các đại đội ĐPQ và các trung đội Nghĩa quân. Chúng ta có khoảng 250 nhóm năm người rải rác khắp các vùng lãnh thổ. "

Ba tháng sau, Colby chú ý thấy việc huấn luyện gia tăng nhanh và ĐPQ/NQ được cung cấp võ khí tân tiến. 

“So với một năm trước đây, có thêm khoảng 91.000 quân" . 

Khoảng 100.000 quân có M16. Ba trăm năm mươi nhóm cố vấn sống và làm việc cạnh ĐPQ/NQ.

Huy hiệu Địa phương quân (trên nón beret xanh dương)

Ngày sau khi nắm quyền chỉ huy, tướng Abrams đã đưa khẩu súng trường mới thẳng tới các đơn vị này. Tháng 8 năm 1969, ông nói ĐPQ/NQ, được ưu tiên trước nhất. "Họ nhận súng M16 đầu tiên, trước cả QLVNCH. Họ được ưu tiên hàng đầu trong hơn một năm". 

“Tôi xin nói thẳng, giống như mọi thứ khác, bạn bỏ tiền vào quỹ tiết kiệm quân đội, bạn sẽ nhận 10% [tiền lãi] và cứ như thế. 

Chúng tôi đầu tư vào ĐPQ/NQ, ưu tiên phải là ở đây, trên cả các đơn vị khác trong nước!”

Khi ĐPQ/NQ được nâng cao về khả năng và hiệu năng- Abrams muốn thấy họ đạt uy tín cho công việc đang hoàn thành.

Ông nói tại WIEU: "Tôi lấy làm bực bội, khi tóm lược tình hình cho quan khách biết, vai trò ĐPQ/NQ bị nhận chìm.

Có khuynh hướng nói về QLVNCH, và trong một lúc nào đó ĐPQ/NQ chịu những tổn thất nặng nề so với thiệt hại của địch quân, và cho đó là nghiêm trọng. Nhưng nếu đề cập đến an ninh của dân chúng, phần to tát của mọi việc, đây mới thực sự là điều quan trọng.

Cùng khoảng thời gian đó, Abrams cũng ca ngợi thành quả tốt của các đơn vị này:

"Tôi không biết liệu tôi thực sự muốn thêm súng cho các đại đội của QLVNCH không. Nếu có nhân lực, tôi nghĩ rằng đầu tư vào ĐPQ/NQ sẽ có giá trị hay hơn."


Vào cuối năm 1969, tướng Abrams nhìn một biểu đồ cho thấy "chiều hướng việc xảy ra trong ba hay bốn tháng qua - xem đơn vị nào đóng góp về: tịch thu võ khí – KIA (killed in action), nói rằng: 

"Kết quả rất tốt về số địch quân bị giết, võ khi bị tịch thu, hầm võ khí bí mật bị tiêu hủy, phần của QLVNCH chính quy không thay đổi, ở mức: 26 phần trăm, 27 phần trăm. 

Tỷ lệ của Lực lượng Hoa Kỳ và Thế giới tự do giảm xuống vì bị ĐPQ/NQ đoạt phần kể từ tháng 8".

Có người nói: "Đó là bản chất của chiến tranh."

Abrams: "Vâng, đúng vậy. Tôi luôn luôn tự hỏi chúng ta sẽ đạt được cái thứ quỷ quái gì khi đổ vào 300.000 khẩu súng M16? 

Đúng, kết quả bắt đầu hiện ra rồi. "

ĐPQ/NQ giữ chặt lấy những thứ võ khí đó. Như Bill Colby đã chỉ ra vào tháng 7 năm 1970, hệ số tịch thu/thất thoát võ khí của ĐPQ/NQ là khoảng ba võ khí của đối phương bị tịch thu đổi lấy một võ khí bị mất; cách đây năm năm, hệ số đó ngược lại với hiện nay.

Bình luận của Abrams: 

"Lực lượng ĐPQ/NQ?" 

"Ah, những con thỏ này đang tiến rất tốt".

Và cuối cùng, trong một buổi thuyết trình trước các chỉ huy trưởng vào tháng 10 năm 1971, ông nói thêm: 

"Từ lâu lắm rồi, một trong những điều ĐPQ/NQ đã làm là gánh lấy trọng trách của cuộc chiến".

Các sĩ quan cao cấp của Việt Nam cũng đồng ý, Trung tướng Ngô Quang Trưởng cho biết: 

"Dần dần, hình dáng, tác phong, thành công trong tác chiến của ĐPQ/NQ đã đào thải gốc gác bán quân sự, để trọn vẹn trở thành người lính đúng nghĩa.

Tướng Trưởng kết luận: "Trong suốt thời kỳ chính của cuộc xung đột ở Việt Nam, ĐPQ/NQ xứng đáng được coi là trụ cột của guồng máy chiến tranh."

Mở rộng quân số, trang bị tốt hơn, được huấn luyện đầy đủ hơn, lực lượng ĐPQ/NQ tự mình đứng độc lập, đạt sự kính trọng của nhà phê bình khó tánh, thậm chí Trung Tướng Julian Ewell phải ngưỡng mộ:

"Họ là lực lượng sắc bén trong chiến tranh,"

Phần đã đăng:


2018.02.27


____________________________________

Chú thích của người dịch:

- Nguyễn Duy Hinh: Thiếu tướng, Tư lịnh Sư đoàn 3 Bộ binh VNCH, đóng tại Đà Nẵng.

- Ngô Quang Trưởng: Trung tướng, Tư lịnh Quân đoàn I - Huế/ Đà Nẵng.

- Bing West: cựu Phụ tá Bộ Trưởng Quốc Phòng, sĩ quan TQLC Mỹ khi tham chiến ở Việt Nam.

- WIEU: Bảng lượng định tình hình tình báo hàng tuần của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam

- William Colby: Trưởng trạm tình báo CIA tại Việt Nam 1968.

- Condeleeza Rice: Ngoại trưởng Hoa Kỳ hai nhiệm kỳ thời Tổng thống George W. Bush.

- Julian Ewell: Thiếu tướng, Tư lịnh Sư đoàn 9 Bộ binh Hoa kỳ tại Việt Nam. Sau lên Trung tướng làm Tư lịnh Lực lượng dã chiến II của Hoa kỳ quanh vùng Sài gòn, phối hợp với Quân đoàn III VNCH hành quân sang Cambodia.

Tham khảo:


Monday, March 30, 2015

Đà Nẵng: Những biến cố lịch sử

(Trình bày tại San Jose ngày 29-3-2015)

Địa danh Đà Nẵng 

Địa danh Đà Nẵng gốc từ tiếng Chiêm (Chàm, Chăm), có thể có trước khi người Việt đến Đà Nẵng. Năm 1306, vua Chiêm Thành là Chế Mân tặng vua Đại Việt hai châu Ô và Ri (hay Lý) trong phần sính lễ đám cưới với công chúa Huyền Trân. Hai châu nầy ngày nay tương đương với vùng đất từ Quảng Trị vào đến quận Điện Bàn, trong đó có Đà Nẵng.

Trong sách Ô châu cận lục, Dương Văn An viết năm 1555 rằng tại Đà Nẵng, có đền thờ Nguyễn Phục, một công thần bị chết oan khi vua Lê Thánh Tông nam chinh đánh Chiêm Thành năm 1471. (Dương Văn An, Ô Châu cận lục, Bùi Lương dịch, Sài Gòn: Nxb. Văn Hóa Á Châu, 1961, tr. 73.) Đà Nẵng có đền thờ Nguyễn Phục năm 1471 thì địa danh Đà Nẵng phải có trước đó. 

Trong tiếng Chiêm, có ba chữ liên hệ đến địa danh Đà Nẵng. Đó là đarăk (bờ biển, bãi biển), đanăk (sông lớn), đanăng (bến sông, bến tàu). (Nguyễn Hy Vọng, Từ điển ngồn gốc tiếng Việt, California: Nxb. Đất Việt, 2014, tr. 362.) 

Đà Nẵng, chiến công đầu tiên 

Đà Nẵng đi vào lịch sử lần đầu tiên trong trận chống đánh liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng đầu tiên ngày 1-9-1858 do phó đô đốc Rigault de Genouilly chỉ huy. “Tai nghe súng nổ cái đùng,/ Tàu Tây đã lại Vũng Thùng anh ơi.”(ca dao) Quân Pháp chiếm các đồn ven biển, nhưng bị quân Việt do Nguyễn Tri Phương chỉ huy, chận đứng. Genouilly để lại lực lượng giữ các đồn đã chiếm ở Đà Nẵng, rồi kéo quân vào đánh Gia Định. (Vũng Thùng là Đà Nẵng.)

Tuy chiếm được thành Gia Định, nhưng Genouilly lại phải trở ra Đà Nẵng vì quân Pháp ở Đà Nẵng bị quân Việt uy hiếp và đẩy lui. Ngày 7 và 8-5-1859, Genouilly tấn công lần nữa nhưng Đà Nẵng vẫn đứng vững. Lúc đó, Genouilly bị bệnh phải về Pháp, phó để đốc Joseph Page lên thay từ 1-11-1859. 

Ngày 18-11-1859, Page tấn công đồn Chơn Sảng, phía nam chân đèo Hải Vân. Tuy Pháp chiếm được Chơn Sảng, nhưng một trung tá Pháp bị tử thương, và quân Pháp bị chận đường ra Huế. Sau trận nầy, Page được lệnh rút hết quân Pháp vào Sài Gòn. Về phía Việt Nam, dầu bị thiệt hại khá nặng, Đà Nẵng vẫn đứng vững, chận đứng được đợt tấn công đầu tiên của quân Pháp. 

Đà Nẵng, nhiều lần đổi chủ

* Pháp bảo hộ Việt Nam năm 1884. Bốn năm sau, Pháp áp lực vua Đồng Khánh ký sắc dụ ngày 26 tháng 8 năm mậu tý (1-10-1888), nhượng ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng cho Pháp làm nhượng địa. Pháp trực tiếp cai trị Đà Nẵng theo luật lệ Pháp. Khi mới đến nước ta, các giáo sĩ Âu Châu gọi Đà Nẵng là Touron, Turon, Touraon. Từ nay người Pháp gọi Đà Nẵng là Tourane.

* Năm 1945, Nhật đảo chánh Pháp. Vua Bảo Đại tuyên bố độc lập ngày 11-3. Đà Nẵng trở về với chính quyền Việt và vị thị trưởng đầu tiên được chính phủ Trần Trọng Kim bổ nhiệm là Nguyễn Khoa Phong. 

* Cũng trong năm 1945, Việt Minh cộng sản cướp chính quyền, vua Bảo Đại thoái vị. Việt Minh đổi Đà Nẵng thành Thành phố Thái Phiên. Tuy nhiên văn hóa Việt Nam không có thói quen dùng tên danh nhân đặt tên thành phố, nên dân chúng vẫn dùng tên Đà Nẵng.

* Tháng 11-1946, Pháp đổ bộ vào Đà Nẵng, rồi từ đó mở đường ra Huế. Đà Nẵng trở lại chế độ do Pháp trực trị cho đến năm 1949. 

* Quốc trưởng Bảo Đại thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam sau hiệp địnhÉlysée ngày 8-3-1949. Đà Nẵng do chính quyền Việt Nam điều khiển. Sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954, Đà Nẵng nằm dưới vĩ tuyến 17, vẫn thuộc về chính thể Quốc Gia Việt Nam. Đà Nẵng không thay đổi, ngoại trừ dân số Đà Nẵng tăng vọt bất thường sau năm 1954 vì đồng bào di cư từ Bắc vào Nam, đến lập cư tại Đà Nẵng. 

Quân Mỹ vào Đà Nẵng

Từ năm 1954, Hoa Kỳ viện trợ và gởi chuyên viên đến giúp QGVN rồi VNCH, nhưng không gởi lực lượng chiến đấu trên bộ. Ngày 2-8-1964 xảy ra biến cố Vịnh Bắc Việt: khu trục hạm Maddox (Hoa Kỳ) tuần thám bờ biển BVN, trong hải phận quốc tế, đến phía đông bắc đảo Hòn Mê (Thanh Hóa), thì bị ba ngư lôi đĩnh BVN tấn công. Không quân Hoa Kỳ liền trả đũa, oanh tạc sâu vào lãnh thổ BVN. Ngày 7-8-1964, quốc hội Hoa Kỳ thông qua “Nghị quyết vịnh Bắc Việt”, giao cho tổng thống Hoa Kỳ dùng tất cả các biện pháp cần thiết để đánh trả, nghĩa là cho phép ông có thể đưa quân sang Việt Nam chiến đấu.

Do hoạt động của Không quân Hoa Kỳ càng ngày càng gia tăng, phi trường Đà Nẵng được dùng làm nơi xuất phát các phi cơ bay đi oanh tạc Bắc Việt Nam (BVN). Theo lệnh của chính phủ Hoa Kỳ, đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam là Maxwell Taylor vận động với thủ tướng Phan Huy Quát và hai bên Việt Mỹ thỏa thuận miệng để cho Hoa Kỳ đưa hai tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến (TQLC) Mỹ đến Đà Nẵng. 

Ngày 8-3-1965, tiểu đoàn 9 TQLC Mỹ đổ bộ đầu tiên vào bãi biển Nam Ô, phía tây Đà Nẵng. Từ đó quân số Hoa Kỳ tại Việt Nam càng ngày càng gia tăng. Cũng từ đó xã hội Việt Nam thay đổi lớn lao vì sự hiện diện của quân đội Mỹ.

Đà Nẵng, những cuộc biểu tình 

Tại Đà Nẵng, trong cuộc biểu tình ngày 25-8-1964 chống Hiến Chương Vũng Tàu của trung tướng Nguyễn Khánh, xảy ra xô xát giữa đoàn biểu tình gồm hàng ngàn Phật tử một bên, với tự vệ làng Thanh Bồ một bên. Làng Thanh Bồ gồm đa số tín đồ Ky Tô giáo di cư, gần bờ biển Thanh Bình. Kết quả làm 11 người chết, 42 người bị thương. (Chính Đạo, Tôn giáo và chính trị: Phật giáo 1963-1967, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 119.)

Một cuộc biểu tình sôi động khác tại Đà Nẵng kéo dài nhiều ngày khi trung tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh Quân đoàn I và Vùng I chiến thuật bị Hội đồng Quân lực cất chức ngày 11-3-1966. Hôm sau, 12-3, cuộc biểu tình bộc phát tại Đà Nẵng, rồi lan ra Huế ngày 13-3. Lúc đó, thị trưởng Đà Nẵng (bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn) và tư lệnh Đặc khu Quảng Đà (đại tá Đàm Quang Yêu) tuyên bố ly khai với chính phủ trung ương, làm cho tình hình thêm rối loạn. 

Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ gởi ra Đà Nẵng 3 tiểu đoàn TQLC do đại tá Nguyễn Thành Yên chỉ huy, 1 tiểu đoàn Nhảy Dù và 1 biệt đoàn Cảnh sát Dã chiến. (Biệt đoàn CSDC khoảng 1,000 người.) Quân chính phủ bị lực lượng ly khai chận ở phi trường. Lực lượng ly khai gồm tiểu đoàn 11 Biệt Động Quân, 1 trung đoàn của Sư đoàn 1 và 1 trung đoàn của Sư đoàn 2. Khu trục cơ của chính phủ xuất hiện trên không phận Đà Nẵng, đe dọa quân ly khai, thì tướng Lewis Walt, tư lệnh TQLC Hoa Kỳ tại Vùng I phản đối. (Nguồn tin từ cựu đại tá Trần Minh Công.)

Sau những cuộc thương thuyết tại Sài Gòn, cũng như tại Đà Nẵng, phía quân ly khai rút lui, thì ngày 15-5-1966, quân chính phủ chiếm Bộ tư lệnh Quân đoàn I. Khi lực lượng Nhảy dù, TQLC và CSDC xuất hiện ở Đà Nẵng, lực lượng ly khai yếu thế dần. Ngày 23-5-1966, nhóm ly khai tại chùa Tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng (trên đường Ông Ích Khiêm) hạ khí giới. Thị trưởng Mẫn bị bắt. Đại tá Yêu cũng bị bắt ngày 25-5-1966. Đà Nẵng trở lại ổn định dần dần. Sau khi một số tướng lãnh thay đổi nhau, thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Sư đoàn II BB, lên nhận chức tư lệnh QĐ I ngày 31-5-1966.

Đà Nẵng trong tết Mậu Thân

Tối giao thừa giữa hai năm Đinh Mùi và Mậu Thân, tức tối 29 rạng 30-1-1968, quân cộng sản (CS) pháo kích vào phi trường Non Nước và phi trường Đà Nẵng. Sau 3 giờ sáng mồng 1 Tết (30-1-1968), CS đột nhập bộ Tư lệnh QĐI ở Đà Nẵng (gần phi trường). Các đợt tấn công nầy bị đẩy lui tức khắc. Quân CS còn tìm cách tấn công bộ chỉ huy Đặc khu Quảng Đà ở góc hai đường Độc Lập và Thống Nhất. Cộng sản cũng không thành công. Cộng sản còn sách động dân chúng tập họp trước chùa Tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng trên đường Ông Ích Khiêm, liền bị giải tán ngay. 

Tuy ít bị thiệt hại, nhưng Đà Nẵng vẫn bị xáo trộn vì đồng bào từ Quảng Trị, Huế và Tam Kỳ, Hội An đến tỵ nạn đông đảo. Sau khi CS bị đẩy lui, có nhiều đồng bào muốn ở lại Đà Nẵng sinh sống. Vì vậy sau cuộc tấn công Mậu Thân của CS, dân số Đà Nẵng tăng vọt vì chiến tranh.

Trong cuộc chiến “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972, Đà Nẵng không bị tấn công. Chỉ có đồng bào các tỉnh lân cận chạy đến tỵ nạn. 

Đà Nẵng và trận Hoàng Sa (19-1-1974) 

Trận Hoàng Sa diễn ra ngày 19-1-1974. Ở đây chỉ xin nhắc lại rằng khi tình hình Hoàng Sa căng thẳng, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có mặt ở Đà Nẵng. Tư lệnh Vùng I Duyên hải (V1DH), phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại trực tiếp trình bày tình hình với tổng thống Thiệu tại Bộ tư lệnh V1DH ở Sơn Chà ngày 17-1-1974. Tổng thống Thiệu liền viết tay tại chỗ chỉ thị cách đối phó cho tư lệnh V1DH. Trận đánh không thành công, nhưng Hải quân VNCH đã ghi lại một trang sử chống ngoại xâm anh dũng vẻ vang.

Nhân đây, cũng xin thêm một tài liệu về Hoàng Sa: Năm 1949, Trung Cộng (TC) chiếm lục địa Trung Hoa. Trung Hoa Quốc Dân Đảng (THQDĐ) di tản qua Đài Loan. Sau đó, TC đánh đảo Hải Nam. Quân THQDĐ ở Hải Nam chạy xuống đảo Bạch Long Vỹ, gần Hải Phòng. Lúc đó, Bạch Long Vỹ thuộc QGVN. Sau hiệp định Genève (20-7-1954}, Bạch Long Vỹ ở phía bắc vĩ tuyến 17, thuộc CSVN. Năm 1955, TC lấy cớ dẹp quân THQDĐ, tấn công Bạch Long Vỹ. Cuộc thương thuyết giữa BVN và TC đi đến thỏa thuận rằng TC giao Bạch Long Vỹ cho BVN năm 1957, và ngược lại BVN giao Hoàng Sa cho TC.(1) Bạch Long Vỹ là hòn đảo Việt Nam. Thế mà CSVN không đủ sức bảo vệ để TC cướp giựt, rồi phải trao đổi bằng một đảo khác. Sau đó, Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14-9-1958 chính thức công khai xác nhận lại việc giao Hoàng Sa và Trường Sa cho TC. Từ đó, TC dần dần thôn tính Hoàng Sa và Trường Sa. Gần đây nhất, ngoại trưởng TC Vương Nghị tuyên bố trong cuộc họp báo ở Bắc Kinh ngày 8-3-2015 rằng TC xây thêm đảo ở Trường Sa không xâm phạm lãnh thổ của nước khác mà chỉ “xây dựng trong chính sân nhà của mình”. Cả thế giới phản đối, trừ CSVN. Bộ Ngoại giao CSVN còn hủy bỏ cuộc họp báo thường kỳ sau đó vì sợ bị chất vấn.

Đà Nẵng ngày 29-3-1975 

Sau hiệp định Paris (27-1-1973), trong khi Hoa Kỳ rút quân, cắt giảm viện trợ cho NVN, thì Liên Xô tăng viện trợ gấp 4 lần cho BVN. Quân CS mở nhiều cuộc tấn công mạnh mẽ, chiếm Phước Long (thuộc Quân khu III) vào đầu tháng 1-1975, rồi đánh Ban Mê Thuột, Pleiku tháng 3-1975 (thuộc Quân khu II). Quân đoàn II VNCH rút lui thất bại. 

Tại Quân khu I, ngày 23-3-1975, CS pháo kích vào Huế. Dân chúng hoang mang, kiếm cách di tản. Tối 25-3, trung tướng Ngô Quang Trưởng ra lệnh cho SĐ I BB, các lữ đoàn TQLC và các đơn vị chung quanh Huế rút về Đà Nẵng. Ngày hôm sau (26-3), CS làm chủ Huế. Đường bộ từ Huế vào Đà Nẵng bị cắt đứt.

Quân đội VNCH và dân chúng di tản từ Huế vào Đà Nẵng bằng đường biển. Cộng sản pháo kích các địa điểm tập trung quân, các cửa biển, nhất là Cửa Thuận (Huế) và cửa Tư Hiền (Cầu Hai). Hỗn loạn xảy ra. Cuộc triệt thoái chỉ đem về Đà Nẵng được 1/3 tổng số quân. 

Tại phía nam QK I, CS chiếm hai quận Tiên Phước và Hậu Đức tỉnh Quảng Tín cùng một lần vào ngày 10-3-1975. Trung tướng Trưởng ra lệnh di tản các quận Sơn Trà và Trà Bồng, cũng như các tiền đồn ở xa Quảng Ngãi. Ngày 24-3-1975, CS chiếm Tam Kỳ. Hôm sau (25-5), trước áp lực của CS, tướng Trưởng ra lệnh SĐ 2 BB và tiểu khu Quảng Ngãi di tản ra Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) ngoài Biển Đông. Từ Chu Lai, ngày 25-4, các đơn vị VNCH cũng được di tản và khoảng 7,000 binh sĩ về tới Đà Nẵng.

Ngày 27-3, các đơn vị quân đội VNCH ở bắc và nam QK I hầu như tập trung hết về Đà Nẵng. Chiều 28-3, tiểu khu Quảng Nam ở Hội An, gần Đà Nẵng thất thủ. Tối hôm đó (28-3), trung tướng Trưởng liên lạc với tổng thống Thiệu và được lệnh di tản. Sau cuộc điện đàm, trung tướng Trưởng liền ra lệnh triệt thoái khỏi Đà Nẵng. 

Tối 28-3-1975, chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm, tư lệnh SĐ 1 BB bị tử nạn máy bay. Sáng 29-3-1975, từ căn cứ Non Nước, trung tướng Trưởng lên được chiến hạm HQ 402, rồi chuyển qua HQ 404 để xuôi nam. Ngoài trung tướng Trưởng, các tướng lãnh cuối cùng rời Đà Nẵng sáng 29-3 là thiếu tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh SĐTQLC, phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tư lệnh Hải quân V1DH, chuẩn tướng Nguyễn Đức Khánh, tư lệnh Sư đoàn I Không quân, thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, tư lệnh SĐ 3 BB. 

Trong lúc đó, ngày 27-3, nhiều cánh quân CS bao vây Đà Nẵng, các chiến xa CS xuất hiện. Ngày 28-3, CS siết chặt vòng vây, pháo kích vào phi trường, bộ Tư lệnh SĐ 3 (ở Hòa Khánh, Quảng Nam, gần Đà Nẵng), hải cảng Tiên Sa (tức Sơn Trà), bộ Tư lệnh TQLC ở Non Nước, bộ Tư lệnh V1DH. Quân CS tràn vào thành phố Đà Nẵng sáng 29-3-1975. Quân khu I lọt vào tay CS. 

Đà Nẵng sau 30-4-1975 

Sau ngày 30-4-1975, CSVN sáp nhập Đà Nẵng và Quảng Nam thành tỉnh QN-ĐN. Đà Nẵng trở thành tỉnh lỵ của tỉnh nầy. Cũng như trên toàn quốc, CS bắt sĩ quan, công chức cao cấp đi tù cải tạo dài hạn không tuyên án, thi hành chính sách kinh tế chỉ huy, đổi tiền, ngăn sông cấm chợ, đánh tư sản, cướp các cơ sở kinh tế tư nhân bằng kế hoạch công tư hợp doanh, xua đuổi dân chúng đi kinh tế mới để cướp nhà…

Từ 1-1-1997, CSVN tách riêng Đà Nẵng và đặt trực thuộc trung ương. Vào đầu những năm 2000, Đà Nẵng phát triển mạnh mẻ. Đặc biệt hai viên tổng bí thư đảng CS kiêm chủ tịch nước TC là Giang Trạch Dân (ngày 28-2-2002) và Hồ Cẩm Đào (ngày 15-11-2006) đều đến thăm Đà Nẵng. Từ đó, hai câu hỏi cần được đặt ra: TC mưu tính gì đàng sau hai cuộc viếng thăm bất thường nầy? Phải chăng hai cuộc viếng thăm nầy liên hệ đến việc nhà nước trung ương CSVN hậu thuẫn cho sự phát triển Đà Nẵng? Nếu trung ương CSVN không đồng ý, thì chắc chắn Đà Nẵng không được phép phát triển.

Kết luận 

Sơ lược những sự kiện trên đây cho thấy Đà Nẵng giữ một vị trí chiến lược quan trọng tại miền Trung nói riêng và trên toàn quốc nói chung. Chẳng những Pháp, mà cả đến Tàu cũng dòm ngó Đà Nẵng.

Khi đất nước bị chia hai năm 1954, Đà Nẵng là tiền đồn canh chừng và ngăn chận CS Bắc Việt Nam. Năm 1968, CS chiếm Huế. Đà Nẵng đứng vững và tiếp ứng giải cứu Huế. Năm 1972, CS chiếm Quảng Trị, đe dọa Huế, Đà Nẵng trở thành hậu phương cho quân đội VNCH tiến ra đẩy lui quân CS. Năm 1975, khi Đà Nẵng bị lọt vào tay CS thì các tỉnh miềm Trung không còn đứng vững.

Tuy giới lãnh đạo VNCH chúng ta phải chịu trách nhiệm về sự thất bại, nhưng số phận đất nước chúng ta đã bị các cường quốc chi phối theo đường lối chính trị giai đoạn của họ trong chiến tranh lạnh toàn cầu. Tệ hại nhất là CSVN cam tâm làm tay sai cho ngoại bang, chỉ vì tham vọng độc tài toàn trị, nên mới gây ra chiến tranh trong 30 năm dài. Ngày nay CSVN còn âm mưu bán nước cho TC để duy trì địa vị.

Kể từ ngày 29-3-1975, những người có điều kiện và phương tiện rời Đà Nẵng, thoát khỏi chế độ CS. Người Đà Nẵng nói riêng và người Việt Nam nói chung, dầu đi ra nước ngoài, vẫn luôn luôn mang theo trái tim Việt Nam và quyết tâm tiếp tục tranh đấu nhằm quang phục quê hương. Lần nầy, không còn súng đạn, không còn cách nào khác hơn, thì người Việt chúng ta tranh đấu bằng chính trị bất bạo động.

Cuộc tranh đấu bất bạo động bảo vệ dân quyền và nhân quyền do Phan Châu Trinh khởi xướng từ đầu thế kỷ 20, nay ứng dụng trở lại trong trào lưu dân chủ hóa toàn cầu, không phải là không có kết quả. Có hai sự kiện chúng ta cần chú ý về kết quả tranh đấu bất bạo động:

Thứ nhứt, một trong những tác nhân mạnh mẽ khiến chính phủ Hoa Kỳ thay đổi chính sách, rút quân khỏi Việt Nam là phong trào phản chiến bất bạo động và truyền thông Hoa Kỳ. Quân đội Hoa Kỳ không thất bại trên chiến trường, nhưng đã thua từ trên đất Mỹ.

Thứ hai, xin mọi người thử nhớ lại xem. Khi ra đi năm 1975, mấy ai nghĩ rằng dưới chế độ CS độc tài sắt máu, Việt Nam lại thay đổi như ngày nay? Sự thay đổi nầy không phải tự nhiên mà có. Nếu người Việt hải ngoại không bám sát tình hình Việt Nam, nếu người Việt hải ngoại không vận động liên tục khắp năm châu, đánh động dư luận thế giới, áp lực về mọi mặt (chính trị, kinh tế, viện trợ…) và yểm trợ anh chị em trong nước đòi hỏi dân chủ, thì CSVN vốn bảo thủ, ngoan cố, tham quyền cố vị, đời nào CSVN chịu mở cửa dần dần từ năm 1985? 

Ngày nay, nếu chúng ta tận dụng sức mạnh của các phương tiện truyền thông tân tiến, kiên nhẫn vận động bất bạo động, như Phan Châu Trinh trước đây, đòi hỏi dân quyền, nhân quyền, vận động dân khí tức tinh thần dân chúng, ủng hộ các phong trào dân chủ quốc nội, vạch trần tội phản quốc của CSVN, chắc chắn sẽ đưa đến những thay đổi mới hoặc nhân dân Việt Nam trong nước sẽ vùng lên giải thể chế độ CS. 

Trong khi đó, ở trong nước, càng ngày CSVN càng phơi bày bản chất gian manh, tham nhũng, bán nước nên dân chúng không còn sợ hãi như trước đây. Dân khí tức tinh thần dân chúng đang trổi dậy, nhất là với sự hỗ trợ của người Việt hải ngoại và dư luận thế giới. Những vụ dân oan khiếu kiện, những bloggers đòi hỏi dân chủ, những cuộc biểu tình chống TC, tuy hiện nay chỉ là những đóm lửa nhỏ đơn lẻ, nhưng sẽ đến lúc có thể làm bùng lên thành cuộc cách mạng dân chủ, nếu tâm lý quần chúng được chuẩn bị đầy đủ hơn và sẵn sàng cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi. 

Xin mọi người, hãy ủng hộ cả tinh thần lẫn vật chất những cuộc tranh đấu bất bạo động hiện nay ở trong nước để giải thể chế độ CS, thoát khỏi cảnh lệ thuộc TC. Cuộc vận động chính trị bất bạo động là một tiến trình lâu dài. Xin hãy kiên nhẫn liên tục vận động, vì lịch sử cho thấy rằng chính nghĩa dân tộc, tự do, dân chủ chắc chắn sẽ tất thắng.

(San Jose, 29-3-2015)


Monday, February 23, 2015

Hoàng Đế Quang Trung và Chiến thắng Xuân Kỷ Dậu 1789



Phạm Đức Duy

“Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó ngựa xe tan tác
Đánh cho nó mảnh giáp không còn
Đánh cho nó biết rằng nước Nam anh hùng là có chủ” (1)

Đó là những lời trong chiếu dụ xuất quân của Hoàng Đế Quang Trung tại Phú Xuân (Huế) trước lúc xuất quân ra Bắc vào những ngày cuối năm Mậu Thân (1788) để đánh đuổi hơn mấy chục vạn quân Thanh xâm lược do Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị, Thái thú Điền Châu Sầm Nghi Đống, Đề đốc Quảng Tây Hứa Thế Hanh cùng thừa lệnh vua Càn Long đang chiếm đóng Thăng Long (Hà Nội) với danh nghĩa “phù Lê Chiêu Thống”.
Tục truyền ngay trong ngày lễ đăng quang tế trời đất, vua Quang Trung sai lập đàn, bày hương án, khói hương nghi ngút, mang đến một cái mâm phủ vải điều, trên để 200 đồng tiền, rồi truyền với tướng sĩ ba quân hãy cùng Ngài chứng kiến khi hất tung xuống đất nếu tất cả đồng tiền đều sấp thì đó là điềm Trời cho biết quân Đại Việt ta sẽ đại thắng, nếu chỉ cần một đồng ngửa thì đại sự có điều trắc trở. Sau đó, Đức Vua chắp tay cung kính khấn vái, rồi hất tung mâm tiền xuống sân… tất cả các đồng tiền đều nằm sấp. Tướng sĩ trên dưới mừng rỡ hò reo vang rền, đồng lòng tin tưởng vào chiến thắng quân xâm lược. Thực ra, “điềm trời” đó là “mưu kế” của vua Quang Trung đã bí mật sai đúc riêng những đồng tiền này đều có hai mặt sấp để động viên tinh thần, tạo niềm tin tất thắng cho ba quân.(2)
Cuối tháng 11 năm Mậu Thân (cuối tháng 12, 1788), Hoàng Đế Quang Trung xuất quân bắc tiến. Khoảng 4 ngày sau, đoàn quân Đại Việt đến Nghệ An và nghỉ ngơi khoảng 10 ngày để tuyển mộ thêm quân sĩ lên tới khoảng 10 vạn, Vua chia quân thành 5 đạo và đội tượng binh với 200 voi thiện chiến. Sau lễ duyệt binh phô trương thanh thế và để khích lệ ý chí quyết chiến của tướng sĩ, vua Quang Trung tiếp tục dẫn quân lên đường.
Khoảng 10 ngày sau, 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15.01.1789), đại quân của vua Quang Trung đã ra đến Tam Điệp, phía nam của Ninh Bình, gần vùng Hoa Lư, chỉ cách Thăng Long trên 100 km. Sau khi dò xét tình hình, Vua hẹn cùng ba quân ngày mồng 7 Tết sẽ quét sạch quân xâm lược và ăn Tết ở Thăng Long, rồi ra lệnh 5 đạo quân lên đường tấn công các đồn địch lân cận và thành Thăng Long. Một đạo do Đô đốc Nguyễn Tăng Long chỉ huy tập kích đồn Khương Thượng và phía tây Thăng Long. Đạo quân của Đô đốc Đặng Xuân Bảo tiến đánh các đồn phía nam thành Thăng Long. Trung quân do đích thân Hoàng Đế chỉ huy, phối hợp với Đô đốc Bảo đánh diệt các đồn phía nam Thăng Long. Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết và Đô đốc Nguyễn Văn Lộc lãnh hai đạo quân theo đường thủy hướng Bắc, chặn đường lui của quân Mãn Thanh ở phía bắc sông Hồng.(3)
Đêm trừ tịch, quân Đại Việt diệt đồn Gián Khẩu của quân Lê Chiêu Thống trên đường từ Vân Sàng -thuộc Ninh Bình bây giờ- về kinh thành. Vua Quang Trung sau đó lần lượt hạ đồn Nguyệt Quyết ở vùng Thanh Liêm Hà Nam, rồi đồn Nhật Tảo thuộc vùng Duy Tiên Hà Nam. Quân địch tại đồn Hạ Hồi, chỉ cách kinh thành Thăng Long 20 km về phía nam, bị vua Quang Trung vây chặt, ra lệnh quân lính reo hò vang trời. Quân Thanh lầm tưởng quân Đại Việt rất lớn nên mất nhuệ khí và xin đầu hàng. Vua Quang Trung chiếm được Hạ Hồi với toàn bộ lương thực, khí giới của quân Thanh vào ngày mùng 3 Tết Kỷ Dậu (28.01.1789).
Hôm sau, mùng 4 Tết (29.01), vua Quang Trung tiến đến trước trại quân lớn nhất của Mãn Thanh tại Ngọc Hồi do Hứa Thế Hanh, Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long chỉ huy, và được tăng cường lên đến trên 30 chục vạn quân tinh nhuệ, hỏa lực mạnh, ngoài lũy đất còn có hàng rào chông sắt, địa lôi. Ngọc Hồi là tiền đồn kiên cố, then chốt của giặc để phòng thủ bảo vệ kinh thành Thăng Long về phía nam.
Vua liền chia quân thành hai cánh: cánh chính do chính Ngài chỉ huy, tập trung ở cánh đồng Cung, cánh phối hợp do đô đốc Bảo chỉ huy ở Đại Áng, bố trí mai phục tại cánh đồng gần Đầm Mực (vùng Thanh Trì, Hà Nội).
Vua Quang Trung ban đầu chỉ hư trương thanh thế, dùng các đội quân nhỏ đánh khiêu khích bên ngoài đồn Ngọc Hồi uy hiếp tinh thần, gây căng thẳng và rối trí cho quân Thanh với chủ ý tạo bất ngờ cho cánh quân của đô đốc Long đánh đồn Khương Thượng. Tôn Sĩ Nghị và các tướng quân Thanh chú tâm vào diễn biến tại Ngọc Hồi mà không nhận ra nguy cơ từ cánh quân của đô đốc Long.
Trong khi đó, Đô đốc Long âm thầm đem quân tiến về phía Sơn Tây, nơi có đạo quân của Đề đốc Mãn Thanh Ô Đại Kinh, thì bất thần rẽ sang phía Nhân Chính và nửa đêm bất ngờ công kích đồn Khương Thượng của Thái thú Sầm Nghi Đống. Các đội tượng binh của Đại Việt dùng súng lớn trên lưng voi bắn vào đồn giặc. Quân Thanh bị tấn công bất ngờ trong đêm tối, chết vô số và đạp lên nhau bỏ thành trốn chạy. Sầm Nghi Đống [6] thấy không thể giữ được đồn, tự sát trên đài chỉ huy ở Loa Sơn (vùng phố chùa Bộc ở Hà Nội ngày nay)
Quân Thanh chết quá nhiều ở quanh đồn Khương Thượng, sau xác chất thành mười mấy gò cao, sử gọi là Gò Đống Đa. Trận diệt giặc đồn Khương Thượng cũng còn được gọi là chiến thắng Đống Đa.
Hạ xong đồn Khương Thượng, ngay trong đêm mùng 4 Tết, Đô đốc Long tức tốc kéo quân tấn công đồn Nam Đồng phía tây kinh thành Thăng Long. Khi Tôn Sĩ Nghị nhận được tin Khương Thượng thất thủ thì quân ta đã diệt xong đồn Nam Đồng và đang tiến vào bản doanh của Nghị ở Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị quá hoảng sợ, vội vàng bỏ mặc tướng sĩ cùng vài võ quan, chui ống đồng tháo chạy sang Gia Lâm. Quân giặc tại kinh thành hoàn toàn hỗn loạn. “Tôn Sĩ Nghị đóng trên bãi cát, được tin bại trận vội vàng cưỡi ngựa một mình chạy về bắc. Tướng sĩ thấy vậy tranh nhau qua cầu mà chạy, cầu đứt, lăn cả xuống sông, chết đến vài vạn người, làm cho nước sông không chảy được.” [4]
Biết Đô đốc Long đã tiến vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị đã trốn chạy, lúc này vua Quang Trung mới hạ lệnh công đồn Ngọc Hồi. Mờ sáng mùng 5 Tết (30.01.1789), quân Đại Việt bắt đầu tấn công từ phía nam. Mở đầu, đội tượng binh với trên 100 voi thiện chiến đánh tan hàng phòng thủ của kỵ binh giặc. Tiếp theo, 20 đội bộ binh, mỗi đội 30 cảm tử quân, quấn rơm ướt che mình, ván chắn bằng gỗ, cầm đoản đao, tiến hàng ngang áp sát chiến lũy giặc, để tạo điều kiện cho đại quân tiến lên giáp chiến. Vua Quang Trung dẫn quân tiến vào đồn hỗn chiến. Quân Thanh chống không nổi, chạy tản ra tứ phía, lại giẫm phải địa lôi do chính chúng đặt từ trước nên chết và bị thương quá nửa. Đồn Ngọc Hồi bị quân Tây Sơn thiêu cháy [5]. Đề đốc Hứa Thế Hanh [6], Tả dực Thượng Duy Thăng [6], và Tổng binh Trương Triều Long [6] đều bị giết.
Tàn quân Thanh từ đồn Ngọc Hồi trốn chạy đều gặp quân ta phục dọc đường, và đánh tới từ Đại Áng, rồi tiêu diệt toàn bộ ở đầm Mực. Đạo quân giặc của Đề đốc Ô Đại Kinh đóng tại Sơn Tây, nghe tin chiến trận, chưa giao chiến trận nào, đã mất hồn, gấp rút lui quân.
Phần Tôn Sĩ Nghị [6] cùng Lê Chiêu Thống trên đường đào tẩu cũng bị hai đạo quân của Đô đốc Tuyết và Đô đốc Lộc chặn đánh tơi tả nhiều lần, bỏ lại cả ấn tướng, kỳ bài, sắc thư, đói khát 7 ngày đêm, trước khi thoát khỏi biên giới với vỏn vẹn khoảng 50 quân sĩ. Quân Đại Việt đuổi theo và rao rằng sẽ đuổi qua biên giới đến khi bắt được Tôn Sĩ Nghị và Chiêu Thống mới thôi. Dân chúng nhà Mãn Thanh ở biên giới nghe vậy dắt nhau chạy, suốt vài chục dặm không một bóng người.
Chiều ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (30.01.1789), đô đốc Long ra đón, Hoàng đế Quang Trung -áo bào sạm màu khói súng- tiến vào kinh thành Thăng Long cùng đô đốc Bảo và đại quân trong sự chào đón mừng vui vô hạn của thần dân.
Nhà thơ Ngô Ngọc Du thời đó đã mô tả không khí ở kinh thành Thăng Long bấy giờ:
“… Đầy thành già trẻ mặt như hoa,
Chen vai thích cánh cùng nhau nói:
Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta” [7]
Từ lúc hạ đồn đầu tiên ở Giản Khẩu vào đêm Trừ tịch đến khi ca khúc khải hoàn tại Thăng Long hôm mùng 5 Tết chỉ trọn 6 ngày! Chiến thắng Xuân Kỷ Dậu 1789 với những trận đánh thần tốc, Hoàng Đế Quang Trung đã phá tan giấc mộng thôn tính Đại Việt của quân xâm lược nhà Thanh từ phương bắc, duy trì sự sinh tồn của dân tộc và nền tự chủ của nước nhà, mở ra một triều đại Tây Sơn hưng thịnh.
Ngày nay, ĐCSVN còn tệ hơn một “Lê Chiêu Thống”, đã, đang, và sẽ tiếp tục cam tâm là một nô bọc cho Trung Nam Hải để độc quyền cai trị đất nước. Chính trường nội bộ Đảng chia rẽ quyền lực, lợi ích trầm trọng hơn thời Hậu Lê với Trịnh – Nguyễn phân tranh. Nền tự chủ và sự sinh tồn của Việt Nam đang bị đe dọa.
Năm 2015, đón Xuân Ất Mùi, cầu mong các lực lượng đấu tranh dân chủ, xã hội dân sự trong nước, những tổ chức, cộng đồng người Việt tại hải ngoại, con dân giòng giống Đại Việt khắp nơi, noi gương bậc tiền nhân Anh Hùng Áo Vải Tây Sơn, tạo được sức mạnh tranh đấu cho cá nhân, đoàn thể mình, biến cải để thích ứng và gây dựng được ưu thế trong công cuộc đấu tranh, và biết cách đoàn kết để tạo nên sức mạnh chung của dân tộc ngõ hầu xây dựng một chế độ dân chủ pháp trị, đem lại tự do bình đẳng cho dân chúng và đưa đất nước thoát khỏi họa Hán hóa. Hãy cùng nhau vận dụng chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn!
Cung Chúc Tân Xuân!
Phạm Đức Duy
Cuối tháng 1, 2015
Ghi chú:
[1]: Nguyên văn:
“Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản (một cái bánh xe cũng không thể trở về)
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn (một mảnh giáp cũng không toàn vẹn)
Đánh cho sử trí Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ”
[2]: Theo “Kỳ mưu của Quang Trung”http://www.baobinhdinh.com.vn/datnuoc-connguoi/2006/7/29625/
[3]: Tây Sơn Thất Hổ tướng là danh hiệu của bảy tướng lĩnh, thủ lĩnh quân sự của nhà Tây Sơn ở thời kỳ đầu, gồm có Võ Văn Dũng, Võ Ðình Tú, Trần Quang Diệu, Nguyễn Văn Tuyết, Lê Văn Hưng, Lý Văn Bưu và Nguyễn Văn Lộc.
[4]: Theo Đại Nam chính biên liệt truyện.
An Nam Nhất Thống Chí (Hoàng Lê nhất thống chí) viết: “Nghị lên ngựa không kịp đóng yên, quân sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hốt tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô nhau rơi xuống nước mà chết… Lát sau cầu lại đứt, quân lính bị rơi xuống nước, sông Nhị Hà bị tắc không chảy được…”.
Thánh vũ ký của Ngụy Nguyên nhà Thanh cũng viết: “Sĩ Nghị chạy trốn qua được bờ bắc sông Phú Lương (Tức sông Hồng) liền cắt đứt cầu phao khiến các đạo quân của Hứa Thế Hanh và Trương Triều Long bị bỏ lại ở bờ nam. Do đó hơn một vạn người vừa tướng vừa quân xô nhau nhảy xuống sông để bơi sang bờ bắc và đều bị chết đuối cả”
[5]: Theo Đại Nam chính biên liệt truyện
[6]: Đoàn quân xâm lược của Tôn Sĩ Nghị gồm các danh thần, công tướng của Mãn Thanh đều đại bại dưới tài điều binh khiển tướng của Hoàng đế Quang Trung. Trích theo wikipedia:
Tôn Sĩ Nghị (1720-1796), tự Trí Dã, tự khác là Bổ Sơn, người tỉnh Chiết Giang, là một đại thần của Mãn Thanh. Nguyên là quan văn, đỗ tiến sĩ đời Càn Long. Trải qua các chức vụ như nội các trung thư, thị độc, biên tu, thái thường thiếu khanh. Sau đó tới Sơn Đông làm bố chính sứ rồi đổi sang làm tuần phủ Quảng Tây. Hai lần làm tổng đốc Lưỡng Quảng. Năm 1787, chỉ huy việc phòng ngự tại Triều Châu đề phòng quân khởi nghĩa của Lâm Sảng Văn tại Đài Loan tiến vào Quảng Đông. Chiến dịch đem quân sang Đại Việt của Tôn Sĩ Nghị là một trong mười chiến dịch hành quân lớn (thập toàn võ công) trong đời hoàng đế Càn Long, được ghi lại trong Thập toàn ký (1792) của vị hoàng đế này. Cũng vì thế mà Càn Long tự xưng là Thập toàn lão nhân. Mặc dù thất bại dưới tay quân Tây Sơn, nhưng sau đó Nghị vẫn được phong là nhất đẳng mưu dũng công, là quân cơ đại thần và đảm nhận chức vụ Binh bộ thượng thư. Năm 1791, đổi sang làm tổng đốc Tứ Xuyên, cung ứng quân nhu cho đội quân của Phúc Khang An trong chiến dịch trừng phạt quân đội của người Gurkha tại khu vực ngày nay là Gorkha thuộc Nepal (sử sách Trung Hoa gọi là Khuếch Nhĩ Khách chi loạn). Thời gian sau đó còn dẫn quân trấn áp việc khởi nghĩa của người Miêu và Bạch Liên giáo. Năm Gia Khánh thứ nhất (1796) chết tại trung quân.
Sầm Nghi Đống, người ở Điền châu, là một tướng giỏi của Mãn Thanh. Trước khi sang Việt Nam, làm thái thú Điền Châu ở Vân Nam, hàm ngũ phẩm. Mùa Đông năm 1788, Sầm Nghi Đống dẫn quân Điền Châu của mình tạo thành một mũi quân qua ngã Cao Bằng tiến vào Việt Nam. Vua Quang Trung sau này đã cho mang xác Sầm Nghi Đống trả cho nhà Thanh chôn cất và còn cho phép xây đền thờ ở khu vực phố Đào Duy Từ.
Hứa Thế Hanh là người dân tộc Hồi ở Tân Đô (Thành Đô, Tứ Xuyên), từng thi đỗ cử nhân võ, và giành nhiều công trạng với nhà Thanh trong chiến đấu ở Tây Tạng và Đài Loan. Năm 1776, được triều đình phong làm tổng binh trấn Đằng Việt, tỉnh Vân Nam. Năm 1784, làm tổng binh trấn Uy Ninh, tỉnh Quý Châu. Trong chiến tranh tại Đài Loan năm 1787, có công đánh và bắt được thủ lĩnh lực lượng nổi dậy tại đây là Lâm Sảng Văn, bắt và giết một số chỉ huy khác của quân nổi dậy. Được phong danh hiệu Kiên Dũng Ba Đồ Lỗ, được vẽ tranh treo tại Tử Quang Các. Năm 1788, được phong làm Đề đốc Chiết Giang rồi Đề đốc Quảng Tây. Sau khi tử trận tại Ngọc Hồi, vua Càn Long nhà Thanh truy phong tam đẳng Tráng Liệt Bá, đưa vào thờ trong Chiêu Trung Từ.
Thượng Duy Thăng, người Tương Lam kỳ Hán quân, nguyên quán Hồng Động, Sơn Tây, là tướng nhà Thanh. Thăng là cháu 4 đời của Bình Nam vương Thượng Khả Hỷ, từ Quan học sanh được thụ Loan nghi vệ Chỉnh nghi úy, trải qua 5 lần thăng tiến, làm đến Quảng Tây Hữu Giang trấn Tổng binh.
Trương Triều Long là người Đại Đồng, Sơn Tây, xuất thân là một kỵ binh trong quân đội Mãn Thanh. Từng chinh chiến tại Miến Điện, Tây Tạng và Đài Loan, anh dũng chiến đấu, lập nhiều công trạng, và từng ba lần bị thương tại các chiến trường nói trên. Long là công thần thứ 31 trong các tướng nhà Thanh lập công tại Đài Loan và được vẽ tranh treo tại Tử Quang Các. Nhờ công trạng tại Đài Loan, được nhà Thanh phong làm Tổng binh tại trấn Nam Áo (Phúc Kiến).
[7]: Nguyên văn toàn bài:
“Giặc đâu tàn bạo sang điên cuồng
Quân vua một giận oai bốn phương
Thần tốc ruỗi dài xông thẳng tới,
Như trên trời xuống dám ai đương
Một trận rồng lửa giặc tan tành,
Bỏ thành cướp đó trốn cho nhanh
Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến,
Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh
Mây tạnh mù tan trời lại sáng
Đầy thành già trẻ mặt như hoa,
Chen vai khoác cánh cùng nhau nói:
“Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta”
*Những chi tiết lịch sử của các trận đánh được tổng hợp theo các nguồn trên internet.

Thursday, September 25, 2014

Bao nhiêu lính VN thiệt mạng ở Campuchia?

Quân Việt Nam ở CampuchiaNăm nay tròn 25 năm ngày quân đội Việt Nam triệt thoái khỏi Campuchia.
BBC-09/25/2014 
Tròn 25 năm Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, hiện vẫn chưa có con số thống kê thống nhất về số lượng binh lính Việt Nam thiệt mạng và thương vong ở đất nước Chùa Tháp.
Trao đổi với BBC trong cuộc tọa đàm hôm 25/9/2014, Đại tá Phạm Hữu Thắng, chuyên gia về Campuchia thuộc Viện Lịch sử Quân sự, Bộ Quốc phòng Việt Nam đưa ra con số binh sỹ Việt Nam thiệt mạng là gần bốn chục ngàn người.
Tuy nhiên, theo số liệu mà một cựu chuyên viên tổ nghiên cứu về Campuchia của Bộ Ngoại giao Việt Nam đưa ra con số tử vong có thể lên tới năm chục ngàn, hoặc thậm chí cao hơn nữa.
"Trong tay tôi có con số thống kê của ngành Quân y, Tổng cục Hậu cần, số thương vong trong mười năm, cả bị thương và hy sinh là hơn 156.000.
"Trong đó, hy sinh gần 39.000. Đây là số liệu của ngành Quân y, của Tổng cục Hậu cần, Quân đội Nhân dân Việt Nam", Đại tá Thắng nói với BBC.
Từ Paris, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huy đưa ra một số liệu khác.
Ông nói: "Những con số đưa ra hiện nay cũng chưa chính xác lắm... Nhưng người ta nói khoảng 55.000 binh sỹ, tức là bộ đội cộng với thanh niên xung phong Việt Nam đã hy sinh trên chiến trường Campuchia thời gian đó."
Theo ông Huy, năm 1979, khi Việt Nam bắt đầu phát động phong trào đưa các lực lượng sang Campuchia, nhiều thanh niên Việt Nam được vận động sang quốc gia láng giềng để dọn dẹp chiến trường.
Tiến sỹ Huy nói: "Thanh niên Việt Nam được vận động trong những đội thanh niên xung phong để qua đó dọn chiến trường và đồng thời để chuẩn bị cơ sở khi bộ đội tiến quân, thì họ đi sau lưng để dọn chiến trường.
"Tôi thấy số người chết năm 1979 không biết là bao nhiêu, nhưng trong suốt mười năm, tôi nghĩ con số khoảng 55 ngàn người."

'Tài liệu mật'

Bộ đội Việt Nam tại CampuchiaHơn 39.000 binh lính VN đã thiệt mạng trong khoảng mười năm can thiệp ở Campuchia.
Là người từng tham gia theo dõi cuộc chiến Việt Nam ở Campuchia từ Bộ Ngoại giao, như tự giới thiệu, ông Đặng Xương Hùng, cựu Phó Vụ trưởng Bộ Ngoại giao và Lãnh sự Việt Nam tại Thụy Sỹ, cho biết thêm thông tin về con số thương vong này.
"Tôi cũng là người theo dõi Campuchia và theo dõi cuộc chiến Việt Nam ở Campuchia, qua tài liệu của Bộ Ngoại giao, chắc cũng của và thông qua Bộ Quốc phòng (Việt Nam), đây là những tài liệu mật mà tôi cũng chỉ tham khảo, đọc qua một vài lần gì đó,
"Thì con số đó là 100.000, mười vạn, quân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh tại Campuchia đã hy sinh trong 13 năm có mặt ở Campuchia", ông Hùng nói:
Bình luận về ý nghĩa và những con số thương vong này, Tiến sỹ Tạ Văn Tài, cựu giảng viên luật học Đại học Havard từ Hoa Kỳ nói:
"Ngoại trưởng (Việt Nam) Nguyễn Cơ Thạch đã nói một câu rất chí lý là vì vấn đề thương vong đó, cho nên từ nay không bao giờ Việt Nam gửi quân đội ra hải ngoại đấu tranh nữa.
"Đó là kết luận rất lý chí và điểm đó cũng rất đúng với chiến trường của các nước khác khi mà ở lại quá mức cần thiết. Ví dụ như là Hoa Kỳ ở lại Trung Đông bây giờ."
Theo chuyên gia về luật học này, bài học rút ra là phải biết cách 'thoát ra khỏi' một cuộc chiến tranh ra sao.
Ông Tài nói: "Nguyên tắc căn bản là đã vô chiến tranh, thì phải có một lối ra, phải có một 'exit', một tư duy 'exit' thì mới được."

'Biết ơn'

Chính trường CampuchiaCampuchia ngày nay có nhiều đảng phải chính trị cạnh tranh nhau về đường lối và quyền lực.
Nhìn lại sự kiện diễn ra 25 năm về trước, cũng như đánh giá ý nghĩa cuộc can thiệp quân sự của quân đội Việt Nam, vốn dẫn đến sự sụp đổ của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ từ năm 1979 ở Campuchia, nhân dịp này, Tiến sỹ Vannarith Chheang, nhà nghiên cứu người Campuchia từ Đại học Leeds, Anh quốc nói:
"Về vấn đề nhân đạo, tôi nghĩ người Campuchia, phần lớn người Campuchia biết ơn đối với sự hy sinh của quân đội nhân dân Việt Nam là giải phóng người Campuchia."
Tuy nhiên, vẫn theo chuyên gia đang nghiên cứu tại Trung tâm Hòa bình và Hợp tác này, tình hình chính trị ở Campuchia và nhận thức của các đảng phái ở Campuchia hiện nay cũng có sự không thống nhất về hành động can thiệp quân sự của quân đội Việt Nam trước đây.
"Ở Campuchia cũng có nhiều vấn đề vì nhiều đảng phái, phe phái chính trị khác nhau, như vậy cũng có một nhóm người phản đối việc Việt Nam giải phóng Campuchia và gọi đó là việc xâm lược của Việt Nam đối với đất nước Campuchia", Tiến sỹ Vanarith Chheang nói thêm.
Là một phóng viên theo các chuyển biến gần đây trong quan hệ Campuchia - Việt Nam, phóng viên Hồng Nga của BBC tiếng Việt chia sẻ thêm với tọa đàm.
"Đối với một bộ phận những người đã tìm hiểu lịch sử, hay những người đã sống trong thời kỳ Khmer Đỏ chẳng hạn, tôi nghĩ rằng chắc chắn họ vẫn có một sự hàm ơn đối với quân đội Việt Nam, bởi vì đã đặt dấu chấm hết cho một thể chế vô cùng tàn bạo như vậy. Thế nhưng đối với giới trẻ có một sự quan ngại, bởi vì họ không biết được về lịch sử của nước họ.
"Nó cũng giống như giới trẻ ở bất cứ đất nước nào, không riêng gì ở Việt Nam chẳng hạn, thì họ không nắm được những gì đã xảy ra. Và tinh thân bài Việt Nam thật sự gây lo ngại trong lúc này. Khi tôi nói chuyện với một số thanh niên, thì cảm thấy rằng thứ nhất họ không biết gì về lịch sử, và thứ hai là họ có một cái nhìn khá phiến diện đối với sự tham gia của Việt Nam trong vòng mười năm, trong một thập niên như vậy ở đất nước Campuchia."

Tự mâu thuẫn?

Các lãnh đạo Khmer ĐỏLiên Hợp Quốc từng cho phép chính quyền Khmer Đỏ sau khi bị sụp đổ được giữ ghế ở LHQ.
Liên Hợp quốc ngày nay không chỉ lên án chế độ diệt chủng của Khmer Đỏ, mà còn đem ra xét xử nhiều thành viên của chính quyền này về các tội ác chống nhân loại.
Khi được hỏi, liệu LHQ có tự mâu thuẫn gì hay không khi cũng chính chế độ này mấy chục năm về trước lại được LHQ công nhận cho giữ một chiếc ghế đại diện ở quốc tế, Tiến sỹ Vannarith Chheang nêu quan điểm:
"Khi đó thời gian đang là chiến tranh lạnh, như vậy vấn đề LHQ chấp nhận chiếc ghế của Khmer Đỏ cũng phản ánh chính sách của các nước lớn, đặc biệt là Mỹ cùng các nước phương Tây khác và cả Trung Quốc nữa, cũng ủng hộ Khmer Đỏ, để làm thế nào không cho ảnh hưởng của Việt Nam lan truyền hiệu ứng Domino (domino effects) ở trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là ở Đông Dương. Như vậy đó là vấn đề chính trị và trong thời gian chiến tranh lạnh."
Từ Paris, Tiến sỹ Nguyễn Văn Huy bình luận thêm:
"Từ sau năm 1975, chính quyền cộng sản miền Bắc đã tiến chiếm miền Nam, đã gây ra một phong trào thuyền nhân rất vĩ đại. Chính vì vậy, cái nhìn của thế giới đối với chế độ, chính quyền Việt Nam lúc đó rất là xấu, mặc dù Việt Nam đã đưa quân qua, sang Campuchia để giải phóng dân tộc Campuchia khỏi nạn diệt chủng.
"Nhưng mà hình ảnh Việt Nam, một quốc gia xua đuổi người ra biển một cách khủng khiếp như vậy, thành ra người ta có một cái nhìn xấu. Như vậy, mặc dù Việt Nam đã đuổi chế độ diệt chủng Pol Pot ra khỏi biên giới, nhưng thế giới vẫn không có một cái nhìn thiện cảm với Việt Nam, mà nghĩ Việt Nam là một quốc gia xâm lăng...
"Thành ra tôi thấy vấn đề này hết sức tế nhị, vấn đề hoàn toàn là chính trị, chứ không liên quan gì đến nhân đạo hết. Thành ra tôi nghĩ rằng nếu trở lại vấn đề này, phải nhìn lại vấn đề khách quan thời đó là nước Việt Nam dưới con mắt của thế giới rất là xấu, người ta nhìn Việt Nam như một quốc gia không tôn trọng nhân quyền cũng như là sự bình yên của miền Nam thời đó."

'Con bài mặc cả'

Xét xử Khmer ĐỏTrung Quốc không ủng hộ nhiều cho phiên tòa xét xử Khmer Đỏ, theo nhà nghiên cứu người Campuchia.
Trung Quốc được cho là quốc gia đã từng ủng hộ, hậu thuẫn chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ mạnh mẽ nhất từ khi lực lượng này nắm quyền ở Campuchia năm 1975 cho tới năm 1979, và Bắc Kinh cũng tiếp tục ủng hộ Khmer Đỏ sau khi chính quyền này sụp đổ, tan rã.
Được hỏi liệu ngoài những nguyên nhân chính trị ra, liệu Trung Quốc có gặp vấn đề gì về mặt 'đạo lý' ở đây hay không khi được cho là đã 'tiếp tay' cho Khmer Đỏ 'diệt chủng' và gây nhiều tội ác chống nhân loại ở Campuchia, Tiến sỹ Vannarith Chheang nói:
"Cũng có vấn đề đạo lý đối với Trung Quốc về vấn đề chế độ Khmer Đỏ và đặc biệt là Tòa án xét xử chế độ Khmer Đỏ hiện nay đang diễn ra ở Campuchia, thì phía Trung Quốc cũng không ủng hộ nhiều để đem lại vấn đề lịch sử, đặc biệt là sự liên kết của Trung Quốc trong việc ủng hộ Khmer Đỏ."
Trở lại với việc quân đội Việt Nam rút khỏi Campuchia, khi được hỏi liệu quyết định này có liên quan thế nào đến sự kiện mang tên Hội nghị Thành đô, chỉ một năm sau đó, năm 1990 giữa lãnh đạo Việt Nam với lãnh đạo Trung Quốc, ông Đặng Xương Hùng nêu quan điểm:
"Lúc đó, để bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, chúng ta (Việt Nam) một mặt đã tuyên bố đơn phương rút quân, không kèm thêm điều kiện gì nữa, chúng ta đơn phương rút quân khỏi Campuchia, và rút quân hoàn toàn vào tháng 9/1989.
"Cùng lúc đó chúng ta đã sửa lại lời nói đầu của Hiến pháp, sửa lại Điều lệ Đảng, bỏ cái "Trung Quốc là kẻ thù nguy hiểm, trực tiếp". Tất cả những sự kiện như thế, để chuẩn bị cho vấn đề bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc...
"Việt Nam muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, mà Việt Nam chỉ có con bài lúc đó thế mạnh đó là vấn đề Campuchia, do đó việc đi đến thỏa thuận Thành Đô, là việc đi đến bình thường hóa quan hệ hai nước gắn chặt với việc giải quyết vấn đề Campuchia," cựu quan chức Bộ Ngoại giao Việt Nam nói với BBC.