Tuesday, June 5, 2018

Nhân viên rút ruột, ngân hàng chối bỏ trách nhiệm

RFA-2018-06-04   
Bị cáo Huỳnh Thị Huyền Như tại toà phúc thẩm hồi cuối tháng 5/2018
Bị cáo Huỳnh Thị Huyền Như tại toà phúc thẩm hồi cuối tháng 5/2018-Vietnamnet
4900 tỷ đồng chiếm đoạt của nhiều doanh nghiệp, ngân hàng, cá nhân mà chỉ riêng 1 trong số những bên bị hại là một doanh nghiệp Malaysia có nguy cơ mất trắng 10 triệu đô la Mỹ tiền gửi. Tuy nhiên, Vietinbank, ngân hàng chủ quản nơi nhân viên Huyền Như mượn danh để thực hiện những hành vi chiếm đoạt tài sản lại được toà án Việt Nam xử vô can.
Trong một phán quyết được đưa ra hôm 30/5, Tòa án Nhân dân Tối cao (TAND) thành phố Hồ Chí Minh đã bác bỏ kháng cáo của các nguyên đơn trong đó yêu cầu ngân hàng Vietinbank hoàn trả số tiền lên tới 4900 tỷ đổng (tương đương 215 triệu USD) mà bị cáo Huỳnh Thị Huyền Như đã chiếm dụng. Thay vào đó, Toà phúc thẩm quyết định thủ phạm chính Huỳnh Thị Huyền Như có trách nhiệm phải bồi thường một số tiền 1085 tỷ đồng đã “chiếm đoạt” của 5 công ty là Công ty Hưng Yên, Công ty An Lộc, Công ty Phương Đông, Công ty Bảo Hiểm Toàn Cầu và Công ty SBBS (Malaysia).
để cứu Vietinbank, giải thoát cái trách nhiệm dân sự cho Vietinbank nên người ta không thay đổi tội danh cho Huyền Như mà vẫn để Huyền Như lừa đảo, và biến các công ty này thành nạn nhân của sự lừa đảo - LS Nguyễn Minh Tâm
Đại diện công ty SBBS, luật sư Nguyễn Minh Tâm cho rằng, toà phúc thẩm đã bác bỏ quyết định của toà sơ thẩm và đưa ra một phán quyết có lợi hoàn toàn cho phía ngân hàng Vietinbank. Luật sư Tâm nói:
“5 công ty này họ mở tài khoản hợp pháp nên vì thế mà án phúc thẩm mới huỷ án với nhận định là Huyền Như có dấu hiệu tham ô. Nếu xét xử Huyền Như về tội tham ô, có nghĩa rằng trách nhiệm dân sự của Vietinbank phải bồi thường cho khách hàng. Cho nên bây giờ để cứu Vietinbank, giải thoát cái trách nhiệm dân sự cho Vietinbank nên người ta không thay đổi tội danh cho Huyền Như mà vẫn để Huyền Như lừa đảo, và biến các công ty này thành nạn nhân của sự lừa đảo”
Tin cho biết Huỳnh Thị Huyền Như lấy danh nghĩa quyền Trưởng phòng giao dịch Điện Biên Phủ chi nhánh TP.HCM đi huy động tiền gửi cho Ngân hàng Vietinbank để trực tiếp gặp gỡ, thỏa thuận với các đối tượng môi giới, đại diện của 5 công ty vừa nêu về việc nhận tiền gửi với lãi suất ưu đãi vượt lãi suất trần Nhà nước quy định. Khi các đơn vị này chuyển tiền vào tài khoản thanh toán của họ mở tại Vietinbank, Như đã lập các chứng từ, ký giả chữ ký của chủ tài khoản, sử dụng quyền trên hệ thống (là kiểm soát viên, Trưởng phòng giao dịch) trực tiếp thao tác chuyển tiền từ các tài khoản của khách hàng đi trả nợ cá nhân cho Như.
Do đó, việc HĐXX bác kháng cáo của các nguyên đơn và cho rằng các nguyên đơn dân sự gửi tiền nhưng đã bỏ mặc cho Như chiếm đoạt nên phải chịu trách nhiệm về sai sót do lỗi của mình theo luật sư Nguyễn Minh Tâm là hoàn toàn thiếu thuyết phục. Luật sư Tâm nói tiếp:
Bây giờ anh không theo dõi, không giám sát nhân viên cụ thể để nhân viên của anh gây ra việc phạm pháp như thế thì anh cũng phải gánh chịu một phần - PGS.TS Đỗ Linh Hiệp
“Ở đây không có chuyện Huyền Như lừa gì công ty cả, vì tiền được chuyển vào tài khoản một cách hợp pháp, nằm trong sự quản lý của Vietinbank, Huyền Như áp dụng các thao tác gian dối qua mặt Vietinbank để rút tiền ra, thì chủ tài khoàn làm sao mà biết được. Điều này thì ai cũng biết, dân chúng kể cả những người chẳng cần hiểu biết gì về pháp luật họ cũng đều cho rằng đó là thuộc trách nhiệm của Vietinbank”
Trên thực tế, theo luật sư Tâm, bất cứ một giao dịch nào trên hệ thống ngân hàng cũng đều được phản ảnh trên hệ thống mạng quản lý của các ngân hàng. Do đó, ngân hàng này phải có trách nhiệm với hành vi của cá nhân Huỳnh Thị Huyền Như như việc làm giả chữ ký, chứng từ và sau đó rút tiền … từ tài khoản của các doanh nghiệp đã gửi tiền trong phạm vi quản lý của ngân hàng Vietinbank.  Bình luận về điều này, PGS-TS Đỗ Linh Hiệp, giảng viên khoa Tài chính – ngân hàng, Trường ĐH Ngân hàng TP Hồ Chí Minh cũng cho rằng ngân hàng Vietinbank phải chịu một phần trách nhiệm nếu để nhân viên gây hậu quả dưới uy tín của chính ngân hàng. PGS-TS Đỗ Linh Hiệp nói:
“Cô này đang làm việc ở ngân hàng, với danh nghĩa ngân hàng, rồi không vào sổ sách hay gì gì đó để mà lừa thì trách nhiệm của ngân hàng cũng phải có 1 phần vì cô này đang làm việc đó dưới danh nghĩa là một nhân viên ngân hàng, tại ngân hàng luôn. Bây giờ anh không theo dõi, không giám sát nhân viên cụ thể để nhân viên của anh gây ra việc phạm pháp như thế thì anh cũng phải gánh chịu một phần.”
Không chỉ Vietinbank, một số vụ việc mất tiền khác trong thời gian gần đây như việc gần 300 tỷ đồng của khách hàng gửi tiết kiệm tại ngân hàng Eximbank không cánh mà bay, vụ 17 khách hàng mất gần 400 tỷ đồng tại ngân hàng Ocebank hay 26 tỷ đồng tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng VPBank bị rút khống…và đặc biệt là pháp lệnh hồi cuối năm 2017 quy định ngân hàng phá sản, người gửi tiền chỉ được bồi thường tối đa 75 triệu đồng đã khiến không ít người bày tỏ hoang mang và lo lắng về tính an toàn khi gửi tiền tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Trong khi đó, hệ thống ngân hàng đã không có những biện pháp tích cực và kịp thời trong việc thực hiện trách nhiệm bồi hoàn đối với khách hàng trong trường hợp xảy ra mất mát. Chị Thuỳ Linh, một người gửi tiền cho rằng đó là hành xử không công bằng đối với những người gửi tiền tại ngân hàng hiện nay:
Trong trường hợp mình là người đi vay, không may mình bị lừa và không có khả năng trả tiền đúng hạn cho ngân hàng, thì mình phải chịu rất nhiều những khoản phí phát sinh… so với việc ngân hàng cầm sổ tiết kiệm của mình rồi lại chây ỳ trong việc  trả lại tiền cho mình thì nó là không công bằng”
Các chuyên gia tài chính ngân hàng mà đài RFA đã có dịp tiếp xúc đều cho rằng, ngân hàng tại các quốc gia phát triển thường có trách nhiệm bồi thường cho khách hàng trong vòng 24-72 giờ và cũng là pháp nhân chịu trách nhiệm trong trường hợp để xảy ra việc mất tiền của khách hàng. Đặc biệt, trong các trường hợp ngân hàng có nhân viên gian dối, lừa đảo rút tiền của khách hàng thì ngân hàng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm bởi những cá nhân đó là người đại diện cho ngân hàng thực hiện các giao dịch. Tuy nhiên, ở Việt Nam, quá trình điều tra thường diễn ra quá lâu và ngân hàng chỉ chịu bồi thường thiệt hại cho khách hàng trong điều kiện có quyết định của toà án. Điều này không chỉ gây thiệt hại về tâm lý cũng như kinh tế đối với khách hàng mà còn khiến cho chính uy tín của chính các ngân hàng Việt Nam bị ảnh hưởng và rõ ràng sẽ là một tác động tiêu cực đến việc huy động nguồn tiền nhàn rỗi từ người dân và các doanh nghiệp đối với chính các tổ chức tín dụng, ngân hàng này.

Các “siêu” dự án ven biển miền Trung của FLC gây lo lắng

RFA-2018-06-04    
Lãnh đạo tỉnh Quảng Trị và Chủ tịch Tập đoàn FLC, ông Trịnh Văn Quyết (áo sơ mi trắng bìa phải) trong chuyến khảo sát thực địa khu vực Tập đoàn FLC dự kiến đầu tư khu phức hợp du lịch, dịch vụ ven biển Cửa Tùng-Cửa Việt.
Lãnh đạo tỉnh Quảng Trị và Chủ tịch Tập đoàn FLC, ông Trịnh Văn Quyết (áo sơ mi trắng bìa phải) trong chuyến khảo sát thực địa khu vực Tập đoàn FLC dự kiến đầu tư khu phức hợp du lịch, dịch vụ ven biển Cửa Tùng-Cửa Việt.Courtesy: Ảnh chụp màn hình quangtri.gov.vn
Tập đoàn FLC, một tập đoàn được cho là phát triển nhanh như vũ bão trong vòng một thập niên qua, đang đẩy mạnh kêu gọi đầu tư nước ngoài vào các dự án của tập đoàn này, chủ yếu là những dự án dọc 14 tỉnh ven biển miền Trung. Tuy nhiên, dư luận lại quan ngại về nhiều hệ lụy từ các dự án của FLC.

Phát triển thần tốc

Tập đoàn kinh doanh bất động sản FLC chính thức đi vào hoạt động tại Việt Nam vào năm 2008, trụ sở chính ở Hà Nội. Tiền thân của FLC là Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Đầu tư Trường phú Fortune, với vốn điều lệ 18 tỷ đồng. Tính đến tháng 10 năm 2017, Công ty Quản lý quỹ Unicap định giá Tập đoàn FLC 9 tỷ đô la Mỹ. Cuối năm ngoái, Chủ tịch Tập đoàn FLC, ông Trịnh Văn Quyết được xếp hạng là người giữ vị trí giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam trong năm 2017.
Các dự án nổi bật của Tập đoàn FLC như Quần thể du lịch nghỉ dưỡng sinh thái FLC Sầm Sơn, khánh thành năm 2015; Quần thể sân golf, resort, biệt thự nghỉ dưỡng và giải trí cao cấp FLC Quy Nhơn. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, Thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển Liên Hiệp Quốc, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương đánh giá về hiệu quả kinh tế của các dự án vừa nêu:
“Tập đoàn FLC cho đến nay những dự án họ đầu tư đều đem lại những kết quả rất tích cực. Ví dụ, dự án ở Sầm Sơn thì thay đổi hẳn hình ảnh của Sầm Sơn và hiện nay khách du lịch đến đó đông vô kể và làm cho khả năng thu hút khách du lịch của tỉnh Thanh Hóa tăng lên rất rõ rệt. Tương tự như vậy là dự án ở Quy Nhơn. Hiện nay, dự án ở Quy Nhơn lớn đến mức mà số khách du lịch đến đó cần phải tăng thêm các chuyến bay. Và vì vậy, Tập đoàn FLC đã lập ra một hãng hàng không gọi là Bamboo Airlines (Hãng hàng không Tre Việt) để chuyên chở khách và họ đang kết nối với Thái Lan để chuyển khách quốc tế từ Thái Lan đi đến những chỗ đó.”
Tôi xin đánh giá thuần túy từ mặt kinh tế đối với các địa phương thì tôi thấy tác động như vậy đối với các địa phương là tích cực và việc các địa phương mong muốn thu hút FLC đến đầu tư và thu hút khách du lịch là điều có thể hiểu được. Và một điểm đáng lưu ý nữa, du lịch được coi như một trong các ngành mũi nhọn của Việt Nam, cho nên việc phát triển du lịch và hoạt động của FLC như vậy có lẽ cũng là một điều có tác động tích cực đến hoạt động kinh tế của Việt Nam
-Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
Là một trong 10 tập đoàn đầu tư bất động sản hàng đầu tại Việt Nam, truyền thông trong nước cho biết Tập đoàn này đã và sẽ có tổng cộng 11 dự án ven biển ở 14 tỉnh miền Trung. Tập đoàn FLC được ghi nhận là doanh nghiệp mà lãnh đạo địa phương đặc biệt ưu ái, trải thảm đỏ gọi mời đầu tư cho những “siêu” dự án ở các vị trí đắc địa, có thể kể tên một số dự án bao gồm Quần thể resort, biệt thự nghỉ dưỡng và giải trí cao cấp FLC Quảng Bình, với diện tích hơn 1900 héc-ta ở hai xã Hải Ninh và Hồng Thủy  Quần thể du lịch, nghỉ dưỡng sinh thái FLC Bình Châu-Lý Sơn, Quảng Ngãi với tổng diện tích lên đến 3.890 héc-ta. Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận giao cho Sở Kế hoạch-Đầu Tư nghiên cứu hồ sơ đề xuất đầu tư dự án Khu đô thị nghỉ dưỡng sinh thái và sân golf FLC Bình Thuận 1 với quy mô 300 héc-ta tại xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân và báo cáo trước ngày 15 tháng 6 tới đây. Lãnh đạo tỉnh Quảng Trị, hồi cuối tháng 5, cũng có chuyến khảo sát thực địa khu vực Tập đoàn FLC dự kiến đầu tư khu phức hợp du lịch, dịch vụ ven biển Cửa Tùng-Cửa Việt, với tổng diện tích 1000 héc-ta để xây dựng các hạng mục sân bay, sân golf, khu resort…
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh đưa ra nhận định của ông về sự nồng nhiệt của chính quyền địa phương các tỉnh miền Trung chào đón Tập đoàn FLC đến đầu tư là lẽ đương nhiên, qua hiệu quả kinh tế mà điển hình là hai dự án ở Sầm Sơn và Quy Nhơn. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói với RFA:
“Tôi xin đánh giá thuần túy từ mặt kinh tế đối với các địa phương thì tôi thấy tác động như vậy đối với các địa phương là tích cực và việc các địa phương mong muốn thu hút FLC đến đầu tư và thu hút khách du lịch là điều có thể hiểu được. Và một điểm đáng lưu ý nữa, du lịch được coi như một trong các ngành mũi nhọn của Việt Nam, cho nên việc phát triển du lịch và hoạt động của FLC như vậy có lẽ cũng là một điều có tác động tích cực đến hoạt động kinh tế của Việt Nam.”

Quan ngại hệ lụy

Bên cạnh những nhận xét tích cực về hiệu quả kinh tế của các dự án mà Tập đoàn FLC mang lại cho địa phương nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung, như của Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, Đài Á Châu Tự Do ghi nhận cũng có không ít ý kiến thắc mắc về hàng loạt các dự án của Tập đoàn FLC tập trung tại những khu vực biển miền Trung Việt Nam. Câu hỏi mà dư luận đặt ra vì sao Tập đoàn FLC có thể tiến hành thâu tóm và thực hiện các dự án một cách nhanh chóng, kể cả việc chính quyền địa phương của tỉnh Quảng Ngãi sẵn sàng ứng trước ngân sách khỏang 500 tỷ đồng để giải phóng mặt bằng cùng với 12 công văn hoả tốc trong vòng 45 ngày cho dự án ở Bình Châu-Lý Sơn? Nỗi lo lắng của dư luận về hệ lụy từ các dự án này sẽ nghiêm trọng đến mức nào khi Chủ tịch Tập đoàn FLC, ông Trịnh Văn Quyết tuyên bố tại một hội thảo diễn ra ở Nhật Bản, hồi năm ngoái rằng FLC có thể chuyển nhượng cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Chúng tôi nêu vấn đề với Thạc sĩ Hoàng Việt, chuyên gia nghiên cứu biển Đông của Việt Nam, về mối quan ngại an ninh quốc gia trong trường hợp các khu vực biển miền Trung nằm trong những dự án của FLC được chuyển nhượng cho tập đoàn nước ngoài sở hữu và quản lý. Thạc sĩ Hoàng Việt nêu lên ý kiến cá nhân của ông:
Khi người Pháp tấn công vào Việt Nam năm 1858 thì họ tấn công từ phía biển. Cho nên Việt Nam đối với chiều dài cả 3000km bờ biển thì có rất nhiều nơi gọi là phương yếu và quan trọng. Hải cảng Cam Ranh chẳn hạn, một hải cảng hết sức quan trọng và có vị trí chiến lược không chỉ của Việt Nam mà có tác động lớn trong khu vực. Thế thì phải xem tùy thuộc vào khu vực biển nào. Thứ hai nữa, khu vực biển mà nếu nước ngoài quản lý thì họ kiểm soát cái gì?
-Thạc sĩ Hoàng Việt
“Khi người Pháp tấn công vào Việt Nam năm 1858 thì họ tấn công từ phía biển. Cho nên Việt Nam đối với chiều dài cả 3000km bờ biển thì có rất nhiều nơi gọi là phương yếu và quan trọng. Hải cảng Cam Ranh chẳn hạn, một hải cảng hết sức quan trọng và có vị trí chiến lược không chỉ của Việt Nam mà có tác động lớn trong khu vực. Thế thì phải xem tùy thuộc vào khu vực biển nào. Thứ hai nữa, khu vực biển mà nếu nước ngoài quản lý thì họ kiểm soát cái gì? Thật sự, tôi cũng nghe thông tin các tập đoàn như FLC có thể gây ảnh hưởng rất nhiều. Tuy nhiên khoan hãy nói về vấn đề an ninh, vì cần phải có thông tin đầy đủ mới có thể nói được. Nhưng, ngay vấn đề quan trọng đầu tiên là ở Việt Nam bây giờ liên quan đến sở hữu đất đai và giải tỏa đất đai để làm dự án. Qua đó cho thấy vấn đề về dân sinh, làm sao khi giải tỏa họ vẫn có cuộc sống bình thường thì chương trình đó bị đảo lộn rất nhiều và điều này ảnh hưởng đến kinh tế-chính trị-xã hội của Việt Nam.”
Vào ngày 4 tháng 6, báo giới quốc nội cho biết Tập đoàn FLC lần đầu tiên tổ chức một hội thảo ở thủ đô Washington, Hoa Kỳ trong ngày 25 tháng 6 tới đây, với sự tham dự của 400 khách mời để kêu gọi đầu tư nước ngoài cho các dự án của tập đoàn này, trong đó có hơn 50 dự án với tổng diện tích gần 9000 héc-ta dọc bờ biển của Việt Nam. Trong năm 2017, Tập đoàn FLC cũng tổ chức hội thảo tương tự tại Singapore, Nhật Bản và Nam Hàn.

Hệ thống thanh toán qua điện thoại giúp các chủ tiệm Trung Cộng trốn thuế ở Việt Nam

Hệ thống thanh toán qua điện thoại giúp các chủ tiệm Trung Cộng trốn thuế ở Việt Nam
Số du khách tăng vọt từ Trung Cộng trong thời gian gần đây có thể không mang đến thêm lợi ích đáng kể cho ngành du lịch tại Việt Nam, cũng như tại nhiều nước Đông Nam Á khác.
Báo mạng Payment Week hôm 1 tháng 6 nhận định rằng, du khách Trung Cộng đang sử dụng những hệ thống trả tiền bằng điện thoại di động khiến các cửa hàng do người Trung Cộng làm chủ dễ dàng trốn thuế ở nước sở tại.
Điều này trở thành một vấn nạn đặc biệt trầm trọng tại Việt Nam, phần lớn do cái gọi là “tour du lịch 0 đồng”. Đây là loại tour giá rẻ dành cho du khách Trung Cộng với chi phí dịch vụ rất thấp, thường dưới mức giá thành. Để đổi lại, du khách phải đi những chuyến “mua sắm bắt buộc” tại một số cửa hàng đã được chỉ định trước. Nền kinh tế địa phương không thu được bao nhiêu lợi nhuận từ hình thức “tour du lịch 0 đồng”, vì các tiệm “mua sắm bắt buộc” này đều do các công ty Trung Cộng kiểm soát. Ở Việt Nam, các tiệm này còn sử dụng những hệ thống thanh toán qua điện thoại của Trung Cộng, cho phép tiền nhân dân tệ của khách hàng chạy thẳng vào trương mục ở Trung Cộng của chủ tiệm.
Theo các chuyên gia kinh tế và tiền tệ Việt Nam, phương pháp thanh toán bằng nhân dân tệ trên đất Việt Nam chẳng những vi phạm chủ quyền của Việt Nam, mà các cơ quan quản trị tài chính còn không thu thập được dữ liêu về cuộc giao dịch. Điều này khiến chính quyền bị thất thu thuế từ các “tour du lịch 0 đồng”. Các tổ chức theo dõi giao dịch cũng không thể biết được người Trung Cộng đã chi bao nhiêu trong các chuyến du lịch của họ.
Huy Lam / SBTN

Bốn thành viên ‘Hội Anh Em Dân Chủ’ bị y án sơ thẩm

Một số thành viên Hội Anh Em Dân Chủ biểu tình tại Hà Nội ngày 2 Tháng Sáu, 2018, với biểu ngữ “Dân Chủ Không Phải Là Tội.” (Hình: FB Dũng Trương)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Bốn thành viên của Hội Anh Em Dân Chủ (HAEDC) kháng án đã bị y án bản án sơ thẩm bất chấp các phản đối trong ngoài nước kể cả các chính phủ Mỹ và Liên Âu.
Trong một phiên tòa chiếu lệ ngày 4 Tháng Sáu, 2018, để xử các vụ án chính trị với những bản án được mô tả “án bỏ túi” vốn được Bộ Chính Trị CSVN quyết định sẵn từ trước, các ông Trương Minh Đức, Nguyễn Bắc Truyển, Phạm Văn Trội và Mục Sư Nguyễn Trung Tôn đã bị giữ nguyên bản án sơ thẩm gồm cả án quản chế sau khi ra khỏi nhà tù nhỏ.
Mục Sư Nguyễn Trung Tôn bị y án 13 năm tù giam và 3 năm quản chế. Luật gia Nguyễn Bắc Truyển bị y án 11 năm tù giam và 3 năm quản chế. Nhà báo độc lập Trương Minh Đức bị y án 12 năm tù giam và 3 năm quản chế. Kỹ sư Phạm Văn Trội y án 7 năm tù giam và 1 năm quản chế.
Luật Sư Nguyễn Văn Đài bị kết án 15 năm tù và 5 năm quản chế, chị Lê Thu Hà bị 2 năm tù đã không kháng cáo vì cho rằng chế độ Hà Nội sẽ không giảm án. Cả 6 người vừa kể là các thành viên chính yếu của HAEDC bị lôi ra tòa án tại Hà Nội trong khi 4 người khác thì bị xử tại các địa phương.
Tất cả đều bị vu cho tội “Âm mưu lật đổ” chế độ độc tài đảng trị và cực kỳ tham những tại Hà Nội dù họ chỉ kêu gọi dân chủ hóa đất nước một cách ôn hòa.
CSVN có khuynh hướng áp đặt các bản án nặng hơn đối với những người ra mặt vận động thay đổi, thấy họ như những kẻ “phản động” cần phải trừ diệt.
“Ông Truyển và ông Đức tại lời nói sau cùng đã rất mạnh mẽ và khẳng khái với tâm thế chấp nhận bản án đã và sẽ tuyên dù là mức án nào đi nữa, mặc dù với họ, họ nhận thấy rằng mình hoàn toàn vô tội vì mục tiêu đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền mà mình đã thực hiện, trong đó đòi hỏi sự vận hành một nền kinh tế tư nhân làm nền tảng, thể chế đa nguyên, đa đảng và tổ chức theo mô hình tam quyền phân lập. Ông Trội và ông Tôn cũng luôn giữ được tinh thần vững vàng và sự nhiệt huyết,” Luật Sư Lê Luân viết tường thuật trên trang Facebook cá nhân.
Theo đài RFA, ngay sau khi Tòa Phúc thẩm giữ y án đối với 4 thành viên Hội Anh Em Dân chủ, Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế lên tiếng cho rằng biện pháp đó là ‘cú đánh’ vào quyền tự do bày tỏ ý kiến tại Việt Nam.
Một ngày trước phiên tòa phúc thẩm, Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW) thúc giục chế độ Hà Nội chấm dứt đàn áp nhân quyền trong nước. Họ kêu gọi các tổ chức quốc tế cùng lên tiếng đòi CSVN trả tự do cho tất cả tù chính trị.
Tháng trước, ngày 17 Tháng Năm, 2018, đại diện chính phủ Mỹ đã đối thoại nhân quyền với phía CSVN. Một viên chức Bộ Ngoại Giao Mỹ cho hay họ thúc giục Hà Nội thả hết các tù nhân lương tâm và đặc biệt đề cập đến những người như LS Nguyễn Văn Đài, Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.
Kết quả phiên tòa phúc thẩm ngày 4 Tháng Sáu, 2018, tại Hà Nội chứng tỏ CSVN coi thường những lời khuyến cáo của các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế, các chính phủ Tây phương. Ủy Ban Nhân Quyền LHQ từng đòi hỏi CSVN bỏ các điều luật hình sự bỏ tù người dân với các quy chụp mơ hồ như “Tuyên truyền chống nhà nước…,” “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ…,” “Âm mưu lật đổ…” cũng không hề có tác dụng.
Trước phiên tòa phúc thẩm tại Hà Nội, người ta thấy tại một số tỉnh thị ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam, có nhiều chữ “HAEDC” được viết từ gốc cây, biểu ngữ, quảng cáo, vách tường, cột điện, nhắc nhở mọi người tới một tổ chức gồm những người vì yêu dân chủ, yêu quê hương đất nước mà bị đày đọa bởi nhà cầm quyền độc tài và tham nhũng. (TN)

Dân chống kịch liệt, gọi dự luật ‘Đặc Khu’ của Quốc Hội CSVN là ‘bán nước’

Vùng biển Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh. (Hình: Infonet)
HÀ Nội, Việt Nam (NV) – Dự luật “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt” đang được Quốc Hội CSVN bàn qua bàn lại và dự trù thông qua ở cuối kỳ họp trong tháng này, hiện bị dư luận chống đối kịch liệt.
Dự luật có tên đầy đủ là “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc” có mục đích biến 3 khu vực vừa kể thành những “đặc khu” có những ưu đãi đặc biệt để thu hút đầu tư ngoại quốc. Ngay từ khi bắt đầu thảo luận từ ngày 25 Tháng Năm, 2018, một số đại biểu đã “băn khoăn” về hiệu quả của dự luật.
Ông Dương Trung Quốc, trong lời phát biểu, cho người ta hiểu ngầm là ông sợ nếu thành luật, người Trung Quốc sẽ tràn sang, đổ tiền vào biến các “đặc khu” thành những “nhượng địa” di cư có thể hàng trăm ngàn người hay nhiều hơn. Trong khi đó thì ông Uông Chu Lưu, phó chủ tịch Quốc Hội của chế độ, cổ võ rằng làm luật “đặc khu” là “dọn ổ đón phượng hoàng.”
Tìm kiếm trên Google qua nhóm từ “dự luật đặc khu kinh tế” người ta được hơn 35 triệu kết quả. Còn đánh nhóm từ “kêu gọi phản đối dự thảo luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc)” cho hơn 1 triệu 640 ngàn kết quả. Điều này cho thấy dư luận người Việt khắp nơi rất quan tâm đến vấn đề mà có nhiều người gọi là dự luật “bán nước từng phần” cho Trung Quốc.
Dự luật “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc” gồm 5 chương với 85 điều khoản nếu được thông qua trong khóa họp này, sẽ có hiệu lực từ đầu năm tới, tức ngày 1 Tháng Giêng, năm 2019. Trong đó, có những khoản ưu đãi “miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước từ 20 năm đến 30 năm và thời hạn thuê đất lên tới 99 năm, tức có thể “cha truyền con nối” nhiều thế hệ.
Không kể những thức giả phản đối có tính cách cá nhân như ông Hà Sĩ Phu, nhà văn Tạ Duy Anh, cựu đảng viên ngoại giao Đặng Xương Hùng, tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh,… một số nhóm gửi các thư phản đối hay kiến nghị tập thể đến Quốc Hội và chế độ Hà Nội nêu ra những sai lầm trầm trọng của dự luật, thúc hối dẹp nó qua một bên.
Phần lớn bày tỏ sự lo ngại dự luật tạo cơ hội cho người Trung Quốc “xăm lăng” Việt Nam một cách hợp pháp do chính chế độ Hà Nội rước vào, không khác gì vua Lê Chiêu Thống ngày xưa rước quân Thanh vào chiếm đóng nước ta.
Bà Nguyễn Thúy Hạnh (giữa) và hai người bạn ở Hà Nội chống dự luật “đặc khu kinh tế” mà rất nhiều người nghi ngờ “bán nước từng phần” cho Trung Quốc. (Hình: FB Nguyễn Thúy Hạnh)
Hàng trăm người đã ký tên chung trong “Lời kêu gọi phản đối dự thảo luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc). Lời kêu gọi đưa ra ngày 1 Tháng Sáu, 2018, thúc giục mọi người, kể cả các đại biểu Quốc Hội xem xét, phản đối dự luật về “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt” rút gọn là “Dự luật về đặc khu kinh tế.”
Lời kêu gọi đặt câu hỏi: “Nhượng đất” hay “nhượng địa” là phần đất đai của quốc gia do ngoại bang làm chủ. Đấy là bán nước từng phần, phải vậy không?” Trong số những người ký tên, thấy có nhiều người là đảng viên CSVN nổi tiếng, các nhân sĩ, trí thức nổi tiếng trong ngoài nước.
Một bức thư gửi “tứ trụ” cầm đầu đảng và nhà nước CSVN của 20 chuyên viên kinh tế hàng đầu tại Việt Nam trong “Hội Khoa Học Kinh Tế Việt Nam” cho rằng dự án “đặc khu kinh tế” đang được chuẩn bị “thiếu nhà đầu tư chiến lược, nên thiết kế các khu kinh tế chưa tương xứng yêu cầu có tầm cỡ để ‘xây ổ cho phương hoàng đẻ trứng’, thiết kế kém tầm nhìn xa, kém chất lượng, thiếu gắn kết…”
Trên mạng xã hội, người ta cũng thấy phổ biến “Thư ngỏ gửi các đại biểu Quốc Hội về luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt” với hàng trăm người ký tên kêu gọi “Hãy trả lời KHÔNG đối với luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, và dứt khoát KHÔNG biểu quyết thuận để thông qua dự luật này.” Và “KHÔNG tiếp tay cho cho lòng tham vô đáy của đám tư bản tức nhóm lợi ích đứng sau đề án, đang ẩn núp dưới chiêu bài ‘đại cục’ của quốc gia hay ‘tình hữu nghị’ giữa hai nước và hai đảng cầm quyền.”
Trước những chống đối dữ dội hiếm có về một dự luật, tờ Tuổi Trẻ hôm Thứ Hai, 4 Tháng Sáu, 2018, thấy đăng tải bản tin nói ông Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc “lắng nghe các ý kiến khác nhau.”
Tờ Tuổi Trẻ dẫn lời ông Phúc: “Hiện nay dự thảo luật đang trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện để trình Quốc Hội xem xét, thông qua vào cuối kỳ họp này. Chắn chắn là Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội sẽ phân tích các ý kiến góp ý, và cuối cùng Quốc Hội sẽ xem xét, cân nhắc nhiều mặt trước khi thông qua. Thẩm quyền cuối cùng thuộc về Quốc Hội.”
Tức là ông nói nếu dự luật nêu trên được thông qua là tội “Quốc Hội,” không phải tội ông. Tuy nhiên, các dự luật đưa ra Quốc Hội biểu quyết đều do các cơ quan ban ngành trong chính phủ soạn thảo, do các ông trong chính phủ và chóp bu đảng trong Bộ Chính Trị “quyết” rồi đẩy sang Quốc Hội “con dấu cao su” bấm nút. (TN)

Tuesday, May 29, 2018

Công an tiếp tay côn đồ đốt rừng thông của Đan Viện Thiên An

Công an tiếp tay côn đồ đốt rừng thông của Đan Viện Thiên An
Các tu sĩ dòng Benedictine thuộc Đan Viện Thiên An ở Huế chỉ trích nhà cầm quyền địa phương không điều tra những vụ cháy rừng có dấu vết phóng hỏa. Trong khi đó, các chi tiết về những vụ cháy rừng mới nhất cho thấy hiện tượng công an tiếp tay cho côn đồ ngăn cản các đan sĩ chữa cháy.
Báo mạng UCA News hôm Thứ Ba 29/05 dẫn lời Đan sĩ Stanislas Trần Minh Vọng kể lại hai vụ cháy mới nhất trong rừng thông xung quanh Đan Viện Thiên An vào hai ngày 22 và 23 tháng 5. Sư huynh Vọng, 81 tuổi, cho biết khoảng 50 đan sĩ đã dùng ống nước, cuốc xẻng, dao và những dụng cụ khác để dập tắt ngọn lửa thứ nhất chỉ cách đan viện khoảng 300 mét. Trong lúc đó, một nhóm côn đồ xuất hiện, la hét và tìm cách ngăn cản các đan sĩ dập tắt ngọn lửa lan dần về phía đan viện. Bọn côn đồ còn nói với các đan sĩ rằng, khu rừng này không thuộc về đan viện. Hai công an viên xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, có mặt tại đó nhưng hoàn toàn không giúp dập lửa. Thậm chí, theo lời kể của Sư huynh Vọng, hai công an viên này còn giật máy quay phim từ tay một số đan sĩ tìm cách thu thập bằng chứng về vụ hỏa hoạn.
Vụ cháy thứ hai được các đan sĩ dập tắt với sự giúp sức của một nhóm binh sĩ đóng gần đó. Linh mục Louis Gonzaga Đặng Hùng Tân, người đứng đầu Đan Viện Thiên An, cho biết từ đầu năm đến nay đã xảy ra bốn vụ cháy, phá hủy 5 héc ta rừng thông do các đan sĩ trồng từ nhiều thập niên trước. Theo Linh mục Tân, sau khi xem xét chứng cứ tại chỗ, các đan sĩ đoan chắc rằng các vụ hỏa hoạn này là do con người gây ra. Khu vực này hiện đang trong mùa khô kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9. Năm bồn chứa nước mưa tại đan viện đã cạn, và các đan sĩ phải mang nước từ cách xa 10km về sử dụng hàng ngày. Họ không được sử dụng nước hồ thủy tiên ngay bên cạnh đan viện, vì hồ này đã bị nhà cầm quyền cộng sản tịch thu.
Huy Lam / SBTN

Đường sắt Việt Nam ‘ở thời kỳ mông muội’ với 4 tai nạn trong 4 ngày

Đường sắt Việt Nam ‘ở thời kỳ mông muội’ với 4 tai nạn trong 4 ngày
Từ sáng Thứ Năm 24/05 cho tới trưa Chủ Nhật 27/05, ngành đường sắt Việt Nam chứng kiến bốn tai nạn liên tiếp, khiến cho một đại biểu quốc hội CSVN buông lời ta thán rằng: “Hạ tầng đường sắt đang ở thời kỳ ‘mông muội'”.
Đó là nhận định của ông Lưu Bình Nhưỡng, ủy viên thường trực của Uỷ Ban Về Các Vấn Đề Xã Hội, đưa ra trước báo giới bên lề một buổi họp quốc hội hôm Thứ Hai 28/05. Loạt tai nạn đường sắt kinh hoàng bắt đầu lúc nửa đêm về sáng Thứ Năm, khi đoàn tàu SE19 từ Hà Nội vào Đà Nẵng đến ga Trường Lâm, tỉnh Thanh Hóa, thì đâm vào một chiếc xe vận tải, làm 2 người chết, 10 người bị thương, đầu máy và 6 toa xe bị lật. Khoảng 4 giờ rưỡi chiều Thứ Bảy, tại ga Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, đoàn tàu hàng ASY2 đi vào ga theo hướng nam-bắc đâm vào đoàn tàu hàng 2469 đang dồn toa theo hướng ngược lại. Hai đoàn tàu tông thẳng vào nhau, làm 4 toa xe hàng trật khỏi đường ray, hai đầu máy hư hỏng nặng. Chỉ 20 phút sau, một đoàn tàu hàng chạy hướng nam-bắc kéo theo 27 toa xe vào ga Yên Xuân, tỉnh Nghệ An, bị trật bánh tại hai toa 3 và 4, làm 30 mét đường ray và hàng trăm tà vẹt bị hư hỏng. Đến 1 giờ trưa Chủ Nhật, đoàn tàu hàng SH3 chạy theo hướng bắc-nam, khi tới xã Diễn An, tỉnh Nghệ An, đâm vào một xe bồn trộn bê tông, làm đầu máy tàu bị hư nhẹ, còn xe bồn bị hỏng nặng.
Huy Lam / SBTN

Quán ăn ở Hải Phòng thu ‘tiền ghế ngồi’ của khách hàng

Quán ăn ở Hải Phòng thu ‘tiền ghế ngồi’ của khách hàng
Văn hóa thu tiền lan rộng theo quốc sách xây dựng cầu đường và thu lộ phí BOT của nhà cầm quyền CSVN.
Mới đây một chủ tịch phường ở Hải Phòng bị chỉ trích do để xảy ra sự việc du khách bị một chủ quán thu ‘tiền ghế ngồi’. Uỷ ban nhân dân quận Đồ Sơn hôm Thứ Ba 29/05 có cuộc họp để chấn chỉnh ngành du lịch, trong đó có việc xem xét trách nhiệm đối với chủ tịch phường Vạn Hương, vì để xảy ra việc một nhóm du khách từ Hà Nội bị thu tiền chỗ ngồi trong quán ăn.
Bà Trương Thị Nhung, 56 tuổi, cư dân phường Ngọc Hải, không được cấp phép kinh doanh ăn uống tại khu 2 Đồ Sơn, nhưng vẫn tự ý mở quán ăn. Trước đó vào tối 25 tháng 5, nhóm 20 du khách từ Hà Nội tới khu du lịch Đồ Sơn. Họ vào quán của bà Nhung ăn uống. Ngoài tiền ăn, bà Nhung còn tính thêm 630,000 đồng “tiền ghế ngồi” cho hai bàn ăn. Sau khi nhóm du khách khiếu nại, vào hôm Thứ Hai, bà Nhung được mời lên Sở Du Lịch làm việc và ký biên bản nộp phạt vi phạm hành chính.
Bà Nhung thừa nhận kinh doanh trái phép, “bắt chẹt” đoàn khách Hà Nội vào ăn tối và tự ý thu thêm “tiền ghế ngồi”. Nhưng bà Nhung cũng tiết lộ rằng, bà đã thuê lại địa điểm của một người khác và hàng tháng nộp tiền bảo kê cho nên mới được chính quyền sở tại bỏ qua.
Huy Lam / SBTN

Tư pháp CSVN: Luật sư chỉ là cái bóng

Văn Lang/Người Việt

Luật Sư Nguyễn Văn Đài (giữa), người bị chế độ độc tài đảng trị tuyên án 15 năm tù và 5 năm quản chế, chỉ vì đấu tranh cho tự do dân chủ và nền tư pháp minh bạch. (Hình: Getty Images)
Trong thế giới ngày nay, hầu như không có nền tư pháp của bất kỳ quốc gia nào lại có thể vắng bóng vai trò của luật sư. Thậm chí, để đo lường sự văn minh – dân chủ của một quốc gia, người ta tính tỉ lệ bác sĩ, luật sư theo đầu người (trên tổng dân số).
Không ở đâu như Việt Nam, khẩu hiệu “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” được giăng, mắc ở khắp nơi như là… mạng nhện.
Sau này, người ta bỏ đi hai chữ “hiến pháp” trong khẩu hiệu, vì thấy kêu gọi như vậy thì… nguy hiểm quá. Vì hiến pháp thì ghi rõ, các quyền “Tự do hội họp, tự do biểu tình, tự do lập đảng…” trong khi luật pháp thì… cấm ngặt. Do vậy, khẩu hiệu sau này được thu gọn lại, là: “Sống, làm việc theo pháp luật.”
Nhưng làm thế nào để sống và làm việc theo pháp luật mà không bị… làm phiền, thì vẫn là một con đường nhiều nhiêu khê.
Vì ở Việt Nam, chẳng những thiếu vắng các luật sư giỏi chuyên ngành, mà tệ hơn vai trò của luật sư chỉ là một… “cái bóng” mờ nhạt trong quá trình tố tụng. Như ở các nước, quyền được giữ im lặng của nghi can là quyền đầu tiên được nêu, và quá trình thẩm vấn chỉ được diễn ra khi có sự hiện diện của luật sư đại diện cho quyền lợi của nghi can.
Ở Việt Nam thì ngược lại, luật sư muốn được bào chữa cho thân chủ, hay muốn gặp gỡ thân chủ thì phải làm đơn xin phép cơ quan… công an. Và nếu bị từ chối, hoặc không ai thèm trả lời, thì luật sư cũng chỉ biết kêu trời, rồi… lủi thủi ra về.
Thực chất, luật sư được “ra đời” chỉ là đề làm tròn vai diễn trên sân khấu tòa án, để cho thế giới bên ngoài nhìn vô thấy xứ sở này cũng có dân chủ. Bị can được xét sử với luật sư biện hộ, chứ không phải là xứ “rừng xanh,” tùy tiện phán án mà không qua quá trình… luận tội. Nhưng có lẽ từ năm 1959, khi quốc hội Cộng Sản ra một “đạo luật” về cái gọi là “thẩm phán nhân dân,” thì đã là một ấn định chung cuộc cho các bị can. Là vì, “thẩm phán nhân dân” không phải là các bồi thẩm đoàn bình thường, mà họ là hiện thân của chuyên chính vô sản, mang trong người tính chiến đấu của giai cấp, và đều là đảng viên Cộng Sản. Do vậy, hầu như chưa có luật sư nào “cãi” thành công trong các vụ án mang tính chính trị, hay thân chủ là người dấn thân cho dân chủ, hay dân oan…
Thường với các trường hợp trên, luật sư đa số đều khuyên thân chủ nên nhận tội, để được hưởng khoan hồng (tức xin giảm án). Vì luật sư biết là với đa số các “án điểm” đều đã có quyết định từ trước. Tranh biện trước tòa chỉ là một trò trình diễn, đôi khi để tránh dây dưa, tòa chỉ diễn một loáng (cho có lệ), rồi vội vàng kết thúc, bất chấp dư luận quốc nội, quốc ngoại.
Còn với những vụ hình sự, thì diễn biến lại theo một tiến trình khác.
Luật sư về các vụ kinh tế – hình sự thì không bao giờ “quảng cáo” là mình uyên thâm về luật pháp, thông thạo các quy trình tố tụng. Mà đa số họ chỉ “khoe” là có quen biết “lớn” với bên tòa án, và khuyên thân chủ nếu biết “bôi trơn” tòa án, thì rồi… việc gì cũng xong. Nói như ông trùm N.C kẻ “vang bóng một thời” ở Sài Gòn, thì : “Cái gì không mua được bằng tiền, thì mua được bằng tiền… nhiều hơn!”
Trên thực tế, ông trùm N.C với tiền và gái đã mua tới tận giới “chóp bu” trong thế giới Cộng Sản. Nhưng trong xã hội Cộng Sản (dù là kinh tế thị trường), thì bất cứ điều gì, kẻ nào đã uy hiếp tới quyền lực độc tôn của đảng Cộng Sản, coi như đã tự ký tên vào bản án tử hình.
Với dân (dân đen, dân oan), giới xã hội đen (dù là các ông trùm được các thế lực che chở), giới đấu tranh cho nhân quyền – dân chủ, kể cả giới luật sư. Tất cả đều chỉ là “con kiến,” “củ khoai” trước pháp đình Cộng Sản.
Nhưng ngay cả với giới cán bộ – đảng viên, kể cả ủy viên trung ương, thậm chí ủy viên Bộ Chính Trị (với nhân số đếm trên đầu ngón tay, của một cơ quan quyền lực nhất trong xã hội cộng sản). Khi bị “quăng” ra tòa thì họ cũng “bó tay,” số có chút sĩ khí thì cũng chỉ biết im lặng, nuốt “tủi hờn” vào bên trong, phó thác cuộc đời cho đảng. Số yếu bóng vía hơn thì khóc lóc, van xin mong “đấng tối cao – kẻ đang nắm quyền sinh sát trong đảng” tha tội, mở ra cho một con đường sống…
Chuyện khác biệt tư tưởng, tính cách giữa các anh em trong cùng một gia đình là điều cũng bình thường. Huống hồ khác biệt trong đảng cầm quyền (dù ở bất cứ nước nào). Nhưng trong xã hội văn minh – dân chủ, người cùng đảng không đến nỗi phải “tàn sát” nhau. Vì hai lý do, thứ nhất quyền lực phụ thuộc vào lá phiếu của người dân, thứ hai tòa án không xét xử và kết tội những vấn đề “trừu tượng,” thí dụ như về tư tưởng…
Do vậy, nếu không bằng lòng với đảng trưởng hoặc đường lối của đảng. Người trong đảng có quyền tách ra, lập một đảng khác, vận động tranh cử theo đường lối của mình.
Nhưng ở Việt Nam chuyện không như vậy. Khác biệt thì coi như là… tự sát, hoặc chỉ nghi là khác biệt (không cần chứng cứ) là có thể bị tống thẳng vào tù (mà không cần xét xử). Như thời của Lê Duẩn, để đảm bảo đường lối của mình không ai dám chống đối. Lê Duẩn đã đưa hơn 300 sĩ quan, đảng viên – những người đang nắm những chức vụ quan trọng trong đảng, trong quân đội và chính phủ vào nhà giam mà không cần tới một phiên tòa “hoành tráng.” Gọi chung vụ án này là vụ “xét lại – chống đảng.” Nhiều năm sau, số sống sót được ra tù mà không có một lời xin lỗi, hay giải thích…
Và mới đây, cựu Ủy Viên Bộ Chính Trị – Đinh La Thăng – đã phải “cảm thán” trước phiên tòa xét xử mình “Có tới sáu tầng quản lý, mà cuối cùng chỉ có mình tôi phải chịu trách nhiệm.”
Nhiều người không ưa Đinh La Thăng, nhưng đứng trên phương diện pháp lý, thì thấy từ “quy án” mấy ngàn tỷ, sau rút xuống còn mấy trăm tỷ, nhưng không đưa ra được chúng cớ. Đinh La Thăng có bao nhiêu biệt phủ, biệt điện? Có bao nhiêu xe hơi, bồ nhí? Không thấy chứng cớ…
Vai trò của người luật sư trong quá trình tố tụng, cũng như tranh biện trước tòa là đảm bảo cho thân chủ (bị can) được xét xử công bằng, đúng thủ tục, đúng tội danh (tránh bị quy kết những tội do tòa áp đặt, trái pháp luật).
Nhưng vai trò của luật sư trong xã hội “tranh tối tranh sáng” (kiểu kinh tế thị trường, định hướng XHCN) không phải ai cũng hiểu.
Như trong vụ án, công an dùng nhục hình với dân ở Cà Mau. Trước tòa, các luật sư biện hộ cho các bị cáo (là công an) như việc làm bình thường của việc bảo vệ luật pháp. Được tòa cho nói lời cuối cùng. Các bị cáo là công an không xin giảm án, mà chỉ xin gởi lời cám ơn và xin lỗi tới các luật sư. Vì trước kia họ không hiểu vai trò của người luật sư, nên thường có những thái độ không tốt với luật sư. Nay đứng trước vành móng ngựa, được luật sư bào chữa thì họ đã hiểu.
Chừng nào trong một xã hội mà sự độc lập của ngành tư pháp còn bị coi rẻ, vai trò của người luật sư còn mờ nhạt (hoặc vắng bóng). Thì trong xã hội ấy, từ người thứ dân cho tới các ủy viên, kể cả ủy viên Bộ Chính Trị đều chỉ có thể là những tù nhân… dự khuyết. (Văn Lang)

Việt Nam: Công ty nhà nước ‘giấu lỗ, báo lời không thật’

Nhà máy xơ sợi Đình Vũ (PVTex) của tập đoàn Dầu khí Việt Nam thua lỗ hàng ngàn tỷ đồng đang “đắp chiếu.” Lãnh đạo của PVTex là Vũ Đình Duy hiện đang trốn ở Đức. (Hình: Thanh Niên)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Lần đầu tiên, người ta thấy một ông tổng thành tra chính phủ CSVN kêu rằng “đa số” các công ty quốc doanh “giấu lỗ, báo lời không thật” vì sự thiếu lương thiện của các quan chức cầm đầu.
Trong cuộc họp vừa diễn ra ở quốc hội CSVN được VNExpress tường thuật, ông Lê Minh Khái, tổng thanh tra chính phủ cho biết “qua thanh tra cho thấy các mánh khóe trong báo cáo tài chính của Doanh Nghiệp Nhà Nước (DNNN) thường xoay quanh xu hướng: Đơn vị kinh doanh có hiệu quả thì thường không báo cáo hết, kể cả hoạt động sản xuất kinh doanh…” trong khi “Đơn vị lỗ, thất thoát tài sản nhà nước lại cố tình tạo ra những khoản lợi không có thật, che giấu các khoản lỗ, nhằm tránh trách nhiệm…”
Tình trạng gian dối như thế được ông Lê Minh Khái mô tả “Cái này là đa số.”
Ngay tại chính các công ty quốc doanh cũng có sẵn bộ phận kiểm tra, thanh tra nội bộ, nhất là các công ty lớn thuộc dạng tập đoàn, tổng công ty. Tuy nhiên, ông Khái nói “nhiều trường hợp lại không phát hiện ra sai sót.”
Bởi vậy “Các sai phạm lớn nhất là sai về hạch toán doanh thu chi phí, sai về sản xuất kinh doanh, nộp thuế, mua sắm tài sản công… không đúng giá trị thực, hoặc đầu tư ra ngoài ngành… Tiếp theo là sử dụng cơ cấu vốn không hợp lý, vốn ngắn hạn thì sử dụng dài hạn, vốn dài hạn đem sử dụng trong ngắn hạn, làm cho tình hình tài chính phức tạp,” ông Khái kêu ca trên tờ điện tử VNExpress.
Tình trạng “lãi giả, lỗ thật” của hệ thống kinh tài quốc doanh CSVN vốn được biết đến từ lâu. Những đảng viên được cắt cử vào các chức vụ cầm đầu phải là những tay chân thân tín của những kẻ đương quyền. Nạn bè phái, tìm cách lươn lẹo để tham nhũng trong hệ thống quốc doanh làm thất thoát những số tiền rất lớn thỉnh thoảng mới chỉ thấy một ít quan chức bị hành tội khi không còn dịp để che đậy.
Theo các con số báo cáo ở Quốc Hội CSVN, tính đến cuối năm 2016 “cả nước còn 583 doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, 273 doanh nghiệp cổ phần. Tổng tài sản tại doanh nghiệp nhà nước giữ 100% là hơn 3.05 triệu tỷ đồng (tăng 45.8%), trong đó vốn nhà nước gần 1.4 triệu tỷ.”
Nhưng nhóm quốc doanh này hiện đang ôm “tổng nợ phải trả cao, từ gần 1.3 triệu tỷ đồng năm 2011 lên xấp xỉ 1.63 triệu tỷ vào cuối 2016” tức nợ ngập đầu, cao hơn số vốn bỏ ra.
Hiện đang có hơn chục đại công ty kinh doanh thua lỗ đang “đắp chiếu” hoặc xây dựng dở dang rồi cũng “đắp chiếu” gây thất thoát hàng chục ngàn tỉ đồng từng được phơi bày trên mặt báo chí của chế độ như công ty CP Hóa dầu và Xơ Sợi Dầu khí (PVTex), tổng công ty cổ phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam (PVC), công ty Công Nghiệp Tàu Thủy Dung Quất (DQS)… đều là của Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam (PVN).
Bên cạnh đó, các tập đoàn nhà nước CSVN đem $7 tỷ đi đầu tư nước ngoài, nhưng “hơn 25% dự án báo lỗ, gần 30% dự án phát sinh lỗ luỹ kế” phần lớn trong lĩnh vực viễn thông, thăm dò khai thác dầu khí, khai thác khoáng sản, trồng cây cao su…
Các định chế tài chính quốc tế đã nhiều lần đốc thúc nhà cầm quyền Việt Nam giải tán hệ thống quốc doanh vì chúng chỉ là cơ hội cho các đảng viên đục khoét, tham nhũng, gây thất thoát ngân sách. Dù vậy, bản báo cáo thấy đọc trong các kỳ họp đại hội đảng vẫn cả quyết lấy doanh nghiệp nhà nước “làm chủ đạo” để tiến lên cái thiên đường ảo tưởng “xã hội chủ nghĩa.”
Ngày 24 Tháng Mười, 2013, trong một buổi thảo luận ở Quốc Hội về sửa đổi Hiến Pháp, ông Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng thú nhận: “Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” (TN) 

Nửa thế kỷ dậm chân tại chỗ

Bộ Giao thông vận tải và Tổng cục Đường sắt đang bao biện về những vụ tai nạn đường sắt xảy ra liên tiếp thời gian qua, nào là thế lọ, nào là thế chai…
Kể từ khi người Pháp mở đường sắt và đưa vào hoạt động ở xứ An Nam, tới nay đã hơn 1 thế kỷ mấy chục năm (chính xác từ năm 1881). Tàu xuyên Việt của người Pháp lúc thịnh nhất chạy chỉ mất ngày rưỡi là từ ga Hàng Cỏ Hà Nội đến ga chợ Bến Thành Sài Gòn. Đường sắt được kéo về tận thị xã Mỹ Tho (thuộc tỉnh Tiền Giang bây giờ), là tuyến đường sắt đầu tiên trên cả nước. Họ còn đục bằng tay cả núi Hải Vân để cái hầm hỏa xa trở thành một kỳ quan suốt bao nhiêu năm, tới tận bây giờ…
Chỉ có điều, do bị hạn chế về cái gì đó, có thể là khoa học kỹ thuật chưa phát triển, toa tàu của người Pháp không có cái hố xí kín, cứ mặc cho hành khách xả thẳng xuống đường ray đủ thứ xú uế (phân, nước đái). Hậu quả: Mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường; buộc nhân viên bảo quản đường ray phải làm việc trong môi trường bẩn thỉu; mau hư hỏng đường ray và tà vẹt; gây ấn tượng xấu về ngành giao thông hiện đại…
Nhưng đánh đuổi Pháp xong rồi, chính quyền cách mạng tiếp thu mọi thứ do người Pháp để lại (sau này ở miền Nam thì từ VN cộng hòa), đã cố gắng tạo dựng cơ đồ, trong đó có cơ sở vật chất ngành giao thông. Không ai phủ nhận, với gần nửa thế kỷ sau khi khi kết thúc chiến tranh, nhà nước mới đã làm thêm nhiều đường sá, cầu cống, xe cộ, tàu bè. Việc đi lại so với những năm đầu hậu chiến (chứ không so với thời Pháp và thời VN cộng hòa) ngày một dễ chịu.
Nhưng chỉ riêng ngành đường sắt là dậm chân tại chỗ. Hơn hai phần ba thế kỷ chỉ dậm chân mốt hai mốt, sau đó theo “hướng chuồng lợn, quay”.
Đường sắt tới tận bay giờ vẫn dùng khổ đường cũ, thời gian hành trình vẫn sên bò cả tàu khách lẫn tàu chợ tàu hàng, còn chậm hơn cả tàu thực dân Pháp, tai nạn đường sắt vẫn thường xuyên xảy ra, vé thì giá đắt trên giời, tết nhất không năm nào không hành hạ người đi lại đến mửa mật, toa tàu vẫn cũ kỹ lạc hậu, và nhất là vẫn còn những đoàn tàu trổ cái toilet xuống đường ray, xả thẳng xú uế xuống đường.
Trong bộ máy của chế độ vẫn đủ cả bộ giao thông, cả tổng cục đường sắt, các công ty hỏa xa… nhưng dường như họ chẳng làm gì, cứ để mặc ngành đường sắt dậm chân trong mùi xú uế. Cái đó họ gọi là quản lý nhà nước. Chán./.

Thủ Thiêm chìm xuồng?

Cứ nhìn qua nội dung báo cáo của chính quyền TP.HCM cho Chính phủ về vụ Thủ Thiêm thì không khó để hình dung ra vụ việc chấn động xã hội này đang tiến đến tương lai ‘đầu voi đuôi chuột’ và ‘đánh chuột sợ vỡ bình’.
Vào đầu kỳ họp quốc hội đang diễn ra trong tháng Năm năm 2018, bản báo cáo trên, được thông tin bởi báo Người Lao Động, đã hoàn toàn không giải thích thỏa đáng về những dấu hỏi rất lớn mà dư luận xã hội và báo chí công phẫn nêu ra trong tuẩn đầu tháng Năm. Bản báo cáo này cũng không thừa nhận bất kỳ cái sai nào thuộc về trách nhiệm của đảng bộ và chính quyền TP.HCM, mà chỉ thòng một câu ‘UBND TP đang xem xét, trao đổi với Thanh tra Chính phủ để thống nhất hướng xử lý báo cáo Thủ tướng Chính phủ’.
Như vậy, toàn bộ vụ Thủ Thiêm đang phụ thuộc vào kết quả của Thanh tra chính phủ. Kết quả này có thể được công bố vào tháng Sáu tới, nhưng xem ra không mấy hy vọng sẽ làm rõ vô số khuất tất trong vụ này.
Vào trung tuần tháng Năm năm 2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có một cuộc họp chính phủ và cũng đã giao trách nhiệm thanh tra cho Thanh tra chính phủ.
Tuy nhiên trong kết luận chỉ đạo của mình, Thủ tướng Phúc dường như đã cố tình bỏ qua việc làm rõ tính pháp lý của Quyết định 367 của Thủ tướng Võ Văn Kiệt phê duyệt quy hoạch khu độ thị mới Thủ Thiêm vào năm 1996 và một quyết định bị xem là ký vượt quyền của Phó chủ tịch chính quyền TP.HCM Nguyễn Văn Đua vào năm 2005 khi ‘thay thế’ Quyết định 367 trên. Ông Phúc cũng tỏ thái độ rất lập lờ khi chấp nhận 99% diện tích giải tỏa của chính quyền TP.HCM, tức chấp nhận cả phần ít nhất 140 đất giải tỏa lố mà đã đẩy đuổi cưỡng chế hàng chục ngàn người dân khỏi mảnh đất sinh nhai duy nhất của họ.
Ông Phúc cũng hoàn toàn không đề cập một từ nào về sự biến mất vô cùng khó hiểu của tấm bản đồ gốc quy hoạch Thủ Thiêm được phê duyệt vào năm 1996. Ông Phúc lại chỉ dùng từ ‘sai sót’ đối với trách nhiệm của giới quan chức TP.HCM, trong khi vụ Thủ Thiêm có quá nhiều dấu hiệu của hành vi ‘cố ý làm trái’ và tham nhũng…
Như vậy, có thể nhận ra đã có một sự đồng pha như thể cố ý giữa kết luận chỉ đạo của Thủ tướng Phúc và báo cáo giải trình của chính quyền TP.HCM về vụ Thủ Thiêm.
Sau vô số tiếng khóc xé ruột của người dân Thủ Thiêm, dư luận đang rất nghi ngờ về việc liệu đã có một ý đồ toa rập giữa chính quyền TP.HCM, mà cụ thể là của nhóm lợi ích ‘ăn đất’ Thủ Thiêm và những quan chức lãnh đạo đương nhiệm của thành phố này, với các cơ quan chính phủ và với đích thân Thủ tướng Phúc, để dẫn đến những kết luận của ông Phúc như muốn cho vụ việc này chìm xuồng?
Ngay trước đó, có đồn đoán cho biết có dấu hiệu chính quyền TP.HCM xin trung ương ‘xử lý nội bộ’. Cùng lúc, có tin Trưởng ban Tuyên giáo trung ương Võ Văn Thưởng đã chỉ đạo báo chí ngừng đăng bài về vụ này.
Trong thực tế, vào tuần đầu tiên của tháng Năm năm 2018 đã xảy ra hiện tượng các tờ báo nhà nước được bật đèn xanh và do đó được ‘mở miệng’ gần như không hạn chế và một vài facebooker ẩn danh liên tiếp tung bài ‘đánh’ phe nhóm Lê Thanh Hải.
Đã có những tờ báo chỉ mặt điểm tên các quan chức đứng đầu bảng về liên đới trách nhiệm phê duyệt quy hoạch Thủ Thiêm trong quá khứ: Nguyễn Văn Đua – Phó chủ tịch ủy ban nhân dân TP.HCM, Lê Thanh Hải – Chủ tịch TP.HCM và sau đó là Bí thư thành ủy TP.HCM.
Nguyễn Văn Đua bị ‘tố’ là đã ký một quyết định về quy hoạch Thủ Thiêm mà đã vượt quyền khi phủ nhận cả quyết định trước đó của Thủ tướng chính phủ.
Vụ giải tỏa Thủ Thiêm diễn ra trong suốt chiều dài thời gian mà Lê Thanh Hải đảm nhiệm chức vụ chủ tịch TP.HCM (2001-2006) và 2 nhiệm kỳ liên tiếp giữ chức Bí thư Thành ủy TP.HCM (2006-2015).
Lê Thanh Hải lại là quan chức bị dân oan Thủ Thiêm tố cáo ghê gớm nhất về ‘cướp đất vàng’ ở Thủ Thiêm. Vào thời đó, người được xem là ‘đệ tử ruột’ của ông Hải là Tất Thành Cang là bí thư quận 2 đã có nhiều biểu hiện tiếp tay rất đắc lực cho các nhóm lợi ích để cưỡng chế đẩy đuổi dân nghèo Thủ Thiêm ra khỏi mảnh đất duy nhất của họ.
Thủ Thiêm là một khu vực được giới bất động sản Sài Gòn xem là cực kỳ đắc địa, là khu ‘đất vàng’ chỉ cách khu trung tâm Quận Nhất có ba trăm thước bề rộng mặt sông Sài Gòn. Vào thời điểm công bố đền bù lần đầu tiên cho dân, giá đền bù chỉ từ vài trăm ngàn đến vài triệu đồng một thước vuông đất, trong khi giá thị trường khi đó đã lên đến vài ba chục triệu đồng một thước vuông. Còn hiện thời, giá thị trường năm 2018 đã vọt đến hàng trăm triệu đồng cho mỗi thước vuông đất ở Thủ Thiêm. Với mức giá đó và ứng với khoảng 150 ha đất giải tỏa lố – mà hoàn toàn có thể xem là ‘giải tỏa ăn cướp’, các doanh nghiệp đầu tư vào khu đô thị Thủ Thiêm và giới quan chức ăn theo có thể thu lời ngay cho riêng tiền chênh lệch đất ít nhất 140 ngàn tỷ đồng, tương đương hơn 6 tỷ USD!
Nhưng sang tuần tiếp theo của tháng Năm đã xảy ra một hiện tượng kỳ lạ: cũng báo chí nhà nước và cũng những tờ báo vừa lên tiếng mạnh mẽ nhất về vụ Thủ Thiêm, đã im bặt như thể bị ai đó khóa miệng.
Một lần nữa kể từ sau vụ Formosa, ‘nền báo chí cách mạng’ cùng hơn 800 tờ báo như thể bị một cái bạt tai ‘rọ mõm’.
Phải chăng sau một thời gian làm đình đám và muốn ‘đốt lò’ vụ Thủ Thiêm, Nguyễn Phú Trọng lại phát hiện ra vụ này liên đới quá nhiều quan chức, không chỉ quan chức đã về hưu mà cả những quan chức đương nhiệm và còn là quan chức cao cấp, nên ông Trọng đã phải vội vã cho Ban Tuyên giáo trung ương chỉ đạo báo chí ‘câm miệng’, còn ‘lò’ tạm ngừng hoạt động và đang tính toán lại làm sao để ‘đập chuột nhưng không vỡ bình’?

Dân chủ và sức mạnh nghị viện

Lịch sử nền dân chủ gắn liền với sự hình thành và lớn mạnh của nghị viện. Vậy nghị viện là gì? Chắc chắn ai cũng trả lời được câu hỏi này. Đó là cơ quan lập pháp. Nhưng trả lời “đó là cơ quan lập pháp” theo tôi, đó là câu trả lời chưa thỏa đáng. Vì sao?
Thực ra lập pháp đơn giản là là viết luật cho nhà nước thi hành. Việc viết ra luật pháp nó bắt nguồn từ động cơ nào mới là quan trọng. Tại sao nước Mỹ có đến 80% thành phần da trắng mà nghị viện của họ vẫn phải biểu quyết một đạo luật mang lại quyền lợi cho người da đen như Đạo luật Dân quyền năm 1963? Tại sao ở Việt Nam, một điều luật thể hiện sự gian trá trơ trẽn ngay trong cách dùng từ như vụ “thu giá” mà Quốc hội CS vẫn thông qua? Hay một luật vi phạm nguyên tắc tố tụng như buộc luật sư tố cáo thân chủ vẫn được nghị viện CS thông qua? Tất cả, cũng đều xuất phát từ nguồn gốc của kẻ đại diện mà ra.
Lịch sử nghị viện ở Âu Châu có từ 500 năm TCN. Ban đầu, nó là hội đồng cố vấn cho nhà vua, mà kẻ đại diện là những lãnh chúa thuộc La Mã. Nói là cố vấn chỉ là góp ý, nhưng theo thời gian quyền lực của hội đồng này mạnh lên dần và lúc thịnh nó truất phế luôn vua và bầu quan hành pháp có nhiệm kì. Hội đồng đó được gọi là Viện Nguyên Lão. Sau này còn có thêm viện thứ dân nhưng chức năng viện thứ dân mờ nhạt chứ không mạnh như Hạ Viện ngày nay. Dù viện thứ dân yếu, nhưng nó là mẫu để hình hành quốc hội 2 viện sau này. Nền cộng hoà La Mã tồn tại 500 rồi suy vong và chế độ cộng hòa La Mã cổ đại bị khai tử. Nhưng đó là một mô hình để 18 thế kỉ sau nó trở lại hoàn hảo hơn.
Vì sao Âu Châu là cái nôi của nền văn minh nhân loại? Tất cả những mô hình chính trị của xã hội tiến bộ khắp thế giới hiện nay điều có nguồn gốc từ Âu Châu cả. Chưa nói đến khoa học kĩ thuật hay khoa học quản lí, chỉ nói đến loại hình chính trị, thì nhiêu đó cũng đủ làm cho thế giới phát triển vượt bậc.
Tiền thân của dân chủ – tam quyền phân lập là quân chủ chuyên chế (hay còn gọi là phong kiến) kiểu Tây Âu, một loại quân chủ có tồn tại nghị viện làm đối trọng với nhà vua. Từ chỗ nghị viện là nơi tiếng nói lãnh chúa, sau này nó là nơi của tầng lớp tư sản. Vì thế, nghị viện ngày một mâu thuẫn với nhà vua và nổ ra cuộc xung đột. Nghị viện thắng sẽ truất quyền hành chuyên chế của nhà vua và từ đó mới có dân chủ. Cách mạng Anh 1641-1652 là truất phế vua tập quyền và lập nên vua biểu tượng. Cách mạng Pháp 1789-1792 là sự xung đột giữa Quốc hội và vua Luis XVI lập nên đệ nhất cộng hòa Pháp.
Riêng phong kiến Á Đông cũng có vua nắm tập quyền, nhưng trong bộ máy chính quyền không có nghị viện. Vì thế phong kiến Á Đông là loại phong kiến không hề chứa mầm móng dân chủ. May sao, sau đệ nhị thế chiến, phong kiến Á Đông sụp gần hết và nhường lại cho thể chế cộng hòa ra đời.
Vì rất nhiều ngàn năm Á Đông chìm trong phong kiến không nghị viện nên nó thành ra xã hội bị thuần hóa hoàn toàn bởi quyền lực. Ở Á Đông, quốc gia dân chủ thực sự rất ít. Ở Á Đông, dân chủ hoàn toàn không mang tính phổ quát như Tây Âu. Vì sao? Vì đã bị thuần hóa trước quyền lực ngàn băm nên dù cho áp mô hình tam quyền phân lập nó cũng trở lại độc tài ở chừng mực nào đó.
Độc tài được ví như hồn Trương Ba da hàng thịt. Về bề ngoài có hành pháp, lập pháp và tư pháp. Nhưng đó là trá hình, nó hoàn toàn không độc lập. Lập pháp và tư pháp làm tay sai cho hành pháp thì đó là độc tài cá nhân. Còn cả 3 gồm hành pháp, lập pháp và tư pháp làm nô lệ cho một nhóm người thì đó là độc tài toàn trị. Dù cho độc tài cá nhân hay độc tài toàn trị thì quốc hội lập pháp là con rối.
Cũng vì thứ Quốc hội kiểu con rối nên mới có chuyện quốc hội Việt Nam biểu quyết cho một luật thay chữ “thu phí” thành thu giá là vậy. Ngày xưa Triệu Cao chỉ hươu nói ngựa được thì nay đảng chỉ “thu phí” là “thu giá” chúng cũng gật thôi. Loại Quốc hội CS là một thứ đáng khinh, Đảng chỉ cứt nói cơm chúng cũng gật. Vì thứ nghị viện này nó thế, nó đại diện cho quyền lợi của một tập đoàn chính trị tham tàn chứ có là tiếng nói người dân thực sự đâu?

Chỉ tranh cãi ‘tăng trưởng dựa vào dầu thô’ mà không lo dầu thô sắp cạn!

Thiền Lâm
Việt Nam – Cali Today News – Kỳ họp quốc hội đang diễn ra vào tháng Năm năm 2018 đã bất chợt dậy lên ‘không khí tranh luận sôi nổi và kịch liệt’ giữa các đại biểu quốc hội về ‘tăng trưởng có dựa vào dầu thô hay không’, trong khi không có bất kỳ một ý kiến nào lo ngại về nguy cơ dự trữ dầu thô của Việt Nam sắp cạn trong ít năm tới, và chính thể độc đảng ở Việt Nam đang mất ăn ngay trên vùng chủ quyền của mình bởi Trung Quốc vừa gây ra một sức ép đe dọa mới khi thiết kế ‘đường lưỡi bò’ liếm qua 67 lô dầu khí của Việt Nam.
“Nếu không dựa vào 1,29 triệu tấn dầu thô khai thác vượt kế hoạch thì tăng trưởng năm 2017 không thể đạt kế hoạch” – đại biểu Hoàng Quang Hàm khơi ngòi cuộc tranh cãi ‘thuận ý đảng’ trên.
Ông Hàm cũng giải thích thêm là “Bởi 1 triệu tấn dầu thô sẽ đóng góp 0,3% tăng trưởng, nếu không có số dầu thô tăng thêm GDP có thể chỉ đạt 6,4-6,6%”, khi đề cập đến con số tăng trưởng 6,81% vào năm 2017 đầy khoe khoang thành tích của Thủ tướng Phúc.
Trong khi đó, đại biểu Trần Quang Chiểu “khẳng định không có chuyện tăng trưởng 2017 dựa vào dầu thô và các tài nguyên khác thuộc lĩnh vực khai khoáng. Cụ thể, chỉ tiêu khai thác dầu thô năm 2016 là 15,2 triệu tấn nhưng thực tế khai thác hơn 13,5 triệu tấn, nghĩa là hụt đi 1,6 triệu tấn. Như vậy là dầu thô đã tăng trưởng âm”.
Còn đại biểu Nguyễn Quang Dũng tranh luận với đại biểu Hàm rằng “Báo cáo 198 của Chính phủ năm 2017 cho thấy tổng ngân sách thu 1.288.660 tỉ đồng, thu dầu thô 49.580 tỷ đồng, tỷ lệ 3,8%, tức đóng góp vào tổng thu là không lớn. Cách phát biểu của đại biểu Hàm dễ làm cử tri hiểu rằng tăng trưởng kinh tế năm 2017 là dựa vào dầu thô”…
Nhưng các đại biểu ăn tiền thuế của dân lại như thể cố ý bỏ qua một ‘tin buồn’ mới xuất hiện vào đầu năm 2018 – phát ra bởi ông Từ Thành Nghĩa, Tổng giám đốc Vietsovpetro – mà có thể khiến giới chóp bu Việt Nam mất ngủ: hầu hết các mỏ dầu ở Việt Nam đều đã khai thác trong thời gian dài và hiện đang trong giai đoạn cuối dẫn tới suy giảm sản lượng tự nhiên. Trong đó, mỏ Bạch Hổ cung cấp sản lượng lớn nhất, chiếm hơn 60% sản lượng của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) từ xưa đến nay, đã vào giai đoạn suy kiệt.
“Móng mỏ Bạch Hổ còn quanh quẩn 10 triệu tấn, tối đa chỉ khai thác được 4-5 năm nữa thôi”, ông Từ Thành Nghĩa nói tại Hội nghị tổng kết năm 2017 của PVN. “Việc duy trì mỗi năm khai thác trên 4 triệu tấn là một thách thức”.
Theo báo cáo của PVN, gia tăng trữ lượng dầu khí năm 2017 đạt thấp hơn nhiều so với mục tiêu chiến lược đề ra. Mục tiêu đề ra trong nước là 20-30 triệu tấn/năm và ở nước ngoài là 8-12 triệu tấn/năm (tổng cộng là 28-42 triệu tấn/năm) thì năm 2016, 2017 PVN đều không hoàn thành và đạt thấp hơn nhiều (năm 2016 đạt 16,66 triệu tấn quy dầu và năm 2017 đạt 4,0 triệu tấn quy dầu). Hầu hết các mỏ đều đã khai thác trong thời gian dài và đang trong giai đoạn cuối dẫn tới suy giảm sản lượng tự nhiên hàng năm từ 15% tới trên 30%.
Xuất khẩu dầu thô của Việt Nam bị giảm mạnh. Ảnh: Zing.vn
Vào năm 2010 – 2011, PVN và chính phủ đã ước tính trữ lượng dầu của Việt Nam đủ để khai thác đến năm 2030. Vài năm sau đó khi tốc độ khai thác được đẩy mạnh gấp đôi, “deadline” cho trữ lượng dầu được gia giảm vào năm 2025.
Tuy nhiên trong hai năm trở lại đây, “deadline” mới đã được thiết lập: trữ lượng dầu chỉ còn đủ để khai thác trong 4 -5 năm.
Như vậy, có thể hiểu “deadline” thực sự cho trữ lượng dầu khai thác ở Việt Nam chỉ được khoảng 3 năm nữa, tức đến năm 2021 – trùng với kỳ đại hội đảng lần thứ 13, nếu còn có đại hội này.
Tại kỳ họp quốc hội tháng 5 – 6 năm 2017, Chính phủ còn phải nêu ra một đề xuất đặc biệt: gia tăng sản lượng khai thác dầu thô. Tuy nhiên, phía Ủy ban kinh tế quốc hội lại “lăn tăn” trước đề xuất này. Lý do đơn giản là trữ lượng dầu thô của Việt Nam chẳng còn bao nhiêu, do đó “cứ đào lên mà ăn” như tốc độ hiện nay thì chẳng mấy lúc sẽ hết sạch.
Một trong những tiềm năng có thể cứu vãn ngân sách là mỏ khí đốt Cá Rồng Đỏ ở lô 136/03 thuộc Bãi Tư Chính. Nếu Repsol – một công ty Tây Ban Nha liên doanh với Việt Nam – khoan thăm dò thành công thì ngân sách cùng chế độ Việt Nam sẽ được chia phần không ít.
Nhưng nguồn thu ngoại tệ từ khí đốt của ngân sách Việt Nam lại bị “đối tác chiến lược toàn diện” Trung Quốc thẳng tay bóp nghẹt.
Hai lần liên tiếp vào tháng Bảy năm 2017 và tháng Tư năm 2018, chính quyền Việt Nam đã phải muối mặt yêu cầu ngừng hoạt động thăm dò khí đốt của Repsol ngay tại Bãi Tư Chính mà vẫn được Bộ Ngoại giao chiến đấu võ miệng “thuộc vùng chủ quyền không tranh cãi của Việt Nam”. Tâm thế “giương cờ trắng” quá dễ và quá nhanh vào lúc Trung Quốc mới chỉ tung một đòn phủ đầu tâm lý là một bằng chứng không thể rõ hơn: Bộ Chính trị Hà Nội đã trở nên yếu ớt đến mức bị “người đồng chí 4 tốt” o ép theo cách có muốn kiếm tiền ngay trong vùng hải phận của mình cũng không còn được.
Với bản đồ mới nhất được Bắc Kinh tự vẽ, ‘đường lưỡi bò’ liếm qua đến 67 lô dầu khí, tức gần như toàn bộ các vùng biển có trữ lượng dầu khí mà Việt Nam đã hợp tác với Tây Ban Nha để khai thác, và đang định hợp tác với những công ty dầu khí của Mỹ và Nga để khai thác.
Dự trữ dầu thô dù sắp cạn nhưng cũng không thể khai thác được. Quả là chưa bao giờ trong lịch sử triều đại của mình, đảng CSVN lại túng quẫn lẫn khốn khó như lúc này.