Monday, October 29, 2018

Hội cờ đỏ - Những tên hồng vệ binh của chế độ công an trị

Trần Quang Thành (Danlambao) - Cô Hồng Lam, giáo dân huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An trả lời phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành

Trong thời gian vừa qua ở một số giáo xứ tinh Nghệ An đã xuất hiện cái gọi là tổ chức tự phát Hội Cờ đỏ. Họ là thành viên trong các hội đoàn của cộng sản như đoàn niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh v.v…

Họ thường xuyên có mặt tại các điểm nóng giáo dân biểu tình phản đối Formosa gây thảm hoạ môi trường biển miền Trung, lên án giới cầm quyền cộng sản dự định thông qua luật Đặc khu để hợp thức hóa việc bán đất cho ngoại bang; thông qua luật An ninh mạng có hiệu lực từ 1/1/2019 nhằm bịt miệng tiếng nói yêu nước của người dân.

Họ là những tên hồng vệ binh của chế độ công an trị thẳng tay khủng bố, đàn áp, tinh thần của người dân, giáo dân yêu nước, kể cả những việc làm bạo động đe dọa đến tính mạng người dân như trường hợp hăm dọa giết linh mục Anton Đặng Hữu Nam.

Cô Hồng Lam, một giáo dân ở huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An đã tố cáo những hành động đê hèn, trắng trợn của các thành viên Hội Cờ đỏ khủng bố, đàn áp tinh thần của những người dân yêu nước.

Nội dung như sau – Mời quí vị cùng nghe

YouTube PV cô Hồng Lam


Trước họa mất nước, chúng ta là một


Fb. Đỗ Ngà|

Có một điều cần nhìn nhận khi ngoại xâm đe doạ, lòng dân sôi sục. Những cuộc biểu tình tình đông đảo đã diễn ra đều là những cuộc biểu tình có dính tới yếu tố Trung Quốc. Từ vụ dàn khoan HD981, đến Formosa, Luật Đặc Khu đều như thế. Khi lòng tự tôn dân tộc bị xúc phạm, người Việt sẵn sàng đứng lên, đây là yếu tố có trong đặc tính dân tộc đã ngàn năm. Nó giúp dân tộc ta đuổi giặc và giữ nước.
Là người Việt Nam thì ai cũng có trong người tố chất ấy, và người của ĐCS cũng không ngoại lệ. Dẫu biết trong số người Việt vẫn có một tỉ lệ ít ỏi những con người không một chút lòng yêu đất nước và sẵn sàng hy sinh giang sơn cho danh vọng cá nhân. Thời kỳ chống quân Nguyên xâm lược, con cháu nhà Trần đều yêu nước, chỉ riêng Trần Ích Tắc là chứa dã tâm bán nước cầu vinh. Trong dân cũng thế, dù biết lực mỏng trước vó ngựa quân Nguyên nhưng trong hội nghị các bô lão ở điện Diên Hồng, người dân vẫn quyết đánh.
Hiện giờ, chuyện rước Tàu vào Việt Nam không phải là một kế hoạch đơn lẻ, mà nó là chuỗi kế hoạch liên hoàn, mỗi kế hoạch một chức năng riêng cho mục đích chung là đi đến kiểm soát Việt Nam. Điều đó ai cũng nhìn thấy, và trên thượng tầng chính trị, kẻ có quyền lực cao nhất tiến hành thâu tóm quyền lực, thanh lọc tư tưởng, thanh trừng phe cánh để dọn đường cho các bước triển khai. Đến tên của kẻ thù còn không dám gọi, thì điều đó có nghĩa người đứng đầu Việt Nam bao lâu nay là cấp dưới của kẻ thù phương Bắc. Họ chẳng tự nhận công khai, nhưng chúng ta phải hiểu như thế. Có những thứ chúng ta phải tự hiểu.
Với giặc tham nhũng nó làm nước nghèo, nhưng với giặc ngoại xâm nó làm mất nước. Vậy với 2 loại giặc đó, giặc nào nguy hiểm hơn? Với hành động của nhân dân bao lâu nay, tôi tin nhân dân mình đánh giá rất đúng mức độ nguy hiểm của 2 loại giặc. Biểu tình cùng dân oan người ta ủng hộ rất ít, nhưng biểu tình chống dàn khoan HD981 hay chống Luật Đặc Khu người ta xuống đường rầm rộ. Đấy chính là câu trả lời.
Vậy rõ ràng hoạ mất nước nguy hiểm hơn họa tham nhũng. Trong 2 cái họa ấy, kẻ có dã tâm nối giáo cho giặc đã khéo léo dùng đòn đánh tham nhũng lấy lòng dân, mục đích là để che đậy cho dã tâm lớn hơn – dã tâm bán nước. Rất nhiều người dân đã sập bẫy trò che đậy khéo léo này và thật lòng tin tưởng “Bác Trọng”.
Thằng cướp nước và thằng bán nước
Đứng trước họa ngoại xâm, người CS cũng có trách nhiệm đứng lên chứ không phải riêng nhân dân. Về tham nhũng, người CS ở hạ tầng chính trị cũng tham nhũng, nhưng về dã tâm bán nước thì chỉ có thượng tầng chính trị hưởng lợi và đẩy tất cả nhân dân và người CS ở hạ tầng vào vòng nguy hiểm chịu họa diệt vong. Vì vậy cần phải nhìn nhận rõ ràng 2 mối họa. Đứng trước họa mất nước, quân đội, công an ở hạ tầng, những đảng viên ĐCS ở tầng thấp và một số đảng viên cấp cao có lòng với đất nước cùng với toàn dân phải đứng về một phía để dẹp bè lũ bán nước đang ở trên cao triển khai chỉ thị của giặc./.

Đồng bộ để sáp nhập?

Fb. Nguyễn Việt Nam |

Đây là một bài dự đoán tiến trình đồng bộ hệ thống chính trị, kinh tế và quản lý xã hội Tàu-Việt dựa trên nhưng căn cứ cơ sở từ các sự việc đã diễn ra và có nguy cơ cao sẽ xảy ra và các dự đoán đã được hiện thực hóa kiểm chứng ở lãnh thổ Việt Nam. Bài viết này không mang tính khẳng định 100% nhưng là dự đoán có cơ sở. Xin được nhắc lại là như vậy.
1) Chính trị: Việc anh Trọng từ ngày làm tổng bí thư đến bây giờ đã áp dụng gần như triệt để các con bài chính trị của bên Tàu. Nào như đả hổ diệt ruồi, đập chuốt vỡ bình, đốt lò, nhất thể hóa, chống tham nhũng abc gì đó đều là bài đã được Tàu sử dụng và thử nghiệm thành công. Nó là định hướng cho việt cộng bên này dùng làm kim chỉ Nam cho việc củng cố quyền lực của đảng. Đến bây giờ khi anh Trọng kiêm thêm chức Chủ tịch nước như Tập Cận Bình thì đã rõ rằng đang có sự đồng bộ về chính trị cho thuận tiện áp dụng chung một đường lối chính trị.
2) Kinh tế: Việc mở cửa kinh tế từ những năm 85-86 cho đến bây giờ là màn thay áo ngoạn mục của cộng sản. Tàu đã thử nghiệm thành công mô hình tư bản đỏ và bên Việt Nam cũng áp dụng y khuôn dưới cái tên đầy quái thai “Kinh tế thị trường nhưng có đuôi XHCN ” Nghĩa là nửa Tây, nửa ta. Tư bản trá hình thay bình giữ rượu. Đổi hình thái để duy trì chế độ và mị dân cũng như đi lòe thế giới để ra nhập các tổ chức thương mại tự do. Kiểu như mặc áo dài khăn đóng nhưng đi giày cao cổ của Tây ấy. Hai nền kinh tế Việt- Tàu có cấu trúc, đặc thù y chang nhau để dễ dựa dẫm cũng như kiểm soát nhau.
3) Quản lý xã hội: Tàu đã đi trước bên Việt Nam khoảng 10 năm về việc đàn áp mạnh tay nhân quyền, thủ tiêu tự do ngôn luận, giám sát chặt chẽ công dân và tăng cường ngu dân để trị. Cụ thể là các luật an ninh mạng bên Tàu siết chặt tự do ngôn luận trên các mạng xã hội. Các mạng xã hội mở bị thủ tiêu và thay vào đó bằng các mạng xã hội bị kiểm duyệt gắt gao cả về nội dung cũng như thông tin cá nhân người dùng. Tăng cường tuyên truyền tư tưởng tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, đặc biệt là Tập Cận Bình. Ở bên Việt Nam cũng đã làm và sẽ làm như vậy. Cũng đã đàn áp rất mạnh tay bất đồng chính kiến, các nhà hoạt động nhân quyền, các ngòi bút có sức ảnh hưởng lớn. Cũng đã có luật an ninh mạng và luật thiết quân luật, giới nghiêm đã được phê chuẩn và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1/1/2019.
Về mạng xã hội riêng cho Việt Nam thì anh Nguyễn Mạnh Hùng tân bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đã dạo đòn cách đây tầm đôi tháng rằng mong muốn có mạng xã hội riêng cho Việt Nam. Và khả năng rất cao là sẽ làm. Và có thể là không ai khác cấp phần mềm mạng xã hội cho Việt Nam ngoài Tàu. Việc quản lý, kiểm soát nhân dân thì đang nhen nhóm cái vụ chuẩn bị ép dân thanh toán qua các ứng dụng thanh toán ngân hàng hay trên các phần mềm thanh toán di động mà Nam đã viết ở bài ” Khôn như mày nhà tao nuôi đầy” đăng sáng nay. Và khả năng rất cao bên Việt Nam sẽ làm y nguyên các phương pháp quản lý công dân như bên Tàu. Và người dân bị soi mói đời tư rất nhiều cũng như bị quản lý, đánh cắp thông tin tràn lan. Các công cụ, phương tiện, đường lối quản lý có thể được bên Tàu tài trợ bởi vì để làm được việc này cần rất nhiều kinh phí. Mà cụ thể bên Tàu vừa cho bên công an Việt Nam cái phòng LAB để sử dụng đó.
Vậy câu hỏi chúng ta đặt ra là tại sao bên việt cộng và cụ thể là anh Trọng lại áp y nguyên cái khuôn bên đó về. Câu trả lời để duy trì, bảo vệ cái chế độ độc tài này thì ai cũng rõ rồi. Nhưng cái vấn đề bàn giao đất nước hay nói cách khác là biến Việt Nam thành một tỉnh của Tàu mà anh Trọng là tỉnh trưởng hay Hộ Phủ gì đó là điều Nam thấy có vẻ đúng. Và cái mật ước Thành Đô năm 1990 có khả năng là có thật chứ không phải đồn đoán nữa vì ta thấy rõ ràng mọi thứ đang được xúc tiền theo đúng quy trình mà./.

Ra khỏi đảng mới chỉ là phục thiện. Tố cáo đảng – đó mới là xá tội trước non sông


Fb. Trần Hùng |

Việc các lão thành cách mạng tự nguyện vào đảng nay tự giác ra khỏi đảng xem như là phúc cho dân tộc vì nhân dân sẽ mở rộng vòng tay đón thêm những người bạn, đồng nghĩa bớt đi những kẻ thù.
Tuy nhiên, nếu việc tự giác ra khỏi đảng chỉ vì bất mãn, vì nhận thấy đảng không phù hợp, đảng cộng sản chỉ là một tổ chức “phản dân – hại nước” nên các vị ly khai thì chưa đủ, bởi xét cho cùng hành động này chỉ mang tính chất cá nhân, không muốn tiếp tục ngồi cùng bàn với loại quỷ ma cộng sản.
Nếu các vị chỉ dừng lại ở mỗi việc “xin ra khỏi đảng” thì vẫn chưa đủ, chưa thể hiện tấm lòng son sắt vì nước vì dân. Dân gian có câu “trâu già nào sợ dao phay” và chính điều này mà tên Tập Cận Bình đã giúp Hán nô Nguyễn Phú Trọng gồm thâu quyền bính để dễ dàng bán nước – buôn dân vì con trâu già Nguyễn Phú Trọng có sợ gì dao phay.
Trâu già Nguyễn Phú Trọng không sợ dao phay thì các quý ông Nguyên Ngọc, Mạc Văn Trang,… sao không làm điều ngược lại con trâu già Nguyễn Phú Trọng ? Nếu quý vị còn hai chữ “nước nhà” thì xin quý vị hãy làm tiên phong viết sớ “vạch tội” Hán nô Nguyễn Phú Trọng và đồng bọn như ông Chu Văn An đã dám dâng sớ chém 07 nịnh thần thời nhà Trần.
Mong các vị hãy tiên phong làm gương, tiền hô hậu sẽ ủng. Đành rằng các thế hệ trẻ của Việt Nam sẽ không để cho bọn vô luân thực hiện trót lọt dã tâm bán nước nhưng sấm Bình Than muốn nổ vang trời Việt thì sấm Diên Hồng phải nổ trước tiên.
Các vị là trâu già nhưng nếu còn sợ dao phay, không dám vạch tội Hán nô Nguyễn Phú Trọng và đồng đảng thì đám trâu tơ trâu nghé này sao dám liều mạng với dao phay?
Hãy tố cáo ngay tội của Hán nô Nguyễn Phú Trọng và đồng đảng, đó mới là cách “xá tội trước tổ tông – xá tội trước non sông”./.

Biên chế, ngân sách và giải pháp

Nay đọc bài báo tay gì ĐBQH nói rằng ngân sách là chi cả cho dân chứ có cho riêng bộ máy đâu mà Nam bực mình. Hắn bảo bao cấp cả giáo dục, y tế chứ không thì người dân phải trả giá cao như dịch vụ tư nhân. Hắn nói đúng nhưng đúng phần “bịp bợm”. Rồi lùm xùm vụ chi thường xuyên, sát nhập các cơ quan ban ngành, tinh giản biên chế rồi bảo nhân dân không hiểu xong toàn xuyên tạc, bóp méo. Để Nam phân tích cho tay ĐBQH này nó xem là có đúng bóp méo không nhé.
70% chi thường xuyên là dành cho cả dân chứ không phải chỉ cho bộ máy
Biên chế
Đây là cái gần gốc của vấn đề. Việc chạy chọt, sắp xếp, mua bán, vẽ vời biên chế, ban ngành là một điều rất tởm lợm. Có rất nhiều cá nhân ngồi chỉ để chật chỗ vì là con cháu , anh em thân quen của lãnh đạo. Có những ban ngành được vẽ ra để phình to nhằm thêm ghế, thêm chỗ ngồi cho con ông cháu cha, phình to bộ máy chứ chẳng có ý nghĩa thiết thực gì nhiều cho dân. Tôi cứ nói đơn gian như cái Ban Tuyên giáo ấy. Nó là rất vớ vẩn vì chỉ có mấy cái nước cộng sản ăn xong mị dân, ngu dân để trị thì mới có cái ban tuyên giáo. Một năm từ báo chí, văn hóa, truyền thông, đủ các phương tiện tuyên truyền nó ngốn không biết bao nhiêu tiền. Rồi cái Bộ tác chiến không gian mạng chẳng hạn. Lập ra có bảo vệ người dân đâu. Toàn chửi lại dân, ngu dân, tiêu diệt ý kiến của dân và kiểm soát dân. Nguyên cả một bộ luôn tốn bao nhiêu cơm gạo nhân dân. Hóa ra dân bỏ tiền ra để nuôi cái bọn ngu muội mình, lừa đảo mình, bức hại mình và kiểm soát mình à?
Tinh giản biên chế: Ờ thì gộp ban ngành hay sát nhập tỉnh thành hay gì gì đó. Thế tôi thử hỏi tại sao bao năm nay không làm? Sao trước các tỉnh thành như vậy lại tách ra làm gì? Câu trả lời là làm vậy mới có cái để hốc đớp với nhau, mới có chỗ mà đặt đít cho nhau mà vơ vét xương máu của dân. Giờ chuông cảnh báo sập chế độ đã rung lên thì mới bắt đầu giờ trò thay đổi. Nhưng lại thay đổi theo kiểu mất dạy, lòe dân, bịp bợm. Bây giờ gộp lại thì vẫn cứ có bấy nhiêu việc phải làm, chỉ bớt nhân sự đi, một người sẽ kiêm nhiều việc hơn. Nếu theo lý thuyết thì đúng là tiết kiệm được ngân sách. Nhưng cái trình độ, phương pháp làm việc, quản lý của lũ cán bộ có đáp ứng được nhu cầu công việc đòi hỏi hay không? Đáp ứng gì cái lũ mua quan bán chức, bằng đểu ấy. Đáp ứng gì cái lũ con cháu anh em nhét cho chật chỗ ấy. Quyền lực tập trung vào tay thằng ở lại nhiều hơn. Thế là nó sẽ ký kết, quyết định, phê duyệt nhiều thứ hơn. Ai đảm bảo nó không nhận hối lộ, tham nhũng nhiều hơn? Bởi vì vẫn từng ấy việc qua tay nó mà. Chỉ là nó ăn thay phần thằng bị tinh giản mà thôi. Khéo nó còn ăn khiếp hơn cả bọn kia cộng lại ấy chứ. Thêm nữa là tinh giản thế nào? Đút cái lũ con ông châu cha, dây mơ rễ má ấy đi đâu? Toàn chạy vạy, cơ cấu cả đó. Đem ngân sách cho mỗi đứa ít tiền rồi đuổi nó về như Đà Nẵng đấy á? Dân chẳng ị vào mặt nhà nước ấy chứ lị.
Ngân sách
Thâm thủng thậm tệ hay ruỗng ruồng ruồng là từ dùng để diễn tả tình hình ngân sách hiện nay. Bởi vì sao? Bởi vì những điều ở trên tôi vừa nói đó. Tay ĐBQH bảo chi thường xuyên cho cả dân chứ không riêng gì bộ máy. Ừ, bề nổi thì đúng. Dân có được hưởng tí ti. Thế nhưng cái bề chìm chúng nó ăn mới là lắm. Đơn cử như y tế, giáo dục như tay kia nói chẳng hạn. Giá có thấp hơn cơ sở tư nhân. Thế nhưng từ xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, phân bổ ngân sách hàng năm thì quan chức, cán bộ có cắt xén không, có tham nhũng không, có khai khống chi thu không? Có chứ còn gì nữa. Và ăn rất nhiều, báo cáo láo rất nhiều. Tham nhũng rất nhiều. Toàn lợi ích nhóm cả. Cuối cùng về tay dân được bao nhiêu trong khi đó tiền đó là của dân. Các ngành khác cũng vậy. Tham nhũng, cơ cấu phình to, chi tiêu bừa bãi. Thế bảo sao hàng năm chi đến bảy tám mươi phần trăm ngân sách cho chi thường xuyên. Giảm kiểu gì khi thằng nào cũng đòi ăn?
Giải pháp
Bản chất của cái chế độ này là phá phách. Nên không có giải pháp nào khắc phục, xử lý được tình trạng thối nát này. Có giảm bao nhiêu thì chúng nó cũng vẫn ăn mà thôi. Có dám bỏ tù nghiêm minh không? Có dám tử hình tham nhũng không? Tham nhũng, lãng phí, gây thất thoát toàn trăm tỷ, nghìn tỷ nhưng chỉ kiểm điểm, khiển trách, cách chức linh tinh. Thế thì xử lý kiểu gì? Vì đập thằng này thì lại lòi thằng kia, cả một lũ sói với nhau. Nhốt hết, truy tận gốc tài sản, đem bán hết cho đủ đề bù xem nào. Có dám làm không? Làm vào mắt.
Cả một cái chế độ ăn từ trên xuống dưới thì xử ai. Toàn bao che cho nhau rồi bịp bợm, lừa đảo nhân dân. Chẳng có cái giải pháp nào cho cái chế độ này. Ờ nhưng Nam có đấy.
Giải pháp của Nam là đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập đúng nghĩa. Cái chế độ này còn thì ngân sách còn thủng. Không bao giờ là đủ cả. Tất cả chỉ là lừa dân, lòe bịp, làm phần ngọn thôi. Gốc rễ của vấn đề là cái chế độ này này, cần phải nhổ nó. Cứ loanh quanh đi thay bình mới trong khi vẫn cái loại rượu thổ tả ấy. Chua như nước đái mèo./.

Đảng làm đúng đường lối của Đảng

Theo VOA-Phạm Phú Khải/29/10/2018 
Cờ Đảng và cờ nước.
Cờ Đảng và cờ nước.
Sự kiện Ủy ban Kiểm tra Trương ương Đảng kỷ luật giáo sư Chu Hảo đã gây nhiều phẫn uất và phản ứng từ một số trí thức Việt Nam. Một trong những tiếng nói mạnh mẽ nhất là nhà văn Nguyên Ngọc. Theo ông Ngọc thì việc kỷ luật giáo sư Chu Hảo là “một hành động thực hiện chính sách ngu dân… vì quyền lợi ích kỷ của một đảng độc tài đang cướp quyền sống và phát triển của dân tộc”; và Đảng “tự diễn biến” thành một tổ chức chuyên quyền, phản dân hại nước. Tuyên bố của ông Ngọc được 6.7 ngàn thích, 479 phản hồi và 1467 chia sẻ trên trang facebook của ông chưa đầy ba ngày sau.
Một người với 62 tuổi đảng, tham gia kể từ năm 1956, người tự hào đã có mặt suốt hai cuộc kháng chiến, giờ đây không ngần ngại sử dụng những ngôn từ mạnh mẽ nhất để phê phán cái đảng mà ông đã tận tụy cống hiến ba phần tư cuộc đời mình.
Hai ngày sau khi báo chí đăng tin về vụ kỷ luật, ngày 27 tháng 10 một số trí thức tại Việt Nam đã cùng nhau lên tiếng phản đối, trong đó có Nguyễn Quang A, Phạm Chi Lan, Lê Đăng Doanh, Chu Hảo vân vân, đứng tên. Họ phê phán sự quy kết này “… là không đúng sự thật, thể hiện sự trấn áp thô bạo những nỗ lực rất đáng trân trọng của một trí thức hết lòng vì dân vì nước, chà đạp những ý kiến chân thật và xây dựng của ông về những vấn đề nóng bỏng của đất nước.” Ông Nguyễn Quang A còn cho rằng “Với quyết định này, đảng Cộng sản Việt Nam đã dấn thêm một bước tự chôn mình”.
Ngoài các nhà trí thức tương đối có tiếng tăm, một số bạn trẻ trên mạng xã hội cũng bắt đầu tự ý tình nguyện từ giã Đội, ra khỏi Đoàn, và ra khỏi hoặc không vào Đảng. Họ cũng chúc mừng các thành viên đã ra khỏi Đảng, đứng về phía nhân dân. Trước và sau sự kiện này thì cũng đã có bao nhiêu người âm thầm khác từng bỏ Đảng trong năm qua, cũng như mấy chục năm qua.
Phản ứng quyết liệt của nhà văn Nguyên Ngọc, của các trí thức nói trên, hay của nhiều người quan tâm đến tình hình Việt Nam hiện nay, làm cho ngay cả người bàng quan nhất cũng đặt câu hỏi tại sao Ủy ban Kiểm tra TƯD quyết định tối và tồi như thế? Phải chăng họ không lường được sẽ có những phản ứng mạnh mẽ? Hay vì họ không nắm rõ ảnh hưởng của giáo sư Chu Hảo lên nhiều trí thức và thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay, như đã thấy qua các phản ứng trên? Hay rằng họ biết rõ sẽ có phản ứng mạnh mẽ, nhưng nếu phải chọn một trong hai điều bất lợi, thì nên chọn cái ít bất lợi hơn! Nghĩa là giữa việc kỷ luật giáo sư Chu Hảo dù dự trù sẽ bị phản ứng (nhất thời?) với việc không kỷ luật để giáo sư Chu Hảo tiếp tục ảnh hưởng (qua đó khó thể răn đe những trí thức khác), thì nên chọn kỷ luật hơn!
Người ta có thể chê bai và kể cả khinh bỉ các hành động của Đảng, như bao nhiêu hành động khác của họ trước đây. Nhưng thái độ coi thường chẳng thay đổi được gì nếu không có tư tưởng và hành động thực tiễn.
Trước hết, với những thành tích của giáo sư Chu Hảo mà nhiều người đã đề cập đến, chúng ta không nên lấy làm ngạc nhiên vì sao giáo sư Chu Hảo bị Ủy ban Kiểm tra TƯĐ kỷ luật. Tất cả những tiếng nói ra sức bảo vệ thanh danh của ông đều cho thấy công trạng của ông là đáng kể, từ việc mở rộng không gian thông tin qua Internet vào Việt Nam ngay từ ban đầu cho đến việc khai sinh và điều hành nhà xuất bản Tri Thức. Tất nhiên những người quan tâm đến vận mệnh và quyền lợi chung của đất nước Việt Nam không nhìn thấy các hành động này có điều gì phải khiển trách hay kỷ luật, mà ngược lại còn rất đáng trân trọng vì có nhiều công ích. Trong khi đó TƯĐ không nhìn như vậy. Họ chỉ thấy ông Chu Hảo có “những bài viết, phát ngôn có nội dung trái với Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng…” và ông đã “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…”.
Cách nhìn của Đảng, hay nói đúng hơn, thành phần lãnh đạo tối cao trong TƯĐ (một thiểu số rất nhỏ), hoàn toàn trái ngược với cách nhìn của bao nhiêu thành phần khác trong xã hội. Nó trái ngược với đại đa số người dân. Mà đây không phải là lần đầu. Và chắc chắn không phải lần cuối. Các vụ án Nhân văn Giai phẩm của thập niên 1950, hay các chính sách phân biệt đối xử, coi thường trí thức, coi hồng hơn chuyên một thời gian dài, nhất là người dân miên Nam sau 30 tháng Tư năm 1975, hay nói chung chủ trương coi vai trò của trí thức trong các chế độ cộng sản trên toàn thế giới, đều nhất quán như thế. Đối với cộng sản, vai trò của trí thức là phục vụ mục tiêu chính trị “vĩ đại” của Đảng. Văn nghệ sĩ, truyền thông, giáo viên vân vân, đều như thế. Phục vụ, làm theo chỉ thị, nhưng lại không có quyền phản biện và không được có tư duy độc lập. Từ thời Lenin, Stalin, Mao, Hồ, Castro, cho đến Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng, hay toàn bộ các quốc gia từng theo cộng sản từ xưa đến nay, cũng đều rập khuôn như thế.
Nhìn như thế thì việc kỷ luật giáo sư Chu Hảo thật ra là đi đúng chủ trương cộng sản hơn 100 năm qua trên khắp thế giới. Nó không có gì là lệch hướng gì cả. Dù trên thực tế họ không hẳn còn là cộng sản nữa, nhất là về ý thức hệ chính trị và về kinh tế, nhưng các chính sách cai trị quốc gia, các cơ chế điều hành guồng máy nhà nước, nhất là biện pháp đối với người bất đồng chính kiến, đều là theo kiểu mẫu Lenin và Stalin thời Liên Sô và có thêm phần sáng tạo của Mao cho đến nay. Đối với chế độ này, trí thức thật sự với tư duy độc lập và phản biện đều là thù nghịch và phải bị triệu tiêu hay loại trừ ảnh hưởng bằng mọi giá.
Do đó tôi cho rằng việc phản đối lại quyết định của Ủy ban Kiểm tra TƯĐ như thế là thiếu cơ sở và không hợp lý, trừ phi những người phản đối có thể chứng minh được rằng giáo sư Chu Hảo đã không làm trái với “Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng v.v…”, một lô điều luật nghị định và nghị quyết mà họ đã biện luận và nêu ra.
Nhà văn Nguyên Ngọc và một số đảng viên kỳ cựu đã, đang và sẽ bỏ Đảng qua vụ này. Chắc chắn sẽ có một số người khác tiếp tục bày tỏ thái độ. Đây là hành động rất đáng khâm phục và trân quý, dù có muộn màn đi nữa. Chọn đứng về phía người dân chứ không phải chính quyền, đứng về lẽ phải chứ không phải ngụy biện, bênh vực cho kẻ yếu chứ không phải cường quyền, là điều cần thiết và trân trọng ở mọi thời điểm mọi xã hội và mọi văn hóa chính trị. Nhưng những tiếng nói lẻ tẻ, từng đợt sóng nhỏ lăn tăn, sẽ không tạo ra cơn sóng đủ mạnh để tẩy sạch các vết nhơ. Ngoài ra các phong trào nhằm gây tiếng vang hơn là xây dựng thế lực lớn mạnh cho mục tiêu lâu dài thì rốt cuộc cũng chỉ tạo lên những âm vang mà sau đó mất cường độ qua thời gian hay hòa tan vào không gian rộng lớn.
Đất nước Việt Nam đang cần thay đổi sâu sắc hơn bao giờ hết. Chế độ hiện nay, tuy vẫn còn đủ mạnh để đàn áp mọi lực lượng dân chủ và các tiếng nói lương tâm, nhưng đã chứng minh sự túng quẫn và tối dạ không còn ngôn từ diễn tả và không còn thuốc chữa. Các lực lượng dân tộc dân chủ phần lớn vẫn chưa ngồi lại được với nhau để bàn thảo các vấn đề hệ trọng. Trong khi đó sức mạnh và sức ép của Trung Quốc lên Việt Nam ngày càng gia tăng.
Mỗi vài tháng hoặc mỗi vài năm, chúng ta lại chứng kiến thêm người bỏ đảng, chứng kiến thêm người bị đảng bỏ tù, chứng kiến thêm sự phá hoại toàn diện và triệt để của chế độ này, chứng kiến thêm sự kéo dài vô lý và vô nghĩa của một chế độ vô luân tiếp tục tồn tại. Điều tích cực là cùng lúc đó chúng ta cũng chứng kiến thêm những người thức tỉnh, những người quan tâm mới, hay những người trước đây cứ cho rằng không muốn làm chính trị mà chỉ muốn làm từ thiện, giáo dục hay tị nạn v.v… nhưng giờ đây đã nghĩ khác. Cũng cùng lúc đó, điều tiêu cực là bao nhiêu người đã mệt mõi, đã bỏ cuộc, đã ra đi, bao nhiêu tổ chức đã chia rẽ, phân tán, và bao người khác đã mất hết hy vọng cho nhau và cho đất nước.
Những đợt sóng thức tỉnh tuy muộn màn, tuy không cùng nhịp đập, tuy không cùng thời cùng lúc, để tạo sóng thần, nhưng dù sao nó vẫn là niềm hy vọng cần thiết cho đất nước Việt Nam hôm nay. Nó vẫn chiếu thêm một chút ánh sáng vào con đường Việt Nam trước mặt. Hy vọng kỷ luật của TƯĐ đối với giáo sư Chu Hảo sẽ giúp cho những người trẻ Việt Nam nhìn rõ và phân biệt được đâu là tuyên truyền dối trá và đâu là sự thật của vấn đề bấy lâu nay.
Nhưng hy vọng thôi vẫn chưa đủ. Nếu người Việt không dứt khoát thay đổi tư duy chính trị của mình thì cho dầu chế độ này sụp đổ, chế độ độc tài khác cũng sẽ lên ngôi và rồi vẫn sẽ ngồi trên đầu trên cổ người dân Việt Nam.
(Úc Châu, 29/10/2018)

Hãy từ bỏ đảng Cộng sản!

Theo VOA-Phạm Chí Dũng/29/10/2018 
Bỏ? Không bỏ?
Bỏ? Không bỏ?
Trong thực tế, chưa có ai từ bỏ đảng mà bị mất sổ lương hưu, vì nếu chính quyền cắt sổ hưu của người bỏ đảng là vi phạm pháp luật.
Từ bỏ ‘phản dân hại nước’!
Sau tuyên bố từ bỏ đảng Cộng sản Việt Nam rất mạnh mẽ “Từ nhiều năm qua, tôi nhận thấy Đảng ngày càng xa rời lý tưởng ban đầu của mình, “tự diễn biến” thành một tổ chức chuyên quyền, phản dân hại nước. Tôi không thể còn đứng trong một tổ chức như vậy” của nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Chu Hảo - đương sự chính đang bị Ủy ban Kiểm tra trung ương của đảng đe dọa kỷ luật vì tội ‘suy thoái tư tưởng’ và ‘tự diễn biến’, đã thực sự làm một cuộc cách mạng đối với bản thân ông: “Càng ngày tôi càng nhận thức rõ hơn rằng tổ chức chính trị mà mình tham gia đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại” - tuyên bố từ bỏ đảng Cộng sản của Chu Hảo, ký vào ngày 26/10/2018 và được công bố 3 ngày sau đó.
Rất chia sẻ và xin chúc mừng nhà khoa học Chu Hảo, nhà văn Nguyên Ngọc và những trí thức khác đã xác quyết từ bỏ 'đường về nô lệ' và ‘phản dân hại nước’.
Đến ngày 29/10/2018, đã có ít nhất 11 người tuyên bố bỏ đảng:
  1. Giáo sư Tiến sĩ Chu Hảo – Tuyên bố bỏ đảng ngày 26-10-2018
2- Nhà giáo Mạc Văn Trang – Tuyên bố bỏ đảng ngày 26-10-2018
3- Nhà văn Nguyên Ngọc – Tuyên bố bỏ đảng ngày 26-10-2018
4- Tiến sĩ Trần Thanh Tuấn – Tuyên bố bỏ đảng ngày 26-10-2018
5- Trung Tá Trần Nam – Tuyên bố bỏ đảng ngày 26-10-2018
6- Kỹ sư Hoàng Tiến Cường – Tuyên bố bỏ đảng ngày 26-10-2018
7- Bạn trẻ Nguyễn Việt Anh – Tuyên bố bỏ đảng ngày 26-10-2018
8- Trung úy quân đội Nguyễn Hữu Hiếu – Tuyên bố bỏ đảng ngày 27-10-2018
9- Nguyên phó chủ tịch quận Bình Chánh Hà Quang Vinh – Tuyên bố bỏ đảng ngày 27-10-2018
10- Cô giáo Dương Bích hà – Tuyên bố bỏ đảng ngày 27-10-2018
11- Luật sư Lê Văn Hòa – Tuyên bố bỏ đảng ngày 28-10-2018

Vì sao quá ít đảng viên dám bỏ đảng?
Nếu lấy mốc thời gian từ đầu năm 2013 là lúc bùng nổ phong trào Kiến nghị 72 với khá nhiều nhân sĩ, trí thức xuất thân từ lòng đảng đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp để chuyển sang đa đảng, một số ít người dám công khai từ bỏ đảng từ đó đến nay đã chỉ làm nên một bức tranh ly khai phơn phớt. Con số từ bỏ quá ít ỏi so với gần 4 triệu đảng viên đăng ký trên sổ sách của đảng đã phản ánh tâm thế e ngại và e sợ vẫn bao phủ trong tâm não tuyệt đại đa số đảng viên, mặc dù nhiều người còn giữ thẻ đảng thừa nhận đã quá chán ngán chế độ chính trị và hầu như mất hẳn niềm tin vào đảng.
Do bị gò bò bởi kỷ luật đảng và sợ ảnh hưởng đến vị thế chính trị lẫn công việc nên rất hiếm trường hợp đảng viên dám ra đảng trong lúc còn làm việc, mà chỉ đến khi nghỉ hưu mới có một ít người dám “xé rào”. Cho tới nay, đây vẫn là một tâm lý bao phủ lên gần 4 triệu đảng viên.
Nhưng có một thực tế là ngay cả một ít đảng viên hưu trí từ bỏ đảng lại không hẳn xuất phát từ thái độ dứt khoát chia tay ý thức hệ hoặc phản kháng với một đảng tham nhũng, mà do những người này đã có những hoạt động bị đảng quy kết là “đa nguyên”, thậm chí “ủng hộ các thế lực phản động”, nên cấp ủy đảng gây sức ép khai trừ họ. Để tránh bị “hạ nhục”, những đảng viên này đã chủ động tuyên bố ra đảng trước khi bị khai trừ.
Vào cuối năm 2013, có một đợt đồng loạt từ bỏ đảng diễn ra với 3 đảng viên (Lê Hiếu Đằng, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Đắc Diên), sau đó là rời rạc từng người. Rất nhiều văn bản chỉ thị và công văn lẻ chỉ đạo lẫn “vận động” của các cấp ủy đảng từ trung ương xuống địa phương đã bó chân những đảng viên chỉ chực chờ thoát khỏi vòng kim cô.
Thậm chí còn xuất hiện một hiện tượng khó tưởng tượng nếu xảy ra cách đây mười năm: bất chấp một quy định của Điều lệ đảng về việc đảng viên sẽ bị khai trừ nếu không đóng đảng phí trong 3 tháng liên tiếp, một số chi bộ địa phương sẵn sàng “tạm ứng” hoặc đóng luôn đảng phí của đảng viên, chỉ với điều kiện là đảng viên không đòi rút tên khỏi danh sách sinh hoạt đảng nơi cư trú.
Cho tới nay, công tác “vận động” vẫn tỏ ra hiệu quả tương đối với một số đảng viên “không biết nên ra hay nên ở”. Cứ thấy đảng viên nào có biểu hiện “dao động tư tưởng” cấp ủy cơ quan hoặc cấp ủy địa phương lại tổ chức một đoàn đại biểu, có thể cả với thành phần “ủy viên” là công an, đến “làm việc” theo phương châm “vừa đấm vừa xoa”. Thể loại răn đe vừa kín đáo vừa lộ liễu luôn theo cách “Ông rút tên thì không sao, nhưng cũng phải biết nghĩ cho tương lai con cái mình chứ!”.
Có những đảng viên chẳng mấy quan tâm đến sổ hưu (vì trong thực tế chẳng có quy định nào tước sổ hưu của những người bỏ đảng, và cũng bởi những đảng viên này đã có cuộc sống đủ sung túc sau thời làm quan), nhưng cứ nghe đến chuyện “con cái chúng ta” là lập tức từ bỏ ngay ý định từ bỏ đảng.
Hiển nhiên, một trong những lý do chính mà nhiều đảng viên không dám công khai, kể cả âm thầm từ bỏ đảng là lo sợ bị chính quyền gây áp lực hoặc trả thù. Khi thấy kết quả thuyết phục và “giáo dục tư tưởng” không ăn thua, cấp ủy đảng và cơ quan chính quyền liền gây áp lực bằng cách đe dọa cắt bớt chế độ hưu trí, gây khó khăn về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, chế độ hộ khẩu… Nhưng thường nhất là chính quyền và công an gây khó khăn đối với người thân của người bỏ đảng, đặc biệt về công ăn việc làm. Đó là nguyên do chủ yếu để những người muốn bỏ đảng phải chấp nhận bỏ đảng trong âm thầm, bị khai trừ hoặc chưa dám ra đảng.
Thoái đảng và bỏ đảng có bị mất sổ lương hưu?
Trong khi quá ít đảng viên dám bỏ đảng, tình trạng thoái đảng lại diễn ra rất phổ biến ở Việt Nam.
Phần lớn những người thoái đảng thuộc về lớp cán bộ, công chức hưu trí. Họ âm thầm không nộp hồ sơ đảng từ nơi làm việc trước đó về nơi cư trú, và nếu sau một thời gian mà không thấy “nhắc nhở”, thì coi như không sinh hoạt đảng và cũng xem như đã “ra đảng”. Cũng có những đảng viên thoái đảng theo những cách khác như cố ý không sinh hoạt đảng dù có tên trong chi bộ địa phương, cố ý không đóng đảng phí, cố ý gây ra mâu thuẫn nội bộ để chi bộ bắt buộc phải khai trừ mình. Một số đảng viên khác, vì nguyện vọng đi định cư ở nước ngài cùng gia đình, đã đương nhiên đề nghị đảng xóa tên mình…
Năm 2013, một con số thống kê chính thức của một cơ quan đảng đã cho thấy có đến 40% đảng viên nằm trong những dạng thoái đảng khác nhau tại các địa phương. Cho tới nay, hẳn tỷ lệ này còn phải cao hơn – có thể lên đến 50 - 60%, trong bối cảnh chính trị và xã hội nhiễu nhương hơn nhiều trước đây và còn chưa tới đáy.
Nếu như những năm trước, có những người muốn bỏ đảng nhưng vẫn lo sợ bị chính quyền cắt sổ hưu hoặc bị sách nhiễu bản thân và thân nhân, thì với một số trường hợp bỏ đảng từ năm 2013 đến nay, đặc biệt gần đây như ông Võ Văn Thôn – cựu giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM, ông Lê Văn Hòa – cựu chuyên viên Ban Nội chính Trung ương, Giáo sư Nguyễn Đình Cống, nhà báo Tống Văn Công - nguyên Tổng Biên tập báo Lao Động… cho thấy áp lực và thủ đoạn gây khó khăn của chính quyền và công an đối với họ và những người thân giảm hẳn. Thậm chí đã xuất hiện một số trường hợp cán bộ hưu trí, xuất thân từ lực lượng vũ trang như quân đội và công an, cũng muốn công khai bỏ đảng.
Trong thực tế, chưa có ai từ bỏ đảng mà bị mất sổ lương hưu, vì nếu chính quyền cắt sổ hưu của người bỏ đảng là vi phạm pháp luật.
Hãy từ bỏ đảng Cộng sản!
Tất cả những gì mà Đảng Cộng sản thể hiện vai trò “lãnh đạo toàn diện” trong nhiều qua đã khiến cho rất nhiều đảng viên đi từ thất vọng đến tuyệt vọng về lý trí lẫn tình cảm.
Kết quả của cơ chế “lãnh đạo toàn diện” của Đảng Cộng sản, mà thực chất là tư tưởng một đảng độc trị và độc tài, chính là nguồn cơn sâu xa và nguồn dẫn trực tiếp khiến cho xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng không thể khác hơn là thảm cảnh như ngày hôm nay.
Chưa bao giờ tham nhũng lại trở thành một quốc nạn ngập ngụa từ cấp trung ương đến tận cơ sở, từ trắng trợn đến vô liêm sỉ và dã man đến thế. Chưa bao giờ các nhóm lợi ích kinh tế và nhóm thân hữu chính trị, cũng như sự cấu kết giữa hai nhóm này lại biện chứng và sâu đậm đến mức bất chấp dân tình đến như vậy. Cũng chưa bao giờ hố phân hóa giàu nghèo trong xã hội Việt Nam lại thê thiết và tàn nhẫn như hiện thời.
Những độc đoán về chính trị đã tất yếu dẫn đến hậu quả nạn độc quyền, đặc quyền và đặc lợi, trục lợi. Hậu quả ấy đã đẩy nền kinh tế vào thế vong tồn và cạn kiệt hầu hết các nguồn tài nguyên của đất nước. Cuộc trục lợi khổng lồ không thương xót đó đã, đang và sẽ dồn ép hậu quả khủng khiếp của nó lên đầu hơn 90 triệu người dân Việt và toàn bộ lực lượng vũ trang.
Chính vào lúc này, nền kinh tế Việt Nam đang đặt một chân vào vực thẳm khủng hoảng, và chỉ cần thêm ít năm nữa thôi, cơn ung hoại sẽ lan ra toàn thân để không thể một liều thuốc đặc trị nào còn tác dụng.
Ung hoại kinh tế lại đang phá nát cơ thể đạo đức xã hội. Xã hội suy đồi toàn diện. Chưa bao giờ đạo lý và văn hóa người Việt, dân tộc Việt lại trở nên thảm thương và bĩ cực như giờ đây. Tình người và mối dây ràng buộc lỏng lẻo còn lại giữa con người với nhau luôn và sẽ phải đối mặt với nguy cơ cắn xé lẫn nhau.
Ai và cơ chế nào đã gây ra thảm cảnh không thể cứu vãn như thế? Trong tâm trạng tuyệt vọng, nhiều đảng viên đã phải nhận chân rằng điều được xem là sự “lãnh đạo toàn diện” của đảng Cộng sản đã thất bại, thất bại một cách cố ý và quá cay đắng. Không những không hướng đến tinh thần công bằng và bác ái, làm tròn nghĩa vụ một nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, đảng Cộng sản hiện thời chỉ còn là cái mà nhà văn Nguyên Ngọc đã xác quyết mạnh mẽ chưa từng có: phản dân hại nước.
Đến lúc này, lời thề trung thành với đảng Cộng sản của rất nhiều đảng viên đã bị thực tế đau đớn thẳng thừng phủ nhận. Một khi đảng đã không còn đại diện cho quyền lợi của đại đa số người dân, vì sao những đảng viên còn lương tâm phải tiếp tục trung thành với nó?
Lời thế đó đương nhiên bị xóa bỏ.
Nhưng những người xác quyết xóa bỏ lời thề trung thành với đảng Cộng sản chẳng có gì phải áy náy, bởi lương tâm họ đã chọn Nhân Dân, và khi đã từ bỏ đảng, họ vẫn sống và đấu tranh theo đúng lời thề lương tâm của mình: vì Nhân Dân.
Đất nước này, xã hội này đang tràn ngập những chỉ dấu bất ổn và chuẩn bị biến động như thời chỉ vài ba năm trước khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1990. Khi đó, đảng Cộng sản Liên Xô còn đến 20 triệu đảng viên và cả 5 triệu quân nhân lẫn 3 triệu công an, nhưng tất cả đều bất động trước một biến đổi mang tính quy luật của lịch sử. Việt Nam cũng đang và sẽ như vậy chỉ trong ít năm nữa, bất chấp số đảng viên được xem là “trung thành” còn tới gần 4 triệu người. Và cũng chỉ trong ít năm nữa thôi, sẽ có nhiều hơn hẳn đảng viên không vì phải chịu sức ép khai trừ mà sẽ hoàn toàn chủ động chia tay với đảng, chia tay với một chính đảng phi nhân bản để kiếm tìm một bến bờ mới hứa hẹn nhân văn hơn rất nhiều.

Nhìn vào người đứng đầu biết vận mệnh của đảng, của quốc gia

Theo RFA-Song Chi-2018-10-29  
Image may contain: 5 people, people standing
 Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước trước Quốc hội ở Hà Nội hôm 23/10/2018-AFP
Cuối cùng thì ông Tổng Bí thư đảng cộng sản VN Nguyễn Phú Trọng cũng đã kiêm luôn chức danh Chủ tịch nước sau phiên họp của Quốc hội vào ngày 23.10 vừa qua.
Như vậy, ngoại trừ ông Hồ Chí Minh, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là Chủ tịch nước đầu tiên và giữ cương vị này trong một thời gian dài (đến tháng 9.1969) và ông Trường Chinh, đang làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước được bầu giữ cương vị Tổng bí thư thay cho ông Lê Duẩn qua đời tháng 7.1986 và đảm nhiệm đến tháng 12.1986, đến nay mới có ông Nguyễn Phú Trọng một mình ngồi luôn 2 ghế.
Vở hài kịch độc diễn của ông Nguyễn Phú Trọng, người duy nhất có tên trong danh sách để bầu Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2021 đã hạ màn với kết quả: ông Nguyễn Phú Trọng trở thành Chủ tịch nước với 99,79% phiếu (476/477 ĐBQH, tức là chỉ có 1 người không bầu cho ông Trọng). Một tỷ lệ không tưởng, chỉ có trong những quốc gia độc tài, ngu dân!
Nhưng vở kịch độc diễn ấy cũng đã nói lên một điều, ông Trọng đã hoàn toàn “chiến thắng” trong cuộc chiến tiêu diệt các đối thủ chính trị, và hoàn toàn kiểm soát từ bên đảng cho tới Quốc hội bù nhìn!
Tháng 10.2012 khi đọc đọc diễn văn bế mạc Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng, ông Nguyễn Phú Trọng đã không dấu được sự nghẹn ngào uất ức vì đã không thể lật đổ được ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Mặc cho bao nhiêu lời đồn đoán về một sự thay đổi nhân sự cấp cao trước đó, ông Nguyễn Tấn Dũng thoát khỏi bị trừng phạt dù bị phê bình, thậm chí “tên của người mà ai cũng biết là ai” còn không được đề cập đến, ông Trương Tấn Sang khi đó là Chủ tịch nước trong một cuộc họp tiếp xúc cử tri ở TP.HCM đã gọi “một đồng chí trong Bộ chính trị không bị thi hành kỷ luật” là “đồng chí X” (cái biệt danh “đồng chí X” này đã gắn chết với ông Nguyễn Tấn Dũng suốt một thời gian dài trên các trang blog, mạng xã hội). Nhớ lại hình ảnh ông Trọng khi đó để thấy ông Trọng đã đi được một chặng đường dài, bây giờ thì chả có ai dám ngáng đường ông!

Một con người thần phục Tàu và cực kỳ tham vọng quyền lực!

Gần đây có hai nhân vật lãnh đạo, và từng là lãnh đạo, thuộc hàng top của đảng cộng sản VN qua đời-Trần Đại Quang và Đỗ Mười. Trong lúc nhà cầm quyền cho tổ chức tang lễ long trọng, rình rang, cho báo chí viết những bài tụng ca hết lời về cuộc đời, về “thành tích cách mạng” của cả hai, thì trên mạng xã hội và trong dư luận quần chúng chỉ thấy có những cảm xúc vui mừng, hả hê, căm hận, khinh ghét... Bởi đối với lịch sử, đối với đất nước, nhân dân, cả hai nhân vật này đều là những tội đồ, từng gây ra bao tội ác, bao sai lầm cho dân cho nước.
Riêng ông Nguyễn Phú Trọng thì dường như lại có phần giống với thế hệ lãnh đạo trước kia-vẫn bám vào lý luận Mác Lênin, bám vào CNXH, đồng thời có nhiều nét nguy hiểm-một kẻ tham quyền lực nhưng bây giờ lại có quyền lực tuyệt đối trong tay, hơn mọi lãnh đạo gần đây, và sự thần phục Tàu tuyệt đối
Song, có sự khác nhau trong nguyên nhân gây ra tội ác giữa thế hệ lãnh đạo cộng sản thời kỳ đầu như Đỗ Mười (hay Hồ Chí Minh, Lê Duẩn-đã chết, Lê Đức Anh-sắp chết...) và các thế hệ lãnh đạo gần đây từ cấp trung ương như Trần Đại Quang, Nguyễn Tấn Dũng…cho tới đám quan chức địa phương. Đó là, tội ác của Đỗ Mười và thế hệ cộng sản đời đầu là do cuồng tín, cuồng đảng, dốt nát, không biết trời cao đất rộng là gì (nên mới có những chuyện như quyết đánh Miền Nam đến cùng, quyết cải tạo tư bản, cải tạo công thương nghiệp, phát nát kinh tế, văn hóa MN vì muốn biến MN thành giống như miền Bắc, mê muội tin vào tình đồng chí với Liên Xô, Trung Cộng…) Còn tội ác của Trần Đại Quang và thế hệ cộng sản sau này là do lòng tham vô đáy, họ không còn tin gì vào CNXH, học thuyết Mác Lê hay lý tưởng của đảng, họ bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ là để bảo vệ những quyền lợi của mình và của con cháu mình, họ cũng chẳng còn tin vào Nga hay Tàu nhưng vì hèn, vì sợ mất đảng, mất chế độ mà quỵ lụy với Tàu…
Nhưng, riêng ông Nguyễn Phú Trọng thì dường như lại có phần giống với thế hệ lãnh đạo trước kia-vẫn bám vào lý luận Mác Lênin, bám vào CNXH, đồng thời có nhiều nét nguy hiểm-một kẻ tham quyền lực nhưng bây giờ lại có quyền lực tuyệt đối trong tay, hơn mọi lãnh đạo gần đây, và sự thần phục Tàu tuyệt đối!
Một mặt, Nguyễn Phú Trọng nhất nhất học theo Tập Cận Bình. Họ Tập có phong trào chống tham nhũng “đả hổ, diệt ruồi, săn sói, quét muỗi” thì Nguyễn Phú Trọng cũng nêu cao quyết tâm chống tham nhũng. Nhưng tham nhũng ở Trung Quốc hay ở Việt Nam thì không thể nào tiêu diệt được, một khi hai quốc gia này còn tồn tại mô hình thể chế chính trị độc tài độc đảng với quyền lực của đảng cộng sản đứng trên cả luật pháp, tư pháp, hành pháp lẫn truyền thông. Cho nên chống tham nhũng ở hai quốc gia này chỉ là tiêu diệt phe cánh mà thôi. Trọng cũng học theo Tập tiêu diệt tất cả những ai có nguy cơ ngáng đường hoặc có khả năng thay thế mình.
Hiện tại ở Trung Quốc, quyền lực của Tập Cận Bình cực lớn. Việc tư tưởng của Tập Cận Bình được đưa vào bản hiến pháp sửa đổi sau phiên họp của đảng Cộng sản Trung Quốc trong tháng 1.2018 đã đặt ông Tập ngang hàng với hai cố lãnh đạo Trung Quốc là Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Chưa kể, Đảng Cộng sản Trung Quốc hôm 25.2.2018 đã đề xuất bỏ điều khoản giới hạn thời kỳ nắm quyền hai nhiệm kỳ của chủ tịch trong hiến pháp nước này, mở đường cho ông Tập Cận Bình nắm quyền vĩnh viễn, chẳng khác nào một ông Vua.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (giữa) và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (phải) trong lễ đón tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội hôm 12/11/2017
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (giữa) và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (phải) trong lễ đón tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội hôm 12/11/2017 AFP
Nguyễn Phú Trọng có lẽ cũng mơ có quyền lực lớn như thế, nhưng dù cho hiện tại Trọng đã diệt hết mọi đối thủ chính trị và nắm cả hai chức danh, thì từ tầm nhìn, tư duy, năng lực, cho tới bản lĩnh, ông Trọng vẫn cứ thua Tập Cận Bình rất xa, và cũng không có được uy tín, thiện cảm hay sự kính nể của dư luận nhân dân có hiểu biết, quan tâm về chính trị. Ông Trọng vẫn bị “chết” với cái xú danh “Trọng lú” chả biết có từ bao giờ.
Mặc khác, Nguyễn Phú Trọng lại thích tạo phong cách giản dị, liêm khiết, ăn mặc xuề xòa như cách lãnh đạo thời kỳ đầu và cũng muốn được như Hồ Chí Minh nên cho báo chí bơm thổi, tụng ca về mình, có những bài báo còn gọi ông Trọng là “Người”, là “Ngài”, hơn cả Hồ Chí Minh hồi xưa chỉ được gọi là “Người”!
Đó là một con người như thế nào? Bề ngoài thì ra vẻ khiêm nhường, khiêm tốn, đạo đức, nhưng bên trong thì tham vọng quyền lực kinh hoàng. Bề ngoài thì lì lì, như lú lẫn, nhưng bên trong thì nghĩ trăm mưu nghìn kế diệt đối thủ, diệt tất cả những ai ngáng đường, lúc nào cũng “nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn”, tuổi cao, sức yếu, tài không bao nhiêu, nhưng nhất định không chịu nhường ghế mà cứ ngồi đó để đưa đất nước này đi theo con đường CNXH “không biết đến hết thế kỷ này đã có hay chưa”. Mang tiếng là có chữ, ít gì cũng "Cử nhân Văn chương" Khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, là Tiến sĩ ngành khoa học lịch sử ở Liên Xô cũ, thực ra là Tiến sĩ ngành xây dựng đảng, rồi thì được phong là Giáo Sư (bằng cấp lãnh đạo nước này lúc nào cũng rất to, chính trị gia các nước nghe cứ mà phát sốt), nhưng cú đánh đầu tiên sau khi xưng Vương là đánh vào một trí thức, đánh vào việc xuất bản sách nâng cao kiến thức, mở rộng hiểu biết cho nhân dân! Tiếp theo là kiên trì với những dự luật bóp miệng dân như dự luật An ninh mạng!

Hình ảnh một chính khách, lãnh đạo quốc gia trông cũ kỹ, lạc hậu so với thế giới!

Một trong những bài báo nịnh bợ lộ liễu đăng trên một trang web rất khả nghi là thaotin.net viết về ông Trọng: “Chiếc áo cũ rách cổ tay và nhân cách giản dị của Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng"! Thật ra thời ông Hồ, ông Duẩn, thậm chí đến thời ông Linh, ca tụng lãnh đạo ăn mặc giản dị, áo rách cũng còn hợp người hợp cảnh, còn thời đại bây giờ lãnh đạo là phải ăn mặc cho tử tế, tác phong hiện đại, văn minh, trông con người nhìn là biết có bản lĩnh, có đầu óc; ngay như họ Tập bây giờ cũng ăn mặc bệ vệ, đi đâu cũng có phu nhân sang trọng đi kèm, vậy mà lũ bồi bút vẫn cố mà khen cái sự giản dị áo rách của ông Tổng! Áo rách, áo cũ, tác phong quê mùa chỉ là tiểu tiết, đáng nói hơn, là đầu óc, tư duy cũ kỹ, bảo thủ, lạc hậu của ông Trọng, mở miệng ra là lý luận Mác Lenin, lý tưởng XHCN, sự ưu việt của đảng...
Chưa kể, giữa tình cảnh đất nước đang bị Trung Cộng o ép về mọi mặt, người dân rất mong nhìn thấy một chính khách, một lãnh đạo quốc gia mạnh mẽ, đầy bản lĩnh, dám ăn to nói lớn nghĩ lớn làm việc lớn, có tham vọng đưa đất nước trở thành một cường quốc trong khu vực và không sợ hãi trước bất cứ mưu đồ xâm lăng, thôn tính của bất cứ cường quốc nào, chứ không phải cái vẻ khiêm nhường “nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn” như ông Trọng! Nhưng tất nhiên, một lãnh đạo như thế chỉ có thể tìm được trong một cơ chế tự do, dân chủ với lá phiếu của người dân chứ không phải trong một thể chế chính trị độc tài đang ở vào thời kỳ mục ruỗng như ở VN. Và một con người do một thể chế như vậy tạo ra như ông Tổng Trọng, tất cả thì giờ lẫn mưu mô dành để diệt phe này phe kia và nghĩ cách làm sao để đảng cộng sản tồn tại lâu dài, kể cả dựa vào Trung Cộng, thì làm sao mà dám nghĩ đến chuyện thay đổi, bỏ đảng, bỏ Tàu!
Nhìn vào hình ảnh một lãnh đạo đảng, lãnh đạo quốc gia như thế, để thấy rằng vận mệnh nước này còn tăm tối lâu, nếu như người dân không tỉnh thức!
* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

Ngân sách Việt Nam vẫn phụ thuộc vào bán đất, tài nguyên

RFA-2018-10-29 
Cuộc họp quốc hội (Ảnh minh họa)
 Cuộc họp quốc hội (Ảnh minh họa)-AFP
Ông Vũ Tiến Lộc, chủ tịch phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tại phiên thảo luận Quốc hội về ngân sách và đầu tư công diễn ra vào hôm 29/10 phát biểu rằng nguồn thu ngân sách quốc gia hiện nay chủ yếu từ việc bán đất, bán tài nguyên và tài sản nhà nước. Đó là những nguồn thu không ổn định và chỉ thu một lần trong khi các nguồn thu khác từ lợi nhuận thì lại không đạt hiệu quả.
Đồng tình với ý kiến của Chủ tịch VCCI, chuyên gia kinh tế tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên viện trưởng viện quản lý kinh tế Trung ương, giải thích.
“Những nguồn thu đó chỉ là nhất thời vì chỉ dựa vào bán đất, bán tài nguyên và bán doanh nghiệp nhà nước. Các nguồn thu đó không phải là vô tận và nó cũng không được tái tạo cho nên bán hết số đất, bán hết doanh nghiệp nhà nước thì còn có nguồn thu nào nữa đâu. Phải tạo ra các nguồn thu có thể tái tạo để đảm bảo lâu dài về ngân sách.”
Giáo sư Đặng Hùng Võ nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chia sẻ rằng nguồn thu từ đất của Việt Nam thì 80% là việc giao đất có thu tiền, tức là bán quyền sử dụng đất và điều thứ hai là khi thuê đất sẽ thanh toán một lần cho cả thời gian thuê còn thu thuế thì chỉ chiếm 3%.
 Những nguồn thu đó chỉ là nhất thời vì chỉ dựa vào bán đất, bán tài nguyên và bán doanh nghiệp nhà nước các nguồn thu đó không phải là vô tận và nó cũng không được tái tạo cho nên bán hết số đất, bán hết doanh nghiệp nhà nước thì còn có nguồn thu nào nữa đâu.
- TS. Lê Đăng Doanh
Ông cho biết thêm “Từ đây chúng ta thấy rằng việc mà bán quyền sử dụng đất một lúc nào đó tài nguyên sẽ hết, nhất là đất tại VN được quy định là sử dụng vô thời hạn. Thế thì kết luận rằng việc thu từ đất mà chủ yếu là tiền cho thuê dài hạn chắc chắn sẽ không ổn định bởi vì thứ nhất nếu chỉ thu tiền một lần thì chỉ thu bây giờ nhưng cho cả 50 năm sau, rồi trường hợp đất mà giao có thu tiền tức là bán quyền sử dụng đất như vậy thì đến một lúc nào đó nhu cầu chỗ ở nhiều, chúng ta không thể tạo ra nguồn lực đất vô hạn. Như vậy thuế được coi là nguồn thu ổn định nhất.”
Nguồn thu ngân sách của một quốc gia phải dựa vào việc thu thuế chứ không phụ thuộc vào việc bán tài nguyên hay tài sản, những loại nguồn thu này không phải là nguồn thu chính thống chiếm tổng ngân sách quốc gia, như chia sẻ của chuyên gia kinh tế Huỳnh Bưu Sơn.
“Thứ nhất là nó chỉ mang tính nhất thời và thứ hai nó chỉ mang tính chất bổ sung, còn nguồn thu chính thống và thường xuyên là phải nguồn thu từ thuế. Đặc biệt với các quốc gia dựa vào kinh tế thị trường dựa vào hoạt động doanh nghiệp tư nhân là chủ yếu thì nguồn thu của các doanh nghiệp nhà nước thì không đáng kể. Mà phần lớn các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích nên nhiều khi phải bù lỗ từ ngân sách nhà nước nữa.”
Còn theo giáo sư Đặng Hùng Võ thì cho rằng hệ thống thu thuế Việt Nam như hiện nay hoàn toàn chưa hợp lý. Ông đưa ra ví dụ tại các đô thị trên thế giới ngân sách thu từ thuế bất động sản thì hoàn toàn được dùng để phát triển đô thị đó, còn tại Việt Nam không như thế. Ngoài ra còn thêm ví dụ khác theo lời ông Đặng Hùng Võ :
“Như thuế giá trị gia tăng thì nó lại có tính không hợp lý bởi vì nó thu từ tiêu dùng chứ không phải thu từ khả năng sinh lợi của quá trình kinh doanh.
Giáo sư Đặng Hùng Võ nói rõ VN cần cải cách toàn diện lại hệ thống thuế, không cần gì đặc biệt cả mà chỉ cần học các nước công nghiệp phát triển cái lộ trình mà họ đã trải qua mà họ xử lý vấn đề thuế như thế nào thôi. Ông khẳng định:
Cục thuế thành phố Hà Nội (Ảnh minh họa)
Cục thuế thành phố Hà Nội (Ảnh minh họa) AFP
“Tôi cho rằng chúng ta có thể tạo ra được hệ thống thuế nó phù hợp để mà có thể tạo nguồn thu ổn định lâu dài. Đồng thời không chỉ thu để cho chi dùng cho đầu tư phát triển trong nhịp độ yếu ớt như hiện nay mà còn có thể tạo những bước phát triển mạnh hơn cũng như tạo được những nguồn dự trữ quốc gia lớn hơn.”
Tuy nhiên theo chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn cần phải có chế độ thuế khóa hợp lý:“Thuế là một con dao hai lưỡi, chính phủ nào cũng sống dựa vào nguồn thu từ thuế nhưng nếu mà thu nhiều quá, thu lớn quá thì nó sẽ gây ra hiệu ứng tiêu cực nó làm giảm thu nhập chi tiêu của người dân và từ đó nó sẽ làm hoạt động kinh tế sẽ bị đình chệ.”
Ngoài ra, cũng có một số đại biểu đưa ra các giải pháp cơ bản để hạn chế bội chi và cân đối tài chính nhà nước như việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh để tăng nguồn thu cũng như kiên quyết việc cắt giảm hệ thống bộ máy nhà nước quá cồng kềnh, từ đó sẽ giảm được việc chi thường xuyên xuống dưới 50%.
Đồng ý với việc cắt giảm biên chế nhà nước, chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn cho rằng, đa số các chính phủ ở nhiều nước việc thất thu ngân sách không phải là chuyện hiếm nhưng phải đảm bảo sự thiếu hụt đó trong vòng kiểm soát.
“Cho nên phải tự hạn chế bằng các giảm chi bộ máy quá cồng kềnh, phải giảm bớt số lượng cán bộ công nhân viên hoạt động trong lĩnh vực nhà nước nhường nguồn nhân lực này cho kinh tế tư nhân. Hạn chế bù lỗ đối với các doanh nghiệp nhà nươc hoạt động không hiệu quả. Loại bỏ những đầu tư mang tính biểu tượng hình thức mà không đi vào các vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng.”
Giáo sư Đặng Hùng Võ khẳng định rằng, việc đưa ra các giải pháp để hạn chế bội chi, giúp cân đối ngân sách, tạo động lực cho phát triển đã được nói và bàn luận từ rất lâu rồi nhưng đến nay nó vẫn diễn ra rất chậm chạp. Nếu không kịp thời thay đổi thì chẳng bao lâu nữa đất đai, tài nguyên cũng sẽ cạn kiệt.

Lại chuyện Việt Nam là nước dân chủ hay độc tài!

RFA-2018-10-29 
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Áo Sebastian Kurz.
  Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Áo Sebastian Kurz.VOV
Thực tế “dân chủ” ở Việt Nam
Theo tường thuật của một nhà báo gốc Việt thì ngay sau khi phóng viên người Áo nêu câu hỏi với Thủ tướng Sebastian Kurz rằng hai phía Hà Nội và Vienne đã trao đổi về vấn đề nhân quyền như thế nào, liên quan đến Hội nghị thượng đỉnh giữa EU và ASEAN sắp diễn ra, và người phóng viên này đã công khai gọi Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc là người đứng đầu chính phủ xã hội chủ nghĩa của một nước cộng sản độc tài, ông Nguyễn Xuân Phúc đã “cướp lời” và nói rằng: “Việt Nam là một quốc gia dân chủ, chúng tôi lên án mọi chế độ độc tài.”
Khi người ta xác định nhà nước độc tài là chỉ có một nhà vua cầm quyền, chỉ có một anh tổng thống lộng quyền, chỉ có một đảng độc diễn, độc đoán chuyên quyền. Thì đấy là độc tài. - GS. Nguyễn Khắc Mai
Giáo sư Nguyễn Đình Cống cho rằng, ông Nguyễn Xuân Phúc bị “chạm nọc” bởi những lời chỉ trích về tình hình nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam. Câu nói của ông Phúc khiến Giáo sư Cống liên tưởng đến phát ngôn tương tự của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Nguyên phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan “Việt Nam dân chủ gấp ngàn lần dân chủ tư sản.”. Theo ông Cống, cơ chế “đảng cử dân bầu” trong các cuộc bầu cử là điều phản dân chủ đầu tiên.
“Dân chủ cái gì mà anh không chấp nhận hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự. Có anh nào bắt đầu mới nói lên một vài điều cái ý gì thì bắt và đưa ra tòa án xử ngay. Tòa án thì nói xử công khai, nhưng toàn xử theo bản án có sẵn thì dân chủ cái gì.”
Ông Nguyễn Khắc Mai – Giám đốc Trung tâm Minh Triết đánh giá một quốc gia dân chủ hay không, không phủ thuộc vào câu chữ trong Hiến pháp, cương lĩnh, nghị quyết của đảng, hay khẩu hiệu, mà phụ thuộc vào bản chất và hiện thực đời sống chính trị.
“Khi người ta xác định nhà nước độc tài là chỉ có một nhà vua cầm quyền, chỉ có một anh tổng thống lộng quyền, chỉ có một đảng độc diễn, độc đoán chuyên quyền. Thì đấy là độc tài.”
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Việt Nam “lên án mọi chế độ độc tài”. Giáo sư Nguyễn Đình Cống đưa ra ý kiến, có thể ông Phúc nói đến “chế độ độc tài” ở đây là chế độ của các trùm Phát xít như Adolf Hitler hay Musolini.
“Ông ấy chống độc tài không có nghĩa ông ấy không độc tài. Thằng độc tài này chống thằng độc tài khác chứ. Chẳng có chuyện gì quan trọng ở chỗ này cả, vấn đề là anh có độc tài hay không. Còn anh chống hay không, không quan trọng. Anh chống người ta, nhưng mà anh lại độc tài hơn người ta thì có chuyện gì đâu.”
Nhà hoạt động Lưu Văn Vinh bị cáo buộc tội lật đổ chính quyền trong phiên tòa ngày 5 tháng 10 năm 2018 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Nhà hoạt động Lưu Văn Vinh bị cáo buộc tội lật đổ chính quyền trong phiên tòa ngày 5 tháng 10 năm 2018 tại thành phố Hồ Chí Minh. AFP
Một minh chứng sắc nét cho tính dân chủ tại Việt Nam là việc ngày 23/10/2018, Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa 14 bỏ phiếu kín, bầu chọn Chủ tịch nước, thay thế cho ông Trần Đại Quang mới qua đời. Ứng viên duy nhất do đảng đề cử là ông Nguyễn Phú Trọng – tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam. Trước ngày bỏ phiếu, nhiều đảng viên, lão thành cách mạng, trí thức đã yêu cầu ông Trọng phải công khai tài sản cá nhân – chủ trương vốn do chính ông đề xướng, và công bố cương lĩnh hành động trên vai trò chủ tịch nước.
Giáo sư Cống cho rằng, không có sự tranh cử trong bầu chọn nguyên thủ quốc gia, và việc thiếu minh bạch về tài sản cá nhân đã đủ nói lên tất cả.
“Trong một hình thức dân chủ, nói rằng đưa ra Quốc hội bỏ phiếu kín, thì vẫn ẩn náu một thực chất chẳng dân chủ gì cả, cũng là một cái cách dùng ý đảng để áp đặt mà thôi.”

Con đường dân chủ ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, đối mặt với những vấn đề thực tại của đất nước, mong muốn về một nền chính trị dân chủ đối với những người Việt Nam quan tâm chưa bao giờ tắt. Tuy nhiên, con đường đi đến dân chủ còn bao lâu, bằng cách nào, và viễn cảnh nền dân chủ ấy sẽ thế nào vẫn là những câu hỏi được nêu ra.
“Một chế độ dân chủ thì nó phải dựa trên các hoạt động: kinh tế - đấy là kinh tế thị trường, hoạt động thì đấy là của xã hội dân sự, chính quyền – đấy phải là chính quyền đa nguyên, tam quyền phân lập, thì mới có dân chủ được chứ. Chứ nếu như vẫn cứ kiên quyết đi theo cái con đường của cộng sản hiện nay – là độc tôn lãnh đạo của một đảng duy nhất, theo một đường lối duy nhất Marx-Lenin, thì không thể có được dân chủ đâu. Chẳng qua đó chỉ là dân chủ giả hiệu thôi, dân chủ bịa ra.”
Trong một hình thức dân chủ, nói rằng đưa ra Quốc hội bỏ phiếu kín, thì vẫn ẩn náu một thực chất chẳng dân chủ gì cả, cũng là một cái cách dùng ý đảng để áp đặt mà thôi. - GS. Nguyễn Đình Cống
Nhưng trước tiên, để có những kiến giải đóng góp cho sự phát triển của đất nước, phản biện những chính sách của chính quyền, lên án những điều xấu, tiêu cực trong xã hội, thì các quyền tự do căn bản như ngôn luận và tư tưởng cần được tôn trọng.
“Anh phải tôn trọng cái chính kiến của những người có ý kiến khác anh đi, ý kiến khác đảng cộng sản đi, để họ phản biện cái đường lối của đảng trong mấy chục năm qua nó đã dẫn đến cái gì. Thì như thế, lời nói của anh “nước ta là nước dân chủ” mới có thực tế xác nhận. Chứ anh nói như thế mà anh vẫn bắt bỏ tù, đàn áp những người trái chính kiến với anh thì không thể nói là dân chủ được.”
Giáo sư Nguyễn Đình Cống cho rằng, sự chuyển hóa nền chính trị sang dân chủ tại Việt Nam có hai con đường: một là do đảng cộng sản tự thay đổi – vốn là điều khó xảy ra; hai là người dân tạo sức ép buộc chính quyền thay đổi – điều này khả thi hơn, nhưng có thể phải mất rất nhiều năm.
“May ra, nếu như thế giới có một sự chuyển biến gì đấy đột xuất, ví dụ như cuộc giữa Trump và Tập Cận Bình còn nổ ra những xáo động bắt buộc Việt Nam, tình hình Việt Nam, đẩy anh Việt Nam phải lựa chọn, chắc không thì chết. Lúc ấy, may ra tình hình thế giới mà có biến chuyển, mà anh Việt Nam, tầng lớp tinh hoa của Việt Nam có thể lợi dụng được, thì may ra có thể chuyển biến đất nước sang nền dân chủ.”
Bên cạnh đó, sự tác động của các Hiệp định thương mại tự do đa phương mà Việt Nam sắp tham gia có thể ảnh hưởng đến không chỉ nền kinh tế, mà còn là xã hội, cải cách thể chế, luật pháp và bảo đảm quyền con người. Giáo sư Cống nhận định, đó là tác nhân gián tiếp thúc đẩy quá trình dân chủ, chứ không kỳ vọng nó có thể là tác nhân trực tiếp.
“Nếu như chấp nhận cho nhân quyền của dân Việt Nam mở rộng ra, nhân dân hiểu biết hơn, thì dần dần người dân sẽ giác ngộ về nền dân chủ, người ta thấy quyền lợi của người ta, người ta thấy chỗ dựa để đấu tranh. Chứ còn những cái hiệp định thương mại để có những cải thiện dân chủ tại Việt Nam thì tôi không hy vọng.”
Lãnh đạo Hà Nội khi ra nước ngoài và bị chất vấn về vấn đề dân chủ- nhân quyền của Việt Nam đều khẳng định mọi quyền con người đều được tôn trọng; thế nhưng thực thế bắt bớ, tuyên án tù nặng những tiếng nói đối lập bằng những điều luật mơ hồ là minh chứng cho thực tế ‘lời nói không đi đôi việc làm’.