Tuesday, November 28, 2023

Nhận hối lộ “không vụ lợi”: “sự ngụy biện, cưỡng từ - đoạt lý”!

Diễm Thi-2023.11.27

 Nhận hối lộ “không vụ lợi”: “sự ngụy biện, cưỡng từ - đoạt lý”!

Tiền gửi của khách hàng tại một ngân hành thương mại ở Sài Gòn. Ảnh minh họa.- AFP

Tại cuộc họp của Ban Nội chính Trung ương chiều 22 tháng 11 vừa qua, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Văn Yên cho biết, số tiền nhận hối lộ trong vụ án Vạn Thịnh Phát là lớn nhất từ trước tới nay.

Cũng theo ông Yên, vụ án được chỉ đạo sát sao, chặt chẽ, có hệ thống. Theo đó, những ai nhận số tiền hối lộ lớn, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì mới bị truy tố, xét xử, còn người nhận ít, không vụ lợi sẽ không bị xử lý về mặt hình sự, mà chỉ bị xử lý về kỷ luật Đảng và hành chính. Khái niệm “nhận hối lộ không vụ lợi sẽ không bị truy tố” được ông Nguyễn Văn Yên đề cập đến đang gây phản ứng trong công luận.

Luật sư Đặng Đình Mạnh, người có hơn 20 năm hành nghề luật sư trong nước, hiện vẫn là thành viên đoàn Luật sư TP.HCM, nói với RFA quan điểm của ông:

Hối lộ là các tội danh không hề mới. Luật pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định tội danh hối lộ với sự chế tài rất nghiêm ngặt trong bộ luật hình sự vì tính chất nguy hiểm của loại tội phạm này.

Trong tội danh hối lộ, thì mối quan hệ giữa người đưa hối lộ và người nhận hối lộ luôn luôn là mối quan hệ có mục đích vụ lợi. Trong đó, một mặt người đưa hối lộ mong muốn công việc phi pháp hoặc hợp pháp của mình được giải quyết (làm hoặc không làm), do đó, họ hối lộ để đạt được mục đích đó. Mặt khác, người nhận hối lộ đã thực hiện công việc (làm hoặc không làm) để thỏa mãn mong muốn của người đưa hối lộ cũng với mục đích được nhận số tiền hối lộ.

Cho nên, khái niệm “Hối lộ (hoặc tham nhũng) nhưng không vụ lợi” chỉ là sự ngụy biện, cưỡng từ đoạt lý phát sinh một cách méo mó, tùy tiện trong nền tư pháp Việt Nam giai đoạn hiện nay mà thôi. Khái niệm đó không phải là chuẩn mực pháp lý đã đành, mà trong thực tế, cũng không bao giờ diễn ra, vì lẽ, nếu người dưng nước lã với nhau, không ai tự nhiên mang vác một số tiền lớn cho không ai bao giờ cả!”

Theo bản kết luận được Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an công bố ngày 17 tháng 11 năm 2023, tất cả 18 thành viên Đoàn thanh tra ngân TMCP Sài Gòn (SCB) đều đã nhận tiền để thay đổi kết quả thanh tra, che giấu sai phạm của ngân hàng này. Người nhận nhiều nhất là trưởng đoàn Đỗ Thị Nhàn, cựu Cục trưởng thuộc Ngân hàng Nhà nước, với số tiền 5,2 triệu USD, tương đương 118 tỉ đồng. Đoàn thanh tra ngân TMCP Sài Gòn có chín người thuộc Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng; hai người thuộc Kiểm toán Nhà nước; bốn người thuộc Thanh tra Chính phủ; ba người thuộc Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.

000_33NL4NU.jpg
Vụ án "chuyến bay giải cứu". AFP

Luật sư Ngô Anh Tuấn cho rằng, không nên đưa khái niệm “nhận hối lộ không vụ lợi sẽ không bị truy tố”, mà phải bị truy tố, xét xử cho công bằng. Tuy vậy, ông nhận định về việc này với RFA sáng 27 tháng 11:

“Đầu tiên, quan điểm của tôi là đồng ý với sự cẩn trọng của họ trong việc đấu tranh xử lý các hành vi phạm tội, để bảo đảm các nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật hình sự. Trong đó có nguyên tắc suy đoán vô tội theo Điều 13, hoặc nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án. Có nghĩa họ cẩn trọng trong việc xử lý từng con người trong vụ án, đánh giá rõ ràng. Tôi đồng ý với việc đó.

Tuy nhiên, phải xác định rõ hành vi đó có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm hay không, để tính việc miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt. Tức là là có dấu hiệu hình sự nhưng không xử lý; hay là có dấu hiệu hình sự, có xử lý nhưng lại không chịu hình phạt. Phải làm rõ điều đó. Thực tế, nếu nhận tiền mà không có yếu tố vụ lợi thì nó rất khiên cưỡng, khó mà giải thích cho hợp lý.

Trong trường hợp này, tôi nghĩ để xử lý một cách khách quan và công bằng, công bằng với cả những người phạm tội và không phạm tội, thì khi đã xem xét thấy đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì phải truy tố, xét xử bình thường. Còn nếu xét thấy người ta có nhiều công trạng thì có thể xem xét miễn chấp hành hình phạt, nhưng hành vi đó buộc phải xử lý. Không thể làm theo kiểu ngay từ đầu đã xác định “không vụ lợi” và miễn truy cứu. Làm như thế thì không công bằng với cả những người đang bị xử lý.”

Vụ án nhắc lại vụ ông Chu Ngọc Anh, cựu chủ tịch thành phố Hà Nội không bị truy tố tội nhận hối lộ do không biết túi xách do ông Phan Quốc Việt, Chủ tịch Hội Đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Việt Á, để lại có chứa 200.000 đô la.

Ông Chu Ngọc Anh khai tại Cơ quan Điều tra là ông không trao đổi, bàn bạc, thỏa thuận, thống nhất với ông Việt về việc đưa, nhận tiền, không gây khó khăn nhằm mục đích để ông Việt phải đưa tiền.

Truyền thông nhà nước cho hay, trong vụ án liên quan đến Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, có bảy thành viên thuộc đoàn thanh tra cùng nhận tiền từ SCB nhưng lại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, gồm ba người thuộc Kiểm toán Nhà nước, ba người thuộc Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng và một người thuộc Thanh tra Chính phủ.

Theo lý giải của cơ quan chức năng, những người này được xác định là cấp dưới, chỉ tham gia một phần việc do tổ trưởng giao và trong quá trình điều tra, cả bảy người này đều hợp tác tích cực, chủ động nộp lại toàn bộ tiền đã nhận từ SCB trước khi vụ án bị khởi tố.  

Việc nộp tiền khắc phục hậu quả để tránh xét xử hình sự được ông Lê Minh Trí - Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đề xuất hôm 30 tháng 6 năm 2022, tại Hội nghị tổng kết 10 năm phòng chống tham nhũng. Một số chuyên gia luật pháp cho rằng, đề xuất của ông Trí thể hiện một tư duy đi ngược lại nguyên tắc nhà nước pháp quyền.

Trước đó, theo Nghị quyết 03/2020 về thu hồi tài sản tham nhũng của Hội đồng thẩm phán tòa án Nhân dân tối cao có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 2 năm 2021, nếu người phạm tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ trong quá trình tố tụng chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ... sẽ không áp dụng mức cao nhất của khung hình phạt mà người phạm tội bị truy tố, xét xử, kể cả mức án tử hình cũng sẽ được hạ xuống chung thân.

Quốc hội CSVN lại bị chê vụ đổi thẻ căn cước

 

Các nghị gật nhấn nút theo lệnh Tô Lâm về việc đổi thẻ căn cước

Quốc hội nước ta toàn bàn chuyện đại sự, từ việc “đấu giá biển số xe đẹp”, “bỏ chữ công dân sau chữ căn cước”, “cơ chế xử lý người trúng đấu giá rồi bỏ cọc”… Còn những việc nhỏ nhoi như “Luật sở hữu đất đai”, hay “việc xác định nguồn gốc tài sản bất minh của quan tham”… thì dứt khoát là vùng cấm, không được bàn đến.

Nhà báo Nguyễn Thông, cựu biên tập viên tờ Thanh Niên, bình luận: “Giờ đây, quốc hội sau bao nhiêu bàn đi tính lại, nâng lên đặt xuống, tranh luận nảy lửa, thậm chí ông chủ tịch Vương có lần khẳng định tên gọi cái thẻ tùy thân phải là “căn cước công dân” mới đầy đủ và hợp lý, không thể thay đổi, thì hôm qua quốc hội đã quyết định đổi.

Một việc nhỏ con con, đơn giản, dễ làm mà phải mất bao nhiêu công phu, thời gian, tiền bạc, thậm chí mất đoàn kết, để “thành công tốt đẹp”, chứng tỏ bộ máy thượng tầng rất rảnh, vô tích sự, kém hiệu quả.

Trong dư luận dân chúng, mạng miếc, có không ít người cười bảo rằng cuối cùng lại bắt chước chính thể Việt Nam cộng hòa, thực ra cũng không hẳn vậy. Họ bắt chước chính họ. Chính cái bộ máy của chế độ này cách nay hơn 50 năm đã từng gọi thẻ ấy là “căn cước”. Đang yên đang lành, tự dưng phát huy trí tuệ sáng suốt, đổ đốn tư duy, đổi nó thành chứng minh thư, chứng minh nhân dân, giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân, rất rắc rối, đèn cù, lằng nhằng dây điện.

Tôi nói có sách mách có chứng. 50 năm trước, năm 1973, ở miền Bắc, tôi đã từng có thẻ căn cước. Chỉ có điều, chả biết hồi ấy mặt mũi nhân dạng thế nào mà bị “quy” thành “sống mũi thẳng khúc khuỷu”. Thông tin cá nhân này cũng lạc hậu rồi cho nên tôi chẳng sợ bị lộ.

Điều này cũng cần nói thêm: Theo luật mới vừa được quốc hội thông qua, “những căn cước công dân đã được cấp trước ngày luật có hiệu lực thi hành vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn được in trên thẻ”. Vậy tôi hỏi các bác công an và tất cả các bác chức việc nhà nước kính mến: Căn cước công dân gắn chip của tôi chỗ mục “Có giá trị đến” ghi rõ là “Không thời hạn”, vậy tôi cứ tuân chỉ, làm theo luật mới thì có… vi phạm pháp luật không?

Hàng triệu người đã được cấp căn cước có giá trị vĩnh viễn, vậy mà ra cái luật, thông qua cái luật cũng không nên hồn.” Tôi nói thật.”

Cùng thời điểm, nhà văn Trần Quốc Quân nhận xét: “

Quốc hội nước ta toàn bàn chuyện đại sự, từ việc “đấu giá biển số xe đẹp”, “bỏ chữ công dân sau chữ căn cước”, “cơ chế xử lý người trúng đấu giá rồi bỏ cọc”… Còn những việc nhỏ nhoi như “Luật sở hữu đất đai”, hay “việc xác định nguồn gốc tài sản bất minh của quan tham”… thì dứt khoát là vùng cấm, không được bàn đến.

Quốc hội nước ta là diễn đàn của quan, để quan diễn, dứt khoát không phải của dân. Đừng mơ!”

https://www.datviet.com/quoc-hoi-csvn-lai-bi-che-vu-doi-the-can-cuoc/

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ có gì khác sư quốc doanh?

 Thái Hạo

Lễ tang Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đang diễn ra ở chùa Phật Ân ở tỉnh Đồng Nai

Hình ảnh của Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ trái ngược hẳn với những kẻ đang “ôm giữ chùa tháp”, liên minh và quỳ sụp dưới chân quyền lực thế tục để mưu lợi tầm thường và đáng hổ thẹn đang nhan nhản trong thời buổi này.

Thầy là một tu sĩ Phật giáo, người có kiến văn quảng bác cả về tư tưởng Đông phương lẫn triết học và văn hóa Tây phương. Là một trí tuệ lớn đã nối tiếp hòa thượng Thích Quảng Độ lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cho đến khi viên tịch vào ngày 24.11.2023.

Trước 1975, lúc mới 25 tuổi, thầy đã là giáo sư đại học Vạn Hạnh lừng lẫy ở miền Nam, và là một trong những tên tuổi có ảnh hưởng lớn bậc nhất ở tạp chí Tư Tưởng – một ấn phẩm đã đóng góp to lớn cho nền văn hóa Việt Nam hiện đại.

Năm 1988, thầy bị kết án tử hình với cáo buộc “âm mưu lật đổ chính quyền”. Với sự đấu tranh của tăng ni, Phật tử, trí thức và các tổ chức nhân quyền quốc tế, án được giảm xuống 20 năm tù giam. Sau 14 năm bị giam cầm, Thầy được thả trong tư thế bất khuất, tuyệt thực và không xin ân xá như đề nghị.

Thầy để lại một sự nghiệp văn hóa đồ sộ về thơ ca, triết học, Phật học và những lớp học trò trực tiếp và gián tiếp chịu ảnh hưởng sâu sắc của mình. Nhân cách và trí tuệ của thầy là một tấm gương sáng chói về tinh thần tự học phi thường, thông thạo 12 ngôn ngữ, tinh tường cả hai nền văn hóa Đông – Tây, sống một đời giản dị thanh bần nhưng là một biểu tượng cao đẹp của tinh thần “uy vũ bất năng khuất”.

Với tôi, thầy Tuệ Sỹ trước hết và quan trọng nhất, là một hình mẫu lý tưởng về người trí thức hiện đại. Nếu chỉ biết đến thầy như một nhà tu hành thì có lẽ sẽ là điều khiếm khuyết. Bằng tài năng, trí tuệ, nhân cách và thái độ dấn thân “ngã nguyện vô cùng”, thầy đã thị hiện một chân dung toàn vẹn của người tu sĩ Phật giáo chân chính bên cạnh hình ảnh trí thức và thái độ của một công dân nặng trĩu trách nhiệm với xã hội, đất nước và dân tộc. Hình ảnh của thầy trái ngược hẳn với những kẻ đang “ôm giữ chùa tháp”, liên minh và quỳ sụp dưới chân quyền lực thế tục để mưu lợi tầm thường và đáng hổ thẹn đang nhan nhản trong thời buổi này.

Thầy cũng là một tiếng nói xa lạ với những người luôn rao giảng về “buông bỏ”, về “tỉnh thức”, về “lánh đục”; xa lạ với những lời ngụy tín của “năng lượng tích cực”, của “việc của mình là xanh”, của “tròn ngay tự trong tâm”…, để đứng sừng sững như một ngọn núi lớn giữa bão táp mưa sa của quyền lực đen tối và những thế lực đang phá hoại chánh pháp, hủy hoại nền văn hóa dân tộc.

Sống chết là lẽ tự nhiên của đời người. Với một bậc chân tu như thầy Tuệ Sỹ, cái chết có lẽ chỉ như việc thả mình vào một giấc ngủ bình yên, đến đi như hơi thở. Tuy nhiên, có lẽ đối với Phật giáo và văn hóa, tinh thần Việt Nam, sự ra đi của Thầy là một mất mát sẽ để lại khoảng trống lớn không gì bù đắp được.

Điều khiến cá nhân tôi bất an nhất chính là một sự đứt gãy khó hàn gắn trong dòng chảy vốn đã mỏng manh và đầy bất trắc này. Nguyện cho điều lo lắng ấy sẽ chỉ là thừa thãi, bởi những thế hệ nối tiếp của thầy đã được chuẩn bị đến nhuần thấm nhân cách và có đầy đủ trí tuệ như thầy mình…

Việc ngưỡng mộ thầy có lẽ quan trọng và chỉ thực sự có ý nghĩa khi mỗi người gắng học và sống như công hạnh của thầy, được chút nào hay chút ấy…

Báo Đất Việt đang hiện diện trên Facebook tại đây.

Vì sao CSVN coi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là ‘khắc tinh’?

Nguyễn Huy Vũ



Lãnh đạo cộng sản đã nhìn thấy kinh nghiệm rõ ràng rằng một giáo hội Phật giáo có tổ chức, mạnh mẽ, và độc lập đã làm điêu đứng chính quyền Việt Nam Cộng Hòa như thế nào và họ không muốn lặp lại sai lầm này một lần nữa.

Miền Nam thất thủ vào năm 1975 đánh dấu sự kết thúc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất khi các lãnh đạo của tổ chức này lần lượt bị bỏ tù, có người phải chết trong tù. Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ cũng bị chung số phận. Ông bị bắt đi tù cải tạo từ 1978 đến 1981, và sau đó bị bắt lại vào năm 1984, bị kêu án tử hình sau giảm xuống chung thân và phóng thích vào năm 1998 dưới áp lực của quốc tế. Tổng cộng là 17 năm tù. Ông từng là một giáo sư của Viện Đại học Vạn Hạnh, Phó Viện trưởng Viện Hoá đạo, và sau đó là Chánh Thư ký kiêm Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Chính trị là nghệ thuật dẫn dắt quần chúng. Khi một lãnh đạo có quần chúng đi theo, ông ta nghiễm nhiên trở thành một người có ảnh hưởng chính trị.

Với một đa số dân chúng theo đạo Phật, việc một giáo hội được hình thành quy tụ tất cả các lãnh đạo tôn giáo ngồi lại với nhau để thực hiện những chương trình và chính sách riêng, nằm ngoài sự quản lý và kiểm soát của chính quyền, vô hình chung tự nó biến thành một thế lực chính trị cạnh tranh ảnh hưởng trực tiếp với chính quyền sở tại.

Các chính quyền từ thời Hậu Lê cho tới thời Pháp kiểm soát được Phật giáo vì chính quyền mạnh. Ngược lại, các chính quyền thời Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu yếu hơn hẳn và do đó không thể kiểm soát được các tổ chức Phật giáo. Riêng với chính quyền cộng sản, những lãnh đạo cộng sản có thừa sức mạnh và sự cứng rắn, họ đã ngay lập tức đặt Phật giáo dưới sự kiểm soát của mình bằng cách xoá sổ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và các tổ chức ngoại vi của nó, lập nên một giáo hội Phật giáo do họ kiểm soát mà trong đó có một số các thành viên lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tham gia.

Các lãnh đạo cộng sản đã nhìn thấy kinh nghiệm rõ ràng rằng một giáo hội Phật giáo có tổ chức, mạnh mẽ, và độc lập đã làm điêu đứng chính quyền Việt Nam Cộng Hòa như thế nào và họ không muốn lặp lại sai lầm này một lần nữa.

Tuy vậy, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất sau đó vẫn còn tồn tại, dù ít ảnh hưởng hơn và với một số lượng nhỏ hơn các cơ sở và tín đồ.

Phật giáo, sau 2.000 năm hoà mình cùng dân tộc, nó đã trở thành một phần văn hóa của dân tộc. Một giáo hội có thể thịnh có thể suy, nhưng ngày nào còn người Việt thì ngày đó hẳn còn Phật giáo Việt Nam.

Trong tương lai, sẽ tốt hơn nếu Việt Nam có những hệ phái Phật giáo khác nhau cùng tồn tại, song song với cả những tôn giáo khác. Những hệ phái khác nhau của Phật giáo sẽ phải tự thay đổi trong cách nghiên cứu, giảng dạy, thực hành, và cạnh tranh với nhau. Tất cả những điều đó sẽ giúp làm giàu hơn văn hoá của dân tộc.

Những hệ phái với các giáo hội đủ nhỏ và khiêm tốn để không phải gây ra một sự đe dọa tiềm tàng nào về mặt chính trị đối với nhà cầm quyền. Lúc đó nó sẽ được tự do hơn trong các hoạt động tôn giáo và thiện nguyện của mình.

Chính quyền với danh nghĩa là tổ chức đại diện cho tiếng nói và lợi ích của quốc gia phải chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết các vấn đề về an sinh và phúc lợi cho người dân. Ngoài lý do chính danh và trách nhiệm, đó cũng là bởi vì chính quyền có đầy đủ nguồn lực để giải quyết.

Báo Đất Việt đang hiện diện trên Facebook tại đây.

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ: ‘Tham nhũng là quốc nạn ở Việt Nam’

 Thích Tuệ Sỹ

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ là nhân vật không khuất phục bạo cường

Trong gần 15 năm trong tù, điệp khúc tôi phải thường xuyên học tập để ca ngợi tính can đảm của đảng CSVN: “Cán bộ làm sai, đảng trị. Đảng làm sai, đảng sửa.” Tôi cũng thường xuyên trả lời: “Đó không phải là sự can đảm, mà là thái độ cai trị khinh dân; xem dân như là vật thí nghiệm cho những tư duy không tưởng, học thuyết viễn vông.”

Mặc dù không có cái may như nhiều đồng bào sau khi sống tự do ở nước ngoài về thăm quê, thấy được những đổi thay từ trên thượng tầng, thấy được sự giàu sang của đất nước qua những tiện nghi vật chất từ các khách sạn năm sao dành cho cán bộ cao cấp và khách nước ngoài, từ những tiếp đón niềm nỡ và linh đình của các nhân vật thuộc thượng tầng xã hội, với những đặc quyền xã hội mà điều kiện chính trị dành cho, nhưng tôi có cái “may mắn” khác – nếu cho đó là may mắn – được sống chung trong một thời gian rất dài với thành phần được xem là “cặn bã” của xã hội.

Chính từ xã hội gọi là cặn bã ấy tôi đã chứng kiến những đổi thay trong nhà tù như là ảnh chiếu của những “đổi thay to lớn” của đất nước. Sự chứng kiến cũng đơn giản và dễ hiểu thôi. Cũng như người ta chỉ cần nhìn vào rác rưởi phế thải được dồn ra sân sau mà có thể biết những thứ đã được tiêu thụ ở sân trước. Chúng tôi, một số người từ lâu đã được học tập để thành thói quen suy nghĩ số phận dân tộc từ những đống rác, đã tự mình đặt thành nhiều câu hỏi cho lương tâm nhân loại, cho ý nghĩa tiến bộ của xã hội loài người, và trên tất cả là một câu hỏi lịch sử: “Đất nước đã thấm bao nhiêu xương máu của bao nhiêu thế hệ ông cha và bè bạn để dồn lại thành những đống rác như thế; những đống rác càng ngày càng to phình lên một cách khủng khiếp.”

Việt Nam đang là một đống rác khổng lồ. Đó không phải là ý nghĩ riêng của tôi, mà là nhận xét của nhân vật cao cấp nhất của đảng CS Việt nam. Đây không chỉ là ý nghĩa kinh tế. Nó bao trùm tất cả mọi khía cạnh đời sống: “Văn hóa, chính trị, và cả tôn giáo.” Vậy thì, một câu hỏi cần phải được đặt ra cho những ai còn có chút tự trọng dân tộc: “Tại sao một dân tộc luôn luôn tự hào với truyền thống bốn nghìn năm văn hiến, bỗng nhiên để cho đất nuớc mình trở thành một đống rác, kho chứa tất cả những gì xấu xa nhất của nhân loại văn minh. Nguyên nhân từ đâu và do ai?”

Trong gần 15 năm trong tù, điệp khúc tôi phải thường xuyên học tập để ca ngợi tính can đảm của đảng CSVN: “Cán bộ làm sai, đảng trị. Đảng làm sai, đảng sửa.” Tôi cũng thường xuyên trả lời: “Đó không phải là sự can đảm, mà là thái độ cai trị khinh dân; xem dân như là vật thí nghiệm cho những tư duy không tưởng, học thuyết viễn vông của mình.”

Tôi cũng thường xuyên bị học tập rằng, chính sách đoàn kết dân tộc của đảng là làm cho “dân tin đảng và đảng tin dân.” Tôi cũng thường xuyên trả lời: “Làm cho dân tin đảng; đó là điều tất nhiên và dễ hiểu thôi vì có đáng tin thì người ta mới tin được; vì đảng cần được dân tin tưởng để tồn tại, dù chỉ là tin tưởng giả tạo”. Nhưng “đảng tin dân” có nghĩa là thế nào “Nếu đảng không tin dân thì đảng xử lý dân như thế nào” Câu trả lời thực tế: “Cả nước trở thành một nhà tù vĩ đại.”

Ngày nay, khi không còn ở trong nhà tù nhỏ, tôi không còn có điều kiện để được lên lớp chính trị. Tôi hy vọng đảng CSVN không còn có cái can đảm như xưa, để thử nghiệm học thuyết của mình thêm nhiều lần nữa; và cũng không thi hành chính sách “đại đoàn kết” như xưa để dân có thể sống tự tại mà không bị đảng nghi ngờ.

Mặc dù có những thay đổi lớn nhìn từ góc độ nào đó, nhưng thực tế tôi biết chắc rằng có một điều không thay đổi. Đó là: “đảng CS vẫn tự coi mình là ân nhân của dân tộc và do đó có độc quyền quyết định số phận của dân tộc (mà là ân nhân hay là tội đồ gì thì quần chúng và lịch sử trước mặt sẽ phán xét). Đó là điểm khác biệt với các chế độ chuyên chính lừng danh trong lịch sử.” Đây cũng chính là nguyên nhân của một trong những điều mà các đảng viên bảo thủ cho là “rác rưởi tư bản.” Điều đó là nạn tham nhũng. Bởi vì, quan liêu, hách dịch, thái độ kẻ cả ban ơn, vừa là bản chất và vừa là dưỡng chất của tệ nạn tham nhũng của Việt nam hiện nay.

Mọi tội phạm xảy ra đều do một bên gây hại và một bên bị hại. Trong tham nhũng, mới nhìn thì không có ai bị hại một cách rõ ràng. Trước mắt, người đưa hối lộ và người nhận hối lộ đều nhận được những điều lợi nhất định. Như vậy người bị hại chính là quần chúng, không đủ đặc quyền để tham gia nhằm hưởng lợi trực tiếp từ nạn tham nhũng. Nghĩa là những thành phần cùng khốn của xã hội chẳng có gì để cho nên chẳng nhận được gì nên vì vậy họ trở thành nạn nhân. Tính cá biệt của nạn tham nhũng ở Việt nam hiện tại là do thái độ ban ơn của những kẻ có chức quyền đối với “thần dân” dưới sự cai trị của mình.

Tham nhũng ở Việt Nam không chỉ là thỏa thuận song phương để dành những hợp đồng kinh tế béo bở. Nó bòn rút xương tuỷ của nhân dân; những người cùng khốn phải còng lưng lao động để có tiến đóng thuế.

Tham nhũng là gốc rễ của các tệ nạn xã hội khác. Vì nó tổ chức, bao che và nuôi dưỡng chúng. Nó xói mòn mọi giá trị đạo đức truyền thống. Bảo vệ hay phát huy văn hóa dân tộc trên cơ sở đó chỉ là lá chắn cho tệ nạn tràn lan mà thôi.

Tôi nói, tham nhũng là sân sau của quyền lực. Bởi vì chính những người dân cùng khốn, mà tiếng nói luôn luôn bị áp chế bằng sự dọa nạt, là những người bị trấn áp bởi bạo quyền chuyên chính khối liệt nhất, nhưng cũng lặng lẽ chịu đựng nhất. Đó là những chứng nhân cho mặt trái của tham nhũng và quyền lực; nạn nhân trực tiếp của tất cả sự áp chế của nó đối với giá trị nhân phẩm.

https://www.datviet.com/hoa-thuong-thich-tue-sy-tham-nhung-la-quoc-nan-o-viet-nam/

Căn cước: Rối!

 Nguyễn Thông-28-11-2023

Ảnh chụp mặt trước và mặt sau giấy Căn cước của tác giả

Giờ đây, Quốc hội sau bao nhiêu bàn đi tính lại, nâng lên đặt xuống, tranh luận nảy lửa, thậm chí ông chủ tịch Vương có lần khẳng định, tên gọi cái thẻ tùy thân phải là “căn cước công dân” mới đầy đủ và hợp lý, không thể thay đổi, thì hôm qua Quốc hội đã quyết định đổi.

Một việc nhỏ con con, đơn giản, dễ làm mà phải mất bao nhiêu công phu, thời gian, tiền bạc, thậm chí mất đoàn kết, để “thành công tốt đẹp”, chứng tỏ bộ máy thượng tầng rất rảnh, thái vô tích (vô tích sự), kém hiệu quả.

Trong dư luận dân chúng, mạng miếc, có không ít người cười, bảo rằng cuối cùng lại bắt chước chính thể Việt Nam Cộng hòa, thực ra cũng không hẳn vậy. Họ bắt chước chính họ. Chính cái bộ máy của chế độ này cách nay hơn 50 năm (nửa thế kỷ) đã từng gọi thẻ ấy là “căn cước”. Đang yên đang lành, tự dưng phát huy trí tuệ sáng suốt, đổ đốn tư duy, đổi nó thành chứng minh thư, chứng minh nhân dân, giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân, rất rắc rối, đèn cù, lằng nhằng dây điện.

Tôi nói có sách mách có chứng. 50 năm trước, năm 1973, ở miền Bắc, tôi đã từng có Thẻ căn cước. Chỉ có điều, chả biết hồi ấy mặt mũi nhân dạng thế nào mà bị “quy” thành “sống mũi thẳng khúc khuỷu”. Thông tin cá nhân này cũng lạc hậu rồi cho nên tôi chẳng sợ bị lộ.


Điều này cũng cần nói thêm: Theo luật mới vừa được Quốc hội thông qua, “những căn cước công dân đã được cấp trước ngày luật có hiệu lực thi hành vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn được in trên thẻ“. Vậy tôi hỏi các bác công an và tất cả các bác chức việc nhà nước kính mến: Căn cước công dân gắn chip của tôi chỗ mục “Có giá trị đến – Date of expiry” ghi rõ là “Không thời hạn”, vậy tôi cứ tuân chỉ, làm theo luật mới thì có… vi phạm pháp luật không?

Hàng triệu người đã được cấp căn cước có giá trị vĩnh viễn (không thời hạn), vậy mà ra cái luật, thông qua cái luật cũng không nên hồn. Tôi nói thật.

Giáo dục thành cái chợ lừa đảo

 Chu Mộng Long-28-11-2023


Khi các giáo sư, tiến sĩ bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ với hành vi bán bài báo của PGS. Đinh Công Hướng cho các trường hạng bét nâng hạng lên top đầu đại học thì có một giảng viên từng là thầy tôi cũng nhảy vào bình luận với sự đồng cảm, chia sẻ thống thiết. Nội dung như sau:

“Tôi đã từng viết thuê một luận văn thạc sĩ, dù chỉ lấy ba triệu đồng, cho nên tôi rất đồng cảm, chia sẻ với thầy Hướng”.

Rất nhiều like cho một dòng bình luận như vậy. Nếu tổng hợp, thống kê những ý kiến cả trên báo nhà nước, lẫn mạng xã hội ủng hộ thầy Hướng, thì có lẽ số lượng lên đến cả vạn.

Ý kiến của ông thầy tôi trên kia, cũng như các ý kiến khác còn mang hàm nghĩa: Tự khoe năng lực của mình. Bởi khi bày tỏ đồng cảm, chia sẻ ấy, họ cũng bày tỏ sự nể phục tài năng của thầy Hướng. Nể phục thầy Hướng để thể hiện “liên tài”. Nôm na, như cụ cả từng tự hào: “Mình phải thế nào mới có người thuê mình viết bài báo, viết luận văn, luận án cho họ chứ!”

Trong Kim Vân Kiều truyện có đoạn ở nhà chứa, bọn gái lầu xanh tranh khách. Đứa một ngày ôm nhiều khách cũng nói tương tự: “Mình phải như thế nào mới có nhiều khách chứ!”

Truy lên mạng thì thấy, có cả một cái chợ rao công khai dịch vụ viết thuê bài báo, luận văn, luận án mới kinh! Ai tham gia vào dịch vụ này? Hiển nhiên phải là lực lượng giáo sư, tiến sĩ. Giáo dục đã thành cái chợ đen hoạt động nhiều năm. Đến khi giáo sư, tiến sĩ vênh mặt tự hào khoe mình tham gia vào cái loại dịch vụ như vậy thì không thể nói khác hơn: Giáo dục đang là cái động đĩ khổng lồ. Bằng cấp, danh hiệu đang như cái thứ “nước vỏ lựu, máu mào gà” lừa cả thiên hạ!

Nghĩ mình ngồi các hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, viết nhận xét cho các luận án tiến sĩ, là đang chấm và nhận xét cái thứ “nước vỏ lựu, máu mào gà” như vậy. Nhục nhã ê chề.

Bộ Giáo dục và cơ quan chức năng làm ngơ đến bao giờ? Nói thật, cái thuở tôi nghèo rớt mồng tơi, khó khăn chồng chất, có người cho tôi nhiều tiền để tôi viết luận văn, luận án cho, tôi đã từ chối thẳng thừng. Người thân học từ xa nhờ tôi làm bài thay, tôi càng từ chối. Đến bài tập về nhà của con tôi, tôi cũng chỉ giảng cho nó hiểu và để nó tự làm. Hướng dẫn khoá luận đại học, luận văn thạc sĩ thì cũng chỉ hướng dẫn đúng nghĩa, không có chuyện làm thay.

Vậy mà, trong khi tôi biết, nhiều bậc cha mẹ làm thay bài tập cho con, dám khoe luôn đã làm thay công trình khoa học kỹ thuật cho con dự thi cấp quốc gia để đoạt giải. Không loại trừ nhiều giáo sư, tiến sĩ ăn phong bì rồi ngồi viết thay luận văn, luận án cho học viên, nghiên cứu sinh mình hướng dẫn. Không khó hiểu khi lộ chuyện thầy Hướng thì nhiều giáo sư, tiến sĩ khoe luôn đã từng tham gia dịch vụ viết thuê bài báo, luận văn, luận án để tự ngợi ca năng lực của mình.

Giáo dục mà như vậy thì nhà trường thành nhà thổ, giáo sư, tiến sĩ thành Tú Bà và những kẻ chạy đua theo danh hiệu, bằng cấp là những con đĩ!

Đến lượt chính những nhà giáo trung thực ngồi chấm luận văn, luận án, hoặc bỏ phiếu học hàm học vị phải tự thú nhận, mình đã thành kẻ bị “nước vỏ lựu, máu mào gà” lừa cho. Nhưng không ai lên tiếng vì cái bất thường đã thành bình thường. Khốn nạn tột cùng!

Xin lỗi các thầy. Đến lúc tôi phải khạc nhổ vào các thầy chứ không chỉ nói lời khinh bỉ!



Góp ý với các nhà báo: Giảm thiểu tối đa

 Nguyễn Thông-27-11-2023


Hiện trên mặt báo quốc doanh, người đọc thường xuyên nhai phải cục sạn “giảm thiểu tối đa”. Mà không chỉ nhà báo (phóng viên, biên tập viên) dùng sai, ngay cả nhiều ông bà lãnh đạo, làm tới chức bộ trưởng, phó thủ tướng, thủ tướng, ủy viên trung ương cũng cứ “giảm thiểu tối đa”. Họ nói, họ viết như mê ngủ, hoàn toàn không hiểu nghĩa của cụm từ này. Càng dịp cuối năm, sơ kết, tổng kết nhiều, càng nhan nhản “giảm thiểu tối đa”.

Trong cụm từ “giảm thiểu tối đa” ta thấy toàn từ Hán Việt. Trong đó, “tối” nghĩa là hết sức, hết mức, nhất, để chỉ sự cao nhất, nhiều nhất, đỉnh; ví dụ: tối ưu (tốt nhất), tối mật (bí mật nhất), quy chế tối huệ quốc (quy chế cho nước được nhiều ưu đãi nhất).

“Đa” là nhiều, lắm; tối đa là nhiều nhất, nhiều hết mức; ví dụ: Đa mưu là lắm mưu, đa dục là nhiều ham muốn, ham muốn hết mức. Văn cổ có câu “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, tức là chỉ cần tinh chất mà không cần nhiều, thà ít mà chất lượng cao, còn hơn nhiều mà thấp (trong tiếng Việt, “quý hồ” nghĩa là miễn sao, chỉ cần); hoặc truyện dân gian có câu “đa mao thiểu nhục, tắc phù” nghĩa là nhiều lông ít thịt thì nổi (trong truyện, câu này để chỉ con vịt. Nghe anh thư sinh nói vậy, anh ít chữ mới vặn, thế cái thuyền kia thì lông đâu, thịt đâu mà nó vẫn nổi).

Đối lập với đa là thiểu. “Thiểu” nghĩa là ít. Ví dụ: Thiểu số là số ít; dân tộc thiểu số tức là dân tộc có ít người (so với người Kinh); thiểu năng là khả năng, năng lực, cái sức làm bị hạn chế; tối thiểu là ít nhất.

Theo cái cách dùng từ của các nhà báo và mấy vị lãnh đạo kia, ý họ muốn nói “giảm thiểu tối đa” là hạ xuống, giảm xuống còn ít nhất.

Khổ nỗi, không ai lại trái khoáy cưỡng ép, gán ghép “thiểu” với “đa” vào nhau như vậy. Đã “thiểu” lại còn “đa”, nghe như chọc vào lỗ tai. Đã ít chữ, hiểu không hết, thì tại sao không diễn đạt đơn giản, chẳng hạn “giảm tối đa”, “giảm nhiều nhất”, “giảm xuống mức thấp nhất”.

Xin giữ vững lòng trung

 Phạm Đình Trọng-28-11-2023

Ảnh tác giả chụp cùng một số người tại đám tang ông Phạm Văn Hùng.

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Nội hàm cốt lõi của điều 25 Hiến pháp 2013 hiện hành là công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội và tự do biểu tình.

Thực hiện điều 25 Hiến pháp hiện hành, tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng đứng ra lập Hội Nhà Báo Việt Nam Độc Lập, nói tiếng nói tự do ngôn luận của quyền con người, của trách nhiệm công dân. Hội Nhà Báo Việt Nam Độc Lập có mặt trong đời sống xã hội Việt Nam từ ngày 4.7.2014.

Là tổ chức của xã hội dân sự, Hội Nhà Báo Việt Nam Độc Lập tự nuôi sống bằng hoạt động báo chí lành mạnh, chính đáng. Khác với các hội quốc doanh như Hội Nhà Báo Việt Nam do quyền lực hành chính nhà nước dựng lên, phải sống bằng bầu sữa ngân sách, mỗi năm nhà nước phải rót hàng chục tỉ đồng tiền thuế của dân nuôi hội nhà báo quốc doanh, chỉ để làm công cụ tuyên truyền cho nhà nước chuyên chính vô sản.

Hiến pháp cho người dân quyền lập hội, đương nhiên Hội Nhà Báo Việt Nam Độc Lập là tổ chức dân sự hợp pháp. Dân hành xử theo pháp luật. Nhưng nhà nước chuyên chính vô sản ỷ vào sức mạnh bạo lực nhà nước và nắm trong tay quyền lực hành chính, không hành xử theo pháp luật, không nhìn nhận quyền lập hội chính đáng, hợp pháp của dân, không công nhận Hội Nhà Báo Độc Lập.

Cũng như Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập ở Nam Việt Nam từ năm 1964. Năm 1981, sáu năm sau thâu tóm hoàn toàn lãnh thổ cả nước, nhà nước chuyên chính vô sản mới lập ra Giáo hội Phật Giáo quốc doanh có tên Giáo hội Phật Giáo Việt Nam để thâu tóm cả đức tin của người dân cả nước. Giáo hội mang triết lí, mang tư tưởng nguyên sơ, sâu thẳm và đích thực của đạo Phật, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bị gạt ra ngoài hệ thống tôn giáo chính thống, bị gạt ra ngoài vòng pháp luật!

Tất cả những tổ chức quốc doanh, từ kinh tế đến tôn giáo đều chỉ là công cụ cai trị của đảng cộng sản cầm quyền, chỉ vì mục đích chính trị của đảng cộng sản, không vì mục đích và tôn chỉ mà tổ chức đó mang tên.

Giáo hội Phật Giáo quốc doanh mang tên Giáo Hội Việt Nam đưa chủ nghĩa xã hội hoang tưởng và đầy tội ác trở thành đức tin tôn giáo: Đạo Pháp và Chủ Nghĩa Xã Hội. Những con người tạo ra một thời lịch sử đẫm máu dân, những con người say mê lấy bạo lực chuyên chính vô sản cướp mạng sống và cướp tài sản của dân suốt chiều dài lịch sử tồn tại: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, rồi cả Đỗ Mười, Trần Đại Quang… Giáo hội Phật Giáo quốc doanh đúc tượng những con người mang nợ máu với dân, với lịch sử đưa lên bệ thờ cạnh tượng Phật trong nhà chùa, đạo Phật chân chính làm sao có thể chấp nhận, thì giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập từ năm 1964 không thể là thành viên, không thể hoà tan vào giáo hội quốc doanh Đạo Pháp và Chủ Nghĩa Xã Hội!

Thế là nhà tư tưởng uyên bác nhất của giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, người có ảnh hưởng lớn nhất, sâu rộng nhất và bền vững nhất với phật tử Việt Nam, hoà thượng Thích Tuệ Sỹ liền bị vu tội “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân”, bị tuyên án tử hình.

Lãnh tụ tinh thần và nhà tư tưởng của giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hoà thượng Thích Tuệ Sỹ bị bắt khẩn cấp, bị tuyên án tử hình thì chủ tịch hội Nhà Báo Việt Nam Độc Lập, tiến sĩ Phạm Chí Dũng cũng bị bắt khẩn cấp, bị tuyên bản án nặng nề 15 năm tù!

Cũng như khí tiết lẫm liệt của nhà tư tưởng Phật giáo chân chính Thích Tuệ Sỹ khi nhà nước chuyên chính vô sản yêu cầu Ngài cúi đầu xin ân xá, Ngài khẳng khái trả lời: “Không ai có quyền xét xử tôi! Không ai có quyền ân xá tôi“. Chủ tịch hội Nhà Báo Việt Nam Độc Lập, tiến sĩ Phạm Chí Dũng cũng không nhìn nhận tính hợp pháp của phiên toà xét xử ông, không nhìn nhận tính hợp pháp của bản án 15 năm tù, ông không kháng cáo.

Chủ tịch Hội Nhà Báo Việt Nam Độc Lập, tiến sĩ Phạm Chí Dũng bị cấm cố trong ngục tù nhà nước chuyên chính vô sản tròn bốn năm, thì người Cha thân yêu của ông, nhà cách mạng Phạm Văn Hùng mãn lộc Trời ở cõi tạm, về tiêu dao vĩnh hằng nơi cõi Phật.

Trong ngục tù, tiếng nói quyền con người, tiếng nói trách nhiệm công dân của chủ tịch Hội Nhà Báo Việt Nam Độc Lập, tiến sĩ Phạm Chí Dũng phải câm lặng nhưng tiếng nói sự thật không mất đi trong cuộc sống. Tất cả những nhà báo chân chính còn có tự do đã và đang mạnh mẽ cất lên tiếng nói sự thật của chủ tịch Hội Nhà Báo Việt Nam Độc Lập, tiến sĩ Phạm Chí Dũng.

Trong ngục tù, chủ tịch Hội Nhà Báo Việt Nam Độc Lập, tiến sĩ Phạm Chí Dũng không thể về chịu tang người Cha thân yêu, thì đông đảo những nhà báo chân chính còn có tự do đã có những đại diện thay mặt chủ tịch Hội Nhà Báo Việt Nam Độc Lập, tiến sĩ Phạm Chí Dũng về quê nhà xã Phú Hựu, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp chịu tang người Cha thân yêu.

Tự do là giá trị của cuộc sống. Không bạo lực nào khuất phục được tự do. Trong tấm lòng trung trinh với nghĩa lớn có tình cảm tận hiếu riêng tư. Xin tiến sĩ nhà báo Phạm Chí Dũng an lòng giữ vững lòng trung với sự nghiệp đấu tranh cho xã hội dân chủ và quyền tự do của con người.

Công lý và pháp quyền

 Huy Đức-28-11-2023

Ảnh chụp bìa sách “Một lý thuyết về công lý” và “Về pháp quyền”. Nguồn: FB tác giả

Hôm qua, một ông anh gọi, tâm sự: Sau khi bị tòa tuyên thua trong một vụ tranh chấp tài sản mà anh tin là tất cả lý lẽ đều thuộc về anh, anh muốn nhảy từ lầu cao tòa án xuống.

Tôi hỏi, “Để làm gì”. Anh nói, “Để họ biết, để dư luận biết”. Tôi nói, “Với những kẻ sẵn sàng ra một bản án bất chấp đạo lý và pháp lý [như anh nói], lương tri của họ không làm việc. Họ sẽ đứng ở ban công nhìn xe chở xác anh đi rồi lại mở công văn đọc tiếp“.

Cũng vừa mấy hôm qua, một người dân gửi cho tôi bộ hồ sơ xin điều chỉnh diện tích và tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nộp đã mấy năm mà không hiểu sao không làm được. Vì tôi không thể trực tiếp điều tra, tôi hứa với cô, tôi sẽ chuyển trường hợp của cô cho một nhà báo. Nhưng, tới hôm nay vẫn chưa nghĩ ra có thể chuyển cho nhà báo nào.

Tôi vẫn thường nói với các nhà báo và hôm qua tôi nói với “ông anh” của tôi, “Anh sẽ không tuyệt vọng đến mức đó nếu anh không quá tin là tòa sẽ xử theo công lý“. Sống mà không tin vào công lý thì sẽ rất bất hạnh. Nhưng, sống mà tin một cách tuyệt đối rằng, hệ thống tư pháp này có khả năng cung cấp công lý thì còn bất hạnh hơn.

Tôi không biết ông Nguyễn Cảnh Bình in bộ sách này là để trang trí hay để tìm người đọc. Tôi không rõ ở trong trường luật, trường báo chí và cả trường dạy cảnh sát, an ninh… sinh viên có đọc những loại sách này không. Làm luật sư, làm báo, làm cảnh sát, làm thẩm phán… mà không tin vào công lý thì khi đối diện với cách vận hành hiện nay của hệ thống tư pháp rất dễ, ngay lập tức, tha hóa.


Đây là những cuốn sách được viết trong thế giới tư bản. Nhưng, tôi nghĩ, chúng cần cho các nước XHCN hơn. Theo tôi, lý do CNXH không thành công trong “phe XHCN” là bởi công lý đã không được coi là nguyên tắc quan trọng nhất; mục đích đã bị lấy để biện minh cho phương tiện.

Không có nhà nước pháp quyền thì không bảo vệ được công lý, không hình thành được xã hội dân sự, không xây dựng được kinh tế thị trường, và cũng sẽ không bao giờ có CNXH [theo nghĩa công bằng, dân chủ…].

Triều cường gây ngập, dân Sài Gòn vất vả sống chung dòng nước ô nhiễm

 SÀI GÒN, Việt Nam (NV) –Nhiều người phải bì bõm lội nước, nhiều gia đình vất vả sống trong dòng nước đen hôi thối khi triều cường dâng cao ở Sài Gòn.

Theo ghi nhận của báo Thanh Niên, khoảng 5 giờ chiều 28 Tháng Mười Một, triều cường dâng cao gây ngập ở khu vực đường Phú Định, đường Nguyễn Ngọc Cung…, quận 8.

Triều cường dâng cao gây ngập đường phố, nhà cửa ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân ở Sài Gòn. (Hình: Nhật Thịnh/Thanh Niên)

Nước ngập nửa bánh xe khiến việc đi lại của người dân “phát khiếp” mỗi khi đi qua dòng nước đen ngòm, hôi thối và càng khiếp hơn khi chúng tràn vào tích tụ lâu ngày trong nhà, ảnh hưởng đến sức khỏe.

Bà Vũ Thị Hằng, 63 tuổi, ở đường Nguyễn Ngọc Cung, quận 8, cho biết do sống ở khu vực này hàng chục năm nên đã quá quen với cảnh triều cường gây ngập.

“Có khi nước tràn hẳn vào nhà khiến gia đình phải vất vả dọn dẹp, ảnh hưởng đến cuộc sống. Nước sạch còn đỡ, chứ ở đây nước đen ngòm không ai muốn đụng nhưng chúng tôi buộc phải lội nhiều ngày liền. Triều cường có hôm lên sớm, có hôm lên trễ dâng cả sáng lẫn chiều, mỗi lần lên là chúng tôi khổ sở, không biết làm cách nào ngoài đợi nước rút xuống,” bà Hằng ngao ngán nói.

Bà Phan Thị Mỹ Phương, 53 tuổi, ở đường Nguyễn Ngọc Cung, thở dài: “Nước đen đến cá còn không dám bơi mà mỗi đợt triều cường dâng chúng tôi phải chịu hôi thối mấy ngày liền. Chúng tôi sống ở đây đã lâu nên giờ phải chịu chứ ai đến làm dâu, làm rể thì khổ cho họ.”

Trong khi đó, ông Trần Văn Cảnh, 43 tuổi, ở đường Nguyễn Ngọc Cung, cho hay, mấy năm trước gia đình đã tốn vài chục triệu đồng nâng cao nền nhà khoảng 1.2 mét so với mặt đường, nhưng không ăn thua.

“Nước quá trời đen gây ngứa không chịu nổi nhưng tôi cũng không biết làm thế nào để nước không dâng lên. Tôi mong chính quyền nâng đường lên thật cao, giảm tình trạng nước ngập để cuộc sống của người dân không bị ảnh hưởng,” ông Cảnh bày tỏ.

Báo Phụ Nữ Việt Nam ghi nhận, tại đường Trần Xuân Soạn, quận 7- một trong những con đường thường xuyên bị ngập nặng khi triều cường, nhiều hàng quán phải tạm ngưng bán. Nhiều xe bị chết máy do đường bị ngập sâu.

Ông Vương Quốc Khánh, 61 tuổi, ở đường Trần Xuân Soạn, cho biết: “Mỗi đợt triều cường là con đường này bị ngập nên không làm ăn gì được, đành phải chấp nhận sống chung với nó. Nâng nền nhà thường xuyên cũng không ổn, do triều cường mỗi năm mỗi lớn nên không còn cách nào khác.”

Dòng nước đen hôi thối tràn cả vào nhà, nhiều gia đình phải vất vả tát nước thâu đêm. (Hình: Nhật Thịnh/Thanh Niên)

Tương tự, triều cường xuất hiện vào giờ tan tầm khiến đoạn đường dưới chân cầu Lò Gốm, phường 7, quận 6, xảy ra tình trạng kẹt xe, người dân phải nhích từng chút một.

Tình trạng triều cường gây ngập nước đang gây không ít khó khăn cho cuộc sống của cư dân Sài Gòn. Tuy nhiên cho đến nay, cơ quan hữu trách vẫn loay hoay không thể làm gì khác ngoài việc Thường Trực Ủy Ban Nhân Dân thành phố đưa ra chỉ đạo chung chung “các quận, huyện triển khai ngay biện pháp phòng chống và ứng phó với tình hình sạt lở đất trên địa bàn thành phố, để giảm thiểu tối đa các thiệt hại do các đợt triều cường cộng thêm những cơn mưa lớn trong mùa này gây ra.” (Tr.N)