Monday, November 12, 2018

Vì một nền độc lập thực sự của Việt Nam

Phạm Văn (Danlambao) - Điều tôi trăn trở thường xuyên lâu nay là làm thế nào có một tiếng nói có thể góp phần làm sáng tỏ thực sự các vấn đề về các cuộc chiến tranh, về cái gọi là “cách mạng” và “nền độc lập” ở Việt Nam thời hiện đại vốn được rất nhiều người quan tâm dưới những cách nhìn, cách hiểu với những hình thức khác nhau, thậm chí đối lập nhau quyết liệt. Tôi đã phác thảo ít nhiều về ý tưởng, nội dung một bài nghiên cứu có tên là “Nhãn quan lịch sử” trong đó từ “nhãn” được hiểu là căn bản, trọng yếu, chứ không có nghĩa chỉ “con mắt” và dự định sẽ công bố bài viết sau khi ở Việt Nam nền Tự do-Dân chủ đã được thiết lập trước hết về chính trị. Tuy nhiên, ý định này tỏ ra không thực tế, vì có những biến chuyển nhanh chóng, mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và trên thế giới trong thời gian từ tháng 6 đến nay, khiến cho vấn đề nổi lên rất cần phải giải đáp lúc này là về nền độc lập, nhất là việc dân tộc, đất nước Việt Nam đang đứng trước khả năng, cơ hội có một không hai để có được một nền độc lập thực sự. Vì thế, tôi kết hợp nội dung của bài viết nói trên vào nội dung bài viết mới “Vì một nền độc lập thực sự của Việt Nam”.

Cũng cần nói trước là những gì tôi trình bày ở đây nói chung có thể đã được nói đến trong nhiều nghiên cứu, bài viết của các tác giả khác. Vì vậy, điều tôi làm chủ yếu là thể hiện lại sao cho chúng ít nhiều có tính bao quát, hệ thống, đồng thời có thêm những ý kiến riêng, để người đọc có thể dễ theo dõi. Vả lại, bài viết này cũng mang nội dung và ý nghĩa tổng kết những ý kiến, nhận thức của tôi đã được thể hiện trong các bài viết cho Dân Làm Báo từ cuối tháng 6 đến nay.

Phần 1: Thời gian của sự thật và những cái gọi là “cách mạng” và “nền độc lập”

Mọi sự vật, hiện tượng đều có không gian-thời gian của chúng và sự thật cũng như thế. Nhưng sự thật là cái mà con người nhất định phải đấu tranh cho nó và dĩ nhiên, đó là cuộc đấu tranh diễn ra trong không gian-thời gian xác định. Tuy nhiên, với trường hợp này tôi chỉ muốn nhấn mạnh cái hình thức thời gian của sự thật, vì chính thời gian, tức là ở thời điểm hiện tại, những sự thật đã từng tồn tại, đang biểu hiện ra trong những quan hệ, điều kiện (không gian) rất mới, trong những quan hệ, điều kiện khiến chúng thật sự là chúng, không thể khác được. Chính trong điều kiện ấy, ta có thể nhận thức, ý thức về chúng một cách chính xác, rõ ràng hơn bao giờ hết và hơn thế, về thực tiễn cho phép ta có thể tìm ra phương thức đối xử với chúng một cách thích hợp và hiệu quả nhất. Cụ thể là những sự thật của “cách mạng” và “nền độc lập” ở Việt Nam và của những gì liên quan đến chúng đã tồn tại từ lâu và cũng đã từ lâu chúng ta đã lên tiếng về chúng, nhưng chúng vẫn chưa đủ thời gian, nên chưa có sức mạnh, hơn thế còn bị che phủ, bị làm mờ đi, thậm chí bị trấn áp và nhiều khi bị đè bẹp bởi sự dối trá, bạo quyền bởi vì chúng đã phơi bày chính những dối trá, bạo quyền ấy. Nhưng theo thời gian-bây giờ thì khác, sự thật, những sự thật đã bước vào không gian tồn tại thực sự của chúng, trong quan hệ với những sự kiện, vấn đề, yêu cầu mới của cuộc sống mới, của thời đại mới. Cho nên, chúng không còn “đơn độc” nữa, chúng không những càng được phơi bày rõ ràng hơn, mà còn kết hợp với những điều kiện, yêu cầu mới để tạo nên sức mạnh mới - sức mạnh của một cuộc cách mạng.

1. Thời đại mới

1/ Thời đại mới, đó trước hết là thời đại của cách mạng 4.0 đang bùng nổ rất mạnh mẽ, nhanh chóng và quyết liệt, trở thành xu thế tất yếu không gì ngăn trở được của loài người. Sự thực, người máy-trí tuệ nhân tạo đã và đang thay thế con người, đem lại nhiều điều lợi cho con người trong rất nhiều lĩnh vực, công việc. Và như mọi cuộc cách mạng công nghiệp, như truyền thống của nó, cội nguồn-cái nôi của cách mạng 4.0 vẫn là những nước, những xã hội và chế độ xã hội được tạo dựng nên bởi sự hình thành và phát triển của những con người thực sự - những cá nhân con người với những đặc trưng trí tuệ, tính chủ thể, ý chí, sáng tạo, lương tâm và trách nhiệm, nhất là tự do. Nhưng lần này thì khác, mới về căn bản. Cách mạng 4.0 đã chứng tỏ những tiềm năng, sức mạnh, sự sáng tạo hết sức lớn lao, không ngừng của con người. Ta không thể biết điểm dừng của nó ở đâu. Nếu như trong các giai đoạn trước đây con người cá nhân-tự do-sáng tạo chỉ thực hiện những nối kết chủ yếu trong phạm vi quốc gia dân tộc, thì giờ đây nó đang thực hiện những nối kết trên phạm vi khu vực, châu lục, nhân loại và thậm chí có tính vũ trụ. Vì vậy, con người cá nhân đòi hỏi phải có những phẩm chất trí tuệ, nhân cách rất lớn lao, nó phải mang trong mình cái xã hội hết sức phức tạp, rất sâu sắc và lớn lao có tính nhân loại và thậm chí vũ trụ, là những cái chỉ có thể được thực hiện bằng con đường tổng hợp-phức hợp rất lớn (xem bài viết của tác giả “Nhiệt thành ủng hộ và cám ơn Tổng thống Mỹ Donald Trump” trên Dân Làm Báo 3/10/2018).

Đã có nhiều người nói về chủ nghĩa tự do mới, nhưng theo tôi đây mới là nội dung thực sự của tự do mới, chủ nghĩa tự do mới của những con người cá nhân mới với tiềm năng, năng lực sáng tạo cũng rất mới, hết sức lớn lao. Và với điều này, con người sẽ không phó thác cho sự chi phối của công nghệ-máy móc, dù rằng đó là thời đại của máy móc hết sức thông minh, trái lại con người sẽ trung thực, minh bạch và công bằng hơn nữa, nghĩa là giàu có hơn nữa cả về đời sống vật chất và tinh thần để có thể làm chủ nó. Cuộc cách mạng 4.0 chắc chắn không chỉ là cuộc cách mạng của hiểu biết, trí tuệ, đương nhiên rất cần sự hiểu biết, trí tuệ, mà còn là, còn kéo theo cuộc cách mạng của tâm hồn, lương tâm, cuộc cách mạng của những giá trị, tư tưởng, tinh thần, phẩm giá, nhân cách con người nói chung. 

2/ Chính cuộc cách mạng này, cuộc cách mạng không hề làm suy giảm vai trò của con người cá nhân, trái lại còn khẳng định nó một cách mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn trong vai trò nối kết đời sống của các cộng đồng trong những phạm vi khác nhau, đang và sẽ đưa thế giới trở thành một-những cấu trúc mới, không phải là thế giới “đại đồng” cộng sản chủ nghĩa như học thuyết Marx, những người cộng sản mong đợi và quyết thực hiện bằng những cuộc đấu tranh giai cấp và cách mạng bạo lực đẫm máu “một mất một còn”. Đây là thời đại của sự hình thành những dân tộc-quốc gia thực sự, mà sự độc lập của mỗi quốc gia-dân tộc không đơn giản chỉ là việc đánh đuổi được giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi, mà chủ yếu ở sự khẳng định nền độc lập, tính chủ thể-tự do trong quan hệ hợp tác với các quốc gia-dân tộc khác dưới những hình thức khác nhau. Không phải trong quan hệ phủ định, mà là trong quan hệ khẳng định, một quốc gia-dân tộc mới tồn tại đúng nghĩa là một quốc gia dân tộc độc lập, là chủ thể lịch sử thực sự. Trên thực tế, sự hình thành liên hợp các quốc gia châu Âu, xu hướng của các quốc gia châu Phi, xu hướng của cộng đồng các quốc gia độc lập gồm Nga và một số nước XHCN cũ (?), của các nước châu Mỹ la-tinh và khối ASEAN v.v... Đương nhiên, những liên hợp các quốc gia độc lập này được tạo dựng trong một Liên hợp quốc chắc chắn sẽ có nhiều cải tổ tích cực hơn trong thời gian tới. 

3/ Chế độ xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ hoàn toàn ở Liên Xô và một số nước châu Âu, đã đưa đến việc hầu hết các nước này bước sang con đường phát triển tự do-dân chủ. Nước Nga và một số nước khác (thuộc cộng đồng các quốc gia độc lập SNG) dường như vẫn còn “vật lộn” với quá trình này (?), trong đó nước Nga có vẻ như đã chuyển sang một kiểu hay hình thức khác, một biến tướng khác của chế độ độc tài, không còn là độc tài-toàn trị cộng sản nữa, hoặc là một bước trung gian cần thiết nào đó để đi đến chế độ tự do-dân chủ hoàn toàn, hoặc nước Nga đang chứng tỏ tính đa cực của thế giới, ít ra về mặt chính trị? Nhưng dù sao, xu thế đi đến tự do-dân chủ là hết sức rõ ràng, cả ở nước Nga, vì người ra thấy điều này rất rõ sau những sự phủ định-đoạn tuyệt kiên quyết đối với chế độ cộng sản. Nhưng rất cần đặt vấn đề là tại sao chế độ xã hội chủ nghĩa, chế độ độc tài-toàn trị cộng sản ở Liên Xô-nước Nga và châu Âu, nhất là Liên Xô-nước Nga, đã từng chiến thắng và trở thành một hệ thống hùng mạnh một thời và bây giờ thì nó sụp đổ? 

4/ Cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, thực chất là do Mỹ chủ động tiến hành, đã chứng tỏ và làm bộc rõ hơn rõ hơn bao giờ hết những khuyết phạp của văn hóa Trung Quốc-phương Đông, trong đó có Việt Nam. Đồng thời, cũng chính trong-từ cuộc đấu tranh này, Tổng thống Mỹ D. Trump và loài người văn minh đã nhận thấy rõ hơn và thể hiện ý chí quyết tâm tiêu diệt đến cùng những chế độ độc tài, trong đó có độc tài-toàn trị xã hội chủ nghĩa (và cộng sản chủ nghĩa). Điều này có nghĩa là những sự thật về sự lạc hậu, khuyết tật của văn hóa phương Đông điển hình là ở Trung Quốc, những sự thật về sự sai lầm, ngu tối và tàn ác của các chế độ độc tài, nhất là độc tài-toàn trị cộng sản cả về lý thuyết và thực tiễn dù được bưng bít, che đậy bằng sự tuyên truyền dối trá và bằng những thủ đoạn tinh vi, thâm độc và cả sự tàn bạo, dã man trực tiếp hoặc gián tiếp, công khai hoặc ngấm ngầm, đã bị phơi bày. Nhưng mặt khác, có thể nói, cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc không còn là cuộc chiến tranh kinh tế đơn thuần nữa, mà là cuộc chiến tranh nằm trong yêu cầu và xu thế của cách mạng 4.0 như đã nói (xem bài viết của tác giả “Sự sùng bái những giá trị vật chất trần trụi và cuộc chiến của Tự do-Văn minh chống Quái thú-mọi rợ” đã đăng trên Dân Làm Báo 9/7/2018).

Cho nên, nếu như trước đây chủ nghĩa tư bản-tự do cũ phải tiêu diệt chế độ phong kiến điển hình ở Châu Âu và đã tiêu diệt hoàn toàn, tận gốc nó, để hình thành và phát triển thì giờ đây trên bình diện lớn hơn, liên quan đến quá trình toàn cầu hóa, hội nhập có tính quốc tế, cuộc chiến tranh-cách mạng của chủ nghĩa tự do mới có thêm nội dung mới là phải xóa bỏ những chế độ quân chủ độc tài và độc tài-toàn trị vốn không hình thành từ chế độ phong kiến mà từ những chế độ quân chủ, đặc biệt kiểu phương Đông-châu Á, điển hình là Trung Quốc. Điều đáng nói là những chế độ độc tài-toàn trị này đã tỏ ra có sức sống rất dai dẳng, đặc biệt biết sử dụng-lợi dụng thậm chí rất thành công những thành tựu khoa học-công nghệ ở những nước tự do-dân chủ phát triển để duy trì sự tồn tại của nó và ở góc độ nào đó, nhất là ở Trung Quốc chế độ này vẫn tồn tại và tiếp tục “phát triển” thậm chí với sự khác biệt và với mức độ cao hơn nhiều. 

Tuy nhiên, hiện giờ các chế độ độc tài, nhất là độc tài cộng sản này không chỉ đưa lại sự lạc hậu, lệch lạc-quái dị và đau khổ cho nhân dân, dân tộc trong các nước có sự tồn tại của chúng, mà còn cho cả nhân loại, làm đảo lộn hệ giá trị, làm lu mờ, thậm chí triệt tiêu những giá trị cao quý của con người, nhất là Tự do, Trung thực, Sáng tạo và Công bằng v.v... Vì vậy, cuộc chiến tranh-cách mạng mới này của loài người phải kiên quyết ngăn chặn chống lại cái nguy cơ một lần nữa (sau chế độ cộng sản ở Liên Xô và đông Âu) các chế độ quân chủ, độc tài và những biến thể của chúng lại lợi dụng thành quả của những cuộc cách mạng công nghiệp, cụ thể là cách mạng 4.0 nói chung, chỉ nảy sinh trong lòng các xã hội vốn tôn vinh những giá trị Tự do-Trung thực-Sáng tạo và cả Lương tâm, để thực hiện các lợi ích ích kỷ của chúng và chống lại loài người tiến bộ, đồng thời ngăn chặn, chống lại những âm mưu nhằm phá hoại tiến trình này với những mưu toan áp đặt tham vọng bá quyền-dân tộc lên các dân tộc khác và đời sống nhân loại nói chung.

Không thể nghi ngờ được rằng chính thời đại mới với những nội dung cơ bản nói trên đã cho phép ta có đủ điều kiện, khả năng để nhìn thấu và có thể giải quyết được tất cả những gì là sự thật sẽ được nói đến dưới đây. 

2. Phương Đông-châu Á - Trung Quốc và Việt Nam, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội (chủ nghĩa cộng sản)

1/ Về “phương Đông-châu Á - Trung Quốc và Việt Nam”. Nội dung này tôi đã thể hiện khá rõ trong bài “Sự sùng bái những giá trị vật chất trần trụi và cuộc chiến của Tự do-Văn minh chống Quái thú-mọi rợ”. Xin được tóm tắt lại và bổ sung thêm một vài khía cạnh như sau. Trung Quốc, Việt Nam và một phần nước Nga tiền hiện đại được xem là những quốc gia, những phần đất nước chưa-không tồn tại chế độ sở hữu tư nhân, nghĩa là phần lớn tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất đều thuộc sở hữu chung (công), mà thực chất là sở hữu tối cao của nhà vua. Trên cơ sở chế độ sở hữu ấy đã hình thành chế độ quân chủ chuyên chế kiểu phương Đông-châu Á. Như thế, ở những nước quân chủ chuyên chế này chưa có, đúng hơn không có chế độ phong kiến. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu Việt Nam thì chế độ chính trị-xã hội ở Việt Nam thời Trung cổ chỉ là “chế độ quân chủ” chứ không phải là chế độ phong kiến (hoặc chỉ có những ít nhiều yếu tố phong kiến). 

Việc không có chế độ sở hữu tư nhân cũng có nghĩa là ở đây con người cá nhân chưa hình thành, cho nên đương nhiên, những thuộc tính đặc trưng của con người cá nhân như tính chủ thể (độc lập), tự do, trí tuệ, ý chí, lương tâm, trách nhiệm, đạo đức nói chung v.v... chưa thể có. Bởi thế, con người “cá nhân” tồn tại nói chung chỉ được hiểu đồng nhất với con người “cá thể” với cái cơ thể (thân xác) riêng là đặc trưng của nó. Cho nên, ở đây sự quan tâm của con người chủ yếu là về những giá trị vật chất cho sự tồn tại của cái thân xác ấy. Sự tồn tại kéo dài của chế độ xã hội-chính trị này là cơ sở cho sự hình thành nên thói quen-căn bệnh “sùng bái những giá trị vật chất trần trụi” (xin được sửa lại là “giá trị kinh tế-vật chất trần trụi”).

Cùng với đặc điểm kinh tế, xã hội ấy là đặc điểm nổi bật về nhận thức, là sự chưa phát triển của nhận thức lý tính, hoàn toàn thiếu tinh thần duy lý, không có chủ nghĩa duy lý, cho nên không thể có thời đại Khai sáng (cho dù nó có thể có tính đặc thù phương Đông). Không có lý tính hay sự chưa phát triển của lý tính (về căn bản), đồng thời là sự chưa hình thành con người cá nhân (về căn bản), cho nên phương Đông-châu Á, cụ thể là Trung Quốc và Việt Nam không hiểu được nội dung, ý nghĩa của pháp luật và nhà nước pháp trị, do đó không hiểu được thực chất của chế độ Tự do-Dân chủ. Vì thế, ở Trung Quốc người ta thường hay sử dụng cách “nói chữ” để thể hiện “đường lối” phát triển, cả trong ngoại giao như kiểu “4 tốt”, “16 chữ vàng”, “con đường tơ lụa…”, còn ở Việt Nam thì rất thích các loại “khẩu hiệu”, chúng được giăng khắp nơi, không cần người dân hiểu thật rõ điều gì được nêu ở đây, chỉ cần họ cảm nhận mơ mơ thực thực là được, đồng thời chấp nhận những “phương châm” từ những từ ngữ mơ hồ của Tàu Cộng, thậm chí còn biện giải thay chúng. 

Với đặc điểm ấy các xã hội quân chủ phương Đông-châu Á, cụ thể là Trung Quốc và Việt Nam chủ yếu tồn tại theo “nguyên lý thống nhất” xem như phương thức căn bản để đảm bảo, duy trì được địa vị và quyền lợi của kẻ cai trị, nhất là nhà vua. Nội dung cơ bản của phương thức cai trị ấy là sử dụng-lợi dụng tối đa sức mạnh của cộng đồng, tức của số đông nhân dân, sao cho những con người cá thể (vốn tách biệt nhau) có thể gắn bó với nhau thành xã hội-cộng đồng. Và chúng thực hiện điều này trước hết bằng việc hoặc tước đoạt hoặc đáp ứng những quyền lợi vật chất cần thiết, đồng thời là áp đặt những điều kiện bên ngoài như tôn giáo, tín ngưỡng, thần tượng, những ảo tưởng (về những quyền lợi chung), cả việc sử dụng những mánh khóe, thủ đoạn tinh vi, hiểm độc, bằng cả sự răn đe-bạo lực thậm chí rất khủng khiếp nhằm tạo nên sự ngu tối, sự khiếp sợ, khuất phục ở họ. Đối với chế độ quân chủ thì thống nhất là điều kiện cần thiết tuyệt đối, còn khác biệt, nhất là đối lập là điều nó không hề muốn, không thể chấp nhận, là điều làm nó lo sợ.

Đây chính là những đặc trưng của các xã hội Trung Quốc và Việt Nam, cũng chính là những đặc trưng văn hóa của chúng. Những đặc trưng này quy-quyết định những ứng xử và lựa chọn lịch sử của chúng.

2/ Chủ nghĩa tư bản xét về mặt kinh tế, chủ nghĩa tự do cũ xét về mặt xã hội-văn hóa, không như nhận định của học thuyết Marx-Lenin là giai đoạn nhất định phải bị thay thế bằng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, hay là “đêm trước” của chủ nghĩa xã hội, trái lại nó là một giai đoạn, một cấu trúc xã hội lịch sử-tự nhiên. Nếu nó có thể bị thay thế thì cũng chỉ có thể là một cấu trúc lịch sử-tự nhiên cao hơn của-từ chính nó chứ không phải là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản xa lạ với nó. Chủ nghĩa tư bản-chủ nghĩa tự do hình thành là sự phủ định tự thân-bên trong của chế độ phong kiến ở châu Âu-phương Tây. Chính chế độ phong kiến đã chuẩn bị cho nó cả về mặt kinh tế-vật chất và xã hội, tinh thần (Xem Max Weber, Nền đạo đức tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản). Ngay cả K. Marx cũng đã thừa nhận chỉ có giai cấp tư sản công nghiệp mới có thể thủ tiêu tận gốc những tàn tích phong kiến. Với nền đại công nghiệp và chế độ tư hữu tư sản, với thời đại Khai sáng và với sự hình thành con người cá nhân với những đặc trưng, đồng thời là những giá trị cơ bản của con người như đã nói, với chế độ nhà nước và nền luật pháp cho phép có thể quản lý toàn bộ xã hội, dân cư thống nhất trên phạm vi quốc gia, chủ nghĩa tư bản đã khẳng định sự hình thành nên các dân tộc độc lập thuộc giai đoạn thứ nhất và tạo nên một giai đoạn mới chưa từng có của lịch sử văn minh nhân loại. 

3/ Học thuyết Marx-Lenin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Nói chung tinh thần của mục này tôi cũng đã thể hiện khá rõ trong nội dung bài “Nhiệt thành ủng hộ và cám ơn Tổng thống Mỹ Donald Trump”. Cũng xin được trình bày lại một cách tóm tắt và có bổ sung như sau. Khiếm khuyết, sai lầm và lệch lạc của học thuyết Marx-Lenin căn bản từ cơ sở triết học trực tiếp của nó là quan niệm duy vật lịch sử, cụ thể là quan niệm triết học về con người. Hiểu bản chất xã hội của con người một cách rất phiến diện, khuyết thiếu, đặc biệt đặt nó ra khỏi con người cá nhân và quan niệm về con người chủ yếu là về số đông những người lao động trực tiếp nhất là những người lao động vô sản, học thuyết Marx-Lenin, trước hết là ở K. Marx đã tiên liệu chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là mục đích của số đông ấy. Mặt khác, chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ nói chung chung rằng kinh tế, phương thức sản xuất là cơ sở của đời sống xã hội, lịch sử, nghĩa là nó không hiểu bản chất nền kinh tế, phương thức sản xuất tư bản vốn là của những cá nhân tự do. Bằng cách tuyệt đối hóa quan hệ giai cấp, đấu tranh giai cấp, học thuyết Marx cho rằng nhiệm vụ của giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản là phải thủ tiêu chế độ tư hữu bản và thiết lập chế độ công hữu hay xã hội đối với tư liệu sản xuất thông qua đấu tranh giai cấp-cách mạng bạo lực. 

Nhưng sau khi nhận thấy sự thật là chủ nghĩa cộng sản “không thể giành thắng lợi ngay được” [mà cũng chẳng bao giờ thắng] ở những nước tư bản chủ nghĩa phát triển, học thuyết Marx đã trí trá-thấy ra khả năng tốt nhất là thực hiện tiến triển cộng sản chủ nghĩa ở những nước có cơ sở kinh tế với đặc trưng là không có chế độ sở hữu tư nhân và vì thế, nó đã được quán triệt-áp đặt vào các nước “tiền công nghiệp”, “tiền tư bản chủ nghĩa” này, trước hết ở nước Nga, sau đó, đặc biệt là ở Trung Quốc và Việt Nam v.v... Cho nên, đây là một sai lầm lớn tiếp theo của học thuyết Marx-Lenin, ở chỗ nó không hiểu, hoặc hiểu sai những chế độ kinh tế này khi cho rằng không có chế độ sở hữu tư nhân thì có nghĩa, đó là “sở hữu cộng đồng”, và như thế nó cũng không thấy tính đặc thù rất phương Đông-châu Á của Trung Quốc (và Việt Nam) chính là sự tồn tại của chế độ quân chủ trên cơ sở sở hữu tối cao của nhà vua, sở hữu cộng đồng chỉ là danh nghĩa. Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản đã tìm thấy “tiếng nói chung” với chế độ quân chủ-chuyên chế ở những nước này. Quả là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”! 

Cho nên, điều chúng ta phải thừa nhận và rất cần quan tâm ở đây là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (bắt đầu từ Cuộc cách mạng tháng Mười Nga năm 1917) đã thắng và chủ nghĩa xã hội đã từng tồn tại trong một thời gian khá dài (gần một thế kỷ - hơn 70 năm), trước khi nó sụp đổ hoàn toàn ở Liên Xô và châu Âu vào cuối thế kỷ XX, ở chỗ nó có cái chung với những chế độ quân chủ kiểu phương Đông-châu Á. Nghĩa là một mặt, phải thấy rằng một cuộc cách mạng dựa trên một học thuyết, tư tưởng sai lầm về cơ bản, lại muốn mưu sự tự do, công bằng, bình đẳng ngay lập tức cho đại đa số nhân dân, cho toàn xã hội (cứ cho rằng đây là điều mà những người “sáng lập” học thuyết Marx có tâm nguyện như thế thực), thì nó chỉ có thể đi tới chế độ độc tài, hơn thế độc tài-toàn trị, một biến thể mới của chế độ quân chủ và chế độ ấy đương nhiên chỉ có thể tồn tại bằng những yêu cầu, mệnh lệnh, sức mạnh áp đặt từ trên xuống hoặc từ bên ngoài và duy trì bằng lối ban ơn, bố thí cho dân chúng, cho xã hội; mặt khác, cũng nên thấy có lẽ bản thân chế độ quân chủ, đặc biệt là quân chủ kiểu phương Đông-châu Á, do những yêu cầu nội tại của nó, nó nhất định phải đi trọn con đường của nó là trở thành chế độ độc tài-toàn trị cộng sản trong thời hiện đại và đến lượt nó, chế độ độc tài-toàn trị này vẫn đi đến cùng con đường của nó, tức là không thể tự sụp đổ, tan rã, nếu như nó không bị đánh đổ, loại bỏ bằng cách nào đó. 

3. “Cách mạng” và “nền độc lập” với và sau hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam 

“Cách mạng” và “nền độc lập” với và sau cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa thực dân Pháp và tay sai-“phong kiến” 

1/ Chế độ quân chủ (có yếu tố phong kiến) không hề có lỗi, cũng không có tội trong việc nền độc lập của Việt Nam bị mất, đất nước rơi vào tay thực dân Pháp xâm lược. Bởi vì, phương thức sản xuất thấp hơn, kém văn minh hơn đã thất bại trước phương thức sản xuất cao hơn, văn minh hơn rất nhiều lần. Đó là sự thật lịch sử. 

2/ Khát vọng giành được nền độc lập từ tay thực dân Pháp xâm lược cấu kết với chế độ quân chủ tay sai của chúng, lúc đầu chỉ là khát vọng giành lại giang sơn cho chế độ quân chủ, cho vua chúa nhà Nguyễn và nó liên tục được thực hiện bởi những cuộc khởi nghĩa, đấu tranh của các văn thân, sĩ phu yêu nước và những cuộc tìm đường cứu nước dưới ngọn cờ của chế độ quân chủ nhà Nguyễn, nhưng tất cả đều thất bại. Kế đó là những phong trào có xu hướng khác đi, mới hơn, tức là không còn tin vào chế độ quân chủ nhà Nguyễn nữa và hướng đến những điều mới mẻ hơn như đường lối của Phan Bội Châu, nhất là Phan Châu Trinh v.v... Nhưng các chủ trương mượn sức mạnh của người ngoài, hoặc chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” cũng đều thất bại. Phải nói rằng tư tưởng của Phan Châu Trinh vào thời điểm ấy là hay, tiến bộ, nhưng nó chưa có những điều kiện để có thể đạt đến cái căn bản của thời đại Khai sáng như đã nói, còn vì ở Việt Nam thực dân Pháp cai trị rất hà khắc, tàn ác. 

3/ Những người cộng sản dường như thấy rõ hơn cái khát vọng độc lập liên quan đến số đông là nông dân, chỉ có một phần nhỏ là công nhân, nhưng rất ít “tính công nhân”, một phần nào đó gọi là trí thức, nhưng hầu hết rất thiếu hoặc không được học hành-đào tạo văn hóa, học vấn về cơ bản. Và với nhiều nỗ lực, kể cả hy sinh, cuối cùng họ đã “tìm ra được” con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, đó là con đường đi theo chủ nghĩa Marx-Lenin, theo Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, đặc biệt “thấm nhuần” và “phát triển một cách hết sức sáng tạo, triệt để” tư tưởng cho rằng những nước không có chế độ sở hữu tư nhân, chưa trải qua phát triển tư bản chủ nghĩa, có thể thực hiện “tiến triển trực tiếp lên chủ nghĩa cộng sản” với sự giúp đỡ của những nước cộng sản đàn anh. Dùng học thuyết đấu tranh giai cấp macxit mang tính áp đặt, những người cộng sản đã khoét sâu mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ, phong kiến khi gắn nó chặt chẽ với cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giành độc lập dân tộc. Cho nên, khẩu hiệu “người cày có ruộng” đã thực sự lôi cuốn đất nước đại đa số là nông dân làm “cách mạng”. 

Nhưng ở đây rất cần nói rõ về chữ “theo” này. Nội dung theo chủ nghĩa Marx-Lenin thời kỳ đầu chủ yếu là theo học thuyết đấu tranh giai cấp, dù có ít nhiều quan điểm dân tộc thì quan điểm này vẫn bị quan điểm giai cấp chi phối. Cho nên, cái sai căn bản của cái theo này là đem học thuyết giai cấp áp dụng một cách sống sượng, hoàn toàn áp đặt vào Việt Nam, nhất là với chủ trương chống “chế độ phong kiến”, vì như đã nói, ở đây không có chế độ phong kiến. Hơn thế, Việt Nam (và cả Trung Quốc) nói chung là những nước chưa có sự phát triển tư bản chủ nghĩa, vẫn còn ở giai đoạn tiền nhưng còn rất xa hiện đại (chưa hẳn là tiền tư bản), vì thế có thể thấy rõ thực chất cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chống chế độ quân chủ (được gọi là “phong kiến”), là một cuộc chiến tranh nông dân, hơn thế là nông dân ở một nước, ở một truyền thống quân chủ phương Đông. 

Cho nên, học thuyết Marx-Lenin, nhất là học thuyết đấu tranh giai cấp đã được vận dụng giáo điều vào Việt Nam (và cả Trung Quốc) và nó rõ ràng là một sự nhầm lẫn, nó chứng tỏ việc vay mượn sống sượng học thuyết Marx-Lenin. Nó còn cho thấy rằng để giành thắng lợi trong chiến tranh và “cách mạng”, tất nhiên nhân dân và “cộng sản” Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt là Việt Nam dĩ nhiên phải dựa vào các nhân tố bên ngoài cả về lý thuyết (lý luận) và thực tiễn, đó là học thuyết Marx-Lenin và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và những nước khác. Nói cách khác, Việt Nam (và cả Trung Quốc ít nhiều) đã phải đi theo học thuyết Marx và các nước xã hội chủ nghĩa. Tôi muốn nói rõ, nhấn mạnh hơn cái lối đi theo này căn bản ở chỗ khi con người chưa phải là một, những cá nhân con người, tức là có tự do, cụ thể hơn, có tính độc lập-chủ thể, thì làm sao có thể tiếp thu nổi cái học thuyết đầy nội dung và tinh thần duy lý này, làm sao có khả năng so sánh nó với những học thuyết, tư tưởng khác. Vì thế, hầu hết họ, kể cả những kẻ đứng đầu đảng, chế độ, chỉ là những kẻ bị áp đặt hoặc tự áp đặt và giáo điều, sẵn sàng bảo vệ đến cùng học thuyết lỗi thời chỉ vì những quyền lợi ích kỷ, bất minh, bất chính của mình. Vậy, đã đi theo (ngay cả khi là một tư tưởng, học thuyết đúng, chứ chưa nói đến việc theo một học thuyết, tư tưởng sai) thì làm gì có độc lập-tự chủ, làm gì có tự do! 

4/ Từ khá lâu và nhất là gần đây, trước ngày 19 tháng 8 và ngày 2 tháng 9 năm nay, nhiều người đã được biết đến sự tồn tại của hai bản “Tuyên ngôn độc lập” trong cùng một thời gian, đúng hơn, cùng một khoảng thời gian rất ngắn là của vua Bảo Đại và của Chính phủ cách mạng lâm thời của Hồ Chí Minh, và do đó có hai ngày công bố “nền độc lập” ở Việt Nam vào tháng 8 và 9 năm 1945. Chúng ta cũng đã biết rõ một sự thật là chính người Nhật đã “trao nền độc lập” cho vua Bảo Đại và Trần Trọng Kim được giao đứng ra thành lập chính phủ, sau khi quân Pháp bị đánh đuổi (không phải do Việt Minh). Do đó, chúng ta đã từng biết đến một từ ngữ rất đặc trưng là “cướp chính quyền” đã xuất hiện đúng lúc như thế nào (“…Tháng Tám bốn mươi lăm, Dân ta tổng khởi nghĩa, Đứng lên cướp chính quyền v.v...”), nhưng rồi sau này nó được sửa lại là “giành chính quyền”, hơn thế “về tay nhân dân”. Nhưng trên thực tế cuộc “cách mạng” diễn ra vào tháng 8 năm 1945 ấy không đánh (được) Pháp, cũng không đuổi (được) Nhật, mà chỉ “cướp chính quyền” từ tay Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim. Vì vậy, “nền độc lập” của Việt Nam mà Hồ Chí Minh tuyên bố vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, quả thực là một điều rất cần phải xem xét lại. Mặt khác, có người cho rằng bản “Tuyên ngôn độc lập” do Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9 là “có nội dung-tinh thần khai sáng”. Tôi không nghĩ như thế, vì thời đại Khai sáng ở phương Tây là của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa tự do nhằm thực hiện lý tưởng khai sáng dựa trên việc chống lại, thủ tiêu chế độ quân chủ phong kiến. 

5/ Tiếp theo, chúng ta lại biết thêm một sự thật không thể chối cãi là “chính quyền cách mạng” đã giết chết hơn 170 000 người, trong đó đã quy oan-giết oan hơn 130 000 người, giết cả ân nhân của nó là bà Nguyễn Thị Năm (Cát Thanh Long) trong cuộc cải cách ruộng đất kinh hoàng ở miền Bắc năm 1953 v.v... Tiếp đó là “chiến thắng Điện biên phủ” “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” với tinh thần quả cảm, hy sinh vô bờ của đồng bào, chiến sĩ Việt Nam, cộng với vũ khí do Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, cả cố vấn Tàu Cộng tham gia. Miền Bắc được giải phóng. Vĩ tuyến 17 chia đôi đất nước, chúng ta, dân tộc Việt Nam đâu có được phép lựa chọn, mà là sự dàn xếp của các nước lớn thuộc hai phe! 

Quả là chúng ta, nhân dân Việt Nam đã chiến thắng chủ nghĩa thực dân và chế độ “phong kiến” tay sai của chúng ở miền Bắc. Đúng, chúng ta đã chiến thắng, nhưng điều quan trọng là phải xem xét kỹ cái cách mà chúng ta chiến thắng và hãy coi chừng cái danh xưng “chúng ta” này. Như đã nói, chế độ thực dân đã chiếm được Việt Nam, đô hộ dân ta gần một thế kỷ là do chế độ ấy có phương thức sản xuất cao hơn. Vậy thì cái cách mà chúng ta chiến thắng chủ nghĩa thực dân phải chăng là dựa vào phương thức sản xuất cao hơn của Việt Nam chúng ta, hay chỉ vì chúng ta có chính nghĩa, chỉ có ý chí quật cường, tinh thần can đảm, dám hy sinh đến cùng…? Câu trả lời rất rõ: Vào thời kỳ ấy Liên Xô và cả Trung Quốc (dựa vào Liên Xô) đã có những cơ sở kinh tế-vật chất có thể nói “tương đương” với chủ nghĩa thực dân Pháp, nhưng cùng với điều kiện ấy là tinh thần yêu nước, quả cảm, chính nghĩa thuộc về nhân dân ta (điều này là không thể phủ nhận), cho nên chúng ta (gồm cả phe “xã hội chủ nghĩa”) đã thắng. 

Như vậy là “nền độc lập” ở Việt Nam từ năm 1945 đến 1954 thực ra vẫn chưa có. Còn từ năm 1954 ở miền Bắc có “hòa bình”, ở miền Nam chiến tranh vẫn tiếp tục. Cho nên, về thực chất từ khi “lựa chọn” con đường “cách mạng” giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân và thoát khỏi chế độ quân chủ (“phong kiến”) theo học thuyết Marx-Lenin và các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản ở Việt Nam, nhân dân, dân tộc Việt Nam đã được đặt vào quỹ đạo, trở thành thành phần của “cách mạng xã hội chủ nghĩa” thế giới do Liên Xô đứng đầu. Vì thế, “nền độc lập” ở miền Bắc chỉ là hình thức cả về thực tế và tư tưởng, tinh thần. Đấy là chưa nói đến những toan tính của Tàu Cộng trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và cả trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam sau này (sẽ nói rõ hơn phần sau). 

“Cách mạng” và “nền độc lập” với và sau cuộc chiến tranh “chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” 

1/ Phải chăng đây là thời kỳ “cách mạng” và cuộc chiến tranh theo đúng khát vọng độc lập của nhân dân Việt Nam? Sau năm 1954 miền Bắc được giải phóng, miền Nam vẫn còn chiến tranh. Ở miền Bắc nhân dân tiến hành “cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa” dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, còn miền Nam tiếp tục “cuộc cách mạng dân tộc-dân chủ”. Cuộc “cách mạng” miền Bắc được xem là cái lý tưởng dẫn đường cho cuộc “cách mạng” miền Nam. Lúc này hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới đã hình thành, có thể nói là rất mạnh do Liên Xô đứng đầu và được xem là thành trì của “cách mạng thế giới”, có thể đối đầu với “hệ thống tư bản chủ nghĩa”. Cho nên, cả hai cuộc “cách mạng” (“cách mạng xã hội chủ nghĩa” và “dân tộc dân chủ”) ở Việt Nam đều là thành phần của cuộc “cách mạng xã hội chủ nghĩa” và càng rõ ràng hơn bao giờ hết. Bởi vậy, cuộc chiến tranh ở Việt Nam, trực tiếp ở miền Nam không còn là cuộc chiến tranh “giải phóng dân tộc”. Có người gọi đây là (một phần) của cuộc chiến tranh ý thức hệ (giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa). Về cơ bản tôi không đồng ý với cách hiểu ấy. 

Theo tôi, thực ra đây là cuộc chiến tranh của thế giới mà những giá trị con người như tự do, trí tuệ, tính chủ thể, bình đẳng, bác ái v.v..., nhất là tự do, và những giá trị ấy đã được xác lập, đang và tiếp tục được khẳng định cả về tư tưởng (ý thức hệ) và hiện thực, cũng có nghĩa đây là thế giới với tư cách một khuynh hướng lịch sử hiện thực có tính tất yếu của nhân loại, với thế giới chỉ dựa vào một trạng thái nhất thời là nỗi đau khổ, đói nghèo của những người lao động trực tiếp (vô sản và nông dân) rồi nâng nó lên, suy diễn một cách chủ quan thành một xu hướng tất yếu và tìm cách biểu hiện nó thành cả một “hệ thống” lý luận, một “ý thức hệ” thực sự. Đành rằng cuộc chiến nào chẳng có nội dung, tính chất tư tưởng, ý thức, hoặc ý thức hệ, nhưng vấn đề là ở chỗ tư tưởng, ý thức ấy biểu hiện cái xu hướng xã hội, lịch sử hiện thực như thế nào. Bởi thế, nếu hiểu rằng đây là cuộc chiến tranh “ý thức hệ” thì có chăng nó chỉ đúng ở phía những người theo chủ nghĩa Marx! 

Vì thế, khát vọng độc lập của nhân dân, dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh này về căn bản mang nội dung, tính chất áp đặt. Nhân dân Việt Nam đã tiến hành một cuộc chiến tranh thực chất hoàn toàn không phải cho mình, vì mình nữa, trái lại vì những gì rất viển vông, xa lạ, mê hoang: “Ta vì ta ba chục triệu người, cũng vì ba ngàn triệu trên đời, Ta hiểu vì ai ta hiến máu, ta hiều vì ai ta chiến đấu…” và “Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa, Vui gì hơn làm người lính đi đầu, Trong đêm tối tim ta làm ngọn lửa” (Tố Hữu); “Việt Nam là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á”; hay như cựu TBT Lê Duẩn nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”(?). Và “Việt Nam thức thì Cu-ba ngủ” (Nguyễn Minh Triết). Hơn thế, cái khát vọng mơ hồ, mê hoang, mang tính áp đặt ấy lại được cả một hệ thống tuyên truyền dối trá, có cả sự ngây thơ đẩy đến cùng (“Ta cứ nghĩ đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ, Mường tượng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ…, Ta nghĩ đồng chí rồi thì còn ai xấu nữa, Trong hàng ngũ ta chỉ còn chỗ của yêu thương… Năm xưa ta vô tình tô cuộc đời lên để mà tin. Đúng là một “sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao”! (Những lời trong bài thơ Cửa Mở của Việt Phương). Vì thế, hàng vạn, hàng triệu thanh niên con nối chân cha, cháu nối chân ông, lớp lớp lên đường “ra trận” với hy vọng và niềm tin “chói sáng” là đất nước được độc lập, thống nhất, hòa bình và tiến lên chủ nghĩa xã hội, một thiên đường chưa từng có trên trái đất, ở đó nhân dân sẽ hoàn toàn được tự do, ấm no, hạnh phúc, cho dù ta có thể phải hy sinh cả tuổi thanh xuân!

2/ Học thuyết đấu tranh giai cấp giữa vô sản và tư bản, giữa hai phe đã làm cho người dân Việt Nam quên đi một sự thật lớn lao, vô cùng thiêng liêng là mình là một Dân tộc. Cho nên, tôi đồng ý với nhiều người cho rằng cuộc chiến “chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” thực chất là một cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” nhằm phục vụ cho cuộc chiến của phe xã hội chủ nghĩa chống lại chủ nghĩa tự do dựa trên một lý thuyết sai lầm, hoang tưởng và vì thế vô cùng tàn ác. Giờ đây, sau cuộc chiến tranh được gọi là “chống Mỹ, cứu nước” đã có hàng nhiều triệu con dân Việt Nam đã bỏ mạng hoặc bị thương, trở thành tàn phế, những cuộc “chạy trốn” khỏi chính quê hương-đất nước của mình, để đem lại “chiến thắng vinh quang” ngoài sức tưởng tượng, nhưng thực ra trong đó những giọt nước mắt đau thương-oan nghiệt-đầy hận thù pha lẫn cả máu đang chảy, thậm chí nhiều, đậm đặc thẳm sâu trong lòng người Việt Nam hơn những giọt nước mắt “sung sướng” đã trào ra (trong ngày “chiến thắng” và những ngày kỷ niệm “chiến thắng”). Chúng ta đã “chiến thắng”? Và “chiến thắng” lần này có gì khác với chiến thắng trong chiến tranh chống thực dân Pháp giành độc lập? Không, lần này chúng ta không chiến thắng! Dân tộc, con người, nòi giống Việt Nam đã thất bại. Giết, làm chết hàng triệu và đánh bại đồng bào mình là chiến thắng ư? Chỉ có những kẻ không có tim-óc mới coi đó là chiến thắng-vinh quang! Dĩ nhiên, người cộng sản, nhất là cộng sản giả hiệu và những người (số này rất đông) bị chúng tuyên truyền lừa dối, không thấy, cố để không thấy và không thừa nhận điều này. Bởi vì, ở họ chỉ có một trái tim với một nửa vòng tuần hoàn, chỉ có nửa lá phổi để thở và chỉ có nửa khuôn mặt người. 

Xin được hỏi một người có lương tri, bạn có vui-tự hào không khi đi dọc giải đất hình chữ “S” rất đẹp đẽ và thân thương từ Mục Nam quan đến Mũi Cà mau, cả ven biển, những miền đồng bằng, trên cao nguyên, cả những cánh rừng thẳm, đâu đâu ta cũng thấy những nghĩa trang, những mồ liệt sĩ lớn nhỏ, với những mức độ ít nhiều quy mô, cả “hoành tráng” khác nhau, đấy là chưa kể những nghĩa trang của nhân dân ở hai miền, của những người lính và của nhân dân “phía bên kia chiến tuyến” chưa được quan tâm, chưa được dựng lên, thậm chí còn bị khinh thường, làm nhục...? Hẳn bạn không cảm thấy vui-tự hào đâu, bởi vì chắc bạn thường thấy, đang thấy chính những nghĩa trang, những bia mộ và cả những oan hồn với những tiếng hô, hét, rên la dựng lên-chất chứa đầy tâm hồn ta!

3/ Rồi sau hơn 40 năm cầm quyền chính thức của “cộng sản” ở hai miền Bắc Nam chúng ta đã thấy gì? Sự ngu tối-tàn ác-ăn cướp của chúng đã triệt tiêu hoàn toàn những cơ sở kinh tế tư hữu-tư bản, nhất là ở miền Nam. Dựa trên những giáo điều vốn rất sai lầm, hoang đường, không phải là những giáo điều-ít nhiều đúng đắn, chúng tin rằng chế độ tư hữu, thậm chí cả tư hữu nói chung, là những hình thức, tổ chức, thể chế kinh tế chỉ thuần túy là của những kẻ bóc lột, tàn ác đối với người lao động, nghĩa là theo chúng, họ không có công sức lao động nào đối với những tài sản, thậm chí cả nền văn minh không chỉ của riêng họ, mà hơn thế còn là của một cộng đồng, một đất nước và nhân loại. Vì thế, chúng tự cho rằng chúng có quyền tổ chức cuộc “tước đoạt” kẻ đi “tước đoạt” để thiết lập một chế độ sở hữu công (toàn dân, toàn xã hội). Nhưng trên thực tế, chúng đã thực hiện một hành vi ăn cướp (Xin xem các livestream và những bài viết về chuyện “đánh tư sản”, nhất là về “tội ác của Đỗ Mười”) và cho đến nay những hậu quả khủng khiếp của hành vi cướp đoạt ấy đã hết sức rõ ràng. 

4/ Chế độ kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp đã dẫn đến sự đói nghèo thảm khốc ngay trên chính mảnh đất với những vùng miền cây trái sum suê, với những vựa lúa trên khắp đất nước, nhất là đồng bằng sông Cửu Long. Và vào lúc này, mỉa mai thay, khi chính “công cuộc đổi mới” đã đưa chính chế độ độc tài-toàn trị, chế độ đảng cộng sản trị tồn tại trên cơ sở kinh tế của bọn tư bản ĐỎ dối trá-đểu giả-khốn nạn, chính chúng đã từ chỗ mơ hồ nhận ra vai trò của tư hữu, của kinh tế tư nhân đã đi đến chỗ thấy ra rất rõ ràng sự thật lớn lao này về thực tế. Nhưng có vẻ chúng vẫn cố tình không nhận ra, không thừa nhận sai lầm của cái gọi là cuộc “cách mạng”, “sự nghiệp giải phóng” trước đây. Vì vậy, “đổi mới” trở thành một sự nghiệp không trung thực-nửa vời, vẫn là trò “đầu ngô mình sở”, “đầu voi đuôi chuột”, nhất là khi được gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” nó càng gian trá và khốn nạn. Cho đến nay như nhiều người đều thấy, chế độ xã hội chủ nghĩa, chế độ đảng cộng sản trị, trước hết là chế độ kinh tế của nó đã để lại những hậu quả nặng nề. Từ khi được gọi là “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” đến nay đã hơn 40 năm, nước Việt Nam hơn 90 triệu dân vẫn là một nước nghèo, kém phát triển và “không chịu phát triển”. Đặc biệt, Việt Nam chưa có nền công nghiệp riêng của mình, nghĩa là về cơ bản chưa thể tự chủ về kinh tế. Đáng nói là nền kinh tế hầu như phụ thuộc vào Tàu Cộng, có đến hơn 70% dự án lớn nhỏ đều do Tàu Cộng nắm giữ. Từ sự lệ thuộc vào kinh tế, nói chung Việt Nam lệ thuộc vào Tàu Cộng về mọi mặt.

5/ Từ lâu nay, đảng cộng sản, chế độ cộng sản trị ở Việt Nam thực sự bị Tàu Cộng chi phối, thao túng, trở thành tên tay sai đắc lực cho chiến lược, những chính sách bành trướng-xâm lược của chúng núp dưới những cái tên gọi mỹ miều hư hư thực thực như “4 tốt”, “16 chữ vàng”, “con đường tơ lụa trên biển”, “một vành đai, một con đường” v.v... Ngay mới đây thôi thủ tướng cộng sản Nguyễn Xuân Phúc trong chuyến sang thăm Trung Quốc-diện kiến Tập Cận Bình đã ca ngợi và hứa trung thành với chiến lược “một vành đai, một con đường”. Tàu Cộng không “hợp tác” kinh tế đơn thuần, mà “hợp tác” nói chung chỉ là cái vỏ để thực hiện âm mưu xâm lược-đồng hóa Việt Nam từng phần rồi đi đến xâm chiếm-đồng hóa toàn bộ đất nước, con người Việt Nam. Điều đáng lo ngại là Tàu Cộng thực hiện một cuộc chiến xâm lược-đồng hóa mềm bằng các thủ đoạn cơ bản, phổ biến nhất là mua chuộc quan chức, người dân, gài bẫy bằng kinh tế, lợi dụng về pháp lý, đánh vào sự ngây thơ, ngu tối, lòng tham, sự hám lợi của họ, cùng với những thủ đoạn tuyên truyền, lừa bịp bằng những lời hoa mỹ, bên cạnh đó cả những sự đe dọa ngấm ngầm hoặc công khai. Trên thực tế, đặc biệt chế độ cộng sản Việt Nam đã “sập bẫy” và bán nước một cách hoặc tự phát hoặc tự giác từng phần cho giặc. Thay cho khả năng, con đường hối lỗi để quay về với nhân dân, chúng còn tìm cách bưng bít, thậm chí đàn áp, đe dọa người dân. Nguy cơ đất nước hoàn toàn rơi vào tay Tàu Cộng đã hiển hiện rõ ràng. Nhưng rất đáng nói là với phương thức cướp-bán nước như thế, dường như người dân có vẻ như rất mơ hồ trước sự thật này, còn cho rằng “làm gì có chuyện đó”. Nhân dân khiếp sợ hay mơ ngủ? Không, nhân dân Việt Nam chưa bao giờ biết khiếp sợ giặc ngoại xâm, vấn đề ở chỗ là họ chưa hoàn toàn thức tỉnh trước âm mưu cướp-bán nước tinh vi, hiểm độc và rất mới của Tàu Cộng và tay sai của chúng trong đó có cả sự lợi dụng ngay chính nền kỹ nghệ mới của nhân loại. 

6/ Đáng nói nhất là chế độ độc tài-toàn trị, chế độ đảng cộng sản trị là sự tiếp tục của chế độ quân chủ cũ trên một nấc thang mới, rất có thể là nó là giai đoạn, hình thức cuối cùng của loại thể chế này, cũng có thể xem nó là một biến tướng mới và ta có thể gọi nó là chế độ quân chủ trái mùa, quái dị ở Việt Nam, trong đó một thời gian dài tồn tại “vua ảo”, “vua giấu mặt”. Vì ở đây chế độ sở hữu công (sở hữu xã hội hay sở hữu chung) về tư liệu sản xuất chỉ là danh nghĩa, còn trên thực tế là sở hữu của đảng cộng sản và chế độ đảng cộng sản trị được thiết lập là để bảo vệ quyền lợi của đảng. Chế độ này tiếp tục kìm hãm quá trình phát triển của Việt Nam, cướp đoạt, triệt tiêu tất cả những quyền cơ bản của con người, không cho phép con người cá nhân hình thành hoặc tạo ra con người cá nhân biến dạng, quái dị, điển hình là những tên tư bản đỏ và những kẻ cầm quyền lớn nhỏ được chúng nuôi dưỡng.

Đương nhiên ở đây cái nguyên lý thống nhất của chế độ quân chủ đã được chế độ này hết sức coi trọng. Điều 4 Hiến pháp nước CHXHCN ở Việt Nam đặt đảng cộng sản lên trên hết, tất nhiên trên cả Hiến pháp, và Hiến pháp chỉ được xem là “cương lĩnh thứ hai” sau cương lĩnh của đảng, tượng đài Hồ Chí Minh được dựng-thờ khắp nơi, thần tượng Hồ Chí Minh được tạo dựng, đưa vào trường học và tất cả các công sở, lĩnh vực, khẩu hiệu, phong trào “học tập và làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh” được treo, được phát động-diễn ra khắp nước. Hiện giờ, chức danh TBT đảng đã kết hợp với chức danh CTN vào một người là Nguyễn Phú Trọng. “Vua thật” đã có. Ông này không thích gọi đây là “nhất thể hóa”, cũng không thích gọi là “kiêm nhiệm” có lẽ chỉ để tránh “điều tiếng” về cái tiến trình đã đưa-đẩy ông ta lên địa vị ấy? Vậy, tôi xin được gọi đây là biểu hiện rõ nhất của cái nguyên lý thống nhất của chế độ quân chủ độc tài, một nền độc tài-chuyên chế mới mang tên Nguyễn Phú Trọng – một kẻ mà theo tôi chẳng có một chút tư chất nào xứng đáng cho một người đứng đầu một nhà nước đại diện cho nhân dân, nhưng rất xứng đáng đứng đầu một chế độ không đầu-bù nhìn. Cho nên, vừa ngồi chưa yên ghế, ông ta và chế độ này đã tiếp tục một công việc là không thèm đếm xỉa, không thèm hiểu và cũng chẳng thể hiểu nổi thế nào là những giá trị cơ bản của con người, nhất là tự do, vì thế đã chống lại, quy kết những người có tư tưởng tiến bộ là tự do-dân chủ là những kẻ “cơ hội”, “tự diễn biến”, “thoái hóa về tư tưởng, đạo đức”. Còn thấy Nguyễn Phú Trọng đứng đầu cái ban gọi là “quy hoạch cán bộ cấp chiến lược”, một cách làm chỉ có thể là của chế độ quân chủ-độc tài. Ông ta định với “con mắt tinh đời, anh hùng đoán giữa trần ai mới già” sẽ triệt tiêu hết những người có tiếng nói đối lập để đưa những người “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” vào hệ thống “thống nhất-duy nhất” của mình. Thực chất, đây chỉ là những việc làm để bảo vệ địa vị, quyền lợi của đảng, của chế độ này và cả thói hám danh của ông ta mà thôi. Và thêm nữa, với việc phát động ngày “hội đoàn kết”, với luật ANM sắp được ban bố tới đây, chế độ quân chủ-độc tài Nguyễn Phú Trọng sẽ lên đến đỉnh điểm ngu tối và khốn cùng của nó. 

Như vậy, chúng ta, nhân dân, đất nước, con người Việt Nam bao năm nay trong cái gọi là “cách mạng” và “độc lập”, chưa hề có một nền độc lập thực sự của mình. Chúng ta chưa có nền công nghiệp-kinh tế riêng của mình, lệ thuộc vào ngoại bang, vào hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm cả về lý thuyết, tư tưởng và thực tiễn, nhất là phụ thuộc vào bọn Tàu Cộng tham lam, tàn độc, bị chúng chi phối, thao túng cả về kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng. Tuy vậy, chúng ta cần suy nghĩ và đặt ra những câu hỏi rằng “Ai đã gây nên nông nỗi này, ai là kẻ có tội, phải chăng là Học thuyết Marx-Lenin, các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô hay bọn bá quyền Bắc Kinh?” hay “Chính danh thủ phạm là đảng cộng sản Việt Nam?” v.v... Dĩ nhiên, chúng ta cần có những câu trả lời thật đúng, rõ ràng và dứt khoát, không thể né tránh. Nhưng trước khi trả lời những câu hỏi ấy, chúng ta rất cần biết tâm lý của những kẻ hèn kém, yếu đuối là hay “đổ tội” cho người khác, không dám thừa nhận tội lỗi của mình là do mình. Chúng ta cần vượt lên trên sự yếu đuối này.

Như đã nói ở trên, chính chế độ quân chủ dựa trên việc không có chế độ sở hữu tư nhân, là cơ sở cho những quyết định, lựa chọn lịch sử của chúng ta. Cụ thể hơn, nguyên nhân sâu xa của những lựa chọn của chúng ta là do chưa có, không có chế độ tư hữu, nông dân không thể có hệ tư tưởng độc lập, công nhân, thành phần tư sản còn rất non yếu, chúng ta vẫn thuộc hình thái xã hội quân chủ kiểu phương Đông-châu Á. Với một cơ sở văn hóa như thế, con người, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản lâu nay đã không có khả năng nhìn xa hơn cái bóng của mình. Cho nên, chúng ta đã tiến hành những “cuộc cách mạng” không có linh hồn, hoặc mang những linh hồn vay mượn, chắp vá, dựa vào những sức mạnh bên ngoài. Rốt cuộc những cuộc chiến tranh “giành độc lập” chống thực dân Pháp hay cuộc chiến tranh “chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” đều là lựa chọn của văn hóa, của một nền văn hóa của chúng ta. Hai lựa chọn ấy ở hai giai đoạn, với hai mức độ khác nhau nhưng vẫn là của một nền văn hóa, đúng hơn, của một nền văn hóa với những khuynh hướng khác nhau trong thời hiện đại, nhưng khuynh hướng cộng sản đã thắng bởi vì nó gần hơn, đúng hơn với bản chất văn hóa của chúng ta. 

Tất nhiên, vào thời điểm này chúng ta nhận thấy những người cộng sản, tổ chức đảng cộng sản có tội lớn ở việc đang kìm hãm con đường phát triển của đất nước, dân tộc với việc họ dựng lên chế độ độc tài-toàn trị đầy ngu tối, tham lam, hèn nhát, dối trá, tàn ác và cả bán nước. Nhưng chúng ta hãy nghĩ xem, xét từ nguồn gốc, chúng cũng là, chính là sản phẩm của văn hóa của chúng ta đấy chứ! Chính nhân dân, dân tộc này đã sản sinh ra chúng, che chở cho chúng đấy chứ! Cho nên, điều quan trọng là giờ đây khi chúng ta đã nhận ra được cái khuyết phạp căn bản ấy trong văn hóa của mình, thì cần tìm cách khắc phục nó, chứ không phải tìm mọi cách “đổ tội” cho tổ chức, thể chế này, để làm như thể ta là kẻ vô tội vậy, nên ta không phải chịu trách nhiệm trước chính ta. Hẳn rằng khi con người nhìn thấy cái yếu đuối, khuyết nhược của mình, thấy cái nguyên nhân lỗi lầm ở ngay nơi mình, nó sẽ trở nên rất mạnh mẽ! Hẳn rằng chỉ với cách nhìn, cách hiểu như thế về những cuộc chiến tranh, về những cái gọi là “cách mạng” và “nền độc lập” ở Việt Nam thời hiện đại, chúng ta mới thấy ra được con đường mới, mới có sức mạnh thực sự lớn lao để thoát khỏi trạng thái hiện nay! 

Lưu ý:

Phần 2. Cuộc cách mạng mới và nền độc lập thực sự của Việt Nam.
1. Khát vọng về một nền độc lập thực sự;
2. Nội dung và đặc điểm của cách mạng mới ở Việt Nam;
3. Nhân dân Việt Nam cần phải làm gì vì một nền độc lập thực sự? 

Ngày 12 tháng 11 năm 2018

Phong trào Lao Động Việt góp sức xây dựng công đoàn độc lập thực sự của người lao động

Trần Quang Thành (Danlambao) - Anh Đoàn Huy Chương, Phó Chủ tịch Phong trào Lao Động Việt trả lời phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành.

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) hay còn gọi là TPP11 đang được kỳ họp thứ 6 Quốc hội CS khóa 14 thảo luận và biểu quyết thông qua.

Trong hiệp định có điều khoản nói về thành lập nghiệp đoàn tự do hay còn gọi là công đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi của giới lao động.

Hình thức thành lập và nội dung hoạt động của loại hình công đoàn này cũng đang được sự quan tâm của dư luận xã hội.

Anh Đoàn Huy Chương, Phó Chủ tịch Phong trào Lao Động Việt đã có cuộc trao đổi với nhà báo Trần Quang Thành về chủ đề này

Nội dung như sau - Mời quí vị cùng nghe

YouTube PV anh Đoàn Huy Chương



Nguyễn Phú Trọng – Một cán bộ tuyệt đối không tham vọng quyền lực?


Thái Thú Nguyễn Phú Trọng
Tác giả: Quê Hương
ách đây hơn một năm, ngày 15/8/2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành quy định của Bộ Chính trị về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Trong đó đáng chú ý là việc Bộ Chính trị quy định cán bộ thuộc diện Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý phải là những cán bộ tuyệt đối không tham vọng quyền lực. Và trong diện cán bộ ấy có cả Tổng Bí Thư. Thế mà chẳng hiểu làm sao chỉ trong vòng có 2 năm rưỡi mà ông già 73 … tuổi lại có thể thâu tóm hết quyền lực về mình và phe nhóm của mình, tiêu diệt đối thủ và chiếm luôn cả ghế chủ tịch nước.
Còn nhớ trong đại hội Đảng 12, diễn ra vào cuối tháng 1 năm 2016, cũng với một lời hứa hẹn là chỉ muốn làm thêm nửa nhiệm kỳ để thực hiện việc chuyển giao thế hệ lãnh đạo mà ông Nguyễn Tấn Dũng đã đành xin rút khỏi danh sách tái cử Bộ Chính trị và dồn phiếu cho Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử chức Tổng Bí Thư. Nhưng rồi sau đó, Trọng đã không chỉ không thực hiện việc chuyển giao thế hệ lãnh đạo như đã hứa mà còn đẩy mạnh việc củng cố quyền lực cho mình như tự đưa ông ta vào Đảng ủy Bộ Công an (việc làm chưa từng có trong lịch sử Việt Nam), thanh trừng những thân cận của Dũng như Đinh La Thăng, Nguyễn Xuân Anh, Vũ Huy Hoàng…, hạ bệ những người được coi là có nguy cơ soán mất ngôi của Trọng như Đinh Thế Huynh – người về nghỉ hưu một cách đầy bí ẩn. Và đỉnh điểm nhất chính là việc ngầm hạ sát Trần Đại Quang và tiếm ghế Chủ tịch nước.
Không chỉ chỉ vun vén quyền lực cho bản thân, các tay chân lông lá của Trọng cũng được bổ nhiệm vào những chức vụ then chốt trong Đảng như Trần Quốc Vượng tiếm ghế Thường trực Ban bí thư, Phạm Minh Chính giữ chức Trưởng ban Tổ chức trung ương. Và với tam giác quỷ trong Đảng như thế thì chẳng ma nào còn dám có ý kiến gì khác ngoài chuyện ủng hộ Trọng.
Nếu không tham vọng quyền lực thì làm gì có chuyện Trọng lại dám trơ trẽn chấp nhận để Quốc hội giới thiệu mỗi mình ra bầu chủ tịch nước, trong khi miệng ra rả kêu: “tuổi cao, trình độ có hạn”??? Sao Trọng không rút lui như Dũng, Sang, Hùng, Rứa … đã làm tại đại hội 12 để rồi ông ta được quốc hội “nghị gật” thông qua với tỷ lệ phiếu gần 100 phần trăm và nghiễm nhiên kiêm luôn cả 2 ghế.
Có lẽ bây giờ, trên ngôi cao Trọng đang cười ngạo nghễ và nghĩ về lũ “bò” Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Đinh Thế Huynh, Tô Huy Rứa… Bởi lũ bò này đã chót tin vào câu nói “Các đồng chí cứ yên tâm về nghỉ” nhưng rồi để một mình tôi – Nguyễn Phú Trọng tham vọng quyền lực chính trị mà thôi”.
Đau quá nhỉ những “con bò”!!!
Về làm những con bò … tử tế

Gửi tiền ở Ngân Hàng có ngon không?


Fb. Nguyễn Việt Nam

Bữa nọ Nam có đọc bài báo nói về vấn đề kinh tế như thế này: Theo một số tiến sĩ thì từ giờ đến cuối năm hoặc sang năm thì thị trường bất động sản không mấy sáng sủa vì cung vượt cầu và tình trạng tồn đọng, bán tháo sẽ diễn ra. Chỉ số chứng khoán được dự đoán vẫn xoay quanh mức 900 điểm cho VN Index. Đồng USD vẫn duy trì đà tăng giá kể cả ngắn hạn và dài hạn. Theo lời của anh Nguyễn Trí Hiếu là như vậy.
Câu hỏi đặt ra là có tiền thì đầu tư vào đâu khi thực trạng tương đối xấu cho chứng khoán, bất động sản đang hiện hữu? Anh Hiếu có nói rằng đem tiền vào ngân hàng gửi có vẻ ngon vì các ngân hàng nâng lãi suất tiền gửi lên khá cao, bình quân là 7%/ năm.
Nam tính như thế này: Ta đem 100 triệu đi gửi ngân hàng lấy về 7%/ năm. Hiện nay tỉ lệ lạm phát là xoay quanh 4%. Vậy thì lãi xuất thực chất chỉ là 3%. Vậy thì cứ mỗi 100 triệu ta sẽ mất 4,8 triệu/ năm tiền lạm phát.
Nói qua chút lạm phát. Nghĩa là ta phải trả thêm 4% nữa để mua được một món hàng trước đây. Thực ra thì đó là con số bên nhà nước đưa ra thôi chứ Nam nghĩ con số % lạm phát đã cao hơn nhiều rồi. Nó có thể gấp rưỡi hoặc gấp đôi. Bởi vì giá cả vừa rồi tăng mạnh ở nhiều mặt hàng. Nhà nước thì bơm hàng trăm ngàn tỷ vào nền kinh tế. Rất nguy hiểm.
Quay lại vấn đề lãi xuất ngân hàng. Vậy thì lãi xuất thực chất ta nhận được chỉ khoảng trên dưới 3% khi gửi tiền vào ngân hàng.
Quay sang đồng USD. Ta tính đến tỷ lệ trượt giá tiền Đồng so với USD. Mỗi năm trung bình tiền Việt Nam mất giá so với tiền USD là 2-3%. Vậy thì việc mua USD để trong nhà vẫn có lãi là do trượt giá đồng tiền. Nên ta cân nhắc là nên giữ USD hay gửi tiền vào ngân hàng vì lãi suất nó cũng gần ngang ngang nhau?
Có rất nhiều rủi ro cho đồng tiền của chúng ta khi gửi ngân hàng như: Ngân hàng phá sản (mất hết, còn lại mỗi 75 triệu), lạm phát phi mã, đổi tiền, hay mất tiền trong tài khoản. Với cái tình hình các ngân hàng đang ôm một đống nợ xấu từ các thị trường như nhà đất, doanh nghiệp…thì việc xử lý là rất khó khăn. Việc bán lại nợ xấu là rất ế ẩm dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng. Chính anh Phúc Thủ tướng đợt sang Nhật Bản vừa rồi cũng đề xuất bên Nhật là mua lại các ngân hàng yếu kém. Điều đó cho thấy thực trạng ngân hàng đang gặp rất nhiều vấn đề tiêu cực. Về lạm phát, đổi tiền cũng vậy thôi. Lúc ấy tiền là giấy lộn, mất giá trầm trọng thì ai cũng rõ rồi. Cái này thì nhanh lắm. Vù cái là xong luôn. Còn đồng USD thì an toàn hơn rất nhiều. Chấp tất cả các trường hợp như lạm phát, phá sản ngân hàng, đổi tiền, chiến tranh đi chăng nữa thì cũng chẳng hề hấn gì nhưng với điều kiện là ta phải giữ nó trong két nhà mình chứ đừng gửi cho ngân hàng. Vậy thì ai cũng rõ là cầm USD vẫn ngon hơn cầm tiền Đồng hoặc gửi vào ngân hàng.
Tình trạng mua USD giờ rất khó khăn. Xã hội chủ nghĩa nó vậy đấy. Nên ai mua được bao nhiêu, bằng cách nào thì cứ mua. Chứ nhìn con số lãi xuất 7-8% của ngân hàng rồi hoa mắt gửi vào đó là có ngày đứt hết. Và ai đang có tiền trong ngân hàng thì Nam cũng khuyên nên rút về. Mua USD thì mua không thì đầu tư gì đó mang tính chắc ăn chút. Tiền nong đau đầu nhỉ./.

Phát triển đất nước kiểu “Trò mèo”



Bài này chúng ta xét tổng quan về các vấn đề kinh tế như vốn ODA, khối doanh nghiệp FDI, các tổ chức thương mại tự do. Được và mất là hai vấn đề mà bất kỳ ai làm kinh tế cũng đều phải tính tới đầu tiên. Vậy ta cùng nhau nhìn lại được và mất trong từng ấy năm mở cửa hội nhập của Việt Nam để thấy cái tài tình của đảng cộng sản với cái mô hình” kinh tế thị trường có đuôi xã hội chủ nghĩa”.
1) Vốn ODA (Vốn ưu đãi): Tại sao lại gọi là trò mèo?
Ta đặt câu hỏi là tại sao vốn ODA lại được ưu tiên chủ yếu dùng để đầu tư vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, bệnh viện, trường học…mà không phải là dành phần lớn để đầu tư vào sản xuất hàng hóa để nâng cao nội lực của nền kinh tế đất nước? Cái này ta phải xét về bản chất của chế độ. Bản chất của chế độ là luôn thích đánh bóng bộ mặt để mị dân, tạo cái nhìn hào nhoáng cho cái vỏ bọc ở bên ngoài. Và đất nước cũng như kinh tế cũng vậy. Họ thích xây đường đẹp, cầu đẹp, cơ sở hạ tầng đẹp để tạo cái vỏ đúng chất “phồn vinh giả tạo” cho đất nước nhưng thực chất nội lực đất nước không có gì ngoài “đào lên để bán”. Nó sẽ tạo cho người dân cảm giác là: nhờ có đảng và nhà nước mà nước ta có nhiều công trình to đẹp thế, nhất nhì số má khu vực. Thế là dân hồ hởi, tự hào lắm. Mà đảng cộng sản cũng lấy nó ra để làm thành tích kể lể như kiểu anh Trọng: có bao giờ đất nước to đẹp thế này không? Quần áo đầu tóc bóng mượt mà móc túi bảy ngày chẳng có xu khỉ nào. Thêm vào đó là cái nguyên nhân không nhỏ là đầu tư vào cơ sở hạ tầng thì dễ tham nhũng hơn và thu về tiền tươi, chắc chắn hơn so với đầu tư vào sản xuất.
Khi vay vốn ODA hoặc vay tiền của các quốc gia, các tổ chức tiền tệ sẽ có rất nhiều điều kiện ưu đãi của Việt Nam dành cho nước cho vay để đổi lấy ưu đãi về vốn như: Nới lỏng thủ tục hành chính, thuế má, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp nước họ vào làm ăn ở nước ta hoặc một vài ưu đãi khác nữa. Vậy mới sinh ra cái khối doanh nghiệp FDI (doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài).
2) Khối doanh nghiệp FDI: Tại sao lại gọi là trò mèo thì nó như thế này:
Theo báo cáo mới nhất 10 tháng đầu năm Việt Nam xuất khẩu hơn 200 tỷ USD và cán cân thương mại là 0,77 tỷ USD đưa Việt Nam thành nước xuất siêu hơn 7 tỷ USD. Con số rất đẹp để báo cáo đúng không?
Nghe là thấy kinh tế sắp hóa rồng hóa hổ đến nơi rồi. Thế nhưng hơn 70% của kim nghạch xuất khẩu lại đến từ khối doanh nghiệp FDI nó mới đau chứ lị.
Ta lại đi đến câu hỏi là Việt Nam được gì và mất gì từ doanh nghiệp FDI? Ta được thuế (không nhiều do ưu đãi thuế khi đi vay ODA), việc làm cho lao động (cái này tạm tích cực), lợi nhuận từ các ngành phụ trợ và dịch vụ còn khá thấp(mới chỉ chiếm khoảng hơn 20% tổng giá trị đầu vào sản phẩm), con số báo cáo ảo.
Ta mất gì? Môi trường, đất sống cho doanh nghiệp trong nước, thị trường, cái bẫy thị trường lao động giá rẻ, tài nguyên, và có thể là cả lãnh thổ (nhất là bọn FDI của Tàu). Nhất là ở các hiệp định thương mại tự do, sắp tới đây là CPTPP (hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương thì ta mất mới nhiều). Khi mở cửa hoàn toàn thị trường với thuế suất 0% thì cái ta đã đánh đổi thị trường trong nước để đổi lấy thị trường xuất khẩu. Nhưng năng lực cạnh tranh thì lại nằm phần lớn ở khối doanh nghiệp FDI chứ không phải là khối doanh nghiệp trong nước. Vậy thì ta đánh đổi thị trường của nước mình để lấy thị trường cho doanh nghiệp nước ngoài là chính và thu về thêm chút thuế, việc làm, lợi nhuận phụ trợ ít ỏi còn đâu tiền về hết tay nước ngoài. Tiếp đó là còn hi sinh cả nền sản xuất trong nước có nguy cơ bị giết chết bởi vì năng lực để thay đổi, nâng cấp để tăng sức cạnh tranh là khá yếu. Điều này ta rất bất lợi. Vậy thì chung quy lại ta chỉ xuất khẩu lẹt đẹt các mặt hàng như nông sản, da giày, may mặc, thủy sản…với sản lượng thì nhiều mà tiền nhận về chẳng bao nhiêu, thua xa khối doanh nghiệp FDI. Thêm nữa là nhận về con số tăng trường ảo để báo cáo cho nó oai để mị dân. Vậy là hết.
3) Các tổ chức thương mại tự do:
Cái này tại sao lại gọi là trò mèo? Bởi vì nó là trò mèo để có được hai cái trò mèo trên.
Hội nhập này nó được cái hay là mị dân rất tốt. Họ đã, đang và sẽ nói rằng Việt Nam đang bơi ra biển lớn, hội nhập sâu rộng và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Nghe cũng nguy hiểm ra phết đấy. Họ mở cửa để thành cái gọi là kinh tế thị trường (ra quốc tế thì gọi thế, nhưng trong nước thì lại gọi là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa để mị dân ấy mà) để hội nhập.
Hội nhập để làm gì? Có cả mục đích mở rộng thị trường xuất khẩu nhưng chủ yếu là đủ điều kiện để đi vay, thu hút bọn khác đến để làm ăn trên nước mình…Bơi ra biển lớn nhưng ông là con cá bé tí, ốm nhom mà cứ bơi. Mồm làm sao to mà đớp được miếng bánh to trong khi cái vé để ăn miếng bánh ấy lại giống như bọn mồm to. Thành ra được thì ít mà mất thì nhiều. Vậy là chỉ được cái tiếng hội nhập cho nó oách chứ vị thế vẫn là nước lao động giá rẻ, bãi rác của thế giới và kiếp thằng đi vay. Hết.
Trên đây là ba mảng trong một phần kinh tế của Việt Nam. Nó phản ánh một phần bức tranh mà trong đó vẽ hình đảng cộng sản đang làm xiếc kinh tế hay còn gọi là trò mèo để lòe dân. Haizz. Nhìn kỹ lại mà thấy buồn ghê nha./.

Bao giờ Việt Nam trở thành“Khu tự trị tộc Kinh”?


Tân Phong – Web Việt Tân
Từ “khu tự trị tộc Kinh” ở Bussy Saint Georges
Sự kiện mà một nhóm người Trung Quốc đã bỏ tiền ra mua một diện tích đất lớn ở ngoại ô Paris, thành phố Bussy Saint Georges và dự định xây dựng một “công viên văn hóa” có tên là khu văn hóa Tộc Kinh với mô hình tổ chức giống như việc thành lập một “khu tự trị”.
Nhóm người Trung Quốc và một số người Việt tham gia việc này còn cho biết sẽ qui tụ khoảng 3-4 triệu người “tộc Kinh” trên khắp thế giới về Bussy Saint Georges để “lập quốc”. Không rõ họ căn cứ vào sử liệu nào để cho rằng người “Tộc Kinh” là người An Nam cổ xưa – một trong 56 sắc tộc thiểu số của Trung Quốc, được trả độc lập bởi triều đình Mãn Thanh vào năm 1884-1885. Họ còn nói rằng người “Tộc Kinh” hiện có mặt trên 27 quốc gia với khoảng 1 triệu người ở Mỹ và 1 triệu người ở Châu Âu. Họ còn cho rằng… “nguồn gốc” của cộng đồng “người Kinh” trên thế giới là từ nhóm người “Kinh tộc Tam Đảo” ở vùng Quảng Tây, Trung Quốc?
Việc lựa chọn “địa điểm” cho “khu tự trị tộc Kinh” ở ngoại ô Paris cũng hết sức “nhạy cảm”. Pháp là quốc gia tôn trọng sự đa nguyên văn hóa và nền chính trị dân chủ lâu đời. Là một quốc gia có nhiều thuộc địa trong quá khứ, chính sách chủng tộc và nhập cư của Pháp trong nhiều thập kỷ đã và đang tạo ra sự pha trộn văn hóa đa dạng cao độ, mang đến cho nước Pháp cả mặt tích cực lẫn tiêu cực.
Với vị trí “kinh đô ánh sáng” từ hàng trăm năm qua và là trung tâm văn hóa phát triển bậc nhất, sức lan tỏa và ảnh hưởng của những trào lưu văn hóa, tư tưởng, xã hội… bắt nguồn từ “cái nôi” nước Pháp đối với thế giới rất lớn.
Bên cạnh đó, một điều đáng lưu ý rằng cộng đồng người Việt ở Pháp khá rời rạc không có sự tập trung và tính cộng đồng cao như ở Mỹ. Người Việt ở Pháp cũng ít quan tâm đến chính trị hơn. Sự cố tình lẫn lộn lịch sử, chủng tộc và đánh tráo khái niệm ở câu chuyện này quá rõ ràng.
Mục đích chính của Trung Quốc nói với thế giới qua câu chuyện này là Việt Nam chỉ là “tộc Kinh” – một dân tộc thiểu số trong “đại gia đình 56 dân tộc anh em” của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vĩ đại. Mưu đồ hết sức gian manh của Trung Quốc đang được công khai thực hiện bằng việc thành lập “khu tự trị Tộc Kinh” tại Pháp với sự tiếp tay của một số người Việt tham lam, sẵn lòng bán rẻ Lương tri, cùng với sự “đồng thuận” của cộng đồng người Việt bàng quang, mù mờ về nguồn cội.
Chính sử hay ngụy sử. Người Việt hay Người Kinh?
Có đầy đủ những căn cứ khoa học về lịch sử hàng ngàn năm văn hiến của chủng tộc Bách Việt là tổ tiên của người Việt Nam ngày nay. Nhưng thay vì sử dụng sử liệu đã được khoa học chứng minh, sử sách ghi chép rõ ràng, thì một khuynh hướng mà nhà cầm quyền CSVN đang chủ ý xiển dương, tuyên truyền những truyền thuyết, huyền sử đầy màu sắc thần thoại kiểu như “con Rồng, cháu Tiên”, Thánh Gióng, 18 đời vua Hùng… thiếu căn cứ khoa học cũng như nhiều điều cần phải minh định.
Trong khi đó, lịch sử hơn 2000 năm của dân tộc Việt với những triều đại phong kiến từ Đinh Lý Trần Lê… được giảng dạy trong hệ thống nhà trường bị dần lược bỏ, nội dung sơ sài và thậm chí đã có những “đề xuất” loại bỏ môn lịch sử khỏi chương trình học và thi. Vốn dĩ, bộ môn lịch sử trong chương trình của hệ thống giáo dục được “định hướng xã hội chủ nghĩa”, hầu như chỉ tập trung vào giai đoạn lịch sử cận đại với “cuộc cách mạng thần thánh” của những người cộng sản.
Lịch sử là bộ môn bị chính trị hóa nặng nề nhất, cũng là môn học bị học sinh ghét bỏ nhất. Học sinh từ nhỏ đã bị nhồi nhét thứ “lịch sử” dối trá đến mức hoang tưởng, với những câu chuyện anh hùng kiểu như Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Phan Đình Rót… và thứ chủ thuyết Mác Lê, đạo đức và tư tưởng Hồ Mao. Vậy mục đích của nhà cầm quyền là gì nếu không phải làm cho những thế hệ sau quên đi nguồn cội, lịch sử của chính dân tộc mình mà chỉ còn biết đến thứ “ngụy sử” dối trá ?
Vấn đề cần làm rõ, là tên gọi “Dân tộc Kinh” có từ khi nào, định danh cho tộc người nào? Vì nguồn gốc của người Việt Nam là chủng Bách Việt với căn cứ nhân chủng học và lịch sử hàng ngàn năm, đã được nghiên cứu và minh chứng rõ ràng. Nếu như “tộc Kinh” chỉ là cách gọi của người Trung Quốc đối với nhóm người Việt di cư từ vùng Đồ Sơn, Hải Phòng lên vùng Tam Đảo, Quảng Tây sinh sống từ thế kỷ 16 hoặc là cách gọi chung cho những người sinh sống ở vùng đồng bằng, kinh kỳ từ thời Gia Long để phân biệt với người miền núi – gọi chung là “người Thượng”… thì cần phải được phân định rõ ràng. Nhưng trước hết, cái tên gọi hết sức chung chung, mập mờ “dân tộc Kinh” thiếu căn cứ lịch sử và khoa học, lại được ghi trong thẻ căn cước của hơn 90 triệu người dân Việt Nam phải được thay đổi cho đúng với cội nguồn là “dân tộc Việt” – một chủng tộc có lịch sử lâu đời và oai dũng nhất thế giới, đã trấn giữ vùng đồng bằng sông Mã, sông Hồng hàng ngàn năm qua. Người Việt cần biết rõ về cội nguồn, định danh và gọi đúng tên chủng tộc của mình, bảo tồn những giá trị thuộc về dân tộc mình trước khi muốn hướng đến một “vị thế” nào đó.
Một quá trình tiếm danh về văn hóa và chủng tộc đang được thực hiện bởi những người bạn “4 tốt, 16 chữ vàng” với sự đồng thuận và tiếp tay của nhà nước CSVN. Như Joseph Goebbels từng nói “khi lời nói dối được lặp lại đủ lâu thì sẽ trở thành sự thực”. Nguy cơ Lịch sử của một đất nước có hàng ngàn năm văn hiến và một chủng tộc Bách Việt có quá khứ hào hùng ở đồng bằng Dương Tử, sông Mã, sông Hồng bị xóa bỏ và thay vào đó là một thứ “ngụy sử” và một chủng tộc giả hiệu là hoàn toàn có thật. Một dân tộc bị đánh tráo “ID giống nòi” và đánh mất lịch sử là một dân tộc đã diệt vong.
Nếu cộng đồng hải ngoại cũng như người Việt quốc nội không có nhận thức đầy đủ về những âm mưu này, chỉ một vài thế hệ nữa, những đứa trẻ gốc Việt ở Pháp, Châu Âu và thậm chí ở Việt Nam… có lẽ sẽ nghĩ rằng mình có nguồn gốc từ một tộc người thiểu số ở Trung Quốc. Lúc đó, lịch sử oai hùng của dân tộc Việt đã hoàn toàn bị xóa bỏ hay chỉ còn bàng bạc màu huyền sử với những mảnh ký ức rời rạc, nát vụn. Đó cũng là lúc mà Việt Nam có thể đã trở thành một “khu tự trị Tộc Kinh” trong đại gia đình 56 dân tộc thiểu số của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa?
Tân Phong, ngày 9.11.2018

Tiền dân là lá mít


Fb. Nguyễn Việt Nam

ừa qua bên Bộ công an đã có lệnh bắt Lê Bạch Hồng và một số thuộc cấp, tổng giám đốc BHXH, cựu thứ trưởng Bộ LĐTBXH về tội làm trái gây hậu quả nghiêm trọng trong công tác quản lý kinh tế. Trong vụ việc này, Hồng đã đem 1000 tỷ tiền của dân cho công ty cho thuê tài chính của Agibank vay. Mới thu hồi về đươc hơn 200 tỷ và còn gần 800 chưa thu hồi được và có nguy cơ tiền dân mất trắng.
Image result for Lê Bạch Hồng
Lê Bạch Hồng
Bên Agribank có nói rằng đã bảo lãnh khoản nợ gần 800 tỷ tiền của dân. Thế nhưng câu hỏi là bảo giờ trả lại cho quỹ BHXH và giải trình trước công chúng ra làm sao? Nếu đem tiền quỹ ra kinh doanh cho vay lãi thì lãi ai được hưởng ? Lỗ và mất thì ai sẽ là người chịu? Và liệu Lê Bạch Hồng có phải là con tốt thí để xù nợ hoặc tạo tiền lệ cho xù nợ ở một số hệ thống quỹ an sinh xã hội hay không? Đây là một số câu hỏi mà nhân dân cả nước rất quan tâm.

Không chỉ có vụ quỹ này đâu mà mà hiện tại có khoảng hơn 610.000 tỷ đầu tư lũy kế tính đến năm 2017 của quỹ BHXH đầu tư vào trái phiếu. Nam thấy trong báo cáo tài chính có công bố số lãi là từ 2013-2017 lãi 150.000 tỷ. Nhưng Nam không thấy nói và cũng chưa hiểu được rằng số tiền lãi này ai sẽ được hưởng, nó chảy vào túi ai. Đầu tư vào trái phiếu chính phủ là đầu tư dài hạn vài chục năm. Mà bản chất của trái phiếu chính phủ ở Việt Nam thì ai cũng rõ nó tệ hại đến mức nào từ trong quá khứ đến hiện tại. Nhất là tình hình kinh tế hiện nay đang bung bét thế này thì trong dài hạn ai sẽ là người đảm bảo rằng số trái phiếu mà bên BHXH mua của chính phủ kia không trở thành giấy lộn? Và thế là bao nhiêu năm đóng tiền BHXH và tương lai bảo hiểm của mỗi cá nhân sẽ ra sao. Tất cả chỉ nhận về những tờ giấy trái phiếu vô giá trị ư?
Việc rút tiền bảo hiểm đã đóng về là rất khó, sẽ bị gây phiền hà rất nhiều bởi thủ tục hành chính. Nam nhớ trước có cái luật là nếu rút một lần thì chỉ nhận được phần mình đóng, còn phần doanh nghiệp đóng thì sẽ mất. Và điều kiện để rút một lần cũng rất phức tạp. Chẳng hạn như đi định cư, bệnh hiểm nghèo, hết khả năng đóng bảo hiểm.. Nói chung là bên nhà nước không muốn cho người dân rút ra mà muốn giữ lại để kinh doanh vốn chứ không phải đơn thuần là để phục vụ an sinh xã hội.
Hiện tại nền kinh tế đang rất bi đát. Hệ thống ngân hàng đang loay hoay với một đống nợ xấu của bất động sản và một số khoản cho vay khác. Luật phá sản ngân hàng cũng đã ra. Anh Phúc đi Nhật cũng đã dạm lời rao bán ngân hàng có nguy cơ phá sản. Tình hình ngân sách đang thâm hụt trầm trọng. Nguồn thu ngân sách đang gặp khó khăn, chủ yếu dựa vào thuế, bán dầu thô và bán đất. Vậy thì tương lai nào đảm bảo cho đồng tiền của mọi người ở các quỹ xã hội khi mà nhà nước cần một lượng tiền lớn để xoay vòng tài chính? Vay liệu có trả nỗi không ? Vỡ nợ quốc gia thì biết đòi ai, xù hòa cả làng à? Không chỉ ở các quỹ xã hội mà kể cả các kênh đầu tư rất nguy hiểm như kênh ngân hàng với tỉ lệ % lãi suất huy động vốn rất cao hiện nay. Vỡ nợ là xong tất. Siêu lạm phát là xong tất. Và chúng ta lại chẳng có gì ngoài tiền như Venezuela.
Vậy nên ai đủ điều kiện rút được thì cứ rút về, đừng có dại mà mang gửi ngân hàng tham lãi. Có thể mua được bao nhiêu USD thì cứ mua mà cất vào két. Đừng dại gì mà đem để vào những cho đầy rủi ro kia./.

Chính phủ bốc hốt, đảng ăn đồ cúng


Lãnh đạo VC (Photo credit should read HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)
Fb. Đỗ Ngà
Khi mới hả họng đớp thì chặn họng kẻ tham nhũng lại, đấy mới là sức mạnh của pháp quyền. Tại hàn Quốc đương kiêm tổng thống bị chặn họng từ rất sớm để tránh thiệt hại cho đất nước. Sức mạnh pháp quyền là phải như thế. Còn để cho kẻ tham nhũng ăn uống chán chê mới móc họng chúng được thì lúc đó, thức ăn không những hoá phân, và phân cũng đã hoá bùn. Nơi nào như thế nơi đó không có pháp quyền.
Đinh La Thăng sai phạm từ lúc ở Tập Đoàn Dầu Khí, ông ấy ăn ngập mặt, ăn chán chê rồi chui vào Bộ GTVT ăn tiếp. Sau khi ăn no nê ở bộ này anh ấy chui vào BCT và về Sài Gòn. Lúc này chuyện đấu đá giữa Nguyễn Phú Trương và Nguyễn Tấn Dũng đã ngã ngũ thì Thăng mới bị thịt. Sau khi tàn phá hàng trăm ngàn tỷ thì Thăng bị buộc bồi thường số tiền cỏn con 820 tỷ và tịch thu 20 tỷ. Con số 20 tỷ tịch thu kia không biết có thu được hay không, nhưng số tiền 820 tỷ bồi thường thì chắc chắn là không. Không ai móc tài sản ra bồi thường như thế cả.
Trong nhà nước này là thế, rất nhiều người ăn uống chán chê, tham nhũng gộc leo cao nhưng không gặp vấn đề gì. Có thể nói, đó là “tính ưu Việt” của XHCN, sai phạm được chuyển công tác và lên chức. Chỉ có thất bại trong đấu đá nội bộ mới bị trừng phạt, còn nếu là kẻ chiến thắng thì càng tham nhũng càng leo cao. Vì sao? Vì chỉ tham nhũng đậm thì mới chung chi nhiều, chung chi nhiều mới mua nổi ghế cao hơn. Và cứ như thế sự leo cao không thể tách rời với tham nhũng. Trong sạch ư? Trong sạch tiền đâu mua ghế? Nên phải tham nhũng.
Đến hôm nay, group xà xẻo đất công mới bị khởi tố sau khi ăn ngập mặt rất nhiều lô đất vàng ở Sài Gòn. Group này bị khui, nhưng group cướp đất Thủ Thiêm còn sừng sững chưa thể lôi cổ được. Đó là vì thế của chúng còn mạnh. Đám ăn ốc Lê Thanh Hải – Nguyễn Văn Đua – Tất Thành Cang đâu? Sao chúng không bị lôi cổ ra tòa để truy tố mà lại còn được đám đời sau phải lọ mọ đi đổ vỏ cho chúng? Đấy! Tham nhũng gộc sống khỏe đấy, có hề hấn gì đâu? Đó là bản chất của XHCN, khi đấu đá, chúng dùng bài tham nhũng để đánh nhau, vì đơn gian, thằng nào cũng tham nhũng. Đã có chức là có tham nhũng.
Chính phủ điều hành trực tiếp những chính sách công, nên thất bại chính sách là có ngay đáp số là chính phủ sai phạm. Nhưng ít ai nghĩ, để có dự án thất bại cho quan chức nhà nước kiếm chác, thì kế hoạch ấy đã được sự đồng ý của phía Đảng. Nói theo kiểu văn vẻ là “Đảng chỉ đạo”. Cho nên nói, thằng bộ sai phạm thì thằng Đảng cũng sai. Nói cho dễ hiểu, thằng chính phủ trực tiếp thò tay hốt tiền thì thằng Đảng cũng ngửa tay nhận lại đồng tiền sai phạm. Thời Nguyễn Tấn Dũng, hắn ăn đậm quá và chi nhiều tiền xây dựng đế chế cho mình mà ít cung phụng thằng Đảng nên mới mâu thuẫn gay gắt vậy. Hôm nay, Phúc ngoan ngoãn hơn, nên Đảng và chính phủ gần gũi. Chính phủ bốc hốt trực tiếp, Đảng nhận lại tiền cúng. Trên đời này không có kẻ chủ mưu nào mà không ăn một đồng nào của kẻ thực hiện theo lệnh. Thế thôi.
Dự án lớn là chủ trương lớn của Đảng, chả nhẽ dự án thất bại chỉ có mình chính phủ chịu? Không! Đảng phải chịu, vì Đảng là đầu xỏ. Nhưng làm ở Đảng luôn có bề ngoài trong sạch vì đảng nhận tiền cúng chứ Đảng không trực tiếp bốc hốt. Vậy thôi, chứ chẳng có ông nội nào làm bên Đảng mà trong với sạch gì cả. XHCN nó vận hành bằng nhiên liệu tham nhũng thì làm gì có trong sạch?

Đại biểu QH Lưu Bình Nhưỡng bị sập bẫy của Tô Lâm


Trước hết tôi xin nói đôi chút về con người Tô Lâm
Tô Lâm sinh ngày 10 tháng 7 năm 1957 tại Hưng Yên, bố là Đại tá Tô Quyền cựu giám đốc công an tỉnh Hưng Yên, trước khi nghỉ hưu là cục trưởng cục V26(nay là Tổng cục 8). Trước khi lên Bộ trưởng, Tô Lâm từng giữ chức phó Tổng cục trưởng, rồi Tổng cục trưởng Tổng cục an ninh phụ trách khu vực Âu châu, rồi lên Thứ trưởng phụ trách đối ngoại.
Sinh ra trong gia đình có truyền thống mưu mô, thủ đoạn của ngành công an, từ nhỏ Tô Lâm đã học biết và thẩm thấu những điều này do người cha để lại.
Khi vào học ngành an ninh, Tô Lâm luôn tỏ ra là một sinh viên xuất sắc. Ra trường, với vị thế của người cha cùng với những mưu mô, thủ đoạn tích tụ được, nên Tô Lâm thăng tiến rất nhanh. Sau này Tô Lâm còn có người em là Tô Dũng làm doanh nghiệp sân sau. Hai anh em y nâng đỡ nhau, một kẻ làm giàu, một tiến thân theo con đường chính trị.
Sau vụ trực tiếp chỉ huy bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại CHLB Đức, uy tín và vị thế của Tô Lâm đang bị suy giảm nghiêm trọng, không biết y còn có thể giữ được ghế của mình tới hết nhiệm kỳ không.
Thứ hai, tôi xin nói đôi chút về ông Lưu Bình Nhưỡng.
Ông Lưu Bình Nhưỡng là giáo viên dạy môn luật lao động khi tôi là sinh viên Đại học Luật Hà Nội. Ông Nhưỡng có lối ăn nói khúc triết sâu sắc nhưng dễ hiểu và rất thẳng thắn.
Khi tôi biết tin ông Lưu Bình Nhưỡng trở thành Đại biểu quốc hội, tôi rất mừng vì chắc chắn sẽ có một tiếng nói thẳng thắn, chính trực trong một quốc hội mà phần lớn các đại biểu là nghị gật.
Quả đúng như vậy, qua các phương tiện truyền thông cho thấy ĐB Lưu Bình Nhưỡng rất hăng hái, tích cực trong các công việc của một vị ĐB. Trong vụ việc ở Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, ông Nhưỡng tới trực tiếp để tìm hiểu và tìm cách bênh vực cho người dân.
Đặc biệt là những phát biểu của ông tại các buổi họp và tranh luận ở Uỷ ban thường vụ QH và quốc hội đều rất thẳng thắng. Hầu hết các cơ quan cấp bộ, nhiều tỉnh, thành phố đều bị ông Lưu Bình Nhưỡng giám sát các hoạt động về kinh tế, đầu tư, công tác cán bộ,… Và nêu những yếu kém, tồn tại bất hợp lý của mỗi trường hợp ra trước nghị trường và các phương tiện truyền thông đại chúng. Các sai phạm của các ngành nội chính như công an, toà án đều bị ông Lưu Bình Nhưỡng lôi ra trước nghị trường.
Tất cả những điều này làm cho nhiều quan chức ở các ngành khác nhau nóng mắt, và cay cú với ông Lưu Bình Nhưỡng, đặc biệt là Tô Lâm rất nhạy bén với tình hình này. Y suy nghĩ tìm cách ít nhất là làm mất uy tín của ông Lưu Bình Nhưỡng, và nếu thời cơ cho phép thì tình cách hạ bệ ông Lưu Bình Nhưỡng để lấy lòng các quan chức ở cách ngành khác nhau đang bị ông Nhưỡng chỉ trích.
Chúng ta đều biết rõ rằng, ngành an ninh cài cắm người của họ ở tất cả các cơ quan công quyền, toà án, viện kiểm sát các cấp, doanh nghiệp nhà nước để theo dõi và giám sát mọi diễn biến tư tưởng, hành động của các quan chức, cán bộ, công chức,… (họ gọi đó là bảo vệ chính trị nội bộ).
Thứ ba, tôi quay lại chủ đề Tô Lâm đã cài bẫy Đại biểu quốc hội Lưu Bình Nhưỡng như thế nào?
Tô Lâm đã ra lệnh cho an ninh bí mật theo dõi mọi hoạt động của ông Lưu Bình Nhưỡng. Và tất nhiên trong quá trình theo dõi hoạt động của ông, họ biết ông Lưu Bình Nhưỡng đang quan tâm và điều tra về vấn đề gì.
Lực lượng an ninh do Tô Lâm trực tiếp chỉ đạo đã yêu cầu người của họ nằm ở Viện kiểm sát tối cao chuẩn bị một báo cáo với các số liệu giả và không chính xác, sau đó chuyển báo cáo này cho ông Lưu Bình Nhưỡng. Ông Lưu Bình Nhưỡng hoàn toàn không biết người đưa cho mình bản báo cáo là người của cơ quan an ninh hoặc được cơ quan an ninh bí mật chỉ đạo. Và ông đã sập bẫy.
Ông Lưu Bình Nhưỡng hoàn toàn không có đủ điều kiện và thời gian để xác minh tính đúng đắn và chính xác của các số liệu và cả bản báo cáo. Và một phần ông cũng tin rằng bản báo do Viện KS Tối cao đưa ra hẳn phải chính xác. Ông cũng không thể biết được rằng mình đang nằm trong một kế hoạch đen tối và bẩn thỉu của Tô Lâm.
Ngay sau khi ông dùng bản báo cáo và các số liệu thống kê để chất vấn Tô Lâm về các sai phạm của cơ quan điều tra trước quốc hội. Bộ công an ngay lập tức đã kiến nghị quốc hội xử lý ông Lưu Bình Nhưỡng và tiến hành một chiến dịch truyền thông bôi nhọ ông.
Tô Lâm và Bộ công an đang vận động tích cực Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch quốc hội để tiến hành xử lý kỷ luật ông Lưu Bình Nhưỡng.
Nhưng dư luận xã hội và cộng đồng mạng đang lên tiếng một cách mạnh mẽ để bênh vực cho ông Lưu Bình Nhưỡng. Và chúng ta cần phải tiếp tục lên tiếng bênh vực cho ông Lưu Bình Nhưỡng. Không thể để cho âm ưu đen tối và độc ác của Tô Lâm và các thuộc cấp của y thành công.

Vụ cá chết hàng loạt ở Đà Nẵng, chính quyền nói mẫu nước “đạt chuẩn”

RFA-2018-11-12   
Hình minh họa. Hình chụp hôm 20/4/2016: một cậu bé nhìn xác một con cá chết trên bờ biển Quảng Bình.
Hình minh họa. Hình chụp hôm 20/4/2016: một cậu bé nhìn xác một con cá chết trên bờ biển Quảng Bình.AFP
Cơ quan chức năng Đà Nẵng hôm 12/11 cho biết bước đầu xác định nguyên nhân cá chết hàng loạt dạt lên bờ biển những ngày qua là do việc đánh mìn ngoài khơi của ngư dân.
Sở Tài nguyên Môi trường Đà Nẵng cho biết, kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước ven bờ đạt chuẩn và khẳng định không phát hiện nguồn xả thải gây ô nhiễm môi trường.
Trước đó, vào khoảng 2 giờ chiều ngày 10/11, người dân phát hiện cá chết dạt vào khoảng 2 km bờ biển. Ước tính khối lượng cá chết dạt vào bờ là khoảng 2 tấn.
Báo trong nước loan tin hôm thứ Hai 12 tháng 11 và cho biết thêm là không còn tình trạng cá chết dạt vào bờ biển từ cửa xả Phú Lộc lên bãi tắm Xuân Thiều.
Hình ảnh cá chết hàng loạt dọc bờ biển Đà Nẵng những ngày qua đã được lan truyền rộng trên mạng làm dấy lên những lo ngại về tình trạng ô nhiễm biển vì cách đây không lâu các tỉnh miền trung Việt Nam cũng phải đối mặt với tình trạng này khi nhà máy gang thép Formosa của Đài Loan xả thải độc ra môi trường biển hồi năm 2016 khiến cá chết hàng loạt. Sau khi vụ việc được phát hiện, Formosa đã lên tiếng xin lỗi và cam kết bồi thường 500 triệu đô la tiền khắc phục hậu quả.
Đánh giá của nhiều chuyên gia về môi trường cho thấy tác hại của của vụ xả thải từ Formosa có thể kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng đến sinh kế của hàng ngàn người dân sống dọc vùng biển này.

Dân Bình Định phản đối dự an điện mặt trời vì nghi phá rừng

RFA-2018-11-12  
Dân chúng biểu tình phản đối do nghi ngờ khai thác titan. 18/4/2018.
Dân chúng biểu tình phản đối do nghi ngờ khai thác titan. 18/4/2018.Courtesy Ảnh chụp từ video do người dân cung cấp.
Hàng chục người dân ở 4 thôn của xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định trong các ngày 10 và 11/11 đã chặn xe khảo sát, chuẩn bị rà phá bom mìn để phản đối dự án mà chính quyền địa phương cho biết là dự án điện năng lượng mặt trời. Người dân yêu cầu lãnh đạo xã phải cam kết không được triển khai dự án tại địa bàn xã. Truyền thông trong nước loan tin này hôm 11/11.
Theo báo Người Lao Động, vào sáng ngày 12/11, lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện Phù Mỹ đã tổ chức họp báo khẩn về sự việc này để bàn việc tuyên truyền, vận động người dân ủng hộ dự án.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Phù Mỹ cho biết, thời gian qua chính quyền đã nhiều lần vận động người dân về hiệu quả của dự án nhưng vẫn có khoảng 15 đến 20 phụ nữ không ủng hộ dự án và phao tin đồn tuyên truyền không đúng về dự án.
Trước đó, vào ngày 27/9 chính quyền một xã lân cận là xã Mỹ An đã họp với dân chúng để thuyết phục họ rằng điện mặt trời là năng lượng tái tạo, không gây ô nhiễm môi trường, không nên chống đối.
Tuy nhiên dân chúng cho rằng những dự án điện mặt trời, điện gió được công ty thực hiện dự án dùng làm bình phong để khai thác titan trên bờ biển gây ô nhiễm sạt lở, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân.
Vào ngày 21/4/2018 dân chúng cũng đã biểu tình tại hai xã Mỹ An và Mỹ Thọ, Huyện Phù Mỹ phản đối việc xây dựng một trạm quan trắc gió vì nghi ngờ việc này bị lợi dụng để khai thác titan.
Trong số ra ngày 11/9/2018, Báo Người Lao động cho biết là sau năm năm khai thác titan tại vùng ven biển Huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, vùng quê này trở nên hoang tàn, và có đến 10 người thiệt mạng do hoạt động khai thác titan.

Giám đốc Hàn Quốc nợ lương công nhân và trốn khỏi Việt Nam

RFA-2018-11-12   
Các công nhân công ty Texwell đình công vì chưa được thanh toán lương. (Ảnh minh họa)
Các công nhân công ty Texwell đình công vì chưa được thanh toán lương. (Ảnh minh họa)Screen Capture From Baodongnai.com.vn
Một ông chủ Hàn Quốc mới đây đã bỏ trốn khỏi Việt Nam trong khi vẫn còn nợ lương của khoảng 40 công nhân địa phương.
VNexpress đưa tin vào hôm 12/11 cho biết, người bỏ trốn là ông Kim Dae Gun, Giám đốc công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH MTV) Cho Won, có trụ sở tại Đồng Nai. Ông này đã đi công tác từ ngày 22/10 nhưng đến nay vẫn chưa trở lại Việt Nam.
Các công nhân và nhân viên tại công ty đã tìm cách liên lạc với vị giám đốc này nhưng đều không thể được. Do đó, các công nhân chính thức nộp đơn khiếu nại.
Sở Lao động Thương binh và Xã hội Đồng Nai xác nhận với truyền thông trong nước rằng, công ty này đang mắc một khoảng nợ 120 triệu đồng gồm các khoản bảo hiểm xã hội cũng như nợ các ngân hàng địa phương với số tiền lên tới 23 tỷ đồng. Ngoài ra, phía công ty đã không thanh toán tiền lương cho công nhân hai tháng qua.
Công ty Cho Won không phải là công ty đầu tiên xảy ra vụ việc như vừa nêu tại Việt Nam.
Vào hồi tháng 2/2018, gần 2000 công nhân bị thất nghiệp khi giám đốc và quản lý của công ty Texwell Vina bỏ trốn khỏi Việt Nam trong thời gian các công nhân đang trong dịp nghỉ tết. Công ty này nợ lương công nhân và nhiều khoản nợ khác với số tiền 31 tỷ đồng.

Công ty Việt cấp chứng chỉ tiếng Nhật giả cho sinh viên du học

RFA-2018-11-12 
Trẻ em Việt Nam vẫy cờ Việt Nam và cờ Nhật Bản trong lễ đón Thủ tướng Nhật Shinzo Abe tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội hôm 16/1/2017
 Trẻ em Việt Nam vẫy cờ Việt Nam và cờ Nhật Bản trong lễ đón Thủ tướng Nhật Shinzo Abe tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội hôm 16/1/2017-AFP
Nhật Bản đã đưa vào danh sách đen 12 công ty tư vấn du học của Việt Nam vì đã cấp chứng chỉ tiếng Nhật giả cho các hồ sơ xin visa của sinh viên du học.
Báo trong nước loan tin hôm 12/11 trích tờ Mainichi của Nhật cho biết Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã có lệnh kể từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, đại sứ quán nước này tại Việt Nam sẽ từ chối đơn xin thị thực từ các công ty được nêu tên, vì nghi ngờ các công ty này đã cấp chứng chỉ tiếng Nhật giả trong một thời gian dài.
Chính phủ Nhật Bản đã phát hiện 10% trong số 6 ngàn công dân Việt Nam phỏng vấn xin thị thực du học từ tháng 3/2017 đến tháng 9/2018 không đáp ứng được trình độ thông thạo tiếng Nhật.
Các quan chức Nhật tiến hành các cuộc phỏng vấn trực tiếp với các ứng viên từ Việt Nam và nhận ra cứ 10 ứng viên thì có ít nhất 1 người không hiểu tiếng Nhật tốt để xin thị thực visa. Tỷ lệ này được nói lên tới 30% trong số các ứng viên được 12 công ty Việt trong danh sách đen làm hồ sơ. Bộ Ngoại giao Nhật Bản nói đã thông báo với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam về 12 công ty tư vấn du học này.
Vào năm 2017, khoảng 26 ngàn công dân Việt được cấp visa du học để theo học các trường dạy tiếng Nhật, theo Tổ chức Dịch vụ Sinh viên Nhật Bản cho biết.
Số liệu của Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Nhật Bản cho biết năm 2017, cộng đồng người Việt đã vượt qua Trung Quốc, trở thành nhóm nghi phạm nước ngoài đông nhất tại Nhật Bản, chiếm 30,2% tổng số tội phạm của công dân nước ngoài. Trong số các tội phạm Việt Nam tại Nhật, có khoảng 40% đã đến bằng visa du học và cư trú bất hợp pháp tại đây.
Số người Việt tại Nhật đã tăng bốn lần từ 2012 đến năm 2017 với hơn 232 ngàn người. Bộ Tư pháp Nhật Bản báo cáo trong năm ngoái, người mang quốc tịch Việt Nam chiếm một nửa trong tổng số các công dân nước ngoài bị thu hồi quyền cư trú tại Nhật.

Đại úy Cảnh sát Giao thông bị cho xuất ngũ vì cầm cố thẻ đảng

RFA-2018-11-12  
Hình minh họa. Một cảnh sát mang súng đứng gác cạnh bức chân dung cố Chủ tịch Hồ Chí Minh bên ngoài nơi diễn ra đại hội đảng ở Hà Nội hôm 17/1/2011
Hình minh họa. Một cảnh sát mang súng đứng gác cạnh bức chân dung cố Chủ tịch Hồ Chí Minh bên ngoài nơi diễn ra đại hội đảng ở Hà Nội hôm 17/1/2011-AFP
Ông Nguyễn Thanh Liêm, Đại úy Cảnh sát Giao thông tỉnh Tiền Giang vừa bị khai trừ Đảng và buộc xuất ngũ vì cầm cố thẻ đảng viên để vay nợ hơn 3 tỷ đồng.
Báo mạng VTC loan tin này vào ngày 11 tháng 11, cho biết thêm Công an tỉnh Tiền Giang quyết định khai trừ đảng ông Nguyễn Thanh Liêm do vi phạm nghiêm trọng điều lệ đảng viên. Đồng thời cho thu hồi toàn bộ quân trang mà Đại Úy Liêm được cấp trước đó.
Tin cho biết, bà H.T.L.T., một trong những chủ nợ của ông Nguyễn Thanh Liêm do không nhận được đúng hẹn số tiền 90 triệu đồng mà bà cho mượn nên đã gửi đơn trình bày vụ việc lên Phòng Cảnh sát Giao Thông tỉnh Tiền Giang vào hồi tháng 8 vừa qua.
Đơn tố cáo ông Nguyễn Thanh Liêm, Đại úy Cảnh sát Giao thông tỉnh Tiền Giang.
Đơn tố cáo ông Nguyễn Thanh Liêm, Đại úy Cảnh sát Giao thông tỉnh Tiền Giang. baomoi.com
Trong đơn, bà T. cho biết là ông Nguyễn Thanh Liêm đã đưa thẻ đảng viên để thế chấp khi mượn tiền. Nhưng sau đó ông Liêm mược lại thẻ đảng viên với lý do nộp cho chỉ huy và hứa đưa lại thẻ cho bà T. sau 10 ngày. Tuy nhiên ông Liêm không thực hiện lời hứa này nên bà T. đã gửi đơn tố cáo sự việc.
Sau khi nhận được đơn bà T., Phòng Cảnh sát Giao thông đã điều tra và xác định Đại úy Nguyễn Thanh Liêm không chỉ cầm cố thẻ đảng viên để mượn tiền với mỗi bà T. mà còn với nhiều người khác. Tổng số tiền được nói là hơn 3 tỷ đồng, nhưng ông Liêm vẫn chưa hoàn trả cho bất kỳ ai.