Monday, April 30, 2018

Lật lại ‘hồ sơ’ hơn 200 người chết trong vụ lật xe lửa ở Bàu Cá năm 1982

Ngọc Lan/Người Việt
Đường ray xe lửa mà chị Trần Thị Cẩm nhìn thấy khi đi tìm nghĩa trang Đ.S vào ngày 17 Tháng Ba, 2014, cũng là hình ảnh chị từng thấy trong giấc mơ mấy mươi năm về trước. (Hình: Trần Thị Cẩm cung cấp)
Kỳ 1: Đi tìm tung tích anh trai mất tích từ năm 1982

WESTMINSTER, California (NV) – “Tôi bám được vào một thanh sắt, lấy hết sức trườn ra khỏi những bao hàng đang đè lên người và cố lết ra khỏi toa tàu. Tôi thấy người chết la liệt, toàn là những xác chết banh da xẻ thịt. Trong đống thịt ngổn ngang đó, tôi nhìn ra chiếc áo đầm màu xanh của đứa em gái kế út…”
Anh Nghĩa Trần, 50 tuổi, đang sống ở Houston, Texas, kể lại những gì mà anh chứng kiến khi thoát chết trong tai nạn lật xe lửa tại ga Bàu Cá, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai vào năm 1982, cách đây 36 năm.
Có thể nói đây là tai nạn thảm khốc nhất trong lịch sử đường sắt Việt Nam, khiến hơn 200 người thiệt mạng, với không biết bao nhiêu thi thể không toàn thây, trong đó có mẹ và hai người em gái của anh Nghĩa.
Thế nhưng, tin tức về tai nạn này, cũng như một nghĩa trang tiêu điều với hàng trăm ngôi mộ vô danh của những nạn nhân liên quan, có thể mãi mãi chìm vào quên lãng, nếu như cách đây bốn năm, chị Trần Thị Cẩm, một phụ nữ 59 tuổi đang sống tại Sài Gòn, không quyết lòng đi tìm cho ra tung tích về cái chết của anh trai và chị dâu mình.
Hành trình tìm tung tích vợ chồng anh trai của chị Trần Thị Cẩm đã lần hồi lật lại “hồ sơ” của tai nạn này, mà đến hôm nay, ngay cả nhiều viên chức trong ngành đường sắt Việt Nam, vẫn tỏ ra hết sức ngạc nhiên khi nghe nhắc đến.
Quang cảnh tường rào bao quanh nghĩa trang Đ.S khi gia đình chị Trần Thị Cẩm tìm đến vào Tháng Ba, 2014. (Hình: Trần Thị Cẩm cung cấp)
Chuyến đi tìm người sau 32 năm mất tích
Đến thời điểm này, có thể nói chị Cẩm là người đầu tiên “khui” lại sự kiện này sau hơn 30 năm thông tin bị bưng bít.
Qua điện thoại, chị Cẩm, bằng một giọng nói ấm áp, rõ ràng, kể với phóng viên Người Việt câu chuyện tưởng đã rơi vào quên lãng.
Theo chị Cẩm, anh trai chị, tên Trần Thái Phương, từng là người “nhảy tàu” (tức người đi tàu chui, không mua vé) để đi lượm than về bán kiếm tiền sinh sống trong thời buổi khốn cùng của đất nước sau 1975.
Trong những chuyến tàu ngược xuôi đó, anh Phương quen biết và yêu một phụ nữ tên Nở ở Nha Trang cũng làm công việc như anh, việc của những người nghèo đến mức không thể nghèo hơn. Và người phụ nữ đó đã mang trong người giọt máu của anh Phương.
Khi biết mình sẽ làm cha, anh Phương đưa chị Nở về ra mắt gia đình. Chị Nở mồ côi cha mẹ, chỉ còn có người cậu. Theo lời đề nghị của ba chị Cẩm, anh Phương sẽ đưa chị Nở trở ra Nha Trang để làm giấy tờ tùy thân cũng như báo cho gia đình bên chị Nở biết, trước khi quay trở vào Sài Gòn, từ giã nghề “nhảy tàu” rồi “đi kinh tế mới” ở nông trường An Phú cùng ba má anh.
“Trước khi đi, anh có ghé nhà tìm tôi ở Củ Chi để xin ít đồng làm lộ phí, cũng như xin mấy cái bao bố để trong chuyến trở vô Sài Gòn sẽ lượm ít bao than mang về bán kiếm chút tiền, coi như chuyến cuối từ giã ‘nghề nhảy tàu,’” chị Cẩm nhớ lại.
Và đó là lần cuối cùng chị nhìn thấy anh trai mình vào năm 1982.
“Anh nói sẽ đi và trở về trong một tuần, thế nhưng cứ chờ hoài mà không thấy. Mà cũng chẳng biết hỏi thăm tin tức ở đâu, vì thời buổi đó quá khó khăn, ai cũng lo chạy gạo từng bữa, rồi nghe nói chị Nở ở Nha Trang thì biết vậy thôi chứ thật sự cũng có biết nhà chỉ ở đâu mà hỏi thăm,” chị Cẩm kể tiếp.
Tin tức về người anh bị lãng quên cho đến… hai năm sau đó có người bà con xa ghé nhà chị Cẩm chơi và nói cho biết rằng từng có một tai nạn lật tàu ở ga Bàu Cá, Trảng Bom vào thời điểm mà anh trai chị Cẩm “mất tích.”
Tuy nhiên, như chị Cẩm nói, “Biết thì biết vậy chứ lúc đó gia đình tôi thật sự khó khăn, gạo còn không có ăn thì làm gì có tiền bạc và tâm trí nghĩ đến chuyện đi tìm anh.” Thế nên, sự biệt tăm của anh Phương lại bị người nhà quên đi.
Thời gian sau, chị Cẩm có một giấc mơ “kỳ lạ.”
“Trong mơ, tôi không nhìn thấy rõ hình ảnh anh trai tôi, mà chỉ nghe giọng anh văng vẳng nói ‘Cẩm ơi, anh nằm chết ở đây nè.’ Tôi nhìn thấy trong mơ hình ảnh bên tay trái là một đường tàu, bên tay phải là một bụi rậm cỏ mọc um tùm, chính giữa là con đường đất đỏ cong cong,” chị Cẩm kể tiếp.
Chị nói chị không quên hình ảnh trong giấc mơ, nhưng mãi đến năm 2014, tức 32 năm sau khi anh Phương “biến mất,” hoàn cảnh gia đình chị ổn định và vững vàng hơn, mới là lúc chị quyết định thu xếp công việc tự hứa đi tìm cho ra tung tích anh trai mình.
Chị Trần Thị Cẩm, người đầu tiên “lật lại” tai nạn lật tàu ở ga Bàu Cá, Trảng Bom vào ngày 17 Tháng Ba, 1982 khiến hơn 200 người chết nhưng đến nay vẫn không nhiều người biết. (Hình: Trần Thị Cẩm cung cấp)
Tìm nơi chôn cất những người mang tên ‘vô danh’
Chị Cẩm bắt đầu công việc tìm kiếm của mình bằng cách vào internet dò kiếm tin tức.
“Khi đó trên mạng chỉ thấy có một dòng tin nhỏ nhắc đến tai nạn xe lửa xảy ra vào ngày 17 Tháng Ba, năm 1982 tại ga Bàu Cá, trong đó họ nói đến có một nghĩa trang chôn những nạn nhân.” Theo dòng tin đó, chị Cẩm cùng một số người trong gia đình chạy xe máy đến khu vực trên ở ấp Hưng Long, xã Hưng Thịnh, huyện Trảng Bom, nơi chỉ cách Sài Gòn khoảng 2 tiếng.
Chị kể, “Ngày chúng tôi đi là ngày 17 Tháng Ba, 2014, tức đúng 32 năm xảy ra tai nạn. Trước khi đi, tôi có thắp nhang khấn ‘Bây giờ em đi tìm anh đây. Ngày xưa anh báo cho em biết hình ảnh trong giấc mơ, thì giờ anh hãy đưa đường dẫn lối cho em gặp được nơi ấy.”
Theo lời chị Cẩm, những người lớn tuổi sống quanh hiện trường đều biết đến tai nạn lật tàu với số người chết khủng khiếp. Tuy nhiên, không nhiều người trong số họ biết nghĩa trang chôn các nạn nhân nằm ở đâu. Bởi lẽ, nghĩa trang cách nơi mà đoàn xe lửa bị lật khoảng 3 cây số, “khi đó dân địa phương chạy ra phụ với chính quyền giúp người bị thương đưa đi cấp cứu, hay gom góp xác những người đã chết về một chỗ, còn sau đó người ta chở đi đâu thì họ không biết.”
Lần dò hỏi thăm, cuối cùng chị Cẩm cùng người thân cũng tìm được đến nơi gọi là Nghĩa Trang Đ.S.
“Tôi không thể nào quên được tâm trạng của mình khi đó, cả người tôi nổi gai óc. Bởi vì cảnh tượng mà tôi nhìn thấy giống y chang hình ảnh tôi từng thấy trong giấc mơ. Bên trái là đường ray xe lửa. Nghĩa trang nằm bên phải nhưng cây cối đã mọc um tùm che kín hết lối vào. Chính giữa là con đường đất đỏ. Tôi bật khóc tại chỗ,” người phụ nữ tiếp tục kể qua điện thoại.
Theo lời chị Cẩm, “Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nghĩa trang là một cảnh tượng rất đau lòng, cây cỏ bụi bờ hoang vu, có nghĩa là mấy mươi năm rồi hình như không ai đặt chân tới.”
Chị Cẩm cùng người thân xúm lại nhổ cỏ, vạch những lùm cây để tìm lối vào.
Gia đình chị Trần Thị Cẩm đang tìm kiếm mộ phần trong nghĩa trang Đ.S mọc đầy cỏ dại trong lần đầu tiên chị đặt chân đến vào ngày 17 Tháng Ba, 2014. (Hình: Trần Thị Cẩm cung cấp)
“Khi đó trời đã về chiều, bụi rậm âm u, chui vào bên trong để biết đích xác đó là nghĩa trang mà nổi gai ốc, lại thêm phần sợ rắn rết, nên tụi tôi không đi quá sâu thêm vào trong mà quay trở ra. Đồng thời, tôi lại khấn anh trai mình rằng ‘Nếu thực sự anh chị có nằm ở đây thì hãy đưa đường dẫn lối cho em gặp người có tâm để giúp đỡ tìm ra anh chị,’” chị Cẩm kể lại câu chuyện thuộc về tâm linh mà chị đã làm trước khi mọi người rời khỏi nghĩa trang tiêu điều, hiu quạnh đó.
Thực tế có những điều xảy ra mà người ta không thể giải thích, chỉ biết rằng trong đời sống thực có sự hiện diện của “phép nhiệm màu.”
“Thật kỳ lạ là sau khi khấn xong, chúng tôi bước ra ngoài thì bỗng nhìn thấy xa xa cách đó khoảng 100 mét có một vườn điều. Chúng tôi đi về hướng ấy thì thấy có một ông bác đang ngồi lặt điều. Đó chính là bác Nguyễn Kim Hoạt, người từng đào huyệt chôn cất những người xấu số trong vụ lật tàu năm đó,” chị Cẩm nói.
Ông Nguyễn Kim Hoạt, 82 tuổi, là người đã đồng hành cùng chị Cẩm, từ giờ phút đó cho đến nay, trong việc phát quang, sửa sang lại hơn 100 mộ phần của những người chết trong vụ lật tàu ngày 17 Tháng Ba, 1982, mà cho đến nay vẫn không nhiều người biết đến. (Ngọc Lan)
(Đón đọc kỳ 2: Câu chuyện của những nạn nhân còn sống sót và các nhân chứng)

Sài Gòn: Bên kia sông có là ánh mặt trời?

Văn Lang/Người Việt
Bên kia sông là ánh mặt trời... Tư Bản. (Hình: Văn Lang/Người Việt)
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – “Bên kia sông là ánh mặt trời…,” tên một bài hát và là lời nhạc trong một nhạc phẩm do cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ thơ Nguyễn Ngọc Thạch. Trong bài viết này, chúng tôi không đề cập chuyện văn nghệ, mà chỉ muốn nói khía cạnh đời sống – kinh tế – chính trị, để coi “bên kia sông” Sài Gòn có thực sự là ánh mặt trời, như nhà cầm quyền thành phố này mơ mộng?
Câu chuyện bên kia sông
Kể từ ngày 1 Tháng Giêng, 2012, bến phà Thủ Thiêm chính thức đóng cửa. Và bên kia sông, tức bên bờ Thủ Thiêm (nhìn từ bến Bạch Đằng – Sài Gòn) ngó qua, đã là một vùng chính thức bị “giải tỏa” trắng. Để kể từ đây, ban lãnh đạo Cộng Sản thành phố Sài Gòn bắt đầu xúc tiến giấc mơ “bên kia sông” với hy vọng biến Thủ Thiêm thành trung tâm hành chánh – thương mại – văn hóa… của một Sài Gòn mới.
Nhưng từ giấc mơ tới hiện thực đúng là một khoảng cách lớn, khi từ 6 năm qua tới nay (2018) kế hoạch thực hiện chỉ là bản vẽ trên… giấy. Và từ Sài Gòn nhìn qua bên kia sông vẫn là một khoảng trống… đen ngòm.
Dù ban lãnh đạo cộng sản thành phố này đã cố gắng mời một quốc gia thanh lịch thuộc hàng đầu châu Âu tư vấn giúp đỡ cho dự án “bên kia sông.” Nhưng chỉ nhận được sự giúp đỡ về mặt tư vấn thiết kế. Còn về phương diện tài chánh vẫn là con số không. Có lẽ, chỉ có những đầu óc thuộc hàng “đỉnh cao trí tuệ,” mới tin rằng có thể xây thiên đường Cộng Sản bằng tiền… tư bản.
Không có tiền đầu tư của tư bản ngoại quốc, dự án bên kia sông đành nằm im “bất động” suốt mấy năm nay. Nhưng giới “Tư bản đỏ” trong nước cũng thừa “nước đục thả câu” và mưu toan vớ bẩm.
Theo báo cáo, hiện có gần 30 ngàn căn chúng cư (thuộc diện nhà ở tái định cư và nhà ở xã hội) không có ai… tới ở. Nực cười thay, hàng ngàn gia đình bên kia sông sau khi nhận tiền đền bù và chịu bị giải tỏa, họ đã phải kéo qua bên đây Sài Gòn. Phải đi thuê nhà trong các khu ổ chuột và thất thểu mưu sinh trên vỉa hè Sài Gòn. Là vì, với số tiền đền bù khoảng 600 triệu, trong khi một căn chúng cư “tái định cư” phải có giá từ 2-3 tỷ đồng. Dù được “cam kết” ngân hàng cho vay với lãi suất ưu đãi trong vòng 20 năm. Nhưng do thủ tục rắc rối theo lề lối “hành là chánh” nên dân nghèo chẳng mấy ai mặn mà, chưa kể “dồn cục” hết vô chung cư, kiếm ăn từng bữa đã khó, tiền đâu mà trả lãi cho ngân hàng. Cuối cùng, người dân đành bán “lúa non” suất tái định cư, rồi bồng bế dắt díu nhau qua bên đây bờ sông Sài Gòn. Để đêm đêm trằn trọc, không yên giấc trong cái nóng hầm hập từ những con hẻm nhỏ Sài Gòn, nhớ từng cơn gió mát Thủ Thiêm một thời lồng lộng, mát rượi tâm can.
Chủ đầu tư thì vội vàng, hý hửng báo cáo là vì nhà ở tái định cư “không người tới ở,” nên xin chuyển đổi công năng từ cao ốc nhà ở sang thành… trung tâm thương mại. Với chiêu thức “hóa đá thành vàng” này, giới đầu tư hốt bạc. Trong khi ngân sách thì cũng chỉ thu thêm được ít tiền thuế… tượng trưng. Điều này giải thích tại sao mấy “tỷ phú đỏ” ở Việt Nam hiện nay đều nằm trong giới mua bán chính sách – bất động sản.
Một người dân ngồi câu cá bên phía bờ Thủ Thiêm, phía bên kia là trung tâm thành phố Sài Gòn. (Hình: Getty Images)
Bên kia sông vắng tiếng chuông chùa
Văn, thơ, nhạc… Việt Nam (dù là trong thời cộng sản), để ca ngợi một vùng đất yên bình (dù là trong nghèo đói), không thể thiếu tiếng chuông chùa trầm buông khi chiều xuống. Hay tiếng chuông nhà thờ rộn vang xa, khi nắng lấp lánh trên dòng sông sóng vỗ đôi bờ…
Nhưng gần đây, bên kia bờ Thủ Thiêm đã vắng tiếng chuông chùa, khi chùa Liên Trì bị “xóa.”
Phơi mình trong nắng chiều hiu quạnh, là số phận mong manh của nhà thờ Thủ Thiêm và tu viện của các nữ tu dòng Mến Thánh Giá.
Chính sách tách biệt tôn giáo khỏi dân, xưa nay vẫn là “quốc sách” của Cộng Sản.
Những khu đô thị mới, tuyệt nhiên không cấp giấy phép xây dựng cho các cơ sở tôn giáo (bất kể đình, chùa, nhà thờ hay miếu, đền).
Điển hình như khu Phú Mỹ Hưng của Sài Gòn. Dù chủ đầu tư, cũng như một vài chức sắc hiểu chuyện trong chính quyền đã hết sức kiên nhẫn trong việc “chạy” xin giấy phép cho một vài công trình tôn giáo. Vì họ hiểu, muốn cộng đồng thịnh vượng phải “an cư lạc nghiệp,” như thế không thể không an định tâm linh. Nhưng nhà cầm quyền Cộng Sản, nhất quyết từ chối cấp phép xây dựng.
Điều này dẫn tới việc có rất nhiều doanh nhân gốc Nam Hàn, đem theo cả gia đình tới sinh sống ở Phú Mỹ Hưng. Nhưng do không có nhà thờ, nhiều người Nam Hàn phải dùng Văn phòng công ty làm nhà nguyện (đa số dân Nam Hàn ở Sài Gòn theo đạo Tin Lành).
Việt Nam lâu nay rất muốn lấy lòng Nam Hàn, và cộng đồng Nam Hàn ở Việt Nam là đông nhất trong khối ngoại quốc, đa số họ tỏ ra hòa đồng, thân thiện với dân Việt. Nhưng chỉ với một việc đơn giản là có “nhà nguyện” cũng không được chấp thuận. Việt Nam rõ ràng đang theo đuổi chính sách “thêm thù, bớt bạn.” Trong khi đó rõ ràng thế nước đang trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc.”
Vì sự ấu trĩ của người cộng sản vô thần, cộng thêm thói kiêu căng, thiển cận… Cộng Sản Việt Nam có lẽ chẳng bao giờ có thể hiểu ra một điều giản dị, nhưng lại là chân lý muôn đời là: “Nơi nào vắng tiếng chuông từ bi, thì nơi đó cái xấu, cái ác sẽ cùng ma quỷ đội mồ sống dậy.” (Văn Lang)

Chính quyền xã ở Bình Định bắt dân đóng phí ‘vịt ăn mót trên đồng’

Người nuôi vịt xã Ân Phong muốn thả vịt ra đồng ăn mót lúa phải nộp phí “công đồng lạc túc.” (Hình: Người Lao Động)
BÌNH ĐỊNH, Việt Nam (NV) – Nhiều năm qua, người chăn nuôi ở xã Ân Phong, huyện Hoài Ân phải nộp tiền nếu muốn thả vịt ăn mót lúa sau khi gặt trên chính cánh đồng của họ.
Theo báo Người Lao Động, ông Lưu Đáy (ngụ thôn An Hậu) là một trong những người chăn nuôi lớn ở xã Ân Phong, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, với đàn vịt khoảng 1,000 con. Sau khi người dân gặt lúa xong, ông Đáy thường lùa đàn vịt xuống cánh đồng để ăn những hạt lúa còn sót lại. Đồng của người dân, thế nhưng từ nhiều năm qua, ông Đáy muốn lùa vịt xuống đồng ăn mót lúa cũng phải nộp phí 1 triệu đồng (khoảng $44)/năm cho Ủy Ban Nhân Dân xã Ân Phong.
“Sau khi nông dân gặt lúa xong, người nuôi vịt trong xã phải nộp cho ủy ban xã 1 triệu đồng gọi là phí ‘công đồng lạc túc’ mới được lùa vịt xuống đồng ăn. Phí này đã có từ nhiều năm trước, do xã đặt ra. Hiện nay, người nuôi vịt gặp nhiều khó khăn nên chúng tôi muốn được giảm nhưng vẫn chưa được xem xét,” ông than thở.
Trong khi đó, bà Lê Thị Thơm (62 tuổi, ngụ xã Ân Phong) cho biết nghề nuôi vịt mấy năm qua gặp rất nhiều khó khăn, có năm thua lỗ hàng chục triệu đồng. Vậy nhưng để thả vịt ra đồng ăn mót lúa, người nuôi buộc phải nộp phí cho xã. Điều nghịch lý là cánh đồng đó là của người dân, thậm chí là của chính mình.
Người chăn nuôi vịt xã Ân Phong thắc mắc vì khoản thu phí lạ đời của xã. (Hình: Người Lao Động)
“Mỗi năm hai vụ lúa, người chăn vịt chỉ thả được khoảng 40 ngày. Nếu trong lúc gặt, lúa rụng nhiều, vịt thả đồng mới được ăn no, còn không thì về chuồng phải cho ăn thêm. Ruộng của dân mà chính quyền xã thu tiền, tôi thấy rất vô lý. Biết vậy nhưng năm nào cũng phải nộp tiền triệu để vịt ra đồng ăn,” bà bất bình nói.
Giải thích về khoản thu phí “lạ đời” trên, ông Hồ Văn Đương, quyền chủ tịch xã Ân Phong, cho biết phí “công đồng lạc túc” áp dụng cho những người chăn thả vịt đồng đã có từ rất lâu. Người dân nộp phí trực tiếp, có hợp đồng giữa chủ chăn nuôi vịt với ủy ban xã. Mục đích của việc thu phí này là tạo điều kiện để xã dễ quản lý, điều tiết nước thủy lợi, người nuôi có trách nhiệm trong chăn thả, tránh chồng lấn địa bàn gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
“Xã Ân Phong có hơn 500 hécta đất lúa sản xuất. Sau khi nông dân gặt xong vụ, chúng tôi giao khoán thuê mặt ruộng cho các hộ nuôi vịt thả đồng với giá 1 hécta khoảng 25,000 đồng (khoảng $1)/năm. Mỗi năm, xã chỉ thu về khoảng 14 triệu đồng (khoảng $615) và nhập vào nguồn ngân sách của xã, phục vụ công tác quản lý chung,” ông nói.

Trong khi đó, nói với báo Người Lao Động về sự việc trên, ông Hoàng Phi Long, chủ tịch huyện Hoài Ân, tỏ ra bất ngờ về khoản thu phí “công đồng lạc túc” tại xã Ân Phong. “Huyện không có chủ trương thu phí này từ những người thả vịt chạy đồng. Chúng tôi sẽ thành lập ngay đoàn kiểm tra để làm rõ về khoản thu phí trên,” ông nói. (Tr.N)

Công ty ‘gia đình trị’ tại Bảo Việt Đà Nẵng

Trụ sở Bảo Việt Đà Nẵng tại quận Hải Châu. (Hình: Tuổi Trẻ)
ĐÀ NẴNG, Việt Nam (NV) – Ông Lê Kim Thái, giám đốc Bảo Việt Đà Nẵng, một công ty quốc doanh, có 11 người thân làm chung đơn vị, trong đó vợ, em dâu, em bên vợ ông Thái là trưởng các phòng quan trọng.
Theo báo Tuổi Trẻ, ông Thái cho rằng việc người thân ông làm trong công ty “cũng là điều bình thường.”
Tin cho hay, trong công ty này, vợ và em dâu ông Thái là các trưởng phòng kinh doanh. Em con cô cậu với vợ ông Thái cũng là trưởng phòng giám định (bộ phận chuyên giám định tổn thất và lập dự toán bồi thường). Giám định viên trong phòng này còn một người khác là em rể ông Thái, việc này gây nhiều bất bình cho các nhân viên công ty.
Ông Thái cho biết, vợ ông làm cho công ty Bảo Việt từ năm 1987, trước thời gian ông về công tác tại đây. Còn em dâu của ông làm việc ở đây từ năm 1996. Khi ông Thái làm giám đốc Bảo Việt Đà Nẵng thì trưởng phòng của vợ ông Thái lên làm phó giám đốc nên vợ ông được lên chức trưởng phòng.
Ông cũng cho rằng trong công ty, vợ và em dâu làm trưởng phòng thuộc phụ trách của hai phó giám đốc dưới quyền chứ ông không quản lý.
Ngoài ra, cũng có thông tin cho rằng ông Thái tham ô, có chủ trương thỏa thuận với hãng xe lớn, garage sử dụng dịch vụ của Bảo Việt Đà Nẵng phải ký hợp đồng sửa chữa và trích 5% chi phí sửa chữa lại cho Bảo Việt.
Nói với báo Tuổi Trẻ chiều 28 Tháng Tư, ông Nguyễn Xuân Việt, quyền tổng giám đốc Tổng Công Ty Bảo Hiểm Bảo Việt, cho biết có thông tin tố cáo liên quan đến vấn đề người nhà ông Lê Kim Thái nắm những vị trí chủ chốt trong Bảo Việt Đà Nẵng, cũng như việc yêu cầu đối tác trích lại 5%.
Khi được hỏi về việc Bảo Việt Đà Nẵng có văn bản yêu cầu đối tác trích lại chi phí 5% giá dịch vụ, ông Việt nói tổng công ty không có chủ trương này.
Ông Phạm Nhật Phi, bí thư đảng ủy Khối Doanh Nghiệp thành phố Đà Nẵng, cho biết đơn vị này cũng nhận được đơn tố cáo liên quan đến nội dung “gia đình trị” tại Bảo Việt Đà Nẵng.
“Tôi đã chuyển hồ sơ cho Ủy Ban Kiểm Tra Đảng Ủy Khối để kiểm tra việc các nội dung liên quan đến quy trình bổ nhiệm người thân trong gia đình của ông Thái,” ông cho biết. (Tr.N) 

Sở Tư Pháp tỉnh Lâm Đồng có đến 81% là lãnh đạo

Tại Sở Giáo Dục-Đào Tạo tỉnh Vĩnh Phúc, tính ra 1 chuyên viên có 5.4 lãnh đạo. (Hình: Tuổi Trẻ)
LÂM ĐỒNG, Việt Nam (NV) – Thanh Tra tỉnh Lâm Đồng cho biết, hiện Sở Tư Pháp tỉnh này có 26 công chức giữ chức vụ lãnh đạo, chiếm đến 81% trong tổng số công chức của sở.
Theo báo Tuổi Trẻ, trong kết luận liên quan đến việc công khai, minh bạch trong tổ chức cán bộ của Sở Tư Pháp tỉnh Lâm Đồng vừa được Thanh Tra tỉnh này công bố hôm 26 Tháng Tư thì tỷ lệ 81% người là lãnh đạo tại sở này “không những sai quy định mà còn tạo dư luận không tốt.”
Không những vậy, Sở Tư Pháp còn thành lập hai phòng chức năng (phòng Thanh Tra và phòng Quản Lý Xử Lý Vi Phạm Hành Chính-Theo Dõi Thi Hành Pháp Luật), nhưng chỉ có cán bộ quản lý mà không có chuyên viên hay người lao động khác.
“Việc tổ chức phòng ban chỉ toàn lãnh đạo mà không có chuyên viên là vi phạm thông tư liên tịch của Bộ Tư Pháp và Bộ Nội Vụ,” Thanh Tra tỉnh Lâm Đồng kết luận.
Theo báo SGGP, giám đốc Sở Tư Pháp tỉnh này còn bổ nhiệm, bổ nhiệm lại 28 người “không đủ tiêu chuẩn,” trong đó có một người đã nghỉ hưu và hai người đã chuyển công tác.
Trước đó, báo Tuổi Trẻ cũng cho hay, Kiểm Toán Nhà Nước vừa hoàn tất kiểm toán ở Sở Giáo Du-Đào Tạo và Sở Nội Vụ tỉnh Vĩnh Phúc. Thật ngạc nhiên, số lãnh đạo tại hai sở này nhiều hơn nhân viên, có phòng 100% công chức đều là lãnh đạo.
Tại Sở Giáo Dục-Đào Tạo tỉnh Vĩnh Phúc, trong số 45 công chức, số lượng lãnh đạo từ ban giám đốc sở đến lãnh đạo các phòng ban là 38 người gồm một giám đốc sở, ba phó giám đốc sở và trưởng, phó các phòng ban; chiếm gần 85% công chức sở làm lãnh đạo. Còn lại bảy người là chuyên viên. Tính ra, cứ 1 chuyên viên thì có 5.4 lãnh đạo (!).
Chính vì vậy, nhiều phòng ban tại sở này có 100% công chức đều làm lãnh đạo. Chẳng hạn, phòng Thanh Tra được bố trí bốn công chức, thì cả bốn người đều là lãnh đạo, gồm một chánh thanh tra và ba phó chánh thanh tra; phòng Giáo Dục Mầm Non cũng có 100% công chức là lãnh đạo gồm một trưởng phòng và hai phó phòng, không có chuyên viên…
Tại Sở Nội Vụ tỉnh Vĩnh Phúc, Ban Thi Đua-Khen Thưởng có 12 công chức, trong đó có chín công chức là lãnh đạo ban, còn lại ba chuyên viên. (Tr.N)

Cộng sản với tôn giáo! *

Quang Nguyên (VNTB) Chiến tranh giữa các tôn giáo không phải chuyện lạ. Tuy vậy những cuộc thánh chiến đẫm máu từ thời trung cổ, kể cả đến sự tàn phá các tôn giáo khác của bọn Hồi Giáo cực đoan ISIS, Taliban mới đây, dù man rợ, nhuộm máu, nhưng có thể nói không nguy hiểm, tàn bạo và độc ác bằng cách đầu độc, nhuộm đỏ hay tận diệt tôn giáo của một số quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản từ ngày họ cướp được chính quyền. 

Nói đến chuyện xung đột giữa CS và tôn giáo là nhắc đến chuyện cũ rích, nhưng đó là một cuộc chiến bất tận, có lẽ chỉ chấm dứt khi, hoặc tôn giáo, hoặc cộng sản, một trong hai bên biến mất khỏi trái đất này. Những câu nói nổi tiếng về tôn giáo của Karl Marx ai cũng biết : “Tôn giáo là thuốc phiện” , hoặc là :” Thiết yếu cho hạnh phúc con người là chấm dứt tôn giáo.”được Lenin chấp nhận như một phần niềm tin, một bước quan trọng để hoàn thành chủ nghĩa cộng sản.
Ảnh minh họa.
Chống lại tôn giáo, nhưng chủ nghĩa cộng sản lại được nhiều người xem là một thứ tôn giáo. Người cộng sản thánh hóa lãnh tụ của họ, đảng viên phải học nằm lòng mỗi lời, mỗi chữ trong tuyên ngôn của đảng, chương trình của Quốc tế Cộng sản, chương trình hành động và điều lệ của đảng. Chi bộ đảng ở mỗi quốc gia phải phục tùng và thi hành nghị quyết của Quốc tế Cộng sản và của đảng đàn anh, phải học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và các nghị quyết quan trọng của đảng, phải truyền đạo bằng cách tuyên truyền, giải thích cho quần chúng nghị quyết của đảng. Phải loại trừ ngay người có ý tưởng chống đảng. 

Lời dậy của lãnh tụ là sách thánh, là luật, là khuôn phép phải theo. Sách đỏ của Mao Trạch Đông là một loại kinh mà các đảng viên, các cán binh phải mang theo mình để thường tụng, chú. Nhiều sĩ quan cộng sản miền bắc VN chết trận tại miền Nam trong mình có cuốn Mao Tuyển này. Đảng tổ chức học và làm theo lời lãnh tụ. Kinh khủng nhất trong các buổi học tập luôn kèm theo thứ gọi là phê bình và tự phê bình, có kẻ chau chuốt phỉnh phờ đến lợm giọng gọi là thân-ái-phê; mọi người phải xưng tội mình ra trước đám đông để mổ nhau, dìm nhau và đây cũng là dịp kẻ dưới nịnh bợ xưng tụng công khai cấp trên. Tất cả thể hiện ý muốn quyền lực của đảng, bắt mọi người phải tin theo, huấn luyện đảng viên trở thành cuồng tín.

Trung quốc và VN là hai nhà nước CS có các chủ trương giống hệt nhau. Cả hai đều là hai quốc gia đa tôn giáo gồm Phật giáo, Tin Lành, Công giáo, Lão giáo, Khổng giáo, Hồi giáo v…v. Họ đánh đồng các tôn giáo như đảng phái hay một thứ siêu đảng phái phải tận diệt trong một quốc gia chỉ độc tôn một đảng CS. Hai quốc gia TQ và VN đều nói tôn trọng tự do tôn giáo thông qua hiến pháp của họ, nhưng họ đã làm ngược lại. Họ bị các tổ chức nhân quyền trên thế giới, Liên Hiệp Quốc và nhiều quốc giaa khác lên án về các hành vi đàn áp tôn giáo. Tại hội nghị Các Tổ Chức Dân Sự vùng Đông Nam Á tháng 11,năm 2017 tổ chức tại Philippines, tất cả các tổ chức dân sự thuộc vùng này, đều khẳng định VN đàn áp tôn giáo.

Âm mưu phá hoại, chia rẽ tôn giáo của hai quốc gia này rất rõ rệt. Tài liệu của Ban Tôn Giáo Trung Ương dảng CSVN viết: “nếu có tôn giáo nào gần với CNXH hơn, có lẽ đó chính là Phật giáo.”, hay “…chỉ [sic] Phật giáo có phương hướng hành đạo không chỉ phục vụ cho dân tộc mà còn gắn với CNXH.” (*)

Âm mưu này còn lan ra tới ngoại quốc. Riêng về phần VN, tại Hoa Kỳ, tên đặc tình Trần Chung Ngọc, tự nhận ’cư sĩ Phật giáo’, được chỉ đạo của chính phủ VN, cùng bọn tay sai Hoàng Hoa C. , dược sĩ trung úy nằm vùng trong quân đội VNCH, tù cải tạo 2 tháng, làm hồ sơ giả sang Mỹ theo diện HO, và ‘nhà-huyết-học’ Nguyễn Đắc Xuân, đao phủ đồng nghiệp, đồng hành với Hoàng Phủ Ngọc Tường trong vụ Mậu Thân tàn sát đồng bào Huế , lập thành 2 nhóm GĐ, SH, núp dưới bóng Phật giáo liên tục đưa ra các luận điệu rẻ tiền, ngốc nghếch, vô căn cứ, rập khuôn cuốn Tây Dương Gia Tô Bí Lục xuất bản bởi nhà xb Khoa Học Xã Hội khoảng đầu thập kỷ 1980 để khích bác, chửi rủa Thiên Chúa giáo. Theo lệnh Hà Nội, bọn GD, SH tích cực chia rẽ sự đoàn kết tôn giáo. Không ai ở hải ngoại mắc mưu bọn này. Âm mưu của họ thất bại và không may cho Hà Nội, họ để lộ hết tên tuổi của bọn đặc tình.

Trong nước, dựa vào quyền lực, bạo lực và các phương tiện vô giới hạn, chính quyền thực hiện các mánh khóe âm độc phá hủy tôn giáo. Chiến thuật biến hóa, khi tiến khi lùi, mềm nắn, rằn buông, thực thực ảo ảo, thậm chí có lúc bắt tay với các vị lãnh đạo tinh thấn để lợi dụng tôn giáo tối đa. Nhiều tu sĩ bị họ cầm tù, bị giết. nhiều tu viện, nhà thờ và bất động sản của giáo hội Công Giáo, Tin Lành, Giáo Hội PGVNTN, Cao Đài, Hòa Hảo bị chiếm đoạt, phá hủy. Các tôn giáo phải đăng ký sinh hoạt trong luật lệ chính quyền đặt ra. Cùng lúc chính quyền cài cắm vào các tôn giáo loại tu sĩ quốc doanh thực chất là công an được huấn luyện đặc biệt. Bộ Công An VN có hẳn một bộ phận riêng để huấn luyện các tu sỉ giả. Ngoại trừ các tu sĩ thuộc Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất đang vất vả chống lại kiếp nạn này, các chùa chiền thuộc Giáo Hội Phật Giáo VN đều nằm trong tay sư giả xuất phát từ lò đào tạo A 25, thuộc Tổng Cục 1. Miền Bắc VN, từ chỗ không còn một vị trụ trì nào trước năm 1975, nay tràn ngập các sư hổ mang, sãi mái gầm trong chùa .

Những sư sãi quốc doanh trụ trì biến các ngôi chùa có lịch sử hàng trăm năm thành hang động tội lỗi. Công an giả sư sãi tha hồ lộng hành, làm ô uế cửa Phật, thậm chí nhận chỉ thị ngang nhiên dựng tượng chủ tich HCM như một vị Phật thờ trong chùa. Điều này vừa phỉ báng Tam Bảo, vừa phỉ báng Chủ tịch HCM, một người nhận minh là cộng sản vô thần. Một số vị chân tu thuộc Giáo Hội PHVNTN cũng từng nhận được đề nghị khiếm nhã này, đặt tượng chủ tịch HCM trong chùa, như một trao đổi để được yên thân, trong dó có Hòa Thượng Thich Viên Lý. Ngài thẳng thừng từ chối.

Đòn hiểm lấy tôn giáo diệt tôn giáo đạt đến đỉnh điểm. Đòn này không mới, nó đã có từ ngày có đảng. Một mốc thành công ngoạn mục của chiến thuật này của chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là năm 1957, một số tăng ni làm một cuộc ‘đảo chính’ tố khổ, lật đổ Hòa thượng Thích Tố Liên trị sự trưởng lãnh đạo Giáo hội Phật giáo miền Bắc. Chính quyền thành công trong việc hăm dọa, mua chuộc, dụ dỗ, mê hoặc các chức sắc trong đạo để chống lại đạo. 

Cũng giống như tại Trung quốc có một số tôn giáo bản địa bị tàn sát không tiếc thương như Pháp Luân Công, Việt Nam cũng có một số tôn giáo xuất phát từ trong lòng dân tộc như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và đặc sắc nhất trong đó phải kể Cao Đài, Hòa Hảo. Các tôn giáo này mang đặc tr­ưng văn hoá Việt Nam nói chung và vùng Nam Việt Nam nói riêng.

Tín đồ những tôn giáo non trẻ hầu hết từ các vùng nông thôn miền Nam đơn giản, thuần lương, chất phát, ngoài đức tin riêng về giáo lý, họ cùng có truyền thống yêu nước, chống thực dân Pháp Nhật, nặng tình yêu tổ quốc. Giáo chủ , giáo tông của họ như Đức Huỳnh Phú Sổ, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã cảnh báo tín đồ của họ một cách nghiêm trọng về chủ nghĩa vô thần, về nạn bắc thuộc lần nữa. Giáo chủ, Giáo Tông và tín đồ của hai tôn giáo này là những trở ngại cần phải thanh toán của Việt Minh. Tín đồ các tôn giáo này tổng cộng gần chục triệu người, gấp đôi số đảng viên Cộng sản, một thế lực rất đáng e ngại, đối trọng với chủ nghỉa vô thần. Điều này cắt nghĩa chính quyền cộng sản phải quét sạch hay ít nhất phải hoàn toàn chi phối, nhuộm đỏ các tôn giáo này, mà chủ yếu là Cao Đài và Hòa Hảo càng sớm càng tốt.

Tham khảo:

Karl Marx, A Criticism of the Hegelian Philosophy of Right (1844)




Rất tiếc những công trình nghiên cứu của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa tôn giáo với CNXH còn rất khiêm tốn. Thiết nghĩ, mục tiêu của các tôn giáo với CNXH đều có sự tưong đồng, nhưng nếu có tôn giáo nào gần với CNXH hơn, có lẽ đó chính là Phật giáo. Không phải ngẫu nhiên trong số 13 tôn giáo được công nhận về tổ chức ởnước ta hiện nay, đều có đường hướng hoạt động tôn giáo gắn bó với dân tộc, như “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, “Phụng sự Thiên chúa, phụng sự Tổ quốc”, “Nước vinh, đạo sáng”…chỉ Phật giáo có phương hướng hành đạo không chỉphục vụ cho dân tộc mà còn gắn với CNXH. Phải chăng, có đựơc điều này là từ lý tưởng của người khai sinh ra Phật giáo hay qua thực tiễn những Phật tử Việt Nam đã từng tích cực tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH?

* Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả về vấn đề tôn giáo, căn cứ nguyên tắc được đề ra bởi Điều 19 - Tuyên giáo quốc tế nhân quyền.

Công đoàn bắt tay với bảo hiểm để hút máu doanh nghiệp và người lao động? *

Thảo Vy (VNTB) Dường như tổ chức công đoàn bắt tay với tổ chức bảo hiểm để hút máu doanh nghiệp và người lao động?.

Trả lời báo chí, đại diện Ban Quan hệ Lao động Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam cho biết từ ngày 1-1-2018, trường hợp doanh nghiệp (DN) và người lao động (NLĐ) giao kết hợp đồng lao động có thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng, thì DN phải đăng ký tham gia BHXH bắt buộc, và NLĐ vẫn được hưởng các chế độ, nghỉ phép, chế độ trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng như đối với lao động làm trọn thời gian. [http://bit.ly/2qYgGLI]
Quy định nói trên là cứng nhắc. Dẫn luôn thực trạng phổ biến trong ngành dệt may, một tổng giám đốc công ty may cho hay tỷ lệ nghỉ việc của lao động có hợp đồng từ 1-3 tháng rất cao, khoảng 50-60%. Chủ sử dụng lao động chưa kịp phát sổ bảo hiểm thì những người này đã nghỉ việc, dẫn tới hiện tượng DN lại nợ sổ bảo hiểm, mất thời gian tìm NLĐ để trả, nhằm chốt sổ lao động và quyết toán tài chính. Về phía NLĐ ngắn hạn khi đã nghỉ việc cũng không có cơ hội để được hưởng tiếp chế độ bảo hiểm.

Ảnh minh họa.
Từ ngày 1-1-2018, lương tối thiểu tăng, mức đóng BHXH cũng tăng, vậy mà áp dụng thêm đóng bảo hiểm bắt buộc cho lao động ngắn hạn từ 1 đến dưới 3 tháng càng làm gia tăng chi phí đáng kể. Đặc biệt, đối với DN đơn thuần chỉ thực hiện gia công phục vụ xuất khẩu, tỷ lệ dịch chuyển lao động ngắn hạn rất cao. Trong khi đó, thủ tục mở sổ bảo hiểm rồi chốt sổ cũng mất thời gian chứ đâu có thể ngày một, ngày hai là xong. Trong chuyện chờ đợi của thủ tục hành chính này rất dễ khiến DN bị quy trách nhiệm trốn đóng bảo hiểm.

Đáng chú ý là trong một trả lời đăng trên báo Người Lao Động số phát hành ngày 24-4-2018 [http://bit.ly/2qYgGLI], ông Lê Đình Quảng, Phó trưởng Ban Quan hệ Lao động Tổng LĐLĐ Việt Nam, có nói rằng: “NLĐ giao kết hợp đồng lao động có thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng, thì DN phải đăng ký tham gia BHXH bắt buộc, và NLĐ vẫn được hưởng các chế độ, nghỉ phép, chế độ trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng như đối với lao động làm trọn thời gian”.

Câu trả lời này của ông Lê Đình Quảng hoàn toàn sai luật. Thứ nhất, theo Điều 111 của Bộ Luật lao động, thì NLĐ có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động, mới được quyền nghỉ phép hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động. Thứ hai, về “trợ cấp”, nếu NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của Điều 37, Bộ Luật lao động thì sẽ nhận được khoản trợ cấp thôi việc. “Trợ cấp thất nghiệp” chỉ nhận nếu như “đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp” (Điều 81, Luật BHXH).

Giờ đã là tuần cuối tháng 4-2018. Phần lớn hợp đồng thời vụ 3 tháng ký sau tết nguyên đán sẽ còn thêm 1 tháng nữa là kết thúc. Tuy nhiên cho đến nay phía cơ quan hữu trách vẫn chưa đưa ra được phương thức quản lý như thế nào sau khi những lao động ngắn hạn này nghỉ việc?. Liệu những người đã đóng BHXH bắt buộc có được chuyển sang tự nguyện sau khi nghỉ việc? (thật ra chuyện bảo hiểm tự nguyện với người thất nghiệp cũng bất khả thi, vì đã thất nghiệp thì tiền đâu để đóng?). Ngành bảo hiểm có tính được các trường hợp lao động sau 1-3 tháng nghỉ việc tại DN thì theo dõi tiếp hay chấm dứt BHXH sẽ ra sao?

“Tôi cho rằng chuyện bắt buộc đóng BHXH của lao động thời vụ là hút máu NLĐ lẫn chủ DN. Ai cũng biết lao động thời vụ thường có tỷ lệ nghỉ việc cao. Với những trường hợp DN đã đóng BHXH, nhưng khi lao động nghỉ việc không hoàn tất thủ tục chốt sổ, thì phải chăng cơ quan BHXH đã ẳm trọn khoản tiền này?”. Một chủ DN đặt vấn đề.

* Bài viết dựa trên góc nhìn riêng của tác giả về vấn đề BHXH và vai trò Công đoàn nhà nước, trên nguyên tắc mà Điều 19 - Tuyên bố quốc tế nhân quyền đề ra.

Thống kê thương mại Việt nam: dối trá?

Phương Thảo dịch (VNTB) Vào ngày 17 tháng 4, Bloomberg đưa tin Trung Quốc đã vượt Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Theo số liệu do hãng tin trích dẫn và được đối chiếu với Quỹ Tiền tệ Quốc, xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt tổng cộng 50,6 tỷ đô la trong năm 2017, so với 46,5 tỷ đô la xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Nếu những con số này là chính xác, chúng sẽ thể hiện sự thay đổi đáng kể trong mối quan hệ tam giác giữa Việt Nam, Trung Quốc và Hoa Kỳ. Như Bloomberg đã đưa ra một cách ngắn gọn, dữ liệu nhấn mạnh việc nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang “tăng ảnh hưởng của nó trong khu vực” với cái giá của Hoa Kỳ phải trả ra sao.
Nhưng các con số thương mại không thể hiện mọi thứ; đọc kỹ hơn sẽ thấy thậm chí chúng có thể sai. Số liệu thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan Việt Nam( TCHQVN), nơi giám sát dữ liệu thương mại của Việt Nam, mâu thuẫn với đánh giá của IMF. Theo TCHQVN, xuất khẩu sang Mỹ năm ngoái đạt 41,6 tỷ USD, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc đứng ở mức 35,5 tỷ USD. Nói cách khác, theo số liệu của Việt Nam, Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất với tỷ suất 17%, sự khác biệt vẫn ổn định trong ba tháng đầu năm 2018. Hơn nữa, số liệu của TCHQVN cho thấy xu hướng trong quan hệ thương mại của Việt Nam vẫn nguyên vẹn; Việt Nam tiếp tục thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc và thặng dư với Mỹ.

Vậy, điều gì có thể giải thích sự khác biệt giữa dữ liệu chính thức và số liệu của IMF?

Một giải thích có thể là thuộc phương pháp luận: Quỹ và TCHQVN chỉ đơn giản sử dụng các công thức khác nhau để đạt được ước tính. Nhưng khoảng cách 15,1 tỷ USD ở phía Trung Quốc khiến điều này khó xảy ra. Một khả năng khác là IMF đã lấy dữ liệu độc quyền từ chính quyền Trung Quốc. Nhưng bằng chứng cho kịch bản đó là yếu.

Một lý thuyết thứ ba - không thể chứng minh ngoài một sự nghi ngờ hợp lý - có thể đáng tin cậy nhất: cả hai bên đều thao tác dữ liệu thương mại hàng năm và hàng tháng để củng cố chuyện kể của họ.

Đối với Việt Nam, dữ liệu cho thấy xuất khẩu thấp hơn sẽ hỗ trợ các nỗ lực của chính phủ để mở rộng thương mại sâu hơn vào thị trường Trung Quốc. Bị cản trở bởi thâm hụt thương mại song phương lớn và liên tục, các quan chức Việt Nam từ lâu đã yêu cầu các đối tác Trung Quốc cho phép nhập khẩu nhiều hơn từ Việt Nam. Những con số do TCHQVN đưa ra sẽ tăng lên - hoặc ít nhất là không làm suy yếu - mục tiêu đó.

Mặt khác, đối với Trung Quốc, lạm phát số liệu nhập khẩu từ Việt Nam có thể giúp trung hòa yêu cầu đó, nhắc nhở các nhà chức trách Việt Nam về việc thương mại với Trung Quốc quan trọng như thế nào đối với nền kinh tế của Việt Nam. Số liệu thương mại cao hơn có thể thuyết phục Việt Nam duy trì mối quan hệ song phương thân thiện, và thậm chí có thể áp dụng nhiều vị thế dễ dãi hơn đối với các vấn đề an ninh khu vực nhức nhối, chẳng hạn như tranh chấp Biển Đông.

Tất nhiên, chính sách thương mại bảo hộ của chính quyền Trump có thể làm cho tất cả những suy đoán này trở nên vô nghĩa. Trong khi thương mại song phương của Việt Nam với Trung Quốc đang mở rộng và có thể vượt quá 100 tỷ đô la đôi khi trong năm nay, mối quan hệ thương mại với Hoa Kỳ đang bị tổn thương bởi sự hướng nội của Mỹ. Các nhà xuất khẩu thủy sản và thép lớn của Việt Nam đã bị ảnh hưởng bởi chính sách thuế quan mới của Mỹ, và có thể tiếp theo là các lĩnh vực bổ sung, chẳng hạn như hàng dệt may. Với việc Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, tăng trưởng trong thương mại song phương chịu ảnh hưởng thêm.

Nếu xu hướng này tiếp tục, phân tích của IMF – khi nghi vấn như hiện giờ - cuối cùng sẽ trở thành hiện thực. Và, nếu Trung Quốc, từ lâu đã trở thành nguồn nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, thay thế Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam, Việt Nam sẽ không thể tiếp tục chiến lược bảo hiểm rủi ro hiện tại giữa hai cường quốc. Tới lúc đó, không có khoản sáng tạo nào có thể che giấu những thực tế mới về những hạn chế kinh tế của Việt Nam.

Liệu đây có phải là lần 30/4 cuối cùng Trần Đại Quang giữ chức Chủ Tịch Nước hay không?

Tác giả: Quê Hương

Mấy ngày qua, dư luận trong nước xôn xao về chuyện chủ tịch nước Trần Đại Quang biến mất trên chính trường, mà dư luận cho là ông đi chữa bệnh ở Nhật Bản và không có mặt để tiếp đón nhà lãnh đạo Miến Điện Aung San Suu Kyi thăm Việt Nam, cho dù cả 3 trụ cột còn lại trong triều chính Việt Nam là Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đều có các cuộc tiếp đón nhà lãnh đạo này.
Thực ra, việc ông Trần Đại Quang phải tiếp tục điều trị bệnh là điều đã được dự đoán từ trước bởi từ sau lần đi chữa bệnh ở Nhật Bản vào tháng 7 năm 2017, ông xuống sắc một cách thê thảm. Trông sắc mặt mệt mỏi, tác phong chậm chạp của ông Quang mọi người đều hiểu rằng việc ông trở lại giường bệnh chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi. Nắm bắt trước được điều này, Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Xuân Phúc đã ra đòn quyết định để ông Quang không thể yên bình trở về như hồi tháng 8 năm ngoái và ngồi tiếp trên ghế Chủ tịch nước cho tới hết nhiệm kỳ.

Thời điểm đó, Trọng và Phúc chỉ tấn công Quang trên hai mũi đó là thực hiện vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay trước khi Quang đi chữa bệnh và sau đó dùng bồi bút Huy Đức kêu gọi hạ bệ Quang. Thì ở lần này Trọng và Phúc tấn công Quang trên 3 mũi, đó là dùng truyền thông gán cho Quang là đã xin bộ chính trị được từ chức trước khi đi chữa bệnh; rồi thực hiện hàng loạt các vụ bắt giam, khởi tố các tay chân của Quang trong ngành công an; và đáng chú ý nhất là việc cử phái đoàn sang Trung Quốc xin ý kiến của Tập Cận bình về việc thay thế Quang.
Còn nhớ, vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh được thực hiện vào ngày 23/7/2017 tại Berlin, chỉ khoảng chưa đầy 1 ngày trước khi ông Quang được cho là lên đường sang Nhật chữa bệnh. Trước đó, giới thạo tin đã đồn đoán về việc có nhân vật cấp rất cao trong ngành công an đã ra lệnh cho cấp dưới thả cho Trịnh Xuân Thanh trốn ra nước ngoài trước khi bị sập bẫy của tổng Trọng. Và nhân vật cấp cao ấy không ai khác chính là cựu Bộ trưởng công an Trần Đại Quang. Sau khi tiết lộ vụ Trịnh Xuân Thanh, ngày 10/8/2017, bồi bút Huy Đức Ô sin còn viết bài “Nguyên thủ quốc gia và định chế chủ tịch nước” yêu cầu ông Quang từ chức vì không đủ sức khỏe. Những động thái của Huy Đức Osin được cho là có chỉ đạo từ trên là đòn đánh tâm lý chí mạng với ông Quang, hy vọng ông sẽ hoàn toàn sụp đổ, không còn khả năng trở về để giữ chức Chủ tịch nước và xa hơn có thể là vị trí Tổng Bí Thư trong tương lai.
Mặc dù vậy, điều khó tin đã xảy ra khi ông Quang trở về Việt Nam vào ngày 28/8/2017. Để xua tan sự nhòm ngó của các đối thủ đồng đảng, Trần Đại Quang – người được đối thủ chính trị của Tổng Trọng là cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cất nhắc, đã thực hiện hàng loạt các cuộc tiếp đón mỗi ngày trong liền vài tuần sau đó để thể hiện mình vẫn còn dư sức làm Chủ tịch nước. Sự trở lại của ông Quang rõ ràng là nằm ngoài dự kiến của tổng Trọng và Phúc cũng như Trung Cộng. Cũng phải nói thêm, Bắc Kinh từ trước đó vẫn coi ông Quang là nhân vật không thể gần gũi. Nhiều đồn đoán cho rằng chính trong chuyến đi thăm lần đầu tiên trên cương vị chủ tịch nước tới Bắc Kinh hồi tháng 5/2017, ông Quang đã bị phía Trung Cộng đầu độc để rồi 2 tháng sau từ một người khỏe mạnh, ông đã mắc bạo bệnh.
Rút kinh nghiệm về lần trở lại trước của ông Trần Đại Quang, lần này Tổng Trọng và Phúc đã gần như đánh sập đường trở lại của ông Quang với việc cho báo chí không chính thống đồng loạt đăng các bài viết là ông Quang đã xin từ chức Chủ tịch nước trước khi đi chữa bệnh. Bên cạnh đó, Trọng và Phúc chỉ đạo bắt giữ hàng loạt tay chân của ông Quang trong ngành công an như Trung Tướng Phan Văn Vĩnh – Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát và thiếu tướng Nguyễn Thanh Hóa – nguyên cục trưởng Cục Cảnh sát công nghệ cao để điều tra vì liên quan đến đường dây đánh bạc với quy mô hàng ngàn tỉ đồng; Giám đốc công an Đà nẵng Đại tá Lê Văn Tam đang bị sờ gáy vì nhận căn biệt thự gần 100 tỷ đồng bên bờ sông Hàn từ Vũ Nhôm. Còn thượng tá an ninh tình báo Vũ Nhôm – một tay chân của ông Quang đang bị đẩy nhanh tiến trình khởi tố, đồng thời cựu bí thư Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh – một thân cận nữa của ông Quang cũng sắp bị bắt giữ và khởi tố. Cựu Tổng cục phó Tổng cục tình báo Trung tướng Phan Hữu Tuấn cũng bị bắt giam vì liên quan đến Vũ Nhôm. Người ta cũng không thể bỏ qua việc cảnh sát giao thông Hà Nội – lực lượng năm xưa do ông Quang chỉ đạo trực tiếp cũng đang bị báo chí đồng loạt tố “làm luật như ảo thuật” trong thời gian qua. Với những con người và vụ việc phanh phui cụ thể trên, mùi dùi chính là chĩa vào ông Quang bởi ông sẽ phải là người chịu trách nhiệm về sự quản lý yếu kém và để cấp dưới tham nhũng tràn lan.
Một mũi giáp công nữa hết sức quan trọng mà tổng Trọng thực hiện nữa đó là việc ông này cử Trưởng ban kinh tế Trung Ương Nguyễn Văn Bình sang Trung Quốc tiếng là để đi thăm hữu nghị, nhưng thực chất là để xin ý kiến về trường hợp của Quang và hỏi ông anh phương Bắc xem ai sẽ được chỉ định kế nhiệm.
Cũng cần phải nhắc lại về trường hợp của cựu Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh và đồng thời cũng là ứng cử viên thay thế chức Tổng bí thư, để thấy ông Trọng đã ra tay một cách lạnh lùng và tàn nhẫn đến như thế nào. Sau khi ông Huynh đi điều trị bệnh ở Nhật về xong, tổng Trọng dứt khoát không đưa Huynh trở lại chức Thường trực Ban bí thư mà đưa đàn em Trần Quốc Vượng – trưởng ban tổ chức trung ương lên thay thế, ông Vượng từng bước lân la lên vị trí Ủy viên Thường trực ban Bí thư rồi sau đó và chính thức nhậm chức Thường trực ban Bí thư, hất Huynh ra ngoài cho dù ông này đã hồi phục sức khỏe và chờ ngày trở lại. Loại được Huynh, tổng Trọng có thể thở phào nhẹ nhõm vì ông ta đã “bứng” đi được ứng cử viên nặng ký nhất có thể thay thế ông ta vào giữa năm 2018 theo như cam kết tại Đại hội Đảng khóa 12 hồi tháng 1/2016 nhất trí để ông Trọng tái cử chức Tổng bí thư trong đúng nửa nhiệm kỳ 5 năm nhằm đào tạo lớp lãnh đạo kế cận. Nếu lần này loại nốt được Quang, tổng Trọng có thể kê cao gối ngủ yên bởi ít ra đến cuối nhiệm kỳ làm Tổng Bí thư năm 2021 không ai có đủ tư cách để có thể thay thế ông ta.
Trong khi cuộc chiến hạ bệ Quang đang đi vào hồi kết thì cũng là lúc người ta bắt đầu chứng kiến cuộc đua đến chức chủ tịch nước cũng đang nóng dần. Trong những ngày qua, 3 ứng cử viên hàng đầu là Trưởng Ban kinh tế Trung Ương Nguyễn Văn Bình, Bí thư thành ủy TP HCM Nguyễn Thiện Nhân và Bí thư thành ủy Đà Nẵng Trương Trọng Nghĩa đều đã thực hiện những động thái để làm hài lòng Tổng Trọng và Bắc Kinh.
Ông Nguyễn Văn Bình lần đầu tiên dẫn đoàn tới Bắc Kinh để gặp nhân vật quyền lực số 2 của Bắc Kinh Vương Kỳ Sơn từ ngày 15 đến 19/4 mà thiên hạ đồn đoán đây là chuyến thăm để Bình tự Marketing bản thân với giới cầm quyền Trung Cộng . Nguyễn Thiện Nhân thì lớn tiếng phát biểu “Đại hội Đảng khóa tới ‘không có chạy chức’” tại phiên bế mạc Hội nghị Thành ủy TP HCM lần thứ 16 chiều 17/4, đồng thời, Nhân cũng vừa giao Ủy ban Kiểm tra Thành ủy kiểm tra các dấu hiệu vi phạm trong vụ chuyển nhượng hơn 30 hecta đất tại Phước Kiển cho Công ty Cổ phần Quốc Cường Gia Lai. Còn ở Đà Nẵng, bí thư Trương Quang Nghĩa cũng nổ bằng việc chống nạn “con ông cháu cha” trong buổi làm việc với quận ủy quận Cẩm Lệ hôm 17/4. Nhưng cần phải nhắc lại là chính ông Nghĩa lại là em ruột của ông Trương Quang Được – cựu bí thư thành ủy Đà Nẵng và cũng là cựu trưởng ban dân vận trung ương.
Hiện chưa ai có thể biết chính xác trong cuộc đua tam mã tới chức chủ tịch nước, chiến thắng sẽ thuộc về ai. Nhưng nhìn vào những diễn biến những ngày qua mới thấy, chính trường Việt Nam giờ giống như một khu rừng hoang ở châu Phi. Khi mà một con mãnh thú chuẩn bị ngã xuống thì nó sẽ trở thành miếng mồi ngon cho những mãnh thú khác xông tới xé xác làm thịt. Và một khi chính thể được nắm giữ bởi những những lãnh đạo thèm khát quyền lực đến như vậy thì tương lai nào đang chờ đợi người dân Việt Nam?

Thành quả nào?

Fb. Ngô Trường An

Thành quả dân tộc VN đạt được hôm nay là nhờ sự lãnh đạo của đảng, đó là thành quả gì?
Hãy nhìn vào vị thế đất nước chúng ta ngày hôm nay so với các nước trong khu vực nó như thế nào? Có dân tộc nào trong khu vực đến VN làm thuê, làm mướn, ở đợ, bán dâm không? Hay họ sang đây toàn làm ông chủ, bà chủ, cố vấn, chuyên gia..? Còn người Việt thì rõ ràng tranh nhau đi làm tôi mọi khắp nơi trên thế giới, điều này không thể chối cãi. Đó có phải là thành quả do đảng lãnh đạo không?
Nếu nói thành quả của dân tộc là đánh Pháp, đánh Mỹ giành độc lập. Vậy, các nước khác trên thế giới họ cũng giành được độc lập mà đâu cần đánh nhau với ai? Hãy nhìn xem, hiện nay Pháp và Mỹ đang đô hộ nước nào trên thế giới?
Sau thế chiến thứ 2, trên thế giới có 4 quốc gia bị chia cắt. Trong 4 quốc gia này đều có đảng cộng sản lãnh đạo. Nhưng. Duy nhất, chỉ có đảng csVn là phát động chiến tranh, gây nên cảnh nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn trong suốt 20 năm trời, làm cho hàng triệu người dân Việt phải bỏ mạng và hệ lụy kéo dài đến tận ngày nay.
Nếu ai chỉ ra cho tôi thấy thành quả của đảng lãnh đạo, tôi xin chân thành cảm ơn./.