Monday, May 1, 2017

Siết vay ODA có khiến bớt ‘ruồi’ chính quyền địa phương?

Thiền Lâm-02-05-2017
(VNTB) - Quy định mới về “siết vay ODA” của chính phủ ông Nguyễn Xuân Phúc chắc chắn sẽ khiến nhiều “ruồi” chính quyền địa phương không còn quá vo ve quanh “hũ mật” ODA.
   Huỳnh Ngọc Sỹ (nguyên Phó giám đốc Sở GTVT TP.HCM) - một "con ruồi" tiêu biểu trong phong trào "ăn" ODA.

Thời Thủ tướng Phúc có khác. Không còn xả láng tung hê vay mượn bạt tử như thời Thủ tướng Dũng. Một trong những nhiệm vụ lớn nhất của ông Phúc hiện thời là phải đi kiếm tiền để trả nợ cho đời ông Dũng.

Tháng 4/2017, Chính phủ của ông Phúc ban hành Nghị định 52/2017/NĐ-CP về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ đối với Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó quy định điều kiện Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh được vay lại từ nguồn vốn vay ODA và vay ưu đãi.

Khác nhiều với các văn bản đời Nguyễn Tấn Dũng về cùng chủ đề trên, bản nghị định đời Nguyễn Xuân  Phúc nêu ra những điều kiện khá ngặt nghèo đối với các chính quyền địa phương nếu muốn vay lại ODA: Dự án phải bố trí vốn đối ứng để thực hiện phù hợp với quy định hiện hành. Tổng mức dư nợ vay của ngân sách địa phương tại thời điểm thẩm định chủ trương đầu tư chương trình, dự án không vượt quá hạn mức dư nợ của ngân sách địa phương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước. Không có nợ vay lại của Chính phủ quá hạn trên 180 ngày. Nghĩa vụ trả nợ hàng năm của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh đối với các khoản vay lại vốn ODA, vay ưu đãi không vượt quá 10% nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp tại thời điểm xem xét khoản vay lại. 

Mới vào tháng 2/2017, Thủ tướng Phúc đã quyết định chỉ bảo lãnh vay vốn nước ngoài vỏn vẹn 1 tỷ USD cho các doanh nghiệp. Hạn mức bảo lãnh này là giảm mạnh so với những năm trước (năm 2015 là 2,5 tỉ USD và 2016 là 1,5 tỉ USD), và giảm rất mạnh so với mức 6,6 tỷ USD của năm 2014.

Chắc chắn quyết tâm hạn chế vay mượn ODA của Thủ tướng Phúc bắt nguồn từ sự kết thúc thời hoàng kim ODA, trong đó chính quyền trung ương và địa phương “chỉ nghĩ vay, không nghĩ trả”.

Những năm trước, hiện tượng nhiều tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước và chính quyền địa phương vay nợ tràn lan, đã cho thấy tâm lý vay là cực kỳ vô trách nhiệm. Và thậm chí một số doanh nghiệp còn có biểu hiện “xù nợ” khi làm ăn lỗ lã.

Có đến ít nhất 30% số tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước đã rơi vào vòng lỗ lã, và đối mặt với nguy cơ phá sản kể từ năm 2008, khi kinh tế Việt Nam bắt đầu rơi vào giai đoạn suy thoái. Con số mới nhất từ một nhà nghiên cứu độc lập là Tiến sĩ Vũ Quang Việt – cựu vụ trưởng vụ Thống kê Liên hiệp quốc – cho biết các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước đang gánh một khoản nợ công lên đến 231 tỷ USD – vượt hơn rất nhiều số “dự tính” khoảng 25 tỷ USD do một số cơ quan nghiên cứu của chính quyền Việt Nam đưa ra.

ODA lại là một trong những quốc nạn về tham nhũng. Tỉ lệ thất thoát bình quân tại nhiều dự án ODA được đồn đoán khoảng 20 – 25%. Nhưng đó chỉ là mức “hợp pháp.” Thậm chí tỉ lệ “lại quả” ODA còn vọt đến 40% – được một dự án xây dựng trường tiểu học ở Hà Tĩnh chứng thực, vào giai đoạn 2009 – 2010.

Các nước Tây Âu và Bắc Âu đã tài trợ cho chính phủ Việt Nam trong vài chục năm qua để “cải cách luật pháp” và “chống tham nhũng,” nhưng việc này dường như cũng không mang lại kết quả. ODA vẫn là miếng mồi béo bở nhất cho các giới chức tham nhũng ở Việt Nam.
Bở lẽ đó mà cho tới nay, nhiều quốc gia như Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Úc… đã thẳng tay cắt giảm viện trợ ODA đối với Việt Nam.

Từ năm 2016 đã rộ lên thông tin nguồn vốn ODA cho Việt Nam cũng bị các tổ chức tài chính quốc tế siết lại.

Từ tháng Bảy năm 2017 trở đi, Việt Nam sẽ phải vay ODA với lãi suất không còn ưu đãi như vài chục năm trước, mà ngang giá với thị trường quốc tế, cùng thời gian vay không còn ân hạn như trước đây. Nguồn vốn ODA đã vay sẽ phải chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi, hoặc tăng lãi suất lên 2-3,5%/năm.

Khác hẳn vài năm trước, ngân sách trung ương đang cực kỳ khốn quẫn. Ngân sách này chỉ có thể lo việc chi trả lương và một ít đề mục về an sinh xã hội, còn đa phần “đầu tư phát triển” phải tiết chế đến mức tối thiểu. Sau trào lưu xây trụ sở và tượng đài từ ngàn tỷ đến chục ngàn tỷ vô tội vạ và vô liêm sỉ trong những năm trước, đến giờ ngân sách tìm ra một ngàn tỷ đồng để chi đã là khó khăn.


Quy định mới về “siết vay ODA” của chính phủ ông Nguyễn Xuân Phúc chắc chắn sẽ khiến nhiều “ruồi” chính quyền địa phương không còn quá vo ve quanh “hũ mật” ODA. 

Việt Nam, một đất nước không có tự do báo chí

Thanh Trúc, RFA 2017-05-01  
Bản đồ tự do thông tin do tổ chức Phóng viên Không biên giới cung cấp, Việt Nam nằm trong số các nước bị bôi đen.
Bản đồ tự do thông tin do tổ chức Phóng viên Không biên giới cung cấp, Việt Nam nằm trong số các nước bị bôi đen.  RFA photo
Tổ chức Freedom House vừa công bố phúc trình thường niên cho thấy nhà nước Việt Nam nắm quyền kiểm soát toàn bộ báo đài, trấn áp truyền thông mạng và biến đất nước thành một nơi không có tự do báo chí.

Xếp thứ 177/198 quốc gia

Việt Nam đứng thứ 177 trong số 198 quốc gia trên toàn cầu về tự do báo chí, là nhận định của Freedom House trong phúc trình thường niên công bố tại Newseum - Viện Bảo tàng Tin tức ở Washington DC hôm thứ 28/4/2017.
Như thông lệ, sơ đồ tự do báo chí thế giới của Freedom House năm nay vẫn sử dụng màu xanh lục cho nhóm những nước có tự do, màu vàng cho những nước phần nào được tự do và màu tím là những quốc gia không có tự do.
Việt Nam thuộc nhóm màu tím, tức nhóm các nước không có tự do báo chí so với thế giới cũng như trong khu vực.
Riêng về tự do báo chí của 40 nước vùng Châu Á Thái Bình Dương, Việt Nam đứng hàng thứ 37 tức là chỉ hơn được Lào, Trung Quốc và Bắc Hàn; là 3 quốc gia nằm cuối bảng.
Trả lời Đài Á Châu Tự Do, bà Jennifer Dunham, Giám đốc nghiên cứu về tự do báo chí thế giới trong tổ chức Freedom House, khẳng định:
“Việt Nam thuộc nhóm các nước không có tự do báo chí trong phúc trình 2017 của Freedom House, cũng là quốc gia có nền truyền thông tồi tệ nhất trong khu vực cũng như trên thế giới nói chung.
Những điều mà Freedom House quan tâm nhất là sự kiểm soát chặt chẽ  và nghiêm khắc của nhà nước Việt Nam đối với truyền thông. Năm 2016 là năm mà chiến dịch đàn áp báo chí độc lập, báo mạng hay báo online đã diễn ra gay gắt hơn lúc nào hết.
Về phần các bloggers thì Freedom House nhận thấy rất nhiều người bị bắt giữ, nhất là trong thời gian có chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng thống Obama, chính phủ đã tìm mọi cách ngăn chận những tin bài hay những tiếng nói độc lập.
Thực tế không có sự tiến bộ nào trong lãnh vực tự do báo chí ở Việt Nam bao năm qua. Điểm sáng duy nhất và khả quan nhất có thể nhìn thấy được và khiến cho Việt Nam khá hơn Lào một chút là nhờ những bloggers đang cố gắng viết và đưa tin tức đến cho mọi người trong khả năng khách quan và trung thực nhất mà họ có thể”.

Vai trò của truyền thông mạng

Truyền thông mạng và báo chí online từ những tổ chức xã hội dân sự, không nằm dưới quyền chỉ đạo của nhà nước Việt Nam, là những sinh hoạt cần thiết trong bối cảnh một đất nước mà báo giới luôn bị kiểm duyệt như ở Việt Nam, là phát biểu của bà Sarah Repucci, giám đốc về thông tin toàn cầu của Freedom House:
“Điều vô cùng quan trọng là các tổ chức đó phải tiếp tục làm công việc đang làm, tiếp tục viết những gì cần phải viết bằng tất cả khả năng và phương tiện của mình để phổ biến rộng rãi cho mọi người, bởi đối với nhiều người khao khát tin tức thì đó là những nguồn thông tin phản ảnh những quan điểm độc lập và không bị bóp méo.
So với những năm trước thì Freedom House vẫn không thấy sự cải thiện đáng kể trong lãnh vực báo chí đang bị kiểm soát chặt chẽ ở Việt Nam, chí ít là thời gian gần đây cũng không có mấy thay đổi.”
Phúc trình 2017 về tự do báo chí thế giới với tình hình tiêu cực về tự do báo chí ở Việt Nam được Freedom House ở Hoa Kỳ công bố chỉ 2 ngày sau khi có báo cáo hàng năm của Reporteurs Sans Frontieres - Ký giả Không biên giới ở Pháp hôm 26/4, đưa Việt Nam vào danh sách các nước bị bôi đen tức hoàn toàn không có tự do báo chí trong năm 2016.

Đồng Tâm: Chuyện gì thực sự đã xảy ra?

Kính Hòa, RFA 2017-05-01  
Chủ tịch thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung đã có mặt bên trong hội trường UBND xã Đồng Tâm sáng thứ Bảy 22/4/2017 để bắt đầu đối thoại với người dân.
 Chủ tịch thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung đã có mặt bên trong hội trường UBND xã Đồng Tâm sáng thứ Bảy 22/4/2017 để bắt đầu đối thoại với người dân. Courtesy of VTC online Chuyện gì thực sự đã xảy ra ở Đồng Tâm 00:00/00:00 
Bài học Đồng Tâm và báo chí
Cuộc khủng hoảng đất đai và cầm giữ con tin tạm thời được giải quyết sau cuộc gặp mặt thành công giữa ông Chủ tịch thành phố Hà Nội và nông dân thôn Hoành, xã Đồng Tâm.
Báo chí nhà nước trích lời các quan chức trong Nam, ngoài Bắc về bài học Đồng Tâm.
Blogger, cư dân mạng xã hội cũng nói về bài học Đồng Tâm.
Blogger Đoan Trang quan sát thấy có những điều tích cực mà cô gọi là những điều vui sau cuộc khủng hoảng Đồng Tâm:
“Điều thứ nhất là đã không có thêm bạo lực và đổ máu.
Điều thứ hai là tạo nên một tiền lệ cho những cuộc đối thoại về sau.
Điều thứ ba là thay đổi suy nghĩ của nhiều người rằng công an và chính quyền cũng có thể sai, và người dân lúc nào cũng phải được bảo vệ.
Điều thứ tư là nếu công an không tiếp tay cho chính quyền và doanh nghiệp làm điều sai thì họ chẳng bao giờ bị dân chúng phản ứng bằng cách bắt giữ.”
Ngoài ra Đoan Trang còn nêu lên những chia rẽ trong xã hội Việt Nam hiện tại lộ ra sau sự kiện Đồng Tâm, đó là sự chia rẽ giữa dân và chính quyền, sự chia rẽ của báo chí, thậm chí là sự chia rẽ trong quan niệm đấu tranh của những người muốn thay đổi xã hội Việt Nam theo hướng tốt hơn.
Riêng về báo chí, Đoan Trang nhận xét rằng:
“Một trong các chức năng nguyên thủy của báo chí là giám sát, phản biện chính quyền. Trong trường hợp phải lựa chọn giữa bảo vệ nhân quyền và bảo vệ chế độ, báo chí phải đứng về phía dân, đặc biệt là về phía đám đông thầm lặng, người yếu thế, hay nói đơn giản: Vì dân, không vì cường quyền. Nếu suy nghĩ một cách tiêu cực, có thể hiểu đó là sự dân túy, nhưng một cách tích cực thì nên hiểu đó là công lý.”
Theo Đoan Trang, yếu kém của báo chí thể hiện rõ trong những bài họ mô tả cảnh ông Chung về làng để nói chuyện với dân. Theo cô chuyện một quan chức như ông Chung xuống làng để nói chuyện là một điều hết sức bình thường:
“Song dân chúng đã đón chào ông Chung như đón chào một ông tiên về làng.
Ở dân, điều ấy không đáng trách. Nó chỉ cho thấy dân Việt Nam quá khổ, khi mà hàng chục, hàng trăm năm nay họ đều phải cam phận sống như tầng lớp dưới của chính quyền, không hề có ý thức về sự bình đẳng giữa các công dân, về nghĩa vụ của quan chức với dân…
Ở báo chí – lực lượng luôn tưởng mình đi đầu trong công cuộc khai dân trí – sự tán dương ấy dành cho ông Chung mới là điều đáng ngại.”
Cùng thời gian xảy ra cuộc khủng hoảng Đồng Tâm, tại Mỹ có chuyện một bác sĩ người Mỹ gốc Việt bị hãng hàng không lôi khỏi máy bay một cách thô bạo, và báo chí Việt Nam đồng loạt đưa tin ấy, Nhà báo Nguyễn Thông viết trên blog:
“Thấy bên Mỹ có ông bác sĩ gốc Việt tên Đào bị đuổi ra khỏi máy bay Mỹ, gớm, cả nước cứ ồn lên, cực lực lên án như chính mình vừa bị đuổi khỏi máy bay của Vietnam Airlines. Vậy nhưng cả một xã Đồng Tâm ngay sát nách thủ đô vùng dậy đòi đất (đất với họ là sự sống) thì hầu hết lại chiêm quan một cách rất thờ ơ, thậm chí không biết.”
Sự thờ ơ của báo chí, được blogger nhạc sĩ Tuấn Khanh đặt câu hỏi phải chăng họ đang sống trong một màn sương mù:
“Chưa thấy có bài báo nào phỏng vấn các nhân vật bị tạm giữ ở Đồng Tâm về những ngày họ mang giáp, cầm dùi cui hừng hực khí thế xông vào làng cho đến lúc thảnh thơi ra về, dĩ nhiên là với một nội dung phi tuyên truyền, để mọi người hiểu thêm về con người làng Hoành.
Cũng không có bài báo nào phỏng vấn 15 người nông dân qua những ngày bị bắt, bị cưỡng bức ra khỏi làng của mình, mở đầu cho cuộc khủng hoảng.
Có thể báo chí giờ đây quá trẻ con để có thể làm được những điều vừa sức như vậy, nhưng cũng có thể báo chí đã bị bóp nặn thành những đứa trẻ, chỉ thích ăn kẹo và hân hoan vui đùa trong cuộc sống mờ mờ sương mù.”
Cũng cần phải nói thêm là bên cạnh sự thờ ơ như Nguyễn Thông đề cập, trước khi vụ khủng hoảng được giải quyết, một số tờ báo còn lên tiếng chỉ trích các luật sư, những người giữ kênh liên lạc duy nhất trong những ngày đầu căng thẳng của cuộc khủng hoảng, nói họ là những người cơ hội chính trị. Một trong những luật sư đó là ông Lê Luân:
“Chính trị, nếu có một cơ hội cho tôi, hoặc bất kỳ một ai khác để thực hiện, cũng chẳng phiền hà gì, tôi sẽ nắm lấy một cách chính đáng để có vị thế mà thay đổi đất nước này.
Và do đó, sẽ không còn câu chuyện độc quyền chính trị cho bất kỳ tổ chức hay đảng phái nào nắm trọn và loại trừ phần còn lại, sẽ không còn đất đai là sở hữu toàn dân, sẽ không còn những sự việc rúng động đầy bi thương và phẫn uất tương tự như đã xảy ra ở Đồng Tâm, Văn Giang hay Tiên Lãng,...”

Ai thắng ai thua? Chuyện gì thực sự đã xảy ra?

Sau khi vụ Đồng Tâm được tạm thời giải quyết, có một câu hỏi được đặt ra là ai thắng ai thua.
Trên trang Việt Nam Thời Báo, tác giả Quang Nguyên nghi ngờ những bùng nổ mới trong tương lai, nhưng thấy rằng dân Đồng Tâm đã thắng, và đó là tấm gương cho những nông dân bị mất đất, phải đoàn kết và khôn ngoan như cư dân thôn Hoành, xã Đồng Tâm để bắt nhà cầm quyền phải nhượng bộ.
Nhiều người nghi ngờ tờ giấy ký tay của ông Chủ tịch Nguyễn Đức Chung không phải là một văn bảng pháp lý và có thể dễ dàng bị nhà cầm quyền cố tình quên đi sau này.
Blogger Nguyễn Vũ Bình không cho là như thế, ông viết rằng:
“Việc một chủ tịch thành phố lớn, thủ đô, đã phải ký vào cam kết, những điều được toàn thể người dân, và cả nước biết như vậy, đã là một thành công tuyệt vời. Để có thể tráo trở, lật lọng một văn bản giữa thanh thiên bạch nhật như vậy, họ sẽ phải trả giá rất lớn cho uy tín của cá nhân và của nhà cầm quyền.”
Trong số những ý kiến đáng chú ý của những phân tích về vụ Đồng Tâm là của tác giả Minh Tử viết trên trang Dân Luận. Minh Tử cho rằng trong suốt những ngày xảy ra cuộc khủng hoảng và có thể là đến cả hiện nay, chính quyền xã Đồng Tâm thực sự không tồn tại, đã bị lật đổ.
Sự việc đó được nhà báo Xuân Ba cảm nhận ở một góc độ khác, khi Xuân Ba nhìn thấy cái cổng làng ở thôn Hoành của xã Đồng Tâm. Làng chính là quyền lực thực sự của dân chúng ở vùng nông thôn Việt Nam. Cảm xúc của Xuân Ba được nhà báo Nguyễn Thông trích dẫn trên trang blog của ông:
“Làng? Chợt giật thột cái điều, trong hệ thống văn bản pháp lý, cái từ làng, khái niệm làng bị quên bẵng đi hàng bao năm nay? Và hình như các chức danh Trưởng thôn, Trưởng bản được tái lập và thiết lập cùng danh hiệu làng văn hóa gần đây như sợi dây làm bền chặt thêm quan hệ giữa Dân với Nhà nước?”
Câu hỏi của Xuân Ba, cũng là câu hỏi nhiều người đặt ra khi chính quyền Hà Nội kêu gọi đại diện của dân làng Hoàng, xã Đồng Tâm đến nói chuyện với họ, điều đó có nghĩa là quyền lực của các hội đồng nhân dân xã, ở đây là Đồng Tâm, không đại diện cho dân làng, và những viên chức xã đó còn bị cầm giữ như con tin.
Câu chuyện Đồng Tâm được tác giả Nguyễn Quang Dy phân tích ở khía cạnh thể chế chính trị xã hội hiện nay của Việt Nam. Theo ông mâu thuẫn chủ chốt gây ra sự kiện Đồng Tâm là sự bác bỏ quyền tư hữu đất đai của đảng cầm quyền tại Việt Nam, trong khi đó đảng này lại công nhận cơ chế thị trường.
Ông Dy nói rằng một mô hình như vậy là một mô hình đầu Ngô mình Sở.
Ông Nguyễn Quang Dy phân tích thêm rằng Đồng Tâm chính là một quyền lực mới ở qui mô nhỏ làng xã. Nó có tác động thay đổi suy nghĩ của nhiều người, nó là một thay đổi bất ngờ con đường thay đổi thể chế ở Việt Nam.
Theo ông người dân Đồng Tâm vẫn chấp nhận bị cai trị nhưng có giới hạn. Trong khi đó chính quyền đã phải tìm cách thương lượng để giữ được quyền lực của mình, và cũng để khôi phục lại lòng tin của người dân đối với họ.
Ông Nguyễn Quang Dy cảnh báo rằng nếu chính quyền muốn khôi phục lòng tin của dân chúng, muốn tránh sự sụp đổ thì chỉ có cách là thay đổi toàn diện.
Ngay sau khi cuộc khủng hoảng Đồng Tâm được giải quyết, đã có một kiến nghị của hơn 60 cá nhân và tổ chức dân sự yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam thay đổi ngay luật đất đai hiện nay, mà theo họ là một bộ luật phản động gây nên xáo trộn xã hội, tạo điều kiện cho các quan chức làm giàu bằng tham nhũng.
Một trong những người ký kiến nghị đó là Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, ông viết rằng ngay cả những người cộng sản hiện nay cũng chẳng tin vào sự hợp lý của cái họ gọi là chế độ công hữu về đất đai nữa:
“Dân chúng bắt giam những chủ lực quân của đảng, chủ tịch Hà nội phải đến đích thân viết tay và điểm chỉ vào một bản cam kết giấy trắng mực đen…, thật là một sự đổi đời chưa từng có trong đêm dài Cộng sản, chưa biết ý nghĩa thật ra sao, phe nhóm trong lãnh đạo ra sao, có người đã quá vui vội gọi đó là cuộc “Cách mạng Tháng.. .
Tư ”(?). Ôi cái tháng Tư đỏ, tháng Tư đen lắm chuyện, mở đầu bằng một “ngày nói dối”, một tháng đầy biến cố, và kết thúc bằng cái ngày 30 cuối tháng chắc gì đã hết mùi Cá tháng Tư?”
Tiến sĩ Hà Sĩ Phu nhắc lại tháng Tư lịch sử. Tháng Tư 1975 thống nhất đất nước bằng vũ lực, đẩy hàng triệu người đi lưu vong. Tháng tư 2016 bùng nổ thảm họa môi trường Formosa Vũng Áng, đẩy hàng ngàn ngư dân vào cảnh khốn cùng, hàng chục cuộc biểu tình trên dãy đất Bắc Trung bộ nghèo khó.
Tuy nhiên sự biến Đồng Tâm tháng Tư 2017 lại cho Minh Tử nhìn thấy tính tích cực, và thậm chí là thắng lợi của hệ thống chính trị xã hội hiện nay của Việt Nam:
“Nhiều người cho rằng đây là thất bại của chính quyền, nhưng cá nhân tôi cho rằng đây là thắng lợi của hệ thống chính trị Việt Nam, khi cho thấy họ vẫn có khả năng lắng nghe và điều chỉnh, thậm chí là bước qua ranh giới luật pháp hiện tại của chính quyền.
Đây cũng là một tham khảo tốt cho tiến trình dân chủ hoá ở Việt Nam bởi những bước tiến nhỏ nhưng liên tiếp từ đòi hỏi của người dân trước sau gì cũng dẫn tới những thay đổi lớn.
Đây là một thắng lợi của hệ thống chính trị Việt Nam, khi nó đã lựa chọn giải pháp thỏa hiệp tiếp thu, thay vì trấn áp bằng bạo lực. Đây là một yếu tố tích cực đối với tiến trình dân chủ hoá ở Việt Nam khi nó cho thấy người dân có thể đấu tranh, và với những cách thức đúng thì chính quyền buộc phải lắng nghe và tìm cách thoả hiệp điều chỉnh.”

Bộ công an cộng sản ăn thịt lợn để làm gì?

Dân Đen (Danlambao) - Khác với mọi năm, biến cố 30/4 năm nay lại diễn ra trong không khí ảm đạm bởi sự đấu đá tranh giành quyền lực của giới chóp bu cộng sản đang diễn ra. Bên cạnh đó người dân phần nào nhận ra mặt trái của sự kiện “giải phóng” miền Nam hoàn toàn là sự dối trá láo khoét do Việt Minh dàn dựng, tuyên truyền. Hơn nữa trong tháng tư đen đã xảy ra tình trạng bất ổn về kinh tế khi thịt lợn mất giá trầm trọng.

Câu chuyện thịt lợn mất giá không phải chuyện chỉ mới diễn ra trong tháng tư này, nó đã bắt đầu từ thời điểm giáp tết nguyên đán Đinh Dậu. Tại thời điểm đó khoảng 37000/kg, đây được xem là mức giá khá thấp và được cảnh báo sẽ còn xuống thấp do thị trường tiêu thụ đang bất ổn. Được biết thị trường tiêu thụ phần lớn thịt lợn chủ yếu xuất sang Trung cộng, một thị trường đầy rủi ro đối với tất cả các thương vụ làm ăn giũa người dân cũng như chính phủ Việt Nam.

Thương lái Trung cộng sử dụng chiêu bài ồ ạt thu mua nông sản với giá cao để tạo niềm tin cho nông dân Việt Nam tăng diện tích, số lượng nuôi trồng rồi bất ngờ không nhập hàng khi vào vụ mùa. Việc này nhiều lần đã khiến nông dân Việt Nam rơi vào thảm trạng như câu chuyện lợn hơi mất giá trầm trọng đang diễn ra hiện nay. Đây không phải là lần đầu tiên, không phải là sản phẩm đầu tiên mà Trung cộng lợi dụng để phá hoại kinh tế nước nhà. Vấn đề quan trọng là thành phần cai trị của đảng cộng sản có thật sự muốn giúp đỡ người nông dân đối phó với thương lái Trung cộng hay không.

Hàng nghìn hộ dân nuôi lợn đang chới với trong tình cảnh vỡ nợ ngân hàng bởi giá thành thịt lợn xuất chuồng chưa bằng nửa mức đầu tư chăn nuôi. Hàng trăm nghìn tấn thịt lợn hơi đang tồn đọng trong ánh mắt vô vọng của người dân chờ đợi được tiêu thụ. Trước vấn nạn đó lãnh đạo cộng sản đã lên tiếng thể hiện sự “cao thượng” khi đưa ra hàng loạt lời kêu gọi tiêu thụ thịt lợn.

Thoạt đầu Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị (nói cho đúng là xin xỏ) công ty Samsung tăng cường tiêu thụ thịt lợn sử dụng cho các bữa ăn phục vụ công nhân đang làm việc tại tổ hợp Samsung Bắc Ninh. Kế đến là những công văn hỏa tốc được Nguyễn Xuân Phúc chị đạo Bộ NN&PTNT phát động chiến dịch giải cứu thịt lợn. Đáp lại lời kêu gọi đó, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Tổng liên đoàn lao động VN, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cùng nhiều ban ngành của cộng sản đảng đã hưởng ứng lời kêu cứu.

Điểm khá thú vị khi thực hiện chiến dịch giải cứu này phải kể đến Bộ công an khi đưa việc tiêu thụ thịt lợn làm chỉ tiêu phấn đấu thi đua. Theo Bùi Văn Thành, Thứ trưởng Bộ công an: “nếu không giải quyết được lượng lợn tồn kho sẽ ảnh hưởng mạnh đến an ninh của nền kinh tế”. Tại buổi làm việc giữa Bộ công an và Bộ NN&PTNT, Bùi Văn Thanh cho biết: “trước mắt, trong quý 2, ngành công an sẽ phấn đấu tiêu thụ lượng thịt tương đương với bên quân đội, khoảng hàng chục tấn/tháng, coi chỉ tiêu tiêu thụ thịt lợn là một trong những chỉ thi đua của các đơn vị”. Việc làm này thoạt nghĩ lực lượng còn đảng còn mình đã tỏ ra ăn năn khi biết lo, biết nghĩ đến nỗi khổ của người dân. Nhưng thiết nghĩ lấy chuyện “giải cứu thịt lợn” để tạo dựng niềm tin với nhân dân e rằng điều này giống như chuyện nước mắt cá sấu. Làm gì có chuyện những kẻ luôn thẳng tay đàn áp nông dân trong các cuộc cưỡng chiếm đất đai lại tỏ ra thương cảm với thảm cảnh của dân đen. Hơn nữa lại lợi dụng chuyện ăn thịt lợn để lập thành tích thi đua thì không hiểu nổi lực lượng còn đảng còn mình sẽ làm gì ngoài việc ăn thịt lợn và lãnh lương tháng để được thăng chức. Những đồng thuế còi cõm của người dân đang khổ sở vì lợn mất giá lại thêm phần gánh nặng cho chiến tích ăn thịt lợn của đám lực lượng còn đảng còn mình.

Xét trên phương diện trách nhiệm thì đó không phải là việc cần phải làm của ngành công an. Cái điều cần ở lực lượng này là bảo đảm an ninh cho cuộc sống của người dân. Cái điều dân mong ở lực lượng này là đừng cấu kết với doanh nghiệp, nhà nước để đàn áp, cướp đất đai, tư liệu sản xuất của nông dân. Cái điều dân chờ đợi ở lực lượng này là đừng bao che cho bè lũ lợi ích nhóm bán rẻ quê hương, coi thường sinh mạng nhân dân. Câu chuyện thịt lợn mất giá tự nó ắt hẳn sẽ có hướng giải quyết một khi xã hội không còn những không còn những “con lợn hai chân” mang “bộ giáp” công an nhân dân nhưng chỉ phục vụ cộng sản đảng.

02.05.2017

Đất đai: cuộc chiến vì nhân quyền và dân chủ!!!

Tự do Ngôn luận - Vụ nổi loạn của nông dân thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức đã được tạm tháo ngòi nổ. Các cán bộ và nhân viên của nhà cầm quyền bị dân bắt làm con tin (sáng kiến đấu tranh chưa từng thấy) và những nông dân bị nhà cầm quyền lừa giam giữ đã được thả. Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội. đã viết giấy tay trước mặt dân làng ngày 22 tháng 4, “xin cam kết như sau: 1- Trực tiếp kiểm tra đoàn thanh tra, chỉ đạo sát sao làm đúng sự thực khách quan và đúng pháp luật. Khu vực đất Đồng Tâm rõ ràng đâu là đất quốc phòng, đâu là đất nông nghiệp. Không mập mờ. Đảm bảo đúng quyền lợi cho nhân dân Đồng Tâm theo quy định của pháp luật. 2- Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Toàn thể Nhân dân xã Đồng Tâm. 3- Chỉ đạo điều tra xác minh việc bắt và gây thương tích cho Cụ Lê Đình Kình, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật”. Lãnh đạo thành phố Hà Nội hứa trong vòng 45 ngày sẽ giải quyết công bằng và trọn vẹn vụ việc tranh chấp ấy. Hãy chờ xem lời hứa Việt cộng!

Để hỗ trợ nông dân mất đất và thúc ép nhà cầm quyền nhân vụ việc này, hôm 26-04, một Bản Yêu Sách Cải Cách Chính Sách Đất Đai (từ đây gọi là BYS) có chữ ký của hơn một tá tổ chức và mấy trăm người Việt từ trong ra tới ngoài nước đã trình bày các khía cạnh của vấn đề rất rõ ràng và đưa ra những yêu cầu rất quyết liệt.

Truy nguyên vụ việc, BYS khẳng định chính sách đất đai vốn gây nhiều bất công cho dân và tai hại cho nước ấy đã bắt nguồn từ học thuyết kinh tế chính trị của Mác và thực tiễn chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Trung Quốc: xóa bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong nông nghiệp cũng như trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, hoạt động kinh tế khác, áp đặt cơ chế kinh tế chỉ huy, duy ý chí, tập trung, quan liêu, bao cấp. Đến khi đất nước đứng bên bờ vực thẳm phá sản (do bàn tay của hai kẻ ngu dốt về làm kinh tế nhưng lại cuồng tín về chủ nghĩa xã hội không tưởng và thành thạo chuyện cưỡng bức là Lê Duẩn và Đỗ Mười), đám lãnh đạo ở Ba Đình mới sáng mắt ra và đành phải chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường. Nhưng não trạng độc tài cộng sản vẫn không chuyển biến nên mới đẻ ra cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” (Việt cộng tự hào là vận dụng sáng tạo), nghĩa là vẫn công hữu đất đai, lấy công ty tập đoàn nhà nước làm chủ đạo, khiến cho nền kinh tế tại VN trở thành quái thai của thời đại lẫn lịch sử và tiếp tục gây tai họa. Nông dân và thị dân no được mấy bữa thì lại trở thành oan dân (hàng chục triệu người) vì nạn cướp ruộng đất, cướp nhà cửa của đảng viên cán bộ, nhân danh Hiến pháp đàng hoàng và Luật đất đai rõ rệt. “Chính sách “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” (điều 53 Hiến pháp 2013), Luật Đất đai và các quy định liên quan không những không tạo điều kiện sử dụng hiệu quả đất đai, phát triển kinh tế bền vững, mà lại là tấm bình phong, là cơ hội vàng cho giới chức quan liêu, tiêu cực, tham nhũng, vô cảm đi đêm với chủ dự án tước đoạt tàn bạo nhà ở, trang trại, ruộng đất – tư liệu sản xuất và là nguồn sống duy nhất của hàng chục triệu hộ nông dân trong một quốc gia đất hẹp, dân đông, nông nghiệp chiếm tỷ lệ quan trọng trong nền kinh tế”. (BYS).

Ban đầu, cán bộ VC còn lập dự án, thông qua dự án và tiến hành các thủ tục tối thiểu theo lối biểu diễn. Càng về sau, những vấn đề thủ tục càng bị bỏ qua. Bọn cướp ngày không cần biểu diễn nữa, trái lại hành xử một cách trắng trợn. Rất nhiều nơi, thu hồi đất xong, những chủ dự án (toàn đảng viên, cán bộ, thân tộc trong các nhóm lợi ích) xây dựng hạ tầng qua loa như đường đi, hệ thống nước, hệ thống điện... rồi ngang nhiên phân lô bán nền. Khốn nạn nhất là có địa phương, các hộ dân bị thu hồi đất có thể mua ngay lại đất của nhà mình với giá cao gấp nhiều lần giá nhà nước đền bù cho họ. Ví dụ, ở phường Dương Nội, quận Hà Đồng, Hà Nội, nhà cầm quyền thu hồi đất với giá 201.600 đồng/1m2 có thể bán ngay cho chủ nhà với giá 35 triệu đồng/1m2. Có thể tưởng tượng được không? Ai phản đối thì a-lê hấp, tống vào ngục như thủ lãnh nông dân Cấn Thị Thêu hoặc đánh cho tàn hại như cựu chiến binh Lê Đình Kình. Thảm cảnh của hàng triệu oan dân trên khắp cả nước đã và đang diễn ra từng ngày. Sự phản kháng của người dân cũng nổ bùng khắp mọi chốn, từ nông dân Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng đến chủ hộ Đặng Ngọc Viết ở Thái Bình, từ nông dân Dương Nội - Hà Đông, Văn Giang - Hưng Yên đến nông dân Yên Phong - Bắc Ninh, nông trường Phạm Văn Hai ở Bình Chánh - Sài Gòn và mới đây là ở Đồng Tâm - Mỹ Đức.

Nhiều năm qua, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể đến mức báo động. Ngân hàng Thế giới cho biết (theo BBC ngày 21-04) quỹ đất nông nghiệp ở Việt Nam vào năm 2016 được ước tính chỉ còn 21% tổng số trên 33 triệu hectare và ngày càng giảm thiểu. Một phần là do hoang hóa, khô hạn, nhiễm mặn (như vùng đồng bằng sông Cửu Long, mà từ 20 năm qua, Hà Nội chẳng hề có chính sách đối phó, khắc phục). Một phần do đám vua tập thể ở trung ương và đám lãnh chúa ở địa phương cũng như nhiều đơn vị quân đội - do lòng tham vô đáy và thói bất chấp an ninh lương thực lẫn kiếp nạn đồng bào - dùng bạo lực “thu hồi” cách tùy tiện để lấy đất cho sân golf, khu du lịch sinh thái, khu kinh tế công nghiệp, dự án kinh doanh bất động sản… mà có nơi thực hiện, có nơi lại biến thành những khu quy hoạch treo, những dự án bỏ hoang, đình đốn… cỏ mọc hoang tàn.

Kết luận, BYS đòi hỏi “1- Khẩn cấp cải cách chính sách đất đai. Công nhận và bảo hộ quyền tư hữu đất đai, nhà ở như mọi tài sản, tư liệu sản xuất - sinh hoạt khác. 2- Việc lấy đất để xây dựng các cơ sở an ninh, quốc phòng, hạ tầng công cộng quan trọng, phải bồi thường đúng giá trị. Mọi tranh chấp, nếu không thỏa hiệp được, phải giải quyết bởi giám định độc lập, tòa án. 3- Các dự án vì mục đích sinh lợi của bất kỳ doanh nghiệp trong hay ngoài nước, thuộc mọi thành phần, đều phải thỏa thuận với người dân có đất. 4- Các dự án kinh tế xã hội vì lợi ích công cộng như trường học, bệnh viện, chợ, công viên, truyền tải điện, nước… phải thiết thực, cân nhắc lợi ích mang lại có đủ lớn hơn mức bù thỏa đáng cho dân phải di dời? Phải công khai minh bạch và được đa số dân đồng thuận. 5- Thu hồi khẩn trương đất đã giao cho các dự án quá thời hạn ấn định, chưa hoặc chậm triển khai, bỏ hoang hóa. 6- Nghiêm cấm các lực lượng vũ trang nhân dân tham gia thu hồi đất. 7- Xử lý nghiêm minh công chức vi phạm chính sách đất đai”.

Áp dụng vào vụ Đồng Tâm – Mỹ Đức, nhà cầm quyền Hà Nội trong thời gian tới có thể giải quyết bằng hai cách: một là dùng bạo lực và âm mưu để khử trừ dần những đầu lĩnh chống đối tại đó. Tờ giấy ký tay của Nguyễn Đức Chung chẳng có gì bảo đảm; công văn có dấu đỏ còn bị VC chà đạp nữa là! Khử trừ dần bằng cách đưa ra tòa với những lý cớ vu vơ hoặc âm thầm thủ tiêu không để lại dấu vết, rồi nhờ đám văn nô và dư luận viên chạy tội trước công luận. (Câu chuyện làng Nhô, tức làng Lạc Nhuế, xã Đồng Hóa, huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam, thập niên 90 của thế kỷ trước là một tấm gương điển hình. Nông dân tại đó cùng với thủ lĩnh của họ là nguyên giáo sư đại học Trịnh Văn Khải cũng đã nổi lên giành lại đất đai từ bọn tham quan, thập chí lập ra đội tự quản, nhưng cuối cùng họ đã bị nhà cầm quyền đàn áp trong máu và nước mắt, với những bản án tử hình, âm mưu giết trong tù và gây tai nạn cho chết, sau đó VC dùng những tên văn nô “bán linh hồn cho quỷ” xuyên tạc sự thật qua tác phẩm “Kẻ ám sát cánh đồng” và kịch bản “Chuyện Làng Nhô”). Hai là thí cho dân Đồng Tâm một số hecta đất gọi là nhưng giữ lại phần lớn cho công ty viễn thông quân đội Viettel - với danh nghĩa rất cao đẹp và chính đáng là đất quốc phòng– song là để kinh doanh rồi chia chác cho cả chủ tịch UBND thành phố Hà Nội lẫn bộ trưởng Thông tin-Truyền thông vì cả hai đều có mối quan hệ làm ăn với đế chế kinh tế hùng mạnh này. Gọi là đế chế vì Viettel hiện là tập đoàn viễn thông đồ sộ nhất, có Viện Nghiên cứu Phát triển Viettel, Học viện Viettel, Công ty Bất động sản Viettel, Trung tâm Thể thao Viettel, Công ty Truyền hình Viettel, Công ty Mạng lưới Viettel… Nó đã từng lấy thế của Đảng và quân đội, lấy danh nghĩa bịp "quốc phòng" để dẫm chân, lấn át, bóp chết ngành Bưu điện và ngành Viễn thông vốn do chính phủ quản lý.

Cách tháo ngòi nổ như thế (nếu may ra Nguyễn Đức Chung theo phương án hai) tại Đồng Tâm, đó chỉ là giải quyết vấn đề trên ngọn chứ chẳng phải tận gốc. Không sớm thì muộn, những ngòi nổ ở vô vàn nơi khác vẫn còn nguyên vẹn, chờ đến dịp sẽ kích hoạt để làm bùng vỡ cơn phẫn nộ của quần chúng một khi cái khái niệm quái đản, bất công, vô lý và lừa gạt là “sở hữu toàn dân về đất đai” chưa bị bãi bỏ. Ngày nào khuynh hướng tư hữu tự nhiên của con người chưa được hoàn trả cho loại tài sản đặc biệt quan trọng này, thì ngày đó chế độ VC tiếp tục tồn tại trên thùng thuốc nổ, mà hậu quả thì ai cũng có thể tiên đoán được.

Nhưng đám lãnh đạo ở Ba Đình có đủ tỉnh táo để hủy thùng thuốc nổ này chăng? để làm theo những yêu cầu rất chính đáng và hợp lý của BYS trên kia chăng? Thưa e rằng không! Vì tự bản chất toàn trị của chế độ, vì do não trạng thâm căn cố đế, bị nhồi sọ hoàn toàn và lòng tham vô tận của đám lãnh đạo, Cộng sản phải quyết tâm chiếm đoạt mãi mãi vật chất của đất nước (bằng việc đảng hữu hóa tài nguyên, đất đai, mọi tiềm lực kinh tế, tài chánh, thương mãi; bằng việc dùng ngân sách quốc gia cho nhân sự hay hoạt động của đảng; bằng việc vay mượn quốc tế rồi về làm 3 lấy 7 cho đảng, bắt đân trả nợ) bên cạnh việc việc chiếm đoạt mãi mãi tinh thần của nhân dân (bằng việc độc quyền giáo dục, độc quyền thông tin, độc quyền văn hóa, bằng việc biến mọi thực thể tâm linh tinh thần – như tín ngưỡng, tôn giáo, giáo hội – thành công cụ). Có như thế thì đảng mới nắm trọn vẹn quyền lực mãi mãi để an tâm thống trị đám thảo dân và tha hồ hưởng thụ cuộc sống (vì với CS, chết là hết, chẳng có đời sau, chẳng có thưởng phạt, chẳng có Niết Bàn lẫn Thiên Đàng).

Thành thử với kinh nghiệm Đông Âu và Liên Xô, mong chờ đảng VC hồi tâm, cải hóa, phục thiện, trả lại mọi quyền làm dân làm người (tài sản tinh thần) và mọi quyền tư hữu đất đai (tài sản vật chất) thì chỉ là ảo tưởng. Chỉ có một phương pháp hữu hiệu là nhân dân phải nhất tề đứng lên, xuống đường biểu tình đông đảo, kiên trì và rộng khắp trong ôn hòa, và như thế thì cũng đã đủ tạo nên sức mạnh tập thể, uy lực quần chúng để đòi lại những gì mà VC đã cướp của mỗi người và của đất nước từ hơn 70 năm rồi, cụ thể và trước mắt là đòi lại quyền tư hữu đất đai.

Ban Biên Tập

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 266 (01-05-2017)

Cần Thơ bắt giữ 11 sà lan chở hàng ngàn khối cát lậu

Các sà lan chở cát bị công an bắt  giữ. (Hình: Báo Thanh Niên)
CẦN THƠ (NV) – Chín chiếc sà lan chở hàng ngàn khối cát lậu không nguồn gốc, giấy tờ vừa bị Phòng Cảnh sát đường thủy, công an Cần Thơ bắt giữ.
Báo Thanh Niên loan tin, khoảng 5 giờ 30 ngày 1 Tháng Năm, trên tuyến sông Hậu, phường Cái khế, quận Ninh Kiều, Tổ tuần tra Phòng Cảnh sát đường thủy, công an Cần Thơ phát hiện, bắt giữ 9 sà lan chở cát không rõ nguồn gốc, hóa đơn chứng từ.
Tại thời điểm kiểm tra, mỗi sà lan chở từ hàng trăm đến cả ngàn khối cát. Tuy nhiên, các chủ phương tiện và tài công không xuất trình được giấy tờ, chứng từ liên quan đến số cát đang vận chuyển.
Trước đó, vào ngày 30 Tháng Tư, trên tuyến sông Hậu thuộc phường Thới An, quận Ô Môn, lực lượng Cảnh sát đường thủy cũng đã phát hiện và bắt giữ 3 sà lan chở hàng ngàn khối cát khai thác lậu tương tự.
Cũng theo tin Thanh Niên, qua làm việc, các chủ phương tiện và tài công cho biết, nguồn gốc số cát đang vận chuyển là từ các mỏ cát khai thác trên sông Tiền, sông Hậu, thuộc các tỉnh An Giang, Đồng Tháp để cung cấp cho các công trình san lấp, cơ sở vật liệu xây dựng ở các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cà Mau…Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra.(Tr.N)

Đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu phân rã

Mười lăm công rừng dương mà bà Lê Thị Kim Định trồng cách nay 20 năm đã bị biển xóa sạch. (Hình: Thanh Niên)
VIỆT NAM (NV) – Đồng bằng sông Cửu Long đang biến dạng vì sạt lở xảy ra liên tục cả trong sông lẫn ngoài biển. Các chuyên gia cảnh báo khu vực này đang phân rã.
Trong khi An Giang đang khốn đốn vì một số dòng sông sạt lở có thể tước đoạt nơi cư trú và sinh kế của khoảng 20.000 gia đình thì có những ghi nhận cho thấy sạt lở không chỉ xảy ra tại các dòng sông ở An Giang…
Theo một phóng sự vừa được đăng trên tờ Thanh Niên thì sạt lở ở đoạn bờ biển chạy dọc xã Trường Long Hòa, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh dữ dội đến mức khó ngờ.
Cách nay vài năm, những mảnh ruộng trồng dưa của dân chúng địa phương vừa kể cách mép biển khoảng nửa cây số. Muốn ra tới biển, phải băng qua một giồng cát trồng dương (phi lao) và một đoạn bãi bồi. Còn vào lúc này, biển đang ngoạm các ruộng dưa.
Bà Lê Thị Kim Định, một người dân địa phương, bảo với phóng viên của tờ Thanh Niên rằng, 15 công đất mà bà Định nhận để trồng dương (phi lao) hồi 1997 đã bị biển nuốt hết vào tháng 3 năm nay. Mới đây, biển ngoạm mất của gia đình bà chừng 2.000 mét vuông ruộng dưa.
Tờ Thanh Niên cho biết, sạt lở đã xóa sạch cánh rừng dương nằm dọc đoạn bờ biển từ Vàm Láng Nước (xã Trường Long Hòa) tới ấp Chợ (xã Hiệp Thạnh) thuộc thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Sạt lở đã lôi xuống biển nhiều thứ, kể cả nhà cừa, đường sá, cột điện… Chỉ vào một chiếc ghe đánh cá cách bờ hơn một cây số, ông Đoàn Thanh Long, ngụ tại xã Trường Long Hòa, kể rằng, nơi chiếc ghe đang thả lưới là vườn của gia đình ông. Mảnh vườn có diện tích hai héc ta đó đã bị sạt lở xóa sạch mọi vết tích.
Dù đã rất trầm trọng nhưng sạt lở ở thị xã Duyên Hải chưa ngừng, thủy triều ở khu vực này càng ngày càng cao và càng mạnh và dân chúng tuyệt vọng nhìn biển nuốt dần mọi thứ.
Ông Nguyễn Trung Cang, Trưởng phòng Kinh tế thị xã Duyên Hải, tiết lộ, chỉ riêng mùa gió chướng vừa qua, hai xã Trường Long Hòa và Hiệp Thạnh mấ hàng chục héc ta đất. Cả viên chức lẫn dân chúng địa phương đang chờ… “trung ương” chi tiền làm kè giữ đất.
Ba huyên: Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú của tỉnh Bến Tre cũng đang trong tình trạng tương tự như thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Một lão nông tên là Bùi Văn Cầm, cư trú tại cồn Nhàn, xã Bảo Thuận, huyện Ba Tri, bảo với tờ Thanh Niên rằng, chưa năm nào sạt lở lại diễn ra trên diện rộng và nghiêm trọng như hiện nay. Trước kia, mỗi năm biển chỉ xâm thực khoảng 10 mét đến 15 mét, bây giờ, mức độ xâm thực tăng gấp đôi, thậm chí nhiều đoạn bị lở cả 100 mét. Chỉ trong vài năm gần đây, sạt lở đã nuốt hơn 2/5 diện tích cồn Nhàn (diện tích giảm từ 120 héc ta xuống còn chừng 75 héc ta). Còn nếu tính trên phạm vi toàn tỉnh,gần đây, mỗi năm, biển ngoạm mất của Bến Tre khoảng 120 héc ta đất, trong đó có 54 héc ta là rừng bảo vệ bờ biển.
Ông Nguyễn Hữu Thiện, một chuyên gia về sinh thái đồng bằng sông Cửu Long, nhận định, sạt lở bờ biển diễn ra nhanh và mạnh vì “lớp áo giáp” bảo vệ bờ biển khu vực này đang mỏng dần. “Lớp áo giáp” mà ông Thiện đề cập là lượng phù sa từ đồng bằng sông Cửu Long đổ ra biển. Lượng phù sa ấy tạo ra một vùng nước đục, cách bờ chừng 20 cây số. Bởi nặng hơn nước trong, vùng nước đục khiến sóng biển giảm cường độ, hạn chế tác hại.
Ông Thiện cảnh báo, lượng phù sa giảm nhanh và nhiều khiến “lớp áo giáp” mỏng đi, sạt lở gia tăng thì quá trình bồi đắp yếu đi và quá trình tan rã bắt đầu.
Ông Dương Văn Ni, làm việc tại Khoa Môi trường – Tài nguyên thiên nhiên của Đại học Cần Thơ, giải thích thêm, vùng biển tại các cửa sông ở đồng bằng sông Cửu Long tạo ra những thềm cát, chúng giống như một lớp kè dưới chân khu vực này. Vào mùa lũ, cát được cuốn ra, tích tụ ở các cửa sông. Tới mùa gió chướng sóng biển sẽ tái phân phối cát từ các thềm cát. Do tác động của các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong và việc cho phép khai thác cát quá mức, lượng cát bù đắp giảm dần và sóng biển mạnh hơn nên sạt lở trở thành dữ dội hơn.
Theo kết quả một cuộc khảo sát do Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên, từ 2003 đến 2012, mỗi năm, đồng bằng sông Cửu Long mất khoảng 5 cây số vuông đất do sạt lở. (G.Đ)

Bộ Công an Việt Nam rút lại đề nghị cấm dùng thiết bị lén ghi âm, ghi hình

Một trong những biếm họa đăng trên báo chí Việt Nam chỉ trích ý định cấm dân chúng sử dụng thiết bị ghi âm, ghi hình. (Hình: Tuổi Trẻ)
VIỆT NAM (NV) – Ông Trần Thế Quân, thiếu tướng, Cục phó Cục Pháp chế và Cải cách hành chính tư pháp của Bộ Công an Việt Nam vừa loan báo như thế.
Điều này đồng nghĩa với việc Bộ Công an Việt Nam chuốc thêm một thất bại trong nỗ lực áp đặt ý định của mình lên xã hội và dân chúng Việt Nam.
Tháng trước, Bộ Công an Việt Nam công bố dự thảo một nghị định, nhằm qui định về “điều kiện kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị”.
Theo đó, “chỉ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội được sử dụng thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị phục vụ cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng”.
Dự thảo còn “nghiêm cấm cá nhân sử dụng thiết bị ghi âm, ghi hình nguỵ trang để xâm phạm tới an ninh quốc gia, an toàn xã hội”.
Suốt tháng vừa qua, hai đề nghị ấy của Bộ Công an Việt Nam bị nhiều người, nhiều giới chỉ trích kịch liệt vì vi hiến, vi luật. Rất nhiều người khẳng định, việc “nghiêm cấm cá nhân sử dụng thiết bị ghi âm, ghi hình nguỵ trang” chủ yếu để bảo vệ công an Việt Nam không bị vạch mặt khi nhũng nhiễu, lạm quyền. Đồng thời ý tưởng đó còn nhằm hạn chế hoạt động thu thập chứng cứ, chống tiêu cực của cả dân chúng, báo giới lẫn luật sư.
Làn sóng chỉ trích mạnh mẽ tới mức, ông Lê Đại Hải, Vụ phó Vụ Pháp luật Dân sự – Kinh tế của Bộ Tư pháp Việt Nam, phải lên tiếng cam kết sẽ thẩm định dự thảo nghị định qui định về “điều kiện kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị” của Bộ Công an một cách kỹ lưỡng.
Ông Hải trấn an thêm, bởi Hiến pháp đã hiến định, mọi tổ chức, cá nhân có quyền làm tất cả những gì luật pháp không cấm, thành ra muốn cấm ghi âm, ghi hình thì phải cấm bằng luật. Ông Hải thừa nhận, dự thảo mà Bộ Công an soạn thảo chỉ là một nghị định, quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị theo Luật Đàu tư mới được sửa đổi, do đó cấm đoán như Bộ Công an Việt Nam toan tính là sai trái.
Cuối tuần vừa qua, khi trò chuyện với tờ Tuổi Trẻ, ông Quân chính thức cho biết, Bộ Công an đã thống nhất xóa bỏ hai nội dung bị chỉ trích khỏi dự thảo nghị định qui định về “điều kiện kinh doanh thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị”.
Bộ Tư pháp từng tiết lộ, lúc làm công việc thẩm định trước khi trình Thủ tướng Việt Nam ban hành, cơ quan này đã góp ý, đề nghị Bộ Công an sửa dự thảo vừa kể ba lần nhưng Bộ Công an vẫn cương quyết bảo lưu dự tính cấm các tổ chức, cá nhân không phải công an, quân đội mua bán, sử dụng thiết bị, phần mềm ngụy trang dùng để ghi âm, ghi hình, định vị. (G.Đ)

Bắc Kinh lại ngang ngược áp đặt lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông

Một tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam bị tàu tuần Trung Quốc tấn công ở ngư trường Hoàng Sa. (Hình: Người Lao Đông)
BẮC KINH 1-5 (NV) – Trung Quốc bắt đầu lệnh cấm đánh cá dài nhất từ trước đến nay trên Biển Đông bất chấp các lời phản đối của nhà cầm quyền Hà Nội.
Năm nay, theo Tân Hoa Xã, lệnh cấm của Trung Quốc cấm đánh cá trên khu vực Biển Đông mà họ ngang ngược áp đặt từ ngày 1/5/2017 đến ngày 16/8/2017. Những năm trước, lệnh này kéo dài từ ngày 1/5 đến 1/8. Lệnh cấm của Trung Quốc kéo dài từ 12 độ vĩ độ Bắc đến khu vực biển giữa tỉnh Phúc Kiến và tỉnh Quảng Đông, bao gồm cả khu vực một phần vịnh Bắc Bộ, quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và bãi cạn Scarborough mà Phi Luật Tân cũng tuyên bố chủ quyền..
Tân Hoa Xã thuật tin từ Bộ Nông Nghiệp Trung Quốc cấm cả tàu của ngư dân Trung Quốc cũng như tàu của ngư dân các nước khác dù các khu vực họ cấm chồng lấn với chủ quyền của các nước khác. Họ từng đe dọa tăng cường hoạt động tuần tra giám sát để thi hành lệnh cấm.
Mỗi khi Bắc Kinh loan báo lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông, Hà Nội đều lên tiếng phản đối, lập lại lời tuyên bố chủ quyền biển đảo “có những bằng chứng lịch sử không thể tranh cãi” nhưng Bắc Kinh lờ đi, coi như không có.
“Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như các quyền hợp pháp đối với các vùng biển của Việt Nam được xác định phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982”. Ngày 27/2/2017, khi Trung Quốc vừa loan báo lệnh cấm đánh cá cho năm nay, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Hà Nội đã đọc lại bản tuyên bố giống như những năm trước.
Từ tháng Tư năm ngoái đến nay, ngư dân Việt Nam đã thừa khốn đốn vì nhà máy gang thép Formosa thải hóa chất độc hại ra biển, cá tôm chết dạt trắng bờ. Nay lại còn bị ảnh hưởng bởi cái lệnh cấm của Bắc Kinh.
Ngư dân một số tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng bởi vùng biển hoạt động quen thuộc của mình bị Formosa đầu độc, mất cơ hội kiếm sống lại còn bị nhà cầm quyền ăn chặn tiền bồi thường, đã biểu tình rất nhiều lần chống nhà cầm quyền và đòi đuổi “Formosa cút khỏi Việt Nam”.
Theo các ước lượng quốc tế, sản lượng cá phong phú của vùng Biển Đông chiếm đến 12% của sản lượng thủy sản toàn thế giới, trị giá ước lượng khoảng 22 tỉ đô la.
Một bản nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc cho thấy dân vùng Đông Nam Á và Trung Quốc tiêu thụ trung bình 24 kg cá mỗi năm. Tuy nhiên, tùy theo nước và khu vực mà ăn nhiều ít, thí dụ, dân Cambodia ăn đến 63 kg mỗi năm trong khi người Trung Quốc chỉ ăn chưa đầy 10kg.
Với một bờ biển dài và hàng trăm ngàn ngư dân sống dựa vào biển, người Việt Nam cũng thuộc loại tiêu thụ số lượng lớn thủy sản hàng năm. Không những vậy, Việt Nam cũng xuất cảng một lượng thủy sản khá lớn ra nước ngoài, năm 2016 đạt khoảng 8 tỉ USD. (T.N)

Cá chết nổi trắng Khe Đá Mài

Cá chết nổi trắng Khe Đá Mài
Bản tin đăng trên tờ báo điện tử nhà nước cho biết, trong vài ngày qua, nhiều người dân sống dọc khu vực khe Đá Mài (xã Đại Thắng, huyện Đại Lộc, Quảng Nam), đang hết sức lo lắng khi nguồn nước bất ngờ bị đen ngòm, bốc mùi hôi thối khiến cá chết hàng loạt.
Nhiều khu vực cá chết, trôi dạt vào bờ tạo thành những mảng lớn. Không chỉ có cá nhỏ, nhiều loại cá có trọng lượng gần 1kg cũng bị chết và đang trong quá trình phân hủy, mà chưa rõ nguyên nhân. Hiện tượng này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, sinh hoạt của người dân địa phương và cũng gây lo ngại khi nước khe chảy ra sông Thu Bồn xuống vùng hạ lưu.
Theo nhận định ban đầu của người dân, việc nước Khe Mài đen ngòm dẫn đến cá chết hàng loạt có thể liên quan đến hoạt động xả chất thải của các nhà máy cách đó hơn 10km, nơi đầu nguồn khe nước.
Được biết, thôn Xuân Nam có 197 gia đình với 609 miệng ăn, phần lớn người dân sống dọc theo khe nước Đá Mài. Lo sợ nguồn nước bị ô nhiễm, bà con đã chuyển sang mua nước bình sử dụng. Tính đến nay chưa có một kết luận nào từ phía cơ quan chức năng về hiện tượng này.
Tường Thắng / SBTN

Biểu tình chống Formosa và bè lũ tiếp tay để tưởng niệm quốc hận 30/4

Biểu tình chống Formosa và bè lũ tiếp tay để tưởng niệm quốc hận 30/4
Ngày 30/4 cách đây 42 năm, lịch sử dân tộc Việt Nam bước “sang trang mới”, nhưng với một hậu quả tang thương vẫn chưa phai trong lòng người dân Việt Nam. 42 năm sau, để kỷ niệm ngày này, hàng ngàn người giáo dân Nghệ An đã xuống đường biểu tình, để đồng cảm với bao nhiêu triệu con người vẫn đang quằn mình gánh chịu nỗi đau của dân tộc.
Khoảng 600 người dân xứ Phú Yên đã tuần hành trên tỉnh lộ 37, để tưởng niệm những người đã tử nạn trong cuộc nội chiến Bắc – Nam và trong biến cố cộng sản Bắc Việt chiếm trọn miền Nam. Đặc biệt là họ đòi trục xuất Formosa và bè lũ tiếp tay ra khỏi Việt Nam vào chiều ngày 30/4/2017.
Linh mục Đặng Hữu Nam đã dẫn đầu giờ cầu nguyện những anh linh của hồn thiêng sông núi. Sau đó người dân tuần tự đi ra đường biểu tình với nhiều băng rôn biểu ngữ như: “khởi tố Formosa và bọn tiếp tay”, “đảng cần tiền – nhân dân cần biển sạch”, “sự thật sẽ giải phóng chúng ta”, “30/4 ngày mà dân tộc Việt Nam mất tự do, ngày mà người dân Việt Nam không có quyền làm người, ngày đã làm đất nước tan hoang, ngày đã đưa đất nước lạc hậu nghèo đói”, “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”… xuống đường tuần hành.
Biến cố 30/4/1975 gây ra nhiều phản ứng trái chiều trong dân chúng từ hàng chục năm nay. Và ngày nay, thế hệ trẻ đang dần thức tỉnh và xét lại về tính chính nghĩa của việc cộng sản cưỡng chiếm miền Nam. Trong phần giảng lễ, Linh mục Anton Đặng Hữu Nam đã chia sẻ cho người dân được biết về ý nghĩa cuộc chiến tranh “thống nhất đất nước”. Đó là một cuộc chiến tranh phi nhân, phi lý, là một cuộc chiến “huynh đệ tương tàn, nhồi da nấu thịt”. Ngài cũng đã kể về những biến cố đau thương sau ngày 30/4/1975 mà người dân miền nam Việt Nam đã phải gánh chịu, nhiều người đã mất vợ con, nhà cửa, phải tha hương cầu thực, phải bỏ mạng trên biển cả để tìm chân trời tự do.“…Chúng ta làm sao mà vui chơi được, khi sau 42 năm, người Việt chúng ta vẫn tiếp tục trốn thoát khỏi “thiên đường xã hội chủ nghĩa” như từng đã liều mình vượt biên vượt biển sau khi cộng sản chiếm được miền Nam. Từ ngày 30/4/1975 dân tộc chúng ta mất quyền làm người, mất tất cả. Chúng tôi tưởng niệm ngày 30/4 để nhìn lại và xoa dịu vết thương chưa bao giờ lành đó trong tâm khảm của hàng triệu con người”, linh mục Đặng Hữu Nam chia sẻ.
Quá khứ đã vậy, mà thực tế hiện tại lại là thảm họa Formosa. Một bà trong giáo xứ nói: “…Các cán bộ xã năm nào cũng vận động bà con tổ chức vui chơi nhân dịp lễ này, năm nay thì người dân ở đây cũng thấm thía được những lời mà đảng hứa rồi…Nguyện vọng của chúng tôi là Formosa cút khỏi Việt Nam, bồi thường cho những thiệt hại mà gia đình chúng tôi chịu, và nhà nước phải xin lỗi vì đã vu khống nhục mạ các linh mục nhất là cha xứ của chúng tôi trên truyền hình…”.
Sau cuộc tuần hành, người dân tập trung lại, nghe linh mục Đặng Hữu Nam nhắc lại về biến cố tang thương 30/04, và chỉ ra nguyên nhân đất nước tụt hậu là từ ngày cộng sản chiếm được miền Nam. Và Formosa là một sản phẩm mà mọi người có thể nhìn thấy rõ bản chất của chế độ.
“Formosa cút! cút! cút!”. Tiếng hô lớn vang vọng trong ngày 30/4, như nhắc nhở cho mọi người nhận ra thực tế về những “bánh vẽ” mà cộng sản đã đưa ra trước và sau ngay “giải phóng”.
IMG_2838
Quốc Hiếu & Nguyên Nguyễn/SBTN