Sunday, October 7, 2018

Bị Donald Trump tấn công, Bắc Kinh phải nắm đầu Phú Trọng và khống chế Ba Đình

Vũ Đông Hà (Danlambao) - Cuộc chiến thương mại Mỹ-Tàu là thử thách và cũng là nguy cơ lớn nhất mà Bắc Kinh đối diện kể từ khi Đặng Tiểu Bình vực nước Tàu từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu thành siêu cường thứ 2 thế giới. Trong cuộc chiến này, Bắc Kinh cần phải có đồng minh. Và chư hầu quan trọng nhất của Bắc Kinh tại châu Á là nước CHXHCNVN, một quốc gia hơn 90 triệu người, có "núi liền núi - sông liền sông", có quan hệ "răng hở môi lạnh" với đảng chư hầu CSVN đang độc quyền cai trị. 

Trong thành phần chóp bu cai trị của quốc gia chư hầu này, Bắc Kinh đã gầy dựng được một ông vua uy quyền tại chỗ nhưng là bù nhìn ngoan ngoãn của thiên triều phương Bắc, sẵn sàng và hết lòng thi hành nhiệm vụ của một thái thú người bản xứ. Đó là Nguyễn Phú Trọng. 

Ngày 3 tháng 10 năm 2018, chỉ 12 ngày sau khi Trần Đại Quang chết, với sự tiếp tay, hỗ trợ và chống lưng của Bắc Kinh qua các quan thầy Chánh án Chu Cường, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị và Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Triệu Lạc Tế trực tiếp có mặt tại Việt Nam, TBT Nguyễn Phú Trọng đã nhanh chóng nắm được ghế CTN với sự "đồng thuận" của 100% BCHTƯ.

Với  quyền lực "chúa trong của đảng vua ngoài của dân", với vai trò không khác gì một tổng thái thú của thiên triều, Nguyễn Phú Trọng là bề tôi đắc lực giúp Bắc Kinh ngăn chận làn sóng "bỏ Tàu chạy sang Việt" của những công ty ngoại quốc đang hoạt động tại Tàu nếu cuộc chiến thương mại Mỹ-Tàu tiếp tục leo thang. 

Cùng lúc, khi Hoa Kỳ áp thuế cao lên các sản phẩm của Tàu, Bắc Kinh buộc phải xả hàng sang các nước khác, đồng thời tìm mọi cách để thay thế nhiều hàng hoá với nhãn hiệu Made in China bằng nhãn hiệu Made in "chư hầu". Là một quốc gia đông dân, có cùng biên giới, cửa khẩu mở rộng, Mao tệ đã chính thức chạy đầy đường một cách hợp pháp tại 7 tỉnh biên giới, Việt Nam trở thành kẻ tiếp máu quan trọng cho "mẫu quốc" đang bị xuất huyết bởi TT Donald Trump. 

Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Tàu sớm muộn gì rồi cũng phải kết thúc. Kết quả chính xác như thế nào khó mà lường trước, nhưng chắc chắn một điều là thời kỳ vàng son, làm mưa làm gió với cán cân thương mại bất cân đối của Bắc Kinh sẽ trở thành quá khứ và nền kinh tế Tàu cộng sẽ bị sứt mẻ lớn. Bên cạnh những chính sách vực dậy nền kinh tế nội địa, Bắc Kinh buộc phải có kế hoach khai thác dài hạn các "thuộc địa" chư hầu để có thể làm hài lòng 1,4 tỉ bao tử dân Tàu.

Bên cạnh yếu tố kinh tế, cuộc chiến thương mại cũng tạo ra những nguy cơ chính trị cho Tập Cận Bình và tập đoàn cai trị tại Bắc Kinh. Hơn bao giờ hết Tập Cận Bình phải duy trì hình ảnh tự tin của lãnh tụ tối cao, giữ được sự tin tưởng và lòng trung thành của các chư hầu để duy trì ổn định tâm lý chính trị đối với nội bộ đảng cũng như đối với 1,4 tỷ dân Tàu. Bất kỳ một động thái bỏ Tàu theo Mỹ, hay chỉ cần có khuynh hướng đi đôi giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn của chư hầu sẽ có những tác động tâm lý tiêu cực lên "giấc mơ Trung Hoa" mà ông vua Tập đang sử dụng cho tham vọng "bình thiên hạ". 

Do đó, tại Việt Nam, sau khi được thiên triều hỗ trợ tối đa để nắm được vị trí quyền lực số 1 của đảng và của nước, Nguyễn Phú Trọng sẽ cùng với Tập Cận Bình ký kết nhiều văn kiện "hợp tác giữa hai quốc gia" và bằng mọi cách "bán" cho được hình ảnh quan hệ Việt-Trung... đẹp nhất trong lịch sử.

Bắc Kinh sẽ thúc đẩy TBT-CTN Nguyễn Phú Trọng chỉ thị cho quốc hội bù nhìn nhanh chóng thông qua Luật Đặc khu để chính thức đi vào giai đoạn khai thác ba đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc ở quy mô lớn. Khi đã thành "luật" thì CTN Nguyễn Phú Trọng sẽ nhắm mắt, cúi đầu ký nhiều hiệp ước đã được soạn sẵn bởi Bắc Kinh. Bên cạnh đó là "Đặc khu Biển Đông" được che đậy dưới tên gọi "Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045". Đó là "tầm nhìn Việt-Tàu cùng khai thác biển của Việt" mà Vương Nghị đã thay vua Tập ra chiếu chỉ. Tất cả đều nắm trong sách lược ngắn hạn và dài hạn của Bắc Kinh. Ngắn hạn là để cứu vãn nền kinh tế bị suy sụp. Dài hạn là hoàn tất "quy trình" Hán hoá Việt Nam được ký kết vào năm 1990 tại Thành Đô. 

Trong quy trình Hán hóa đó, 7 tỉnh biên giới, các đặc khu VĐ, BVP, PQ sẽ mở rộng ra cả nước và Việt Nam sẽ biến thành một đại đặc khu kinh tế của Tàu, với tiền Tàu luân lưu, với các cơ sở sản xuất đứng tên Việt Nam nhưng vốn lẫn chủ đằng sau là Tàu, với những sản phẩm được xuất khẩu ra thế giới mang nhãn hiệu Made in Vietnam, và với những lợi nhuận sẽ chảy hết vào Bank of China. 

Sẽ có nhiều hảng xưởng bỏ Tàu sang Việt, nhưng không là công ty Đài Loan, Nam Hàn, Pháp, Đức, Mỹ... mà là những công ty Tàu mang tên Việt. Hoa Kỳ dù có biết rõ điều này nhưng cũng sẽ không áp dụng biện pháp gia tăng thuế lên toàn bộ sản phẩm Made in Vietnam. Vì dân Mỹ vẫn muốn mua đồ rẻ. Vì "công cuộc đánh Tàu" đã hoàn tất. Vì thành tích chính trị của TT Trump đã được ghi dấu. 

Tất cả những nhu cầu tiếp máu của Bắc Kinh sẽ được Nguyễn Phú Trọng hết lòng lấy máu của 90 triệu người Việt Nam để đáp ứng và chu toàn "trách nhiệm" như đã cam kết trước khi được sắp xếp ngồi vào ngôi vị Chủ tịch nước. Khi gặp Triệu Lạc Tế vào ngày 27.09.2018, Nguyễn Phú Trọng tuyên bố: "Quan hệ Việt-Trung đang ở vào thời điểm tốt nhất trong lịch sử và những thành tựu mà Trung Quốc đạt được không chỉ mang lại lợi ích cho người dân Trung Quốc, mà còn thúc đẩy sự phát triển của Việt Nam và nâng cao quan hệ song phương."  Đây là thông điệp chính trị và cam kết của Nguyễn Phú Trọng gửi đến Bắc Kinh: (a) Quan hệ Việt-Trung sẽ là quan hệ mà thiên triều hài lòng nhất, hơn hẳn mọi thời điểm trong quá khứ. Và (b) - cũng không kém quan trọng: Sự phát triển của Việt Nam tuỳ thuộc vào thiên triều và nằm trong tay của vua Tập. 

Do đó, với quyền hạn TBT+CTN, Nguyễn Phú Trọng sẽ tiếp tục duy trì, giữ chặt Việt Nam nằm gọn trong quỹ đạo Bắc Kinh và là "đồng minh tin cậy, trung thành nhất" của Tập Cận Bình trong cuộc chiến thương mại đang xảy ra. Cũng từ thái độ chư hầu trung thành và sẵn sàng ăn bám vào "thành tựu Trung Quốc" nên Nguyễn Phú Trọng đã không ngần ngại cử Tô Lâm thực hiện phi vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Đức và áp giải về Hà Nội từ Slovakia - chẳng màn gì đến hệ quả tai hại đối với Hiệp ước Thương mại Tự do Việt-Âu (EVFTA).

Kết luận: Nguyễn Phú Trọng sẽ làm tròn "nghĩa vụ" biến VN thành một quốc gia thần phục Tàu cộng và thù địch với phương Tây. Nghĩa vụ này cũng là "món nợ" mà Nguyễn Phú Trọng phải trả cho Bắc Kinh sau khi nhận đủ "viện trợ" từ Tập Cận Bình để loại trừ đối nghịch, thâu tóm quyền lực và trở thành ông vua con của thiên triều tại An Nam Đô hộ phủ. 

Ông vua con tên Trọng này, thân xác ở Ba Đình nhưng cái đầu đã bị nắm ở Bắc Kinh.

07.10.2018

Lòng dân hay lòng bò?

Tư nghèo (Danlambao) - Sau khi bác Lú coi như được 99% leo lên ghế chủ tịt, mấy đứa đảng biểu cuốc hội lại lăng tăng líu tíu rằng Lú vừa làm tổng vừa làm chủ là hợp lòng dân quá xá. Mợ Lê Thị Thu Hằng của bộ ngại giao leo lên bục khẳng định (tụi này khi nào muốn nói láo là xài ngày 2 chữ khẳng định, hổng đúng tui chết liền!) là "nhất trí giới thiệu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để quốc hội bầu làm Chủ tịch Nước, theo quy định của hiến pháp, nguyện vọng của cử tri và nhân dân"

Tư tui cũng là dân nè! Tui "cực lực phản đối" mấy cha mấy má tự đóng cửa tôn vinh tổng lú lên làm chủ tịt nè. Vậy lòng của Tư tui là lòng gì!? Bộ lòng bò hở!?

Ba cái loa rè, bốn cái miệng nô của đẻng nó dỏm đã đành. Mấy cha nội nhà báo lề dân không ra dân, lề đẻng không ra đẻng, cũng xàng xê, loạng quạng với cái chuyện lòng dân. Mấy đấng chụp đâu vài người dân gọi là đã tiếp xúc, trích vài câu trên phây búc, tổng cộng 8 mạng và sau đó chạy tít - Hợp nhất hai chức danh có đúng theo nguyện vọng của người dân? (!!!)
Má ơi, có 8 mạng, chẳng theo một quy luật về thăm dò ý kiến đại chúng nào mà cứ nói chuyện phải trái cho hơn 90 triệu cái lòng! 

Muốn biết lòng dân ra sao thì từ mợ Hằng cho tới mấy tên đảng biểu cuốc hội và thách luôn tổng bí chủ tịt tổ chức trưng cầu dân ý một cú coi. Còn nếu bảnh nữa thì để Tư tui và 90 triệu đồng bào của tui bỏ phiếu bầu có quốc tế giám sát là biết liền. 

Nói thiệt cái lòng dân nghe: Tụi bây mà hổng dám chơi tới bến như vậy thì chuyện tụi bây làm chỉ hợp với lòng bò. 

Để cái màn thách thức này nó xôm tụ, xin lỗi bà con cho Tư tui dzô lăng béc xả cái rột một câu nữa nghe: Tổ cha đứa nào không dám làm theo điều tui thách! Và nếu hổng dám thì chuyện một đít hai bô của tụi bây chỉ có hợp với lòng Bò, lòng Heo, lòng Chó, lòng... Trọng! 

Xong. Đóng lăng bác. Bi chừ Tư tui kéo quần lên để trịnh trọng "khẳng định" nghiêm chỉnh rằng: Ngày nào còn cái điều 4 hiến pháp, ngày nào cái đám phù thuỷ, âm binh đóng cửa phòng, ôm nhau đi theo đảng và tự quyết định lão nào làm chủ động, mợ nào làm phó động, cu nhỏ  nào làm trưởng phòng xanh, bướm bự nào làm phó phòng hồng... thì làm ơn đừng nhắc tới chuyện lòng dân. Lòng bò còn chưa hợp, lòng lợn cũng hổng ok, lòng dê dê chạy, lòng chó chó chê... nói chi tới lòng người! 

07.10.2018

Những tội ác được thần thánh hóa

Phạm Đình Trọng (Danlambao) - ...Lăng Hồ Chí Minh đưa Hồ Chí Minh lên thành vị thánh của cả nước, dìm cả một dân tộc đau thương thành thần dân của một thế lực thần quyền, thành nô lệ của một ông thánh do tuyên truyền cộng sản thêu dệt lên. Cũng như lăng mả Hồ Chí Minh, lăng mả Trần Đại Quang cùng lăng mả, nhà bảo tàng, nhà tưởng niệm những nhân vật cộng sản hàng đầu khác như Trần Phú, Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh... đều nhằm thần thánh hóa con người cộng sản và tổ chức cộng sản đã gây quá nhiều đau khổ cho dân, đã gây quá nhiều mất mát, nguy hại cho nước...

* 

1. Ngôi mộ nhỏ góc vườn quê của nhà Vua hiển hách và nấm mồ đất giữa rừng vắng của vị Tướng lẫm liệt 

Ngô Quyền dựng cọc Bạch Đằng đánh tan quân Nam Hán năm 938 chấm dứt gần ngàn năm ách nô lệ phương Bắc đè lên thân phận người Việt, trói vào số phận nước Việt. Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 đã dựng lên nền độc lập bền vững cho nhà nước Nam Việt. Ngô Quyền trị vì trên ngôi Vua tuy ngắn ngủi, chỉ có 6 năm nhưng nhà Ngô đã mở ra những triều đại huy hoàng Lý, Trần, Lê, Nguyễn, mỗi triều đại kéo dài hàng trăm năm. Từ đó, cương vực lãnh thổ nước Việt từ Châu Hoan, Châu Ái, từ lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Chu được mở rộng trải dài từ Hà Giang tới Hà Tiên, ra tận Phú Quốc, Thổ Chu về phía Nam và Hoàng Sa, Trường Sa về phía Đông. Vì vậy sử sách Việt Nam gọi Ngô Quyền là “Vua đứng đầu các Vua” của người Việt. 

Ngô Quyền có công với dân với nước Việt lớn như vậy, có vị trí vẻ vang trong trang sử Việt oanh liệt như vậy nhưng khi làm xong sứ mệnh lịch sử lớn lao, khi thanh thản từ giã cuộc đời, vị Vua đứng đầu các Vua Việt Nam lại về yên nghỉ dưới nấm mồ bình dị trong mảnh vườn nhỏ của ông cha trên vùng đất trung du lúp xúp gò đồi xứ Đoài quê nhà. Không chiếm một mẩu đất sống của dân của nước, không xây lăng tẩm bề thế, không bia mộ tầng tầng lớp lớp. 

Sau này dân làng Đường Lâm xứ Đoài quê Vua mới góp công, góp của lâp đền thờ vị Vua đứng đầu các Vua ngay trên nền ngôi nhà Vua sinh ra. Ngôi đền nhỏ bé, khiêm nhường hơn rất nhiều so với những tòa nhà lầu của người nông dân bình thường hôm nay. Không tượng đồng bia đá, không lộng lẫy vàng son, vật quí giá nhất trong đền thờ Ngô Quyền là cọc nhọn Bạch Đằng đã đâm thủng thuyền giặc Nam Hán từ hơn ngàn năm trước, đã đâm gục nền Bắc thuộc kéo dài gần ngàn năm. 

Phía trước đền, cách vài trăm mét trên sườn dốc gò đồi là ngôi mộ Vua Ngô Quyền, bé nhỏ, đơn sơ, dung dị như một ngôi miếu dân dã cũng do dân làng quê Vua lập. Đền thờ Vua liền kề ngõ xóm nhà dân. Mái ngói đền Vua còn thấp hơn mái bằng tòa nhà lầu của người nông dân trong xóm. Mộ Vua kế bên vườn rau, vạt ngô, ruộng lúa của dân. Diện tích cả đền và mộ vị Vua đứng đầu các Vua của người Việt chỉ xấp xỉ một sào Bắc Bộ, ba trăm sáu mươi mét vuông. Ba trăm sáu mươi mét vuông của mái ngói nền nã màu đất trung du, của sân gạch Bát Tràng rêu phong, của đoạn đường lát đá ong vô cùng thân thuộc với đời sống hàng ngày của người dân. Ba trăm sáu mươi mét vuông của màu xanh cỏ cây hòa trong màu xanh mênh mang vô tận của làng quê Việt Nam. Không có gì khác biệt, không có gì ngăn cách với cảnh sắc, với không gian làng quê Việt Nam. 

Không tốn một xu tiền thuế của dân cho việc trông coi đền nhưng suốt hơn ngàn năm qua hương khói không ngày nào tắt trong đền Vua, trước mộ Vua. Suốt hơn ngàn năm qua hồn thiêng Ngô Quyền, khí phách Ngô Quyền vẫn luôn hiện hữu giữa làng quê trung du yên ả. 

Chấm dứt kiếp nô lệ cho dân, kết thúc ngàn năm Bắc thuộc cho nước, để lại cho nước trang sử vàng độc lập, lập lên triều đại phong kiến nhà Ngô rồi vua Ngô Quyền thanh thản trở về gửi xác trong mảnh vườn đồi bình dị quê nhà và gửi hồn trong màu xanh cỏ cây đất nước. 

Không phải chỉ có một ông vua phong kiến Ngô Quyền biết kết thúc cuộc đời của bậc đế vương như một dân thường. Chỉ số chính xác nhất, rõ rệt nhất, ứng nghiệm nhất về sự thịnh suy của một triều đại chính là chỉ số về sự gần dân của bậc cai trị. Bậc cai trị nào cũng từ dân mà ra. Có chức quyền thì thành bậc cai trị nắm vận nước, lo phận dân. Khi sống chăm lo sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc, dân giầu nước mạnh. Cuộc đời gần gũi thân thiết với từng số phận người dân. Khi chết, chức quyền giao lại cho người khác, lại về làm dân, kết thúc đời người lặng lẽ, bình dị như mọi người dân. Những bậc cai trị đó đã tạo ra những thời huy hoàng của đất nước, triều thịnh, nước mạnh, dân an vui. 

Trong lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương đến hôm nay chưa có vị tướng cầm quân nào có chiến công lừng lẫy như Trần Hưng Đạo. Đạo quân Nguyên Mông hùng mạnh đã chinh phạt, khuất phục cả dải lục địa từ Á sang Âu. Suốt 30 năm 1258-1288, ba lần Nguyên Mông cất quân đông tướng tài tràn vào đánh Đại Viêt. Ba lần Trần Hưng Đạo thống lĩnh ba quân nhà Trần đánh giặc Nguyên Mông tan tác, giữ vững nền độc lập của Đại Việt. Vị tướng lẫm liệt, kiệt xuất để lại công lớn cho dân cho nước, viết lên trang sử Việt chói lọi như vậy, khi chết cũng chỉ có nấm mồ nhỏ âm thầm trong cánh rừng làng Vạn Kiếp, bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. 

Ngược lại kẻ cai trị khi sống đã xa dân vời vợi bằng cuộc sống ăn tàn phá hại, cuộc sống giầu sang có được trên sự kiệt quệ của nước, trên sự khốn cùng của dân. Khi sống, bòn rút của nước, cướp bóc của dân. Cả cái chết vẫn còn làm hại nước khi chiếm đất sống của dân xây mả lớn, đền to ở một cõi riêng, tạo ra cả một không gian thần thánh cho cái chết của kẻ cai trị đầy tội ác với dân với nước. 

2. Lăng mộ hoành tráng của ông cò cảnh sát cộng sản 

Cách hôm nay hơn ngàn năm, thời Ngô Quyền, xã hội Việt Nam còn là thời phong kiến sơ khai. Nhà nước cộng sản ngày nay thực chất cũng chỉ là nhà nước phong kiến, chỉ khác là: nhà nước cộng sản không những học đòi tất cả những cái xấu xa, tệ hại của nhà nước phong kiến mà cái tệ hại phong kiến còn được cô đặc, nâng lên rất cao. Còn những nề nếp tốt đẹp của phong kiến thì người cộng sản không thể học được. Tuy có học hàm học vị cao chót vót, giáo sư, tiến sĩ nhưng văn hóa thực sự chỉ là văn hóa bổ túc công nông, đại học chuyên tu, đại học tại chức, nền tảng văn hóa đó không thể thấy và không thể học những giá trị, những khuôn mẫu tốt đẹp của xã hội phong kiến, những người cộng sản cầm quyền mở miệng ra là lên án xã hội phong kiến thối nát, bất công, nguyền rủa giai cấp phong kiến tội lỗi và những người cộng sản luôn vỗ ngực tự nhận là đảng cộng sản của họ không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân. 

Trả lời cho tuyên truyền lừa bịp cộng sản không có gì xác đáng, thuyết phục hơn là hiện thực cuộc sống. Từ cuộc đời hiển hách công trạng để lại cho dân cho nước và cõi trở về trong lòng dân của ông vua phong kiến Ngô Quyền, của vị tướng phong kiến Trần Hưng Đạo đối chiếu với cuộc đời mang nặng nợ máu với dân, cuộc đời chiếm đoạt quá nhiều của dân và cõi trở về ngàn trùng xa cách với dân của ông cộng sản vừa lìa đời, ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang, để thấy sự giả dối ghê tởm của tuyên truyền cộng sản và bản chất phản dân hại nước của người cộng sản. 

Chưa cần xét đến mức độ kệch cỡm về thẩm mỹ, sự vung phí nguồn lực của đất nước, sự lạc lõng với thời đại của lăng mộ lạnh toát màu đá và ngạo nghễ đúng thói kiêu ngạo cộng sản, sừng sững trên cả trăm ngàn mét vuông đất kim cương giữa kinh kỳ của ông Vua cộng sản số một Hồ Chí Minh. Chỉ riêng tiền bảo quản xác ướp ông Hồ mà dân gian gọi là ông Minh Râu và duy trì hoạt động của cả một Bộ tư lệnh lăng, mỗi tháng đã ngốn hàng trăm tỉ tiền thuế của dân. Chỉ lăng mộ của một ông cò cảnh sát cộng sản chiếm hơn sáu mươi ngàn mét vuông đất bờ xôi ruộng mật của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ ngàn đời đói đất cũng thấy sự giả dối, nhẫn tâm và bất lương cộng sản. 

Tuy có hai năm cuối đởi ông cò cảnh sát leo lên đến tột đỉnh quyền lực, Chủ tịch nhà nước cộng sản, nhưng quãng đời hai năm ngắn ngủi đó ông Chủ tịch nhà nước cộng sản đã dành phần lớn thời gian cho những đợt nằm chữa bệnh trong bệnh viện và những chuyến đi tìm kiếm sự cứu rỗi nơi cửa Phật. Sáu lần nằm bệnh viện tận bên Nhật Bản, mỗi lần kéo dài cả tháng. Những lần vào điều trị bệnh viện trong nước còn nhiều hơn. Rồi thời gian tìm đến cửa Phật trong nước, ngoài nước. Đến tận thủ đô Phật giáo thế giới ở Gaya, bang Bihar, heo hút Tây Bắc Ấn Độ, nơi Đức Phật sống những ngày cuối cùng của kiếp người hữu hạn, nơi bắt đầu cuộc sống vĩnh hằng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tìm đến để gục đầu vào bức tường đá ngôi đền Mahabodhi, nơi Phật đi vào bất tử, mong Đức Phật đoái thương. Vì vậy dù có hai năm danh nghĩa là Chủ tịch nhà nước cộng sản nhưng cuộc đời thật sự của ông cộng sản Trần Đại Quang là cuộc đời ông cò cảnh sát cộng sản. Và hơn sáu mươi ngàn mét vuông đất ruộng màu mỡ của dân cho năng suất lúa cao đã về tay ông từ thời ông còn làm cò cảnh sát. 

Ngàn đời đói đất, với người nông dân đồng bằng Bắc Bộ đất là vàng ròng, được tính từng tấc, từng li chứ không thể hào phóng, xa xỉ tính bằng thước, bằng mét và câu cửa miệng của người dân mang nỗi đói đất truyền kiếp là: bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu. Không có đất cày cấy, bố ông cò cảnh sát cộng sản phải mưa nắng lặn sông, lội đầm đơm đó, đánh dậm kiếm con cua con cá, mẹ ông phải buôn thúng bán bưng, đòn gánh đè xuống vai, gánh vã nải chuối, thúng khoai, sản phẩm của đất quê đi chợ xa chợ gần. Vậy mà ngay từ khi còn sống, biết rõ nỗi nghèo khó vì thiếu đất sống của người dân Kim Sơn, Ninh Bình quê ông, ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang cũng nỡ chiếm 6,2 hecta, sáu mươi hai ngàn mét vuông đất ruộng màu mỡ, đất sống của người nông dân đói đất quê ông làm đất chết cho ông, làm khu lăng mộ kì vĩ cho ông về với tổ tiên của ông. 

Thời nhà Nguyễn, dân số cả nước ta chỉ có mười triệu người. Đất rộng, người thưa, các Vua nhà Nguyễn thời phong kiến xấu xa, tồi tệ nhưng khi xây lăng mộ cho Vua còn biết nghĩ đến dân, dành đất sống cho dân. Ngày nay, nhà nước cộng sản Việt Nam đã cắt mười lăm ngàn cây số vuông đất biên giới phía Bắc, bằng diện tích tỉnh Thái Bình, dâng cho Tàu Cộng. Rồi những vùng đất rộng lớn đã trở thành đất sang nhượng cho Tàu Cộng như đất bô xít Tây Nguyên, đất Formosa Vũng Áng, Hà Tĩnh. Những vùng đất đã trở thành đất chết như đất phủ bùn đỏ ở Tân Rai, Lâm Đồng, đất bụi than Vĩnh Tân, Bình Thuận. Diện tích đất sống đang mất đi, đang co lại ngày càng lớn. Trong khi dân số cứ phình ra, đến nay dân số nước ta đã lên tới gần trăm triệu người. Dân số tăng gấp hơn chín lần so với thời triều Nguyễn. Đất sống của người dân vô cùng ít ỏi. Vậy mà một ông cộng sản từ khi chỉ là ông cò cảnh sát đã chiếm sáu mươi hai ngàn mét vuông đất màu của người nông dân đói đất quê ông làm lăng mộ cho mình. 

Khu lăng mộ Vua Khải Định nhà Nguyễn trên núi giữa thiên nhiên hoang sơ cũng chỉ rộng 5.674 mét vuông. Lăng mộ của ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang chiếm 62 000, sáu mươi hai ngàn mét vuông ruộng lúa của dân, rộng gấp 11 lần lăng Khải Định. 

Thuê thầy địa lý vạch kênh tạo dòng chảy, tạo long mạch. Khoanh hồ hứng nước mưa tụ lộc trời. Chỉ riêng việc đào kênh, kè bờ, vét ao, trồng cây cổ thụ, tạo cảnh quan phong thủy cho khu lăng mộ và làm con đường nhựa thênh thang dẫn đến lăng của ông cò cảnh sát cộng sản đã phải đổ ra cả núi tiền, phải tính tới hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng. Nhìn núi tiền đổ ra dựng lên lăng mả ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang lại phải nhớ đến lời khai của ông quan tham nhũng Dương Chí Dũng đã phải chi ra cả triệu đô la tìm kiếm sự che chở của những ông tướng cảnh sát điều tra vụ án Dương Chí Dũng. Lại phải nhớ đến tên tội phạm Phan Văn Anh Vũ núp danh nghĩa công an đã chiếm đoạt của nhà nước hàng ngàn tỉ đồng và bóng dáng tên tội phạm Anh Vũ luôn thấp thoáng, cặp kè phía sau ông cò cảnh sát Trần Đại Quang. 

Hàng ngàn tỉ tiền đổ ra cho lăng mộ ông cò cảnh sát cộng sản trong khi người dân nghèo chỉ mắc bệnh thông thường, dễ chữa như lao phổi. Ngày nay được chữa kịp thời bệnh lao cũng chỉ như bệnh cảm cúm. Biết là bệnh lao nhưng không có tiền mua thuốc, không có tiền viện phí không dám vào bệnh viện. Đến lúc hấp hối đành đánh liều vào bệnh viện thì đã quá muộn vì lá phổi đã bị vi trùng lao khoét ruỗng rồi, không còn thuốc nào cứu được nữa. Chết rồi, không có tiền thuê ô tô đưa xác người chết từ bệnh viện về nhà, người thân đành bó xác chết trong mảnh chiếu rách, buộc xác chết sau xe máy. Manh chiếu hẹp, hai chân xác chết người nghèo thòi ra ngoài chiếu cứ lắt lẻo trên suốt chặng đường dài như đôi chân đó đang cuống cuồng chạy trốn số phận người dân đen trong nhà nước cộng sản. 

Nhà nước cộng sản mua sự trung thành của khẩu súng, của sức mạnh bạo lực bằng ân sủng, bằng biệt đãi, bằng lon tướng ban phát tràn lan cho công an. Thời lạm phát tướng công an thì ông tướng Trần Đại Quang cũng chỉ sàn sàn cá mè một lứa giữa hàng trăm ông tướng công an khác. Vụ nhà nước Dega nổ ra, người dân Ê Đê, Ba Na, Gia Rai Tây Nguyên nổi dậy đòi quyền sống, đòi quyền làm chủ núi rừng ngàn đời của họ là dịp để ông tướng công an Trần Đại Quang lấy máu người dân Ê Đê, Ba Na ghi công với nhà nước cộng sản và bộc lộ lòng trung thành với đảng cộng sản của ông. 

Cả cuộc đời làm cò cảnh sát, làm công cụ bạo lực của nhà nước chuyên chính vô sản, ông cò cảnh sát Trần Đại Quang đã có công rất lớn với nhà nước cộng sản trong việc duy trì nền độc tài cộng sản nhưng lại có tội rất lớn với dân, tước đoạt những giá trị làm người của người dân, trói buộc kìm hãm người dân trong tăm tối nô lệ cộng sản mà nô lệ cộng sản còn độc ác, man rợ hơn cả nô lệ Bắc thuộc và nô lệ Pháp thuộc. Máu dân và thân phận nô lệ của người dân đã đưa ông cò cảnh sát Trần Đại Quang lên tới chức bộ trưởng bộ Công an và lên tới hàm đại tướng. Thời ông cò cảnh sát Trần Đại Quang là Bộ trưởng bộ Công an đã mở ra thời kiêu binh của công an. Công an lạm quyền. Bạo lực công an tràn lan. Hàng trăm người dân lương thiện bị công an đánh chết diễn ra khắp nơi, trên đường phố bình yên, giữa làng quê thanh bình, trong trụ sở công an, trong trại tạm giam. Dân oan bị quan tham cướp đất biểu tình ôn hòa đòi đất, người dân yêu nước biểu tình hợp pháp phản đối giặc Tàu Cộng xâm lược biển đảo đều bị công an vu cho người biểu tình tội gây rối trật tự công cộng, bị đàn áp dã man, bị bắt giam phi pháp. Phụ nữ bị đánh chan hòa máu mặt ngay trên đường phố. Đàn ông bị đánh chấn thương sọ não trong nhà giam. 

Tồn tại bằng công cụ bạo lực nhà nước, nhà nước cộng sản dung túng bao che cho những tội ác tày trời mà đám quân của ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang đã gây nợ máu với dân và những tội ác đó đã đưa ông cò cảnh sát Trần Đại Quang lên tới vị trí người đứng đầu nhà nước cộng sản. Tội ác của ông cò cảnh sát cộng sản Trần Đại Quang đã gây ra cho dân đã được nhà nước cộng sản dung túng bao che nhưng nhân dân dù bao dung vẫn đòi hỏi công bằng. Còn lịch sử luôn sòng phẳng và nghiêm khắc sẽ phán xét đảng cộng sản Việt Nam cùng những lãnh đạo hàng đầu của đảng trong đó có ông cò cảnh sát Trần Đại Quang tội chống lại nhân dân, chống lại dòng chảy tiến hóa của lịch sử, tội giam cầm, tù đày nhân dân trong nô lệ cộng sản. 

Tượng đồng, tượng đá của Lê nin, ông trùm cộng sản thế giới đang bị giật đổ, đập nát ở khắp nơi trên những đất nước đã phải trải qua những năm dài tăm tối cộng sản. Ông cò cảnh sát Trần Đại Quang chồng chất nợ tự do, nợ máu với dân, một tội đồ của lịch sử Việt Nam thì lăng mộ hoành tráng của một tội ác như vậy sẽ tồn tại được bao lâu? 

3. Thần thánh hóa tội ác 

Triều đại nào đến hồi suy vi cũng nảy nòi ra nhiều trò hại dân, hại nước. Chỉ đến triều nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng mới có lệ dồn của cải tài nguyên của nước, vắt mồ hôi nước mắt của dân xây lăng tẩm cho Vua. Dồn dập, hối hả xây lăng tẩm nhưng bảy lăng tẩm bề thế, trùng trùng lớp lớp đền đài của các Vua nhà Nguyễn cũng không chiếm một tấc đất ruộng của dân. Không để dân mất đất sống, các Vua nhà Nguyễn đều chọn những triền núi hoang, không có vườn ruộng của dân, xây lăng mộ. 

Là lăng tẩm Vua nhà Nguyễn nhưng không thấy nhà mồ, chỉ thấy những đền đài mang vẻ đẹp của kiến trúc Phật giáo Việt Nam, mang thẩm mỹ tinh tế và tài hoa sáng tạo của dân gian Việt Nam đã tạo ra công trình hài hòa cùng thiên nhiên Việt Nam. Mái ngói rêu phong cổ kính đền đài thấp thoáng trong màu xanh thiên nhiên, như là một phần tư nhiên của thiên nhiên vĩnh hằng. Không gian trầm tư của lăng tẩm sâu hút trong tiếng rì rầm bất tận của rừng cây. Vẻ đẹp kiến trúc lăng tẩm của các Vua triều Nguyễn tô điểm thêm vẻ đẹp mỹ lệ, huyền ảo cho thiên nhiên đất nước đã trở thành công trình nghệ thuật của muôn đời, trở thành tài sản văn hóa của nhân dân. Đó là sự đền bù cho tài nguyên của nước, cho công sức của dân đã đổ ra để có lăng tẩm các vua nhà Nguyễn. 

Thời cộng sản, lăng mộ Hồ Chí Minh, một nhà mồ đơn độc khổng lồ ngạo nghễ giữa không gian mênh mông kinh kỳ đã nghĩa trang hóa, tha ma hóa cả kinh đô ngàn năm văn hiến. Trần trụi, bê tông hóa cả vùng đất bảng lảng sương khói huyền thoại với chùa Một Cột nhỏ nhắn như một đóa sen, với núi Nùng chỉ là gò đất giữa ngàn xanh bách thảo nhưng lãng đãng hơi sương Hồ Tây như thực, như ảo. Nhà mồ Hồ Chí Minh xám xịt, lạnh ngắt màu đá lạc lõng giữa sắc màu đô thị, lạc lõng giữa thời đại liên tiếp những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đưa con người tới nền văn minh tin học, giải phóng con người khỏi những thế lực thần quyền, con người đã trở thành những siêu nhân làm chủ cả vũ trụ. Lăng Hồ Chí Minh làm sống lại thế lực thần quyền, thần thánh hóa một thế lực chính trị phàm tục, đẫm máu dân và đã hết vai trò lịch sử. Lăng Hồ Chí Minh đưa Hồ Chí Minh lên thành vị thánh của cả nước, dìm cả một dân tộc đau thương thành thần dân của một thế lực thần quyền, thành nô lệ của một ông thánh do tuyên truyền cộng sản thêu dệt lên. 

Cũng như lăng mả Hồ Chí Minh, lăng mả Trần Đại Quang cùng lăng mả, nhà bảo tàng, nhà tưởng niệm những nhân vật cộng sản hàng đầu khác như Trần Phú, Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh... đều nhằm thần thánh hóa con người cộng sản và tổ chức cộng sản đã gây quá nhiều đau khổ cho dân, đã gây quá nhiều mất mát, nguy hại cho nước. Lăng mộ Hồ Chí Minh đưa Hồ Chí Minh lên hàng thánh của cả nước thì lăng mộ Trần Đại Quang sẽ đưa ông cò cảnh sát Trần Đại Quang hai tay ròng ròng máu dân lên hàng thánh của một vùng quê đồng bằng Bắc Bộ. Rồi lăng mộ Đỗ Mười, lăng mộ Nguyễn Đức Bình và lăng mộ nhiều ông thủ lĩnh cộng sản kế tiếp sẽ đưa các ông đó lên hàng thánh ở vùng quê các ông. Từ nay, bầu trời tâm linh của người dân Việt Nam chỉ có các ông thánh cộng sản và đất sống của người dân Việt Nam trở thành đất sa mạc chết với trùng điệp, san sát, hiu hắt những lăng mộ cộng sản. 

Lý tưởng sống của người cộng sản được tô vẽ vô cùng cao đẹp: Người cộng sản không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân! Nhưng con người cộng sản trong cuộc đời thực từ lúc sống đến cả cái chết lại vô cùng thấp hèn. Những người cộng sản đã lấy máu của hàng chục triệu người dân Việt Nam, đã dìm cả dân tộc Việt Nam vào cuộc chém giết suốt gần nửa thế kỷ để làm cuộc cách mạng trừ phong phản đế, diệt trừ phong kiến, đánh đuổi đế quốc giành chính quyền cho người cộng sản. Khi có chính quyền trong tay, những người cộng sản đã thiết lập một nhà nước vừa là thế quyền độc ác, tàn bạo hơn cả chính quyền đế quốc xâm lược, vừa là thần quyền mê muội, tăm tối, ngột ngạt hơn cả thời phong kiến cổ hủ. Cuộc đời và lăng mộ những người lãnh đạo cộng sản đã chứng minh và ghi nhận về một thời bất hạnh của giống nòi Việt Nam và một thời đen tối của lịch sử Việt Nam, thời cộng sản. 

06.10.2018

Vẫn còn dịp cho ông Trọng và các đồng chí thoát, và siêu thoát

Thục Quyên (Danlambao) - ...Liệu cái chết của ông Trần Đại Quang có mở con đường cho ông Trọng và các đồng chí phe của ông thoát khỏi những cái kẹt chính trị hiện tại, và những tiếng kinh kệ của bao tăng ni có mạnh đủ để thức tỉnh họ lúc còn sống phải làm nhanh những hành động thiện để giải nghiệp ác, hầu siêu thoát lúc nhắm mắt?...
 
*

Những người Cộng sản VN đều ghi trong lý lịch họ không có tôn giáo. Thật sự có hay không thì phải quan sát đám tang của họ khi chết được tổ chức theo nghi lễ nào. 

Ngay sau ngày Chủ tịch nước Trần Đại Quang từ trần ngày 21/09/2018, Tổng Giám mục Tổng giáo phận Huế Giuse Nguyễn Chí Linh, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, đã gửi thư đến bà quyền Chủ tịch Đặng thị Ngọc Thịnh chia buồn, và trưa ngày 26/09 Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng đã đề cử Đức Hồng y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội và Đức cha Giuse Nguyễn Năng, Giám mục Giáo phận Phát Diệm, Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, đi cùng Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski, đại diện Toà Thánh không thường trú tại Việt Nam đến viếng thi hài người qúa cố tại Nhà tang lễ số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội, để thay mặt tòa thánh Vatican chia buồn và ghi vào sổ tang Xin Thiên Chúa ban cho ngài an giấc ngàn thu, an ủi gia đình ngài và dân tộc Việt Nam. (1) 

Phía Phật giáo thì một số nhỏ tăng ni và phật tử đã làm lễ tưởng niệm ông Quang tại chùa Quán Sứ ( Hà Nội) chiều ngày 25/09/2018, và ngày 27/09/2018 tại Sài Gòn,vài trăm tăng ni khác đã tụ họp tại Việt Nam Quốc Tự, cử hương tưởng niệm, đồng nhất tâm hiệp lực tụng Tâm kinh Bát-nhã, cầu nguyện Anh linh Chủ tịch nước Trần Đại Quang về cõi an lành. (Theo tin chính thức được đăng trên Facebook (2) của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thành viên Mặt Trận Tổ Quốc) 

Coi như vậy, Đại diện Toà thánh Vatican và đại diện Hội đồng Giám mục VN, hay ông Phó Pháp chủ Hội đồng chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng các chư tăng thì cũng cứ theo nghi lễ tôn giáo của mình để cầu nguyện cho người qúa cố, mà chẳng do gia đình người qúa cố thỉnh cầu. 

Ngược lại, các tăng ni hiện diện tại đám táng để tụng niệm, mới là chứng cớ vững vàng ông Trần đại Quang theo Phật giáo. Số lượng tăng ni đông đảo, chuông thỉnh vang giờ hạ huyệt, lúc lấp huyệt, cho thấy gia đình ông Quang rất mong muốn hương linh ông dựa vào lời kinh tiếng kệ mà thoát khỏi cảnh lang thang vất vưởng, siêu sinh Tịnh độ. Thế nhưng đã theo Phật thì phải biết tác dụng cầu siêu lúc đã lâm chung chỉ có giới hạn nhất định, chỉ là một sức yếu, không phải là sức mạnh chủ yếu. Thời gian chủ yếu để tu thiện, làm thiện là thời gian khi người đang còn sống. 

Chức năng của Tăng Ni là lấy Phật pháp để hóa độ chúng sinh, chứ không phải chuyên đưa ma, cúng đám. Công đức của tụng kinh là nhờ ở lòng tin Phật pháp và tu hành Phật pháp. Cho nên một vị cao tăng của VN, Hoà thượng Thích Thanh Từ đã giảng: Tụng Kinh không phải tụng cho người chết mà tụng cho người sống.... Khi tụng Kinh người sống nghe, thấm nhuần được giáo lý Phật dạy được lợi ích, còn người chết lợi ích không nhiều. Kinh Địa Tạng nói người sống hưởng hai phần ba, người chết chỉ hưởng một phần ba thôi. 

Một cơ hội. Ông Quang chết đi, người sống ở lại có vẻ sắp nối nghiệp Chủ tịch nước của ông là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Dĩ nhiên chuyện ông Trọng tóm thâu cả hai chức vụ thì chẳng đem tới thay đổi khả quan nào cho chế độ chính trị, nhưng với cái thực tế độc đảng chuyên quyền lâu nay thì một tình thế rõ ràng luôn tốt nhất: thay vì chỉ gián tiếp lãnh đạo nhà nước thì người cầm đầu đảng CS, ông Trọng, khi có thêm trong tay quyền lực của Chủ tịch nước, sẽ có cơ hội thực hiện toàn vẹn đường lối của mình, không chịu bất cứ cản trở nào, và đồng thời cũng hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi khuyết điểm, sai trái. Ngắn gọn là dân Việt Nam khỏi mất thời giờ suy đoán những tranh chấp của phe nọ nhóm kia, mà trực diện hẳn với ông Trọng và các đồng chí của ông 

Tụng Kinh là tụng cho người sống 

Liệu cái chết của ông Trần Đại Quang có mở con đường cho ông Trọng và các đồng chí phe của ông thoát khỏi những cái kẹt chính trị hiện tại, và những tiếng kinh kệ của bao tăng ni có mạnh đủ để thức tỉnh họ lúc còn sống phải làm nhanh những hành động thiện để giải nghiệp ác, hầu siêu thoát lúc nhắm mắt? 

Tình trạng khẩn cấp hiện nay là căng thẳng với Cộng Hoà Liên Bang Đức và Slovakia, liên quan đến vụ bắt cóc TX Thanh, và số phận Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA liên quan đến những vụ bắt bớ, vi phạm nhân quyền. Giấc mộng ù lì chờ nước chảy qua cầu, nhà cầm quyền Việt Nam bây giờ chắc đã tỉnh. Hai vấn đề trên chẳng giảm căng với thời gian, mà càng ngày càng "phát độc", lại còn liên quan với nhau vì cùng liên quan đến Liên Minh Âu Châu, nên càng phức tạp. 

Cách giải quyết bây giờ đơn giản hơn vì nằm cả trong tay ông Trọng 

Trước hết mọi bằng chứng chính phủ Cộng Hỏa Liên Bang Đức và chính phủ Slovakia có trong tay liên quan tới vụ bắt cóc TXThanh đều qui vào các tướng CA Tô Lâm, Đường Minh Hưng là thủ phạm. Bộ Công an trực thuộc chính phủ/Thủ tướng chính phủ. Đem những kẻ này ra xử là mở đường giải quyết êm đẹp, và có lẽ chẳng cần phải trả TXThanh về Đức. 

Ngay cả việc thay đổi tình thế để Quốc Hội Liên Minh Châu Âu phê chuẩn Hiệp định EVFTA cũng không đến nỗi ngoài tầm với. 

Ngày 16/09/2018 "VETO! Mạng lưới những Người Bảo Vệ Nhân Quyền" đã gửi thư cùng lập trường chính thức (Position Paper) tới các Dân Biểu Quốc hội EU thuộc mọi đảng phái, đề nghị một số điều kiện nhà nước VN phải hoàn chỉnh trước khi Quốc hội EU phê chuẩn Hiệp định EVFTA. Những cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa VETO! với các dân biểu đã và đang tiến hành chặt chẽ từ đầu tháng 10/2018. 

Ngày 18/09/2018, 32 Dân biểu Quốc Hội Châu Âu đã gửi thư đòi hỏi bà Mogherini, Đại Diện Cấp Cao về Ngoại Giao Liên Âu, và bà Malmström, Ủy Viên Thương Mại Liên Âu, phải thúc đẩy để có tiến triển tốt về tình hình nhân quyền tại Việt Nam trước khi có thể phê chuẩn Hiệp Định Thương Mại Tự Do EU-Việt Nam (EVFTA) và còn nêu ra một số điều kiện quyết liệt hơn, bên cạnh những đề nghị tương tự những đề nghị của VETO!(3). 

Tuy tình thế khó khăn, điểm thuận lợi cho EVFTA là Liên Minh Châu Âu rất lưu tâm đến việc tạo cơ hội thuận tiện để VN có thể đáp ứng được những điều kiện đòi hỏi, nên chỉ cần phía VN tỏ thiện chí và cam kết đứng đắn thì có hy vọng EVFTA được phê chuẩn bởi Nghị viện đương nhiệm. 

Thí dụ về đòi hỏi trả tự do cho tất cả những người bị cầm tù hay bị quản chế tại gia vì thực thi quyền căn bản của họ, VN có thể trả tự do cho những người đang bị quản chế và đổi án tù của những người đang bị cầm tù thành quản chế rồi lần lượt xét giám đốc thẩm những bản án. 

Hoặc về các quy ước của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế thì VN cam kết sẽ phê chuẩn vào một thời điểm sớm nhất có thể, biết rằng EVFTA chỉ đi vào hiệu lực sau sự phê chuẩn này v.v... 

Tóm lại, đây là một cơ hội đổi mới, để thoát những thế kẹt cũ và sửa soạn nay mai nhắm mắt, có thể nhẹ nhàng siêu thoát, cho ông Trọng và các đồng chí của ông. 

06.10.2018


___________________________________________________ 



Nỗi lo của đảng: tính chính danh

Trần Trung Đạo (Danlambao) - Trong một phần tư thế kỷ qua, Mỹ có bốn tổng thống, hai ông Cộng Hòa và hai ông Dân Chủ. Cả bốn ông đều gây nhiều tranh luận. Tuy nhiên, không một ai có thể nói bất cứ ông nào trong số bốn ông đó không phải là tổng thống Mỹ. Cả bốn ông đều lãnh đạo quốc gia trên cơ sở chính danh do hiến pháp 1789 cộng với 27 Tu Chính án quy định. 

Chính danh là điều kiện tối cần thiết để một chính quyền xứng đáng lãnh đạo quốc gia. Đất nước như một con tàu, không phải bao giờ cũng gặp sóng êm biển lặng nhưng tính chính danh giúp cho con tàu vượt qua những giai đoạn sóng to gió lớn.

Kết quả thăm dò của Pew Research Center, một trung tâm thống kê quốc tế và thường được các nhà nghiên cứu hay phân tích sử dụng, cho biết năm 2017 chỉ còn 13 quốc gia, trong đó có Việt Nam, đang sống trong chế độ độc tài chuyên chế, tức một chế độ tuyệt đối không có tính chính danh. (Democracy Has Grown Across The World Over The Past Four Decades, Pew Research Center, December 4, 2017) 

Theo thống kê của Economist Intelligence Unit năm 2017, Việt Nam, Bắc Hàn, Trung Cộng là ba chế độ có chỉ số chính danh thể hiện qua bầu cử là 0.00, tức đảng CSVN hoàn toàn không có chính danh để lãnh đạo Việt Nam. Việt Nam đứng tận cùng bảng số, thấp hơn cả Lào 0.83 và Cuba 1.33. (The Democracy Index compiled by the UK-based company the Economist Intelligence Unit) 

Bắc Hàn không quan tâm đến tính chính danh vì không có một lực lượng đối lập hay phản kháng nào đáng kể nhưng Trung Cộng và CSVN rất sợ tính chính danh. 

Sau 43 năm cai trị Việt Nam bằng khủng bố và tẩy não, Cộng Sản Việt Nam ngày nay như một người mang gần hết các bệnh nan y. Không cần phải là một bác sĩ giỏi mới kê toa thuốc đúng, đơn giản vì bệnh gì cũng đúng và bệnh gì cũng làm đảng sợ. 

Dưới đây là vài căn bệnh tiêu biểu và nổi bật. 

Bệnh tham nhũng. Dưới chế độ CS tham nhũng có tính đảng. Sự tồn tại của tham nhũng gắn liền với sự tồn tại của đảng CS. Trước đây tại Liên Xô, Gorbachev biết điều đó và đã cố gắng để trong sạch hóa xã hội qua hai chính sách cải tổ kinh tế (perestroika) và cởi mở văn hóa chính trị (glasnost). Một câu hỏi đặt ra cho Gorbachev là làm thế nào để vừa thay đổi xã hội một cách căn bản nhưng cùng lúc có thể duy trì chế độ độc đảng? Gorbachev không thể trả lời được và kết quả Liên Sô sụp đổ. 

Bệnh nghiện rượu. Như người viết đã trình bày trong bài “Bệnh Nghiện Rượu Dưới Chế Độ Cộng Sản”, các nghiên cứu cho thấy cơ chế chính trị CS là nguyên nhân tiềm ẩn sâu xa của bệnh nghiện rượu. Giấu cơn giận trong men cay, ngăn nỗi buồn nơi đáy cốc là thái độ tìm quên tiêu cực nhưng rất phổ biến của người dân thường trước những bất công đang đè lên số phận của họ. 

Bệnh ung thư. Mỗi năm Việt Nam có thêm 150 ngàn người mắc bệnh ung thư và dự phóng năm 2020 Việt Nam sẽ có 200,000 người mắc ung thư và trong số đó 94,000 phải chết. Theo tỉ lệ dân số, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về tỉ lệ mắc và chết vì ung thư. 

Nhưng căn b ệnh sẽ dẫn đến sự sụp đổ chế độ không sớm thì muộn đó không phải vì tham nhũng, ung thư hay rượu chè mà là thiếu tính chính danh. Tính chính danh như máu trong cơ thể con người. Thiếu dòng máu luân lưu trái tim sẽ ngừng đập và óc sẽ ngừng hoạt động. 

Đặng Tiểu Bình khi còn sống cũng đã ý thức cây cột duy nhất có thể giữ chế độ CS khỏi sụp đổ là bảo vệ cho được tính chính danh lãnh đạo của đảng CS. 

Để nuôi dưỡng tính chính danh của đảng CSTQ sau khi phong trào CS châu Âu tan rã và nhất là sau biến cố Thiên An Môn, giới cầm quyền Trung Cộng áp dụng hàng loạt chính sách, bao gồm (1) ngu dân bằng cách ngăn chận mọi nguồn thông tin từ thế giới bên ngoài, (2) đun sôi lò lửa ái quốc cực đoan Đại Hán, đồng thời, (3) cố gắng cải thiện mức sống của người dân. Họ Đặng biết, một khi người dân đói khổ hay nhận thức nâng cao họ sẽ dễ dàng nhận ra những lãnh đạo đảng thực chất là những tên ăn cướp. 

Việt Nam cũng thế. Thiếu tính chính danh lãnh đạo là mối lo lớn nhất của đảng. Trong chiến tranh, đảng CS lừa bịp người dân bằng chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”. Khi chủ nghĩa CS trên phạm vi thế giới chưa sụp đổ, đảng lừa bịp người dân bằng lý luận “ba dòng thác”, bằng khẩu hiệu “giai cấp tiên phong”. Tuy nhiên, khuôn mặt văn minh thế giới đã đổi thay và chủ nghĩa CS đã bị nhân loại ném vào sọt rác. Ngày nay chế độ CSVN chỉ còn dựa vào nhà tù, khủng bố và đám nịnh thần để điều hành bộ máy nhà nước. Những bản án nặng nề và bất nhân đảng CS dành cho hàng loạt các bạn trẻ đã lên tiếng phản đối Formosa và luật đặc khu bán nước vừa rồi là một bằng chứng quá rõ ràng. 

Ai bầu ông Nguyễn Phú Trọng là chủ tịch nước? Ai bầu ông Nguyễn Xuân Phúc làm thủ tướng chính phủ? Ai bầu bà Nguyễn Thị Kim Ngân làm chủ tịch quốc hội. 

Ngoài những kẻ tận cùng ngu dốt vì bị tẩy não hay bán rẻ lương tri để làm bồi bút cho đảng, không một người dân có kiến thức chính trị tối thiểu có thể đồng ý giới cầm quyền CS hiện nay có đủ chính danh để lãnh đạo Việt Nam. 

Đảng CS là một đảng cướp, cướp máu xương của tuổi trẻ Việt Nam trong chiến tranh và cướp mồ hôi nước mắt của nhân dân Việt Nam trong hòa bình. 

Tương tự các băng cướp ngân hàng chỉ nghĩ đến chia chác sau mỗi vụ trộm, giới chóp bu CS đang cai trị Việt Nam không hề nghĩ tới tương lai dân tộc. Họ có mắt như mù, có tai như điếc, có miệng nhưng chỉ để ăn. Đất nước đang đứng bên vực thẳm diệt vong không làm sáng mắt họ. Tiếng gầm thét của các chiến đấu cơ Trung Cộng trên các đảo nhân tạo ở Biển Đông không làm thức tỉnh họ. 

Điều kiện văn hóa phương đông, các ngộ nhận lịch sử, nhận thức chính trị của người dân còn thấp đã giúp cho CS Trung Hoa và CS Việt Nam các lý do kéo dài quyền cai trị. Thế nhưng, trong lịch sử nhân loại không có một đảng cướp nào cầm quyền được lâu dài. Một đám mây đen dù lớn, dù dày bao nhiêu cũng không thể che mãi mãi ánh sáng mặt trời sự thật. 

Mối lo âu hàng đầu của đảng CS là tính chính danh. Do đó, tấn công đảng CSVN dựa vào các tệ nạn tham nhũng, suy đồi đạo đức, giáo dục lạc hậu v.v... có thể nhất thời làm cho đảng khó khăn nhưng không sụp đổ. Đảng CSVN chỉ sụp đổ nếu bị tấn công thẳng vào tính chính danh. 

06.10.2018

Tột đỉnh vinh quang hay đáy cùng ô nhục?

Phạm Văn (Danlambao) - Một sự kiện, trong hoàn cảnh bình thường có lẽ được xem là rất lớn lao và rất hệ trọng, đang diễn ra trên đất nước Việt Nam rất đỗi thân thương và đầy tăm tối-đau khổ của chúng ta, đó là việc “nhất thể hóa” - nhập hai chức danh, hai địa vị lớn nhất là Tổng bí thư đảng và Chủ tịch nước, không phải làm một, mà vào một người: Nguyễn Phú Trọng - đương kim Tổng bí thư đảng “cộng sản” ở Việt Nam. 100% các đại biểu dự Hội nghị BCHTƯ 8 đã nhất trí giới thiệu ông Trọng để Quốc hội bù nhìn bầu ông ta vào chức danh Chủ tịch nước. Sau khi nghe tin này, đêm 3 tháng 10 tôi đã không ngủ vì lo nghĩ nhiều về những diễn biến sau đây của nhân dân, đất nước sẽ thế nào. Chắc trong thời gian ngắn nữa Nguyễn Phú Trọng sẽ ở trên tột đỉnh của hệ thống quyền lực. Hẳn ông đang mơ thấy mình đang nói lời “chúc mừng” năm mới 2019 cho toàn thể nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước, “trước hết” là cho các đảng viên của đảng ông, các đại biểu quốc hội, những người đã “bầu” ông.

Nhưng có những kẻ “rất đáng trách-bất trí-bất trị” dường như thiếu hẳn sự tin cậy đối với ông, hoặc thiếu đứng đắn, xấu xa, dám làm cái việc hỗn xược là thọc gậy bánh xe, đã diễn đạt sự kiện này bằng hình ảnh cái đầu con trăn (dĩ nhiên là loại trăn độc, ăn thịt người) có hai đầu, hoặc hình ảnh cái đầu ông Trọng giờ thành hai đầu Tổng-Chủ Trọng, hoặc như một người có một miệng nhưng lại có hai “lỗ mồm”, hoặc rồi vẽ cảnh cái “ngai vàng” của ông, “giống hệt” ông đang ngồi trong lòng-mu một cái giày màu vàng chóe ở chân phải của một kẻ “lạ” đang đi nó v.v... Quả thực, nhân dân gian đầy hiền minh, mà “thật đáng ghét”. Như thế, đủ biết câu trả lời cho câu hỏi được đặt ra ở đây “tột đỉnh vinh quang hay đáy cùng ô nhục?”đi theo hướng nào rồi! 

Bình sinh hay lẽ thường, con người sống trên đời là để thực hiện được những ham muốn, mục tiêu, tức là thành công-vinh quang, vì thế có được những niềm hạnh phúc lớn nhỏ. Ngược lại là điều ô nhục-bất hạnh vốn là những gì người ta không muốn, không ham. Trước hết cũng nên hiểu thế nào là ô nhục. “Ô nhục” là một từ Hán Việt, là sự kết hợp của hai từ Hán Việt khác là “ô” và “nhục”. Ô là ô uế, bê bết, xấu xa, hèn kém, còn nhục là khốn khổ, đau đớn, xấu hổ. Như thế, từ “ô nhục” gói gọn mọi nghĩa chỉ sự xấu xa, kém cỏi của con người. Chúng hoàn toàn phân biệt, đối lập với vinh quang. Tùy theo mức độ, năng lực, theo ham muốn, mục đích và phương cách hoạt động mà người ta rơi vào sự ô nhục, hoặc có được niềm vinh quang khác nhau. 

Việc ông Trọng đã và đang ở đỉnh cao quyền lực, dĩ nhiên đối với đồng đảng, những người đã bầu ngài Tổng-Chủ Trọng và nhất là đối với những kẻ tay sai-bưng bô cho ông hoặc “chân thành” hoặc giả vờ, thì thành công hiện tại cũng như sắp tới của ông là vinh quang, hơn thế tột đỉnh vinh quang. Có lẽ chính bản thân ông cũng thấy như thế, vì ông muốn được “lưu sử xanh”, vì ông nói “thời đại ngày nay là Thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam”, còn vì ông thường nói rất “hồn nhiên” là “dân chủ đến thế là cùng” (sau khi trở thành Tổng bí thư đảng nhiệm kỳ thứ hai), hoặc “nhìn tổng thể, đất nước đã bao giờ như thế này chưa!”, rồi “mình phải như thế nào người ta mới “chửi mình”, xin lỗi, mới mời tiếp mình như thế chứ!” v.v... Nhưng với tôi - một kẻ “bất trí-bất trị”, thậm chí “bất hảo” và những người, nhiều người như tôi và cả rất nhiều người dân khác, thì ông Trọng là kẻ đang ở đáy ô nhục và đang sắp rơi xuống đáy cùng ô nhục. 

Có lẽ chẳng thể kể hết ra ở đây tất cả những gì là ô uế, xấu xa, hèn kém, tội lỗi của ông Tổng và có thể cả Chủ Trọng. Tôi đã nói khá nhiều và rõ trong một số bài viết của mình như “Trò khỉ-đu dây và Tự do” hoặc “Da hàng thịt” Nguyễn Phú Trọng muốn được truyền “sử xanh”” đã được đăng trên Dân Làm Báo và nhiều, rất nhiều người khác cũng đã nói về điều này. Vì thế, ở đây tôi chỉ xin nhấn mạnh một vài điểm, còn để tập trung vào điều là ông “sắp rơi xuống đáy cùng ô nhục” và có thể cả về cái khả năng còn rất nhỏ nhoi, ông có thể tự cứu mình chăng? 

Nhiều người có thể chỉ ra rất dễ dàng cái ô nhục của ông Trọng với nhiều nội dung trong đó có sự tham nhũng rất “khôn khéo” của ông. Tôi không tin, không bao giờ tin rằng trong một chế độ tham nhũng - “tội phạm có tổ chức” mà ông Trọng có thể “đứng ra ngoài” hệ thống tham nhũng-tội phạm ấy, mà lại có thể leo lên đến đỉnh cao quyền lực. Cho đến nay ông và những kẻ đồng đảng với ông không dám trả lời một câu dứt khoát là có hay không có chuyện nhận, thực ra là nhận-hối lộ bức tượng vàng 50 kg của Công ty thép Formosa Hà Tĩnh. Trong thể chế độc tài-toàn trị ông, các ông đã dấu nhẹm điều này và mọi điều xấu xa, nhục nhã khác nữa. Chính ông nêu chủ trương kê khai-công khai tài sản cá nhân lãnh đạo, nhưng rồi lại trí trá rằng điều này khó, vì đụng chạm đến riêng tư của mọi người. Đáng nói là, thể chế-phe cánh của ông, các quan thầy của ông muốn cho ông “trong sạch” để có một kẻ có thể đóng vai kẻ lãnh đạo-tay sai có cái vỏ bọc đạo đức (và cả tài năng). Còn gì lý tưởng hơn, khi một kẻ “minh quân” sẽ trao đất-nước-dân một cách hợp tình-hợp pháp cho “bạn vàng” láng giềng cai quản! 

Nhưng theo tôi cái ô nhục lớn nhất của ông Trọng nằm ở chỗ ông đứng đầu hay là đảng trưởng của một đảng cầm quyền. Đây là cái mà ông Trọng dễ lừa dối nhất đối với đồng đảng và những kẻ ăn theo, nói leo, do đó, nhiều người dân. Sự ô nhục của ông Trọng về mặt này cụ thể là gì? Ông có cả học vị “TS” và học hàm “GS”, cho nên nhiều người trong đảng ông nhìn mà “thèm”, “sợ”, thậm chí cả “ghen ghét”, “căm thù”, mà không làm gì được, vì ông đang đứng trên đầu họ. Nhưng với những cái bùa để trang trí nhiều hơn là hù dọa ấy, đảng trưởng đã có gì, đã làm được gì? Đảng trưởng chỉ là một kẻ giáo điều học thuyết Marx-Lenin và cái gọi là “tư tưởng-đạo đức” Hồ Chí Minh. Nói là theo học thuyết Marx-Lenin, “tư tưởng-đạo đức” Hồ Chí Minh, nhưng ông không nắm được căn bản học thuyết này, nhất là tư tưởng triết học của nó, còn “tư tưởng-đạo đức” Hồ Chí Minh ông ta cũng chỉ nghe người ta nói lại, chứ có nghiên cứu gì đâu. Ông ta cũng có đôi ba “triết lý” lệch lạc, mơ hồ, mê sảng (Xem bài “Da hàng thịt” Nguyễn Phú Trọng muốn được truyền “sử xanh”” trên Dân Làm Báo 15/9/2018). 

Như thế, cái bi kịch, ô nhục của một đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng chính là ở chỗ cầm đầu một đảng, đứng đầu một chế độ, “cả một nhân dân” mà không có tư tưởng, lý luận, thậm chí cả một triết lý làm người bình thường, giản dị thôi cùng không có. Nói chung, ông chỉ có những giáo điều, nghĩa là được dùng trong hoàn cảnh nào cũng đúng. Ông chỉ huy đảng ông, chế độ và cả xã hội theo “nguyên tắc” lấy quá khứ trị vì - điều khiển tương lai, bắt thực tế cuộc sống phải phù hợp với nguyên lý macxit lỗi thời, với “tư tưởng-đạo đức” Hồ Chí Minh không có hoặc mơ hồ, theo “nguyên tắc” chỉ cần sau lời nói, giấc mơ “đẹp” là cuộc sống tốt đẹp sẽ hiện lên. Nhưng mỗi khi thực tiễn đời sống đập thẳng cánh, không thương tiếc vào những giáo điều, những lời lẽ và giấc mơ “đẹp” ấy, thì ông lại trí trá, tráo trở, thậm chí trở nên trơ trẽn và trâng tráo, nghĩa là thành kẻ cơ hội-đu dây điển hình. 

Có người hỏi tôi: “Thái độ của ông đối với bọn tham nhũng (người hỏi ám chỉ bọn Nguyễn Tấn Dũng) như thế nào?” Tôi trả lời: “Tôi khinh bỉ, căm ghét bọn tham nhũng 6-7 thì khinh bỉ, căm ghét bọn lãnh đạo Nguyễn Phú Trọng 9-10!”. Bởi vì, sự thật là con người phân biệt với con vật chỉ từ khi nó có tri thức, ý thức và dựa vào đó, nó biến đổi tự nhiên theo hiểu biết, ý thức của nó, thành thiên nhiên thứ hai, thiên nhiên mang tính người hay thế giới văn hóa. Vậy, hãy hỏi Nguyễn Phú Trọng đã từng là một Bí thư thành ủy Hà Nội, một Chủ tịch quốc hội, gần hai nhiệm kỳ TBT (đảng trưởng) và tới đây còn là Chủ tịch nước, xin hỏi những đảng viên của đảng ông ta, xin hỏi cả người dân: “Ông Trọng tiêu biểu cho những giá trị, tư tưởng nào của con người Việt Nam, dân tộc, nhân dân Việt Nam và hơn thế, cả thế giới văn minh nữa, trên các cương vị, “trách nhiệm” ấy?”. Có lẽ câu hỏi nêu ra để rồi chính người dân tăm tối-đau khổ lại phải trả lời để ý thức rõ hơn nữa về trách nhiệm thiêng liêng đối với dân tộc, đất nước mình mà thôi?! 

Cho nên, thật bất hạnh cho một dân tộc, đất nước khi kẻ đứng đầu, hơn nữa liên quan đến nó là cả một tổ chức, một thể chế là những kẻ đu dây, vô minh, vô pháp, vô đạo, không tiêu biểu cho giá trị-tư tưởng tiến bộ, tích cực nào cả. Vì thế, chính điều này mới là nguyên nhân của mọi sự điêu linh, khốn cùng, nhất là nạn tham nhũng hoành hành phá nát đất nước, là giáo dục - tương lai của đất nước không rõ sẽ là gì, về đâu. Không những thế, thói đu dây này là cơ sở cho Tàu Cộng từng bước thực hiện âm mưu xâm chiếm-đồng hóa đất nước, con người Việt Nam. 

Ở một kẻ đứng đầu một đảng duy nhất ở Việt Nam và về hình thức “đứng đầu” một đất nước với những sự ô nhục như thế thì đã quá nhiều. Nhưng có phải ông Trọng đã rơi xuống đáy cùng ô nhục? 

Từ truyền thống lâu đời của mình nhân dân Việt Nam xem tội bán nước là tội nặng nhất trong các tội. Và tội bán nước này được hiểu là đem “dâng hiến” toàn bộ giang sơn đất nước cho ngoại xâm, là “cõng rắn cắn gà nhà” tức là rước giặc ngoại xâm vào xâm chiếm đất nước. Như thế, có thể xem những kẻ mang trọng tội bán nước này là ở đáy cùng ô nhục. Nhưng trong thực tế hiện nay sự bán nước cũng có thể có những mức độ khác nhau. Sau cuộc biểu tình-xuống đường của nhân dân trong những ngày tháng 6-2018 chống lại “luật đặc khu” và “luật an ninh mạng” nhân dân đã hô vang “đả đảo cộng sản bán nước”, rất nhiều nhà nghiên cứu, những người đấu tranh dân chủ đã khẳng định việc soạn thảo và định thông qua “luật ba đặc khu” là hành vi bán nước. Tôi cũng khẳng định điều này trong bài viết có tên “Sự sùng bái những giá trị vật chất trần trụi và cuộc chiến của Tự do-văn minh chống lại Quái thú-mọi rợ”. Đồng thời, nhiều người còn nói đến “Công hàm của Phạm Văn Đồng về thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam” là một văn kiện bán nước v.v... Hơn thế nữa, có nhiều phần đất của Việt Nam, những vị trí quan trọng có tính chiến lược về kinh tế, chính trị, đặc biệt là về quốc phòng cũng được xem là đã giao-bán cho Tàu Cộng, cả việc lá cờ “sáu ngôi sao” xuất hiện trong cuộc họp quốc hội bù nhìn do các cháu thiếu nhi cầm khi đón Tập Cận Bình đến phát biểu tại cuộc họp. Vậy, những hành vi bán nước “từng phần”, “từng khắc” này có thể xem như hành vi của những kẻ bán nước và cả chế độ bán nước đã rơi đến đáy cùng ô nhục? 

Thế rồi sau những cuộc biểu tình bùng nổ phản đối ý đồ bán nước của chế độ “cộng sản”, trong một buổi nói chuyện với “cử tri” tại hai quận Thanh Xuân và Hà Đông, Nguyễn Phú Trọng đã nói “ai dại gì mà đem dâng đất, giao đất cho người ngoài”. Nhưng lời ông ta vừa dứt thì đã lộ rõ là Vân Đồn đang được thi công bởi Tàu Cộng và thời gian tiếp sau đó là máy bay Tàu Cộng đã đáp thử xuống đường băng tại đây. Vậy là hết trí trá, chối quanh! Có lẽ tôi đã không nghe nhầm, không nhầm thông tin là Nguyễn Phú Trọng và cả mụ Kim Ngân và có lẽ họ thay mặt cả chế độ, đã “kêu lên” như muốn thanh minh-chối tội, rằng “họ đã bị lừa”, đã “sập bẫy” nợ kinh tế của quái thú Tàu Cộng đã giăng ra không chỉ ở Việt Nam mà còn trên khắp thế giới, để gây áp lực thống trị, thu lợi về kinh tế, đặc biệt để bắt phải nhượng-gán đất đai, lãnh thổ, nhất là đối với các nước gần, láng giềng như Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác. Vậy, có phải họ đã bị lừa thật, bởi Tàu Cộng, bởi chính những kẻ trong đảng, chế độ như Phạm Minh Chính và một số kẻ khác, chẳng hạn? Hay họ chỉ mới bị “sập bẫy”? Nếu đúng là như vậy thì ông Trọng và cả đảng, chế độ của ông ta nói chung có lẽ chưa thể nói đã rơi đến đáy cùng ô nhục? 

Dĩ nhiên, ta có thể xem việc “bị lừa” hoặc bị “sập bẫy” là còn ở mức nhẹ trong trọng tội bán nước, nếu đúng là như thế. Nhưng việc bán nước từng phần được đặt vào bối cảnh hiện nay thì chúng chính là những công đoạn, giai đoạn để đi đến bán nước hoàn toàn. Điều này sẽ rõ ràng nếu “Mật ước Thành Đô” và lời nguyên TBT Nguyễn Văn Linh nói, đại ý “biết rằng đi với Mỹ thì mất đảng, đi với Trung Quốc thì mất nước, nhưng thà mất nước còn hơn mất đảng!”, được xác nhận. Song dù chưa có những tin tức thật xác thực, đầy đủ về “Mật ước Thành Đô”, nhưng tôi tin rằng tinh thần của nó là có thực, vì nó vừa là cơ sở, vừa là nội dung của chiến lược “một vành đai một con đường”, của “con đường tơ lụa trên biển Đông” của Tàu Cộng, vì nó có cơ sở là tham vọng xâm chiếm-đồng hóa Việt Nam từ ngàn đời của người Tàu và được tiếp nối một cách đến cùng, hết sức thâm độc-gian manh của Tàu Cộng. Theo đó, những kẻ bán nước từng phần để từng bước bán nước hoàn toàn-toàn phần, là những kẻ đã và đang đi đến đáy cùng ô nhục. 

Vậy, khi nào những kẻ này thực sự rơi xuống cái đáy cùng này? Tôi đã đọc các bài viết của tác giả Vũ Đông Hà trên Dân Làm Báo “Đại họa cho Việt Nam nếu Nguyễn Phú Trọng là Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước” (29/9/2018) và “Đặc khu Biển Đông, Thanh trừng nội bộ, Nhất thể hóa: Nguyễn Phú Trọng bật 3 ngọn đèn xanh trong Hội nghị BCHTƯ 8” và hiểu rằng, sau khi tiếp tục công việc bán nước từng phần nữa là đưa ra quan điểm phát triển kinh tế Biển Đông, có nghĩa là “cùng khai thác ở Biển Đông” theo ý đồ của Tàu Cộng, sẽ là việc ông ta trên cương vị Chủ tịch nước sẽ chính thức “sát nhập” hay trao đất nước Việt Nam cho Tàu Cộng (theo Mật ước Thành Đô) một cách “hoàn toàn hợp pháp”. Như thế, đó là lúc ở đỉnh cao nhất của quyền lực Nguyễn Phú Trọng và cả đảng, chế độ của ông ta cũng đồng thời rơi xuống đáy cùng ô nhục. Và đó là thảm họa, là đại họa thật sự cho dân tộc, đất nước, nhân dân Việt Nam chúng ta. Có lẽ tác giả Vũ Đông Hà muốn cảnh báo trước điều này cho mọi người dân Việt Nam yêu nước thương nòi và tôi cũng muốn góp tiếng nói này cùng với ông. 

Chúng ta làm thế nào có thể thoát khỏi điều này trước khi để nó thành quá muộn? Tôi có một chút hy vọng nhỏ, mong manh vào điều là ông Trọng, tổ chức đảng và chế độ của ông ta vẫn còn đang rơi chứ chưa rơi hẳn xuống đáy cùng ô nhục. Với tất cả những gì đã biết, đã nói, đã viết về ông Nguyễn Phú Trọng, tôi không tin ông có thể trở thành một nhà độc tài theo kiểu Park Chung-hy ở Nam Hàn trong thế kỷ XX đã làm bước trung gian tuyệt vời cho đất nước này chuyển sang chế độ dân chủ, vì ở đây có cái điều căn bản làm cơ sở là chế độ tư hữu, nhưng ở Việt Nam thì hoàn toàn không, vì tư hữu-tư bản ở miền Bắc, nhất là ở miền Nam, chế độ ngu tối-tàn ác-ăn cướp của các ông đã tiêu diệt hoàn toàn, không cho nó có cơ hội trở thành chế độ tư hữu. Tôi càng không mong ông trở thành “bậc minh quân” để thực hiện sự cải cách-phát triển Việt Nam thành chế độ Tự do-Dân chủ. Tôi biết ông có tham vọng này. Nhưng ông hãy nhớ rằng tham vọng khác về căn bản với khát vọng chân chính của con người. Ông đừng nghĩ có thể lợi dụng những người chân chính “phục vụ” ông! 

Tôi chỉ còn mong một điều đơn giản: Ở đỉnh cao quyền lực của mình ông hãy tuyên bố giải tán cái đảng, cái chế độ thổ tả - không linh hồn của mình khi thấy có cơ hội và nếu có thể ông sẽ làm người cầm chịch tạm thời cho sự ra đời của Hiến pháp mới, các đảng phái mới để thành lập chính phủ-nhà nước mới. Hay ông có thể cùng với tổ chức của mình bí mật cử người thay ông làm cái việc cần thiết, hệ trọng nói trên? Nếu được như thế sự nghiệp “đâm lao phải theo lao” hoặc của “chiếc xe đã hỏng máy nhưng đang lao dốc theo quán tính với tốc độ lớn” của ông, vẫn sẽ dừng lại được và kết thúc có hậu. Hy vọng! Niềm hy vọng rất mong manh, rất mỏng như bề dày tư cách đã thể hiện qua câu nói "Bí thư kiêm chủ tịch thì to quá, ai kiểm soát ông?" trước đây của ông Nguyễn Phú Trọng, bây giờ lại là người "to quá" ấy. 

06.09.2018