Tuesday, September 11, 2018

Giáo dục XHCN sẽ tự xóa sổ chế độ

Mai Thanh Truyết (Danlambao) - Ngày 5/9 vừa qua là ngày khai giảng niên học 2018-19 ở Việt Nam. Đã 43 năm kể từ ngày CSBV tiến chiếm miền Nam, thu về một mối dưới ánh “hào quang quang vinh” của đảng, tình trạng giáo dục vẫn không thay đổi, nghĩa là những hình ảnh trong ngày tựu trường ở những vùng xa như thầy trò cùng leo đồi - lội sông - vượt suối như những hình ảnh minh họa dưới đây.

Nhưng mỗi năm, vẫn có những sự kiện mới trong ngày này, đặc biệt trong năm nay có thêm sự kiện mới nữa. Đó là: 

- Hàng năm vẫn phát hành hàng loạt sách giao khoa “mới” đề phân phối (thực ra là bán) tiêu tốn hàng chục ngàn tỷ ngân sách quốc gia, và vỗ béo cho hàng ngàn “cán bộ giáo dục”. Sách mới nhưng nội dung vẫn cũ vẫn còn những lỗi phạm phải mà không hề có sửa chữa; 

- Điểm mới năm nay có thêm bộ tự điển tiếng Việt... lai Tàu của Bùi Hiền; 

- Và loạt sách đánh vần “kiểu mới” (văn minh và khoa học gấp vạn lần kiểu đáng vần cũ!) áp dụng cho lớp 1. 

Đó chính là giáo dục xã hội chủ nghĩa siêu việt! 

Đề tìm hiểu thêm, người viết lần lượt trình bày hai nền giáo dục ở miền Nam trước đây (1955-1975) và hiện tại sau 43 năm dưới sự cai trị của CSVN. 

Lãnh vực giáo dục của hai nền Cộng Hòa ở Miền Nam 

Vào năm 1958, một đại hội giáo dục toàn quốc (từ vĩ tuyến 17 trở vào) đã nghiên cứu và chấp nhận 3 nguyên tắc căn bản định hướng cho nền giáo dục Việt Nam là nhân bản, dân tộc, khai phóng. Và định hướng giao dục này được ghi rõ trong hiến pháp thời bấy giờ. 

a. Nền giáo dục Việt Nam phải là một nền giáo dục nhân bản, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người, lấy chính con người làm cứu cánh, và như vậy nhằm mục đích phát triển toàn diện con người; 

b. Nền giáo dục Việt Nam phải là một nền giáo dục dân tộc, tôn trọng giá trị truyền thống, mật thiết liên quan đến những cảnh huống sinh hoạt như gia đình, nghề nghiệp, đất nước và bảo đảm hữu hiệu cho sự sinh tồn và phát triển của quốc gia; 

c. Nền giáo dục việt Nam phải có tính cách khai phóng, tôn trọng tinh thần khoa học, phát huy tinh thần dân chủ xã hội, thâu thái tinh hoa các nền văn hóa thế giới. 

Đến năm 1970, thêm một nguyên tắc khác được đem vào làm chuẩn cho nền giáo dục Miền Nam. Đó là lấy sự tôn trọng tinh thần khoa học - như các quốc gia tân tiến trên thế giới - làm nền tảng cho mọi sự tiến bộ giáo dục tại Việt Nam. 

Từ đó, giáo dục Miền Nam đã có những bước đi vững chắc trên nền tảng của Nhân bản - Dân tộc - Khai phóng - Khoa học. Đây chính là kim chỉ nam giúp cho nền giáo dục Miền Nam liên tục thăng tiến, nâng cao phẩm chất giáo dục quốc gia, và tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên Miền Nam trở thành những thành viên ưu tú của đất nước trong suốt thời kỳ 1958-1975. 

2. Còn tình trạng giáo dục Bắc Việt & Việt Nam sau ngày 30/4/1975 thì sao? 

Về giáo dục nông thôn trước năm 1975, trình độ trung bình của thanh niên vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long ở lớp tuổi từ 14 đến 25 là lớp 7.5 theo thông kế của UNESCO. Cũng trong thời điểm này, trình độ của lớp tuổi trên ở Đồng Bằng Sông Hồng là 5.5. Hiện tại (2016), tình trạng đã đảo ngược, trình độ ở ĐBSCL là 5.0 và ĐBSH là 7.0

Vì vậy, việc làm cấp bách cho Việt Nam tương lai là phải đặt trọng tâm vào việc kiến thiết lại hệ thống giáo dục miền ĐBSCL, đồng thời với việc cải thiện hệ thống y tế công cộng của vựa lúa rất quan trọng này của cả nước. 

Phải chăng đây là chính sách cào bằng và triệt hạ người dân miền Nam. Các trường học, ngoài việc thiếu thốn phòng ốc và tài liệu học tập (ngoại trừ các sách giáo khoa từ chương một chiều hạn chế tinh thần suy nghĩ độc lập và sáng tạo của học sinh) thậm chí không có nơi cho học sinh tiểu tiện. Học sinh phải nín tiểu, nín tiêu... tạo thành một hiện tượng trường ốc có một không hai trên thế giới? 

- Về nước uống cho học sinh hầu như không được để ý đến, học sinh phải nhịn khát. Nhiều nơi được các nhà thiện nguyện ngoại quốc và người Việt tỵ nạn giúp đỡ các bình lọc nước... nhưng các bình lọc này chỉ hiện diện ở trường học một thời gian ngắn rồi biến mất về nhà của... cán bộ. 

- Hiện tại, nước uống cho học sinh, bàn ghế, phấn viết, và nhiều dịch vụ khác đều nằm trong chi phí mà phụ huynh phải trả trước tri con em được vào lớp. Trong lúc đó, hiến pháp XHCN có ghi rõ ràng là “giáo dục trung tiểu học là cưỡng bách và miễn phí”

Bây giờ nếu nhìn vào xã hội hiện tại, chúng ta có thể hình dung một cách rõ ràng, qua báo chí cộng sản, trên các mạng lưới, hình ảnh thầy gạ dâm trò để nâng điểm cao hay cho biết đề thi, cảnh học sinh lớp 9 dở trò dâm ô với nhau trong khi cô giáo đang giảng dạy trên bảng, và hàng vạn tệ nạn khác xảy ra hàng ngày trên khắp các nẻo đường Việt Nam từ thành thị đến thôn quê. 

Một thí dụ về Trường Nữ Trung học Gia Long trước 1975 và Trường Nguyễn Thị Minh Khai sau 1975: “Nội dung học tập của học sinh hai trường Gia Long và Minh Khai cũng hoàn toàn khác, đặc biệt là trong lĩnh vực lịch sử và luân lý”. Con người xuất thân từ trường Gia Long có khái niệm về dân chủ, về chính thể tam quyền phân lập rõ ràng hơn. Còn học sinh Minh Khai thì coi chính sách độc đảng toàn trị là mô hình cai trị toàn hảo. Vì vậy mà sự hình thành nhân cách và lý tưởng của con người được đào tạo từ hai trường Gia Long và Minh Khai cũng hoàn toàn khác. (Trích Sổ Tay Ký Thiệt kỳ 129). 

Bây giờ hãy thử so sánh từng điểm của nền giáo dục trước năm 1975 với hiện trạng “giáo dục” ngày hôm nay, dưới chế độ CSVN, chúng ta thấy gì? 

a. Nhân bản: Nhân bản thời xã hội chủ nghĩa là tự do đàn áp, tra tấn và “cướp ngày”; 

b. Dân tộc: Dân tộc trong nghĩa Hán tộc đại đồng, chữ Tàu phải nằm trong chương trình giáo dục phổ thông; 

c. Khai phóng: còn có nghĩa là khai thông biên giới và chỉ tiếp cận với một văn minh duy nhất là văn minh của Hán tộc; 

d. Và Khoa học: là khai thác, tận dụng tối đa sức lao động của người dân để cung phụng cho lý tưởng “đại đồng” của chủ nghĩa, tức là toàn đảng cùng giàu cùng hưởng thụ. 

Vậy chính sách giáo dục quốc gia của Miền Nam trước 1975 khác xa HOÀN TOÀN giai đoạn giáo dục của xã hội chủ nghĩa hôm nay về căn bản và kết quả! 

3. Thay lời kết 

Qua những nhận định trên, chúng ta thấy sự khác biệt của hai nền giáo dục đặt trên căn bản xã hội pháp trị và xã hội chủ nghĩa đã đưa “đầu vào” (học sinh) và “đầu ra” (kết quả học tập) như thế nào rồi. 

Vì vậy, bằng bất cứ giá nào mọi người dân Việt trong và ngoài nước cần phải xóa tan cơ chế chuyên chính vô sản của xã nghĩa CSVN hầu mang lại một chính sách giáo dục đúng đán cho các thế hệ Việt về sau. 

Và điều này cần phải hành động cấp bách. 

Và, một Việt Nam DÂN CHỦ PHÁP TRỊ tương lai cần phải có một nền giáo dục đặt nặng vào các mục tiêu sau: 

a. Giúp cho thanh niên thu thập được nền văn hóa phổ thông, đồng thời chuẩn bị cho họ bước vào các ngành chuyên môn ở bậc đại học và kỹ thuật. 

b. Khuyến khích việc học ngoại ngữ, chú trọng đến các sinh hoạt hội đoàn để học sinh quen sống tập thể, có tinh thần tháo vát, biết giúp ích mọi người, đồng thời rèn luyện những đức tính cần thiết cho đời sống thực tế của một công dân tương lai. 

c. Đặc biệt chú ý đến vấn đề sức khỏe của học sinh và phát động phong trào thể dục thể thao toàn quốc, nhằm thực hiện mục tiêu “Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện”. 

d. Và nhất là đề cao môn đạo đức học và công dân giáo dục hầu tạo dựng một tầng lớp thanh niên ưu tú về khoa học, đạo đức, và ý thức công dân để kiến thiết quốc gia. 

Nếu sự áp dụng chính sách quốc gia giáo dục của hai nền Cộng Hòa ở Miền Nam được sáng suốt thi hành, và đặt trọng tâm trên nền tảng Nhân bản - Dân tộc - Khai phóng - Khoa học, thế vào toàn bộ hệ thống giáo dục băng hoại của chế độ hiện hành, thiết tưởng một Việt Nam trong tương lai sẽ thoát khỏi sự thụt lùi trong một vài thập niên hậu Cộng sản. 

(Trích trong sách Giải pháp cho Việt Nam)

11.09.2018

--> -->

Mật ước Thành Đô 1990 trên đường trở thành hiện thực?

Hoàng Tất Thắng (Danlambao) - Treo cờ nước khác trên tổ quốc Việt Nam, hay chính thức xử dụng đồng CNY tại Việt Nam tức xóa bỏ mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế quốc gia, có phải là các hành động gấp rút sau cùng của Hà Nội, nhằm thực thi hoàn tất mật ước Thành Đô, mà bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, thay cho đảng cộng sản Việt Nam lén lút ký kết với Bắc Kinh năm 1990, để đưa tổ quốc Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Hoa vào năm 2020, trong quyết tâm thà mất nước, hơn là mất đảng của bọn chúng. Hỡi nhân dân Việt Nam, chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chờ, trong quyết định sinh tử đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

*

Tháng 8/1989 chính phủ liên hiệp Ba Lan thành lập sau một cuộc bầu cử dân chủ và với ưu thế tuyệt đối thuộc về công đoàn Đoàn Kết Ba Lan.

Tháng 11/1989 bức tường ô nhục Bá Linh sụp đổ, Erich Honecker, tổng bí thư đảng cộng sản và chủ tịch nhà nước Đông Đức bỏ trốn sang Lienxo và sau đó là Chile.

Tháng 12/1989, Nicolae Ceausescu, tổng bí thư và chủ tịch nhà nước cộng sản Romania bị xử tử, đánh dấu sự kiện lần đầu tiên một lãnh đạo cao nhất của một đảng cộng sản toàn trị, bị hành quyết bởi cuộc cách mạng đứng lên lật đổ chế độ cộng sản của người dân.

Trong khi đó tại thành trì vô sản Liên Sô, tổng bí thư đảng cộng sản mới lên cầm quyền là Mikhail Gorbachev vẫn đang phất cao ngọn cờ Glasnost (cởi mở) và Perestroika (tái cấu trúc), lồng trong bối cảnh bị ghẻ lạnh khi tham dự lễ kỷ niệm 40 năm thành lập nhà nước Đông Đức, cũng như bị Lienxo và các nước cộng sản Đông Âu, đang hoảng loạn vì bảo dữ mùa thu cộng sản (Autumn of Nations) đang tới nên đã hoàn toàn dửng dưng, thờ ơ, nói đúng hơn là không đếm xỉa gì đến nỗ lực đưa ra sáng kiến cần triệu tập gấp một hội nghị quốc tế vô sản, nhằm siết chặt hàng ngũ phe xã hội chủ nghĩa trong tháng 10/1989 của đảng cộng sản Việt Nam (1), khiến cho Nguyễn Văn Linh, cũng như toàn đảng cộng sản Việt Nam bị choáng váng và thực sự hoảng sợ trước viễn cảnh phải đối mặt với vết xe đổ dây chuyền như khối cộng sản Đông Âu.

Hà Nội chỉ còn một giải pháp sau cùng là phải bám vào Trung Cộng, bằng mọi cách phải bình thường hóa được quan hệ với Bắc Kinh sau một thời gian mâu thuẫn, xung đột khá dài như chiến tranh biên giới, xâm chiếm Cambodia… mới mong bảo toàn được đảng và mạng sống cho bộ sậu chế độ toàn trị Việt Nam. Luận điểm làm căn bản cho quyết tâm khấu đầu thiên triều Bắc Kinh của bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam là dù có bành trướng như thế nào đi nữa, Trung Cộng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa (?). Lê Đức Anh còn quyết liệt hơn khi đánh giá Hoa Kỳ và Tây Phương muốn nhân cơ hội này để xóa bỏ cộng sản, đang xóa Đông Âu và tuyên bố sẽ xóa cộng sản trên toàn thế giới, rõ ràng đây là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm, nên ta phải tìm đồng minh và đồng minh ở đây là Trung Cộng (2).

Trong tâm thế đầu phục đó, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư đảng cộng sản, Đỗ Mười, chủ tịch hội đồng bộ trưởng và Phạm Văn Đồng, cố vấn trung ương đảng cộng sản Việt Nam, đã sang Thành Đô (Chengdu), thủ phủ của Tứ Xuyên (Sichuan) để hội họp với Giang Trạch Dân, tổng bí thư đảng cộng sản và Lý Bằng, thủ tướng Trung Cộng trong hai ngày 3 và 4/9/1990, với hậu quả thay vì bình thường hóa, đã trở nên phụ thuộc hóa hẳn vào Bắc Kinh (3), hay cụ thể hơn như Nguyễn Cơ Thạch, đương nhiệm bộ trưởng ngoại giao của Hà Nội nói là đã đưa Việt Nam vào một thời kỳ Bắc thuộc mới, thể hiện qua bản mật ước Thành Đô, mà đến nay vẫn bị Hà Nội giấu kín.

Cuối năm 2014, vài hệ thống truyền thông chính thức của Trung Cộng như Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu Thời Báo, thỉnh thoảng tiết lộ một vài tin tức về cuộc họp Thành Đô, trong đó đảng cộng sản Việt Nam đã lộ nguyên hình phản quốc, bán nước, khi cam kết sẵn sàng chấp nhận trở thành một khu tự trị của Trung Cộng như thân phận các dân tộc Mãn, Mông, Tạng, Hồi hiện nay và đảng cộng sản Việt Nam sẽ là một chi bộ hoạt động trong đảng cộng sản Trung Hoa vào năm 2020. Thực hư mức độ khả tín như thế nào chưa rõ, nhưng điểm qua vài "công tác" chuẩn bị của Hà Nội từ đó đến nay, cũng có thể thấy được khoảng cách giữa nguồn tin và thực tế cũng không mấy xa?!

1/ Buông lỏng và tiến tới phối hợp kiểm soát biên giới: Tháng 7/1998, tổng cục du lịch Hà Nội công bố quyết định 229/1998/QĐ-TCDL, nội dung cho du khách Hoa Lục chỉ cần có giấy tờ thông hành của Trung Cộng là được tự do vào mọi nơi trong lãnh thổ Việt Nam, không cần phải có visa, tức mặc nhiên xóa bỏ rào cản biên giới và các biện pháp kiểm soát di trú phía Việt Nam.

Để hợp thức hóa, bộ công an Việt Nam ban hành thêm quyết định 849/2004/QĐ-BCA do thứ trưởng, thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng ký tháng 8/2004, quy định mọi công dân Hoa Lục, đều được quyền xử dụng giấy phép xuất, nhập cảnh của Trung Cộng (tức giấy Peoples Republic of China - Entry and Exit Permit) để được miễn trừ các thủ tục kiểm soát ngoại kiều đi vào Việt Nam, theo ngã đường bộ, đường sắt, đường biển và qua 7 cửa biên giới Móng Cái, Hữu Nghị, Tân Thanh, Thanh Thủy, Tà Lùng, Lào Cay và Ma Lù Thàng.

Tháng 2/2018, Trung Cộng và Việt Cộng khởi sự thực hiện kế hoạch nhập chung sự kiểm soát biên giới của hai lực lượng biên phòng vào một tổ chức. Theo đó, có hai trạm kiểm soát thí điểm được đặt tại cầu Dongxing - Mông Cáy và cầu Hữu Nghị - Đồng Đăng, với lính biên phòng và nhân viên quan thuế hai nước sẽ làm việc chung với nhau (?), trong một khu vực chung sẽ không thuộc về bên nào (?), mà cũng có thể coi như là thuộc về cả hai bên (4), để tương lai chỉ còn một sự kiểm soát chung trên suốt tuyến biên giới dài 1.280km giữa hai nước, che đậy dưới chiêu bài hai quốc gia – một trạm kiểm soát (?). 

Tháng 3/2018 tại Quảng Ninh và đến tháng 9/2018 tại Lạng Sơn, dân chúng Hoa Lục đã có được quyền lái xe lưu thông thẳng qua nội địa Việt Nam. 

2/ Luật đặc khu và di dân ồ ạt: Hiện tượng di dân Trung Cộng tràn vào Việt Nam sau khi có mật ước Thành Đô và dưới vòng kim cô 4 tốt, láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đã phát triển rất mạnh và có số lượng lớn, theo rất nhiều hình thức từ di dân lậu (?), tới các hình thức đầu tư kinh tế công khai, hoặc đầu tư chui thông qua sự cấu kết với giới cầm quyền tại Việt Nam.

Hình thức đầu tư công khai và đưa công nhân di dân lậu vào Việt Nam diễn ra từ năm 1991. Tính đến năm 2009 đã có 657 dự án đầu tư kinh tế trực tiếp của Trung Cộng vào Việt Nam, từ quy mô nhỏ như khách sạn, nhà hàng, tới quy mô lớn các ngành kỹ nghệ chế biến, xây dựng, khai khoáng, khai thác và chế biến nông lâm thủy hải sản, dàn trải từ biên giới, đến vùng duyên hải, từ miền bắc vào miền nam khắp 52 tỉnh, thành trên tổng số 63 tỉnh thành Việt Nam. Nhiều nơi dân Trung Cộng tập trung thành các khu phố biệt lập, cấm dân địa phương và công an cộng sản Việt Nam lai vãng, như ở Quảng Ninh, Hà Tỉnh, Huế, Đà Nẵng, Dak Nông, Bình Thuận, Bình Dương, Trà Vinh và Cà Mau. Đây vừa là những khu kỹ nghệ ôm rác công nghệ kỹ thuật lạc hậu, sát thủ môi trường điển hình của Trung Cộng thải sang, như khai thác Bauxite - Lâm Đồng năm 2007, nhà máy giấy Lee & Man – Hậu Giang 2007, nhà máy thép Formosa 2008, nhà máy phân đạm Cà Mau 2008, trung tâm nhiệt điện than Vĩnh Tân – Bình Thuận 2010, trung tâm nhiệt điện Duyên Hải - Trà Vinh 2016... vừa đồng thời đều là các hang ổ của hàng ngàn, hàng chục ngàn dân nhập cư lậu Trung Cộng ngang nhiên vào cư trú dưới lớp vỏ bọc công nhân kỹ thuật?.

Hình thức đầu tư ngầm, cấu kết với giới cầm quyền Hà Nội, lén lút đưa người vào các khu dân cư riêng tại các vùng biên giới xung yếu, dưới hình thức thuê đất rừng, trồng rừng và khai thác lâm nghiệp dài hạn từ 50 năm trở lên khởi sự từ năm 2000, đến năm 2010 mới lộ ra ánh sáng đôi chút tin tức. Đã có 18 tỉnh cho 10 công ty ngoại quốc thuê gần 4.000km2 đất rừng, trong đó các công ty Trung Cộng đã sở hữu gần 90%, tập trung tại Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Nam, Bình Định, Kontum và Bình Dương.

Đầu thập niên 2010 bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam lại đưa ra “ chủ trương lớn “ xây dựng đặc khu kinh tế, đặt trong khuôn khổ dự luật Đơn vị hành chánh, kinh tế đặc biệt, với ba đặc khu mở đường là Vân Đồn - Quảng Ninh, Bắc Vân Phong – Khánh Hòa và Phú Quốc – Kiên Giang, dự tính cho quốc hội cộng sản biểu quyết vào tháng 6/2018 và trong tinh thần trơ tráo của Nguyễn Thị Kim Ngân, chủ tịch quốc hội, là bộ chính trị đã kết luận rồi, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật đặc khu.

Vấp phải các phản ứng quyết liệt của người dân, chống âm mưu dọn đường cho dân Tàu tràn vào theo “ chiến thuật biển người “, vì Bắc Kinh sẵn sàng trợ cấp 100.000USD cho mỗi gia đình ở Hoa Lục di dân sang các đặc khu như đã áp dụng với đặc khu Boten của Lào và trong mục 4, điều 54 dự luật đặc khu của Hà Nội nói rõ cho phép công dân của nước láng giềng (?) có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh khi xử dụng giấy thông hành hợp lệ nhập cảnh vào đặc khu Vân Đồn với mục đích du lịch, thì sẽ được miễn thị thực visa! Vậy mà Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư của Hà Nội, vẫn có thừa lì lợm và xảo trá khi cho rằng trong dự thảo luật đặc khu không có một câu, một chữ về Trung Cộng nào cả, họ ( người dân) cố tình hiểu sai và đẩy vấn đề lên (biểu tình chống đối rộng khắp Việt Nam) để chia rẽ quan hệ của Hà Nội với Bắc Kinh, khiến hai đảng cộng sản Trung Cộng và Việt Cộng phải tạm thời đình hoãn dự mưu thiết lập đặc khu.

Năm 2017, tổng dân số Việt Nam theo ghi nhận của quỹ dân số Liên Hiệp Quốc UNFPA là 96.019.879 người, chênh lệch gia tăng đến 2.319.879 người so với thống kê của tổng cục dân số Hà Nội. Sai số này khiến giả thuyết cho rằng nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đang tiếp tay với Bắc Kinh, tạo điều kiện thuận lợi cho một số rất đông kiều dân Trung Cộng tự do tràn sang nhập cư lậu, mua đất, mua nhà, lập phố riêng biệt, lấy vợ bản xứ, sinh con đẻ cái để cư trú vĩnh viễn khắp nơi tại Việt Nam là điều xác thực, đang diễn ra, có lúc công khai, có lúc ngấm ngầm mượn tay, núp bóng người Việt không phải là điều vỏ đoán, hay vô căn cứ. Dù con số chính thức lớn hơn đang là bí mật quốc gia của Hà Nội, nhưng rõ ràng với hơn 2 triệu tên lính xung kích Tàu Phù đang cắm dùi từ năm 1991 trên tuyến tiền phương ở Việt Nam, chắc chắn đây sẽ là các con ngựa thành Troia, thuộc đạo quân thứ năm do Bắc Kinh trực tiếp tổ chức, chỉ huy, có sự tiếp tay dung dưỡng đắc lực của cộng sản Hà Nội, để trở thành những nhát dao trí mạng đâm sau lưng người Việt trong một tương lai không xa.

3/ Chính thức cho sử dụng đồng tiền Trung Cộng tại Việt Nam: Ngày 28/8/2018, thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng ký ban hành thông tư 19/2018/TT-NHNN, đại diện cho đảng cộng sản Việt Nam chính thức hóa việc sử dụng đồng tiền của Trung Cộng là đồng nhân dân tệ RMB (Renminbi) hay CNY (Chinese Yuan), gọi tắt là đồng Yuan, để trực tiếp thanh toán trong mọi giao dịch thương mại, hoặc chuyển khoản qua ngân hàng trong phạm vi 7 tỉnh giáp biên với Trung Cộng là Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Lai Châu, Lào Cay, Cao Bằng, Điện Biên, với hiệu lực bắt đầu từ ngày 12/10/2018.

Xổ toẹt lên mọi pháp lệnh ngoại hối, các nghị định, thông tư từng ra rả và hùng hồn quy định trên lãnh thổ Việt Nam mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, ghi giá... của dân bản địa, hay của kiều dân đều không được thực hiện bằng ngoại hối, thông tư 19 rõ ràng chỉ là một kết thúc cho một chuỗi hành vi dọ dẫm, thực hiện thí điểm đã được Bắc Kinh và Hà Nội phối hợp thực hiện trên đầu người dân Việt Nam ngu ngơ, hay man trá núp dưới những chiêu bài hợp tác để phát triển và cũng cố tình hữu nghị từ năm 2004 đến nay.

Năm 2004, thống đốc ngân hàng nhà nước Hà Nội là Lê Đức Thúy ký ban hành quyết định 689/2004/QĐ-NHNN, ngày 7/6/2004, cho phép cư dân vùng biên giới Việt-Hoa, được trao đổi thương mại, mua bán bằng CNY trong giao dịch song phương.

Tháng 11/2014, phòng thương mãi - công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiệp hội doanh nghiệp Trung Cộng tại Việt Nam và ngân hàng công thương Trung Cộng, phối hợp tạo ấn tượng về việc đồng tiền Trung Cộng sẽ được lưu hành tại Việt Nam, thông qua đề nghị cho thanh toán trực tiếp việc kinh doanh tại Việt Nam bằng đồng Yuan của Trung Cộng.

Chưa nói đến các hậu quả nhãn tiền khi lưu hành chính thức đồng CNY tại Việt Nam, như hoàn toàn bị mất khả năng điều động chính sách tiền tệ (không thể phá giá đồng nội tệ VNĐ khi cần thiết) do đã bị đặt vào một hoàn cảnh không khác gì mấy vai trò chư hầu, thuộc quốc, sẽ mất khả năng kiểm soát tiền tệ, do đồng tiền mạnh (CNY) sẽ đuổi đồng tiền yếu (VNĐ) ra khỏi thị trường, hay việc mất tin tưởng vào đồng nội tệ sẽ tạo ra tình trạng mất vốn, rút chạy ngoại tệ (Capital Flight) ra khỏi nước, gây hủy hoại khả năng trả nợ, mất khả năng nhập cảng, đẩy hối suất lên cao và gây ra lạm phát (5), nói một cách nôm na, việc cộng sản cho thanh toán trực tiếp bằng đồng Yuan tại Việt Nam, cũng như thể cho treo cờ Trung Cộng, thay cho cờ chính thức của Việt Cộng ở trên đất Việt Nam (6).

"…Nhân dân tệ hóa trong vùng biên giới phía bắc là một chính sách lớn, không chỉ liên quan đến an ninh tiền tệ mà cả về quốc phòng của Việt Nam, không thể chỉ được quyết định bởi một cấp thấp như thống đốc Lê Minh Hưng, mà phải là ở những cấp rất cao. Phải chăng việc dùng đồng CNY để thanh toán ở các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam là một trong những cam kết, nằm trong các văn kiện mà Nguyễn Phú Trọng đã ký kết với Tập Cận Bình và nhiều khả năng là Tập mới nhắc nhở Trần Quốc Vượng vào tháng 8/2018 để truyền đạt lại cho Trọng phải thực hiện gấp cam kết trên…"(Phạm Chí Dũng, bđd).

Treo cờ nước khác trên tổ quốc Việt Nam, hay chính thức sử dụng đồng CNY tại Việt Nam tức xóa bỏ mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế quốc gia, có phải là các hành động gấp rút sau cùng của Hà Nội, nhằm thực thi hoàn tất mật ước Thành Đô, mà bộ sậu Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, thay cho đảng cộng sản Việt Nam lén lút ký kết với Bắc Kinh năm 1990, để đưa tổ quốc Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung Hoa vào năm 2020, trong quyết tâm thà mất nước, hơn là mất đảng của bọn chúng. Hỡi nhân dân Việt Nam, chúng ta không còn nhiều thời gian để chần chờ, trong quyết định sinh tử đối với vận mệnh tương lai của đất nước.

9/2018.


__________________________________

Chú thích:

(1) Huy Đức – Trương Huy San, Bên thắng cuộc, 2012. 

(2) & (3) Trần Quang Cơ, Hồi ức và Suy nghĩ, 2001. 

(4) Kinling Lo, China and Việt Nam close to landmark deal on streamlined joint border checkpoint : Two countries, one inspection system supports Beijing ambitions to build closer trade and diplomatic links with Asean nations, South China Morning Post, 2/2018.

(5) Vũ Quang Việt, Về đề nghị của phía TQ được dùng Nhân dân tệ trong thanh toán ở nội địa Việt Nam, 2015.

(6) Phạm Chi Lan, Đề xuất thanh toán bằng nhân dân tệ tại Việt Nam: Sao có thể treo cờ nước khác?, 1/2015.

(7) Phạm Chí Dũng, Sáp nhập tiền tệ để tiến tới sáp nhập lãnh thổ, VOA, 6/9/2018. 

Mưa dầm thấm đất

Ng. Dân (Danlambao) - Một lần, tôi gọi về Việt Nam thăm một số bà con anh em, nhân tiện cũng nói về tình hình đất nước. Từ nước ngoài gọi về thăm hỏi là cần biết về đời sống, công cuộc làm ăn nơi quê nhà. Còn trong nước thì cũng muốn biết về tin tức hải ngoại, tình hình thế giới. 

Ở VN thì bây giờ dẫy đầy những lo toan: vất vả, làm ăn khó khăn, đói nghèo, và nhất là luôn khốn đốn dưới một chế độ hà khắc, nhũng lạm. Người Tàu cứ liên tục tràn vào với mọi thứ loại: già, trẻ, sang, hèn... đầu trâu mặt ngựa, đầu trộm đuôi cướp, lộng hành, quá quắc. Nhà nước ta vẫn yên lặng cúi lòn, và CA (hung hản với dân VN) nhưng không bao giờ dám động tới những “khách Tàu” như vậy. Thì thử hỏi đất nước có loạn không?

- Đất nước mất chứ không phải loạn. Một anh nói. 

Một xã hội thác loạn, không chịu lo làm (có việc gì đâu mà làm?). Chỉ biết đàn điếm, cướp giật, ăn chơi nhậu nhẹt, đú đởn... thì thử hỏi đất nước, dân tộc ta sẽ đi về đâu? 

Chiều hướng và hình ảnh của một thảm cảnh mất nước đã thấy rõ: biển đảo không giữ được. Biên giới thì Tàu tự do vào - vào tràn ngập, vào không hạn chế, muốn ở đâu cũng đưọc - chất độc, đồ độc, và thứ gì cũng độc... Và nhất là mới đây văn hóa ngôn ngữ đang bị hủy diệt thay thế dạy loại chữ mới (chữ Tàu và học tiếng Tàu), xài tiền Tàu. Và nhất là những “đặc khu kinh tế” giao cho Tàu, để chuẩn bị giao nước cho giặc (Tàu). Thì như vậy, liệu thế giới bên ngoài, bà con hải ngoại có giúp được gì cho đất nước, dân tộc VN? 

Đó là một số câu hỏi bà con ta muốn biết. Mong được trả lời? 

- Theo như bà con mình trong nước thấy và biết được như vậy, thì có thấy sợ và lo lắm không? 

- Lo thì lo rồi, và sợ thì càng sợ, nhưng có biết làm gì giờ? Người ta nói: tổng bí thư Nguyễn phú Trọng và lãnh đạo mình quá ngu. Đất nước mình không lo giữ, lại đi giao nạp cho Tàu, rước giặc Tàu vào xâm chiếm. Để ăn cái gì, để hưởng cái gì? Nói thử nghe đi? Sao mà cứ lúc nào cũng bưng bít, cũng che đậy, giấu diếm, cũng nói giỏi, nói tài... để đưa dân vào chổ chết? 

Người ta nói đất nước VN mình sắp mất, nhà nước ký giao 3 đặc khu (cho thuê 99 năm) cho Tàu tự do vào là coi như nước mình mất là cái chắc. Dân ta thì hết cách, có chăng là chờ nước ngoài giúp (như Mỹ hay Nhật?). Và nghe đâu hải ngoại đưa quân về cứu lấy quê hương? Theo Sấm, Giảng, Kinh đã nói là vậy? Toàn dân đang ráng chịu đựng, và trông chờ. Ở hải ngoại các anh thấy có đúng không? 

- Cũng có phần đúng, và cũng rất là không. Và sau đây là một vài nhận định, phân tích: 

Dựa vào tình hình, VN sắp mất là thật. Đảng CSVN dâng bán đất nước cho Tàu, khom lưng hàng phục giặc Tàu là thật. Nhưng mà trông vào bên ngoài như trông chờ Mỹ, Nhật (hay thế lực nào đó) đến cứu giúp VN là không. Và bộ phận người VN hải ngoại (với chính phủ lưu vong, với đoàn thể, lực lượng gì gì đó) đi về cứu nước là hoàn toàn không. Mà muốn cứu nước chống giặc (giặc Tàu cộng và CSVN đang cầm quyền) là tự người dân trong nước phải vùng dậy, phải đứng lên, đồng tâm hợp lực lật đổ chế độ, đập tan bọn bán nước. Phải tự vùng lên - dù yếu thế - thì (chắc chắn) bên ngoài (các nước) sẽ giúp, kể cả người Việt hải ngoại. Cái chính là trong nước phải vùng lên. 

- Như vậy thì không thể. Làm sao mà vùng lên được. Ai đâu mà đánh? QĐ, CA, các tướng tá đều của chế độ. Dân mình tay không, có gì đâu mà nổi dậy, mà vùng lên? Rục rịt một cái là côn đồ (CA trá hình) đánh đập. Hở một cái là bắt nhốt, là bỏ tù, là giết chết… Không thể nào làm được. Dân miền Nam mình yếu quá, chỉ có trông chờ ngoài Bắc nổi lên, và miền Nam mình mới dám noi theo. Mà đâu có dựa vào đâu để nổi dậy? 

- Như vậy là đành chịu chờ chết? 

- Đúng vậy, đành cam chịu chết. Tới đâu hay tới đó, phải chấp nhận. 

- Bà con ta có dám biểu tình? Có dám xuống đường không? 

- Không. Chắc chắn là không. Có biểu tình rồi cũng bị đàn áp, và bị bắt. Bà con ai nấy đều an phận, lo sợ, không thể biểu tình. Vả lại, từ mấy lần rồi đó, có làm được gì đâu? Ló ra là đàn áp, là bắt bớ, là đánh đập, là bị đủ thứ... 

- Đó là vì số ít, dễ bị đàn áp. Nếu có số đông, thật đông, thì có thể sẽ khác hơn? Và toàn thể dân tộc cùng chung lòng, lên hàng triệu người, và hơn nữa... liệu CA, QĐ... có thể đàn áp nổi không? 

- Nói thì nghe dễ, nhưng cùng đồng lòng hết thì không dễ đâu. Ai kêu gọi? Ai đồng lòng? Vì thấy ra ai cũng sợ - sợ bị đánh , sợ bị bắt, sợ bị tù... sợ đủ thứ... người ta không dám đâu. 

- Thế thì có sợ chết không? 

- Chết thì ai không sợ? Nhưng chừng nào chết hẳn hay. 

- Vậy thì, nhất định ta lo vui chơi, ăn nhậu. Có tiền bao nhiêu, cứ xài cho đã rồi chờ chết, chớ không tham dự biểu tình? 

- Không xuống đường được đâu. Chừng nào chết hẳn hay! Cùi không sợ lỡ. 

- Thôi, câu chuyện tạm dứt tại đây. Bà con mình nghĩ đi... cần nên suy nghĩ... Bữa khác sẽ nói tiếp. OK!... 

Kế tiếp (mấy ngày sau) gọi về, vẫn là bao ý nghĩ ấy. 

Bao nhiêu là nỗi sợ đeo đẳng, lan tràn: sợ đồ độc, khí thải độc, thức ăn độc... cái gì cũng độc. CA, côn đồ, không ngừng canh chừng, theo dõi, bắt bớ, đánh đập (một bầy dã thú lộng hành), vòi vĩnh, cướp của, cướp tiền... Tàu khựa xuất hiện nhiều hơn. Đường lối, chính sách quảng bá rộng hơn: phòng ngừa “phản động”, ngăn chặn “thế lực thù địch”. Duới con mắt của đảng và nhà nước: ai ai cũng là “thù địch”, phải cảnh giác, phải đề phòng? Chỉ trừ “bạn vàng” phương Bắc. 

Vẫn vui chơi nhãy nhót, vẫn đàn điếm hát ca, vẫn say sưa, ăn nhậu... 

- Các anh thấy đó. Biết làm sao đây? 

Cứ thản nhiên, chờ đợi? Chờ minh vương xuất thế? Chờ thần thánh ra đời? Với niềm tin mơ hồ, tuyệt vọng và ảo vọng? 

- Bà con ta có bao giờ theo dõi nghe, xem live stream? Bằng những chiếc smart phone (điện thoại đời mới có màn hình)? 

- Có, nhưng mà ít lắm. Làm sao nói? Làm sao nghe? Làm sao biết? Tụi nhỏ nó xài nhiều - là những “bửu bối” để vui chơi, vung vít. Và cũng để “loạn xà ngầu” theo nếp sống văn minh? Chỉ có tụi trẻ rất sành, rất thích. 

- Phải nên sử dụng smart phone (theo đời mới) - xài để cập nhật thông tin - để mở mang kiến thức, tầm nhìn, để mà thoát ra cái “lọng” đậy che, bưng bít... Nhờ tụi nhỏ chỉ cho, và cũng khuyên tụi nhỏ cùng tiếp nối “mạng” để vào YouTube, vào live stream (màn ảnh truyền hình cỏn con) lan tỏa khắp cùng mà tụi “rừng rú súc sanh” không thể nào ngăn chận. Nghe, nhìn để biết bao sự việc, bao kiến thức... Nếu không, e khó thoát khỏi vòng “ngu muội”, mà đảng từ bao năm nhồi nhét trong đầu óc dân ta. 

- Có đáng tin không? Tụi nó (nhà nước) kiểm soát gắt gao, và bảo là toàn tin sai lệch, thất thiệt? 

- Đúng đắn, không thất thiệt. Cần nên kết nối để xem. 

- Được. Chắc là không khó. Lén lúc mà nghe? 

Câu chuyện tạm ngưng. Chúc khỏe, chúc vui. Hẹn lần kế tiếp. OK! 

Lần thứ 3 (kế tiếp) - câu chuyện có phần phấn chấn - Có niềm tin, có quyết tâm, và bớt dần nỗi sợ. 

Những YouTube live stream, dù rằng chỉ theo dõi, xem qua phần ít, cũng đã mở mang đầu óc, hiểu rõ, biết rõ và có được niềm tin - tin tưởng sẽ không thất bại. Nghe, xem từ những video, YouTube bên ngoài: những live stream của hòa thượng Thích Thông Lai, của Huy Đức, Hoàng Ngọc Diêu, Lisa Phạm, Trần Nhật Phong, Truơng Quốc Huy, Huỳnh Quốc Huy... và nhiều YouTube khác từ trong nước đua ra, từ hải ngoại truyền về, nói lên sự thật, những che giấu được phơi bày, là những ánh đuốc soi đường, xóa đi màn đêm tăm tối. Dần dà, lần lượt anh em, bà con thấu hiểu, sáng mắt, sáng lòng. Dù rằng vẫn chưa hết phần ngờ vực: Phải không? Có thật vậy chăng? Để rồi có được mở mang tầm nhìn, đầu óc? 

Người ta nói: “Mưa dầm thấm đất”. Từ từ sẽ thấm, từ từ sẽ gột rữa: bức màn tối tăm phủ trùm bao gian dối. Anh em, bà con ta bắt đầu vỡ lẽ: Từ mấy mươi năm, từ đời ông, đời cha, đời con, và sắp sửa đời cháu, toàn dân ta sống trong đêm tối, sống trong giả trá, dối lừa - một sự gian manh và lừa bịp tột cùng, vô đạo, khủng khiếp. Đã được trả lời bao câu hỏi lớn lao mà từ lâu chưa có giải đáp: 

- Vì sao mà một dân tộc trở nên yếu hèn, nhu nhược và ngu muội? Vì sao mà đất nước ngày thêm tụt hậu, lạc hậu, thua kém mọi người? Vì sao mà nghèo đói, cứ phải khổ đau, lầm than, chết chóc? 

- Vì cái đám CS ác độc tham tàn. Vì một đảng nô vong bán nước. Vì một đám lãnh đạo rừng rú, chuyên quyền, độc đoán, độc tôn làm tôi mọi, làm tay sai để mưu cầu lợi quyền, vinh hoa phú quí. Vì lạc lầm tin tưởng: mấy mươi năm tôn sùng một tên “Tàu Khựa” (HCM), ngoại lai, ngoại chủng, đã được CSQT sắp đặt, tạo dựng để làm lãnh đạo tiêu diệt đất nước, dân tộcVN. 

Những câu hỏi đã được trả lời, và ngày nay đã rõ: một đất nước đang mất, và một dân tộc đang đi vào nô lệ? Sẽ phải diệt vong? Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông đi trước 50, 60 năm, là tấm gương, là mục tiêu để cho VN ta đi tới? 

Mọi thứ đã quá rõ? Vậy thì dân tộc VN ta phải làm gì? Truyền thống bất khuất, anh dũng, anh hùng từ 3-4 ngàn năm chống xâm lược, diệt tay sai bán nước, nay có còn không? 

Đất nước, dân tộc đang bên bờ vực thẳm. Phải vùng lên hay là chịu chết? Nếu “vùng lên”. Thì bằng cách nào? 

Ta không có quân đội, không vủ khí? Chỉ với tấm lòng (phải can đảm mới thoát ra nỗi sợ), trái tim và khối óc. Với ý chí, với bầu nhiệt huyết sục sôi? Ta chỉ có: xuống đường và bất tuân dân sự - đồng lòng, đồng loạt. Phải kiên cường và bất khuất, với tập thể, với số đông: với hàng triệu, hàng chục triệu người dân đồng loạt nổi dậy... thì nhất định sẽ không là cô thế, lẻ loi. Vùng lên! Nhất định sẽ có hỗ trợ và giúp sức từ bên ngoài. 

Thất bại, chỉ vì đơn lẻ. Thất bại, chỉ vì hèn yếu, sợ sệt, không đồng loạt, không đồng lòng. Dửng dưng, vô tâm, vô cảm: không phải việc của mình? Chết ai nấy chịu? 

Lịch sử đấu tranh xưa nay: chưa bao giờ “kết đoàn toàn thể” - đồng loạt, đồng lòng nổi dậy với số đông, thật đông mà thất bại? Không thất bại, phải biết vững tin. 

Đấy nước, dân tộc đang bên bờ vực thẳm. Đứng dậy, vùng lên hay là nằm yên chờ chết? 

Chiến pháp xưa nay luôn thể hiện: “Cận kề cái chết, bên bờ vực tử sinh, chỉ có quyết tâm can đảm, liều mình xông vào chổ chết mới mong thoát chết. Nhu nhược, yếu hèn, sợ chết, không bao giờ thoát chết”. 

Lời cuối: Không van xin, trông chờ ân sủng, ân huệ từ bọn cướp nước, bán nước. Chỉ có đánh đuổi, lật đổ, diệt trừ, mới mong có được tồn sinh. 

9/9/2018 

Hồ Chí Minh / Hồ Tập Chương - "cha già" Việt hay Tàu?

Vũ Đông Hà (Danlambao) - Nếu "bác" Hồ Chí Minh của đảng CS vĩ đại như thế nào thì nghi vấn "cha già dân tộc" họ Hồ là một gián điệp cộng sản Tàu lại là một quả bom tấn "vĩ đại" gấp ngàn lần. Cả một lịch sử đảng, truyền thống đảng, huyền thoại đảng và nhất là chiêu bài dân tộc của đảng CSVN sẽ bị nổ tan tành và phá sản hoàn toàn nếu kẻ được đảng bưng lên thành cha già của dân tộc Việt được chứng minh là một người Tàu. Do đó, giải mã bài toán Hồ Chí Minh / Hồ Tập Chương - Tàu hay Việt một cách nghiêm chỉnh, khách quan cần được xem như là một nỗ lực đấu tranh quan trọng.

Lãnh tụ thần thánh - Sức mạnh vô hình của chế độ

Ưu tiên và nỗ lực hàng đầu của những chế độ độc tài là thần thánh hoá lãnh tụ. Mục tiêu chính của công tác không có điểm kết này là xây dựng, duy trì sức mạnh của guồng máy cai trị qua việc gieo trồng niềm tin yêu và kính trọng của đại đa số quần chúng vào một lãnh tụ và đồng hoá lãnh tụ thần thánh với hệ thống chính trị. Tổ chức Canvas, hậu thân của nhóm lãnh đạo phong trào Otpor, gọi đây là cột trụ quyền lực vô hình nhưng kiên cố nhất của chế độ. 

Bạn có thể thấy được cột trụ quyền lực này khắp nơi. Không phải chỉ ở những cơ quan, những đại hội của chế độ, nơi mà hình tượng Hồ Chí Minh được dùng làm căn cước của đảng, mà còn ở mọi ngõ ngách trong đời sống của người dân. Hình ảnh mạnh mẽ nhất của nó được thấy trong những sinh hoạt thể thao với những thanh niên, thiếu nữ Việt Nam cuồng nhiệt, hãnh diện giương cao hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh. Bỏ qua những khinh miệt, chê bai, kết án để nhìn sự việc một cách khách quan: chế độ đã thành công khi không những biến Hồ Chí Minh thành biểu tượng của đảng mà còn biến Hồ Chí Minh thành linh hồn của quốc gia, dân tộctrong lòng một bộ phận tuổi trẻ Việt Nam. 

Đó cũng là nhận xét của Dân Làm Báo trong những ngày đầu thành lập; và đánh sụp "thần tượng" Hồ Chí Minh là một trong những chương trình hành động trong kế hoạch lâu dài của Dân Làm Báo. 

Mục tiêu "đánh sụp thần tượng" 

Mục tiêu này đi đôi với đối tượng nhắm đến. Đối tượng của công tác "đánh sụp thần tượng Hồ Chí Minh" không phải là những người đã thấy rõ bản chất, tội ác của Hồ. Sẽ vô ích và mất thì giờ để gửi những phê phán về Hồ Chí Minh đến với những người đã quá tỏ tường về Hồ Chí Minh. Đối tượng là những bạn trẻ, người dân vì bị bưng bít thông tin, vì bị tuyên truyền, tẩy não qua nhiều năm tháng và đang thần tượng Hồ Chí Minh. 

Do đó, Dân Làm Báo xem đây là một công tác lâu dài và chia ra nhiều giai đoạn. Trong những năm đầu, BBT đã cố gắng để có những bài viết; hay góp ý cho một số tác giả bỏ bớt những cảm xúc cá nhân trong bài viết phê phán Hồ Chí Minh. Đối với những "đối tượng" nhắm đến - đang "thần tượng" Hồ Chí Minh - mọi chửi bới, cộc cằn đều có thể phản tác dụng. Khó có thể "nuốt nỗi" những lời chửi bới về một người mà họ đang tôn thờ. Một thí dụ cho phương hướng của những năm đầu của các thành viên trong Ban Biên Tập: "khoan" viết, "khoan" gọi Hồ Chí Minh là tên già dâm tặc - hãy đưa ra những dữ kiện một cách trung thực, khách quan, lạnh lùng để làm thế nào mà chính người đọc phải tự kết luận: tên này quá... dâm! 

Những năm sau, theo thời gian với nhận thức của đối tượng nhắm đến, Danlambao bắt đầu sử dụng thêm những phương thức, nội dung châm biếm, tố giác thẳng thừng để dẫn đến sự khinh miệt, ghê tởm Hồ Chí Minh trong lòng của những người đã từng tôn sùng Hồ Chí Minh nhưng bây giờ đã nhận ra chân tướng của lãnh tụ.

Chia sẻ cùng bạn đọc: một số bạn đồng hành của Danlambao ngày hôm nay - trong đó có thành viên nằm trong BBT, thành viên của Mạng Lưới Blogger Việt Nam đã từng là những người say mê Hồ Chí Minh, đã từng phàn nàn và "khuyên" DLB là làm gì thì làm nhưng không nên đụng đến "bác Hồ". Ngày hôm nay, họ đang hăng say góp phần vào tiến trình "đánh sập thần tượng Hồ Chí Minh": 

HCM là một lãnh tụ vĩ đại =>
HCM là một người bình thường => 
HCM là một người có vợ và nhiều người tình => 
HCM là một người đạo đức giả và là tên lừa đảo => 
HCM là thủ phạm của nhiều tội ác => 
HCM là nguồn gốc của mọi tội ác => 
Hồ Chí Minh là một Việt gian bán nước => 
HCM có thể là một gián điệp người Tàu. 

Hồ Chí Minh = Hồ Tập Chương? Đó là công án sau cùng của tiến trình đó. 

Công án Việt cộng Hồ Chí Minh là Tàu cộng Hồ Tập Chương 

Cho đến nay, những dữ kiện về Hồ Chí Minh như thiếu tá Hồ Quang của Bát Lộ Quân ở Diên An, những người biết rõ Nguyễn Tất Thành bị tiêu diệt, Nguyễn Ái Quốc bị bệnh lao trong thời điểm chưa có thuốc đặc trị căn bệnh hiểm nghèo này, Nguyễn Ái Quốc đã qua đời trong nhà tù Hong Kong, chiều cao của Nguyễn Ái Quốc so với chiều dài của Hồ Chí Minh, khả năng viết báo của Nguyễn Ái Quốc và tầm viết lách của Hồ Chí Minh, cách cầm bút, văn phong, phát âm trong cuộc phỏng vấn của truyền hình Nhật, vụ việc thăm lại thân nhân, muốn nghe một bài hát Tàu trước khi chết... tương đối đủ để những người muốn tin Hồ Chí Minh là một tên gián điệp Tàu củng cố thêm niềm tin của mình. 

Tuy nhiên, nó cũng chưa hẵn đã thuyết phục hoàn toàn đối với nhiều người khác, nhất là những người đang "cuồng Hồ" và những bạn đã từng thần tượng Hồ Chí Minh. 

Với tiêu chí đặt niềm tin vào tinh thần tôn trọng sự thật và mục tiêu đi tìm sự thật, các thành viên của Dân Làm Báo không tìm cách để "sàn lọc" hay "gò" dữ kiện, suy luận thành một "sự-thật-theo-ý-muốn-của-mình". Do đó, mọi phân tích để chứng minh Hồ Chí Minh là Tàu hay ngược lại đều cần thiết. Cần thiết để chúng ta có thêm dữ kiện đối chiếu, để nhìn sự việc khách quan. Cần thiết hơn nữa là để từ đó mỗi người chúng ta đặt lại vấn đề cho những gì tưởng là đã kết luận chắc chắn; mở ra những câu hỏi mới và có thêm cơ hội để phân tích những lý luận, diễn giải của nhau trong tinh thần tương kính lẫn nhau và tôn trọng sự thật. 

Xin được lấy thí dụ về 2 bài viết về "công án" Hồ Chí Minh / Hồ Tập Chương vừa mới đăng tải trên Dân Làm Báo. Đó là bài dịch "Báo l’Humanité: Nguyễn Ái Quốc đã chết trong tù tại Hồng Kông năm 1932!" của Trần Thị Hải Ý và bài "Cũng nên nói thêm một lần nữa: Năm 1932, Hồ Chí Minh chưa chết đâu!"của Nguyễn Thị Cỏ May. 

2 bài viết, 2 kết luận khác nhau. Một bài là dịch nguyên văn - từ Báo L’Humanité - cơ quan ngôn luận chính thức của đảng cộng sản Pháp lúc đó - không có ý kiến, bình luận riêng của người dịch. Một bài dựa vào một số thông tin từ kho tài liệu của Văn khố Quốc gia Hải ngoại của Pháp, 2 "nhân chứng" Vũ Thư Hiên và Bùi Tín và một sử gia là Céline Marangé. 

Cả hai bài viết này đều cần thiết cho tiến trình đi tìm sự thật. 

Bài dịch từ L’Humanité cho chúng ta một kết luận chắc chắn: đây không phải là một "âm mưu" của thế lực thù địch tư bản, đế quốc, thực dân nào muốn bôi nhọ Hồ Chí Minh. Chính phía cộng sản Pháp đã xác định 2 dữ kiện: Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao tại trạm xá của nhà tù Hồng Kông; và Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, nghiêng mình trước di hài của lãnh tụ cộng sản Nguyễn Ái Quốc. 

Trong bài "Cũng nên nói thêm một lần nữa: Năm 1932, Hồ Chí Minh chưa chết đâu!" tác giả Nguyễn Thị Cỏ May đưa ra kết luận và giải thích đơn giản, ngắn gọn: "Dĩ nhiên tin trên L’Humanité là không đúng sự thật. Vào lúc đó, tin tức thường khó kiểm soát sự chính xác." 

Kết luận này giúp một số người có sự hoài nghi (cũng cần thiết) rằng: biết đâu tin tức đúng là khó kiểm soát và L’Humanité đăng lầm, Ủy ban Trung ương Đảng cộng sản Pháp nghiêng mình lộn? Nó cũng giúp cho chúng ta thấy được tâm lý thường tình rất con người là: cách gạn lọc, chọn lựa để nhìn sự việc theo ý muốn hay niềm tin cá nhân. Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Cỏ May giúp cho chúng ta nhìn lại những "thói quen" của mình khi đi tìm sự thật. Chúng ta - theo cái đèn pin soi đường chỉ lối trong tâm khảm hoặc những ảnh hưởng chính trị - thường "chọn" cho mình những sàn lọc để minh chứng cho "sự-thật-của-riêng-mình". 

Nếu chúng ta có thái độ tích cực thì mỗi bài viết sẽ giúp chúng ta có thêm những câu hỏi, những khai mở trên con đường đi tìm sự thật, hay ít ra là những gì có thể đến gần với sự thật nhất. Cũng với bài viết "Cũng nên nói thêm một lần nữa: Năm 1932, Hồ Chí Minh chưa chết đâu!", tác giả Nguyễn Thị Cỏ May giúp cho chúng ta có thêm những câu hỏi: 

- Nếu "dĩ nhiên tin trên L’Humanité là không đúng sự thật." (vì lúc đó, tin tức thường khó kiểm soát sự chính xác) để cho rằng HCM không chết vào năm 1932, thì liệu có dĩ nhiên rằng một số thông tin trong Văn khố Quốc gia Hải ngoại của Pháp và Sở Bảo vệ Đoàn quân Viễn chinh Pháp ở Đông Dương - được dùng để chứng minh HCM còn sống - có thật sự chính xác trong cùng một bối cảnh "khó kiểm soát sự chính xác"? 

- Tài liệu 9000 trang do ông Olivia Pelletier, Quản thủ Văn khố, chuyên về Đông Dương, san định, đúc kết lại từ những những thông tin của cơ quan Tình báo, Phòng Nhì, Cảnh sát Pháp ở Đông Dương và ở Pháp từ 1919-1955 cho thấy "Hồ Chí Minh vẫn còn sống, sau cái tin ông chết trong tù Hồng Kông năm 1932. Nhưng hoàn toàn không có tin tức gì về Hồ Chí Minh từ tháng 5/1930 tới 1934." 

Những luận cứ này giúp cho chúng ta có thêm câu hỏi: Vậy là từ năm 1932 sau khi Nguyễn Ái Quốc chết trong tù theo nguồn tin của L’Humanité cho đến 1934, thời gian đủ để chuẩn bị đào tạo một "Hồ Chí Minh" khác? Lấy gì để chứng minh nhân vật mà "1934 tới 1937, ông sống ở Mạc Tư Khoa. Năm 1938, ông trở lại Tàu. Tháng 2/1941, ông trở lại Bắc Việt, sau khi Pháp thất trận" cũng là Nguyễn Ái Quốc trong nhà tù Hong Kong? 

"Ngày 16/5/1932, Lâm Đức Thụ, người làm việc cho Mật thám Pháp, gởi báo cáo cho Pháp nói ông vẫn nhận được tin tức về Nguyễn Tất Thành qua văn phòng của luật sư Loseby, người lãnh nhiệm vụ bênh vực Nguyễn Tất Thành." 

Bài viết công bố về cái chết của Nguyễn Ái Quốc được Báo L’Humanité (Nhân đạo) năm thứ 29, số 12292, phát hành vào thứ ba 09/08/1932. Do đó, chúng ta lại có thêm câu hỏi: Nếu Lâm Đức Thụ có nhận được tin tức của Nguyễn Tất Thành thì cũng có thể nhận được 1, 2 tháng trước khi Nguyễn Tất Thành chết trong tù? 

- Chuyện "Ông Vũ Thư Hiên đôi lúc ngủ chung giường với Hồ Chí Minh..." để thấy "ông Hiên phải là người biết cụ thể Hồ Chí Minh" giúp cho chúng ta có thêm câu hỏi: Ông Vũ Thư Hiên có thể nghĩ rằng người nằm cùng giường với ông không là một người Tàu, nhưng làm thế nào ông biết được chắc chắc đó là Nguyễn Tất Thành aka Nguyễn Ái Quốc của những năm trước 1932? 

- Trích dẫn tuyên bố của ông Vũ Thư Hiên "Nếu ông Hồ là người Tàu thật thì tất tần tật những ai từng gặp ông, từng làm việc với ông (có cả nghìn, cả vạn người đấy), tạm kể từ thời Quốc dân Đại hội Tân Trào 1945 cho tới khi ông qua đời năm 1969, hoá ra đều mù dở - khốn nạn, ông là Hồ Tập Chương đấy, là người Tàu đấy, người Khách gia đấy, thế mà không một ai phát hiện." lại mở ra 2 câu hỏi khác: (1) Vậy có thể có xác suất Hồ Chí Minh không là một người Tàu chính gốc mà là một người Việt; nhưng làm sao ông Vũ Thư Hiên chắc chắn 100% rằng Hồ Chí Minh nằm ngủ bên cạnh là Nguyễn Tất Thành - người mà ông chưa từng gặp - trong nhà tù Hong Kong 1932? (2) Dưới chế độ độc tài toàn trị và dưới bàn tay sắt máu của Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn, kẻ giết chết người tình Nông Thị Xuân của Hồ Chí Minh, liệu ai - nếu phát hiện hay nghi ngờ Hồ Chí Minh "có vẻ" là Tàu - có dám hé miệng? Để từ đó, chúng ta cần có sự đo lường, lượng giá về những thông tin đến từ "nhân chứng" - Những thông tin nhân chứng không nhất thiết đồng nghĩa với chứng minh.

- Giai thoại kể lại của ông Bùi Tín - "Ông Hồ tới thăm lại lò rèn bên bờ sông nơi lúc nhỏ, ông thường ra đây chơi và câu cá. Trong đám dân làng ra chào mừng Chủ tịch nước, có một cụ già bước tới, chỉ vành tai bị mất một miếng nhỏ của Hồ Chí Minh và nói “Hồi nhỏ hắn câu cá, giựt cần câu, lưỡi câu móc vào đây xước mất một miếng, nay vẫn còn thẹo...” bật ra một câu hỏi khác: Thật sự rằng, liệu có một ông già dân đen nào "tự nhiên và chủ động" dám vượt qua vòng bảo vệ, bước tới chỉ vành tai của lãnh tụ, của chủ tịch, ngang nhiên oang oang nói cho mọi người - trong đó có ông Bùi Tín nghe - và lỗ mãng gọi "cha già dân tộc" là "hắn", nhằm chứng minh lãnh tụ Hồ Chí Minh là thằng nhỏ câu cá bị xước mất lỗ tai? Tại sao có giai thoại mang tính chứng minh này? Có gì quen thuộc trong "truyền thống" dàn dựng của đảng mà chính ông Bùi Tín cũng bị lừa và vô tình trở thành "nhân chứng" cho một màn kịch lừa đảo? 

- Theo tài liệu Pháp, Hồ Chí Minh không chết, chỉ hoàn toàn không có thông tin gì trong thời gian hơn 3 năm (1934-1937), nhưng theo "sử gia" Céline Marangé: (a) Hồ Chí Minh rời khỏi Hồng Kông vào tháng giêng năm 1933 nhờ luật sư do Komintern ủy nhiệm xin được hủy bỏ lệnh dẫn độ ông giao cho chính quyền Pháp; (b) Tháng 10/1934, HCM vào học trường Quốc tế Lê-nin; (c) từ đó sử gia xác định "Hồ chí Minh không chết trong nhà tù Hồng Kông năm 1932". Lại thêm câu hỏi: Tại sao một sử gia biết rõ HCM theo học trường Quốc tế Lê-Nin nhưng cả chính quyền thực dân, hệ thống mật thám Pháp lại không biết "đối tượng thù địch số một" này đang ở đâu? Và: chúng ta chỉ cần dựa vào một "sử gia" để làm nền tảng cho lý luận minh chứng hay phải đối chiếu với nhiều sử gia, nguồn tin khác nhau?

Càng có thêm nhiều bài viết, càng mở thêm nhiều câu hỏi, càng nhiều câu hỏi - càng giúp chúng ta đến gần sự thật. 

Hồ Chí Minh - người được cho là sáng lập ra đảng CSVN, nước VNDCCH, "cha già dân tộc" là người Việt hay người Tàu? Câu hỏi và sự thật có thể không quan trọng với một số người vì đối với họ trong tình huống nào thì HCM cũng là một tội đồ của dân tộc Việt. Nhưng đối với đảng CSVN, nếu thật sự Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương và với những phân tích, dẫn chứng - dù không có bằng chứng kiểm chứng DNA 100% - nhưng chỉ cần đủ khách quan và thuyết phục để đại đa số người Việt tin rằng "bác Hồ vĩ đại" và "cha già Dân Tộc", biểu tượng thần thánh của đảng lại là một tên Tàu; thì đó là mối nhục và thảm họa chính trị "vĩ đại" của đảng cầm quyền. Lúc đó, cột trụ quyền lực mạnh nhất đang chống đỡ guồng máy độc tài sẽ sụp đổ hoàn toàn. 

Kết: 

Xin được kết bằng một tâm tình: 

Mong các bạn đồng hành hãy xem những người dân Việt đã và đang cuồng Hồ là nạn nhân của một chế độ đểu cáng, lưu manh và ma mị. Hãy tin rằng ngày hôm nay đã có những người khinh miệt Hồ Chí Minh nhất lại là những người đã từng tôn sùng Hồ Chí Minh nhất. Hãy cùng nhau đánh sập "thần tượng" này trong lòng mọi người dân Việt Nam vì nó góp phần làm suy yếu chế độ. Từ đó, thay vì chỉ bày tỏ cảm xúc cho thoả lòng mà đôi khi lại phản tác dụng với những đối tượng và mục tiêu mà chúng ta nhắm đến, xin cùng nhau xem đây là một nỗ lực đấu tranh chung, có đối tượng, có mục tiêu, có cân nhắc và có kế hoạch. 

08.09.2018