Friday, May 25, 2018

Đặc khu kinh tế - thảm họa mới

Theo VOA-Trân Văn/25/05/2018 
Một chiếc tàu chở công nhân Trung Quốc rời cảng Vũng Áng, tháng Năm 2014.
Một chiếc tàu chở công nhân Trung Quốc rời cảng Vũng Áng, tháng Năm 2014.
Tuy các đại biểu của Quốc hội Việt Nam khóa 14 chưa bỏ phiếu nhưng gần như chắc chắn dự luật về “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” (gọi tắt là Luật Đặc khu) sẽ được họ thông qua ở kỳ họp lần thứ năm này.
Ngay sau đó, Luật Đặc khu sẽ được dùng để khai sinh cho ba đặc khu đầu tiên của Việt Nam là: Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa), Phú Quốc (Kiên Giang).
Theo dự trù, từ nay đến 2030, chi phí xây dựng ba đặc khu vừa kể sẽ ngốn…. 1.570.000 tỉ đồng (Vân Đồn 270.000 tỉ đồng, Bắc Vân Phong 400.000 tỉ đồng, Phú Quốc 900.000 tỉ đồng) (1).
***
Đặc khu (Special Economic Zone) là cách gọi những khu vực mà việc quản lý - điều hành được thực hiện theo phương thức ưu đãi đặc biệt, khác hẳn lệ thường nhằm thu hút đầu tư ở cả bên trong lẫn bên ngoài lãnh thổ của một quốc gia, tạo thêm việc làm, tăng nguồn thu cho công quỹ. Tùy nơi, tùy hoàn cảnh mà những quốc gia quyết định thành lập các đặc khu, quyết định gọi các đặc khu của họ là gì (Khu Kinh tế, Khu Kinh tế Đặc biệt, Khu Thương mại tự do,…).
Xét về cả thông lệ quốc tế lẫn bản chất, không cần khai trương Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc thì ít nhất, Việt Nam cũng đã có 18 đặc khu, trong số này có 15 được gọi là Khu Kinh tế ven biển và ba được gọi là Khu Kinh tế (Thái Bình, Ninh Cơ, Đông Nam Quảng Trị). 18 đặc khu ấy đang chiếm 730.553 héc ta mặt đất và mặt biển. Chỉ mới tính đến cuối năm 2010, tổng vốn đầu tư cho các Khu kinh tế ở Việt Nam đã xấp xỉ 170.000 tỉ đồng (2). Chưa tìm thấy số liệu để xác định từ 2010 đến nay, chính quyền Việt Nam đã rót thêm bao nhiêu tiền cho 18 đặc khu ấy, song có thể đoan chắc, con số đó không nhỏ, không thể dưới mức hàng trăm ngàn tỉ đồng nữa.
18 đặc khu hiện có đã tạo ra những hiệu ứng tích cực nào cho kinh tế - xã hội Việt Nam? Tại sao miền Trung - khu vực có đặc khu đầu tiên (Khu Kinh tế Chu Lai - Quảng Nam, 2003), sau này có thêm hàng loạt đặc khu nữa: Khu Kinh tế Dung Quất (QuảngNgãi, 2005), Khu Kinh tế Nhơn Hội (Bình Định, 2005), Khu Kinh tế Chân Mây – Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế, 2006), Khu Kinh tế Vân Phong (Khánh Hòa, 2006), Khu Kinh tế Nam Phú Yên (Phú Yên, 2008) vẫn nghèo? Cho tới năm ngoái, trừ Đà Nẵng, Khánh Hòa có thể đóng góp cho ngân khố quốc gia, chính quyền các tỉnh còn lại đều ngửa tay xin chính quyền trung ương trợ giúp (3).
Với thực tế như vừa kể, “kỳ vọng” từ 2020 trở đi, ba đặc khu mới là Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc sẽ giúp GDP địa phương (GRDP) tăng hàng tỉ Mỹ kim mỗi năm, từ 2030, nhờ các đặc khu này, thu nhập trung bình của dân chúng cư trú ở ba đặc khu mới sẽ đạt từ 12.000 Mỹ kim đến 13.000 Mỹ kim/người/năm… có phải là ngoa ngôn không (4)?
Những viên chức hữu trách đang tô vẽ viễn cảnh xán lạn của ba đặc khu mới, liệu có nhớ hệ thống công quyền đã từng tuyên bố những gì khi công bố chủ trương thành lập các khu kinh tế hồi đầu thập niên 2000 không? Nếu ba đặc khu mới cũng không như “kỳ vọng” sẽ có những ai sẽ chịu trách nhiệm? Chịu trách nhiệm như thế nào?
***
Giữa thập niên 1990, Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN đề ra chủ trương phát triển các Khu Công nghiệp để “hiện đại hóa đất nước”. Đến nay, toàn Việt Nam có 324 khu công nghiệp, chiếm 92.000 héc ta đất nhưng hiện có khoảng 4/5 diện tích các khu công nghiệp trên toàn Việt Nam đang bỏ hoang. Ngoài thiệt hại tài chính, chủ trương phát triển các Khu Công nghiệp còn là sự lãng phí nghiêm trọng tài nguyên quốc gia (5).
Đầu thập niên 2000, Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN tiếp tục đề ra chủ trương phát triển các Khu Kinh tế (Khu Kinh tế ven biển, Khu Kinh tế cửa khẩu, Cụm công nghiệp, Khu Công nghệ cao, Khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ). Dẫu các số liệu liên quan đến đầu tư không được bạch hóa nhưng người ta tin rằng, hệ thống công quyền Việt Nam đã rót vào các Khu Kinh tế chừng vài trăm ngàn tỉ đồng. Nếu đã từng đọc các báo cáo, nghe các cảnh báo, phân tích, nhận định về thu – chi ngân sách hàng năm, ai cũng có thể thấy mục tiêu đến năm 2020, các Khu Kinh tế sẽ đóng góp từ… 53% đến 55% GDP là vô vọng. Dấu ấn đậm nhất mà các Khu Kinh tế tạo ra là đã trải thảm, rước các dự án lọc dầu, cơ khí nặng, nhiệt điện, luyện thép,… - vốn được xem là những tác nhân hủy diệt môi trường – vào Việt Nam, chia nhau những vị trí tốt nhất, đẹp nhất dọc bờ biển (6).
Đầu thập niên 2010, dưới sự dẫn dắt của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN quyết định xây dựng các đặc khu. Giống như các Khu Công nghiệp, Khu Kinh tế, xây dựng các đặc khu là một “chủ trương lớn” nữa của giới lãnh đạo Đảng CSVN.
Tháng 10 năm ngoái, ở kỳ họp lần thứ 4, các đại biểu của Quốc hội khóa 14 nghe chính phủ Việt Nam giới thiệu dự luật về “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt”. Giờ, ở kỳ họp lần thứ 5, theo tường thuật của báo giới Việt Nam, dự luật về “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” chỉ còn chờ các đại biểu “bấm nút” biến dự luật thành luật.
Các đặc khu có phải là chiếc đũa thần, biến kinh tế - xã hội Việt Nam từ Lọ Lem thành công chúa? Câu trả lời là không.
Ngày 18 tháng 5, tham gia hội thảo về “Đặc khu - Thể chế, Chính sách và Kỳ vọng thành công”, một số chuyên gia ngoại quốc khuyến cáo, trên thế giới có hàng chục ngàn đặc khu nhưng chỉ có vài trường hợp thành công. Khi tường thuật về hội thảo này, một số tờ báo nhấn mạnh cảnh báo của ông Sebastian Eckardt, Trưởng nhóm chuyên gia kinh tế làm việc tại Chi nhánh Việt Nam của Ngân hàng Thế giới: Coi chừng ba đặc khu mà Việt Nam đang hăm hở thành lập sẽ tạo ra một cuộc đua lao xuống đáy (7)!
Một số chuyên gia kinh tế Việt Nam cũng không giấu diếm băn khoăn khi con đường mà Việt Nam chọn để gầy dựng đặc khu lệch hướng (đem các đặc quyền về sử dụng đất và ưu đãi về thuế để mời gọi đầu tư). Trong số này có bà Phạm Chi Lan. Bà Lan nhắc rằng, nếu ba đặc khu mới cùng hướng đến công nghệ cao, tại sao không chọn những nơi như Sài Gòn, Hà Nội vốn đang sẵn có nguồn nhân lực với kỹ năng cao, hạ tầng tốt mà lại chọn Quảng Ninh, Khánh Hòa, Kiên Giang? Nếu thật tâm hướng đến công nghệ cao, tại sao không cải sửa các qui định để những Khu Công nghệ cao vốn đã có sẵn ở Sài Gòn, Hà Nội phát triển như mong muốn? Không phải là đặc khu thì du lịch ở Vân Đồn (Quảng Ninh) và Phú Quốc (Kiên Giang) đã phát triển, chuyển cả hai thành đặc khu, cho thêm hàng loạt ưu đãi về đất đai, thuế khóa liệu có thừa hay không? Chưa kể tạo lập các casino ở đó – chọn casino như đột phá, vận động công nhận mại dâm là hoạt động hợp pháp, xem cờ bạc, mại dâm như đôi cánh để nâng du lịch Việt Nam lên thì có nên hay không (8)?..
Đáng ngạc nhiên là đại diện cho toàn dân để “quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước” nhưng khi thảo luận về dự luật “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt”, không thấy đại biểu nào ở Quốc hội trăn trở trước những khuyến cáo, cảnh báo, gợi ý của các chuyên gia. Thảo luận về về dự luật “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” ở Quốc hội giống như thủ tục không thể không thực hiện trước khi “bấm nút”, giống như các đại biểu tiền nhiệm đã từng “bấm nút” hỗ trợ cho các “chủ trương lớn” trong quá khứ: Bơm tối đa nguồn lực quốc gia cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước để tạo dựng nền tảng của “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Chi hàng trăm ngàn tỉ để “xây dựng nông thôn mới”…
***
Tuần vừa qua, ông Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư, liên tục khẳng định với báo giới trong nước và quốc tế rằng, ba đặc khu kinh tế đang chờ các đại biểu Quốc hội “bấm nút”, cấp khai sinh sẽ là “sân chơi mới”. Tại đó, doanh giới sẽ được “ưu đãi mọi khía cạnh”: Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong chín năm tiếp theo kể từ khi có thu nhập chịu thuế. Được hưởng thuế suất 10% trong 30 năm. Riêng thu nhập từ đầu tư - kinh doanh bất động sản sẽ được áp dụng thuế suất ưu đãi 17%...
Thật ra, những ưu đãi ấy đâu có mới. Có thể ông Dũng mắc chứng “suy giảm trí nhớ” nên quên là hệ thống công quyền Việt Nam từng dành những ưu đãi y hệt như thế cho… Formosa: Luật chỉ cho phép cho thuê đất 50 năm nhưng Formosa được thuê đất tới 70 năm. Từ năm thứ 16 Formosa mới phải trả tiền thuê đất. Chỉ tính thuế thu nhập doanh nghiệp khi có thu nhập chịu thuế và tỷ lệ chỉ là 10% thay vì phải 25% như thông lệ. Chưa kể khi có thu nhập chịu thuế còn được miễn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm và trong 9 năm sau đó được giảm 50% tính trên tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp (9).
Tháng 6 năm 2014, Formosa đề nghị cho phép lập “Đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng” với Ban Quản lý “trực thuộc Văn phòng Chính phủ” (10). Formosa còn đề nghị: Thiết lập cơ chế bảo hộ ngành thép. Ưu đãi cân đối ngoại tệ trong phạm vi hạng mục kinh doanh. Trực tiếp vay vốn từ các tổ chức tài chính nước ngoài. Miễn thu thuế khấu trừ tại nguồn. Miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu... Thậm chí “được cắt đất để bán cho khoảng 15.000 nhân viên mà nếu tính cả thân nhân thì khoảng 60.000 người nhằm xây dựng một thị trấn”.
Bởi dân chúng, báo giới Việt Nam sôi lên vì giận, nhiều chuyên gia tại Việt Nam xúm vào phân tích – chứng minh các đề nghị của Formosa “không bình thường” và “không phù hợp với khung pháp luật của Việt Nam hiện nay”, nên cuối cùng, chính phủ Việt Nam bác bỏ ý tưởng thành lập“Đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng” của Formosa.
Formosa nâng kinh tế - xã hội Việt Nam lên hay nhận kinh tế - xã hội Việt Nam chìm xuống sâu hơn thì câu trả lời đã có và còn ai không thấy, không biết?
Chỉ cần vài ngày nữa, sau khi Quốc hội “bấm nút”, dự luật về “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” sẽ trở thành luật, những “nhà đầu tư” giống như Formosa có thể hiên ngang bước tới vì “khung pháp luật của Việt Nam hiện nay” đã “phù hợp”. Thảm họa cho an ninh kinh tế, an ninh tài chính, môi trường mà nhiều chuyên gia cả trong lẫn ngoài Việt Nam âu lo vì khó tránh đâu có xảy ra lúc này. Đó là chuyện vài năm nữa. Lúc đó các viên chức lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ đều đã nghỉ hưu. Hơi đâu mà lo.
Chú thích

“Thực dân Pháp” tốt hay xấu?

Theo RFA-Phi Cảnh-2018-05-25  
Ngôi nhà 130 năm tuổi ở 59-61 Lý Tự Trọng, thời Pháp thuộc là Sở Nội vụ Nam Kỳ, người dân xưa còn gọi là dinh Thượng Thơ, hiện nay là trụ sở của Sở Thông tin và truyền thông, Sở Công thương.
 Ngôi nhà 130 năm tuổi ở 59-61 Lý Tự Trọng, thời Pháp thuộc là Sở Nội vụ Nam Kỳ, người dân xưa còn gọi là dinh Thượng Thơ, hiện nay là trụ sở của Sở Thông tin và truyền thông, Sở Công thương.Photo: RFA
Chúng ta ngày nay đều biết rằng Mỹ hoàn toàn không phải đế quốc thực dân đi xâm chiếm khai thác bóc lột nước khác như lời Cộng sản tuyên truyền, nhưng ngay cả những “thực dân” thực thụ như nước Pháp có thực sự xấu xa?

Những đóng góp lớn

Các công trình kiến trúc mà Việt Nam hiện nay đang tự hào, ví dụ ở Hà Nội: từ Nhà hát Lớn, Nhà thờ Lớn, cầu Long Biên, chợ Đồng Xuân, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Thư viện quốc gia… cho đến những cơ quan đầu não, những vị trí tối quan trọng như Phủ Chủ tịch, trụ sở Bộ Ngoại giao, Nhà khách Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tòa án Nhân dân Tối cao… đều do Pháp xây dựng.
Ở Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà thờ Đức Bà, Bến Nhà Rồng, Trụ sở Ủy ban Nhân dân TpHCM, Bưu điện trung tâm thành phố, nhà hát Lớn, chợ Bến Thành… cũng được xây dựng từ thời Pháp thuộc.
Ngay trung tâm Quận 1 còn có con đường mang cái tên “tây” lạ hoắc: “Alexandre de Rhodes”. Tìm hiểu mới biết hóa ra đấy là một ông có công to, ông ấy là một nhà truyền đạo người Pháp góp công sức cuối cùng cho sự ra đời của chữ Quốc ngữ bên cạnh công lao của các giáo sĩ nước ngoài khác.
Chữ Nôm thì dựa vào chữ Hán và quá khó để sử dụng (vì còn khó hơn cả chữ Hán), vì thế việc tạo ra chữ Quốc ngữ được đánh giá là “đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ". Rõ ràng nếu không có ông người Pháp ấy, người Việt hiện nay vẫn chưa có chữ mà dùng, và tất nhiên ông Bùi Hiển cũng không có cái để mà “cải cách”.
Có nghĩa là nếu chỉ để người Việt với nhau, Việt Nam vẫn là một vùng đất lạc hậu. Thời Pháp thuộc, có thể Việt Nam chưa giàu có, nhưng trước đó Việt Nam cũng đã sung sướng đâu? Sau này khi Việt Nam chỉ toàn là người Việt dưới chế độ Cộng sản, chúng ta đang là một nước ngày càng tụt hậu.
Những thành tích mà Đảng Cộng sản khoe khoang thật ra chỉ là nói trong nước với nhau để mị dân, chứ những thành tích xuất khẩu gạo, cà phê, xuất khẩu lao động… có làm lãnh đạo Đảng ngẩng cao đầu khi đi ra nước ngoài được không?
Việt Nam bây giờ có đường nhựa, cầu cống, nhà cao tầng… nhưng đó đều là sản phẩm của nền văn minh phương Tây. Tivi, tủ lạnh, máy điều hòa, máy giặt, xe ô tô, xe máy, máy bay… Việt Nam đâu tự nghĩ ra. Người ta phát minh ra, và anh được hưởng lây. Đấy là xu thế phát triển chung của thế giới, ở đâu chả vậy, hay vẫn muốn sống như bộ lạc?
Tự hào là phải làm ra những cái mà người khác không làm được, là phải đi trước người khác!

Chủ nghĩa nhân đạo

Người Pháp có khai thác thuộc địa, nhưng họ đã xây cho bao nhiêu thứ dùng đến tận bây giờ. Từ khi Đảng Cộng sản nắm quyền đã xây được thứ gì cho ra hồn để mà tự hào?
Trụ sở mới hoành tráng 47 Phạm Văn Đồng của Bộ Công an tốn kém bao nhiêu tiền của dân mà chỉ dám chuyển lên những phòng ban ít quan trọng, còn lại vẫn ở chỗ cũ vì chỗ mới để nhà thầu Trung Quốc gài đầy thiết bị nghe lén trong tường.
Thế mới nói phương Tây họ có chủ nghĩa nhân đạo, có danh dự, có tinh thần trách nhiệm. Họ khai thác thuộc địa, nhưng đem đến bao thứ văn minh. Còn mình, tự xây cho mình sử dụng mà còn chẳng xây cho ra hồn. Vậy mà nghĩ rằng mình tốt hơn người ta?
Đảng Cộng sản gây ra bao cuộc thảm sát, một trong số đó là Cải cách ruộng đất giết chết bao người vô tội, nhưng lại được coi là chuyện bình thường. Cùng là người Việt mà có tốt với nhau đâu.
Giống như chuyện bạo lực gia đình là chuyện quá phổ biến ở Việt Nam, nhưng nếu có ông chồng Hàn Quốc nào bạo hành vợ Việt thì lại gây căm phẫn trong dư luận.  Cái tâm lý ấy khiến cho sự đánh giá trở nên thiếu khách quan và không chính xác. Nó khiến cái ác của bản thân nhỏ đi và của người khác to ra trong khi chính mình đáng bị lên án hơn nhiều.
Tổng thống Pháp François Mitterrand trong chuyến thăm Việt Nam năm 1993 đã muốn đến nhà nhạc sĩ Văn Cao vì bài Tiến Quân Ca làm ông nhớ đến La Marseillaise – Quốc ca Pháp. Chính phủ Việt Nam lúc đấy mới vội vã cấp cho Văn Cao một khoản tiền do ông đang sống trong cảnh quá tồi tàn.
Đảng đóng dấu ông là phản động chỉ vì ông lên tiếng đóng góp để đất nước tốt hơn. Nếu không có bài Quốc ca, lẽ ra ông phải đi tù ít nhất 15 năm. Bù lại, ông bị giam lỏng, trước cửa nhà luôn có công an ngầm canh gác. Đảng đã vô hiệu hóa Văn Cao suốt hơn 30 năm, đã bắt ông sống trong nghèo khổ, đã đày ông đi cải tạo lao động trên Tây Bắc trong tình trạnh sức khỏe kém, đã tìm mọi cách thay bài Quốc ca (nhưng không thành công vì chẳng có bài nào ra hồn).
Đáng chú ý, bài hát Tiến Quân Ca được Văn Cao sáng tác vào thời kháng chiến chống Pháp, nhưng Tổng thống Pháp không bận tâm chuyện đó, đến thăm chỉ vì mến cái tài. Đấy, người Pháp mà còn quý trọng người Việt hơn người Việt với nhau. Vậy mà tự nhận người Việt là vị tha, yêu chuộng hòa bình.
Người ta đã chỉ ra xã hội Cộng sản hiện tại nhiều mặt thua cả thời Pháp thuộc, ví dụ như tự do báo chí, giáo dục, đạo đức xã hội… Nghe tưởng chừng vô lý, nhưng Hong Kong hiện tại chắc chắn thua thời làm thuộc địa của Anh!
Thoạt qua, có thể đổ lỗi cho người Việt vì thích đánh nhau, dễ hận thù mù quáng nên không nhìn ra được cái tốt cái xấu, cái lợi ích lâu dài; nhưng rõ ràng cũng là người Việt nhưng ở thể chế Cộng hòa thì lại khá hơn hẳn. Việt Nam Cộng hòa chẳng đã lấy tên một ông Tây để đặt cho con đường ở trung tâm Sài Gòn để tưởng nhớ công lao tạo ra chữ Quốc ngữ đấy thôi. Rõ ràng họ trân trọng tri thức chứ không coi “trí thức là cục phân” như những người miền Bắc.
Có lẽ Văn Cao đã rút ra được một điều: thực dân Pháp có thể tốt, có thể xấu, có thể nửa tốt nửa xấu; nhưng nó có xấu, thì vẫn không xấu bằng chế độ Cộng sản!
* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

Từ 'thu phí' thành 'thu giá': Chuyện khôi hài

Diễm Thi, RFA-2018-05-24  
Một trạm thu phí trả tiền tự động ở Pháp. Ảnh minh họa.
 Một trạm thu phí trả tiền tự động ở Pháp. Ảnh minh họa.AFP
Bên hành lang Quốc hội chiều 22/5, Bộ trưởng Giao thông Vận tải (GTVT) Nguyễn Văn Thể nói với báo chí xung quanh việc các trạm thu phí BOT được đổi tên thành "trạm thu giá" trong thời gian qua.
Nguyên văn lời ông Thể như sau “Việc chuyển đổi này dựa trên quy định của Chính phủ. BOT là một sản phẩm của doanh nghiệp nên họ tự định giá; còn phí thì mang tính chất Nhà nước”.
Ngay lập tức, người dân và các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực lên tiếng phản đối.
Chuyên viên pháp lý Lê Thị Hòa khẳng định với báo chí trong nước là không thể tùy tiện thay đổi và sử dụng tên gọi khác dẫn đến hiểu nhầm, hiểu sai bản chất của thuật ngữ pháp lý. Còn với GS Nguyễn Đức Dân, nguyên Phó chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam thì "Từ này là do cán bộ quản lý nghĩ ra chứ từ trước đến nay không ai dùng như vậy cả".
Ông Hoàng Ngọc Diêu, một chuyên gia công nghệ thông tin sống tại Úc, hiện là một facebooker có nhiều bài viết cũng như clips về hiện tình đất nước mở đầu phần trao đổi với RFA rằng ông thấy chuyện này khôi hài:
Mấy ông loay hoay tìm một lý do thỏa đáng để cho người dân không phản đối nhưng hóa ra nó rất khôi hài bởi không có xứ nào trên thế giới này có thứ lệ phí đường mà biến thành “giá” hết. Đó là cái kỳ quặc.
Ông nói thêm rằng đường xá, cơ sở hạ tầng của một đất nước là tài sản của quốc gia cho nên dù có đấu thầu, đầu tư gì đi chăng nữa thì nó cũng là tài sản quốc gia, tại sao lại biến thành của doanh nghiệp rồi biến từ phí thành giá rồi lên giá tùy thích để lấy lại vốn đầu tư. Hơn nữa đất nước Việt Nam bây giờ dưới thể chế được gọi là “dân chủ tập trung”, tất cả mọi thứ là dưới sự lãnh đạo của đảng thì làm gì có chuyện đường xá, cơ sở hạ tầng biến thành tài sản của doanh nghiệp để doanh nghiệp đưa ra giá. Ông kết luận:
Thực ra bây giờ có là phí hay giá thì người dân cũng không có khả năng kiểm soát hay đòi hỏi gì hết. Bây giờ dân nói tôi không muốn trả “giá” hay không muốn trả “phí” thì cũng vậy thôi. Họ cũng phải đóng chừng đó tiền hoặc nhiều hơn mà thôi.
Dân lãnh đủ
Theo quy định của luật pháp thì thuế, phí và lệ phí có các luật và văn bản hướng dẫn thi hành để điều chỉnh. Còn “giá” cho các trạm BOT hiện nay là do Bộ GTVT có quyền thao túng, không có luật hay văn bản nào cả. Ông Nguyễn Văn Thể nói với báo chí trong nước là “Việc đổi tên này không có gì khác mà chỉ là linh động hơn”. Vậy linh động ra sao và người dân được hưởng lợi gì từ sự linh động ấy mà phải đổi cách gọi tên, ông Nguyễn Lân Thắng, một nhà hoạt động trong nước bày tỏ:
Cách gọi tên có như thế nào thì người dân vẫn đang phải chịu một khoản thu rất là vô lý. Có những nơi qua trạm BOT làm rất cẩu thả, chất lượng đường rất là kém nhưng thu rất cao. Đặc biệt với những xe vận tải hạng nặng đi qua đường quốc lộ là từ ngân sách nhà nước nhưng các đơn vị tư nhân nâng cấp sửa chữa qua loa rồi sau đó thu phí cao.
Tôi cho là trong thời gian vừa qua với sức ép của dư luận, đặc biệt là Nhóm Bạn hữu đường xa cũng như đông đảo anh em tài xế khắp mọi nơi thì Bộ GTVT đang phải có những cách chống chế những việc làm sai hiện nay.
Trao đổi với báo chí bên lề kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa 14 vào ngày 24/5, Trưởng ban Dân nguyện Quốc hội, bà Nguyễn Thanh Hải, cho rằng bản chất tên gọi “trạm thu phí” hay “trạm thu giá” không khác nhau. Nhưng với ông Hoàng Ngọc Diêu thì nó khác nhau hoàn toàn. Ông phân tích:
Phí là một loại fee đã được quy định dựa trên những tiêu chuẩn nào đó nhất định và có một thời hạn nhất định. Ví dụ ở nước ngoài nó có những cái tollgate, nó có thời hạn và lý do vì sao có mức fee như vậy, tương đương ở Việt Nam là phí. Còn cái “giá” thì không dựa trên một cái gì hết thì dân biết kêu ai vì đâu có ban ngành gì để kiểm soát giá đâu?
Bộ trưởng GTVT thì nói rằng hệ thống BOT không thuộc nhà nước nữa mà thuộc về doanh nghiệp cho nên nó không thể là “phí” mà phải là “giá”. Đó là cách giải thích lòng vòng và phi lý.
Ông nói thêm rằng “giá” là số tiền để trả cho một phẩm vật nào đó mình có trong tay. Đằng này con đường là phương tiện nên không thể gọi là “thu giá”. Nếu họ nói “giá” thì mình có quyền trả giá vì khi nói đến “giá” thì nó có sự biến thiên. Nhà nước có để cho dân mặc cả không?
Liệu có đổi tên?
Trên mạng xã hội cũng như báo chí chính thống đều có những bài viết, những ý kiến phản bác chuyện đổi từ “thu phí” thành “thu giá” vì nó quá khôi hài và vô lý cả về mặt ngôn ngữ lẫn ý nghĩa. Ngay cả đơn vị xây dựng trạm thu giá BOT Đức Hòa ở Long An muốn đổi tên trạm thu giá trở về trạm thu phí, thế nhưng chuyện đổi lại thì không đơn giản chút nào.
Ông Nguyễn Lân Thắng cho rằng cái tên chỉ là một phần của câu chuyện BOT, và muốn thay đổi thì phải có lộ trình:
Với cuộc sống cơm áo gạo tiền của người dân nghĩ đến một cái lợi ích chung để đấu tranh cho lợi ích xã hội thì cũng rất là khó. Tuy nhiên các kênh truyền thông, mạng xã hội và các cơ quan truyền thông tiếng Việt ở nước ngoài bây giờ có một ảnh hưởng to lớn đến tinh thần đấu tranh của người dân phản kháng trước những vấn đề của xã hội.
Tôi vẫn tin rằng sự phản ứng ngày càng gay gắt chứ sẽ không chìm đi. Và dù là cái tên thì nó vẫn là một câu chuyện trong cả câu chuyện trạm thu phí BOT.
Việc đấu tranh này cũng cần phải có lộ trình, tức là phải thu hút được đám đông, thu hút được sự quan tâm cảu dư luận. Bằng cách này hay cách khác thì nó vẫn tiếp tục gây sức ép lên Bộ Giao thông vận tải cũng như các cơ quan công quyền trong vấn đề xử lý các trạm BOT này.
Việc nâng cấp cơ sở hạ tầng để phục vụ người dân là vấn đề lãnh đạo quốc gia nào cũng phải tính tới. Ngân sách chủ yếu là từ tiền thuế do dân đóng góp hoặc đi vay nước ngoài để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhà nước cần phải tính toán mức phí thu như thế nào và trong bao lâu để hoàn vốn chứ đây không phải là sản phẩm kinh doanh. Cơ sở hạ tầng của một quốc gia là để phục vụ người dân chứ không phải là một phương tiện để kinh doanh.

Ngư dân Việt lại bị tàu nước ngoài tấn công và cướp ngư cụ

 RFA-2018-05-25   
Tàu thuyền của ngư dân ở Thừa Thiên Huế. 9/2017.
Tàu thuyền của ngư dân ở Thừa Thiên Huế. 9/2017.AFP
Hai tàu đánh cá của ngư dân tỉnh Quảng Ngãi bị tàu nước ngoài tấn công, cướp ngư cụ và hải sản.
Báo chí trong nước loan tin này vào ngày 25/5, cho biết rằng cách đây 10 ngày khi đang đánh cá tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa, tàu của ngư dân Lê Văn Nam bị một tàu vỏ sắt tấn công, dùng súng uy hiếp, cướp đi 200 tấm lưới, 6 tạ hải sản và đổ số còn lại xuống biển.
Trước đó hai ngày, cũng tại vùng biển này, ngư dân Trần Quốc Vũ cũng bị hai ca nô truy đuổi rồi cướp nhiều ngư cụ và hải sản trên tàu.
Báo Việt Nam không nói rõ những chiếc tàu sắt và ca nô này là của nước nào, nhưng quần đảo Hoàng Sa hiện nay do Trung Quốc chiếm đóng kể từ năm 1974 từ tay Hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Hà Nội vẫn tuyên bố rằng Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam; tuy nhiên trên thực tế Trung Quốc quản lý và tiến hành xây dựng biến đảo Phú Lâm thành một trung tâm hành chính và căn cứ quân sự.
Vào ngày 18 tháng 5 vừa qua, Trung Quốc chính thức thừa nhận đưa oanh tạc cơ H-6K xuống Biển Đông diễn tập. Sau đó, truyền thông quốc tế xác nhận oanh tạc cơ H-6K của Trung Quốc đáp và cất cánh từ đảo Phú Lâm.
Liên quan đến chuyện ngư dân Việt Nam bị tấn công ngoài Biển Đông, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị của Quân đội nhân dân Việt nam, nói với các nhà báo bên hành lang cuộc họp Quốc hội đang diễn ra tại Hà Nội rằng lực lượng chức năng như cảnh sát biển phải cương quyết bảo vệ ngư dân Việt Nam chống lại việc ngư dân các nước khác vào vùng biển Việt Nam đánh cá.
Ông Nghĩa cho biết là các cơ sở hậu cần của Việt Nam trên các đảo ở Biển Đông đang được củng cố, và không quân Việt Nam cũng thực hiện những phi vụ cứu giúp ngư dân.
Trước đó, tại một cuộc họp ở Quốc hội trong kỳ họp lần này, ông Lê Chiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nói rằng tình hình an ninh trên biển trong những tháng đầu năm 2018 rất phức tạp khi mà tàu đánh cá của Trung Quốc với sự trợ giúp của lực lượng chức năng của nước này đã vào sâu trong vùng biển của Việt Nam để đánh cá.
Có hai vụ nghiêm trọng là tàu Trung Quốc vào đến một khu vực chỉ cách đảo Lý Sơn của tỉnh Quảng Ngãi chỉ có 40 đến 50 hải lý, và có lúc vào tháng tư tàu Trung Quốc vào đánh cá chỉ cách bãi biển Đà Nẵng 30 hải lý.

Quốc khố giàu mạnh: Không từ người bán trà đá!

 Cát Linh, RFA-2018-05-24   
'Người bán trà đá tại Việt Nam là có tỉ suất lợi nhuận cao nhất trên thế giới' - Đại biểu Quốc hội Nguyễn Mạnh Tiến
'Người bán trà đá tại Việt Nam là có tỉ suất lợi nhuận cao nhất trên thế giới' - Đại biểu Quốc hội Nguyễn Mạnh Tiến--Courtesy of baomoi.com
Tại buổi thảo luận tổ về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XIV, sáng 22/5, đại biểu Nguyễn Mạnh Tiến (Tây Ninh), Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại đề cập đến những nguyên nhân làm cho nhà nước không thu được thuế, gây nên hụt thu cho quốc khố.
Một ví dụ được vị đại biểu này nêu ra là “dù siêu lợi nhuận nhưng người bán trà đá tại Việt Nam lại không đóng đồng nào cho ngân sách.”
Câu chuyện thu thuế và cách thức thu thuế của Việt Nam hiện đang có "vấn đề" hay chính người buôn bán nhỏ ở Việt Nam đang gây khó khăn cho quốc khố?

Người bán trà đá: Họ là ai?

Báo Lao Động trong nước trích dẫn nguyên văn phát biểu tại nghị trường của Đại biểu Nguyễn Mạnh Tiến khi đề cập vấn đề ngân sách sách nhà nước và cách thức thu thuế:
“Người bán trà đá tại Việt Nam là có tỉ suất lợi nhuận cao nhất trên thế giới, 5.000-7.000% nhưng lại không đóng đồng nào cho ngân sách, họ chỉ đóng tiền tượng trưng nào đó cho địa phương, thậm chí chỉ là vài người kiểu quản lý thị trường gì đó thôi. Trong khi đó trên thế giới, tất cả những người phát sinh thu nhập đều đóng thuế cho nhà nước trực tiếp luôn.”
Rất rõ ràng, nếu dựa theo Luật thuế thu nhập cá nhân do Quốc hội ban hành Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi và hiện đang có hiệu lực, thì phát biểu của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Mạnh Tiến không sai với nội dung luật định. Không những đúng với Hiến pháp Việt Nam mà còn đối với tất cả quốc gia khác trên thế giới.
Chủ thể mà ông Tiến nhắc đến trong phát biểu trên nằm trong Điều 2 và Điều 3 của Chương 1 Luật thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, người bán trà đá là đối tượng nộp thuế và có thu nhập chịu thuế từ hoạt động kinh doanh, sản xuất, dịch vụ.
Trong ngữ cảnh này, ngành nghề họ đang làm là kinh doanh và hàng hoá chính là trà đá, một mặt hàng rất phổ biến và rất bình dân ở Việt Nam. Hoạt động kinh doanh này có đặc điểm là không có chứng từ, hoá đơn mua bán. Sự trao đổi diễn ra đơn giản giữa những tờ bạc có mệnh giá không cao mà người lao động hay gọi là “tiền lẻ” và những ly nước gồm trà, đá và nước lạnh.
Tôi thấy việc đưa ra thuế thu nhập và giá trị gia tăng không phù hợp với sức đóng góp của người dân cũng như những người sản xuất ra của cải vật chất trong nước. Không hợp lắm với sức đóng góp của người dân - Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Lê Văn Triết
Đây cũng chính là cơ sở để ông Lê Văn Triết, Nguyên UV Trung ương (TW) Đảng - Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, người xây dựng nền tảng đầu tiên cho chiến lược đàm phán Việt Nam gia nhập WTO, đưa ra bình luận về việc đánh thuế thu nhập và  giá trị gia tăng vào thu nhập của đối tượng này:
“Tôi thấy việc đưa ra thuế thu nhập và giá trị gia tăng không phù hợp với sức đóng góp của người dân cũng như những người sản xuất ra của cải vật chất trong nước. Không hợp lắm với sức đóng góp của người dân.
Vì năng xuất lao động cũng như thu nhập của người dân, trừ trường hợp buôn bán đất đai không nói, nếu là những người dân làm ăn bình thường thì thu nhập khiêm tốn lắm. Cho nên nếu tăng thì theo tôi nó không phù hợp với thực tế của tình hình, mà nó cũng không phù hợp với túi của người dân có thể đóng góp vào xã hội, đất nước.”
Thu nhập của họ như thế nào? Có thật sự một vốn 7 lời như Đại biểu Nguyễn Mạnh Tiến đề cập hay không?
Một phụ nữ bán nước ven đường ở ngoại thành Sài Gòn cho chúng tôi biết sự thật về lợi nhuận của việc bán một ly trà đá.
“Mấy ổng nói thu thuế đúng rồi vì mấy ổng thấy bán được. Một bịch bự nước đá bi 2,000 đồng, bán gần 10 ly. Một ly nước đá bỏ miếng đá, miếng trà vô bán 2,000 đồng. ”
Mấy ổng nói thu thuế đúng rồi vì mấy ổng thấy bán được. Một bịch bự nước đá bi 2,000 đồng, bán gần 10 ly. Một ly nước đá bỏ miếng đá, miếng trà vô bán 2,000 đồng. - Người bán hàng
Người đàn ông đẩy xe bán hàng rong trên đường phố Sài Gòn cho biết ông từ Hà Nội vào lập nghiệp. Những món ăn đường phố bình dân ông đang bán cũng đã phải chịu thuế.
“Bán trà đá thì lời vì chỉ có nước không, chè (trà), với đá. Bán 3 ngàn, có khi 5 ngàn cũng có.”

Hạn chế quản lý gây thất thu thuế

Về đối tượng đóng thuế mà Đại biểu Nguyễn Mạnh Tiến lấy làm dẫn chứng, Tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng đó là dạng chủ thể chịu trách nhiệm về thuế khoán.
“Các hộ gia đình của Việt Nam như bán trà đá, bán cháo thì phải nộp thuế trên cơ sở là thuế khoán. Nghĩa là có một cán bộ thuế đến xem xét, tính toán số doanh thu của người đó rồi thương lượng, khoán một khoản thuế. Các khoản thuế đó thường là thấp hơn nếu anh có một cửa hàng đăng ký theo Luật Doanh nghiệp.”
Theo những gì Tiến sĩ Lê Đăng Doanh được biết, chính những cá nhân hoặc hộ gia đình này phản ảnh rằng họ phải nộp những khoản thu ngoài pháp luật cho ông A, bà B ở phường, quận. Những khoản đó không phải là nhỏ. Và đương nhiên, theo pháp luật, đó không thể gọi là thuế.
Điều đáng quan tâm ở đây, cũng theo Tiến sĩ Doanh, đó là đã có một thoả thuận giữa những hộ/cá nhân này với cán bộ thu thuế.
“Lỗi đó không phải của họ mà của cán bộ thu thuế. Người ta nói là họ đã có 1 khoản chi để các cán bộ thu thuế hài lòng và chỉ thu 1 khoản thu khoán thấp ở mức độ nào đó thôi.”
Đây cũng chính là chi tiết Đại biểu Nguyễn Mạnh Tiến nhắc đến tại nghị trường, đó là trong thời gian qua, việc đưa cán bộ đi thu thuế của người nộp thuế nên dễ xảy ra sự “thoả hiệp đôi bên cùng có lợi”.
Lỗi đó không phải của họ mà của cán bộ thu thuế. Người ta nói là họ đã có 1 khoản chi để các cán bộ thu thuế hài lòng và chỉ thu 1 khoản thu khoán thấp ở mức độ nào đó thôi. - TS Lê Đăng Doanh

Đừng ‘ngắt ngọn ăn ngay’

Hình thức thuế khoán, hay như vấn đề Đại biểu Nguyễn Mạnh Tiến đặt ra về thu nhập siêu lợi nhuận của người bán trà đá mà không đóng đồng nào cho ngân sách, có phải là vấn đề làm cho ngân sách nhà nước hụt thu hay không?
Câu trả lời của Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, ông Lê Văn Triết đó là không phải chúng ta tìm cách truy cứu trách nhiệm đóng thuế của người bán trà đá mà là chính sách thuế như thế nào để tạo điều kiện và thu hút người dân làm kinh tế.
“Cái thu nhập của nhà nước, của quốc khố yếu, không bù đủ chi thì người ta có những cách giải quyết khác căn cơ hơn. Đó là làm thế nào để tạo cho người dân hay người sản xuất  có lợi nhuận cao hơn, thu nhập cao hơn, để trên cơ sở đó nhà nước có thu thuế, như thế nó phù hợp với quy luật phát triển của sự vật.”
Ông nhấn mạnh, đây mới chính là con đường đi của vấn đề làm cho thu nhập của nhà nước tăng trưởng lên, mở rộng ra lợi nhuận. Và quan trọng là trên cơ sở đó, người dân sẽ tự nguyện đóng thuế cho nhà nước.
“Họ không đóng thuế nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, tức những loại nhập khẩu về để làm ra sản phẩm để nuôi sống doanh nghiệp, phát triển sản xuất. Họ giảm thu thuế đó để họ nuôi dưỡng sức sản xuất của người dân. Khi nền sản xuất phát triển ra, khi cái bánh nở thì người ta mới bắt đầu thu thuế. Như thế cái thu nó hiệu quả hơn, đỡ khó khăn cho dân hơn, cho doanh nghiệp và đỡ khó khăn cho sản xuất hơn.
Chính nhờ đó mới có thu nhập và bền vững được.”
Thái Lan, quốc gia láng giềng với Việt Nam trong vùng Đông Nam Á được ông Lê Văn Triết cho rằng là quốc gia đã và đang thực hiện con đường đi như thế.
“Thuế nhập khẩu đánh vào các mặt hàng phục vụ cho sản xuất các ngành tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp ở Thái Lan đánh thuế rất thấp. Chính nhờ đó sản xuất trong nước phát triển được. Và chính vì phát triển được mà họ nộp thuế tốt hơn. Từ thời ông Shirawatra làm chuyện đó rất mạnh tay và ổng nói nếu nhà nhập khẩu nào hay cơ quan nhà nước nào phạm đến chuyện đó thì họ sẽ có biện pháp.”
Theo lời chia sẻ của vị Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, con đường này lẽ nên được suy nghĩ, nghiên cứu thực hiện từ rất lâu, đừng nên “ngắt ngọn ăn ngay” ở khâu nhập khẩu vật tư hàng hoá. Hãy tạo điều kiện “2 bên cùng có lợi” ở mặt vĩ mô, vừa có lợi nhuận cho người dân, vừa tăng ngân sách cho nhà nước. Đây mới chính là giải pháp giàu mạnh cho quốc khố, chứ không phải truy thu thuế từ một ly trà đá

Nói biển sạch nhưng chưa công bố bằng chứng

RFA-2018-05-24
Cá chết trên một bãi biển thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình hôm 20/4/2016.
 Cá chết trên một bãi biển thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình hôm 20/4/2016.AFP photo

Cũng giống như hàng ngàn hộ ngư dân khác ở tỉnh Quảng Trị, gia đình bà Huynh là nạn nhân của thảm họa môi trường Formosa năm 2016. Thảm họa do nhà máy gang thép Formosa ở Hà Tĩnh xả thải xuống biển làm hải sản chết hàng loạt nổi trắng vùng biển dọc 4 tỉnh Bắc Trung Bộ.
Trước khi thảm họa xảy ra, gia đình bà Huynh bám biển mưu sinh. Cuộc sống tuy không giàu có nhưng chẳng bao giờ phải lo nghĩ gánh nặng cơm áo.
Thảm họa ập xuống, đẩy gia đình bà vào cảnh khốn khó. Chồng bà là ngư dân đánh cá nhưng không đi biển được vì cá nhiễm độc và số lượng không còn nhiều. Còn bà làm nghề buôn bán hải sản khô và đông lạnh nhưng cũng không bán được vì dân sợ cá nhiễm độc không dám ăn. Trong khi đó nợ ngân hàng lấy vốn làm ăn lên đến hàng tỷ đồng nhưng không có tiền trả, lãi mẹ bồng lãi con.
Hai năm sau ngày xảy ra thảm họa môi trường biển, chúng tôi lại tìm gặp gia đình bà Huynh để thăm hỏi về cuộc sống, bà Huynh cho biết:
Cuộc sống của cô vất vả quá, không biết làm nghề chi để mà ăn. Hàng thì tồn đọng lại bán không được. Biết kêu ai hỗ trợ bây giờ, kinh tế thì khó khăn chật vật quá.
Mấy năm trước đi về [đi đánh cá] được mùa hơn, mấy năm nay đi về mất mùa.
Biển nói là hồi phục lại rồi nhưng người ta có ăn hải sản mấy đâu. Họ sợ không dám ăn.
Năm 2016, chồng bà được bồi thương khoản tiền khoảng 17 triệu đồng trong khoản 500 triệu đô la Formosa đền bù cho các nạn nhân. Bà nói rằng số tiền đó còn chẳng đủ chi tiêu một tháng, rồi sau đó gia đình bà biết bám víu vào đâu để sống.
Khi được hỏi nghề đi biển đánh cá của chồng bà đã ổn định lại chưa, bà Huynh chia sẻ:
Ngày trước chưa có vụ Formosa đi biển bắt được nhiều hơn. Bây giờ biển ô nhiễm, từ ngày xảy ra vụ Formosa là mất mùa. Người đi về thì đủ tiền dầu, người thì không có chi để ăn hết.
Biển nói là hồi phục lại rồi nhưng người ta có ăn hải sản mấy đâu. Họ sợ không dám ăn.
- Ngư dân Quảng Trị
Tuần trước, hai ông Phó Thủ tướng Chính phủ là ông Trịnh Đình Dũng và ông Trương Hòa Bình đã đến thăm khu vực chịu tác động của thảm họa Formosa và thăm cả nhà máy này. Ngày hôm đó, truyền thông trong nước đồng loạt loan tin biển đã an toàn và cuộc sống ngư dân đã được ổn định. Chương trình thời sự của VTV1 nói rằng nhiều ngành nghề còn phát triển hơn trước khi xảy ra thảm họa, mà không nói rõ là ngành nghề gì.
Cùng thời điểm đó, Bộ Y tế khẳng định hải sản, nhất là hải sản tầng đáy khu vực biển 4 tỉnh miền Trung đã đảm bảo an toàn.
Chúng tôi trao đổi với TS. Nguyễn Việt Thắng, Chủ tịch Hội nghề cá Việt Nam, về cuộc sống của ngư dân miền Trung sau hai năm xảy ra thảm họa. Ông Thắng cho biết:
Sau khi có đền bù, có các cơ quan pháp luật tham gia cố gắng khôi phục lại, nói chung đến giờ phút này bộ Y tế và Bộ Tài nguyên Môi trường đã xác định môi trường đáy của vùng biển này thì một số loài cá tôm có thể được khai thác và sử dụng.
Trước kia việc ngoài vùng 20 hải lý và hải sản tầng đáy được khuyến cáo không cho đánh bắt vì cá còn nhiễm. Sau một năm cố gắng thì tính đa dạng sinh học đã được khôi phục. Một số chất làm ảnh hưởng đến môi trường đã được thiên nhiên trao đổi và làm cho nó trở nên bình thường.
Đáp lại câu hỏi của chúng tôi, rằng hiện nay còn khó khăn gì phía cơ quan chức năng và ngư dân phải đối mặt? Ông Thắng nói:
Người ta vẫn sợ và nhiều người đặt ra câu hỏi có khi nào tình trạng như thế nữa không. Tuy nhiên với quyết tâm của Chính phủ kiên quyết chỉ đạo không cho lặp lại tình trạng này để củng cố tinh thần cho bà con. Và bà con cũng bắt đầu đi vào sản xuất bình thường.
Ngoài Bộ Y tế ra, bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn cũng đồng tình quan điểm là biển đã sạch. Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho biết môi trường biển của bốn tỉnh miền Trung đã an toàn, nguồn lợi hải sản đã phục hồi.
Trên mạng xã hội, phần đông dư luận bày tỏ sự nghi ngờ với kết luận của cả hai bộ Y tế và Nông nghiệp. Nhiều ý kiến yêu cầu Chính phủ phải công bố bằng chứng biển sạch chứ không thể nói suông như vậy. Trong khi một số người yêu cầu phải thành lập đoàn kiểm tra độc lập gồm các chuyên gia quốc tế thì kết quả mới đáng tin.
Chúng tôi trao đổi thông tin này với Tiến sĩ TS Nguyễn Tác An, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật biển Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang, và được ông cho biết:
Tôi có nghe thông tin này, nhưng tôi chưa thấy tài liệu cụ thể điều tra. Ai là người điều tra và đưa ra dữ liệu rằng môi trường hoàn toàn phục hồi thì tôi chưa được thấy. Thành ra tôi vẫn còn đang đề nghị được tiếp cận với tài liệu cụ thể để có cái đánh giá chính xác hơn.
TS. Nguyễn Tác An nói rằng bản thân ông và tất cả mọi người đều mong muốn môi trường biển phục hồi và người dân ổn định lại cuộc sống. Tuy nhiên theo ông, ở góc độ khoa học, muốn phát biểu điều gì phải có số liệu cơ sở khoa học để chứng minh.
Vì chưa có dữ liệu cụ thể nên các nhà khoa học hiện tại chưa thể phân tích một cách chi tiết về môi trường biển miền Trung.  TS. Nguyễn Tác An nói thêm:
Về thông thường những sự cố môi trường do tác động của phát triển công nghiệp thì phải mất rất lâu mới phục hồi được. Nhưng mà ở miền Trung Việt Nam có một hệ thống động lực rất mạnh chạy từ Bắc vào Nam. Đồng thời, vùng biển VN là vùng Á nhiệt đới, nhiệt độ tương đối nóng và sinh vật đa dạng hơn. Nên khả năng tự động có thể nhanh chóng hơn so với các nơi khác trên thế giới.
Nhưng về vấn đề môi trường không thể nói theo quy luật được mà phải có số liệu cụ thể bằng cách đo đạc, kiểm tra thực biển thì từ đó mới đánh giá được.
Chắc ở VN cũng có những số liệu như vậy nhưng họ chưa công bố rộng rãi ra.
Nhà nước đã công bố thông tin này thì tốt nhất Nhà nước công bố rộng rãi ra rằng dựa vào cơ sở nào, những nhà khoa học nào kết luận chuyện này.
- TS. Nguyễn Tác An
Trả lời câu hỏi liệu VN có nên thành lập một đoàn kiểm tra độc lập với Nhà nước hay không, TS. Nguyễn Tác An không đồng tình với ý kiến này. Ông giải thích:
Tôi nghĩ là chưa cần thiết, bởi vì muốn thành lập một đoàn độc lập thì phải có chuyên gia, phải có công cụ nghiên cứu và tốn kém rất nhiều tiền của. Nhưng Nhà nước đã công bố thông tin này thì tốt nhất Nhà nước công bố rộng rãi ra rằng dựa vào cơ sở nào, những nhà khoa học nào kết luận chuyện này. Trên cơ sở đó ta mới biết nên làm như thế nào.
Vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã quyết định giữ nguyên kế hoạch ban đầu là cho phép công ty Formosa hoạt động ở VN trong 70 năm.
Về phía công ty Formosa cũng vừa mới đưa vào vận hành thử nghiệm lò cao số 2, dự tính sản xuất 5 triệu tấn gang lỏng trong năm nay. Hội đồng giám sát của Bộ Tài nguyên Môi trường cho biết lò cao số 2 của Formosa đáp ứng đủ các tiêu chuẩn môi trường.
Trước đó bộ này cũng nói là từ tháng 7/2016 đến nay nước thải và khí thải của Formosa luôn đạt quy chuẩn cho phép.
Còn ông Thủ tướng Chính phủ VN Nguyễn Xuân Phúc thì nói rằng sau thảm họa môi trường, người dân tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chính quyền hơn.

Liệu bỏ “biên chế suốt đời” có giúp giữ người tài?

RFA-2018-05-24   
Thi tuyển công chức ở Quảng Ngãi.

Thi tuyển công chức ở Quảng Ngãi. Courtesy quangngai.gov.vn

Mở rộng đầu vào?

Ban Chấp hành trung ương đảng cộng sản Việt Nam khóa XII vừa ban hành nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy về xây dựng đội ngũ cán bộ công chức các cấp. Trong nhiều giải pháp mà nghị quyết đưa ra có giải pháp tiến tới bỏ chế độ "biên chế suốt đời", nhằm sắp xếp lại đội ngũ cán bộ công chức theo vị trí việc làm, năng lực, giảm số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ chế cạnh tranh…
Ngoài việc muốn tinh giản biên chế công chức, giải pháp bỏ chế độ "biên chế suốt đời" được chính phủ Việt Nam nhắc đến nhiều năm nay, mục tiêu nhằm giảm gánh nặng ngân sách đối với lượng công chức khổng lồ.
Tôi nghĩ đây là bước đột phá, thời trước còn bao cấp, ai vô được công chức thì sống suốt đời, trong hàng ngũ công chức có thể người ta hoạt động không hiệu quả thì ngân sách vẫn phải nuôi họ bằng tiền thuế của dân.
-BS. Đinh Đức Long
Tin cho biết trong năm 2016 và 2017 Việt Nam đã giảm mỗi năm hơn 4.000 công chức; và theo ‘phê duyệt biên chế công chức các cơ quan hành chính nhà nước năm 2018’ do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký ngày 07 tháng 02 năm 2018, thì Việt Nam có hơn 265.000  công chức trong biên chế, số này không bao gồm biên chế của Bộ Công An, Bộ Quốc Phòng, công chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập và cán bộ, công chức cấp xã.
Nhận xét về giải pháp bỏ chế độ "biên chế suốt đời", Ông Lê Văn Cuông, nguyên Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa cho biết:
“Vấn đề này xuất phát từ thực tế nhiều năm qua trong việc thực hiện chế độ ‘công chức suốt đời’, một khi vào được công chức rồi thì khó thải loại. Điều này làm cho đội ngũ công chức không được thay đổi về chất lượng, tạo ra cái sức ì, làm cho công chức không chịu phấn đấu vươn lên mà yên tâm là mình đã có biên chế rồi thì sẽ ở được trong cơ quan nhà nước suốt đời. Nhất là đến khi nghỉ hưu thì có một số suy nghĩ làm thế nào để thu vén, dĩ hòa vi quý để ra về cho nó nhẹ nhàng.”
Bác sĩ Đinh Đức Long, một đảng viên đảng cộng sản đã từ bỏ đảng, một nhà bất đồng chính kiến, đưa ra nhận định liên quan vấn đề này:
“Tôi nghĩ đây là bước đột phá, thời trước còn bao cấp, ai vô được công chức thì sống suốt đời, trong hàng ngũ công chức có thể người ta hoạt động không hiệu quả thì ngân sách vẫn phải nuôi họ bằng tiền thuế của dân.”

Công bằng hơn?

Về cung cách làm việc của công chức tại Việt Nam, chúng tôi xin trích một câu nói  đầy nghịch lý được lan truyền trên mạng xã hội, của một cựu công chức đã tự rời bỏ ‘biên chế suốt đời’: “Ai cũng có việc nhưng không ai làm việc; Không ai làm việc nhưng ai cũng có lương; Ai cũng có lương nhưng không đủ sống; Không ai đủ sống nhưng ai cũng sống; Ai cũng sống nhưng không ai hài lòng; Không ai hài lòng nhưng ai cũng giơ tay đồng ý?”
Đồng quan điểm với nghịch lý này, Ông Lê Văn Cuông nói:
Có đến 1/3 lực lượng là ngồi chơi xơi nước, 1/3 cầm tay chỉ việc, còn 1/3 làm rất tích cực, kiêm nhiệm rất nhiều việc nhưng cuối cùng thu nhập cũng không cao hơn so với những người ngồi chơi xơi nước.
-Lê Văn Cuông
“Vừa rồi trung ương cũng có bàn đến chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội thì cũng đã mở ra, có đến 1/3 lực lượng là ngồi chơi xơi nước, 1/3 cầm tay chỉ việc, còn 1/3 làm rất tích cực, kiêm nhiệm rất nhiều việc nhưng cuối cùng thu nhập cũng không cao hơn so với những người ngồi chơi xơi nước.”
Theo Ông Lê Văn Cuông, sở dĩ người làm việc thấy chán khu vực nhà nước vì thu nhập thấp, người ta sẽ tìm đến những công ty bên ngoài để có chế độ đãi ngộ cao hơn, được trọng dụng hơn. Ông cho rằng đây là một tâm lý xã hội rất thực tiễn.
Vừa qua, có đến hơn 40 học viên trong đề án ‘Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố Đà Nẵng’ xin nghỉ việc với nhiều lý do khác nhau dù không ít người phải bồi thường tiền tài trợ của đề án. Việc này gióng lên hồi chuông cảnh báo: làm sao để giữ chân người tài, tránh chảy máu chất xám?
Liên quan vấn đề này, ông Lê Văn Cuông cho rằng, để tránh chảy máu chất xám, muốn thu hút nhân tài thì ngoài trọng dụng, chức danh, vị trí việc làm, thì còn phải có chính sách thu nhập tốt hơn. Ông cũng cho rằng đây là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với thực tế.
Bác sĩ Đinh Đức Long cũng cho rằng, chỉ vấn đề biên chế không thôi thì chưa đủ, ông nói tiếp:
“Chính sách phải đồng bộ, ngoài chuyện biên chế chỉ là bề mặt hành chính thôi. Cái quan trọng nhất là phải tạo điều kiện cho người ta làm việc.”
Theo Bác sĩ Đinh Đức Long, ngoài việc cơ quan nhà nước phải thay đổi để nhân tài có thể yên tâm làm việc lâu dài, tránh trường hợp hàng loạt nhân tài bỏ việc như ở Đà Nẵng, thì người tri thức có tài cũng phải thật tâm muốn đóng góp. Hai bên phải có thiện chí hợp tác thì mới cùng làm việc lâu dài được.

Chuyện đào rễ tiêu: lặp lại vòng lẩn quẩn

 RFA-2018-05-24 
Người dân cưa bỏ tiêu.
 Người dân cưa bỏ tiêu.RFA
Người dân trồng tiêu tại Đồng Nai ồ ạt phá vườn, đào rễ bán cho thương lái được nói để xuất sang Trung Quốc. Tình trạng này nhắc đến những vụ việc đổ xô chạy theo yêu cầu ‘lạ’ từ phía thương lái như mua móng trâu/bò, mua đỉa… Chúng tôi tìm hiểu thực tế liên quan tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Tiêu rớt giá

Những hình ảnh ghi nhận được cho thấy cảnh nông dân phá bỏ tiêu, đang đốt củi và những thân tiêu còn sót lại để dọn dẹp đất đai chuẩn bị cho một loại cây trồng mới.
“Năm ngoái không biết cái tiêu làm sao tự nhiên nó rớt giá một hơi một còn có 50-60.000 đồng một ký. Giờ bà con nông dân sản xuất tiêu là cây chủ lực trong xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai vẫn lao đao. Người ta cưa nhiều, trống để cải tạo đất trồng chuối, trồng bắp, trồng bưởi.”
Một mùa như vậy lỗ lã tiền phân tro đâu có lấy lại được đâu. Người ta đâu có ăn. Giờ người ta phải cưa bỏ thôi. - Nông dân
Nhìn thấy tình hình giá cả từ năm ngoái đến năm nay vẫn không có dấu hiệu khả quan, với lại không thể vay được tiền nên gia đình nhà bà cũng đã quyết định phá bỏ rẫy tiêu.
Một mùa như vậy lỗ lã tiền phân tro đâu có lấy lại được đâu. Người ta đâu có ăn. Giờ người ta phải cưa bỏ thôi. Người ta trồng chuối hay là cái khác. Nhà đây 5-6 mẫu còn cưa bỏ đây. Nhà chị còn cưa, còn phải kêu công đào, đem về đặng bán. Chị còn phải mướn công… rồi sẵn ai muốn bán nữa thì chị tấp vô chị gom đi bán vậy đó. Hồi mấy năm trước tiêu 200.000 thì không dám. Nhưng mà giờ tiêu mấy chục ngàn này, hổng có trái nữa người ta cắt người ta bỏ hết. Đa số ở đây giờ bỏ mà cái rễ này cho người ta đào.”
Phá bỏ vườn tiêu xong, rễ tiêu cần được đào lên để chuẩn bị cho những cây trồng mới. Những rẫy - vườn tiêu có diện tích lớn như của gia đình bà cần phải thuê người để đào rễ. Sẵn tiện có thương lái khác thu mua rễ tiêu thì gom lại đem bán để kiếm lại ít tiền bù chi phí phá bỏ. Theo như những gì bà biết, thì những thương lái tiêu làm ăn trực tiếp với phía Trung Quốc đứng ra thu mua rễ tiêu để bán kèm theo tiêu đen và tiêu sọ với mục đích gì thì bà cũng không rõ.
“Bắt đầu người ta xuất đi, xuất chung với tiêu đen tiêu sọ á, người ta xuất đi.
Người ta chuyên bán hàng tiêu đen tiêu sọ đi cho Trung Quốc, người ta bán hàng xuất khẩu thì người ta bán kèm chứ mình đâu có biết.”
Cách đó không xa, một vườn tiêu khác cũng đang bị đốn hạ. Những người này cho biết họ đang được thuê để phá bỏ vườn tiêu. Nhà anh này cũng đang có khoảng 5 hecta đất trồng tiêu, nhưng đã qua mùa thu hoạch cho nên anh cùng những người khác đi làm thêm để kiếm chút thu nhập.
“Bây giờ mình hái một tạ tiêu 3-4 chục cây mới được 1 tạ đúng không? Hái giờ công cán, tiền công mướn hái 180-200.000 một ngày. Một ngày nó hái được 9 ký, 8 ký hoặc 10 ký. Một ngày mất 200.000, ba công hết bao nhiêu rồi? Ba công 600.000… Người dân mình mà không cải thiện là đói chết. Nói thiệt! Nhà nước không giúp được gì luôn!
Giờ nếu mà làm tiêu thì thua lỗ quá nặng không có tiền cho con cái ăn học, sinh hoạt hàng ngày.”

Nguyên nhân

Về việc giá tiêu tụt xuống còn 50-60.000 đồng trên một ký, theo người nông dân lý do là vì năm 2017 các lô hàng nông sản của VN xuất khẩu ra nước ngoài bị trả về làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá tiêu trong nước.
“Nước ngoài người ta thử xét nghiệm dư lượng thực vật - cái thuốc còn đọng lại trong tiêu rất là nhiều nên trả về cho công ty là từ đó bắt đầu tiêu mới xuống ào ào từ đó giờ không lên nổi nữa. Nếu mà tiêu xuất khẩu thì mới có giá, còn bán vào trong nội địa cái gì cũng vậy thôi không có giá.”
Nước ngoài người ta thử xét nghiệm dư lượng thực vật - cái thuốc còn đọng lại trong tiêu rất là nhiều nên trả về cho công ty là từ đó bắt đầu tiêu mới xuống ào ào từ đó giờ không lên nổi nữa. - Nông dân
Giá tiêu rớt mạnh là nguyên nhân chính khiến cho các chủ vườn tiêu phá bỏ hàng loạt để chuyển sang trồng loại cây khác. Nếu không phá, họ sẽ càng ngày càng thua lỗ mà không biết lấy tiền đâu để bù lỗ chi phí đầu tư cho cây trồng, lại còn phải lo cho bữa cơm hàng ngày.
“Không thấy chính quyền hỗ trợ gì hết, đi vay tiền ngân hàng còn khó khăn. Vay cũng không đủ đề đầu tư. Mẫu rẫy được hai tấn tiêu, có được 120 triệu, coi như 70 thì 140 đi… thì đầu tư vô hết chắc 160 rồi.”
Hiện tại, có nhiều nông dân trồng tiêu ở quanh đây vẫn tiếp tục phá bỏ rẫy tiêu, cho nên việc thu mua rễ tiêu vẫn đang diễn ra.
“Còn chớ, thì giá 12.000 đồng/ ký rễ tiêu tươi, thì không biết nó mua vì mục đích gì mình không biết.
Bây giờ người ta đi đào rễ tiêu không à, ngày 500-600.000. Còn đi làm cây vác cây được có 250.000 à.”
Sau khi phá bỏ, rễ tiêu được đào lên và đem bán với giá 12.000 đồng/kg loại tươi.
Lâu nay, không ít những thông tin đưa ra cho rằng phía TQ thu mua rễ tiêu một cách “khó hiểu” và khuyến cáo người dân phải cẩn trọng. Nhưng thực tế cho thấy rằng, chi phí tính bằng chục triệu hay trăm triệu bỏ ra để gầy dựng rẫy tiêu thì không ai dại dột chỉ vì thu được vài triệu đồng bán rễ mà phá bỏ cả vườn.
Vào cuối tháng 2 vừa qua, Tổng Cục Hải Quan chính phủ Hà Nội thông báo tiêu  là một trong những nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Và trong vòng 5 năm gần đây, tiêu nằm trong nhóm mặt hàng có tốc độ  tăng lượng xuất khẩu cao nhất.  Liệu thực tế có được duy trì một cách bền vững trước mọi biến động của thị trường?

‘Đường lưỡi bò’ mới của Trung Cộng sẽ ‘liếm’ 67 lô dầu khí Việt Nam

‘Đường lưỡi bò’ mới của Trung Cộng sẽ ‘liếm’ 67 lô dầu khí Việt Nam
Ảnh: Blog Nguyễn Xuân Diện
Nếu đường 9 đoạn của Trung Cộng được nối liền vào nhau, thì cái gọi là “đường chữ U” hay “đường lưỡi bò mới” sẽ ăn vào từng phần hoặc toàn bộ 67 lô dầu khí của Việt Nam trên Biển Đông.
Đó là theo nhận định của công ty cố vấn Wood Mackenzie đưa ra với hãng thông tấn Reuters hôm Thứ Tư 23/05, trong một bài viết mang tựa đề “Khoan xuống: Cuộc săn lùng dầu đầy nguy hiểm ở các lô của Việt Nam trên Biển Đông”. hai tác giả James Pearson và Greg Torode nhận định rằng, với đường đứt khúc hiện tại, thì một số lô dầu khí ngoài khơi Việt Nam đã rơi vào khu vực bị Trung Cộng tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông. Trong các lô này, có bốn lô hiện đang tiến hành khai thác thương mại. Các lô còn lại đang trong các giai đoạn khác nhau của hoạt động khoan thăm dò hoặc phát triển dự án.
Hồi tuần trước, một công ty con của hãng dầu khí Nga Rosneft lo ngại rằng hoạt động khoan khí của họ ở Lô 06.1 ngoài khơi Vũng Tàu có thể khiến Bắc Kinh tức giận. Đây không phải là lần đầu tiên các dự án khai thác dầu khí của Việt Nam bị Trung Cộng đe dọa. Hồi tháng 3 năm nay, PetroVietnam yêu cầu công ty năng lượng Repsol của Tây Ban Nha ngưng dự án Cá Rồng Đỏ nằm trong Lô 07.03. dầu khí đóng góp 20% vào tổng sản lượng quốc nội của Việt Nam, và 30% tổng ngân sách cả nước từ năm 1986 đến 2009.
Trong vòng 30 năm, từ 1987 đến 2017, Việt Nam đã xuất cảng 355 triệu tấn dầu thô, thu về 145 tỷ Mỹ kim.
Huy Lam / SBTN