Friday, February 2, 2018

Linh mục tổ chức làm đường xá cho dân nghèo Quảng Bình, chính quyền xã tới phá

Linh mục tổ chức làm đường xá cho dân nghèo Quảng Bình, chính quyền xã tới phá
Một chính quyền xã ở tỉnh Quảng Bình đã qua mặt chính quyền huyện và tỉnh, khi điều động một đám đông tới phá hoại một con đường do một linh mục tổ chức xây cho người dân nghèo trong giáo xứ, bất chấp dự án này đã được các chính quyền huyện và tỉnh đồng ý.
Trang Facebook Thanh Niên Công Giáo hôm Thứ Sáu 2 tháng 2 đưa tin, sự việc xảy ra tại giáo xứ Thanh Thuỷ thuộc giáo phận Vinh, nằm trên địa bàn hai xã Liên Trạch và Hưng Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Đây là một giáo xứ nghèo, người dân nơi đây chủ yếu sinh sống bằng nghề tìm trầm, đánh cá, nuôi cá lồng trên sông Son. Giáo xứ Thanh Thủy hiện do Linh mục Vinh Sơn Cao Dương Đông quản nhiệm.
Trong khi nhà cầm quyền sở tại không làm lại cho người dân nơi đây một con đường sạch đẹp để đi lại, thì Linh mục Cao Dương Đông đã thực hiện làm đường, tạo thuận tiện cho việc đi lại, bảo đảm an toàn giao thông cho người dân. Dự án đã được thỏa thuận trong một cuộc họp với nhà cầm quyền huyện và tỉnh.
Tuy nhiên, khi công trình gần hoàn thành, nhà cầm quyền xã Liên Trạch không rõ vì lý do gì đã điều động một lực lượng đông đảo kéo tới đập phá. Vụ đập phá con đường do người dân xây dựng diễn ra vào khoảng 8 giờ sáng Thứ Sáu 2/2. Linh mục Cao Dương Đông cho biết, rất may đã không xảy ra xô xát đổ máu.
Trang Thanh Niên Công Giáo nhận định, trong khi chính quyền xã ngang nhiên lộng hành, thì cấp cầm quyền huyện và tỉnh làm ngơ trong vụ này.
Huy Lam / SBTN

Hà Nội xây nghĩa trang quốc gia 60 triệu Mỹ kim dành cho cán bộ cao cấp

Hà Nội xây nghĩa trang quốc gia 60 triệu Mỹ kim dành cho cán bộ cao cấp
Uỷ ban thành phố Hà Nội hôm Thứ Năm 1 tháng 2 công bố xây thêm một nghĩa trang quốc gia dành cho cán bộ cao cấp của chế độ cộng sản.
Nghĩa trang mới mang tên Yên Trung, tọa lạc trong huyện Thạch Thất, Hà Nội, có diện tích gấp 20 lần nghĩa trang quốc gia Mai Dịch có từ năm 1982. Truyền thông trong nước cho hay, dự án xây nghĩa trang Yên Trung đã được thủ tướng CSVN phê duyệt, với mục đích “phục vụ nhu cầu an táng” của các cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước cộng sản, cũng như các anh hùng và danh nhân do chế độ đương thời công nhận. Kinh phí cho dự án được ước tính hơn 1.4 ngàn tỷ đồng Việt Nam, tương đương hơn 60 triệu Mỹ kim, sẽ lấy từ ngân sách nhà nước, tức tiền thuế của dân.
Theo mô tả của báo mạng VnExpress, nghĩa trang Yên Trung nằm dưới chân núi Ba Vì, cách trung tâm Hà Nội 40 km về phía tây. Tổng diện tích nghĩa trang là 120 héc ta. Nghĩa trang Yên Trung dự trù có tới 2,500 ngôi mộ, mỗi ngôi mộ có khuôn viên rộng 25 tới 35 mét vuông. Được biết, để xây nghĩa trang mới dành cho cán bộ cao cấp của chế độ, 105 gia đình trong khu vực sẽ phải di dời.
Trên mạng xã hội Facebook, blogger Nguyễn Tiến Tường nhận định, dự án xây nghĩa trang cho cán bộ cấp cao phản ánh “một não trạng vô cùng phong kiến”, khi các lãnh đạo cộng sản chóp bu “tự ru ngủ bằng việc lấy lăng tẩm đền đài nguy nga để mưu cầu sự thán phục của nhân dân”.
Huy Lam / SBTN

Quá giang

 Theo VOA-02/02/2018 
Thiên Hạ Luận 
Đội tuyển U23 Việt Nam.
Đội tuyển U23 Việt Nam.

Trân Văn

Không ai ngờ số người, số vụ quá giang đội tuyển U23 Việt Nam, ăn theo thành tích của họ tại Giải vô địch U23 châu Á lại đông đến như vậy…

***
Sau khi vắt kiệt sức trong trận tranh cúp với đội tuyển U23 Uzbekistan vào chiều 27 tháng 1, đội tuyển U23 Việt Nam quay về Việt Nam vào sáng 28 tháng 1. Chuyện đội tuyển U23 Việt Nam hiện diện tại trận chung kết đã khiến kế hoạch di chuyển của cả đội từ phi trường Thường Châu (Trung Quốc) về phi trường Nội Bài (Việt Nam) thay đổi. Những “người hùng” tại Giải vô địch U23 châu Á không quay về bằng phi cơ của Vietnam Airlines như dự tính vì hãng hàng không Vietjet cử hẳn một “chuyên cơ” sang đón họ. “Chuyên cơ” không chỉ khiến công chúng sôi lên vì giận, Vietjet phải lên tiếng xin lỗi vì để những vũ công ăn mặc hở hang, ưỡn ẹo giống như mời chào các cầu thủ trẻ, Cục Hàng không Việt Nam phải vội vàng xử phạt Vietjet,… mà còn làm dấy lên thắc mắc về việc chọn… “chuyên cơ”.
Người sử dụng Internet tại Việt Nam đã chuyển cho nhau xem bài viết “Có quá rẻ - cái giá của sự đánh đổi” mà Bích Hà Trần, cựu nhân viên Vietnam Airlines, đưa lên facebook. Facebooker này nhận định, Vietjet đã giựt chuyện đón đội tuyển U23 Việt Nam từ tay Vietnam Airlines để quảng bá cho mình là một hành vi thiếu đạo đức trong kinh doanh. Chi phí cho một chuyến bay từ Việt Nam sang Trung Quốc đón đội tuyển U23 Việt Nam dưới dạng “chuyên cơ” chỉ vài ngàn Mỹ kim – quá rẻ so với chi phí quảng cáo để đạt tới hiệu quả gây sự chú ý tương đương nơi hàng trăm triệu người. Vậy thì ngoài chuyện tán thành đề nghị dùng “chuyên cơ”, Liên đoàn Bóng đá Việt Nam (VFF) có biết đòi thêm gì cho mình hay không, khoản đó nếu có thì có tương xứng không, ai hoặc những ai dính líu tới việc nhận lời, giúp Vietjet hưởng lợi lớn một cách thiếu minh bạch như vậy, họ hưởng bao nhiêu?
Từ những thông tin, nhận định của Trần Bích Hà, chỉ riêng trên facebook của Binh Hà Trần đã có cả ngàn facebooker cho rằng, đây là chuyện cần phải làm rõ nhưng có viên chức nào muốn làm và sẽ làm tới nơi, tới chốn?
Dẫu được ưu đãi bằng “chuyên cơ” nhưng rõ ràng đội tuyển U23 Việt Nam đã phải cõng Vietjet, cho Vietjet… quá giang và chẳng phải chỉ có… Vietjet!
Trên đường từ phi trường Nội Bài về Hà Nội, thiên hạ thấy ông Nguyễn Lân Trung, cựu Phó Chủ tịch VFF đứng trên sàn chiếc xe buýt hai tầng như… lãnh đạo đội tuyển U23, vung tay chào người hâm mộ tích cực, hào hùng hơn cả những “người hùng”. Bị công chúng chỉ trích, báo giới chất vấn, ông Trung phân trần rằng ông được “tổ chức phân công” để dẫn dắt đám đông bày tỏ tình cảm, sự tri ân với đội tuyển U23 Việt Nam. Phó Chủ tịch, phụ trách truyền thông của VFF vội vàng cải chính, không phân công ông Trung làm chuyện đó!
Sau hành trình kéo dài gần năm tiếng từ phi trường Nội Bài về trung tâm thành phố Hà Nội, nhịn tiêu, nhịn tiểu, bí bách tới mức, cảnh sát giao thông phải cung cấp… xô cho các thành viên trong đội tuyển tiêu, tiểu vào đó, đội tuyển U23 Việt Nam chưa được nghỉ ngơi. Họ được đưa đến lăng của ông Hồ Chí Minh để dâng hương và báo công, rồi vào Văn phòng Chính phủ nhận huân chương.
Xem trận chung kết giữa đội tuyển U23 Việt Nam với đội tuyển U23 Uzbekistan, nhiều người xót xa vì đó là lần thứ ba, cầu thủ của đội tuyển U23 Việt Nam tiếp tục phải lăn xả tới phút 120, đặc biệt là ở trận cuối cùng phải quần thảo với đối phương trong tuyết. Ai cũng biết sức người có hạn nhưng lạ là giới hữu trách ở Việt Nam không nghĩ đến chuyện để họ nghỉ ngơi. Gặp gỡ đội tuyển U23 Việt Nam ngày hôm sau, khi họ vừa tiếp tục phơi thân nhiều giờ trong thời tiết chỉ chừng 10 độ C, ông Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Việt Nam bảo rằng, ông biết “các bạn và các em đang rất đói và mệt” nhưng vì ông vui, nhân dân vui, ông tin các thành viên của đội tuyển U23 “có đói cũng vui” nên ngoài chuyện trao huân chương, Thủ tướng Phúc cầm đọc cho hết một… xấp giấy dày.
Dường như viếng lăng, dâng hương, nhận huân chương, việc Thủ tướng ráng đọc cho hết xấp giấy – giống như đề nghị quá giang – kéo dài quá mức nên Chương trình Giao lưu nghệ thuật nhằm vinh danh đội tuyển U23 diễn ra ở sân vận động Mỹ Đình đã khai mạc chậm hơn dự trù hàng giờ, khiến vài chục ngàn người đội mưa, chịu lạnh đứng ngóng. Tiếng là chương trình do Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch và Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp thực hiện nhưng nhiều cá nhân, kể cả báo chí nhận xét, chương trình thiếu chuyên nghiệp, bát nháo như một đêm văn nghệ ở… hội chợ. Các thành viên trong đội tuyển U23 Việt Nam – đối tượng được vinh danh – chỉ làm những tấm đệm cho những viên chức đăng đàn và Đài Truyền hình Việt Nam có cơ hội tăng lượt người xem, thu hút quảng cáo.
Cuối buổi vinh danh, Lương Xuân Trường, Đội trưởng đội tuyển U23 Việt Nam, thú thật, suốt ngày, cả đội chưa được ăn bữa nào đúng nghĩa. Tuy Trường bảo rằng anh không đói nhưng ống kính truyền hình cho thấy, dù tên của Trường được cả MC lẫn khán giả cùng hô nhưng phải mất khoảng nửa phút và được đồng đội lưu ý, Trường mới nhận ra thiên hạ gọi tới mình.
Đó mới chỉ là những vụ quá giang xảy ra trong ngày 28 tháng 1. Từ 29 tháng 1 đến giờ, các thành viên của đội tuyển U23 Việt Nam còn phải vào trụ sở Quốc hội, hầu chuyện Chủ tịch Quốc hội, để Chủ tịch Quốc hội xoa đầu. Chia nhau hầu chuyện báo giới…
***
Thành thật mà nói, những vụ quá giang đã tiếp thêm lửa để những người sử dụng Internet tại Việt Nam hăm hở luận bàn khi những trận cầu nảy lửa của Giải vô địch U23 châu Á đã chấm dứt. Nguyễn Huỳnh Duy xem ứng xử “có đói cũng vui” của Thủ tướng Phúc là bằng chứng cho thấy “có thực mới vực được đạo” đã lỗi thời, chỉ “vui” là đủ để sánh vai bạn bè năm châu tiến vào “cách mạng công nghiệp 4.0”. Phạm Đoan Trang đăng lại tấm ảnh chụp đội tuyển U23 Việt Nam lọt thỏm giữa một rừng những cá nhân trán bóng, bụng bự khi họ được chở tới Văn phòng Chính phủ kèm thắc mắc: Mấy ông bà này là ai? Chúng tôi không biết! và đề nghị: Mấy ông bà đi ra đi! Bạn bè của Trang có người bảo đó là “Đội Kền Kền”, có người gọi đó là hiện tượng “giây máu ăn phần”. Có người như Aikido Tropic bình: Ăn không chừa thứ gì, kể cả diện tích khung hình! Dường như sợ nhiều người không hiểu thành ngữ “giây máu ăn phần”, Cong Thang Vu viết hẳn một status riêng.
Giữa sự rộn ràng của phong trào quá giang, Nguyen Chuong tán về Thánh Gióng. Theo đó, dẹp xong giặc Ân, Thánh Gióng cưỡi ngựa về trời, không chịu ở lại “mừng công” vì “cõi trần nhung nhúc bọn "lục súc tranh công”, nếu “ở lại, bọn lục súc sẽ biến công trạng của Gióng thành... công lao của chúng. Chi bằng tách ra một cõi, người đời mới không lẫn lộn”.
Thế các thành viên đội tuyển U23 Việt Nam – những “người hùng” thì sao? Cho đến giờ này, họ chỉ cảm ơn người hâm mộ và hứa sẽ cố gắng hơn trên các sân cỏ. Tuy nhiên theo Nguyen Dan – người quan sát buổi truyền hình trực tiếp buổi “mừng công” do Quốc hội Việt Nam tổ chức hôm 29 tháng 1 – thì “mặt các cầu thủ nhìn rất buồn”. Tuy bà Ngân (Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội), không cầm giấy đọc như Thủ tướng Phúc và nói khá hơn nhưng các cầu thủ chẳng hào hứng chút nào. Có cầu thủ nói chuyện riêng, có cầu thủ thì dành khoảng thời gian đó để ký tên cho người hâm mộ.
***
Nhà văn Phạm Thị Hoài vừa đưa lên trang facebook của bà vài suy nghĩ về bóng đá và thời cuộc. Trong đó: Bóng đá là điều kỳ vĩ duy nhất trong cuộc đời không can thiệp vào cuộc đời. Nó khép lại với tiếng còi kết thúc. Trước khi tấn công một đất nước, không kẻ ngoại xâm nào nghiên cứu lòng ái quốc bóng đá và số lượng cờ trên má hay trên mông người hâm mộ ở đó. Ai hèn vẫn hèn. Ai ngu vẫn ngu. Ai lười vẫn lười. Ai đê tiện vẫn đê tiện. Ai ăn cắp vẫn ăn cắp. Ai vơ vét vẫn vơ vét. Ai thích nhậu nhẹt hơn rèn luyện thân thể vẫn nhậu nhẹt. Ai chém gió vẫn chém gió. Ai đạo đức giả vẫn đạo đức giả. Ai nuốt lời vẫn nuốt lời. Ai xấu trai vẫn xấu trai. Kẻ độc tài vẫn độc tài. Lòng người chia rẽ vẫn chia rẽ. Thực phẩm bẩn vẫn bẩn. Tham nhũng vẫn tham nhũng. Bệ rạc vẫn bệ rạc. Lầm than vẫn lầm than. Trái bóng tròn vô can. Phép màu chỉ diễn ra trên sân cỏ. Tôi mến bóng đá vì sự vô dụng khổng lồ của nó. 90 phút yêu nước vô hại là đủ và cần chấm dứt, khi trái bóng ngừng lăn.

Việt Nam không dám công bố kiều hối 2017?

 Theo VOA-Phạm Chí Dũng/02/02/2018 
Cần nhìn lại một dự báo của Pew Research Center hồi tháng Bảy năm 2017: kiều hối về Việt Nam năm 2017 dự kiến chỉ có 5,4 tỷ USD.
 Cần nhìn lại một dự báo của Pew Research Center hồi tháng Bảy năm 2017: kiều hối về Việt Nam năm 2017 dự kiến chỉ có 5,4 tỷ USD.
Một hiện tượng kinh tế - chính trị rất “đặc thù xã hội chủ nghĩa” là khi tháng Giêng năm 2018 đã qua, vẫn chẳng có một con số thống kê nào được công bố về kết quả kiều hối mà chính thể độc đảng ở Việt Nam đã “hút” được từ gần 4 triệu “khúc ruột ngàn dặm” ở hải ngoại.
Giấu công bố?
Sự tương phản hoàn toàn trái ngược là vào những năm trước, đặc biệt vào năm 2015 khi lượng kiều hối đổ về Việt Nam lên đến mức kỷ lục 13,5 tỷ USD, Tổng cục Thống kê và hệ thống báo đảng đã công bố báo cáo kiều hối 2015 ngay khi năm cũ còn chưa kết thúc. Tổng cục Thống kê cũng thường rất mau mắn công bố kết quả thu hút kiều hối ngay đầu tháng Bảy hoặc thậm chí trước khi kết thúc tháng Sáu hàng năm. Hệ thống tuyên giáo đảng càng không quên tô vẽ về “thành công của Nghị quyết 36”, tức bản nghị quyết ra đời từ năm 2003 về “công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, mà đã khiến cho bà con Việt kiều nhiệt tình “cống hiến cho quê hương”.
Nhưng vào năm 2017, ngay cả báo cáo 6 tháng đầu năm của Tổng cục Thống kê đã chẳng có con số tổng hợp nào về “tình hình kiều hối trên cả nước”, thay vào đó chỉ là kết quả kiều hối về Sài Gòn - một thị trường được xem là “truyền thống”.
Vào năm 2017, Sài Gòn vẫn duy trì được vị thế “thành đô” của nó khi thu hút lượng kiều hối 5,2 tỷ USD, thậm chí còn nhỉnh hơn một chút so với 2016. Điều này có thể dễ dàng được lý giải vì Sài Gòn có hơn 1 triệu gia đình có người thân đi định cư ở nước ngoài và chiếm đến 55 - 60% trong tổng kiều hối về Việt Nam hàng năm. Trong cơ cấu của kiều hối về Việt Nam, thị trường Mỹ vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với chiếm 60%, từ khu vực châu Âu là khoảng 19%. Việc kiều hối về Sài Gòn không giảm cũng cho thấy tính ổn định của người Việt hải ngoại khi gửi tiền về cho thân nhân của mình và đầu tư sản xuất ở thành phố này.
Tuy nhiên, dấu hỏi rất lớn đang bật lên là tổng lượng kiều hối về Việt Nam trong năm 2017 là bao nhiêu? Và vì sao cho đến giờ phút này các cơ quan kinh tế của chính quyền vẫn chưa công bố số liệu tổng hợp về nguồn ngoại tệ thu được từ “kiều bào ta”? Liệu đã xảy ra một “sự cố” đủ lớn mà đã khiến chính quyền không dám công bố kết quả kiều hối 2017?

5,4 hay dưới 9 tỷ USD?
Có một cách thức để ước tính lượng kiều hối về Việt Nam trong năm 2017: nếu vẫn dựa vào tỷ lệ chiếm đến 55 - 60% tổng lượng kiều hối của Sài Gòn, tổng kiều hối về Việt Nam trong năm 2017 sẽ vào khoảng 9 - 9,5 tỷ USD, tức bằng hoặc cao hơn lượng kiều hối 9 tỷ USD về Việt Nam trong năm 2016.
Nhưng nếu tỷ lệ 55 - 60% của Sài Gòn thay đổi theo chiều hướng tăng hoặc tăng vọt trong năm 2107, có nghĩa là kiều hối đổ về Việt Nam ngày càng tập trung về Sài Gòn trong khi giảm mạnh ở tỉnh thành khác, thì sao?
Trong trường hợp đó, cần nhìn lại một dự báo của Trung tâm nghiên cứu Pew (Pew Research Center) của Mỹ vào tháng Bảy năm 2017: kiều hối về Việt Nam năm 2017 dự kiến chỉ có 5,4 tỷ USD.
Pew đã dự đoán kiều hối 6 tháng đầu năm 2017 sẽ rơi vào khoảng 3,6 tỷ USD. Và với dự báo 6 tháng cuối năm 2017, lượng kiều hối còn bị giảm 50% do tác động của việc chính phủ Việt Nam duy trì lãi suất đồng USD 0% và FED tăng lãi suất, kiều hối năm 2017 sẽ vào khoảng 5,4 tỷ USD, giảm 39,7% so với năm 2016.
Dù tới nay các cơ quan chính quyền Việt Nam vẫn chưa công cố con số kiều hối năm 2017, rất nhiều khả năng con số 9 tỷ USD kiều hối năm 2016 chưa phải “đáy kiều hối” mà đang khiến “đảng và nhà nước ta” thất vọng đến thế nào, đặc biệt trong bối cảnh sức sản xuất và kinh doanh của nền kinh tế ngày càng thảm hại và Việt Nam hầu như bị các tổ chức tài trợ tín dụng lớn nhất hành tinh đóng cửa cho vay.
Hiện nay, thị trường tài chính ở Việt Nam đang xảy ra hai động thái trái chiều: trong khi lượng tiền đồng quá dư thừa trong hệ thống Ngân hàng nhà nước, Kho bạc nhà nước và các ngân hàng thương mại cổ phần, lượng USD dành cho nhu cầu nhập khẩu và trả nợ nước ngoài lại bị thiếu hụt khá trầm trọng. Nếu kiều hối về Việt Nam tiếp tục sụt giảm trong vài ba năm tới, ngân sách sẽ không biết tìm đâu ra ngoại tệ mạnh để thanh toán các khoản đến hạn với quốc tế.

9/10 người hải ngoại đang làm ngược lại

Trong thực tế, cho dù Việt Nam tăng lãi suất gửi đồng USD trong thời gian tới, động tác này cũng khó làm hấp dẫn thêm lượng tiền kiều hối ở nước ngoài gửi về. Lý do đơn giản là mặc dù Ngân nhà nhà nước Việt nam đã duy trì chính sách gửi đồng USD với lãi suất bằng 0 trong cả năm qua, vẫn có nhiều người dân, nhà đầu tư và doanh nghiệp tìm cách lách luật bằng việc vẫn gửi USD vào ngân hàng rồi ngay sau đó, họ lại thế chấp sổ tiết kiệm để vay lại VNĐ với lãi suất 4%-5%/năm, tiếp tục gửi tiết kiệm VNĐ với lãi 6%-7%. Như vậy, người gửi USD đã có mức sinh lời 2%/năm, và các ngân hàng thương mại vẫn đang huy động USD với mức lãi suất là 2%. Do đó, nếu Ngân hàng nhà nước tăng lãi suất huy động USD lên 0,25-0,5% thì cũng chỉ là bước đi nhằm dần dần hợp thức hóa những gì mà các ngân hàng thương mại đang làm, chứ không thể tăng huy động thêm USD cho nền kinh tế.
Tại APEC Đà Nẵng 2017, ngoài một hiệp định khung về việc Hàn Quốc cung cấp khoảng 1,5 tỷ USD tín dụng trong giai đoạn 2016 - 2020 cho Việt Nam, ngoài con số 12 tỷ USD trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Mỹ mà chẳng ai biết có thực chất hay không, và dù có mặt của Tổng Giám đốc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Christine Lagarde…, đã chẳng thấy hiện ra một lời hứa hẹn nào, càng không hiện ra lời cam kết nào nào từ người Mỹ hay các nước khác về cung cấp viện trợ hoàn lại hoặc tín dụng lãi suất ưu đãi cho Việt Nam – một đòi hỏi mà chưa bao giờ đảng lại gây sức ép lớn đến thế đối với phía chính phủ để ít ra phải “vay để đảo nợ”.
Trong khi đó, một số người Việt hải ngoại cho biết nếu cách đây 5 - 6 năm, họ thường chọn phương án gửi tiền về Việt Nam để đầu tư, thì nay có đến 9/10 người hải ngoại chọn cách gửi tiền hoặc đầu tư ở nước ngoài. Nguyên do không chỉ là mặt bằng lãi suất gửi USD ở Việt Nam quá thấp, mà còn bởi do kinh tế suy thoái nên thị trường kinh doanh và sản xuất ở Việt Nam sinh lời rất thấp. Một nguyên do khác không thể bỏ qua là tình hình chính trị ở Việt Nam đầy biến động, bất ổn và có thể gây rủi ro cao mà khó làm cho “kiều bào ta” yên tâm gửi tiền về…
Lượng kiều hối từ châu Âu gửi về Việt Nam, vốn trước đó có đà sụt giảm, có thể càng giảm mạnh hơn sau vụ chính phủ Đức cáo buộc Việt Nam bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay tại Berlin, dẫn đến cuộc khủng hoảng ngoại giao Đức - Việt và khiến môi trường chính trị lẫn đầu tư ở Việt Nam trở nên bất ổn hơn nhiều.
Thậm chí ngay cả “Hội nghị hòa hợp dân tộc về văn học” - một động tác do đảng cầm quyền ở Việt Nam chỉ đạo cho Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, cũng không thể khiến người Việt hải ngoại được thuyết phục. Kết quả của hội nghị phải tổ chức đến hai lần này là khá thảm hại: lần đầu vào tháng 4/2017 đã phải hoãn lại do chẳng có nhà văn hải ngoại nào hồi âm cho gần 50 thư mời của Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh được gửi đi, còn lần thứ hai tuy được báo cáo là “tổ chức thành công” nhưng Hội Nhà văn Việt Nam lại giấu biệt danh sách các “nhà văn hải ngoại” tham dự. Kiều hối về Việt Nam cũng vì thế vẫn ngậm đắng nuốt cay…

Tướng Giáp: Vụ Mậu Thân ‘thiếu cân nhắc’ và ‘đánh ẩu’

Theo VOA-Bùi Tín /03/02/2018 
Hình ảnh về Tết Mậu Thân trong Bảo tàng Tổng thống Lyndon Johnson ở Austin, Texas (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Hình ảnh về Tết Mậu Thân trong Bảo tàng Tổng thống Lyndon Johnson ở Austin, Texas (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Tết Mậu Tuất - 2018 năm nay là dịp kỷ niệm tròn 50 năm sự kiện Mậu Thân 1968, báo chí trong nước và ngoài nước, Hoa Kỳ và các nước phương Tây, đều bàn luận về trận chiến này.
Hà Nội đã tổ chức lễ kỷ niệm Nhà nước, long trọng với sự tham dự của « tứ trụ », Tổng bí thư, Chủ tịch Nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, đáng chú ý là có cả nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã về nghỉ hưu để được là « người tử tế ». Nhiều cuộc biểu diễn văn nghệ được tổ chức.
Trong không khí xã hội ảm đạm, đời sống khó khăn, niềm tin thiếu vắng, mọi thứ thuế gia tăng, giá xăng dầu lên cao, Ban tuyên giáo TƯ tận dụng mọi sư kiện cũ và mới để cố lên giây cót tinh thần toàn dân, như họ đã bốc đồng bày ra quá nhiều cuộc họp hành từ Bắc vào Nam, qua trận được vào chung kết của đội bóng trẻ U23 Việt Nam ăn mừng một cách quá lố, làm cho các em vất vả mệt nhọc thêm sau một thời gian thi đấu hết sức căng thẳng ở Trung Quốc.
Tôi đã hỏi chuyện tướng Lê Minh, tư lệnh một cánh quân, trung tướng Trần Văn Quang, tư lệnh măt trận Trị Thiên: Các vụ thảm sát là có thật.
Dùng ngoa ngôn, xảo ngôn là cái nghề truyền thống của « đảng ta ». Đại thắng Mậu Thân, nhưng đại thắng ở chỗ nào? Có thể gọi là đại thắng được không? Khi lợi dụng lời hứa hưu chiến 7 ngày để đúng giao thừa 30 và mồng 1 Tết mở cuộc Tổng tiến công và hy vọng tổng khởi nghĩa khắp miền Nam tại 40 thành phố thị trấn, 72 quận lỵ, để đạt kết quả ra sao? Ngoài thành phố Huế giữ được trong 25 ngày, các thành phố khác chỉ thâm nhập được vài ngày - lâu lắm là 4 đến 5 ngày, các quận lỵ chỉ thâm nhập được 2, 3 ngày là bị diệt lớn và bị quét sạch. Nổi dậy, đồng khởi hoàn toàn không xảy ra.
Các ý đồ chiến lược là tiêu diệt một mảng lớn quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa, giải phóng các thành phố và thành thị lâu dài, dân chúng toàn miền Nam nổi dậy lập chính quyền mới khắp nơi, cả 3 mục tiêu chiến lược ấy đều chỉ là ảo tưởng cay đắng. Ngược lại lực lượng vũ trang của Măt trận và miền Bắc bị tổn thất rất nặng nề sau khi bị đối phương phản công liên tiếp, từ tháng giêng Mậu Thân 1968 đến cuối năm 1970, lực lượng tại chỗ, hàng trăm đơn vị biệt động, 4 sư đoàn chính quy, các đơn vị địa phương tỉnh huyện bị tổn thất cực lớn, các cơ sở quần chúng bị lộ và bị quét gần sạch, phải cầu cứ gấp miền Bắc đưa quân vào thay. Vậy thì đại thắng Mậu Thân ở chỗ nào?
Có vài chỗ nổi bật như một tổ biệt động đột nhập sứ quán Hoa Kỳ trong một buổi, 2 nhóm quân đột nhập Sân bay Tân Sơn Nhất trong 1 đêm, gây chấn động dư luận phương Tây, nhưng không có giá trị quân sự gì thực chất lâu dài.
Có gì để mà kỷ niệm hoành tráng khi sự kiện Mậu Thân tiêu biểu cho một sự lãnh đạo chiến tranh rất chủ quan, mang nặng tính phiêu lưu mù quáng, thái độ vô trách nhiệm với sinh mạng của hàng chục vạn quân nhân, đề ra các cuộc tiến công ồ ạt thiếu chuẩn bị, cân nhắc kỹ lưỡng, khoa học.
Vụ Mậu Thân là chủ trương thiếu cân nhắc, thiếu trách nhiệm, là đánh ẩu, khi các điều kiện chưa đủ, quân Mỹ còn rất đông, khống chế cả trên không bằng lực lượng không quân chiến đấu, trực thăng, cả trên bộ bằng xe tăng, xe bọc thép.
Nay lịch sử quân sự đã chỉ rõ, việc hoạch định kế hoạch của đòn chiến lược này không được thảo luận kỹ tại Bộ Chính trị, không có sự tham gia của ông Hồ Chí Minh và ông Võ Nguyên Giáp, nhóm lãnh đạo hiếu chiến mù quáng kiêu ngạo và đại chủ quan gồm có Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng… đã lên phương án tiến công bí mật. Họ vin cớ ông Hồ cao tuổi, ốm yếu, mất ngủ, không nên để ông Hồ bận tâm, « xin để Bác sang Bắc Kinh tĩnh dưỡng, Bác làm cho bài thơ cổ động chiến sỹ là tốt quá rồi », đại thể là thế. Họ cũng bày chuyện để ông Giáp khẩn cấp sang Hungari mổ túi mật bị viêm và an dưỡng bên đó. Chính ông Giáp đã kể lại cho tôi khi tôi đi cùng ông sang Liên Xô tháng 4/1977, tại nơi nghỉ mát Sochi, rằng « Vụ Mậu Thân là chủ trương thiếu cân nhắc, thiếu trách nhiệm, là đánh ẩu, khi các điều kiện chưa đủ, quân Mỹ còn rất đông, khống chế cả trên không bằng lực lượng không quân chiến đấu, trực thăng, cả trên bộ bằng xe tăng, xe bọc thép ». Ông còn nói rõ rằng: Lẽ ra sau đợt 1 không đạt, bị đẩy lui, phải rút về nông thôn củng cố thì lại cay cú liều lĩnh ra lệnh cố mở thêm đợt tiến công 2 (tháng 5) và ép thêm đợt 3 (tháng 9) nên thất bại càng nặng, tổn thất càng lớn, phải 2 năm sau mới tạm phục hồi và phải đưa thêm quân từ miền Bắc dù chưa qua huấn luyện thật tốt. Đây là những nhận định xác đáng.
Có thể nói sự kiện Mậu Thân là tiêu biểu cho thái độ vô trách nhiệm không coi trọng sinh mạng người lính, những sinh mạng trẻ đầy sức sống là vốn phát triển lâu dài quý báu nhất của dân tộc, theo kiểu tiến công « biển người » của học thuyết quân sự Mao Trạch Đông và Lâm Bưu, từng hy sinh hàng triệu quân nhân ở chiến trường Triều Tiên mà không chút tính tóan.
Trong sự kiện Mậu Thân, hiện còn một vấn đề vướng mắc là những cuộc thảm sát dân thường là có thật? quy mô? và nguyên nhân?
Đây là vấn đề tôi quan tâm tìm hiểu từ khi ở trong nước. Tôi đã hỏi chuyện tướng Lê Minh, tư lệnh một cánh quân, trung tướng Trần Văn Quang, tư lệnh măt trận Trị Thiên về chuyện này. Các vụ thảm sát là có thật. Có đến 5 địa điểm số người bị chôn sống lên đến từ 3 nghìn đến 2 trăm, đồng bào đã đào bới để chôn cất, tổ chức lễ tang. Con số là từ 4 nghìn đến 6 nghìn. Về chủ trương thì theo tôi là không có. Không có lệnh nào từ Bộ chính trị, TƯ, Quân ủy hay Bộ Quốc phòng như có người khẳng định là có lệnh diệt chủng. Còn có phổ biến khi mở chiến dịch bản Kỷ luật chiến trường là không được chiếm riêng chiến lợi phẩm, không được chửi bới đánh đập, giết tù binh. Theo tôi có 2 nguyên nhân để giải nghĩa các cuộc tàn sát trên.
Một là tôi được biết khi chuẩn bị chiến dịch đã có văn bản phổ biến cho mọi người là Thừa Thiên – Huế là một địa bàn chính trị hiểm yếu bậc nhất, trong đó có rất nhiều Việt gian phản động, nhiều ác ôn ác bá địa chủ phong kiến thuộc giòng tôn thất, Ưng, Bửu, Vĩnh… của vua Bảo Đại, có rất nhiều đảng viên Dân chủ của Nguyễn Văn Thiệu, rất nhiều tay sai ác ôn của Ngô Đình Cẩn lãnh chúa miền Trung khét tiếng chống Cộng. Tiến công quân sự đi cùng quét sạch bọn phản động Việt gian. Do lệnh như thế nên mỗi ngày một có nhiều tù binh quân nhân và thường dân là viên chức cấp thôn xã, quận huyện, thành phố Huế và tỉnh Thừa thiên. Một số tù binh quan trọng được đưa lên núi, còn các đơn vị đều có số ít nhiều tù binh bị trói tay đi theo cuộc hành quân. Có đại đội có vài chục tù binh phải giữ. Mỗi tiểu đoàn hàng trăm, mỗi trung đòan hàng nghìn tù binh. Khi di chuyển thật là gánh nặng cho đơn vị.
Sau 2 tuần tiến công, quân Mỹ mở cuộc phản công lớn của hải quân lục chiến, với hàng trăm cuộc ném bom, hàng vạn trái pháo từ các tàu hải quân Mỹ ngoài biển bắn vào. Hàng ngũ « quân giải phóng » bị tổn thất ngày càng lớn, phải mang theo nhiều thương binh. Từ ngày 15 âm lịch, có lệnh tất cả rút lui gấp lên vùng núi căn cứ cũ, bảo toàn lực lượng, nhưng kèm theo một nghiêm lệnh nữa là phải đưa tù binh theo, không được để xổng vì sẽ làm lộ nơi hành quân rất tai hại cho an toàn.
Các cán bộ cơ sở bị đặt trong tình hình gay gắt. Làm sao hành quân được nhanh, gọn, an toàn, với hàng nghìn thương binh cáng theo mà không được để xổng tù binh, khi không còn người để canh giữ. Các chỉ huy đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn bị dồn đến thế cùng, nảy ra giải pháp bất đắc dĩ là thủ tiêu. Môi trường là chiến tranh, là chết chóc, là máu lửa… Thế là tù binh bị chôn sống, suy cho cùng vẫn là do lệnh ép buộc từ trên cao. Tội phạm là đảng đã làm gương coi thường sinh mạng con người ở cả hai bên, « dù đốt cháy dãy núi Trường Sơn cũng không ngại. »
Lẽ ra kỷ niệm Mậu Thân phải tổ chức Tưởng niệm, Cầu Siêu và Sám hối, như Giáo sư đảng viên Đào Công Tiến, Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Sài Gòn, đề nghị vào dịp kỷ niệm 30/4 năm ngoái, rất nên chuẩn bị thực hiện năm nay, nhân kỷ niệm 50 năm sự kiện Mậu thân 1968 và 30/4/2018.

Những ca khúc về Mậu Thân 68: Tính nhân bản của người miền Nam

RFA 2018-02-02  
Bìa nhạc ca khúc Cơn mê chiều của nhạc sĩ Minh Khôi.
Bìa nhạc ca khúc Cơn mê chiều của nhạc sĩ Minh Khôi.  Nguồn: Internet
Bên cạnh những nhân chứng còn sống, bên cạnh những lời ghi chép để lại trong lịch sử vẫn chưa đầy đủ, thì âm nhạc là nơi lưu giữ, là 1 thực thể hiển hiện rõ nhất sự thật về biến cố Mậu Thân 1968.
Nhìn ở 1 góc độ nào đó, 5 ca khúc: “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy”; “Những con đường trắng” của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng; “Hát Trên Những Xác Người” hay còn gọi “Bài Ca Cho Những Xác Người” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn; Cơn Mê Chiều của nhạc sĩ Minh Khôi là 5 trang sử nhạc ghi lại một cuộc thảm sát dân tộc chưa bao giờ nguôi ngoai trong lòng người dân Việt Nam.
Thế nhưng, phải đến gần 10 năm sau, những ca khúc ấy mới có cơ hội thực hiện vai trò lịch sử của nó. Vì sao?

Không có oán hận

Trong những tư liệu nói về Mậu Thân, người ta hay dùng những danh từ như thảm sát, biến cố, thảm kịch, tang tóc…để chuyển tải tính chất của 1 cuộc chiến.
Thậm chí, người ta còn hình tượng hoá sự kiện này như 1 cuộc tương tàn giữa anh em trong 1 nhà. Có người đã viết về Mậu Thân thế này:
“Trong vụ thảm sát Mậu Thân, ngoài nỗi đau đớn cho dân tộc trong một cuộc nồi da xáo thịt tàn độc, còn có một nỗi đau lớn hơn, là vai trò một số trí thức VN trong cuộc thảm sát này.”
Nhưng âm nhạc thì không.
“Chiều nay không có em, mưa non cao về dưới ngàn
Đàn con nay lớn khôn mang gươm đao vào xóm làng
Chiều nay không có em, xác phơi trên mái lầu
Một mình nghe buốt đau, xuôi Nam Giao tìm bóng mình
Đường nội thành đền xưa ai tàn phá ?
Cầu Tràng Tiền bạc màu loang giòng máu
Hương Giang ơi thuyền neo bến không người qua đò
Một lần thôi nhưng còn mãi ...
Và chiều nay không có em, đường phố cũ chân mềm”
Trong vụ thảm sát Mậu Thân, ngoài nỗi đau đớn cho dân tộc trong một cuộc nồi da xáo thịt tàn độc, còn có một nỗi đau lớn hơn, là vai trò một số trí thức VN trong cuộc thảm sát này. - Một độc giả
Cơn mê chiều của nhạc sĩ Nguyễn Minh Khôi có lẽ là chứng cứ trọn vẹn nhất về sự mất mát của Huế. Thêm vào đó là tiếng hát ma mị của danh ca Thái Thanh, thì Cơn mê chiều chính là oan hồn của hàng trăm xác người sau cuộc thảm sát ở Khe Đá Mài, thuộc xã Dương Hòa, quận Hương Thủy.
Tất cả những gì đẹp nhất, thơ mộng nhất của Huế được tác giả mang hết vào ca khúc. Không có tiếng súng. Không có tiếng thét. Không có lời ai oán. Chỉ có “Một mình nghe buốt đau, xuôi Nam Giao tìm bóng mình”
Hoặc là lời trách buồn bã của người mẹ đất thần kinh đối với đứa con của mình “nay lớn khôn mang gươm đao vào xóm làng”
Trong 1 tư liệu phân tích về ca khúc này, bút danh Hoàng Hạc có viết rằng:
“Giống như những đứa con lớn lên trong một gia đình nghèo, có bà mẹ bịnh tật, có người cha say rượu hay đánh đập con cái và một bầy em còn nhỏ dại. Thay vì khuyên răn người cha, săn sóc người mẹ, che chở cho đám em khờ, các anh lại bỏ đi, và chẳng những đã bỏ đi mà còn dắt kẻ gian về đốt phá nhà mình.”
Và đâu đó, vẫn là tính nhân bản của tầng lớp văn sĩ xưa, lấy ngọn đuốc soi sáng mong làm tan đi tội ác.
“Tôi là người trong đêm, mang ngon đuốc về nội thành
Xin là người soi đường đi xóa hết đau thương...”
“Từ tiếng trách nghẹn người anh em miền Bắc, sao nỡ cắt đứt nhịp cầu tình nghĩa, qua “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy”; Đến đau đớn tột cùng để phải cười điên, hát dại, qua “Hát Trên Những Xác Người”, “Bài Ca Cho Những Xác Người”; Từ sự chua xót khi một thành phố thanh bình bỗng chốc hóa thành một thành phố của sự tang tóc, qua “Những Con Đường Trắng”; Đến những bước chân lê thẩn thờ mê dại, nghẹn ngào trước thảm cảnh người thân về giết người thân, qua “Cơn Mê Chiều”.
Tất cả 5 bài hát đã nói lên mọi khía cạnh của sự đau đớn mà người dân xứ Huế đã phải gánh chịu. Nhưng, hoàn toàn không có bất cứ một lời lên án, nguyền rủa hay đòi trả thù rửa hận nào.
Ngạc nhiên thay!
Ngạc nhiên để phải suy gẫm, mới thấy tính nhân bản của người dân miền Nam, của chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Cao đẹp quá!
”
Đó là chia sẻ của một độc giả tên Hoàng Trọng Thắng khi nói về 5 ca khúc chứng nhân lịch sử của Mậu Thân 1968.
Ngọn đồi cao mênh mông lồng lộng những xác người. Con đường thênh thang phủ đầy những đoàn người dắt díu nhau chạy trốn. Bãi Dâu lởm chởm những hố hầm chôn vùi người đã chết…
“Chiều đi lên đồi cao, hát trên những xác người. Tôi đã thấy, tôi đã thấy, trên con đường, người ta bồng bế nhau chạy trốn…”
Đứng trước khung cảnh đó, người ta có thể khóc đến điên dại mà cũng có thể cười đến hoá rồ.
Thế nhưng, bức tranh về thảm kịch của một miền đất nước và của cả một dân tộc được cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vẽ lên năm 1968, ngay khi ông từ Huế về lại Sài Gòn, hoàn toàn không có sự kêu gào căm phẫn.
Có chăng, là tiếng vỗ tay, vỗ tay trong thù hận, vỗ tay cho ăn năn.
“Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy,
Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em.
Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh
Chị vỗ tay hoan hô hòa bình
Người vỗ tay cho thêm thù hận
Người vỗ tay xa dần ăn năn.”
Cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng khi khóc cho nỗi đau thương của Huế, cũng chỉ là nhắc nhớ sự ngọt ngào muôn thưở của Huế.
“Ngày xưa Huế có con đường trắng
Ơi con đường trắng
Áo trắng đơn sơ,
Áo trắng ngây thơ,
Áo trắng như mơ,
Áo trắng học trò”
Hay mượn hình ảnh sụp đổ của cây cầu Tràng Tiền 12 nhịp để nói lên nỗi đau đớn của ông.
“Tình người về giữa đêm xuân chưa dứt cuộc vui
Giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi.
Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi
Nón lá sầu khóc điệu Nam Ai tiếc thương lời vắn dài”

Không nghĩ nhiều về chiến tranh

Một vị bác sĩ hiện sinh sống ở Sài Gòn, (xin được dấu tên) nhớ lại thời gian ấy, khi ông còn là 1 cậu bé, những ca khúc đó chưa được phổ biến nhiều, đặc biệt là với người dân miền Nam.
“Cái tâm thế hồi đó rất lạ. Người ta không than khóc về chiến tranh nhiều. Xã hội đủ thanh bình, đô thị Việt Nam đủ thanh bình để người ta không nhắc đến chiến tranh.
Khoảng năm 70, 72, người ta vẫn không hát những ca khúc đó nhiều, trừ những sinh hoạt của những sinh siên tranh đấu, nhưng cũng không nhiều. Đa số là những ca khúc Du ca, Nhi đồng ca, Bình ca của Phạm Duy, người ta hát về mơ ước 1 quê hương thanh bình, thanh niên đi xây dựng quê hương.”
Khi người ta ý thức, căm hận đến tận xương tuỷ đó là tội ác. Người ta nghe lại với lòng căm phẫn. Trước đó, dân miền Nam không được giáo dục với lòng căm phẫn. Xã hội hồi xưa rất lạ. Gần như chiến tranh ít chạm đến đô thị. Dân miền Nam ít nói về chiến tranh. Người ta không bị ám ảnh lắm.  - Một bác sĩ ẩn danh
Theo vị bác sĩ này, mãi cho đến sau năm 1975, thì những đau thương mất mát của Huế nói riêng và của cả dân tộc nói chung trong những ca khúc về Mậu Thân mới thực sự được trưng bày.
“Khi người ta ý thức, căm hận đến tận xương tuỷ đó là tội ác. Người ta nghe lại với lòng căm phẫn. Trước đó, dân miền Nam không được giáo dục với lòng căm phẫn. Xã hội hồi xưa rất lạ. Gần như chiến tranh ít chạm đến đô thị. Dân miền Nam ít nói về chiến tranh. Người ta không bị ám ảnh lắm.”
Cho dù chủ nghĩa hiện thực có hiện diện trong 5 ca khúc tiêu biểu về Mậu Thân, nhưng bàng bạc trong đó vẫn là sự lãng mạn, hào hoa, mưu cầu cái đẹp thanh bình của 1 tầng lớp văn sĩ xưa.
Vị bác sĩ không nêu tên trong này có nói rằng “sẽ không có ca khúc nào có thể diễn tả hết được sự kinh hoàng của nó”
“Chỉ là 1 mô tả phơn phớt thôi. Hàng ngàn hài cốt bới lên, cột chùm với nhau bằng dây thép, dây kẽm gai cột vô xương cánh tay, không có ca khúc nào tả được.”
Sứ mệnh của âm nhạc là thế. Cho dù các nhạc sĩ không chọn chủ nghĩa hiện thực để đưa vào tác phẩm thì 5 ca khúc tiêu biểu này sẽ mãi mãi là chứng nhân của lịch sử. Và thảm sát Mậu Thân 1968, dù có thêm bao nhiêu lần 50 năm nữa thì nỗi đau của người dân đất thần kinh và của cả dân tộc Việt Nam vẫn mãi còn đó mỗi khi nhắc lại.

Tết Mậu Thân 1968 và văn chương

TTTVN 2018-02-02  
Huế, 50 năm sau cuộc chiến
Huế, 50 năm sau cuộc chiến  TTVN
Năm mươi năm trôi qua, khoảng thời gian vừa đủ cho một đứa bé ra đời, lớn lên, tập tễnh vào đời, va đập cuộc sống và lần mò bước qua bên kia dốc cuộc đời để chiêm nghiệm về đời người, về nhân tình thế thái. Ấy cũng là khoảng thời gian mà vết đau lịch sử vẫn còn âm ỉ, đúng nửa thế kỉ trước, trong khoảnh khắc giao thừa Tết Mậu Thân, những tiếng súng khai cuộc tổng tiến công từ những người lính Cộng sản Bắc Việt khiến cho người dân miền Nam ngỡ đó là tiếng pháo nổ, để rồi vài mươi giờ sau, một biến cố tan thương khảm dấu vào lịch sử. Và suốt chiều dài nửa thế kỉ, những xác người vẫn còn lẩn khuất đâu đó giữa lòng đất mẹ oan khiên!
Cuộc chiến Mậu Thân 1968 đã đi vào văn chương như một vết đau khôn nguôi, những tác phẩm văn chương như Dải khăn sô cho Huế của Nhã Ca, hồi ký Không Biên Giới của Nguyễn Thị Thanh Sung, Bài Ca Viết Cho Những Xác Người và hát Trên Những Xác Người của Trịnh Công Sơn, Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy của Trầm Tử Thiêng, Chuyện Một Đêm của Anh Bằng, Dáng Đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân…
Họ không lên án hay gì cả nhưng các tác phẩm này gây xúc động, bởi vì các tác phẩm này đánh đúng vào thời điểm đó, - Nhạc sĩ Đynh Trầm Ca
Có thể nói số lượng tác phẩm văn chương cả hai phía Nam và Bắc vĩ tuyến 17 viết về chiến trận Mậu Thân 1968 không hề nhỏ, trong đó, có một số tác phẩm của các nghệ sĩ miền Nam Cộng Hòa đã thành bất hủ, sự hiện hữu của tác phẩm như một chứng tích tâm hồn về một cuộc binh biến đau thương. Và nỗi đau này đã vượt thời gian, thấm đẫm tâm hồn những thế hệ sau.
Nhắc về tác phẩm văn chương trong cuộc binh biến Mậu Thân 1968, nhạc sĩ Đynh Trầm Ca, người đoạt giải Kim Khánh những năm đầu thập niên 1960 với ca khúc Ru Con Tình Cũ, chia sẻ: “Mậu Thân, sau cái thảm họa đó thì những tác phẩm nó ra đời và gây sự xúc động lớn, như Dải khăn sô cho Huế của Nhã Ca, như âm nhạc thì có Trầm Tử Thiêng – chuyện một chiếc cầu đã gãy... Họ không lên án hay gì cả nhưng các tác phẩm này gây xúc động, bởi vì các tác phẩm này đánh đúng vào thời điểm đó, cái thật của cuộc chiến đó. Sau Mậu Thân thì các tác phẩm văn học miền Nam xoay quanh cuộc chiến này như một sự tưởng niệm...”.
Nhạc sĩ Đynh Trầm Ca chia sẻ thêm là hiện tại, trí nhớ của ông không còn được minh mẫn như trước đây vài năm bởi chứng tia biến não. Nhưng những cảm xúc, những nỗi đau mất mát trong chiến rtanh thì không bao giờ nguôi trong tâm hồn một nghệ sĩ. Nhắc về chiến tranh, giọng ông trở nên xúc động bồi hồi, ông nhắc tên những tác phẩm văn chương như đang gọi tên những người bạn thiết đã lâu ngày không gặp.
Có thể nói rằng tác phẩm viết về chiến cuộc Mậu Thân 1968 gồm nhiều thể loại, nhưng có hai góc nhìn riêng biệt, góc nhìn của các nghệ sĩ phiá Nam vĩ tuyến 17 thiên về nỗi đau, nỗi mất mát, xuyên suốt tác phẩm văn chương, thi ca của miền Nam Việt Nam là nỗi đau, cái nhìn nhân ái và những trăn trở nhân sinh về kiếp người, về chiến tranh cũng như những di họa của nó.
Ngược lại, các tác phẩm văn chương nghệ thuật của các nghệ sĩ Bắc vĩ tuyến 17 mang đậm tính chất anh hùng ca, mỗi ca từ, câu văn, cú pháp trong mỗi tác phẩm như những phát súng xung trận, nhuốm màu khói lửa, tiếng hô xung phong và hò reo chiến thắng.
Nhà văn, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, người vừa từ bỏ chức danh Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội, nhận xét: “Cuộc chiến Mậu Thân hình như chỉ có một cuộc chiến tiêu biểu của ông Xuân Thiều, đại tá quân đội. Ngay cả Đất Trắng của Nguyễn Trọng Oánh, viết những năm 1978, 1979 cuốn này nói về một cấp chỉ huy,cấp chính ủy của phía Bắc chịu không nổi gian khổ đã ra đầu hàng phía Nam...Có thể đây là lần đầu tiên văn học miền Bắc nói đến chuyện đầu hàng trong chiến tranh...”.
Nhưng có một thực tế là cho dù những tác phẩm của các nghệ sĩ phía Bắc vĩ tuyến 17 cho dù mang tính xung trận, mang hơi hướm tuyên truyền nhưng vẫn không giấu được giọt nước mắt trong sâu thẳm tâm hồn của người nghệ sĩ. Cuộc chiến tử sinh, một chiến cuộc đã lấy đi quá nhiều sinh mạng đồng đội của họ, cho dù đứng trên biên kiến nào thì nỗi đau, nỗi mất mát vẫn là điều không thể giấu được.
Nếu như nói về chiến tranh, nói về Mậu Thân thì mình đọc những tác phẩm văn học miền Nam. - Nhà thơ Đỗ Trung Quân
Điều này trở nên rõ ràng hơn trong tác phẩm Nỗi Buồn Chiến Tranh của nhà văn Bảo Ninh. Bảo Ninh không viết về cuộc chiến Mậu Thân 1968, ông viết về nỗi đau chung của chiến tranh, trong đó có cả bóng dáng của chiến dịch Mậu Thân và chiến dịch Tổng tiến công mùa Xuân 1975. Với ông, chiến tranh là một nỗi buồn, và nỗi buồn này đeo đăng suốt một thế hệ, nhiều thế hệ mà chiến tranh đã để lại vết tích trên thân thể lịch sử của nó.
Cuộc chiến trong mắt Bảo Ninh là một ván bài mà ở đó, tất cả đều thua, không hề có người thắng cuộc, kẻ thắng cuộc ẩn danh duy nhất mà ông tiết lộ có lẽ là hố chôn bộ bài cũng như nỗi ám thị thắng thua trên mặt quân bài. Và chiến tranh đã lấy đi cái đẹp, lấy đi tuổi xuân, lấy đi tính nhân văn của con người một cách không thương tiếc.
Với nhà văn từng sống, trải nghiệm tuổi thơ chiến tranh ở Sài Gòn như nhà thơ Đỗ Trung Quân, ông chia sẻ: “Cho mình xem thử tác phẩm văn chương về Mậu Thân 1968? Mình chưa thấy! Nếu như nói về chiến tranh, nói về Mậu Thân thì mình đọc những tác phẩm văn học miền Nam, đó là những tác phẩm mô tả nỗi bi thương, nỗi mất mát của chiến tranh chứ không phải là tụng ca hay nói về chiến thắng. Mình không thấy gì ngoài nỗi mất mát...”.
Một cuộc chiến đã đi qua 50 năm, đúng nửa thế kỉ, nhưng cái chết, nỗi đau vẫn như vừa sơ sinh, tiếng khóc và trận gió oan hồn trong cuộc chiến vẫn còn phảng phất đâu đó trong gió tháng Chạp.
Nói cho cùng, chiến tranh là một thứ gì đó làm người ta mất mát quá nhiều và nó chỉ xứng đáng để hồi tưởng, để nhớ, để tưởng niệm và kính cẩn nghiêng mình với sự mất mát, với cái chết, với vết thương dân tộc. Chiến tranh hoàn toàn không xứng đáng để ngợi ca cho dù đứng trên biên kiến nào. Những hành động ngợi ca chiến tranh, ngợi ca sự mất mát không thể ngồi chung với văn minh nhân loại.
Bài viết ngắn ngủi này xin được xem như một sự tưởng tiếc, nghiêng mình kính cẩn trước các oan hồn Việt Nam đã ngã xuống và vĩnh viễn im hơi lặng tiếng trong chiến cuộc Mậu Thân 1968. Bài viết như một nén tâm nhang của thế hệ hậu chiến tranh viết về mối cảm hoài trong một buổi chiều cuối năm, nghĩ về quê hương, đất nước!
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam

Thảm sát ở Khe Đá Mài-Huế: Nỗi đau âm ỉ 50 năm

Hòa Ái, phóng viên RFA 2018-02-02  
Hai bà mẹ bên di ảnh của con trai bị sát hại trong thảm sát tại Khe Đá Mài, tại đám tang ở nghĩa trang Ba Tầng-Huế. Di ảnh của nạn nhân Đỗ Long bên trái (từ trái sang).
Hai bà mẹ bên di ảnh của con trai bị sát hại trong thảm sát tại Khe Đá Mài, tại đám tang ở nghĩa trang Ba Tầng-Huế. Di ảnh của nạn nhân Đỗ Long bên trái (từ trái sang).  Courtesy: Linh mục Phan Văn Lợi cung cấp
Trong toàn bộ biến cố Mậu Thân ở Huế, cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài, ở trong rừng Đình Môn Kim Ngọc, nay thuộc xã Dương Hòa, quận Hương Thủy được đánh giá là dã man và thê thảm nhất.

Giáo xứ Phủ Cam 50 năm trước

Bà cụ Đỗ Thị Xuân hồi tưởng lại những gì diễn ra với gia đình của bà và của nhiều gia đình khác trong giáo xứ Phủ Cam, ở Huế vào ngày Tết đầu năm Mậu Thân, cách nay 50 năm:
“Đầu năm Tết 1968, khi đó súng bắn dữ quá. Mấy người nói lên nhà thờ là an toàn nhất. Ngày sau đó, gia đình lên nhà thờ. Ở trên đó hai ngày thì phải! Khi đó, súng bắn hai, ba ngày rồi. Cậu em canh gác bên ngoài vào lúc khuya chạy lại chỗ cha tôi nằm và nói ‘Cha ơi, Việt cộng tràn vô rồi’. Đến khuya thì Việt cộng tràn vô nhà thờ. Trời ơi, họ đi khám xét, rọi đèn pin từng mặt người.”
Bà cụ Xuân kể lại tỉ mỉ từng chi tiết như là vụ việc vừa mới xảy ra, bởi vì nỗi ám ảnh kinh hoàng luôn hằn sâu trong ký ức của bà và của người thân trong gia đình về cái chết của cậu em trai út trong cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài.
Họ nhảy dù xuống và vớt lên nào là chuỗi, nào là dây chuyền, qua 2 trận lụt trong 20 tháng làm thịt người bị rã ra, mắc trên cây do nước dâng lên. Còn dưới suối thì họ vớt lên xương cốt, đủ thứ hết
-Bà Đỗ Thị Xuân
Bà cụ Xuân cho biết sau khi bộ đội Bắc Việt và Việt cộng nằm vùng kiểm tra mọi người đang trú ẩn ở nhà thờ Phủ Cam, thì phụ nữ và trẻ em được cho về. Người em trai út của bà là Đỗ Long, 16 tuổi bị bắt lại khi đang cùng gia đình trên đường trở về nhà. Người em trai kế Đỗ Thanh, là thanh niên tự vệ trong giáo xứ đã bị mất liên lạc nên không rõ có bị bắt hay không.
“Việt cộng vào trong thành phố, còn xung quanh thì đạn bắn rớt ào ào. Khi đó, họ cho người về nhắn rằng nếu ai có thân nhân bị bắt thì mang đồ ăn cho 3 ngày mang lên cho những người ‘học tập’ ở chùa Từ Đàm. Mẹ tôi nấu cơm bới giống như cục bột, bới hai giỏ vì không biết cậu anh có bị bắt không. Tôi trẻ nên tôi đi mang cơm lên chùa Từ Đàm, để hai giỏ xách, ghi tên Đỗ Long/1 giỏ xách và Đỗ Thanh/1 giỏ xách rồi tôi đi về.”
Kể từ khi đặt hai giỏ cơm tại sân chùa Từ Đàm, gia đình của bà cụ Xuân không bao giờ được gặp lại người con, người em Đỗ Long một lần nào nữa.
Cùng hoàn cảnh với gia đình bà cụ Xuân, lúc bấy giờ hàng trăm gia đình giáo dân trong giáo xứ Phủ Cam và rất nhiều gia đình Phật tử tại địa phương cũng không biết số phận của những người đàn ông và các thanh niên trong gia đình mình sẽ như thế nào. Nỗi hoang mang và lo sợ phủ trùm cả đất cố đô kinh thành Huế không chỉ trong 26 ngày đêm dịp Tết Mậu Thân khi quân đội Bắc Việt chiếm đóng, mà còn kéo dài suốt thời gian nửa thế kỷ qua.

Cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài được phơi bày

Hai thanh niên bị bắt trong số hàng trăm người bị đưa đến chùa Từ Đàm, là hai nhân chứng duy nhất còn sống sót, chạy thoát trước khi cuộc thảm sát diễn ra trong ít phút đồng hồ. Họ kể lại hầu hết những người bị bắt là giáo dân giáo xứ Phủ Cam, đều là học sinh, sinh viên, thanh niên hiền lành. Khỏang 20 người bị bắn chết ngay tại chùa Từ Đàm và chôn xác luôn tại đó. Một vài người được cho về để nhắn tin các gia đình mang đồ ăn đến chùa Từ Đàm cho thân nhân trong thời gian ‘học tập’ 3 ngày. Hàng trăm người còn lại được thông báo Cách mạng đưa đi học tập 3 ngày cho thấm nhuần đường lối rồi sẽ cho về. Ngay sau thông báo, từng người bị trói thúc ké bằng dây điện thoại và bị xâu lại thành chùm, gồm 20 người bằng một sợi dây kẽm gai. Tổng cộng có khoảng 25 chùm, tức vào khỏang 500 người.
500 người này bị đẩy ra đường trong đêm tối, bị 30 bộ đội Bắc Việt áp giải. Họ đi trong bóng đêm dưới trời mưa lâm râm, phải qua sông bằng bè lồ ô và có lúc lên đồi, khi lại xuống lũng, qua khe, thỉnh thoảng được soi chiếu bằng những cây đèn pin hay vài ngọn đuốc của các bộ đội. Những người bị bắt cảm nhận được đang đi sâu vào trong rừng, nhưng vì là trong đêm tối nên họ không biết ở khu vực nào.
Tôi lên tìm được cái áo của cậu em tôi. Đem về thì biết em tôi bị đâm từ sau lưng đâm tới với một đường dài khỏang hơn 10 phân. Hiện bây giờ trong nhà còn giữ chiếc này, bỏ trong cái hộp xà cừ
-Bà Đỗ Thị Xuân
Một nhân chứng hiện còn sống chính là người nghe lỏm được các bộ đội nói với nhau rằng trong vòng 15 đến 20 phút nữa sẽ thủ tiêu hết những người bị trói. Nhân vật này báo cho người bạn đang bị trói cạnh bên để tìm cách trốn chạy. Trong lúc đi xuống dốc và nghe tiếng nước róc rách gần kề, hai người đã cùng nhau bỏ chạy. Mặc dù có những tiếng súng bắn đuổi theo, nhưng hai người họ may mắn được thoát. Vào đúng khuya mùng 7 rạng sáng mùng 8 Tết Mậu Thân, hai thanh niên này nghe tiếng súng AK nổ vang rền và lựu đạn nổ tới tấp. Một góc rừng rực sáng chen lẫn với những tiếng khóc la khủng khiếp.
Đến tận 20 tháng sau biến cố Mậu Thân, vào tháng 10 năm 1969, tin tức về cuộc thảm sát này mới được phơi bày do tù binh Việt cộng cho biết địa điểm tại Khe Đá Mài, ở trong rừng Đình Môn Kim Ngọc, nay thuộc xã Dương Hòa, quận Hương Thủy. Vào thời điểm đó, công binh mất hai ngày dùng mìn phá ngã các cây cổ thụ để tạo ra khoảng trống đủ lớn cho trực thăng đáp xuống. Tiểu đoàn 1 Nhảy dù Quân lực Việt Nam Cộng Hòa phụ trách việc bốc các di hài nạn nhân. Bà cụ Đỗ Thị Xuân nhớ lại:
“Ngày đó tôi coi tin tức trên tivi thôi. Họ nhảy dù xuống và vớt lên nào là chuỗi, nào là dây chuyền, qua 2 trận lụt trong 20 tháng làm thịt người bị rã ra, mắc trên cây do nước dâng lên. Còn dưới suối thì họ vớt lên xương cốt, đủ thứ hết.”
Bà cụ Xuân cho biết sau đó, bà tìm được cái áo sơ mi của cậu em trai út Đỗ Long mặc vào ngày bị bắt, vì người thân từ Quy Nhơn đã gửi hai xấp vải ra Huế để may cho hai cậu em của bà mặc đón Tết Mậu Thân:
“Tôi lên tìm được cái áo của cậu em tôi. Đem về thì biết em tôi bị đâm từ sau lưng đâm tới với một đường dài khỏang hơn 10 phân. Hiện bây giờ trong nhà còn giữ chiếc này, bỏ trong cái hộp xà cừ.”
Ông Võ Văn Bằng, Trưởng ban Cải táng Nạn nhân Cộng sản Tết Mậu Thân, nhân dịp biến cố lịch sử này tròn 40 năm, cũng kể lại với RFA rằng:
“Chúng tôi thấy các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên các thi hài đó còn thấy các dây điện thoại trói lại.”

Nỗi ám ảnh dài nửa thế kỷ

Những người tôi đã tiếp xúc thì đều mong muốn là nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải bày tỏ thái độ nhận lỗi, xám hối vì đã giết những người vô tội. Họ mong muốn nhà cầm quyền phải thừa nhận điều đó một cách chính thức. Thứ hai nữa là ngôi mộ tập thể ở núi Bân, tức là núi Ba Tầng cần phải được chỉnh trang và tôn tạo lại; bởi vì cho đến bây giờ vẫn để hoang phế cỏ mọc um tùm, thậm chí có những người đến đó còn bị gây khó dễ này nọ. Đó là ước nguyện của những người có thân nhân đã khuất
-Linh mục Phan Văn Lợi
Theo truyền khẩu từ các gia đình nạn nhân bị giết hại trong cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài, có khoảng 400 bộ hài cốt được tìm thấy và được đưa về an táng tại nghĩa trang ở núi Ba Tầng (núi Bân). Nghĩa trang xây thành hình bán nguyệt, hai bên có bàn thờ che mái cho tín đồ Phật giáo và Công giáo đến cầu nguyện. Ở giữa phía sau có một bia tưởng niệm. Tuy nhiên, ngay sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc, chính quyền mới ở Huế đã dùng mìn để phá trụ bia và hai bàn thờ.
Từ đó cho đến nay, suốt 50 năm qua nghĩa trang bị hoang tàn. Các gia đình có thân nhân bị sát hại ở Khe Đá Mài đến viếng nghĩa trang Ba Tầng hầu như bị chính quyền địa phương làm khó dễ.
Linh mục Phan Văn Lợi, người được gặp gỡ và được nghe nhân chứng còn sống sót trong cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài kể lại tường tận vụ việc, nói với Đài Á Châu Tự Do về nguyện vọng của những gia đình có người thân bị thảm sát tại Khe Đá Mài:
“Những người tôi đã tiếp xúc thì đều mong muốn là nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải bày tỏ thái độ nhận lỗi, xám hối vì đã giết những người vô tội. Họ mong muốn nhà cầm quyền phải thừa nhận điều đó một cách chính thức. Thứ hai nữa là ngôi mộ tập thể ở núi Bân, tức là núi Ba Tầng cần phải được chỉnh trang và tôn tạo lại; bởi vì cho đến bây giờ vẫn để hoang phế cỏ mọc um tùm, thậm chí có những người đến đó còn bị gây khó dễ này nọ. Đó là ước nguyện của những người có thân nhân đã khuất.”
Một số các gia đình có thân nhân bị sát hại tại Khe Đá Mài nói riêng và bị mất mạng trong các cuộc thảm sát ở Huế chia sẻ với RFA rằng mỗi năm Tết về, nỗi đau âm ỉ mất mát người thân được truyền lại cho thế hệ con cháu, nhắc nhở hãy tha thứ cho những người Cộng sản một khi họ chân thành hối lỗi và cũng đừng bao giờ quên biến cố lịch sử quan trọng của dân tộc, như bà cụ Xuân khẳng định“Biến cố Mậu Thân là diệt chủng” để những người Việt máu đỏ da vàng không sát hại đồng bào mình một lần nào nữa hết.

"Nhà nước vô lương tri khi tổ chức mừng chiến thắng 50 năm biến cố Mậu Thân"

Hòa Ái, phóng viên RFA 2018-02-02  
Đám tang tập thể hàng trăm nạn nhân bị thảm sát tại Khe Đá Mài ở nghĩa trang Ba Tầng, Huế.
Đám tang tập thể hàng trăm nạn nhân bị thảm sát tại Khe Đá Mài ở nghĩa trang Ba Tầng, Huế.  Courtesy: Linh mục Phan Văn Lợi cung cấp.
Cư dân mạng tại Việt Nam bày tỏ sự bức xúc trước thông tin về Lễ cấp quốc gia kỷ niệm 50 năm Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, được Nhà nước tổ chức một cách long trọng, cũng như phản đối truyền thông nhà nước tiếp tục tuyên truyền sai sự thật về biến cố lịch sử này.

Mừng chiến thắng trên xác đồng bào

Truyền thông trong nước đồng loạt đăng tin về lễ kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, với chủ đề “Bản hùng ca Xuân Mậu Thân 1968”, diễn ra vào sáng ngày 31 tháng Giêng tại Hội trường Thống nhất, ở thành phố Hồ Chí Minh.
Buổi lễ này được tổ chức cấp quốc gia, có sự tham dự đầy đủ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng nhiều lãnh đạo cấp cao khác. Thông điệp chính của buổi lễ được Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh rằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân 1968 là một đỉnh cao chói lọi, là đường lối đúng đắn của Đảng, mãi mãi là minh chứng sinh động của tư duy và nghệ thuật quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Tại buổi lễ, Đại tá Nguyễn Văn Tàu (tự Tư Cang), người đã có mặt trong cuộc tấn công vào Sài Gòn Tết Mậu Thân 1968 phát biểu rằng đây là thắng lợi mang tính chiến lược của chiến tranh Việt Nam, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán ở Paris.
Tôi thấy thật sự là vô lương tâm và không thể hiện lương tri của con người bình thường, cho thấy họ không hoàn toàn có một ý định nào gọi là hòa giải và hòa hợp dân tộc cả...Tất nhiên là họ không bao giờ nhận lỗi về phía mình, nhưng lẽ ra họ cũng nên tổ chức một buổi lễ nào đó, gọi là cầu siêu cho các oan hồn bị chết một cách rất là đau xót trong bối cảnh chiến tranh
-LS. Lê Công Định
Đài Á Châu Tự Do ghi nhận, cộng đồng cư dân mạng tại Việt Nam dậy lên một làn sóng phẫn nộ trước các hoạt động tổ chức rầm rộ kỷ niệm mừng chiến thắng 50 năm biến cố Mậu Thân của chính quyền. Nhiều người lên tiếng phản đối Nhà nước Việt Nam ăn mừng trên cái chết của hàng ngàn thường dân vô tội bị sát hại trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc Việt. Cựu tù nhân lương tâm-Luật sư Lê Công Định nói với RFA rằng thật là đáng tiếc khi Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm như thế sau 50 năm vì điều đó thể hiện một hệ thống vô lương tri từ xưa đến giờ không thay đổi:
“Tôi thấy thật sự là vô lương tâm và không thể hiện lương tri của con người bình thường, cho thấy họ không hoàn toàn có một ý định nào gọi là hòa giải và hòa hợp dân tộc cả. Bởi vì dù cho biện minh dưới bất kỳ gốc độ nào, thì lẽ ra họ cũng nên thấy rằng việc tổn thất nhân mạng rất là lớn trong một trận đánh như vậy. Tất nhiên là họ không bao giờ nhận lỗi về phía mình, nhưng lẽ ra họ cũng nên tổ chức một buổi lễ nào đó, gọi là cầu siêu cho các oan hồn bị chết một cách rất là đau xót trong bối cảnh chiến tranh.”
Bác sĩ Võ Xuân Sơn, qua mạng xã hội Facebook nêu lên quan điểm cá nhân của ông rằng Nhà nước Việt Nam gọi cuộc tấn công Mậu Thân là thắng thì đó là một sự gượng ép; vì con số thương vong do chiến dịch Mậu Thân có được dự kiến trước hay không, bao nhiêu cơ sở trong nội thành bị lộ, bao nhiêu chiến sĩ vào Sài Gòn rồi mà không rút ra được, việc đánh vào thành phố và bị đánh bật trở lại có nằm trong kế hoạch hay không? Bác sĩ Võ Xuân Sơn lập luận rằng nếu các yếu tố vừa nêu đã được tính toán thận trọng trước khi tiến hành cuộc tổng tấn công, thì tại sao phải chọn cách chấp nhận hy sinh nhiều như vậy? Còn nếu không, thì làm sao gọi đó là chiến thắng?

Tiếp tục tuyên truyền sai sự thật

Những thắc mắc của Bác sĩ Võ Xuân Sơn và cũng là của một số đông cư dân mạng phần nào được Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Nam giải đáp.
Trước luồng dư luận về Hà Nội vẫn đánh dù lực lượng hy sinh quá nhiều và đã thất bại khi muốn giải phóng miền Nam trong chiến dịch Xuân Mậu Thân, Đại tướng Phạm Văn Trà giải thích với báo giới quốc nội rằng đó là cách nhìn phiến diện, không hiểu đúng về ý nghĩa của chiến dịch Xuân Mậu Thân.
Báo mạng Dân Việt, vào ngày 31 tháng Giêng dẫn lời của Đại tướng Phạm Văn Trà cho biết Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương ở Ba Đình lúc bấy giờ đều xác định không phải đánh để giải phóng miền Nam Việt Nam ngay lập tức, bởi vì không thể địch nổi lại 50 vạn binh lính Mỹ và 1 triệu quân của Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên, Tướng Phạm Văn Trà nhấn mạnh mục đích của chiến dịch tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán , mà ông nói là “Mỹ không muốn ngồi thì cũng phải ngồi”. Do đó, những người lãnh đạo và cấp chỉ huy của chiến dịch Mậu Thân đã không phổ biến đến chủ đích cho cấp dưới, mà chỉ ra lệnh bộ đội và du kích ở miền Nam dốc hết sức để đánh một trận quyết định như trận đánh cuối cùng, nhằm để họ hăng hái và quyết tâm khi xung trận.
Thế nhưng, trên các trang mạng xã hội, một số tài liệu được cư dân mạng lan truyền trong những ngày qua, cho thấy những gì nguyên Bộ trưởng Quốc Phòng-Tướng Phạm Văn Trà nói có điều vô lý. Nhà báo độc lập Võ Văn Tạo, từ Nha Trang vào tối mùng 1 tháng Hai nói với RFA:
Những thông tin tôi nắm được cách đây mấy chục năm đến giờ thì Hà Nội khi quyết định mở chiến dịch Mậu Thân là với quyết tâm giải phóng toàn bộ miền Nam, hoàn thành gọi là ‘cuộc kháng chiến chống Mỹ’ và chống lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở Sài Gòn. Nhưng mà họ đã không lường được cái sức và phương pháp có nhiều cái sai, ngay trong ban lãnh đạo của Hà Nội thì không phải ai cũng thống nhất phương án này
-Nhà báo Võ Văn Tạo
“Những thông tin tôi nắm được cách đây mấy chục năm đến giờ thì Hà Nội khi quyết định mở chiến dịch Mậu Thân là với quyết tâm giải phóng toàn bộ miền Nam, hoàn thành gọi là ‘cuộc kháng chiến chống Mỹ’ và chống lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở Sài Gòn. Nhưng mà họ đã không lường được cái sức và phương pháp có nhiều cái sai, ngay trong ban lãnh đạo của Hà Nội thì không phải ai cũng thống nhất phương án này.”
Không chỉ phản đối thông tin về mục đích cuộc tấn công Mậu Thân của Hà Nội mà Đại tướng Phạm Văn Trà cung cấp sau 50 năm, cư dân mạng còn chú ý đến chi tiết ông Đại tướng Trà kể lại lữ đoàn của ông dù đã hy sinh nhiều trong những trận quyết liệt, kéo dài 3 ngày từ ngày 15-18/02/1968 ở Cần Thơ, nhưng đã tập kích tiêu diệt được 1 đại đội lính Mỹ, thu 60 súng ER 15 mới tinh và một số trang thiết bị.
Cư dân mạng Hanh Nguyen, khẳng định thông tin này là không chính xác. Ông Hanh Nguyen cho RFA biết trong thời điểm biến cố Mậu Thân xảy ra, ông đang làm công việc dịch thuật cho văn phòng Phái bộ Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ-MACV (Military Advisory Command in Vietnam) và nơi đây chuyển dịch tất cả báo cáo, tài liệu quân sự trước khi phổ biến ra các cơ quan lẫn truyền thông. Ông Hanh Nguyen cho biết thêm ông và các đồng nghiệp vào thời điểm đó được giao phụ trách chuyển dịch tin tức quân sự liên quan hai vùng chiến thuật 3 và 4, trong đó có Cần Thơ:
“Phải thú thật rằng thông tin mà ông Tướng Trà mới vừa đăng trên báo chính thống nhà nước thì tôi chưa hề thấy và cũng chưa hề nghe, nên với tôi độ tin cẩn cho bản tin này rất là thấp.”
Ông Hanh Nguyen còn nhấn mạnh không rõ Đại tướng Phạm Văn Trà nói nhầm hay nhà báo viết sai vì Hoa Kỳ không có loại súng ER, mà chỉ có loại AR mà thôi.

Nhà nước phải làm gì?

Chúng tôi liên lạc với cựu Tổng Biên tập RFA, Ký giả Dan Southerland, người có mặt ở Sài Gòn và một số địa điểm ở miền Tây Nam Bộ trong biến cố Mậu Thân và được xác nhận thông tin vừa nêu rất lạ đối với ông. Ký giả Dan Southerland càng thấy lạ lẫm hơn vì đã 50 năm trôi qua thì không phải là thời điểm để khoe khoang chiến tích, mà điều Chính phủ Hà Nội cần làm là hàn gắn vết thương chiến tranh cùng hòa giải dân tộc.
Chúng tôi cũng ghi nhận không ít các cư dân mạng thuộc thế hệ 8X và 9X còn so sánh sự đối nghịch giữa các tin tức từ truyền thông nhà nước về sự kiện kỷ niệm 50 năm chiến dịch Mậu Thân với bản tin của Việt Nam Thông tấn xã (VNTTX) phát hành vào ngày 31/01/1968, ghi rõ người phát ngôn nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và người phát ngôn Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam tố cáo “Mỹ và tai sai trắng trợn phá hoại ngày tết của nhân dân ta”. Những cư dân mạng trẻ tuổi đối chiếu các bản tin  suốt 50 năm qua và đặt câu hỏi vì sao Nhà nước Việt Nam không nói đúng sự thật với những gì xảy ra trong lịch sử. Từ những thắc mắc không được giải đáp như thế, nhiều bạn trẻ đã tìm kiếm thông tin liên quan đến biến cố Mậu Thân và họ cũng bày tỏ nỗi thất vọng đối với Nhà nước trong dịp tròn 50 năm của biến cố này. Một cư dân mạng thế hệ 8X, ở Hà Nội chia sẻ với RFA:
Tết ở Huế không bao giờ vui cả. Chỉ là hào nhoáng bên ngoài thôi, chứ bên trong rất là buồn...Chính quyền vinh danh và ăn mừng chiến thắng Mậu Thân thì quá là bất nhẫn. Điều đó là điều không thể nào chấp nhận được
-Cư dân mạng 8X 
“Em có chơi với một số những người bạn ở trong Huế. Họ có những người thân là nạn nhân trong các cuộc thảm sát đó. Và cứ đến gần Tết là họ rất là buồn. Tết ở Huế không bao giờ vui cả. Chỉ là hào nhoáng bên ngoài thôi, chứ bên trong rất là buồn. Những gia đình có người thân bị bắt bớ, bị thủ tiêu, bị giết hại trong thảm sát Mậu Thân không hề biết họ chết ngày nào, chỉ biết là mất tích thôi. Sau này có người tìm được xác, có người không. Thường thì người ta làm cái lễ giỗ chung, cứ đến Tết là giỗ, cứ hay gọi giống như là quốc tang vậy. Chính quyền vinh danh và ăn mừng chiến thắng Mậu Thân thì quá là bất nhẫn. Điều đó là điều không thể nào chấp nhận được.”
Trong khi các cư dân mạng là những nhân chứng lịch sử mong muốn Chính phủ thừa nhận lỗi lầm cũng như cần có những việc làm để phần nào xoa dịu nỗi đau mất mát thân nhân của hàng ngàn gia đình người dân Việt trong biến cố Mậu Thân, thì những cư dân mạng trẻ tuổi yêu cầu Nhà nước minh bạch hóa thông tin về biến cố lịch sử quan trọng này. Một vài bạn trẻ chia sẻ với RFA rằng nếu Nhà nước cố tình bưng bít và không tôn trọng lịch sử thì họ không khó để tìm hiểu và tiếp cận thông tin trong thời đại công nghiệp 4.0, nhưng đối với họ Nhà nước Việt Nam không xứng đáng là một nhà nước “của dân-do dân-vì dân”.