Friday, November 24, 2017

Bán nước cho giặc Tàu – có nên ghi “hạn chót là năm 2020”?

Nguyễn Hà Nội (Danlambao) - “Xâm chiếm Việt Nam thì chỉ vài ngày là xong! Nhưng giữ được Việt Nam mới là khó! Rút kinh nghiệm ngàn năm từ thời cha ông chúng nó mới dày công dựng nên một Hồ Chí Minh tàu thành Nguyễn Ái Quốc cộng sản của Việt Nam – để rồi cai trị mà như không cai trị, xâm lược mà không cần một hòn đạn, chiếm đất mà nước kia lại xác nhận đồng ý! Trên diễn đàn quốc tế thì chúng có hẳn một nước Việt Nam đã luôn luôn nhất trí một cách khách quan các thỏa thuận lớn!... Kẻ cai trị mà những nô lệ lại ngỡ “Cha già Dân tộc” thì còn gì quý hơn? Bây giờ có ngu đâu mà chúng lại thừa nhận mình đang chiếm đóng?”

***

Gần đây trên các trang mạng của báo Lề Dân thường bắt gặp cụm từ “bàn giao VN cho tàu hạn chót là năm 2020”, như kiểu: “Tàu chấp nhân đồng thời ra hạn chót là năm 2020 phải bàn giao bản dư đồ Tổ Quốc VN.” (Bán nước - buôn dân - Dân Làm Báo), “Liệu quê hương có còn không? VN có còn tên trên bản đồ thế giới không? Chúng ta có còn chỗ để đi về không, khi mà quê hương đã mất về tay giặc Tàu, vì đã bán nước cho TC, ngày bàn giao VN vào hạn chót là năm 2020 đã gần kề, theo hội nghị Thành Đô mà VC và TC đã ký kết!” (Tâm thư kính gửi quý Thầy Cô và các bạn cựu nữ sinh trường nữ trung học Trưng Vương Sài Gòn trước 1975.)…
Thực hư chuyện này ra sao?

Hồ Chí Minh là giặc tàu, đã có nhiều hồ sơ khả tín. Vì vậy việc csvn bán nước cho Tàu là một việc tất nhiên.

Tuy nhiên, chúng có “bàn giao” cho nhau hay không?

Nếu có bàn giao thì có đúng “hạn chót là năm 2020” hay lâu hơn nữa?

Đây là những điều chúng ta cần hết sức lưu ý, bàn định kỹ để tránh nói trật.

Nếu chúng ta cứ ghi là “hạn chót là năm 2020” thì nhanh lắm, còn có 3 năm nữa, tức không quá 1000 ngày nữa là xóa sổ Việt Nam?

Như thế thì gay cấn thật!

Như thế thì lo thật!

Việc ghi như thế quả là có tác dụng.

Nhưng nếu tới tận ngày 31/12/2020 mà vẫn chưa thấy biên bản chúng “bàn giao” cho nhau thì lúc đó chúng ta biết nói với độc giả sao đây?

Lúc đó số lượng độc giả vốn đang ít ỏi (nhưng rất quý) của báo lề Dân chúng ta sẽ suy nghĩ như thế nào về chuyện “Bán nước cho giặc Tàu”! Lúc đó không ít độc giả sẽ cho chúng ta là nói ba láp! Và sẽ rời bỏ chúng ta.

Khi đó thì thật buồn.

Vậy nên, hôm nay tôi mong mọi người hãy thảo luận kỹ xem: Liệu chúng có “bàn giao” cho nhau hay không? Nếu chúng ta nhất trí là có thì chúng ta mới bàn đến chuyện “hạn chót” là năm nào? Nếu chúng ta nhất trí là không có chuyện bàn giao thì chúng ta không nói tới “hạn chót” nữa, vì không cẩn thận sẽ phản tác dụng!

Câu chuyện “nụ cười mất nước” chắc chúng ta nhiều người đã biết. Có lẽ tôi xin trích thêm vào đây, thiết tưởng cũng không thừa. Trong Sử ký Tư Mã Thiên có ghi chép về Bao Tự. Vì một nụ cười của nàng, Chu U Vương đã làm mất nước vào tay quân Khuyển Nhung. Chuyện là: 

Quanh đất nhà Chu cai trị vốn xây nhiều phong hỏa đài (đài cao để đốt lửa ra hiệu cho chư hầu dẫn quân tới cứu vua khi giặc đến). Nàng Bao Tự tuyệt đẹp, nụ cười của nàng khiến nhà vua say đắm, ngất ngây. Nhưng không hiểu sao, đã lâu nàng lại không cười. Nhà Vua buồn rầu. Quắc Công khuyên Chu U vương đốt lửa cho chư hầu đến. Quân chư hầu mấy nước lân cận trông thấy các cột lửa cháy, ngỡ là có giặc bèn hớt hải mang quân đến cứu. Đến kinh thành, thấy mọi người vẫn đi lại bình thường, không có giặc giã gì cả. Các chư hầu ngơ ngác nhìn nhau.

Chu U Vương tươi cười đáp lời chư hầu “Lâu không thấy các ông, nay đốt lửa để các ông tụ tập cho ta đỡ nhớ”. Chư hầu các phương vừa hậm hực vừa xấu hổ, đành cuốn cờ dẹp trống thất thểu ra về.

Bao Tự ở trên đài trông thấy bật tiếng cười lớn. U Vương vô cùng hoan hỉ vì làm được cho nàng cười. Đến một thời gian sau, vua Chu lại sai đốt lửa lần nữa và các chư hầu lại bị lừa để Bao Tự có được tiếng cười.

Một ngày, quân Khuyển Nhung bên ngoài kéo vào đánh úp kinh đô. Chu U vương vội cho đốt lửa hiệu triệu chư hầu tới cứu, nhưng các chư hầu bị lừa vài lần nên tưởng vua đùa, không tới nữa.

Chu U vương mang Bao Tự và con nhỏ bỏ chạy, bị quân Khuyển Nhung đuổi theo giết chết. Riêng Bao Tự bị vua Khuyển Nhung bắt về cung để mua vui. Sau đó, nàng thắt cổ tự tử. 

Vậy đó, cho nên việc chúng có “bàn giao” cho nhau hay không? Nếu có bàn giao thì có đúng “hạn chót là năm 2020” hay lâu hơn nữa? Là một điều chúng ta nên bàn định kỹ.

Chúng có “bàn giao” cho nhau hay không? 

Theo ý kiến cá nhân tôi thì dứt khoát không có chuyện chúng “bàn giao” cho nhau! Nếu có việc đó thì đây là cơ hội trời cho để chúng ta thoát ách cs! Nhân dân sẽ không bao giờ chịu! Nhưng việc chúng “bàn giao” cho nhau theo tôi là chỉ không quá 0,000000… % mà thôi! Chúng không dại gì mà công khai cả, cứ như bây giờ, không chiếm mà đã như chiếm, phía Bắc có một “kẻ anh hùng” là Bắc Triều Tiên, phía Nam có một “kẻ cố cùng” là csvn làm phên dậu cho chúng thì còn gì bằng?

Xâm chiếm Việt Nam thì chỉ vài ngày là xong! Nhưng giữ được Việt Nam mới là khó! Rút kinh nghiệm ngàn năm từ thời cha ông chúng nó mới dày công dựng nên một Hồ Chí Minh tàu thành Nguyễn Ái Quốc cộng sản của Việt Nam – để rồi cai trị mà như không cai trị, xâm lược mà không cần một hòn đạn, chiếm đất mà nước kia lại xác nhận đồng ý! Trên diễn đàn quốc tế thì chúng có hẳn một nước Việt Nam đã luôn luôn nhất trí một cách khách quan các thỏa thuận lớn!... Kẻ cai trị mà những nô lệ lại ngỡ “Cha già Dân tộc” thì còn gì quý hơn? Bây giờ có ngu đâu mà chúng lại thừa nhận mình đang chiếm đóng?

Đã không có chuyện chúng “bàn giao” cho nhau thì sẽ chẳng bao giờ có “hạn chót”!

Việt Nam đã là chư hầu của Trung Cộng ngay từ 2.9.1045!

Vậy thì chúng đâu cần “bàn giao” mà phải có “hạn chót”?

Theo tôi, chúng ta không nên nói tới “hạn chót” nữa, mà hãy nên đi sâu vào phân tích xem Hồ là người Việt Nam hay là anh ba tàu? Khía cạnh nhận dang? Khía cạnh các hành động giết người Việt của Hồ? Cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản… là có chủ đích giết trí thức Việt hay chỉ đơn giản là một sai lầm? Giết trí thức Việt là có chủ đích hay chỉ là một gã ngông cuồng máu lạnh?...

Điều này sẽ quyết định tất cả!

Ý kiến của bạn?

24/11/2017

Chiến sĩ văn hóa

Đỗ Hồng (Danlambao) - Theo triết gia Albert Camus, nếu không có văn hóa và tự do tương đối mà văn hóa bao hàm, xã hội, cho dù khi hoàn hảo, cũng chỉ là một vùng rừng rú (without culture, and the relative freedom it implies, society, even when perfect, is but a jungle).

Xã hội Việt Nam dưới thời cộng sản sau năm 1975 không còn có những quyền tự do căn bản nhất của con người và văn hóa thì nghèo nàn hay không muốn nói là suy đồi. Tuy chưa đến đỗi vô văn hóa, nhưng xã hội này dường như đã trở thành một vùng rừng rú suốt hơn 42 năm qua?

Văn hóa được thể hiện dưới nhiều hình thái, chẳng hạn như ngôn ngữ, nếp sống, âm nhạc… Ngôn ngữ cộng sản có rất nhiều từ ngữ sai nghĩa, tối nghĩa ngây ngô, và lệ thuộc Tàu. Có lẽ phải mất vài thế hệ để điều chỉnh lại. Trong khi đó, nếp sống của người dân và giai cấp thống trị rất cách biệt và có vẻ không bình thường, hay chạy theo khuynh hướng “phồn vinh giả tạo”. Còn âm nhạc là thứ ngôn ngữ không biên giới lại quá nghèo nàn với những sáng tác có tính cách cưỡng âm (cố ghép lời ca có những âm sắc riêng vào những note nhạc không thích hợp) và lời nhạc hiếm khi là thơ mà nhiều lúc thô thiển như đang nói chuyện, đó là chưa kể đến những note nhạc luyến láy không cảm nổi. Do vậy, hầu hết nhạc được sáng tác hiện nay trong nước không có giá trị lâu dài như những bản nhạc ở miền Nam trước năm 1975 đi sâu vào lòng người.

Phải chăng chính vì vậy mà trong vòng 2 năm trở lại đây, trong nước đã dấy lên phong trào “boléro” mà các xướng ngôn viên ngọng nghịu của miền Bắc gọi là “bô-nê-dzô”, và phong trào tránh dùng những ngôn ngữ cộng sản?

Phong trào này xuất phát từ miền Nam, nơi đã bị đánh mất nền văn hóa tuyệt vời với những bản nhạc bất hủ, sống mãi với thời gian và cả không gian.

Ngày nay tại VN, những bản nhạc boléro của thời VNCH, kể cả những bản nhạc lính, có thể bị ngăn cấm, vẫn ở trên đầu môi của rất nhiều người trẻ ở cả ba miền Nam Trung Bắc. Thậm chí, có những nhạc sĩ miền Bắc đã công kích cho rằng thể nhạc này là một loại thấp hèn nên đã đưa đến cuộc tranh luận khá sôi nổi giữa những người chủ trương gây lại phong trào nhạc boléro và các nhạc sĩ đó.

Không phải vô tình mà một số người trong nước muốn gây lại phong trào nhạc boléro và tránh dùng những từ ngữ của cộng sản. Có thể họ đang chủ trương phục hưng nền văn hóa miền Nam trước năm 1975? Nếu vậy, họ đúng là những chiến sĩ văn hóa trong lòng địch.

Dẫn chứng về những gì các chiến sĩ văn hóa này thực hiện cho phong trào đó là điều khá nguy hiểm cho họ. Cho nên việc mà người trong nước có thể làm là cổ xúy, khuyến khích và nếu có điều kiện thì tham gia với họ.

Không có bạo lực nào có thể ngăn cấm được hình thức truyền khẩu nhân gian. Và cũng không có nền văn hóa nào từng đi sâu vào lòng người có thể bị mai một.

23/11/2017

Thư ngỏ cho dân biểu tình "phản chiến": Suy nghĩ kỹ trước khi đem chiến tranh về quê nhà

David Horowitz * VNCH-Ngọc Trương (Danlambao) dịch - Hậu quả lịch sử cho thấy nỗ lực của chúng ta trong những năm 1960 để chấm dứt chiến tranh Việt Nam có hai hiệu quả thực tiễn.

Thứ nhất là kéo dài thêm cuộc chiến tranh. Dẫn chứng của các tướng lãnh miền Bắc sau chiến tranh, chứng nhận rằng họ biết không thể đánh bại Hoa Kỳ trên chiến trường, họ kỳ vọng vào sự chia rẽ của dân Mỹ để giành chiến thắng. Lực lượng Việt Cộng đã bị tiêu diệt năm 1968. Nói cách khác, suốt cuộc chiến và phần lớn số thương vọng trong chiến tranh xảy ra vì chế độ độc tài Bắc Việt trông cậy vào yếu tố người Mỹ sẽ từ bỏ cuộc chiến, chứ không phải trả giá cần thiết để chiến thắng. Đây là chuyện đã xảy ra. Máu của hàng trăm ngàn người Việt, và hàng chục ngàn người Mỹ, nằm trong tay giới hoạt động phản chiến, kéo dài chiến tranh và trao chiến thắng cho CS.

Tác động thứ hai là đẩy Nam Việt Nam phải đầu hàng lực lượng của CS. Dẫn đến việc áp đặt một nhà nước công an trị khổng lồ, giết hại hàng trăm ngàn dân miền Nam vô tội, giam giữ hàng trăm ngàn người khác trong các trại cải tạo, và một phần tư thế kỷ trong nghèo nàn do các kế hoạch kinh tế Mácxít, tiếp tục cho đến ngày nay. Đây cũng là trách nhiệm của phong trào phản chiến nổi tiếng vào những năm 1960.

Tôi nói "cái gọi là phong trào phản chiến", vì trong khi nhiều người Mỹ gặp khó khăn nghiêm trọng vì nỗ lực chiến tranh của Hoa Kỳ, bọn tổ chức phong trào này là bọn theo chủ nghĩa Marx và bọn cực đoan ủng hộ CS chiến thắng và muốn Mỹ bại trận. Ngày nay, cũng bọn này và đám trẻ theo đuôi đang tổ chức các cuộc biểu tình trong khuôn viên đại học, chống lại nỗ lực bảo vệ dân của Hoa kỳ, chống trả các lực lượng khủng bố quốc tế thù ghét Mỹ, bọn chúng phải chịu trách nhiệm cho các cuộc tấn công vào tháng Chín (September 11).

Tôi biết tầm quan trọng việc bảo vệ tự do ngôn luận và quyền bất đồng ý kiến của người dân. Nhưng tôi cũng biết rõ sự khác biệt giữa bất đồng quan điểm ngay tình với ác ý thù hằn, khác biệt giữa những lời chỉ trích về chính sách quốc gia, và sự phá hoại các biện pháp quốc phòng. Trong những năm 1960 và 1970, sự khoan dung rất cao cho lòng căm ghét bọn chống Mỹ, xóa hẳn lằn ranh giữa bất đồng ý kiến và phản quốc. Cùng với hàng ngàn người của bọn Tân (cánh) tả, tôi đã bước qua ranh giới giữa không đồng ý và trở thành phản quốc thực sự (vấn đề này được đề cập trong quyển tự truyện, Radical son- Đứa con cực đoan). Tôi nghĩ rằng làm vậy vì những lý do cao quý để tiến tới nguyên tắc "công bằng xã hội" và "hòa bình". Tôi sống để thấy mình sai lầm như thế nào và những tai hại bọn tôi gây ra, chúng tôi ủng hộ quân CS lại tưởng rằng làm vậy giúp cho dân chúng Đông dương.

Tôi đến xem quyền tự do quý giá thế nào và những cơ hội Hoa kỳ dành cho người dân nghèo nhất, khiêm nhường nhất trong khu vực, và phẩm hạnh của họ quả là hiếm thấy trên khắp thế giới.


Nếu có hối tiếc về những năm cực đoan của tôi, chính là nước Mỹ quá nhân nhượng đối với sự phản trắc của kẻ nội phản. Nếu người Mỹ yêu nước thận trọng hơn trong việc bảo vệ đất nước, nếu họ gọi đích danh mọi việc, nếu họ đối phó nghiêm trọng hơn nữa với các cuộc tấn công của bọn phản chiến, có thể họ đã lôi kéo được sự chú ý của nhiều người trong đám chúng tôi, có thiện ý- nhưng hoàn toàn bị lừa gạt. Người Mỹ yêu nước đã có thể chận đứng được lũ phản chiến chúng tôi.

Lời kêu gọi này dành cho những ai ngày nay còn đang công kích đất nước của mình, dù với đầy đủ lý lẽ tự cho rằng mình đúng, nhưng sẽ có ngày phải hối hận về mọi việc đã làm.

*

Chú thích của người dịch:

David Horowitz, người Mỹ, sinh 10 tháng 1, 1939 tại Forest hills, New york. Đậu BA Đại học Columbia, sau đó MA của Đại học California, Berkeley.

Horowitz, một trong những người cầm đầu phong trào phản chiến trong chiến tranh Việt Nam những năm 1960 và 1970, đã tổ chức biểu tình phát xuất từ các trường đại học, gây nhiều áp lực lên các chánh phủ Mỹ. 

Cha mẹ là giáo sư trung học, dạy tiếng Anh và người mẹ dạy tốc ký. Cha mẹ là đảng viên CS Mỹ, triệt để ủng hộ Stalin. Khi Khrushchev cho xuất bản tội trạng của Stalin năm 1956, hai ông bà thất vọng và từ bỏ đảng CS.


Trong thập niên 60, ông ở London làm việc với Bertrand Russell cũng là tay cầm đầu phong trào phản chiến Việt Nam. 

Sau khi CS thôn tính miền Nam Việt Nam 1975, Bắc Việt thực hiện chánh sách trại tập trung, thành lập các trại "cải tạo", những người chống đối về ý thức hệ bị biệt giam trong các "chuồng cọp".

Đàn áp của CS đưa tới việc 2 triệu dân Việt phải di tản, hàng trăm ngàn thuyền nhân chết trên biển Đông, hoặc vịnh Thái Lan, họ muốn trốn thoát CS và chính nỗ lực của phong trào Tân tả (New Left) đã giúp CS chiến thắng.

Riêng Campuchia, 3 triệu người bị tàn sát. Trong ba năm đầu CS cầm quyền, số thương dân bị giết nhiều hơn cả tổng số dân thiệt mạng của cả hai phe trong 13 năm chiến tranh chống cộng .

Khi thảm kịch Đông dương bị phơi bày, Horowitz bị chấn động lần nữa khi phe tả không thừa nhận trách nhiệm từng tranh đấu hăng say cho chiến thắng của CS, và chẳng ngó ngàng gì đến đau khổ của dân chúng trước đây bọn này thường lên tiếng binh vực.

Horowitz vứt bỏ Karl Marx và xã hội chủ nghĩa, im tiếng trong vòng mười năm. Sau đó bắt đầu hoạt động trở lại với quan niệm chính trị đổi khác, chống cộng sản, chống phe tả kịch liệt. Lên án hoạt động phản chiến, kêu gọi ngưng chống chính phủ, cộng tác bảo vệ tổ quốc.

Tạp chí Front page ra đời với nhiều bài báo phân tích về chủ nghĩa CS, hô hào bảo vệ đất nước, nhiều bài đã phá phe tả ở các trường đại học, tố cáo bọn tả phái không tôn trọng tự do ngôn luận.

Ông này cũng viết nhiều sách tương tự các vấn để nói trên, và trở thành người bảo thủ chống cộng.

Có nhà báo mô tả cuộc đời chính trị của David Horowitz như cuộc hành trình từ:

em bé còn quấn tã đỏ (màu cờ CS), tiến lên phe Tân tả, xong trở thành nhà vô địch và thầy dạy kèm của phe hữu (chống cộng)

**

2017-11-23


_______________________________________

Tham khảo:


Tướng lĩnh quân đội: Làm kinh tế là ‘gia tăng sức mạnh quốc phòng’

 Khánh An-VOA-24/11/2017 
Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch.
Trong phiên thảo luận của Quốc hội về Luật Quốc phòng ngày 24/11, các quan chức quân đội Việt Nam khẳng định mục đích đầu tiên của việc quân đội làm kinh tế là “gia tăng sức mạnh quân sự, sức mạnh quốc phòng, từ đó gia tăng sức mạnh quốc gia”.
Tuy nhiên, một chuyên gia kinh tế Việt Nam cho rằng khó có thể đánh giá được hiệu quả kinh tế của những đóng góp của quân đội, đặc biệt trong tình trạng “rất thiếu minh bạch” của các dự án kinh tế do quân đội thực hiện.
Tại phiên họp Quốc hội, Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch nói việc quân đội làm kinh tế là “thực hiện nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng và cụ thể hóa Điều 68 của Hiến pháp năm 2013”, theo TTXVN.
Tiếp lời ông Lịch, Thiếu tướng Nguyễn Văn Khánh - Phó Viện trưởng Viện KSND Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương - nói quân đội làm kinh tế nhằm góp phần vào 4 mục tiêu: gia tăng sức mạnh quân đội và sức mạnh tổng hợp quốc gia, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, tận dụng tiềm lực tiềm năng đất nước, từng bước nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam, báo Dân Trí tường thuật.
Khẳng định của các quan chức quân sự được đưa ra sau khi các đại biểu Quốc hội nêu ý kiến về việc quân đội làm kinh tế, một trong những vấn đề “nóng” gây bất bình trong dư luận xã hội thời gian gần đây.
Sau khi khẳng định làm kinh tế quốc phòng là “nhiệm vụ quan trọng”, “nhiệm vụ chính trị xã hội”, các tướng lĩnh quân đội Việt Nam còn nhắc tới những đóng góp của quân đội vào ngân sách Nhà nước trong nhiều năm, thông qua các doanh nghiệp hàng đầu như Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), Tổng công ty trực thăng Việt Nam, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB).
Tuy nhiên, một chuyên gia kinh tế-chính trị Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, cho rằng rất khó để đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp hay dự án của quân đội. Ông phân tích:
“Vấn đề này chưa ai lượng hóa được và cũng chưa có một báo cáo nào lượng hóa được. Chỉ có các báo cáo của Bộ Quốc phòng liệt kê những thành tích của quân đội. Nhưng người ta cũng biết là có nhiều điều không phải là thành tích. Chẳng hạn như nhiều đơn vị kinh tế làm ăn thua lỗ, ngay cả Viettel đầu tư sang Myanmar, châu Phi, và có hàng loạt những công trình dang dở, những đất đai mà quân đội có được và sử dụng rất hoài phí. Nhiều công trình lấy ngân sách nhà nước và làm ăn thua lỗ. Cho nên nếu đánh giá về hiệu quả kinh tế của quân đội thì cho tới nay vẫn chưa có một báo cáo nào khách qua. Mà thực ra là do quân đội rất thiếu minh bạch trong việc công bố các công trình, dự án của mình”.
Vấn đề quân đội làm kinh tế bắt đầu nổi lên vào giữa năm nay, sau khi có những phanh phui từ báo chí về việc quân đội sử dụng đất sân bay Tân Sơn Nhất để làm sân golf, gây nhiều bất bình trong công chúng, nhất là khi nhu cầu sử dụng quỹ đất của khu vực này để nâng cấp, cải thiện sân bay Tân Sơn Nhất đã đến hồi cấp thiết.
Trên thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp mang danh nghĩa quân đội nhưng hoạt động hoàn toàn không liên quan gì đến quân sự. Chẳng hạn, theo TS. Phạm Chí Dũng, một trong những lĩnh vực đã được mượn “mác” quân đội để làm ăn là các doanh nghiệp khai thác gỗ của Việt Nam ở Lào và Campuchia. Nhiều vụ đã bị phanh phui và đưa ra tòa án.
TS. Dũng cho rằng đây là dịp thuận tiện để sắp xếp lại các doanh nghiệp quân đội. Ông nói:
“Đây là đợt cần phải làm gọn lại những đơn vị kinh tế của quân đội. Tuyệt đối không cho các đơn vị mượn mác của quân đội để làm ăn, đặc biệt là những lĩnh vực có thể dân sự hóa như may mặc. Quân đội chỉ lo những vấn đề kinh tế quốc phòng đúng nghĩa như kinh tế vũ khí, đạn dược, trang thiết bị chế tài”.
Cuối tháng 6, sau khi có những thông tin tiêu cực lùm xùm quanh việc quân đội làm kinh tế, Thượng tướng Lê Chiêm, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam đã phải làm việc với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.
Sau buổi làm việc này, Tướng Chiêm khẳng định “Bộ Quốc phòng thống nhất quan điểm quân đội sẽ không tham gia làm kinh tế, mà là lực lượng tinh nhuệ để bảo vệ tổ quốc” và cho biết sẽ tổ chức cổ phần hóa và thoái vốn khỏi các doanh nghiệp và dự án sắp đầu tư.
Tuy nhiên, vào trung tuần tháng này, cũng chính Tướng Chiêm lại phát biểu trên báo chí rằng “Không những cần duy trì quân đội làm kinh tế, mà còn phải đẩy mạnh”, và cho rằng phát biểu trước đó của ông đã bị “hiểu không đúng”.
Giải thích về những quan điểm trái chiều của các tướng lĩnh lãnh đạo quân đội, TS. Phạm Chí Dũng cho rằng có sự mâu thuẫn lợi ích giữa “một nhóm nhỏ” nắm giữ chức vụ trong quân đội và đa số quân nhân còn lại. Ông nói:
“Kinh tế chỉ làm lợi cho một nhóm rất nhỏ trong quân đội, còn đa phần không có gì hết. Nhưng nhóm nhỏ đó lại giữ những vị trí tương đối quan trọng. Thành thử chúng ta thấy trong vòng 4, 5 tháng qua đã có hai luồng quan điểm trái ngược nhau ngay chính trong Bộ Quốc phòng”.
Tại phiên họp Quốc hội, Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch cho biết quân đội đã thực hiện việc sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp quân đội, chỉ để lại 17 trong số 88 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước. TS. Phạm Chí Dũng nói ngay cả với số lượng ít doanh nghiệp còn lại, cũng cần phải làm rõ chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của các doanh nghiệp này và loại bỏ hoàn toàn các hoạt động kinh doanh đơn thuần.

VN truy tố quan chức ngân hàng trong trận đánh tham nhũng n

Reuters 
Theo VOA-24/11/2017 
Tran Phuong Binh, former CEO of Dong A Bank, is prosecuted for corruption
Tran Phuong Binh, former CEO of Dong A Bank, is prosecuted for corruptio
Cảnh sát Việt Nam hôm 24/11 cho hay đã khởi tố 5 cựu quan chức của Ngân hàng Đông Á vì vi phạm các quy định "dẫn đến hậu quả nghiêm trọng". Đây là một phần của cuộc điều tra mở rộng liên quan đến ngân hàng này, có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh
Các công ty năng lượng và ngân hàng hiện là tâm điểm trong cuộc trấn áp diện rộng chống tham nhũng ở nhà nước cộng sản. Chiến dịch này đã trở thành tin đáng chú ý trên báo chí thế giới trong năm nay khi Đức cáo buộc Việt Nam bắt cóc một doanh nhân Việt Nam ở Berlin.
Ngân hàng Đông Á gặp rắc rối là một trong số các ngân hàng bị nhà chức trách điều tra kỹ. Nhà chức trách nói họ muốn xử lý nạn tham nhũng, bao gồm cả lạm quyền và vi phạm các quy định cho vay.
"Cơ quan cảnh sát điều tra của Bộ Công an đang khẩn trương điều tra vụ án", cảnh sát cho biết trong một tuyên bố.
Cảnh sát cho hay, "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cố tình vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế dẫn đến hậu quả nghiêm trọng và vi phạm các điều khoản cho vay ... đã xảy ra tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Á (DAB)”.
Năm cựu quan chức bị cấm không được rời nơi cư trú, cảnh sát nói.
Trong số 5 người này là Trần Phương Bình, cựu giám đốc điều hành của ngân hàng, người đã bị bắt năm 2016 cùng với bốn quan chức điều hành khác.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đưa Ngân hàng Đông Á vào diện giám sát đặc biệt hồi năm 2015 "vì những vi phạm trong quản lý tài chính và cấp tín dụng" của một số quan chức điều hành.
Bộ Công an nói trong một tuyên bố hôm 24/11 rằng 17 người đã bị bắt trong vụ gian lận tại Ngân hàng Đông Á.

Đời sống Kỳ Anh sau hai năm biển chết

TTVN-2017-11-24  
Formosa vẫn tiếp tục hoạt động sau thảm hoạ môi trường
Formosa vẫn tiếp tục hoạt động sau thảm hoạ môi trường-TTVN
Gần hai năm trôi qua, kể từ ngày biển Bắc miền Trung nhiễm độc do Formosa Hà Tĩnh xả thải, đến nay, đời sống của người dân Kỳ Anh vẫn chưa có gì phục hồi. Khó khăn, đói kém, tha phương cầu thực, trốn sang Lào, Trung Quốc để làm thuê… Đó là bài ca chung của người dân Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Bên cạnh đó, tình trạng môi trường không khí phía Tây Hà Tĩnh bị ô nhiễm trầm trọng đang gây nhức nhối. Các dự án phía Tây Hà Tĩnh đình trệ kéo theo nhiều hệ lụy xấu cho đời sống nơi đây.

Tệ nạn xã hội tăng cao

Bà Trần Thị Hà, người buôn bán ở chợ Kỳ Thịnh, thị xã Kỳ Anh, chia sẻ: “Tôi nhận thấy thì hiện tại tiền đền bù trước đó họ tiêu hết rồi, chỉ có một vài người làm ăn nhỏ lẻ, có thêm đồng vốn họ chịu khó làm ăn thì có lên chút. Còn chủ yếu là người dân tiêu hết sạch, thậm chí hiện tại nhiều người còn nợ nần nhiều, không còn gì hết, đời sống khó khăn. Vào làm công ty thì độc hại nhiều, làm ăn không ăn thua. Người dân giờ rất khó khăn, chợ búa chúng tôi có bán được gì đâu, cái gì cũng giảm khoảng 80%.”
Bà Mai Thị Lợi, cư dân xã Kỳ Thịnh, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh, chia sẻ: “Đời sống của thanh niên hiện tại hư hỏng nhiều. Từ lúc Trung Quốc, Đài Loan qua đây thì tệ nạn xã hội nhiều, thanh niên nghiện ngập, phụ nữ thì bỏ chồng bỏ con đi theo Trung Quốc, làm bồ bịch của hắn này, thì nó chơi gái nó cho trả ít tiền rồi ham tiền đi theo hắn, bỏ chồng bỏ con nhiều, ở Kỳ Thịnh, Kỳ Anh này nhiều lắm!”
Bà Lợi chia sẻ thêm là hiện tại, đời sống kinh tế của người dân chung quanh bà không có gì thay đổi kể từ sau vụ biển nhiễm độc đến nay. Nghĩa là đời sống vẫn chưa thể hồi sinh, mọi thứ vẫn còn trong trạng thái chết, nghề nghiệp đánh bắt chết, nghề buôn bán chết, công việc không có, sức mua chết… Với những người buôn bán nhỏ lẻ, đặc biệt là buôn bán hải sản, kiếm được 100 ngàn đồng mỗi ngày là chuyện quá khó khăn, nhưng trước khi biển nhiễm độc, họ kiếm mỗi ngày 500 ngàn đồng một cách dễ dàng.
Trong khi đó, giá thành mọi thứ tăng vọt bởi người Trung Quốc sống ở đây nhiều vô kể và họ xài tiền dễ dãi, chính sức mua không tiếc tiền của họ đã kéo nhiều thứ vật giá leo thang. Người dân bản địa phải chật vật vì thời giá bị lái hoàn toàn bởi sức mua người Trung Quốc. Đời sống khó khăn, kiếm tiền chật vật nhưng tệ nạn xã hội tăng rất nhanh.
Theo bà Lợi, một số thanh niên làm việc thuê cho người Trung Quốc, có được chút tiền lại chuyển sang chơi bời, nhậu nhẹt, phá phách, xài hàng đá, theo con đường xì ke, ma túy. Đặc biệt, một số gia đình có tiền đền bù đất trước đây và còn một ít đất để bán ăn dần có vẻ như họ bị lún tệ nạn xã hội nặng nhất. Hầu hết con cái trong các gia đình này dính xì ke, ma túy, chơi hàng đá và suốt ngày chơi bời, phá phách, không có công việc ổn định.
Riêng vấn đề hôn nhân gia đình ở Kỳ Thịnh nói riêng và Kỳ Anh nói chung có vẻ như đã hết thuốc chữa. Con số các phụ nữ đã có gia đình riêng, có chồng và hai, ba đứa con nhưng do kinh tế suy sụp, họ đã bỏ chồng theo các thanh niên, đàn ông Trung Quốc. Đi theo một thời gian dài thì bị hất hủi, lại quay về gia đình nhưng lúc này chồng con không muốn nhìn họ nữa, họ lại lang thang rày đây mai đó để làm công việc buôn phấn bán hương.
Nhiều gia đình phải tan nát, nhiều số phận bị lún bùn đen, nhiều tương lai bị chặn đứng bởi gia đình, cha mẹ đổ vỡ. Có thể nói rằng có quá nhiều đớn đau đến với người dân Hà Tĩnh kể từ khi các công trình của người Trung Quốc mọc lên ở đây.

Tha hương ngay trên chính đất quê

Chị Lê Thị Cúc, cư dân Kỳ Anh, chia sẻ: “Trước khi có khu công nghiệp vào đây thì còn bán được, chứ hai năm nay không bán được nữa. Thu nhập ngày trăm bạc cả vốn lẫn lãi, trừ vốn thì lãi được khoảng 20 ngàn bạc, không có gì cả. Bão lụt gì họ cho mỗi nhà được 5kg gạo chứ không có gì cả.”
Chị Nguyễn Thị Liên, cư dân Kỳ Anh, Hà Tĩnh, chia sẻ: “Ở đây thì đời sống kinh tế Việt Nam khó khăn rồi, bởi Trung Quốc sang đây làm ô nhiễm, biển chết, ảnh hưởng đến người dân, chứ nó không qua đây thì biển không bị như vậy, dân còn con cá biển mà ăn.”
Hai phụ nữ này chia sẻ thêm là hiện tại, tình trạng sống ngay trên đất quê mà có cảm giác như đang sống nhờ, sống tạm ở một vùng đất nào đó là tình trạng chung của những người dân nghèo nơi đây. Bởi dường như mọi quyền lợi hay tiếng nói đều thuộc về những người đến từ phương Bắc. Người ta nói mạnh vì gạo, bạo vì tiền, hiện tại, người Trung Quốc có đủ cả mạnh vì gạo bạo vì tiền, họ có thể ung dung làm bất kì điều gì họ muốn trên đất Hà Tĩnh, kể cả việc dụ dỗ vợ người khác bỏ chồng, bỏ con chạy theo đồng tiền của họ.
Cũng theo chị Cúc và chị Liên, vấn đề đền bù do xả độc ra biển ở Kỳ Anh có nhiều chuyện bất minh và bất công. Nhiều gia đình không làm gì liên quan đến biển nhưng có người thân làm cán bộ thì được nhận đền bù với số lượng lớn, ngược lại, người buôn bán hải sản và làm nghề biển như gia đình các chị, suốt hai năm nay khó khăn, chồng và con trai lớn các chị phải sang Lào làm thuê, bữa được bữa mất vì trốn chui trốn nhủi trên nước bạn, vì không có thị thực của nước bạn, các chị phải ở nhà tần tảo nuôi con, kiếm tiền vô cùng khó… Nhưng các chị chẳng nhận được đồng tiền đền bù nào.
Và đáng sợ hơn cả, theo các chị là mặc dù đang sống trên quê cha đất tổ nhưng tiếng nói của người bản địa lọt thỏm giữa ồn ào thanh âm người nước lạ. Mọi sinh hoạt bị đảo lộn, đời sống ngày thêm cơ cực và luôn thấy mình giống như người tha hương, sống tạm ngay trong chính ngôi nhà của mình.
Có thể nói rằng sau gần hai năm, đời sống người dân làm nghề biển và các dịch vụ biển nói riêng, người dân Hà Tĩnh nói chung vẫn chưa hết đảo lộn và chưa hề có dấu hiệu phục hồi sau những mất mát.
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam

Đại sứ CSVN tại Đức không có tên trong danh sách các thứ trưởng ngoại giao

Đại sứ CSVN tại Đức không có tên trong danh sách các thứ trưởng ngoại giao
Đoàn Xuân Hùng ngồi giữa. (Hình: thoibao.de)
Theo thoibao.de của cộng đồng người Việt Nam tại Đức, danh sách các thứ trưởng Bộ Ngoại giao Cộng sản Việt Nam được công bố trên các phương tiện truyền thông Việt Nam hôm 18 tháng 11 vừa qua không có tên của ông Đoàn Xuân Hưng.
Tin này khiến dư luận ở Đức xôn xao bàn tán, cho rằng đại sứ Cộng sản Việt Nam tại Đức, Đoàn Xuân Hưng có thể bị mất chức thứ trưởng Bộ Ngoại giao vì tình hình căng thẳng giữa hai nước qua vụ ông Trịnh Xuân Thanh bị bắt cóc. Cuộc điều tra của Công Tố Viện Liên bang Đức kéo dài 4 tháng qua vẫn chưa kết thúc.
Thoibao.de dẫn một nguồn tin từ Bộ Ngoại giao Đức cho biết: “Chúng tôi đã nói chuyện với chính phủ Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã biết được những yêu cầu của chúng tôi. Họ cũng biết phải làm gì để bình thường hóa trở lại mối quan hệ giữa hai nước.” 
Ngày hôm qua, cảnh sát Đức cho biết nghi can Nguyễn Hải Long, quốc tịch Việt Nam bị dẫn độ từ Cộng Hoà Czech sang Đức và bị giam tại một nhà tù ở Berlin để điều tra vụ đã thuê xe cho mật vụ Việt Nam sử dụng trong vụ bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh.
Trong một diễn biến liên quan đến quan hệ Việt Nam và các nước Liên Âu, hôm 9 tháng 11 vừa qua, bà Miriam Garcia Ferrer, trưởng ban Thương mại và Kinh tế của Liên Âu tại Việt Nam cho hay Việt Nam có thể bị Liên Âu giơ “thẻ đỏ,” một biện pháp trừng phạt nặng nề kể từ sau vụ ông Trịnh Xuân Thanh.
Nếu bị cáo buộc không tôn trọng cam kết quốc tế qua việc đánh bắt cá bất hợp pháp, không kiểm soát, không phúc trình đầy đủ thì Việt Nam có thể bị cấm xuất cảng số lượng thuỷ hải sản trị giá khoảng từ 300 đến 400 triệu Mỹ kim sang Liên Âu. Không chỉ vậy, Việt Nam có thể bị Hoa Kỳ, Nhật Bản áp dụng biện pháp trừng phạt tương tự.
Người ta cho rằng vụ đại sứ Đoàn Xuân Hưng bị gạt hỏi danh sách các thứ trưởng có thể là biện pháp xoa dịu tình hình ngoại giao căng thẳng giữa Đức và Việt Nam hiện nay.
Danh sách này chỉ có các ông Bùi Thanh Sơn, Lê Hoài Trung, Hà Kim Ngọc, Vũ Hồng Nam, Đặng Đình Quý, Nguyễn Quốc Dũng bên cạnh ngoại trưởng Phạm Bình Minh
Song Châu / SBTN

5 người chết bất thường tại nhà máy nước mắm của Thái Lan ở Phú Yên

5 người chết bất thường tại nhà máy nước mắm của Thái Lan ở Phú Yên
Sáng nay, một tai nạn bất thường xảy ra tại kho chứa nước mắm làm 5 người chết, trong đó có một người đàn ông Thái Lan.
Tin AFP dẫn lời người đứng đầu công ty sản xuất nước mắm cho rằng, có thể các nạn nhân hít phải một loại khí độc. Họ nằm chết trong một căn phòng nhỏ chứa đầy cá đã lên men tại nhà máy CP Foodtech toạ lạc ở tỉnh Phú Yên, miền trung Việt Nam.
Nguồn tin này cũng nói rằng các nhân viên điều tra đang xác định nguyên nhân gây ra cái chết cho các nạn nhân.
Người đứng đầu nhà máy sản xuất nước mắm xin được giấu tên, nói ông tin rằng các nạn nhân chết vì hít phải khí độc trong phòng chứa đầy cá lên men để làm nước mắm. Đây là nhà máy do người Thái Lan sở hữu, và người đứng đầu nhà máy không cho biết loại nguyên liệu nào đã được sử dụng làm cá lên men.
Vẫn theo nguồn tin này, thoạt đầu thì một trong số các nạn nhân nói trên đã bước vào kho chứa cá lên men để kiểm soát như thường lệ và không quay trở ra. Một số đồng nghiệp của ông này vội vã chạy vào trong phòng tìm kiếm và cuối cùng thì tất cả đều thiệt mạng.
Theo báo Tuổi Trẻ, tai nạn lao động thường xuyên xảy ra, đặc biệt tại các nước phát triển nhanh như Việt Nam nhưng không thực hiện đầy đủ các quy định bảo vệ sự an toàn cho công nhân theo luật lao động.
Tháng 7 năm ngoái cũng xảy ra tai nạn tương tự tại cơ sở sản xuất nước mắm HL ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà nhưng 3 công nhân hít phải khí độc được kịp thời cứu sống. Họ nhờ người khác trông thấy và dùng móc lôi lên từ thùng chứa cá lên men.
Ba người đều đã bất tỉnh, được đưa vào bệnh viện cấp cứu và may mắn được cứu thoát khỏi tay tử thần.
Song Châu / SBTN

Ghi tên trẻ sơ sinh vào tờ khai gia đình phải nộp tiền quy hoạch nghĩa trang

Ghi tên trẻ sơ sinh vào tờ khai gia đình phải nộp tiền quy hoạch nghĩa trang
Hôm nay một số cư dân thôn Tứ Xuân thuộc xã Cư Huê, huyện Eakar, tỉnh Đắc Lắc lên tiếng chỉ trích việc chính quyền địa phương buộc họ phải nộp 150,000 đồng, tương đương 7 Mỹ kim tiền “quy hoạch nghĩa trang” cho mỗi trường hợp ghi tên trẻ sơ sinh vào tờ khai gia đình.
Một phụ nữ tên MK cho rằng đây là chính sách phi nhân vì trẻ mới ra đời đã phải nộp tiền xây dựng nghĩa địa theo quy hoạch của chính quyền xã, và người dân tin điều này mang lại điềm xui xẻo cho gia đình. Bà MK nói rằng người dân ở thôn Tứ Xuân cũng như nhiều người khác chỉ muốn con em mình sẽ đến các vùng thị tứ để lập nghiệp, cho nên buộc họ phải đóng tiền xây nghĩa địa tại đây là không hợp lý.
Theo báo mạng thoimoi.vn, Đắc Lắc là địa phương thường xuyên quấy nhiễu, vòi vĩnh dân chúng, đặc biệt là trẻ sơ sinh và người lớn tuổi. Một cư dân thôn 8, xã Cư Bảo, Buôn Hồ xác nhận tin nói rằng suốt hai năm qua, chính quyền thôn buộc tất cả dân chúng, từ trẻ sơ sinh mới chào đời cho đến các cụ già đủ 70 tuổi đều phải đóng mỗi người 110,000 đồng, tương đương 5.5 Mỹ kim để gọi là “xây dựng nông thôn mới.”
Người này nói rằng nhiều gia đình nghèo túng, không kiếm đâu ra tiền để nộp cho chính quyền.
Một người khác thì cho rằng nhà nước Cộng sản Việt Nam đã ra lệnh cấm nhưng cán bộ ở địa phương vẫn buộc dân chúng phải nộp tiền “xây dựng nông thôn mới” để “lập thành tích” và niêm yết tên tuổi của những người chưa kịp nộp tiền tại nơi công cộng.
Song Châu / SBTN

Đá lót vỉa hè Hà Nội ‘bền vững 70 năm’ mới vài tháng đã nát

Vỉa hè trên phố kiểu mẫu Lê Trọng Tấn bong tróc, nhiều viên gạch dường như bị mất từ lâu. (Hình: VietNamNet)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Chỉ sau thời gian ngắn, đá tự nhiên “có tuổi thọ 70 năm” lót trên các vỉa hè ở thành phố Hà Nội bị vỡ nát, bong tróc. Tuy nhiên, chính quyền thành phố vẫn tiếp tục thay lớp gạch cũ bằng loại đá “thọ 70 năm” này với tổng kinh phí hàng ngàn tỷ đồng.
Theo báo VietNamNet, chiều 22 Tháng Mười Một, các nhóm công nhân vẫn đang tiếp tục cạy lớp gạch cũ trên đường Trung Kính, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội để thay bằng lớp đá tự nhiên, mặc dù đang bị người dân và báo chí phản ứng dữ dội.
Mới đây, tại cuộc họp giao ban báo chí của Ban Tuyên Giáo Thành Ủy Hà Nội, nói về việc lót đá tự nhiên tại hơn 930 tuyến đường tại 12 quận nội thành, ông Trần Việt Trung, phó giám đốc Sở Xây Dựng, cho biết: “Hà Nội vẫn chủ trương lót đá vỉa hè trên các tuyến phố. Từ nay đến năm 2020, sẽ có hơn 900 tuyến phố của 12 quận của thành phố được lót đá tự nhiên với chi phí khoảng 500,000 đồng (khoảng $22)/mét vuông. Hiện một số quận, huyện vẫn đang triển khai thực hiện.”
Trước đó, truyền thông Việt Nam đồng loạt phản ứng, nhiều vỉa hè, lòng đường ở Hà Nội như tuyến phố kiểu mẫu Lê Trọng Tấn; đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân; đường Trần Phú, quận Hà Đông; phố Trung Kính, Trần Duy Hưng, quận Cầu Giấy… được lót lại bằng đá tự nhiên thay vì gạch như trước đây.
Loại đá tự nhiên này được chính quyền Hà Nội nhận định là có độ bền từ 50 đến 70 năm, nhưng mới sử dụng vài tháng thì hầu hết các tuyến phố được lót đá tự nhiên đều xuất hiện những vết nứt, vỡ gạch, bề mặt vỉa hè lồi lõm, lởm chởm, thậm chí ở nhiều nơi đá còn bị bật khỏi nền.
Nhìn cảnh tượng này, nhiều người dân không khỏi ngán ngẩm. Ông Lê Văn Thọ, ở phố Trung Kính, quận Cầu Giấy, bất bình nói: “Trước, tôi thấy vỉa hè lót gạch vẫn còn tốt, không đến mức độ phải cạy lên để thay. Giờ lót đá tự nhiên mới chỉ được 4-5 tháng đã nát bét, nham nhở vết nứt thế này rồi, vài năm nữa không biết sẽ thế nào.”
Còn ông Lê Hùng, ở khu vực Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, thắc mắc: “Đổ cả trăm tỷ đồng, áo rách vỉa hè có thành áo mới?” (Tr.N)

Ninh Bình bắt 4 xe tải chở cả tấn thịt bò thối đi tiêu thụ

Công an kiểm tra xe và thu giữ tang vật. (Hình: Lao Động)
NINH BÌNH, Việt Nam (NV) – Phòng Cảnh Sát Môi Trường Công An tỉnh Ninh Bình vừa bắt giữ bốn chiếc xe tải chở gần 1 tấn thịt bò bốc mùi hôi thối từ Hà Nội, Thanh Hóa về Ninh Bình để tiêu thụ.
Theo báo Lao Động, khoảng 3 giờ sáng 22 Tháng Mười Một, Công An tỉnh Ninh Bình bắt bốn xe tải do các ông Lê Thọ Hải, Trần Đức Nghĩa (cùng ở huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa), và hai ông Nguyễn Văn Sỹ (trú huyện Kim Sơn, Thanh Hóa), Nguyễn Văn Dũng (ở huyện Phú Xuyên, Hà Nội), chở theo 965 kg thịt bò và 20 kg xương bò không có giấy kiểm dịch thực phẩm, hóa đơn và đã bốc mùi hôi thối.
Bước đầu, các lái xe khai họ chính là chủ số thịt bò hôi thối trên và cho biết đã thu gom rồi chở từ Hà Nội, Thanh Hóa đưa về Ninh Bình để tiêu thụ. (Tr.N)

Bắt quả tang doanh nghiệp Trung Quốc xả trộm chất thải ra sông

Doanh nghiệp xả thải thẳng ra hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải. (Hình: Tuổi Trẻ)
HƯNG YÊN, Việt Nam (NV) – Một doanh nghiệp tái chế nhựa của Trung Quốc vừa bị bắt quả tang xả thải trộm tại xã Bạch Sam, huyện Mỹ Hào, có thể gây ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp, sức khỏe của người dân các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương và Hà Nội.
Báo Tuổi Trẻ cho hay, sáng 23 Tháng Mười Một, tổ công tác của Cục Cảnh Sát Phòng Chống Tội Phạm Về Môi Trường, Bộ Công An, bắt quả tang một doanh nghiệp Trung Quốc nằm trong khu đất thuộc công ty Bao Bì Thái Hà Hưng xả nước thải trộm trực tiếp ra sông.
Điều đáng nói, toàn bộ cơ sở sản xuất này không có hệ thống xử lý nước thải. Nguồn nước thải được đấu nối ra cống lộ thiên. Đường ống này dẫn thẳng ra hệ thống kênh thủy lợi Bắc Hưng Hải, dùng để phục vụ tưới tiêu cho hơn 20,000 hécta đất nông nghiệp của bốn tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương và Hà Nội.
Không chỉ có một, toàn bộ khu đất của công ty Bao Bì Thái Hà Hưng đã cho nhiều doanh nghiệp của Trung Quốc thuê đất để tái chế phế liệu.
Ông Lê Xuân Kiều, giám đốc công ty, cho biết công ty có cho ba doanh nghiệp Trung Quốc thuê nhà xưởng tái chế phế liệu nhưng trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp Trung Quốc vi phạm nhiều quá nên Sở Tài Nguyên-Môi Trường tỉnh đã yêu cầu không được cho thuê tiếp.
“Vụ xả thải này là thuộc những doanh nghiệp trong nước thuê nhà xưởng. Ngay chiều nay tôi sẽ yêu cầu các doanh nghiệp thuê nhà xưởng dừng hoạt động, dừng việc xả thải,” ông nói.
Thế nhưng, tối cùng ngày, nói với báo Người Lao Động, một lãnh đạo Công An tỉnh Hưng Yên cho biết “Vẫn chưa nắm bắt được sự việc.” (Tr.N)

Gạo hỗ trợ lũ lụt bị chảy nhũn, kết mảng khi cháy

Sau khi cháy hết, phần tro gạo kết dính lại thành từng mảng. (Hình: Dân Trí)
QUẢNG NGÃI, Việt Nam (NV) – Người dân xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, phát giác gạo hỗ trợ lũ lụt phân phát cho dân “có biểu hiện bất thường” vì khi đốt gạo bắt lửa nhanh và kết dính thành mảng lớn.
Nói với báo Dân Trí, bà Hồ Thị Thúy Liễu (ở xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi) cho biết chiều 19 Tháng Mười Một, gia đình bà nhận được một bao gạo 10 kg “hỗ trợ bão lụt.”
Sau khi khui bao gạo ra nấu cơm, bà Liễu nhận thấy gạo không giống như bình thường nên thử gạo bằng cách rang rồi đem đốt.
“Hạt gạo bắt lửa rất nhanh rồi bốc cháy bất thường, khi cháy hết thì phần tro kết dính thành mảng lớn nên tôi rất lo lắng,” bà nói.
Nhận được thông tin phản ánh, trưa 23 Tháng Mười Một, ông Trần Văn Thạch, phó bí thư đảng ủy xã Tịnh Hà, cùng cán bộ xã đã thực hiện kiểm chứng. Trước sự chứng kiến của nhiều người, người dân thôn Thọ Lộc Bắc đã lấy một bao gạo hỗ trợ khác mang ra thử nghiệm cùng với gạo lúa mùa mà người dân đang ăn.
Kết quả cho thấy, cùng một lượng gạo, cùng thời gian rang nhưng khi đốt cho kết quả khác. Đối với gạo “hỗ trợ lũ lụt,” hạt gạo bắt lửa bốc cháy và lan ra rất nhanh. Khi cháy hết, phần tro kết lại thành mảng lớn. Trong khi đó, gạo lúa mùa vẫn bốc cháy nhưng chỉ cháy một phần rất yếu rồi tắt.
Chứng kiến sự việc, ông Thạch cho rằng, số gạo này do Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc huyện Sơn Tịnh “kêu gọi một đơn vị hỗ trợ và cấp phát cho 50 nhà dân. Đối tượng được nhận gạo là hộ nghèo, neo đơn bị thiệt hại do đợt mưa lũ vừa qua.”
“Đúng là số gạo hỗ trợ bốc cháy một cách bất thường khiến người dân lo lắng. Trước mắt huyện chỉ đạo các thôn tiến hành thu gom số gạo đã cấp phát, đồng thời báo cáo lên cơ quan chức năng để kiểm tra, giám định chất lượng gạo tránh gây hoang mang,” ông Thạch nói. (Tr.N)

Đại biểu Quốc Hội CSVN nói Luật An Ninh Mạng là trái cam kết quốc tế

Dân chúng biểu tình đòi nhà cầm quyền trả tự do cho nhà báo độc lập Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự khi tòa án Hà Nội kết án họ “tuyên truyền chống nhà nước.” (Hình: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Hiện có hai luật siết Internet và quyền tự do thông tin tại Việt Nam, nhưng nhà cầm quyền CSVN lại còn siết thêm nữa khi đưa ra dự luật kiểm soát an ninh mạng như “một cửa ba khóa” và ngược với cam kết quốc tế.
Quốc Hội CSVN đang thảo luận để thông qua dự luật về An Ninh Mạng trước khi biểu quyết mà không mấy khó dự đoán kết quả của cái quốc hội tuy là “cơ quan quyền lực cao nhất nước” theo sự xưng tụng của hiến pháp, nhưng đại biểu quốc hội thì luôn luôn bấm nút theo lệnh đảng.

Dù vậy, theo truyền thông Việt Nam đưa tin, trong cuộc thảo luận hôm Thứ Năm, 23 Tháng Mười Một , bà Nguyễn Thị Kim Thúy, đại biểu đơn vị Đà Nẵng, kêu rằng Việt Nam đã có hai luật về kiểm soát thông tin gồm Luật An Ninh Quốc Gia và Luật An Toàn Thông Tin Mạng. Theo bà, đẻ thêm ra Luật An Ninh Mạng là chồng chéo và cồng kềnh.
“Vì an ninh quốc gia và việc bảo vệ an ninh quốc gia rất quan trọng nên quốc hội đã ban hành các luật an ninh quốc gia, an toàn thông tin mạng. Có thể coi hai luật như hai cái khóa rất chắc chắn. Nay thêm Luật An Ninh Mạng không khác gì thêm cái khóa thứ ba,” tờ Tuổi Trẻ thuật lời bà Thúy phân tích.
“Đề nghị quốc hội cân nhắc: Hai khóa đã đủ chắc chắn chưa? Nếu thêm một khóa chỉ để khóa cùng một cửa, nhưng lại giao cho một ‘người khác’ giữ chìa thì chắc hơn, hay cồng kềnh hơn trong thời buổi mở cửa này?” bà Thúy đặt vấn đề.
Bà Thúy nói đưa thêm Luật An Ninh Mạng là đi ngược với các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường.
“Bên cạnh đó, với sự phù hợp của dự thảo luật với các điều ước quốc tế, theo bà Kim Thúy, Điều 34 dự thảo này quy định nhà cung cấp dịch vụ mạng phải đặt máy chủ ở Việt Nam là trái cam kết của tổ chức WTO và Hiệp Định Thương Mại Việt Nam – EU, bởi vì theo các cam kết này thì dịch vụ viễn thông qua biên giới là không hạn chế tiếp cận thị trường, trừ một số trường hợp cụ thể, nhưng trong các trường hợp loại trừ đó cũng không quy định phải có cơ quan đại diện trên lãnh thổ Việt Nam,” báo Thanh Niên tường thuật lời phát biểu của bà Thúy.
Báo Tuổi Trẻ kể, bà Thúy cũng dẫn thêm Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) được Việt Nam ký kết Tháng Hai, 2016: “Không bên nào yêu cầu đối tượng áp dụng của chương này được sử dụng hoặc lựa chọn địa điểm lắp đặt các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin trong phạm vi lãnh thổ của bên mình để xem đó như là điều kiện kinh doanh trong lãnh thổ đó, để triển khai công việc.”
Một trong những mấu chốt của cái dự luật An Ninh Mạng là nhà cầm quyền CSVN cài vào điều khoản bắt các công ty mạng toàn cầu đặt máy chủ tại Việt Nam để nhà cầm quyền bóp chết các tin tức bị cho là “ngoài luồng,” “độc hại,” không để chúng lan truyền rộng rãi, dễ bỏ tù người dân muốn sử dụng quyền tự do thông tin.
Trong cuộc thảo luận ở quốc hội ngày 13 Tháng Mười Một, một ông đại biểu quốc hội cũng cho rằng đòi công ty cung cấp dịch vụ thông tin mạng toàn cầu phải đặt máy chủ tại Việt Nam là “không khả thi.”
Nhà cầm quyền Việt Nam lâu nay ép hai công ty làm chủ hai mạng xã hội YouTube (Google) và Facebook phải gỡ bỏ các bài viết thông tin, hình ảnh và video clip mà người dân tại Việt Nam đưa lên, phơi bày mặt trái tồi tệ của một đất nước được ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thu đảng CSVN, “tự sướng” là “dân chủ đến thế là cùng.”
Cả Facebook và YouTube cũng chỉ gỡ bỏ một phần mà không gỡ hết, dù nhà cầm quyền đã áp lực rất nhiều, kể cả áp lực các công ty ngoại quốc kinh doanh tại Việt Nam dừng quảng cáo. (TN)