Sunday, April 30, 2017

Những rào kẽm gai ngăn chặn nhân dân


Lại vừa ngang qua Hà Tĩnh. Formosa, giờ đã thêm những rào kẽm gai chặn hết mọi lối vào. Những hàng kẽm gai tầng tầng lớp lớp như thời chiến tranh.
42 năm rồi, những hàng rào kẽm gai như vậy lại được dựng lên để... ngăn chặn nhân dân.

42 năm-giá trị của một “chiến thắng” và những vết thương chưa thể lành


Song Chi.
42 năm sau biến cố 30.4.1975, có vô vàn câu hỏi về cuộc chiến tranh đã qua, về thực tại đất nước, vẫn tiếp tục làm nhức nhối trái tim những ai có lòng với đất nước, dân tộc. Người viết bài này chỉ muốn đặt lại hai câu hỏi:
+Trong cuộc chiến VN, người Mỹ tất nhiên đã thua, VNCH tất nhiên đã thua, nhưng rốt cuộc đảng cộng sản VN có phải đã chiến thắng?
Đã có rất nhiều bài viết của người VN và người nước ngoài nhận định về “chiến thắng” của đảng cộng sản VN ngày 30.4.1975, nhưng nhìn lại, điều đó chả có gì đáng phải tự hào ngây ngất, tạo nên niềm “kiêu ngạo cộng sản” suốt một thời gian dài. Bởi vì đó là một “chiến thắng” dựa trên vũ khí, tài chính, sự viện trợ tối đa từ Liên Xô, Trung Cộng, và phe XHCN, đồng thời lợi dụng, khai thác lòng yêu nước của người VN để tuyên truyền dối trá, bóp méo sự thật, khiến hàng triệu con người lao vào cuộc chiến mà cứ tưởng mình đang đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam bị kềm kẹp dưới ách Mỹ ngụy và để xây dựng một đất nước công bằng, ngàn lần tốt đẹp hơn. Nếu không có sự viện trợ đó và không có sự tuyên truyền dối trá đó, đảng cộng sản có thắng không?
Chưa kể, “đánh ngoại xâm bằng ngoại nhân”, vi phạm Hiệp định Paris, quyết tâm cưỡng chiếm miền Nam bất chấp VNCH lúc đó là một thực thể quốc gia độc lập, bất chấp ý nguyện của người dân miền Nam, thực tế là một hành động xâm lược cho dù biện minh bằng lý do thống nhất đất nước (bởi vì người miền Nam có muốn thống nhất theo cách đó hay không?). Và vì vậy chả có gì để tự hào cả.
Thứ hai, thắng trong chiến tranh, nhưng bại trong hòa bình, đảng cộng sản đã thất bại trên nhiều khía cạnh. Thất bại trong việc thu phục nhân tâm, đất nước thống nhất nhưng lòng người chưa bao giờ thôi chia rẽ. Thất bại trong việc xây dựng VN trở thành một quốc gia độc lập, tự do, hạnh phúc, giàu mạnh; không những thế, VN dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản sau cuộc chiến còn tiếp tục phải lao vào hai cuộc chiến tranh khác với Khơ Me Đỏ và Trung Cộng, bị mất thêm nhiều đất đai, lãnh thổ lãnh hải vào tay Bắc Kinh.
Thất bại trong việc thực hiện và xây dựng đất nước theo mô hình thể chế chính trị và lý tưởng xã hội chủ nghĩa/cộng sản chủ nghĩa mà ban đầu họ theo đuổi. Ngược lại, họ đã lẳng lặng từ bỏ, phản bội tất cả những lý tưởng, tuyên ngôn, tuyên bố, mục tiêu ban đầu đó, điều chỉnh, chắp vá mô hình thể chế hiện tại như một sự cóp nhặt nửa vời giữa nền kinh tế tự do, thị trường của phe tư bản, nhưng vẫn giữ lại sự lãnh đạo duy nhất của đảng theo thể chế độc tài.
Thất bại trong việc tiêu diệt những giá trị của chế độ VNCH, ngược lại, theo thời gian, những giá trị, ảnh hưởng trong văn học, âm nhạc, tư tưởng tự do, nhân bản… của VNCH vẫn tiếp tục lan tỏa; hình ảnh lá cờ vàng vẫn tiếp tục tồn tại trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại nhiều quốc gia, được chính phủ nhiều nước công nhận đó là lá cờ đại diện cho cộng đồng người Việt tỵ nạn, và thậm chí, thỉnh thoảng lá cờ vàng còn xuất hiện ngay trong nước. Ngày càng ngày người dân càng mất lòng tin và ngao ngán, chán ghét chế độ, nhà cầm quyền.
Như thế có thể gọi là chiến thắng hay không?
+Vì sao người Việt vẫn tiếp tục nói về ngày 30.4.1975?
“Bên thắng cuộc” tất nhiên là vẫn tiếp tục ăn mừng hàng năm, để tiếp tục tuyên tuyền về “tính chính danh” và “công lao” thống nhất đất nước của đảng cộng sản, đặc biệt khi thực trạng đất nước ngày càng tệ hại, rối beng, lòng dân đa phần mất lòng tin vào đảng, vào nhà cầm quyền thì lại càng phải rầm rộ ăn mừng, “ăn mày dĩ vãng”.
“Bên thua cuộc” cũng có những lý do. Bởi theo thời gian, khi đảng và nhà nước cộng sản ngày càng chứng tỏ đó là một tập đoàn cai trị độc tài, yếu kém, bất lực, tham nhũng và phá hoại nặng nề đất nước; khi sự tụt hậu thê thảm về mọi mặt của VN so với các nước láng giềng trong khu vực và so với thế giới, khi độc lập-tự do-hạnh phúc chưa bao giờ thực sự có trên đất nước này và những quyền tối thiểu của con người vẫn còn bị chà đạp…thì nỗi đau, sự tiếc nuối về một cuộc chiến tranh vô nghĩa, về sự bức tử của một quốc gia dù còn nhiều khiếm khuyết nhưng đã có những nền móng của một xã hội dân chủ, văn minh và nhân bản, về những cơ hội bỏ lỡ của đất nước, những chữ “nếu” oan nghiệt được đặt ra…càng làm trái tim người Việt nhức nhối.
Người miền Nam đã chấp nhận thua. Đã giao lại cả một quốc gia VNCH thuộc vào loại phát triển so với các nước chung quanh vào thời điểm ấy cho “bên thắng cuộc”. Nhưng “bên thắng cuộc” đã không biết cách thắng. Bằng việc áp đặt một mô hình thể chế chính trị độc tài toàn trị và mô hình kinh tế quốc doanh bao cấp quan liêu học theo Liên Xô, cộng với vô số những chính sách sai lầm về văn hóa, giáo dục, tư tưởng, những chính sách trả thù, phân biệt đối xử với người miền Nam…kết quả là chỉ trong một thời gian ngắn nền kinh tế miền Nam bị phá sản, cả nước rơi vào cảnh đói nghèo, thậm chí đứng trên bờ vực của sự chết đói, và hàng triệu người bỏ nước ra đi..
Sau 42 năm, đảng và nhà nước cộng sản không những không biết nhìn lại, thành tâm hối lỗi vì những tội ác, những chính sách sai lầm, không những không thành tâm hòa hợp hòa giải mà cũng không hướng tới tương lai, dũng cảm lựa chọn con đường thay đổi thể chế chính trị lỗi thời bằng biện pháp hòa bình, như nhiều nước và mới đây là Myanmar đã thực hiện, vì quyền lợi và tương lai của đất nước, dân tộc. Ngược lại, đảng và nhà nước cộng sản vẫn quyết liệt bám giữ quyền lực bằng mọi giá, tiếp tục bám lấy mô hình thể chế chính trị độc tài toàn trị, tiếp tục phá nát đất nước bởi sự ngu dốt, tham lam, tham nhũng, về ngoại giao thì tiếp tục đưa VN vào con đường lệ thuộc lâu dài và yếu thế về mọi mặt trước Trung Cộng.
Chính vì thế mà trong lúc nhiều dân tộc khác, quốc gia khác, có thể dễ dàng khép lại quá khứ sau một cuộc nội chiến, ví dụ như nước Mỹ sau cuộc nội chiến Nam-Bắc thế kỷ XIX, Đông Đức và Tây Đức sau ngày thống nhất, còn VN thì không dễ. Chính vì thế mà người VN vẫn cứ còn tiếp tục nói về ngày 30.4-dù đã 42 năm. Lòng người vẫn chia rẽ sâu sắc. Và khi nào đảng cộng sản còn tồn tại, khi nào thể chế chính trị này còn tồn tại thì vết thương còn mãi chưa lành.
Từ lâu, sự tồn tại của nhà nước cộng sản đã trở thành lực lượng phản động, kìm hãm sự phát triển của VN, đảng cộng sản càng nằm quyền lâu dài thì khoảng cách giữa VN và các nước khác càng lớn, hệ lụy do đảng cộng sản gây ra và để lại càng nặng nề, VN càng mất nhiều thời gian để làm lại từ đầu.
Câu hỏi là người Việt chúng ta còn phải tiếp tục nói về những chuyện như thế này cho đến bao lâu nữa? Bao giờ thì một giai đoạn lịch sử đen tối sẽ thực sự khép lại và một chương mới, tươi sáng hơn cho dân tộc, sẽ mở ra?

Tháng Tư về, tôi mặc niệm tháng Tư


Những ngày tôi còn nhỏ, lúc đó quê hương mới vừa thay đổi (mà bây giờ tôi hiểu đó là một biến cố lịch sử), bà thường không bao giờ mua cá biển vào tháng Tư, cả nhà không ăn cá cho đến hết tháng Tư, qua giữa tháng Năm bà mới cho ăn cá trở lại. Bà không giải thích điều này, nhưng bà nói đó là một việc tâm linh, sau này lớn lên con sẽ hiểu!
Cũng như lúc còn nhỏ, tôi nhớ đinh ninh cái bến xe khách quốc doanh cùng những chiếc xe chạy bằng than, khói bốc mù mịt, bám đầy hai lổ mũi, người ngồi xe sợ nhất là phải ngồi cuối băng ghế trái (phía tài xe, gần lò than). Bà dắt tôi đi thăm ông cậu, ra đến thành phố, tôi ở nhà ông cậu (em ruột của bà) chơi với mấy bà dì (con ông cậu). Mỗi lần đi, bà mang đùm đề gạo, chuối bồ hương, gà cho ông. Và đương nhiên là bà phải xin giấy phép của ủy ban xã để khỏi bị thuế vụ tịch thu, phạt tiền khi khám xe.
Và cũng trong hàng chục lần thăm ấy, có một lần, sau đó bà đã không bao giờ đến thăm em trai của mình nữa. Tôi nhớ lần đó ông cậu đưa tôi và bà ra bến xe bằng chiếc Honda Đam (tịch thu được ‘sau giải phóng’) về nhà. Đến nơi, như mọi lần, ông đứng chơi, trò chuyện với bà một chút cho đến lúc xe chạy thì vẫy tay tạm biệt bà cháu tôi. Thời đó xài tiền kên (từng đồng xu bằng nhôm, loại năm xu, một hào, hai hào, năm hào và một đồng). Thường thì đi xe chừng vài hào, cao nhất cũng chỉ năm hào. Hai bà cháu đang đứng thì có hai người đàn ông cụt chân ghé đến ngửa tay xin tiền bà, bà nhìn họ rồi lấy ra hai hào cho hai người. Ông cậu thấy vậy, quát: “Sao chị lại cho tiền bọn thương binh ngụy này! Để chúng nó chết đói đi là vừa!”. Bà im lặng, không nói gì, bà chỉ xoa đầu tôi, nói: “Ông cậu nói chơi đó con, không có chi đâu!”.
Và đó cũng là lần cuối cùng tôi và bà đi thăm ông cậu, sau này lớn lên, rồi làm ăn, có vợ con, tôi đi ra phố cũng nhiều, nhưng chưa có lần nào tôi mời hay rủ mà bà chịu đi ra phố. Mãi cho đến khi bà bệnh, đưa bà ra bệnh viện thành phố, bà cũng chỉ nằm cho đến khi thấy khỏe đôi chút là bằng mọi giá phải về nhà. Và, buồn nhất của tôi, có lẽ là cái lần bà nằm lâu, thật lâu ở bệnh viện thành phố, cho đến khi tôi đưa bà về trong im lặng, mặc dù bà chẳng đòi về như mọi lần, trên đường đưa bà về, mọi ký ức thành phố, ký ức hai người thương binh chế độ cũ nhìn bà đầy chia sẻ và cảm thông sau khi bà bị người em (vốn là quan chức to trong chế độ Cộng sản) la mắng chỉ vì bà tặng tiền cho họ. Và, không hiểu sao lúc đó, trên xe cứu thương chạy chậm, để đèn báo hiệu “người về”, tôi lại nhớ đến tháng Tư không ăn cá của bà!
Mãi cho đến bây giờ, trong những gì tôi hiểu biết về tháng Tư, tôi mới thấy điều bà đã nhìn thấy và đã mang theo nơi cỏ xanh, rằng biển tháng Tư buồn lắm, và những con cá tháng Tư cũng buồn, chúng mang một điều gì đó thật khó nói. Bởi biển tháng Tư, dù bây giờ, lúc đó hay một ngàn năm nữa, những tiếng kêu, những nỗi đau nơi đáy sâu đại dương hay những oan khuất lịch sử sẽ còn đau, mãi đau chẳng thể nguôi. Đau như những ngôi mộ trên bờ biển An Dương, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế, nơi mà bên này doi đất, cồn cát là phá Tam Giang, bên kia là trùng dương xa lắc, đây cũng là nơi mà tháng Hai năm 1975, có hàng triệu người chen chúc nhau lên tàu và có hàng trăm ngàn người thoát ra đại dương, hàng vài chục ngàn người bỏ mạng giữa đại dương và có hàng ngàn người không ra kịp trùng dương, phải bỏ mạng trên ngọn sóng, xác của họ xô dạt vào bờ, người dân thôn An Dương đã tìm họ trên khắp bờ biển để đào hào, chôn qua quýt khi đêm về.
Mãi đến hơn ba mươi năm sau, ông Nguyễn Công Thiện, một người giàu lòng nhân ái đã tự bỏ một số tiền không nhỏ, sau đó kêu gọi mọi người trong làng góp thêm tiền để cải táng khu mộ tập thể cả trăm người, trong đó toàn sắc phục lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có một xác nữ quân nhân được chôn riêng, những người nam quân nhân đều chôn chung trong một túi vải bạt lớn. Những vị này sau đó được cải táng lên đồi cao, được nhang khói mỗi dịp Rằm, đầu tháng và lễ lạc, Tết nhứt.
Ông Thiện không kể gì với chúng tôi mặc dù ông từng khẳng định đã chứng kiến cả một chiếc tàu chưa kịp ra khơi thì bị pháo kích và chìm, họ chết rất nhiều, xác trôi dạt vào bờ, xác trôi theo gió mùa Tây Nam, vào tận Đà Nẵng, Quảng Nam, đặc biệt Cù Lao Chàm, Hội An cũng có rất nhiều xác mang quân phục… Chúng tôi nghe nhiều thông tin khác nhau, nhiều nguồn tin nói về cái chết của họ, có người nói vài trăm người chết, có người nói cả ngàn người chết, có người nói chừng một trăm người… Nhìn chung, số lượng người chết thì người già kể khác, trung niên kể khác. Nhưng nguyên nhân chết thì chung, đó là bị pháo kích chìm tàu, xác trôi khắp nơi.
Tháng Tư về, tự dưng tôi thấy buồn, thấy yêu và đau vì biển, biển mang nặng máu, thân xác và linh hồn của thế hệ đi trước, của những tâm hồn yêu tự do hay sợ hãi trận gió mới có gì đó tựa như thù hận và man rợ, của những linh hồn vĩnh viễn tự do nơi đại dương, tiếng hát tự do của họ hòa cùng lời ca của đại dương ẩn mật mà thiên thu sầu hận.
Tháng Tư về, tự dưng tôi thấy buồn vì nhớ bà của tôi, bà đã đi xa, thật xa, tôi không bao giờ có thể gặp bà nữa, và cũng không bao giờ được nghe bà nói đầy vẻ bí mật rằng “Con nhớ lớn lên, có vợ có con rồi cũng cố gắng đừng ăn cá vào tháng Tư nghe con, tháng đó tội lắm…”. Và tôi càng không thể hiểu hơn vì một nỗi buồn khác của bà, đầy mâu thuẫn mà tôi không tiện nêu ra ở đây. Dường như với bà, không có biên kiến, không có thù hận, không có bên thắng bên thua, chỉ có những con cá đói, vô tình đã ăn những đồng loại ngang tuổi bà hoặc đáng tuổi em út, con cháu bà trong một mùa tháng Tư. Và bà không ăn cá vào tháng này như để nhắc cho riêng mình một điều gì đó thật đau, khó nói!
Tháng Tư về, tôi buồn nhưng cũng có chút nguôi ngoai vì bà đã đi xa, thật xa trước khi biển chết, trước khi bà phải chứng kiến con cháu của bà không những ngưng ăn cá vào tháng Tư mà cả năm nay, chẳng có con cá nào trong cái nồi kho cá của bà để lại.
Tháng Tư về, biển quê hương đã chết, nó chết và mang màu tang tóc, bởi quá khứ, bởi hiện tại, bởi đâu đó vi vu trong gió chiều, trên đồi thông, bên bờ biển, tôi đã nghe những khúc hát, tôi nghe tiếng rì rào của lá, tôi nghe tiếng vi vu của điều gì đó tựa như có người đang thì thầm kể lại mỗi nỗi buồn, một nỗi oan khuất nào đó giữa trùng dương.
Tháng Tư về, tôi mặc niệm tháng Tư!

Những ngày ấy, mỗi người


30/4/1975 là biến cố của một đất nước, nhưng ngày đó cũng là biến cố riêng của nhiều con người.
Trong dòng chảy tán loạn từ Huế, Đà Nẵng, Nha Trang vào Sài Gòn... có vô vàn những câu chuyện chưa kể. Nguyễn Thị Xuân Phương, cựu phóng viên truyền hình Bắc Việt kể lại rằng bà kinh hoàng nhìn thấy xác thường dân nằm ngập và kéo dài suốt từ đèo Hải Vân xuống Đà Nẵng cũng với dòng người đi bộ, chạy... để tránh Việt Cộng. Còn phóng viên Trần Mai Hạnh của Thông Tấn Xã Việt Nam, người có mặt tại buổi trưa 30/4 với chiếc xe tăng tiến vào dinh Độc Lập, vừa ra một cuốn sách về 4 tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh, đã nói rằng cuối cũng thì điều ông tâm nguyện để lại, là sự thật.
Thỉnh thoảng, tôi vẫn tự hỏi vậy thì vào những thời khắc ấy - kể cả sau đó, những người tôi biết - hay không quen - đang như thế nào, làm gì?
Gia đình của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ kể rằng khi ngày 30/4 ập đến, chương trình biểu diễn tại Nhật của đoàn Hoàng Thi Thơ vẫn chưa chấm dứt, vì vậy ông bị kẹt ở lại, sau đó định cư ở Mỹ. Nhưng con và cháu ông thì lại có cơ hội chứng kiến nhiều điều mà đến mấy năm sau vẫn chưa thể kể cho nhau nghe, vì không thể có thư từ liên lạc, rồi đến khi có, cũng không dám kể gì cho nhau, vì thư luôn bị kiểm duyệt.
Hai đứa con của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là Hoàng Mỵ Thi Thoa và Hoàng Thi Thanh bất ngờ nhìn thấy một đám đông lính Bắc Việt và những thành phần "băng đỏ" đứng trước ngôi nhà của mình tại quận 1, đập cửa, quát tháo. Hai em nhỏ vị thành niên này cùng người cậu của mình bị buộc phải ra khỏi nhà ngay lập tức vì đang ở trong "nhà của tên có tội với nhân dân Hoàng Thi Thơ, nên đã bị chính quyền cách mạng trưng thu".
Tất cả mọi người được sự khoan hồng nên có được 5 phút để trở vào ngôi nhà của mình, lấy 2 bộ quần áo cho mỗi người và ra đi, không kịp đốt nén hương từ giã ông bà. Dĩ nhiên, ngay cả việc đi lấy quần áo cũng có người cầm súng theo kiểm soát vì sợ hai em nhỏ này cất giấu hay tẩu tán tài sản.
Hai đứa con của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ gạt nước mắt ra khỏi nhà của mình, đi cùng một người cậu về Gò Vấp, tới một căn nhà khác của ông Hoàng Thi Thơ. Nơi đó, một người em họ của ông Thơ xuất thần trở thành người của cách mạng, chiếm nhà và chỉ mặt Hoàng Vinh, người cháu của ông Thơ nói là đi cho mau, tha không bắt lại vì "khoan hồng", dù là người nhà của Hoàng Thi Thơ, là thành phần "truỵ lạc".
Với Phương, người nhạc sĩ của đôi song ca Lê Uyên Phương lừng danh, thì ông hoàn toàn rơi vào một cú sốc khác thường. Việc chứng kiến một Sài Gòn hỗn loạn và đổ nát, những con đường vất vưởng xác người cùng với loa phóng thanh ra rả về khái niệm "giải phóng" khiến ông bước sang một giai đoạn khác.
Những cảm hứng về nhạc tình, hiện sinh và mộng mơ bị chôn vùi theo mất mát của Sài Gòn. Lê Uyên Phương yêu đương dịu dàng ngày nào giờ đây hình thành hai tập ca khúc Con người, một sinh vật nhân tạo (1973-1975). Mỗi ngày ông ngồi ở cafe vỉa hè, đi bộ dọc theo những con đường phơ phất lá me xanh quen thuộc nhưng giờ đầy các họng súng AK, và tự mình chiêm nghiệm về một thời đại của những kẻ cùng tiếng nói nhưng khác mạch sống.
Cũng như nhiều nhạc sĩ khác bị cú sốc thời cuộc và chuyển khuynh hướng sáng tác tình ca sang hiện thực ca như Phạm Duy (Tỵ nạn ca), Ngô Thuỵ Miên (Em còn nhớ mùa xuân, Biết bao giờ trở lại), Anh Bằng (Nổi lửa đấu tranh, Saigon Kỷ Niệm), Lam Phương (Chiều Tây Đô), Trầm Tử Thiêng (Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng, Một ngày Việt Nam)... Phương là một nhạc sĩ khá đặc biệt khi ông dành rất nhiều thời gian viết về những chuyển động quanh mình, về một thế giới mở và tang thương của hàng triệu người Việt, qua tập ca khúc Trại tỵ nạn và các thành phố lớn.
Những ngày ấy, mỗi người, mang vội theo những điều thương mến nhất, bỏ lại tài sản, bỏ lại quê hương... gạt nước mắt chạy đi về vô vọng. Ca sĩ Khánh Ly chạy đến chiếc tàu đi di tản, hành lý quan trọng nhất mà bà mang theo là hai vali đầy những lá thư tình trong đời bà - những lá thư không chỉ là tình yêu mà chứa cả khung trời thơ mộng và bình yên của miền Nam Việt Nam đã mất.
Nhiều văn nghệ sĩ táo tác như bầy kiến bị phá tổ, chạy đến nhà nhau để hỏi thăm tin tức từng ngày về số phận của mình, số phận của thành phố mình đang sống. Họ thì thào với nhau về những biến động khó hiểu từng ngày như Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Nhã Ca vừa bị bắt... Rồi ai đó bị thẩm vấn, và ai đó đã lặng lẽ xuống tàu giờ không còn nghe tin tức.
Thương gia đình, không nỡ bỏ xuống tàu vượt biên, nhạc sĩ Y Vân tiễn một người bạn thân lên đường. Nhưng đó lại là một chuyến tàu vĩnh biệt. Và đó là điều khiến ông trầm uất suốt nhiều năm liền, một ký ức sâu thẳm sau 1975.
Trong một lần nói chuyện với các anh chị đã qua thời khắc 1975, tôi nói đùa rằng một ngày nào đó nên lập một giải thưởng vô địch về người vượt biển nhiều nhất, vì tôi đã từng biết một chị người Công giáo ở khu Hoà Hưng đã tìm cách đi vượt biên 25 lần nhưng đều thất bại. Im lặng nhìn tôi trong tíc tắc, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn chỉ nhà văn Võ Quốc Linh, nói "đây, người vượt biển 26 lần". Rồi chỉ vào mình, anh Tuấn nói "còn mình, là 27 lần".
Vài năm sau 1975, khi nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn tốt nghiệp thủ khoa ngành sư phạm ở Nha Trang, khi bạn bè rủ nhau vui mừng lên bục nhận bằng, thì hiệu trưởng đến bên, ghé tai buồn rầu nói với anh Tuấn "con đừng lên nhận bằng. Công an đã đến tịch thu bằng vì nói gia đình con có vấn đề về lý lịch và có người đi vượt biên".
Nhiều năm sau, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn lang thang khắp các bờ biển miền Nam để tìm đường ra khỏi nước. Niềm tuyệt vọng và khát vọng tự do là sức mạnh lớn nhất giữ anh sống sót qua các trại tù khắc nghiệt nhất.
Ở trại tù nhốt người vượt biển tại Phú Yên, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn bị một cai tù tàn ác luôn tìm cách đẩy anh vào lao khổ, thậm chí dù biết anh là giáo viên, vẫn bắt anh làm công việc mỗi ngày phải hốt phân, gánh đi đổ cho cả trại. Đó là thời gian như địa ngục. Thân thể của ông có tắm bao nhiêu lần cũng không hết mùi hôi, những vết thương nhỏ nhất cứ lở loét chứ không thể lành.
Chuyến đi thứ 27, cuối cùng, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn đến được Úc. Anh xin nhận thêm công việc tiếp nhận và giúp đỡ và người tỵ nạn mới đến, như trả ơn cho những ngày tháng tự do của mình.
Một đêm nọ, nghe tin có một chuyến tàu vượt biên vừa đến. Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ra nơi tiếp nhận. Khi đang đi lướt qua những người vừa cập bến, anh bất chợt nhìn thấy một gương mặt quen thuộc mà anh khó có thể quên trong đời: đó chính là viên công an cai tù đã hành hạ anh. Sững người nhìn viên cai tù ấy, ngược lại, nhân vật đó cũng bối rối quay mặt đi, né cái nhìn của anh Tuấn.
Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ôm đầu suy nghĩ suốt nhiều giờ, rồi chọn cách gặp riêng nhân vật cán bộ cai tù đó để hỏi thẳng rằng hắn muốn gì khi đến đây. Chỉ cần một lời tố cáo, cán bộ đó có thể bị trục xuất về Việt Nam, hoặc sẽ bị chính quyền sở tại bắt giữ và đưa ra toà vì tội từng tra tấn và hành hạ tù nhân.
Sợ hãi và tuyệt vọng, viên cán bộ thú thật là hắn đã lỡ yêu một người phụ nữ đã có gia đình là "Mỹ Nguỵ" nên không còn cách nào khác là từ bỏ tất cả, cùng người yêu vượt biển, mà không ngờ có kết cục như hôm nay.
Khi kể cho tôi nghe chuyện này, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ngừng giây lát, rồi nói rằng "không biết bây giờ tay đó sống ở đâu đó, trên nước Úc này". Anh đã im lặng và điền hồ sơ cho viên cán bộ cộng sản đó cùng người yêu của hắn tỵ nạn ở Úc. Vết thương chưa bao giờ của anh, một người bị hành hạ trong trại giam cũng như bị xô đẩy ra khỏi đất nước mình, cũng đã thanh thản chữa lành với lòng tha thứ.
Thật nhiều điều để ghi lại, từ hàng triệu người sống sót sau biến cố tháng 4/1975. Cứ vào thời điểm này, nhà nước Việt Nam gọi là đại lễ và tổ chức ăn mừng. Còn hàng triệu người Việt khác thì vào tưởng niệm, như buộc phải coi lại cuốn phim bi kịch chung cũng như những đoạn phim cay nghiệt của riêng mình.
Những ngày ấy, mỗi người. Những cuốn phim một chủ đề nhưng có muôn vạn phiên bản ray rứt đến nhiều đời sau.
Và trong một ngày ăn mừng "đại lễ" của nhà nước Việt Nam, tôi chợt nhớ đến viên cán bộ cai tù vô danh ấy. Tôi tự hỏi, ông ta sẽ đứng đâu giữa lằn ranh ngày 30/4 mỗi năm ấy?

Viết cho tháng Tư.

Song Chi—04/30/2017 - 04:28 


+Nhớ hồi còn ở nhà mình chơi với một chị bạn là dân Hà Nội, chị bạn lại có mấy người bạn đều sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, trong đó có hai người mình còn nhớ khá rõ.
Một người sang Ý theo diện lập gia đình, sống ở Ý nhiều năm, nhìn bên ngoài thì trông như người phương Tây với tóc nhuộm vàng hoe, chuyên mặc đầm, thích khiêu vũ, nhưng đầu óc thì chẳng hội nhập chút nào với xã hội văn hóa, tư tưởng tự do dân chủ ở nước người; vẫn rất “đỏ”, tích cực bênh nhà nước VN, về nước bỏ tiền ra làm một tập thơ lèng xèng trong đó chủ đề là ca ngợi ngày 1 tháng Năm, 19 tháng Năm, 2 tháng Chín v.v…Ví dụ, nhớ có lần mọi người nói chuyện sinh viên, dân chúng đi biểu tình chống Trung Quốc bị nhà nước sách nhiễu, bắt bớ, vị này ngay lập tức nói liền: Bắt là phải, cho chúng nó đi biểu tình để chúng nó làm loạn à.
Vị thứ hai cũng “đỏ” không kém, suốt ngày tự hào một thời từng là văn công mang dép râu đi vào chiến trường những năm chống Mỹ, nghe ai “nói xấu” nhà nước VN là lập tức đứng dậy bỏ về, không thích “đế quốc Mỹ”, thường hay nói mình chả thích sống ở nước ngoài, đời sống con người thiếu tình cảm lắm, chỉ thích ở VN thôi…
Thế nhưng cái vị sống ở Ý thì vẫn ở Ý là chính, còn cái vị không thích sống ở nước ngoài kia ngoảnh qua ngoảnh lại vài năm sau khi mình hỏi thăm chị bạn thì hóa ra đã kịp lấy một ông Việt kiều và sang Mỹ sống. Thỉnh thoảng vẫn về VN, vẫn kể tội ông chồng, kêu không hợp đủ thứ, nhưng vẫn không ly dị, mới năm ngoái đây đã giơ tay tuyên thệ, đầy long trọng, đầy tự hào khi được là công dân Mỹ!
Trên đây chỉ là hai mẩu chuyện nhỏ về hai con người cũng bình thường trong xã hội, mình còn gặp biết bao nhiêu người khác, sinh ra và lớn lên hoàn toàn trong chế độ này, gia đình con em cách mạng, bây giờ vừa có cơ sở làm ăn ở nước ngoài vừa đi đi về về làm ăn, thăm gia đình trong nước. Những người này bản thân họ và con cháu họ vừa được hưởng đời sống văn minh, y tế, giáo dục tốt ở nước ngoài, vừa muốn về chơi, làm ăn kiếm tiền thêm trong nước. Ngồi với những người không thích chế độ thì họ nói theo giọng của những người đó, cũng phê phán nhà nước, phẫn nộ vì những trái tai gai mắt trong xã hội. Ngồi với đám quan chức, công an thì họ lại nói theo ngôn ngữ của đám quan chức, công an…, chỉ trích, lên án đám hải ngoại chống phá nhà nước, đám "dân chủ" kích động nhân dân âm mưu phá hoại sự ổn định của đất nước...
Đó là chưa nói đến những người có quyền có chức, có vị thế trong guồng máy của nhà nước cộng sản, đám tư bản “đỏ”, con ông cháu cha thụ hưởng mọi bổng lộc của chế độ, có thể nói không ngoa rằng hơn 70% đám này cũng có cơ sở bãi đáp sẵn ở nước ngoài, dù vẫn đang còn ngồi ở VN để tiếp tục vơ vét, nhưng hễ về hưu hoặc có biến là vù ngay sang nước khác sống ung dung. Thế là ở trong nước vừa sung sướng vì ngồi trên đầu trên cổ nhân dân, tha hồ chia chác, vơ vét, mà lại vẫn sướng khi đã hạ cánh ở nước người.
Không nhớ chính xác ai đó nói, những người “cộng sản” làm cách mạng không phải để giải phóng nhân dân mà là để giải phóng chính họ!
+Năm 1954, hơn triệu người dân chạy từ Bắc vô Nam (nếu mà được phép cho đi thoải mái, con số này chắc chắn cao hơn nhiều). Những ngày cuối cuộc chiến, hàng trăm ngàn người từ miền Trung hớt hơ hớt hải, tất tả chạy về Sài Gòn, nơi trú ẩn cuối cùng, trong khi đoàn xe của quân đội Bắc Việt đuổi sát sau lưng và đạn pháo nhắm thẳng vào đoàn người tay không, bồng bế nhau chạy. Có những người may mắn hơn chạy thoát trong những chuyến máy bay sang Mỹ hay trên những con tàu lênh đênh sang nước khác.
Quân đội Bắc Việt đuổi đến tận Sài Gòn. Sài Gòn mất.
Chỉ một thời gian ngắn sau, hàng triệu người bỏ nước ra đi, trong đó một nửa cập bến an toàn, một nửa bỏ xác dưới đáy biển sâu. Và trong suốt hơn 40 năm qua, dòng người ra đi đó vẫn chưa hề dừng lại, chỉ có điều là bây giờ người ta ra đi bằng nhiều con đường khác nhau.
Nhưng điều trớ trêu nhất là bây giờ trong hàng ngũ bỏ nước ra đi, đông không kém là những người của “bên thắng cuộc” và con cháu họ. Và còn chua chát hơn, những người của “bên thua cuộc” trước đây hầu hết ra đi với hai bàn tay trắng, còn bây giờ những người “chiến thắng” thì hầu hết mang theo cả mớ tài sản “khủng” cướp được của nhân dân và của việc bán rẻ đất nước!
Vậy có cái ngày 30.4.1975 để làm gì? Cả một cuộc chiến tranh dài hai mươi năm với cái giá máu xương quá đắt của hàng triệu người ngã xuống và một đất nước tan hoang, kiệt quệ, một món nợ khổng lồ với các nước Liên Xô, Trung Cộng và khối XHCN mà đảng cộng sản phải trả cả vốn lẫn lời hàng chục năm sau chưa hết, để làm gì?
Câu trả lời thật ra rất đơn giản: Là để đất nước này, nhân dân này thuộc toàn quyền sử dụng của đảng và nhà nước cộng sản, thậm chí chỉ thuộc về một nhúm người, để họ có quyền chia chác, cho thuê, cầm cố, đem vay, bán rẻ, cho không…ai thì cho, muốn làm gì thì làm, muốn đè đầu cưỡi cổ hơn 90 triệu người dân như thế nào tùy ý!
Mục tiêu lớn nhất của đảng cộng sản trước ngày 30.4.1975 là cướp quyền lực, giành quyền lực hay nói cách khác, giành toàn quyền lãnh đạo đất nước, bằng mọi giá. Mục tiêu lớn nhất của đảng sau ngày 30.4.1975 là giữ quyền lực, bằng mọi giá. Quyền lợi của đất nước, của nhân dân chưa bao giờ được đếm xỉa đến!
+Ngày 30.4.1975 là ngày cả dân tộc VN kết thúc một cuộc chiến tranh cho đến giờ vẫn chưa thể thống nhất được tên gọi là gì, với cái giá phải trả quá đắt, để từ đó bước vào một chế độ độc tài toàn trị tồi tệ và phá hoại nhất trong lịch sử VN.

Gãi dư luậnGãi dư luận

04/28/2017 - 13:47 — tuankhanh

Thông tin ông Đinh La Thăng đột ngột bị đề nghị kỷ luật và có thể bị mất chức bí thư Sài Gòn sau hội nghị trung ương 5, khóa 12 khiến không ít người quan tâm. Vì bởi, ông Thăng là một nhân vật rất ồn ào. Khi ông về nhậm chức tại Sài Gòn, rất nhiều trò trình diễn để lấy lòng người dân Sài Gòn đã diễn ra, bao gồm tổ chức hàng loạt tờ báo, truyền hình đăng nhanh các lời tuyên bố, liên tục hình ảnh hoạt động của ông… thậm chí còn có cả báo lên tiếng thề nguyện sẽ đồng hành cùng ông Thăng trong cuộc cầm quyền ở thành phố.
Nhớ lại những ngày như vậy, mọi thứ đầy rạo rực khởi đầu và cũng đầy bẽ bàng về sau. Tương tự như ông Đoàn Ngọc Hải khi thực hiện cuộc đập phá vỉa hè có đầy đủ bộ sậu đi theo ghi hình, quay video, ghi lại từng cuộc đối thoại như người đang dẫn đầu cho một cuộc cách mạng mới, thì ông Thăng cũng không khác gì với chuyện tổ chức chụp hình dọn cây, nói về Nobel y khoa Việt Nam và Hòn ngọc Viễn Đông.
Bài bản thì chỉ có một, hết sức quen thuộc. Nhưng phải nhìn nhận rằng những cách thức ấy đã day động không biết bao nhiêu tấm lòng con người Sài Gòn đang khao khát muốn nhìn thấy thành phố của mình, đời sống của mình được đổi thay. Chưa bao giờ trên các diễn đàn, người ta nhìn thấy nhiều như vậy các lời ca ngợi, đặt để niềm tin… Đám đông ủng hộ nhanh chóng trở thành một lực lượng quần chúng hết sức rầm rộ. Thậm chí, trên các trang mạng, những ai đặt nghi vấn về sau thường trở thành mục tiêu bị công kích, chửi rủa của những người ủng hộ.
Chỗ ngứa của đám đông đang khao khát trông ngóng cái mới, mệt mỏi chờ đợi những điều tích cực đã được phương thức truyền thông như vậy gãi đúng chổ. Một loại gãi dư luận.
Khi ông Thăng công bố số điện thoại để mọi người gọi vào góp ý, hiến kế. Rồi sau đó có cả email thì không ít người đã hồi hộp gọi, nhắn, gửi… Chưa có số thống kê nào cho thấy bao nhiêu người đã tìm đến thành công, và bao nhiêu vẫn mỏi mòn chờ đợi. Khi có tin ông Thăng bị đề nghị kỷ luật và dự báo sẽ ra đi khỏi vị trí, đã có người thú thật là từng tin những lời kêu gọi đó đến mức đã viết thư hiến kế, mà mọi thứ không hồi báo. Một cảm giác thật khó tả khi tôi đọc được những điều này, pha trộn sự cảm thông, rồi cả buồn chán lẫn đau lòng.
“Tôi nghĩ rằng việc làm bộ có dân chủ, đôi khi còn hiểm ác hơn cả một chế độ độc tài trắng trợn”, bà Aung San Suu Kyi, lãnh tụ tinh thần của người dân Miến Điện từng nói như vậy. (Sometimes I think that a parody of democracy could be more dangerous than a blatant dictatorship)
Không phải đây là lần đầu. Mà từ lâu, cả nước vẫn luôn bị các phong trào gây ngứa trên dư luận, ở mọi các phương diện văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội… rồi thỉnh thoảng vẫn có những đợt gãi dư luận như vậy. Có người tự hài lòng vì qua cơn ngứa, nhưng cũng có người sớm giật mình nhận ra mình tự cào cấu đến tóe máu từ các phong trào ấy. Cuộc sống trở nên điên cuồng với ngứa và gãi.
Trong câu chuyện của ông Thăng, các tờ báo từng tung hô ông ta, giờ đây chính là những tờ báo đăng sớm nhất các tin tức về kỷ luật, bao gồm phân tích về những sai phạm và thất thoát ngàn tỉ từ thời ông ta làm việc ở Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN). Mặc dù chính các tờ báo này đã từng phớt lờ các thông tin đưa được ra trên trang facebook của Osin Huy Đức, với tính dự báo. Các báo lại tiếp tục gãi dư luận, nhưng lần này trở mặt, chọn cách gãi vào cơn ngứa của dân chúng trước nạn tham nhũng của các quan .
Khi còn là Bộ trưởng Giáo dục, ông Nguyễn Thiện Nhân từng làm cả nước phát cuồng vì gãi đúng chỗ, khiến dư luận rầm rộ về một nền đại học, thi cử, bằng cấp… đầy tươi sáng. Nhưng rồi khi đại dịch đi qua, không ít người nhận ra đó chỉ là những trầy xướt trên đời mình, dở khóc dở cười.
Ông Nguyễn Tấn Dũng, khi còn là thủ tướng, cũng đã từng một người có tài gãi dư luận đến tuyệt vời khi khôn khéo đưa ra những câu nói như “tình hữu nghị viễn vông”, cũng như là người đầu tiên khi nhắc về lịch sử đã chính thức gọi chế độ miền Nam cũ bằng một cái tên đàng hoàng là Việt Nam Cộng Hòa. Có không ít người tin vào một tương lai hòa hợp, hòa giải từ một minh quân vừa xuất hiện. Nhưng cũng ít ai để ý rằng ông Dũng chính là người đổi tên Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa thành nghĩa trang Bình An, mà mục đích là nhằm tiện lợi và hợp thức hóa việc kiểm soát, lấn đất cũng như có thể giải tỏa trong tương lai mà không bị mắc kẹt với lịch sử.
Trong sự kiện 5 bài hát bị cấm cũng vậy. Dư luận ồn ào và ngứa ngáy suốt trong một thời gian dài. Cuối cùng khi thấy các quan chức cấp dưới của mình hoàn toàn đuối lý và lộ sự ngu dốt, các quan trên Bộ lập tức gãi dư luận bằng cách trả sự việc lại đời sống bình thường của nó, cũng như đẩy các đợt gãi đến mức không ít người thỏa thuê bằng việc cho đặt vấn đề rằng những người đưa ra lệnh cấm 5 bài hát liệu có khả năng làm việc hay không?
Gãi dư luận vẫn là phương thức của một nền truyền thông bị kiểm soát theo chỉ đạo và kiểm duyệt. Sự kiện khởi nghĩa ở Đồng Tâm cho thấy người nông dân cũng học được bài học rất lớn khi quyết từ chối đưa tin cho báo chí Nhà nước – tức có gây ngứa cũng không cho gãi, vì có cần gãi dư luận thì cũng phải chọn được mặt, gửi được đúng người.
Chỉ khi nào người dân nhận ra đất nước mình đang tràn ngập những cơn ngứa và gãi dư luận có chủ ý, nhằm điều khiển và mê muội tinh thần con người, mà đích đến mơ hồ và thiếu sự thật, thì lúc đó công dân mới không còn ở tư thế là những bệnh nhân.
Và nếu đất nước cứ bị vây hãm bởi những cơn ngứa, và chỉ được gãi bằng dư luận như một cách đối phó, và thực chất không có, thì tương lai phía trước chỉ toàn là những ổ bệnh vậy.

Báo động ô nhiễm thủy ngân từ Trung Cộng lan sang Việt Nam

Báo động ô nhiễm thủy ngân từ Trung Cộng lan sang Việt Nam
ẢNh: MDPI
Tình trạng ô nhiễm thủy ngân nặng từ Trung Cộng có thể đã lan theo không khí sang Việt Nam từ lâu, nhưng nhà chức trách Việt Nam không có phương tiện đo đạc để khám phá ra.
Đó là lời báo động của ông Nguyễn Văn Thùy, giám đốc Trung Tâm Quan Trắc thuộc Tổng Cục Môi Trường Việt Nam, đưa ra tại buổi hội thảo “Ô nhiễm không khí tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” được tổ chức tại Hà Nội hôm 25 tháng 4. Chuyên gia này viện dẫn những bản đồ đánh giá nguồn phát thải được các nhà khoa học xây dựng, cho thấy toàn bộ bờ biển phía đông Trung Cộng hiện nay dày đặc các điểm phát thải thủy ngân. Thủy ngân từ đây phát tán ra các quốc gia xung quanh như Nhật Bản, Nam Hàn và thậm chí lan tới Hoa Kỳ. Theo ông Thùy, Việt Nam chắc chắn không thể tránh khỏi bị ảnh hưởng.
Trước đây, truyền thông Nam Hàn từng trích dẫn các nghiên cứu cho thấy khoảng một nửa lượng ô nhiễm thủy ngân ở nước này có nguồn gốc từ Trung Cộng. Theo NASA, các tiểu bang Bờ Tây Hoa Kỳ như California và Oregon cũng đứng trước nguy cơ bị ô nhiễm thủy ngân và ozone từ Trung Cộng xâm lấn.
Thủy ngân được gọi là nguồn ô nhiễm xuyên biên giới và đang là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm. Công Ước Minamata về thủy ngân đã được 38 quốc gia phê duyệt, nhưng đến nay vẫn chưa có hiệu lực vì chưa đủ 50 quốc gia tham gia.
Một số chuyên gia trong nước đang kêu gọi Việt Nam xây dựng một bộ luật về không khí sạch.
Huy Lam / SBTN

Phú Yên tạm dừng dự án phá rừng phòng hộ xây sân golf

Phú Yên tạm dừng dự án phá rừng phòng hộ xây sân golf
Ảnh: Pháp Luật Việt Nam
Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên hôm Thứ Bảy 29/04 cho biết đã yêu cầu công ty trách nhiệm hữu hạn New City Việt Nam tạm dừng xây sân golf, thuộc dự án khu du lịch liên hợp cao cấp New City tại xã An Phú, thành phố Tuy Hòa.
Cả một cánh rừng phòng hộ ven biển đã bị chặt bỏ và san ủi để xây sân golf này. Thông báo của tỉnh Phú Yên nêu rõ, dự án New City được tạm dừng vô thời hạn, cho đến khi có kết luận của thủ tướng cộng sản Việt Nam. Hiện nay thanh tra chính phủ cộng sản Việt Nam đang mở cuộc điều tra về hàng loạt vụ phá rừng trong tỉnh Phú Yên, trong đó có vụ phá 140 héc ta rừng phòng hộ làm sân golf và khu du lịch như vừa nêu, và những vụ phá rừng tổng cộng lên tới khoảng 1,000 héc ta cho 20 dự án khác gồm trại nuôi bò và nhà máy thủy điện.
Được biết ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên chỉ mới ra lệnh tạm dừng các dự án xây dựng trên đất rừng đã bị phá để chấn chỉnh vấn đề thủ tục giấy tờ, chứ chưa ra lệnh đình chỉ hoặc nhắc đến việc trồng lại rừng.
Trước đây, báo chí trong nước cho biết một trong những lý do khiến tỉnh Phú Yên cấp tốc cho phá rừng phòng hộ trước khi xin phép thủ tướng, là để cho kịp cuộc thi Hoa hậu Hữu nghị ASEAN 2017. Tỉnh Phú Yên đã bác bỏ lý do này, và yêu cầu các cơ quan hữu trách chế tài các báo, vì sợ việc thông tin như vậy ảnh hưởng đến… cuộc thi hoa hậu!
Huy Lam / SBTN

Chủ tịch CSVN đề nghị tỉnh Nghệ An giải quyết khiếu kiện của người dân

Chủ tịch CSVN đề nghị tỉnh Nghệ An giải quyết khiếu kiện của người dân
Ảnh: Blog Lê Anh Hùng
Sau sự kiện hàng ngàn người dân phản kháng chính quyền cưỡng chế đất thành công ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, nhà cầm quyền CSVN dường như có cái nhìn cảnh giác hơn về những điểm nóng khiếu kiện khắp nơi trong nước.
Nghệ An là một điểm nóng như vậy. Chủ tịch nước cộng sản Việt Nam Trần Đại Quang hôm Thứ Bảy 29/04 đề nghị chính quyền tỉnh này thực hiện tốt công tác dân tộc và tôn giáo, cũng như giải quyết các khiếu nại và tố cáo của công dân, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện kéo dài và đông người. Ông Quang khuyến cáo không để hình thành “điểm nóng” về an ninh trật tự trong tỉnh Nghệ An.
Chủ tịch nước cộng sản Việt Nam có chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Nghệ An trong hai ngày 28 và 29 tháng 4, với mục đích được nói là để tìm hiểu tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, cũng như các vấn đề về quốc phòng và an ninh trong tỉnh này. Trong nhiều tháng qua, người dân Nghệ An đã nhiều lần yêu cầu nhà cầm quyền trả tiền bồi thường thiệt hại từ thảm họa môi trường do Formosa gây ra. Nhưng nhà cầm quyền tỉnh này liên tục dập tắt mọi hoạt động khiếu kiện. Trước tình trạng người dân bị thiệt hại chỉ còn biết nhờ cậy vào sự dẫn dắt của các linh mục Công giáo, nhà cầm quyền Nghệ An mới đây cũng tìm cách can thiệp trắng trợn vào hoạt động của Giáo hội, khi ban hành công văn cấm Linh mục Nguyễn Duy Tân giảng lễ tại các nhà thờ thuộc giáo phận Vinh.
Huy Lam / SBTN

Giới trẻ Nghệ An xuống đường bảo vệ môi trường trong ngày 30/4

Giới trẻ Nghệ An xuống đường bảo vệ môi trường trong ngày 30/4
Vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 2017, thay vì kỷ niệm “ngày giải phóng” như chính quyền yêu cầu, các bạn trẻ giáo xứ Phú Vinh ở huyện Yên Thành, giáo xứ Song Ngọc ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã xuống đường tuần hành kêu gọi người dân bảo vệ môi trường, và đuổi Formosa cút khỏi Việt Nam.
Tại giáo xứ Phú Vinh, đông đảo các bạn trẻ đã cầm các banner có biểu ngữ: “yêu cầu khởi tố Formosa và đồng bọn”, “hãy trả lại biển sạch cho chúng tôi”, “Formosa hãy cút khỏi Việt Nam”, đến bao giờ trên mâm cơm chúng tôi mới có cá”, “why kill citizens to serve Formosa”,…. Họ mặc áo có in logo “No Formosa” và tuần hành xuống đường kêu gọi mọi người dân ý thức bảo vệ môi trường.
Một bạn trẻ cho phóng viên SBTN biết: “giới trẻ giáo xứ Phú Vinh và đông đảo người dân xung quanh đã bắt đầu nhận ra sự thật, can đảm làm chứng cho Công Lý – Hoà Bình, và xuống đường bày tỏ tiếng nói nguyện vọng chính đáng của mình. Hôm nay, đoàn người đã tuần hành qua các ngã đường trong khu vực giáo xứ Phú Vinh ở xã Đô Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An và vừa đi vừa hát các bài hát: “trả lại cho dân”, “Việt Nam tôi đâu”,… hô lớn các khẩu hiệu “Formosa cút khỏi Việt Nam”.
Tại giáo xứ Song Ngọc, các bạn trẻ, học sinh đã cầm các banner có biểu ngữ: “lẽ nào vì Formosa mà bán đứng dân Việt”, “Formosa cút khỏi Việt Nam”,… cầm cờ ngũ sắc và hát vang các bài hát về chủ đề nhân quyền, quyền tự tôn dân tộc và tham gia tuần hành trên các ngã đường quanh giáo xứ.
Nhà cầm quyền địa phương đã huy động lực lượng công an, an ninh và cảnh sát mật đến theo dõi tình hình. Được biết, trong những ngày qua, nhà cầm quyền tỉnh Nghệ An đã huy động lực lượng cảnh sát cơ động, khoảng 8,000 lính của sư đoàn K20, nhiều xe chở quân về “án binh” ở huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu thuộc địa bàn khu vực Nghệ An.
IMG_2807
Nguyên Nguyễn / SBTN

Giữ rừng, thủ tướng Việt Nam chẳng khác ‘bù nhìn’

Bán đảo Sơn Trà ở Đà Nẵng. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)
ĐÀ NẴNG, Việt Nam (NV) – Những thông tin mới nhất liên quan tới việc khai phá bán đảo Sơn Trà khắc họa thêm thực tế, tại Việt Nam, hệ thống công quyền là “quân hồi vô phèng,” thủ tướng chẳng khác “bù nhìn.”
Theo báo Tuổi Trẻ, Trung Tâm Nghiên Cứu Con Người Và Thiên Nhiên, Trung Tâm Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Nước Việt Xanh (Green Viet), Nhóm Nghiên cứu-Giảng Dạy về Môi Trường và Tài Nguyên Sinh Vật của Đại Học Đà Nẵng vừa đồng tổ chức một hội thảo về việc bảo tồn, phát triển bền vững bán đảo Sơn Trà tại trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng hôm 28 Tháng Tư.
Lý do dẫn tới hội thảo vừa kể là vì 1/4 bán đảo này đã được “quy hoạch” thành “trung tâm du lịch sinh thái.” Một mớ “nhà đầu tư” đã được cho phép và đang băm nát Sơn Trà.
Tường thuật của tờ Tuổi Trẻ về hội thảo vừa kể cho thấy, giữ rừng, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái tại Việt Nam là bất khả thi vì chẳng ai bảo được ai.
Tại hội thảo, ông Hoàng Sừ, một kiến trúc sư, dẫn các tài liệu chứng minh, do tầm quan trọng của bán đảo Sơn Trà đối với môi trường, hệ sinh thái trong khu vực, từ năm 1977, người đứng đầu chính phủ Việt Nam lúc đó đã xác định, bán đảo này là một trong mười khu “rừng cấm” của Việt Nam (cấm tất cả các kiểu tác động). Căn cứ vào quyết định đó, năm 1992, Bộ Lâm Nghiệp thành lập Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Sơn Trà, diện tích 4,439 hécta.
Năm 2004, Luật Bảo Vệ Rừng ra đời. Luật này quy định, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng trong các khu bảo tồn thuộc thẩm quyền của thủ tướng.
Tuy nhiên năm 2008, chính quyền thành phố Đà Nẵng vẫn tự tiện ban hành một quyết định, phê duyệt “quy hoạch ba loại rừng ở Đà Nẵng trong giai đoạn từ 2008 đến 2020.”
Theo quyết định, bán đảo Sơn Trà chỉ còn 2,591.1 hécta, 1,840 hécta còn lại (tương đương 41% tổng diện tích khu bảo tồn) được chính quyền thành phố Đà Nẵng cho phép “chuyển mục đích sử dụng” bất kể điều đó vốn thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Việt Nam.
Ông Vũ Ngọc Long, một chuyên gia của Viện Sinh Thái Học Miền Nam, nhận định tính đến cuối năm 2016, 1/4 diện tích bán đảo Sơn Trà đã được “quy hoạch” là “trung tâm du lịch sinh thái,” bất kể “quy hoạch” thay đổi sự liên hoàn về hệ sinh thái của Sơn Trà từ rừng tới bờ biển, rạn san hô…
Ông Huỳnh Tấn Vinh, chủ tịch Hiệp Hội Du Lịch Đà Nẵng, cho biết tuy Đà Nẵng hiện có 22,000 phòng khách sạn, có thể đón 15 triệu khách, lượng khách đến Đà Nẵng năm 2016 chỉ khoảng 5.5 triệu nhưng chính quyền thành phố Đà Nẵng vẫn quyết định xây dựng thêm “trung tâm du lịch sinh thái,” đến năm 2030, Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Sơn Trà sẽ góp thêm 1,600 phòng khách sạn nữa.
Môt kiến trúc sư khác tên Hồ Duy Diệm nhận định, các công trình ở “trung tâm du lịch sinh thái” Sơn Trà là một thứ “kẽ hở” để phát triển biệt thự, phục vụ “lợi ích nhóm.”
Bất chấp chỉ trích của nhiều chuyên gia và dân chúng, chính quyền thành phố Đà Nẵng vẫn đang “tạo mọi điều kiện thuận lợi” cho một số “nhà đầu tư” biến khu bảo tồn này thành “trung tâm du lịch sinh thái.”
Đáng ngạc nhiên là đến giờ, chính phủ Việt Nam không gật mà cũng chẳng lắc dẫu những quyết định về “rừng cấm,” những quy định về các khu bảo tồn thiên nhiên đang bị chính quyền các địa phương sổ toẹt.
Ngoài chính quyền thành phố Đà Nẵng, chính quyền tỉnh Phú Yên cũng sổ toẹt các quyết định, quy định về rừng.
Tuần trước, tờ Tuổi Trẻ công bố một loạt bài điều tra, cho biết, 140 hécta rừng dương sát đoạn bờ biển chạy dọc thành phố Tuy Hòa, được trồng từ năm 1979 đến nay nhằm chắn gió, cát cho Tuy Hòa đã bị dọn sạch.
Về nguyên tắc, chính quyền các tỉnh/thành phố chỉ được phép giao, cho thuê, chuyển mục đích sử dụng các cánh rừng phòng hộ có diện tích từ 20 hécta trở lên sau khi thủ tướng có văn bản đồng ý và hội đồng nhân dân tỉnh/thành phố có nghị quyết về việc này.
Ở Phú Yên thì khác, chính quyền tỉnh này không cần thủ tướng và cũng chẳng cần hội đồng nhân dân do các công trình như sân golf 36 lỗ, khu du lịch cần phải hoàn tất trước khi& vòng chung kết cuộc thi “Hoa Hậu Hữu Nghị ASEAN 2017” khai mạc.
Năm 2005, Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) xác định, Việt Nam đứng thứ nhì thế giới về “phá rừng nguyên sinh” (đứng đầu là Nigeria). Tỉ lệ rừng tự nhiên ở Việt Nam được ước đoán chỉ còn 85,000 hécta (chiếm khoảng 0.7% mức độ che phủ đất).
Đáng lưu ý là chỉ trong 20 năm từ 1975 đến năm 1995, Việt Nam mất 2.8 triệu hécta rừng tự nhiên. Mất rừng dẫn đến nhiều hậu quả khốc hại, Việt Nam đã cố gắng trồng lại rừng. Với sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế, Việt Nam tuyên bố sẽ cố gắng đạt tỉ lệ phủ xanh diện tích toàn quốc từ 42% đến 43% vào năm 2015. Song đầu năm 2016, giới hữu trách Việt Nam thú nhận, tính đến hết năm 2015, mức độ che phủ của rừng/diện tích toàn quốc chỉ ở mức 40.84%.
Diện tích rừng tại Việt Nam tuy đã được nâng lên khoảng 13,520 triệu hécta nhưng đa số là rừng mới được trồng lại nên chất lượng rất thấp. Thập niên 1940, trữ lượng gỗ của rừng Việt Nam từ 200 đến 300 mét khối gỗ/hécta và đa số là gỗ quý. Đến thập niên 1990, trữ lượng gỗ giảm xuống chỉ còn 76 mét khối gỗ/hécta và đa số là gỗ tạp. (G.Đ)

Thảm họa ô nhiễm lại thấp thoáng tại vùng biển miền Trung Việt Nam

Xác một con cá vẩu nặng 35 ký giạt vào bờ biển đoạn thuộc xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế. (Hình: Người Lao Động)
 VIỆT NAM (NV) – Đúng một năm sau khi cá chết trắng vùng biển phía Bắc miền Trung, ngư dân huyện Phú Lộc, Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế cuốn lưới, ngừng ra khơi vì vừa có một đợt cá chết hàng loạt nữa.
Tháng 4 năm ngoái, thảm họa cá chết trắng biển phát xuất từ vùng biển ở khu vực Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, sau đó lan rộng đến vùng biển thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế. Tháng 4 năm nay, hiện tượng tương tự đang hiện diện tại vùng biển ở khu vực các huyện Phú Lộc, Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế.
trách cấp tỉnh “án binh bất động”. Ông Lê Trần Nguyên Hùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp – Phát triển nông thôn tỉnh Thừa Thiên – Huế, cho biết, động tác duy nhất mà họ đã làm là “báo cáo với UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế về thiệt hại của ngư dân nhưng chỉ mới “đề xuất” hỗ trợ cho giới nuôi cá. Ngoài chuyện cá ở ngoài biển chết hàng loạt, tại Thừa Thiên – Huế vừa có khoảng 35 tấn cá nuôi trong các lồng, bè bị chết, thiệt hại khoảng 7 tỉ đồng.
Theo ông Hùng, giới hữu trách chỉ có thể thống kê, xác định được thiệt hại của giới nuôi cá, còn ảnh hưởng của chuyện cá chết hàng loạt ngoài biển đối với ngư dân thì cần phải… nghiên cứu. (G.Đ)

Saturday, April 29, 2017

Các trường quốc tế chống những môn học bắt buộc do Bộ Giáo Dục CSVN ấn định

Các trường quốc tế chống những môn học bắt buộc do Bộ Giáo Dục CSVN ấn định
Chương trình học cho các học sinh Việt Nam tại các trường quốc tế trong nước sẽ phải bao gồm những môn bắt buộc do Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo CSVN ấn định.
Đó là điều khoản trong một dự thảo nghị định về giáo dục, đang bị nhiều đại diện của các trường quốc tế ở Việt Nam chống đối. Báo mạng VietNamNet Bridge hôm Thứ Sáu 28/04, dẫn lời Phó giáo sư Tiến sĩ Hồ Thúy Ngọc từ Đại học Ngoại Thương Hà Nội, nhận định rằng đòi hỏi về các môn học bắt buộc sẽ là một rào cản để học sinh Việt Nam được theo học những chương trình học nước ngoài.
Nói chuyện tại một buổi hội thảo về dự thảo Nghị định về hợp tác, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục diễn ra trước đây trong tháng 4, Tiến sĩ Ngọc cho biết các đối tác nước ngoài tin rằng nội dung bắt buộc do nhà chức trách CSVN ấn định sẽ bóp méo chương trình học sẵn có của họ. Bà nói rằng, họ là người trao bằng cho sinh viên tốt nghiệp, cho nên họ muốn sinh viên theo sát chương trình học của trường.
Ông Nguyễn Xuân Đậu từ Đại Học Kinh Doanh Và Công Nghệ thì cho biết, các đối tác nước ngoài tỏ ra không quan tâm đến chương trình học của Việt Nam. Một đại diện nước ngoài từ Diễn Đàn Doanh Nghiệp Việt Nam cũng cho biết, đòi hỏi về các môn học bắt buộc của Việt Nam rất khó áp dụng đối với họ.
Huy Lam / SBTN

Nhà máy Formosa sửa chưa xong đã nạp nhiên liệu đòi chạy thử

Nhà máy Formosa sửa chưa xong đã nạp nhiên liệu đòi chạy thử
Ban giám đốc nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh đang yêu cầu giới hữu trách CSVN cho vận hành thử một phần lò cao vào đầu tháng 5, mặc dù hạng mục sửa chữa sau cùng và quan trọng nhất của nhà máy thép dự trù phải đến cuối tháng 6 mới hoàn tất.
Truyền thông trong nước cho hay, hôm 27 tháng 4, một đoàn công tác của Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường do Bộ trưởng Trần Hồng Hà dẫn đầu đã đến làm việc tại nhà máy Formosa Hà Tĩnh, nơi vốn là đầu mối của thảm họa môi trường lớn nhất trong lịch sử Việt Nam xảy ra cách đây một năm. Đoàn của ông Trần Hồng Hà đến kiểm tra, sau khi nhận được đề nghị của Formosa cho vận hành thử nghiệm xưởng luyện thép và lò cao số 1. Formosa báo cáo sửa chữa được 52 trong 53 lỗi vi phạm môi trường. Còn hạng mục chuyển đổi công nghệ dập cốc ướt sang dập cốc khô và một phần hồ sinh học dự trù sẽ hoàn thành vào ngày 30 tháng 6. Tuy nhiên, ông Trần Nguyên Thành, chủ tịch hội đồng quản trị Formosa Hà Tĩnh, đặt giới hữu trách Việt Nam trước chuyện đã rồi, khi cho biết là vào ngày 19 tháng 4, công ty đã nạp nhiên liệu vào lò cao. Theo ông Thành, việc đốt lò phải hoàn thành trong 15 ngày sau khi nạp nhiên liệu, nếu không thì sẽ phát sinh một số vấn đề.
Theo tường thuật của truyền thông trong nước thì các giới chức của Bộ Tài Nguyên và tỉnh Hà Tĩnh đều tỏ ra chưa an tâm về việc giải quyết chất thải của Formosa. Ông Phan Lam Sơn, phó giám đốc Sở Tài Nguyên Hà Tĩnh, chỉ ra rằng hiện Formosa ký hợp đồng giải quyết việc xả chất thải với công ty Phú Hà chỉ trong thời hạn 3 tháng. Ông Trần Hồng Hà thì cho rằng cần phải nghiên cứu xem tại sao Formosa không xả nước thải ra sông mà phải thải ra biển, và tại sao không thải bề mặt mà thải ngầm. Được biết đoàn công tác của Bộ Tài Nguyên sẽ họp để quyết định về việc cho Formosa vận hành thử nghiệm trước khi hoàn tất sửa chữa.
Huy Lam / SBTN

Bị can 29 năm chết rồi mới đình chỉ điều tra vụ án

Bị can 29 năm chết rồi mới đình chỉ điều tra vụ án
Ông Chinh trong ngày lễ cưới của con. Ảnh: Tuổi Trẻ
29 năm chịu oan sai tủi nhục vì cái án “tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa”, mãi tới sau khi chết 6 năm mới được đình chỉ vụ án.
Ngày 26.04.2017 Viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân (VKSND) tỉnh Vĩnh Long cho biết đã ra quyết định đình chỉ vụ án với ông Nguyễn Tùng Chinh (sinh 1950, nguyên Chánh văn phòng Công an huyện Duyên Hải, tỉnh Cửu Long, nay là tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh), sau gần 30 năm mang thân phận bị can trong vụ án oan sai.
Lý giải nguyên nhân chậm trễ trong việc minh oan cho người dân, Viện Kiểm Sát vòng vo giải thích là do hồ sơ vụ án bị thất lạc, nên cơ quan tố tụng không chứng minh được hành vi phạm tội của bị can.
Ông Trần Đắc Chiến, Viện Trưởng VKSND tỉnh Vĩnh Long từng to tiếng trên mặt báo rằng: “…trong quá trình điều tra, anh Chinh phải nêu ra ý kiến chứng minh mình vô tội, nên lỗi cũng một phần là do anh…”
Thực tế là trong hàng chục năm nay gia đình ông Chính đã chạy chỗ này chỗ nọ để kêu oan và đòi minh oan. Giới chức hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh đã liên tục chối bỏ trách nhiệm, và không chịu giải quyết cho ông Chinh theo luật định.
Theo hồ sơ, Năm 1982, ông Chinh (lúc đó là chánh văn phòng Công an huyện Duyên Hải, tỉnh Cửu Long) bị công an bắt tạm giam để điều tra hành vi “tham ô tài sản” do để mất 12,000 đồng và khoảng 4 lượng vàng.
Vụ án có nhiều uẩn khúc bởi cách quản lý chìa khóa tủ, tài sản tạm giữ lúc đó rất sơ sài và kể cả viên bản cũng không xác định được mất tài sản gì.
Sau hơn 5 năm bị tạm giam, vào ngày 25.01.1988, ông Nguyễn Tùng Chinh được viện trưởng Viện KSND tỉnh Cửu Long- ông Hồ Văn Ân- ký lệnh tạm tha, vì không chứng minh được hành vi phạm tội của bị can. Ông Ân và một số giới chức liên quan sau này thừa nhận mình ký lệnh, nhưng không nhớ chi tiết.
Theo luật sư, Bộ luật tố tụng hình sự qui định thời hạn tạm giam để điều tra tối đa là 12 tháng. Khi đã hết thời gian gia hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì cơ quan tiến hành tố tụng phải ra quyết định đình chỉ điều tra.  Đồng thời, những ai gây ra án oan phải bị xét xử và bồi thường theo quy định của pháp luật.
Trở về địa phương, ông Chinh mòn mỏi đợi chờ cơ quan chức năng kết luận điều tra trong vô vọng. Đời sống kinh tế bị chèn ép, ám ảnh và áp lực tâm lý nặng nề.. Năm 2011, ông lâm trọng bệnh và qua đời. Ông Chinh đã từng khóc và tâm sự với một người từng công tác trong đơn vị cũ: “Tao không hề làm gì sai trái mà lại bị tình cảnh thế này…”.
Quốc Hiếu/SBTN

Thân nhân ‘tử sĩ Hoàng Sa’ chật vật sống còn

Viễn Đông
Theo VOA-29/04/2017 
Bà Huỳnh Thị Sinh (trái) trong lễ tang chồng.

Một số người dân có chồng và cha từng chiến đấu cho lực lượng Việt Nam Cộng hòa và bỏ mạng trong trận hải chiến đẫm máu ở Hoàng Sa cho biết rằng sau năm 1975, họ chật vật sống qua ngày.
Trận chiến trên biển, dù xảy ra hơn 40 năm trước, vẫn gợi lại nhiều suy nghĩ, nhất là khi sắp tới ngày kết thúc Chiến tranh Việt Nam, và trong bối cảnh Trung Quốc không ngừng củng cố chủ quyền Biển Đông.
"Trợ cấp gì, không có gì hết. Mình buôn bán, phụ con cháu sống thôi chứ đâu có ai phụ cấp gì cho mình đâu. Mình chắc là người của chế độ cũ thì người ta cũng không giúp đỡ mình gì đâu..."Bà Huỳnh Thị Sinh nói.
 Bà Huỳnh Thị Sinh, vợ của cố thiếu tá Ngụy Văn Thà, hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo HQ10 của Hải quân Việt Nam Cộng hòa, cho biết rằng hiện bà không được nhà nước hỗ trợ gì, mà “phải phụ giúp con cháu để sống qua ngày”.
Bà nói tiếp: “Trợ cấp gì, không có gì hết. Mình buôn bán, phụ con cháu sống thôi chứ đâu có ai phụ cấp gì cho mình đâu. Mình chắc là người của chế độ cũ thì người ta cũng không giúp đỡ mình gì đâu. Chỉ có bạn bè của chồng bác, lâu lâu, thỉnh thoảng cho 100, 200 [nghìn đồng]. Mà ít khi cho lắm, năm mới cho một lần”.
Bà cho biết thêm rằng mấy năm trước, nhà bị giải tỏa, nên cộng đồng cả ở trong nước lẫn ở hải ngoại đã ủng hộ tiền để mua căn hộ mới, nếu không bà cũng không biết bấu víu vào đâu.
Hình ảnh tử sĩ Ngụy Văn Thà trong buổi biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội năm 2014.
Hình ảnh tử sĩ Ngụy Văn Thà trong buổi biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội năm 2014.
Bà Ngô Thị Kim Thanh, vợ của Thiếu tá Nguyễn Thành Trí, Hạm phó Hộ tống hạm HQ10, trong trận hải chiến năm đó, cũng nhận được hỗ trợ của nhiều dân thường để mua nhà mới.
Bà Thanh qua đời đầu năm nay sau khi chống chọi với căn bệnh ung thư. Chị Nguyễn Thị Thanh Thảo, con gái bà, cho biết rằng lúc cuối đời, “bà không muốn đi nhà thương”, và theo chị, bà nói, “ba con không cho mẹ sống nữa thì thôi để mẹ đi cùng với ba”.
Chị Thảo cho biết rằng chị “rất tự hào về ba mình” và “bàn thờ vẫn để nguyên hình ảnh thờ ông mặc quân phục”.
"Bắt đầu từ năm 77 – 78, mang một cái lý lịch vợ sĩ quan ngụy thì bà không được làm việc tại Sài Gòn, mà phải thuyên chuyển đi tỉnh. Cuộc sống thì đúng là nó khó khăn. Nếu mà cách nhìn nhận của xã hội nó khác, đỡ gay gắt như những năm đầu, cuộc sống của gia đình chúng tôi có thể nó sẽ khác."Chị Nguyễn Thị Thanh Thảo, con gái một "tử sĩ Hoàng Sa", nói.
 “Mẹ tôi giữ khá nhiều hình ảnh và tư liệu về ba tôi, và chúng tôi có tờ tường trình về những giờ phút cuối mà đồng đội của ông ghi lại, từ khi khai hỏa cho tới khi ba tôi mất”, chị nói.
Con gái của “tử sĩ Hoàng Sa” này cho hay rằng, sau năm 1975, “cuộc sống đối với những gia đình như chúng tôi khá thiệt thòi”.
Chị nói: “Bắt đầu từ năm 77 – 78, mang một cái lý lịch vợ sĩ quan ngụy thì bà không được làm việc tại Sài Gòn, mà phải thuyên chuyển đi tỉnh. Cuộc sống thì đúng là nó khó khăn. Nếu mà cách nhìn nhận của xã hội nó khác, đỡ gay gắt như những năm đầu, cuộc sống của gia đình chúng tôi có thể nó sẽ khác. Xã hội bây giờ, Việt Nam có trợ cấp con liệt sĩ, có những chính sách ưu đãi khi vào đại học xin việc làm. Xã hội bây giờ là vậy. Chúng tôi ngược lại, xã hội trước chúng tôi được như vậy [trợ cấp trước năm 75] mà xã hội này chúng tôi không được vậy thì đương nhiên nó cũng thiệt thòi, nó có cái buồn”.
Chị Thảo nói thêm rằng vào ngày 30/4 mà truyền thông trong nước hay gọi là “ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, chị em chị “chỉ ru rú ở trong nhà thôi”.
“Những ngày đó, tình hình an ninh của thành phố, của đất nước rất cao, [nếu] xã hội có bạo động hay có gì đó, mình ra đường nhằm vào những lúc đó thì mình sợ nhiều khi nó không an toàn vì với lý lịch của mình. Mình không phải gia đình cách mạng cho nên nhiều khi mình rất dễ bị hiểu lầm”, chị nói.
Trong khi chính quyền trong nước thường tổ chức ngày gọi là "thống nhất đất nước", nhiều người Việt ở hải ngoại, nhất là các cựu chiến binh Việt Nam Cộng hòa, lại gọi đó là "ngày quốc hận".
Trong khi chính quyền trong nước thường tổ chức ngày gọi là "thống nhất đất nước", nhiều người Việt ở hải ngoại, nhất là các cựu chiến binh Việt Nam Cộng hòa, lại gọi đó là "ngày quốc hận".
Về việc nhà nước Việt Nam chưa chính thức công nhận sự hy sinh của các tử sĩ Hoàng Sa, chị Thảo nói: “Mình tự biết thân, biết phận, mình sống mình thu mình lại, khép mình lại. Mình không có cha. Một mình mẹ tôi bươn chải để nuôi hai chị em tôi khôn lớn. Bà cũng thu mình lắm. Thành ra bà dạy tụi tôi sống khép mình. Thật sự ở Việt Nam, chưa được quyền nói về vấn đề Hoàng Sa, chỉ có hải ngoại thôi. Mình cũng cảm thấy một chút an ủi, vì dầu sao ba mình là người Việt Nam, ông lại chiến đấu giữ gìn biển đảo đất nước. Chúng tôi xem thông tin từ nguồn hải ngoại để có một chút an ủi, tự hào về ba mình”.
"Mình cũng cảm thấy một chút an ủi, vì dầu sao ba mình là người Việt Nam, ông lại chiến đấu giữ gìn biển đảo đất nước. Chúng tôi xem thông tin từ nguồn hải ngoại để có một chút an ủi, tự hào về ba mình."Chị Nguyễn Thị Thanh Thảo nói.
 Trung Quốc đã chiếm toàn bộ Hoàng Sa sau trận hải chiến làm 74 binh sĩ Việt Nam Cộng hòa bỏ mạng ngày 19/1/1974.
Nhiều nhà hoạt động xã hội ở trong nước thường xuống đường vào ngày này để tưởng nhớ các tử sĩ, nhưng tin cho hay rằng đa phần đều nhanh chóng bị “giải tán”.
Báo chí trong nước đầu năm ngoái đưa tin rằng Việt Nam đã “khởi công xây dựng khu tưởng niệm Nghĩa sĩ Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi”, để “vinh danh tất cả những người Việt Nam đã ngã xuống” để bảo vệ Hoàng Sa. Hiện chưa rõ tiến độ của công trình trị giá hàng chục tỉ đồng này.
Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger tại Hội nghị Thượng đỉnh về Chiến tranh Việt Nam ở Texas năm 2016.
Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger tại Hội nghị Thượng đỉnh về Chiến tranh Việt Nam ở Texas năm 2016.
Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger năm 2016 tuyên bố “không có thỏa thuận nào” với Trung Quốc về Hoàng Sa hơn 40 năm trước, giữa cáo buộc Mỹ làm ngơ để Bắc Kinh chiếm quần đảo này từ tay Việt Nam Cộng hòa.

Người từng làm cố vấn an ninh cho tổng thống Mỹ nói tại Hội nghị Thượng đỉnh về Chiến tranh Việt Nam ở Thư viện Tổng thống Lyndon Baines Johnson ở Austin, Texas, mà phóng viên VOA Việt Ngữ tham dự: “Mỹ từ trước tới nay không đưa ra quan điểm ủng hộ chủ quyền của bất kỳ nước nào đối với quần đảo Hoàng Sa. Năm 1974, giữa lúc xảy ra vụ Watergate và cuộc chiến ở Trung Đông, tôi có thể dám chắc với quý vị rằng Hoàng Sa không trong tâm trí của chúng tôi".