Sunday, April 23, 2017

42 năm sau ngày 30.4.1975 qua cái nhìn của người trẻ

Cát Linh, phóng viên RFA 2017-04-20  
Người Sài Gòn di tản hôm 29/4/1975.
  Người Sài Gòn di tản hôm 29/4/1975.  AFP photo
Những người trẻ sinh ra sau khi chiến tranh chấm dứt có sự hiểu biết về ngày 30 tháng 4 năm 1975 như thế nào và họ nhìn thấy gì trong sự thay đổi của đất nước mấy mươi năm qua?
Cách gọi
Cứ đến tháng Tư của mỗi năm, tấm ảnh đen trắng về những đứa trẻ đứng nhìn ra ngoài ô cửa nhỏ xíu trong một chiếc phi cơ đã được tháo hết những băng ghế ngồi, trên mặt sàn máy bay thì chật kín những đứa trẻ khác đang nằm, ngồi lẫn lộn, lại xuất hiện trên các diễn đàn như một lời nhắc nhở…
42 năm, kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, sẽ là quá nửa đời người với những cậu bé cô bé trong tấm ảnh ấy. 42 năm sau, họ sẽ nhớ lại ngày đó với một ký ức mang màu sắc của “số phận”, là cách nói của một người trên mạng xã hội khi xem tấm ảnh ấy.
Để cố tình xây dựng những sự học và truyền thông dối trá để mị dân. Khi hiểu ra thì rất đau khổ, gọi là vỡ oà cảm xúc.
- Sỹ Bình
Nhưng, với những người sinh năm 80, 90, sẽ là một thời đại hoàn toàn độc lập, về tư tưởng, thể chế, chung hơn hết là ý thức hệ.
Họ là những người được tiếp nhận từ ngữ mới, văn hoá mới, phong cách xã hội mới. Họ không trải qua giai đoạn gọi là “chuyển giao chế độ”. Chính vì vậy, không ít người ở lứa tuổi này nhìn về ngày 30 tháng 4 với một tâm thế hoàn toàn trung dung.
Sao Mai, thế hệ 9X, là một trong số những người ấy. Rất đơn giản, cô gọi đó là ngày giải phóng, theo văn hoá giáo dục mà cô được truyền dạy.
“Tức là thường thì từ khi đi học đến khi lớn lên, em được biết 30 tháng 4 là ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ngày 1 tháng 5 là ngày Lễ Lao động. Nếu đi học hay đi làm thì sẽ được nghỉ hai ngày đó.”
Cụ thể hơn, nhưng cũng không kém phần đơn giản khi Sao Mai hiểu về ngày giải phóng.
“Ngày trước thì có thể là miền Bắc được giải phóng trước, không bị ách đô hộ cũng như không bị giặc ngoại xâm lấn chiếm, được hoà bình trước. Miền Nam thì vẫn phải chống chọi với giặc ngoại xâm, với kẻ thù. Ngày 30 tháng 4 là ngày đánh dấu mốc miền Nam cũng được hoà bình như miền Bắc và thống nhất đất nước.”
Không phải chỉ riêng Sao Mai, mà tất cả những ai trải qua nền giáo dục dưới mái trường Xã hội chủ nghĩa đều biết đến cách gọi của cụm từ “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.”
Nguyễn Khang, một thế hệ 9X khác, từ Sài Gòn cho biết anh không xa lạ với cách nói ấy:
“Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đó là theo quan niệm của em thời còn đi học.”
Còn cho đến bây giờ, Khang cho biết anh chỉ chấp nhận một nửa của cách gọi ấy, vì không thể phủ nhận sự thật là Nam, Bắc một nhà từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
“Còn cho tới thời điểm bây giờ, em gọi nó là ngày thống nhất đất nước. Gọi là giải phóng miền Nam thì không hợp lý vì không thể nào một thằng nghèo đi giải phóng một thằng giàu. Nhưng không thể phủ nhận được ngày đó là ngày thống nhất đất nước.”
Cũng chia ra hai thời điểm để có hai sự hiểu biết và chấp nhận, là ý kiến của Sỹ Bình, thế hệ 8X.
“Ở thời điểm ngày xưa, ngồi trên mái nhà trường đó, gọi ngày 30 tháng 4 là ngày giải phóng. Nhưng mãi sau này, hiểu ra được vấn đề, thì ngày 30 tháng 4 là ngày buồn của dân tộc Việt Nam. Là một ngày gọi là thấm máu, nhuộm máu quê hương. Người ta thường gọi là Tháng Tư đen.”
Tính chất
Babylift-400.jpg
Bên trong một chiếc phi cơ của chương trình Babylift tháng 4/1975. Bên trong một chiếc phi cơ của chương trình Babylift tháng 4/1975.
‘Cái sự hiểu ra vấn đề’ đó được Sỹ Bình cho biết là từ lúc internet phát triển, truyền thông nhà nước và báo chí không còn là “nhà trường thứ hai” của người dân. Thay vào đó, các bạn trẻ như Sỹ Bình nói rằng họ đã tìm thấy “sự thật khác ẩn chứa trong đó”.
“Một cái ngày gọi là người Cộng sản Bắc Việt đã vào đánh cướp giết đất quê hương của người miền Nam. Những trận đánh mà cộng sản cho là giải phóng đó thì chính là những trận đánh giúp cho Tàu Cộng và Liên Xô.”
Cho dù các bạn trẻ ấy đều nhìn nhận có hai sự hiểu đến từ hai thời điểm khác nhau, dẫn đến hai cách gọi khác nhau, thế nhưng, theo Nguyễn Khang thì có một điều mà anh cho rằng không thể phủ nhận.
“Không phủ nhận là Cộng sản đã thắng. Việt Nam Cộng hoà đã thua. Nhưng những hệ luỵ của nó thì thật sự ngày đó là một ngày đen tối, một ngày đáng buồn.”
Còn với quan điểm của Sỹ Bình, anh nói rằng khi sự thật được phơi bày, nhìn quay lại những gì đã học, tất cả hoàn toàn được tô vẽ, cùng với sự trợ giúp của những ngòi bút mà anh gọi là “dối trá”
“Để cố tình xây dựng những sự học và truyền thông dối trá để mị dân. Khi hiểu ra thì rất đau khổ, gọi là vỡ oà cảm xúc.”
Nếu với Sỹ Bình là một cảm xúc vỡ oà đau khổ thì Nguyễn Khang gọi đó là “một ngày đau thương”:
“Bởi vì em biết được hệ luỵ, hậu quả của ngày đó, những người chết trong trại cải tạo. Em biết cuộc sống sau 1975 như thế nào, nên em biết được ngày đó là một ngày đau thương. Cái ngày không tồn tại luật pháp, thậm chí họ có thể giết người công khai mà không cần chờ đợi đến pháp luật….
Nếu mà không có ngày đó thì sẽ tốt hơn.”
Tích cực và tiêu cực
Những câu chuyện về cuộc chiến được vẽ lại trong sách vở hào hùng, oanh liệt thật sự đã lấy đi khá trọn vẹn niềm tin của thế hệ trẻ khi còn ngồi trên mái trường. Hình ảnh “cô du kích nhỏ giương cao súng” và “Thằng Mỹ lom khom bước cúi đầu” hay “ngọn đuốc sống Lê Văn Tám” từng là những hình ảnh tự hào đi trong tâm trí của những đứa trẻ hát quốc ca vào mỗi buổi sớm.
Niềm tự hào ấy trong trí nhớ của của các bạn trẻ, nó đã được xây dựng và lớn lên từng ngày với niềm tin đất nước mình “rừng vàng, biển bạc.”
000_APP2000040598414-400.jpg
Lính bắc việt trên những chiếc xe tăng tràn vào thành phố Sài Gòn sáng 30/4/1975. AFP photo
Không ít người thuộc thế hệ 8X, 9X, qua mạng internet, họ biết đến câu nói nổi tiếng của cố Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Lê Duẩn từng tuyên bố nhân dịp Têt 1976, một năm sau ngày Giải phóng:
“Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một Tivi và một tủ lạnh.”
Những thanh niên tham gia buổi nói chuyện trong bài viết này đều chưa ra đời vào thời điểm ông Lê Duẩn vạch ra tiêu chuẩn đời sống của một gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, như Nguyễn Khang đã nói, anh không chấp nhận gọi là giải phóng miền Nam vì không thể nào một thằng nghèo đi giải phóng một thằng giàu.
Có lẽ qua kho tàng internet, Khang đã tìm hiểu cuộc sống của người miền Nam trước 1975 có được tủ lạnh và radio hay chưa.
Thế nhưng, chính Khang vẫn nhận thấy những điểm tích cực của cột mốc 30 tháng 4 năm 1975. Anh đưa ra cái nhìn có tính chất khá nhân sinh quan, đó là những mất mát trong chiến tranh sẽ không còn nữa.
“Ít nhất người dân không còn hoang mang khi mỗi sáng thức dậy thấy cái chết. Những chết chóc của chiến tranh sẽ không còn nữa. Không còn chiến tranh là mặt tích cực rồi.”
Thế nhưng, cũng theo Khang, bên mặt tích cực vẫn tồn tại những tiêu cực. Khang muốn nói đến cuộc bỏ phiếu bằng chân lớn nhất lịch sử Việt Nam.
“Hệ luỵ của vấn đề không còn chiến tranh lại khác đi. Không còn tự do. Không còn quyền được sống. Có người phải bỏ quê hương, bỏ cha mẹ, con cái để ra đi.”
Tuy nhiên, nói rằng cần phải nhìn nhận khách quan, Nguyễn Khang cho biết anh vẫn thấy có điểm tích cực trong 42 năm kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.
“Sự thay đổi đến thời điểm bây giờ, giống như thời bao cấp thì không thể sống được. Hay nếu không thống nhất thì cũng giống như với Triều Tiên hay Hàn Quốc thôi.
Sự chuyển biến tốt nhất bây giờ là đã có những công ty nước ngoài vào. Việc mở cửa cho những công ty nước ngoài vào trong 42 năm vẫn là chuyển biến em cho là tốt nhất, để cho công ty nước ngoài vào đầu tư rồi dần dần cuộc sống người dân từ đó có những nhận thức khác đi.”
Còn cho tới thời điểm bây giờ, em gọi nó là ngày thống nhất đất nước. Gọi là giải phóng miền Nam thì không hợp lý vì không thể nào một thằng nghèo đi giải phóng một thằng giàu.
- Nguyễn Khang

Không đồng ý với ý kiến này, Sỹ Bình phản biện bằng cách đưa ra nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác trong xã hội hiện tại. Theo anh, không thể nhìn vào một góc phát triển của một sự vật mà có thể đưa ra đánh giá toàn diện. Sỹ Bình cho rằng cần phải nhìn thêm ở các vấn đề khác bên cạnh kinh tế.
“Không phải mình nhìn thấy xây dựng, giao thông, các quy trình kiến trúc hạ tầng đồ sộ mà nói phát triển được.
Ví dụ an ninh quốc phòng, tại sao người dân ngoài biển bị quân giặc Tàu cưới giết nhiều như vậy? Giáo dục thì học trò đánh nhau hội đồng gây tử vong hàng năm, hằng tháng. Y tế thì xuống cấp, trẻ em chết rất nhiều.
Tại sao lại có những ngôi nhà đồ sộ như vậy? thứ nhất, có thể của nhà đầu tư nào đó ở nước ngoài hoặc những nhà tham nhũng, tư bản đỏ dùng đồng tiền bất chính, lấy ngân khố của đất nước trái pháp luật để xây dựng lên những công trình cá nhân làm lợi ích riêng.”
Cuộc sống của người dân Việt Nam có thật như trong bài giảng là ‘dân giàu, nước mạnh’ hay không? Sự phát triển của xã hội Việt Nam như thế nào trong hơn 40 năm qua? Thế hệ trẻ có tự hào về một Việt Nam hùng cường từng ‘đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” hay không? Câu trả lời“Không có gì phát triển ngoài hiểu biết của người dân về sự thật lịch sử sau 42 năm”, và “phải chi đừng có ngày ấy”, là nhận định chung của những bạn trẻ thế hệ 8X, 9X, những người được sinh ra và lớn lên khi chiến tranh đã chấm dứt.

42 năm, lại nói chuyện hòa hợp hòa giải

Cát Linh, phóng viên RFA 2017-04-21  
Tổng thống Dương Văn Minh, vị tổng thống cuối cùng của Sài Gòn, rời dinh tổng thống ngày 30 tháng 4 năm 1975 sau khi tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh.
 Tổng thống Dương Văn Minh, vị tổng thống cuối cùng của Sài Gòn, rời dinh tổng thống ngày 30 tháng 4 năm 1975 sau khi tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh.  AFP photo
Tròn 42 năm kết thúc cuộc nội chiến của người dân Việt Nam, tháng 4 năm 1975 – 2017, vấn đề hoà hợp hoà giải dân tộc được nhà nước Việt Nam nhắc đến nhiều lần nhưng thực tế như thế nào?
Rất khó
Trong suốt mấy mươi năm đó, không phải một lần, mà rất nhiều lần, cụm từ “hoà hợp hoà giải dân tộc” được nhắc đến trong các cuộc họp Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương, hay bất cứ nơi nào có lời phát biểu của những vị đứng đầu nhà nước.
Cụ thể là Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26 tháng 3 năm 2004 của Bộ Chính trị và nghị quyết 23 NQ/TW ngày 16 tháng 1 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.
Chưa kể đến những chương trình giao lưu họp mặt do Uỷ ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức.
Thế nhưng, 42 năm, một quãng thời gian đủ dài để đánh dấu sự trưởng thành của một con người, nhưng không đủ nhiều để cho một dân tộc có thể quên đi những tổn thương nặng nề do chiến tranh để lại. Đó cũng là điều Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhận thấy về chủ trương hoà hợp hoà giải dân tộc:
“Tôi nghĩ vấn đề hoà giải dân tộc là một vấn đề rất là khó, do lịch sử để lại rất nhức nhối. Người ta nói nhiều về chuyện ấy nhưng làm không được mấy, bởi vì cái hố ngăn cách giữa bên này bên kia, người này người nọ, nhất là hố phân cách do cái tư duy chỉ có đen và trắng.”
Tôi nghĩ vấn đề hoà giải dân tộc là một vấn đề rất là khó, do lịch sử để lại rất nhức nhối
- Tiến sĩ Nguyễn Quang A
Đối với ông, thực chất cuộc sống phong phú hơn rất nhiều. Giữa đen và trắng còn có màu xám và triệu gam màu khác tồn tại ở giữa.
Không cần suy xét đâu xa, chỉ cần nhìn lại những sự kiện diễn ra rất gần đây, có thể thấy cái khó mà Tiến sĩ Nguyễn Quang A e ngại hoàn toàn có cơ sở.
Chỉ trong nửa đầu năm 2017, Hàng loạt những câu chuyện “cười ra nước mắt” đã diễn ra ngay trong xã hội Việt Nam, nơi có cả người thuộc “bên này”, kẻ thuộc “bên kia” cùng chung sống.
Từ việc  ra mắt cuốn sách nghiên cứu về nhân vật Trương Vĩnh Ký bị "lệnh miệng" đình lại cho đến những ca khúc nhạc vàng nổi tiếng từ trước năm 1975, cụ thể là năm ca khúc Cánh thiệp đầu xuân (Lê Dinh - Minh Kỳ), Rừng xưa (Lam Phương), Chuyện buồn ngày xuân (Lam Phương), Đừng gọi anh bằng chú (Diên An), Con đường xưa em đi (Châu Kỳ - Hồ Đình Phương)  bị cấm hát vĩnh viễn, rồi lại cho phép trình diễn trở lại vài ngày sau đó.
Theo lời giải thích của ông Lương Hồng Quang, việc cấm các ca khúc trước 1975 hoàn toàn không liên quan đến ý thức hệ, mà vấn đề là do Việt Nam đang tăng cường quản lý sở hữu trí tuệ. Và ông cũng khẳng định cơ quan quản lý nhà nước đang gặp nhiều lúng túng.
Có lẽ cái lúng túng ông Lương Hồng Quang nhắc đến chính là gam màu xám ở giữa mà Tiến sĩ Nguyễn Quang A đã nhắc đến?
Từ Nghệ thuật
Mặc dù, không thể phủ nhận rằng rất nhiều nghệ sĩ trong lĩnh vực âm nhạc đã quay trở về phục vụ cho người Việt trong nước sau mấy mươi năm rời quê hương. Thế nhưng, nhà văn Nguyễn Đông Thức, từ Sài Gòn có đưa ra một nhận xét: “Cho tới giờ, tất cả những show diễn của Phạm Duy, Khánh Ly đều không được phép quảng cáo ở Thành phố Hồ Chí Minh, một cái bandrole cũng không có. Cuộn phim tài liệu về Phạm Duy về nước làm tám năm nay vẫn không được phép phát hành!”
Ông từng nói mình không tin bên nội địa thật lòng. Những lời kêu gọi hoà hợp hoà giải là “Màu mè, hình thức thôi. Còn lâu mới có hoà hợp hoà giải trong văn học văn nghệ, lãnh vực thượng tầng, quyết định tư tưởng, mà chính quyền Việt Nam luôn đặt lên hàng đầu.”
Còn lâu mới có hoà hợp hoà giải trong văn học văn nghệ, lãnh vực thượng tầng, quyết định tư tưởng, mà chính quyền Việt Nam luôn đặt lên hàng đầu.
- Nhà văn Nguyễn Đông Thức
Vào đầu năm nay, tại buổi lễ trao giải thưởng văn học 2016, chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, ông Hữu Thỉnh đã đưa ra ý kiến mời các nhà văn, nhà thơ người Việt hải ngoại, kể cả đó là những người cầm bút phục vụ chế độ cũ (Việt Nam Cộng hoa) về tham dự.
Nhà văn Phạm Phú Minh, được biết với bút danh là Phạm Văn Đài, từ California khẳng định không thể thực hiện được trong thời gian này. Ông tiếp nhận và xem sự việc này như “thái độ thăm dò có tính chính trị.” Đặc biệt ông khẳng định điều đó cần một thời gian rất dài, nếu không muốn nói là rất khó xảy ra.
Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, đặt ra sự nghi vấn về “thâm ý chính trị”.
“Đối với Hữu Thỉnh, trước mắt phải làm sao để Hội nhà văn tồn tại và có kinh phí tồn tại. bây giờ phải bày ra chuyện để làm. Thực chất nó là như vậy và nó nằm trong chủ trương chiêu dụ người Việt hải ngoại.”
“Thứ hai nữa là họ muốn làm cũng không có khả năng, vì việc đi quan hệ tiếp xúc và thuyết phục giới nhà văn hải ngoại để về nước rồi nói cái gì là vô cùng khó đối với họ. Ở đây chỉ có vài văn đoàn độc lập mà họ còn không chịu tiếp cận, không chịu tiếp xúc không chịu chia sẻ thì làm sao tiếp cận giới nhà văn hải ngoại?”
000_ARP4290790.-400.jpg
Một đám tang người lính Việt Nam Cộng Hòa tại Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Biên Hòa, nay được gọi là nghĩa trang Bình An. Ảnh chụp hôm 29/4/1975. AFP photo
Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng cho biết, sau khi đề ra Nghị quyết 36, rất nhiều trí thức hải ngoại nói chung vẫn chưa tìm được tiếng nói tương đồng với chính quyền Việt Nam. Sức mạnh sáng tác của họ vẫn phải bó hẹp trong những qui chuẩn mang tính chính kiến.
Tất cả những nhận xét ấy cho thấy có một tầng lớp thuộc giới trí thức trong xã hội Việt Nam chưa tin rằng hoà hợp hoà giải sẽ là điều có thể xảy ra.
Đến văn hoá
Khi chủ trương hoà hợp hoà giải dân tộc của Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam vẫn đang được kêu gọi, thì trong lúc đó, người dân Sài Gòn phải ngậm ngùi chia tay từng di tích văn hoá lịch sử một. Từ hình ảnh Thương xá Tax từng đi vào ca khúc Chiều trên phá Tam Giang của cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, cho đến những bậc tam cấp giản dị của nhà hát Công Nhân, thánh đường cải lương được xây dựng từ thập niên 40 của thế kỷ trước… tất cả lần lượt bị xoá bỏ.
Người dân tiếc thương như một phần ký ức cuộc đời của họ bị lấy mất. Họ không chấp nhận đó là sự thay đổi theo chủ trương phát triển của quốc gia.
Những trận đánh Gạc Ma, chiến tranh biên giới hoàn toàn không tồn tại trong sách giáo khoa lịch sử thời Xã hội chủ nghĩa. Người trẻ đi tìm kiếm thông qua thế giới mạng, để họ kêu gọi nhau trân trọng những gì vốn dĩ thuộc về sự thật và lịch sử.
Thừa nhận lịch sử
Nói về vấn đề này theo phương diện sử học, Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã cho rằng một trong những yếu tố quan trọng để dẫn đến hoà hợp hoà giải dân tộc, đó là thừa nhận vai trò của Việt Nam Cộng Hoà.
“Theo tôi bất cứ một giai đoạn lịch sử nào cũng có vai trò của nó. Nếu thừa nhận vai trò đó, của hai bên, nó sẽ dễ dàng hoà hợp."
“Các nhà nghiên cứu, làm sử đặt ra vấn đề là phải thừa nhận Việt Nam Cộng hoà là một thực thể. Trong giai đoạn đó có một thực thể, trong đó có vấn đề đối nội đối ngoại, có những điểm tốt, không tốt, lịch sử phải khách quan. Ví dụ như trong vấn đề Hoàng Sa, phải chấp nhận là Việt Nam Cộng hoà đã có trách nhiệm, và Hoa Kỳ cũng đã có phản ứng. Mà khi có phản ứng tức là Trung Quốc đã xâm lược. Đó là một điều phải khẳng định.”
Khi nói về hoà hợp hoà giải ở lĩnh vực văn học trước đây, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên có bày tỏ rằng để đi đến sự hoà hợp đó thì
“Về phía phát tín hiệu trong nước là thật tâm, thật tình. Và phía người Việt ngoài nước là con dân mang trong mình dòng máu Việt, thấy đó là thật tâm thật tình thì đáp ứng.”
Đây cũng là một yếu tố được Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhắc đến phương cách thực hiện chủ trương hoà hợp hoà giải.
“Nếu người cầm quyền mà người ta có thật tâm, lúc đó đã có những hành động, cử chỉ có thể tạo điều kiện cho điều khoản này thực hiện tốt hơn, êm thấm hơn, nhưng đáng tiếc nó đã không xảy ra.”
“Có lẽ là phải đợi đến thế hệ sau, thế hệ mà ký ức đau buồn đó nó đã bớt đi rất nhiều. Những người mà không sinh ra sau năm 1975. Hiện tại số người đó chiếm một phần rất lớn của người Việt ở khắp mọi nơi. Tôi nghĩ chỉ có những người thoát ra khỏi cái tư tưởng trắng đen đó, thắng thua, Bắc Nam…lúc đó chuyện này mới tiến triển được.”
Nhân nói đến thế hệ trẻ, câu chuyện về những thanh niên sinh ra sau năm 1975 bày tỏ thái độ và chí hướng đối với lá cờ của Việt Nam Cộng hoà trên mạng xã hội được nhắc đến. Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng đó là những người trẻ vẫn còn mang nặng tư duy trắng đen.
Theo tôi bất cứ một giai đoạn lịch sử nào cũng có vai trò của nó. Nếu thừa nhận vai trò đó, của hai bên, nó sẽ dễ dàng hoà hợp.
- Tiến sĩ Nguyễn Nhã 
“Nếu họ thoát khỏi tư duy đó thì có lẽ họ không gợi lại cái đấy để làm gì, mà xây những viên gạch mới, viên gạch khác thay vì những việc làm cho hố ngăn cách càng nhức nhối thêm.”
Chiến tranh kết thúc 42 năm. Song không thể phủ nhận trong tâm trí của người dân Việt Nam yêu nước vẫn còn đó nỗi trăn trở sâu thẳm bởi vết thương chiến tranh của dân tộc Việt Nam quá lớn. Thế nhưng, cũng có rất nhiều người đặt hy vọng như Tiến sĩ Nguyễn Quang A,“mọi người bắt tay vào làm những việc chung như kinh doanh, học tập, sáng tạo, tìm ra những giá trị mới trong khoa học, văn học nghệ thuật, chứ không cần phải nói đến những điều to tát nhưng trống rỗng.”
Thông điệp này có lẽ không xa lạ với những ai đọc qua sự tích Trăm trứng nở trăm con và câu chuyện cổ tích về bài học Bó đũa.

Băn khoăn về quy hoạch Du lịch Thác Bản Giốc

 Lan Hương, phóng viên RFA 2017-04-21  
Khách du lịch Trung Quốc tại thác Bản Giốc ở tỉnh biên giới phía bắc Cao Bằng ngày 16 tháng 1 năm 2009.
 Khách du lịch Trung Quốc tại thác Bản Giốc ở tỉnh biên giới phía bắc Cao Bằng ngày 16 tháng 1 năm 2009.  AFP photo  
Biên giới đã rõ ràng?
Thác bản Giốc nằm trên sông Quây Sơn và được chia làm hai phần thác chính và thác phụ. Ngọn thác Bản Giốc từng là một trong các điểm tranh cãi trong quá trình phân định biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, trước khi hai bên hoàn tất quá trình phân giới cắm mốc vào năm 2008. Theo thỏa thuận giữa hai bên Việt Nam và Trung Quốc thì phần thác phụ thuộc chủ quyền của Việt Nam còn phần thác chính Việt Nam và Trung Quốc sẽ cùng khai thác. Phần thác chính này được phân chia bằng cột mốc 53 cũ được dựng lên từ cuối thế kỷ 19 sau khi người Pháp và Nhà Thanh ký kết hiệp định phân chia biên giới.
Thỏa thuận này đã từng gây bất bình đối với nhiều người Việt Nam vì họ cho rằng thác Bản Giốc là thuộc về Việt Nam vì sao lại có phần của Trung Quốc trong đó!
Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới chính phủ Việt Nam cho biết về vấn đề này:
Nếu Việt Nam không nỗ lực hơn nữa để tạo ra sự cân bằng trong quan hệ kinh tế chính trị với Trung Quốc thì chắc chắn phần thiệt sẽ thuộc về Việt Nam.
- Tiến sĩ Trần Công Trục 
Thông tin nói rằng khu vực Thác Bản Giốc cũng như dòng sông Quây Sơn vẫn còn là khu vực nhạy cảm, còn tranh chấp là sai bởi vì hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành giải quyết tranh chấp này rồi và hai bên đã ký các hoạch định cũng như phân giới cắm mốc rồi. Vì thác bản Giốc là cảnh quan chung, dòng sông là sông biên giới nên hai bên đã có thỏa thuận cùng nhau khai thác du lịch. Luật pháp quốc tế cũng đều thực hiện điều đó, chứ không ai có thể xây một bức tường ngăn cách mà cần hợp tác cùng nhau khai thác cảnh quan du lịch và tài nguyên nước nơi biên giới.
Tiến sĩ Trần Công Trục cho rằng quyết định phê duyệt quy hoạch dự án Bản Giốc, tăng cường đầu tư để phát triển khu du lịch này của Thủ tướng là một lựa chọn đúng đắn mà ông hoàn toàn ủng hộ. Ông phân tích:
Tôi cho rằng đây là một chủ trương đúng đắn đặc biệt trong quan hệ với Trung Quốc, một nước mà có rất nhiều đầu tư mạnh mẽ để nâng cấp hoạt động kinh tế, xã hội ở khu vực biên giới. Nếu Việt Nam không nỗ lực hơn nữa để tạo ra sự cân bằng trong quan hệ kinh tế chính trị với Trung Quốc thì chắc chắn phần thiệt sẽ thuộc về Việt Nam. Vì vậy chủ trương phát triển khu vực biên giới, không những chỉ khu vực này mà còn dọc đường biên giới với Trung Quốc cần phải có sự đầu tư phát triển mạnh mẽ, có thể kêu gọi sự hợp tác của các nước cũng như bà con chúng ta ở nước ngoài để làm sao đưa dân ra vùng biên giới, tạo công ăn việc làm cho họ để tạo sự cân bằng với Trung Quốc. Như vậy chúng ta mới bảo vệ được đường biên giới và chống lại chủ trương biên giới mềm của Trung Quốc
Sẽ xảy ra bất bình
Đồng tình với Tiến sĩ Trần Công Trục rằng đây là một dự án có nhiều điểm tích cực sẽ được phát huy nếu tiến hành thi công. Tuy nhiên, nếu Tiến sĩ Trần Công Trục nhận định rằng dự án này sẽ không gặp trở ngại gì cũng như sẽ không gây ra bất cứ vấn đề nào với công chúng trong nước và với bên Trung Quốc, thì nhà báo Võ Văn Tạo lại chỉ ra một hệ quả có thể xảy ra:
Chắc chắn là quy hoạch ở đâu chứ quy hoạch ở đó sẽ gây ra tâm lý xáo trộn của người Việt Nam bởi vì sau khi biên giới được hoạch định giữa hai nước, một bộ phận người Việt Nam bất bình trước sự nhượng bộ với Trung Quốc. Xa xưa thì Bản Giốc thuộc toàn bộ về Việt Nam nhưng giờ một phần lại của Trung Quốc. Cho nên nếu quy hoạch đó bao gồm toàn bộ Bản Giốc thì không sao nhưng lại thừa nhận rằng Trung Quốc có một phần trong đó thì chắc chắn sẽ gây tâm lý không hài lòng trong một bộ phận dân chúng Việt Nam.
Trước đây ông Lê Công Phụng, lúc bấy giờ là thứ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam, kiêm Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới, lãnh thổ Việt Nam - Trung Quốc cho rằng những tin đồn tin chung quanh vấn đề Việt Nam "nhượng đất, nhượng biển" là không có căn cứ.
Lo ngại quá trình quy hoạch
Hiện tại ở thác Bản Giốc mới chỉ phát triển khu nghỉ dưỡng bốn sao Sài Gòn – Bản Giốc của Công ty Sài Gòn Tourist với diện tích 31,15 ha trong khi đó phía bên Trung Quốc đã cho đầu tư rất mạnh mẽ mà nhiều người dân nhận xét là “hoành tráng”.
Ông Nguyễn Văn Mỹ, chuyên gia du lịch tại Việt Nam cho rằng đó là một dự án rất cần thiết đặc biệt trong tình trạng Việt Nam khi hầu như chưa có sự đầu tư lớn nào vào khu du lịch này, đối lập hoàn toàn với Trung Quốc. Tuy nhiên, ông bày tỏ một số lo ngại:
Vấn đề tôi băn khoăn hơn là không biết dự án này được triển khai như thế nào và có xâm hại đến môi trường không bởi vì việc đánh đổi môi trường để làm du lịch ở Việt Nam hiện nay nhiều lắm.
- Ông Nguyễn Văn Mỹ
Bài toán ở đây là khai thác thế nào và làm sao có hiệu quả thì tôi hơi lo. Rất nhiều cấp quản lý của mình thích bê tông cốt thép, thích những khối nhà đồ sộ thì sẽ phá hủy cảnh quan. Nếu ở các khách sạn xây hay những khu resort xây thì làm sao Bản Giốc có thể cạnh tranh với những nơi khác được. Cho nên ngoài cảnh quan thác nước hung vĩ rất đẹp thì còn không gian, cảnh quan xung quanh và môi trường nữa. Vấn đề là làm sao mình giữ được những điều này thực sự là một bài toán khó. Vấn đề tôi băn khoăn hơn là không biết dự án này được triển khai như thế nào và có xâm hại đến môi trường không bởi vì việc đánh đổi môi trường để làm du lịch ở Việt Nam hiện nay nhiều lắm.
Ngoài ra còn nhiều ý kiến khác cho rằng khai thác khu du lịch tại biên giới với Trung Quốc như vậy sẽ kéo theo rất nhiều khách du lịch Trung Quốc sang thăm quan, họ e ngại sẽ gây ra tình trạng bất ổn trong nước. Trước đó nhiều nguồn tin cho biết khách du lịch Trung Quốc qua Việt Nam mở cửa hàng chỉ bán đồ cho người Trung Quốc trên đất Việt Nam. Nguồn tin khác cho biết người Trung Quốc đang xây dựng khu phố bí mật tại Đà Nẵng dù tin này đã được phía chính quyền bác bỏ. Người dân còn phản ánh nhiều cửa hàng ở Hạ Long treo biển quảng cáo tiếng Trung Quốc, nhân viên nói tiếng Trung Quốc và bán mua cũng thanh toán bằng nhân dân tệ.
Xin được nhắc lại Thác Bản Giốc là một trong những thác đẹp nhất Việt Nam, nằm tại xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Ngày 2/3/2017 Bộ Xây dựng đã trình Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồ án quy hoạch chung khu du lịch Bản Giốc với kiến nghị bảo tồn nguyên trạng cảnh quan tự nhiên thác Bản Giốc.
Ngày 20/4/2017, Thủ tướng chính thức phê duyệt dự án này. Theo kế hoạch của dự án, khu du lịch này sẽ được quy hoạch thành 2 khu chính là khu quy hoạch chung Thác Bản Giốc với quy mô 1.000 ha và khu quy hoạch chi tiết Khu trung tâm du lịch thác Bản Giốc có quy mô 156,7 ha.

Giữa Cừu và Sói

Thạch Đạt Lang (Danlambao) - Con Sói chúa ở Hà Nội, sau nhiều ngày “động não”, suy nghĩ, cân nhắc hơn thiệt về an nguy bản thân, cuối cùng đã lấy hết can đảm mò xuống đồng cỏ Đồng Tâm, Mỹ Đức để trao đổi, dàn xếp tranh chấp với đàn cừu bất mãn, chống đối lại lệnh trưng thu đồng cỏ Đồng Tâm của đàn chó sói.

Tình hình đồng cỏ đã trở lại bình thường, bản cam kết của chó Sói với đàn Cừu đã được phổ biến rộng rãi khắp nơi trên mạng, báo chí, truyền thông online lẫn báo giấy… 19 con cừu non, ngây thơ, nhẹ dạ, háu đá - được sói huấn luyện ăn thịt đồng loại, cho mặc bộ da sói - bị đàn cừu bắt đã được trả về với đàn sói.

Đàn cừu ở Đồng Tâm tạm thời có thể trở về với đời sống thường nhật. Sói đã cam kết sẽ không trấn áp, bắt giữ, ăn thịt, tấn công bất cứ con cừu nào ở Đồng Tâm. Nhiều con cừu hoan hô, ca tụng chó Sói hết mực, cho rằng Sói Hà Nội đáng mặt anh hùng, có tâm, có tầm, xứng đáng lãnh đạo đàn cừu cả nước chứ không như 4 con Sói chúa chui biến vào hang, không dám tru lên một tiếng khi biến động Đồng Tâm xảy ra.

Nhiều người cho rằng bản cam kết của chó Sói không có thị thực bằng con dấu đỏ nên không có giá trị. Điều này không đúng, có hay không có con dấu không quan trọng, bởi ngay cả khi có con dấu đỏ, Sói bội ước thì ai làm gì được Sói? Hơn nữa, Sói Hà Nội không phải là thủ lãnh tối cao, có toàn quyền quyết định về mọi sinh hoạt của đàn cừu.

Cái khốn nạn mà đàn cừu chưa nhận ra ngay là nguyện vọng của đàn, được sinh sống bình yên trên cánh đồng cỏ non của mình sẽ chìm vào trong quên lãng, sẽ không bao giờ được giải quyết thỏa đáng, hợp tình, hợp lý, bởi điều đó sẽ đi ngược lại chiều vận hành mà đàn Sói đã quy định với nhau. Đừng quên rằng trong khi bản cam kết của Sói Hà Nội được ký kết vào ngày 22.04.2017 thì hàng ngàn con sói cùng với cừu khoác da sói dữ dằn, hung ác khác đã và đang tấn công vào một đàn cừu trên khác đồng cỏ Yên Phong, Bắc Ninh.

Những con sói đầu đàn cùng đám lau nhau dưới quyền xuất thân cũng từ đàn cừu mà ra, biết được những mơ ước đơn giản, bình dị của loài cừu là chỉ cần có cỏ non, nước sạch, nơi nằm ngủ bình yên không bị mưa bão, dông tố vào mùa Đông, nắng nôi khổ cực, thiếu ăn vào mùa Hè nên khích động đàn cừu theo mình đi ăn cướp.

Khi đã chiếm được các đồng cỏ xanh tươi, những con sói dùng thủ đoạn để chiếm hữu, cai quản toàn bộ đồng cỏ theo luật lệ do bầy sói soạn thảo ra. Sói giở thói lưu manh, gian ác, nham hiểm, dối trá, chuyên quyền, không chấp nhận mọi tiếng nói khác với tiếng tru của loài sói... nên dần dần móng chân cũng như mõm dài ra, sau đó mọc răng nanh, rụng bớt lông, trở nên hiểm độc, tìm cách hiếp đáp, chèn ép cừu để hưởng vinh hoa, phú quý.

Khổ cho đàn cừu, hơn 70 năm, bao nhiêu bài học được lập đi, lập lại là không nên tin vào những gì Sói nói mà hãy nhìn kỹ những gì Sói làm. Bao nhiêu mạng cừu đã hy sinh cho con Sói chúa bước lên đường danh vọng, con Sói chết gần 50 năm, được ướp xác tôn thờ, nhiều con cừu già vẫn không hề sáng mắt, vẫn tin vào những lời nói ngon ngọt của loài Sói.

Sói là loài quỷ quyệt, cực kỳ gian manh, thủ đoạn, giỏi khích bác, luôn gây chia rẽ trong đàn cừu để dễ cai trị. Lúc yếu thế thì nói ngon nói ngọt, miệng trơn như mỡ, lúc nào cũng vì ấm no, hạnh phúc của cừu nhưng hành động thì hoàn toàn trái ngược. Nhiều con cừu cũng biết vậy nhưng vì yếu thế, thiếu đoàn kết nên không thống nhất được với nhau, không tập trung được sức mạnh để ép buộc Sói phải thực thi những điều đã nói, đã hứa. Đã thế khi có tranh chấp quyền lợi giữa những con cừu với nhau, Sói luôn luôn ưu tiên xử có lợi cho con cừu nào mõm đã dài ra, răng nanh đã nhú, mắt trở nên gian ác, tức có dấu hiệu hành xử như sói.

Bên cạnh những con cừu lơ ngơ, dại dột tin tưởng vào bản chất bất lương của loài sói cũng có những con cừu khôn ngoan, hiểu biết, mồm miệng nhanh nhẩu…, thấy Sói vừa có sức mạnh ở 4 cái răng nanh, vừa chạy nhanh lại nhiều mánh khỏe, giỏi gian manh nên a dua, ca tụng sói để hưởng ké bổng lộc. Đây chính là loài cừu hai mang, lúc nói thế này, lúc tuyên bố khác. Khi thì nói cừu bị bức xúc trước việc xử ép của lũ sói địa phương nên phản ứng rất đúng, lúc lại cho rằng cừu làm thế là sai, vi phạm luật lệ do sói đặt ra, nên vì an ninh đồng cỏ, vì lợi ích chung của cả 2 bên mà nhân nhượng sói, thả hết lũ cừu khoác da sói ra, nên đề phòng các loài thú dữ khác đang lăm le tấn công, xâm lăng đồng cỏ, kích động, gây rối tranh chấp giữa cừu và sói để hưởng lợi.

Những ngày sắp tới, tình hình Đồng Tâm sẽ bình yên, chắc chắn lũ sói sẽ không bắt giữ hay khởi tố con cừu nào ở Đồng Tâm ngay lập tức, nhưng mọi chuyện sẽ không thể dừng lại ở đó, Nếu sự việc ngưng tại đó thì lũ sói Viettel sẽ húp cháo rùa, bao nhiêu công sức, của cải hối lộ, đút lót cho những con sói nằm trong giàn sói lãnh đạo trung ương sẽ xôi hỏng, bỏng không. Những con cừu lãnh đạo, dẫn dắt cuộc phản đối cướp đồng cỏ, những con cừu vây bắt, giam giữ lũ cừu khoác da sói sẽ bị tỉa riêng, lẻ từng con trong âm thầm, bí mật với những tội danh khác nhau trong thời gian không xa.

Nếu sói để yên đàn cừu Đồng Tâm như cam kết của Sói Hà Nội có nghĩa là lũ sói chấp nhận chịu thua đàn cừu, như thế sẽ trở thành thông lệ, tập cho cừu khắp nơi phản đối, bắt con tin mỗi khi sói đi cướp đồng cỏ của cừu. Tất nhiên sói không thể chấp nhận điều này. Sói luôn tự hào là kẻ bách chiến bách thắng, không đời nào chịu thua khi bị cừu làm nhục.

Chuyện Đồng Tâm sẽ đi vào quên lãng, từ dăm ba đến vài chục con cừu nơi đó sẽ bị âm thầm làm thịt, bị bắt đưa đi mất tích, không con cừu nào khác hay biết hoặc dẫu có biết thì tiếng kêu thảm thiết, vô vọng sẽ chẳng còn con cừu nào nghe hay để ý tới để tiếp cứu.

23.04.2017


Saturday, April 22, 2017

Các Linh Mục, Tu Sĩ và 43.256 người dân tại miền Trung gửi kiến nghị về vấn đề Formosa

CTV Danlambao - Thảm họa môi trường biển tại miền Trung do thủ phạm Formosa gây ra vẫn đang là vấn đề phức tạp gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và đời sống của người dân miền Trung. Kể từ khi nhà cầm quyền Việt Nam công bố đích danh thủ phạm và tự ý nhận khoản đền bù thiệt hại 500 triệu Mỹ Kim từ công ty Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh để khắc phục hậu quả gây ra, cho đến nay người dân các tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng vẫn đang hết sức khó khăn trong cuộc sống. Mặc dù vậy nhà cầm quyền vẫn cố tình nhập nhằng trong việc chi trả khoản bồi thường thiệt hại cho ngư dân cũng như cố tình bảo vệ thủ phạm Formosa trước làn sóng yêu cầu trục xuất công ty này ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Những cuộc biểu tình phản đối Formosa của người dân trên cả nước luôn bị trấn áp bởi lực lượng công an, an ninh và “côn đồ” mặc thường phục. Những lá đơn khởi kiện của ngư dân miền Trung luôn bị bác bỏ cùng những trận đàn áp dã man khi họ tuần hành ôn hòa để nạp đơn. Số tiền đền bù thiệt hại không thể đến tay những người dân khốn khổ vì những lý do không có cơ sở xác minh thiệt hại để được nhận đền bù. Đó là việc làm vô cùng khốn nạn mà nhà cầm quyền trực tiếp gây ra trong điều kiện sống tồi tệ mà người dân đang gánh chịu. 

Những hành động bất nhân của nhà cầm quyền đã gây thiệt hại nặng nề về vật chất, tinh thần và ảnh hưởng nghiêm trong đến cuộc sống hiện tại cũng như tương lai bế tắc của người dân miền Trung. Trước thực trạng thê thảm của người dân, một số Linh Mục quản xứ thuộc Giáo hạt Vạn Hạnh, Giáo phận Vinh đã đồng hành cùng 43.256 giáo dân nhằm đòi quyền lợi chính đáng đang bị nhà cầm quyền tước đoạt. 

Ngày 20/4/2017, các tu sĩ, chức sắc Công Giáo và giáo dân trong Giáo hạt Vạn Hạnh đã gửi đến nhà cầm quyền cộng sản bản kiến nghị V/v thảm họa môi trường biển và những vấn đề liên quan.

Dân Làm Báo gửi đến độc giả trong thôn nội dung bản kiến nghị trên nhằm rộng đường dư luận cũng như kêu gọi sự đồng hành cùng người dân miền Trung đang bị ảnh hưởng từ thảm họa môi trường biển.


22/4/2017

Cuộc chiến giai cấp

Hồ Chí Phèo (Danlambao) - Ngày 30/4/1975, cộng sản Việt Nam vui mừng xem là ngày cách mạng vô sản cho toàn cõi Việt Nam. Một cuộc cách mạng dối trá, lếu láo vì nó đưa Việt Nam vào tay những kẻ độc tài, tham nhũng, tạo nên sự bất công, mất lòng tin giữa hai giai cấp thống trị và bị trị đến mức độ tồi tệ chưa bao giờ có trong lịch sử. Sau ngày tháng tư đen ấy, cuộc chiến trên đất nước vẫn chưa kết thúc, nó xẩy ra với nhiều hình thức, mức độ khác nhau cùng sự chia rẽ giai cấp ngày càng tăng, càng cách biệt lớn trong xã hội. Lý thuyết căn bản của cộng sản: "Nơi nào có bất công, không còn lòng tin, nơi đó sẽ có đấu tranh, sẽ có cách mạng". Phải chăng người dân Hà Tĩnh, Đồng Tâm đang chứng minh cho mọi người lý thuyết đó, không phải chỉ là cây gậy đập ngược lại vào lưng mà trở thành những cái tát đang vỗ bốp bốp vào cái mặt trân tráo của các ông quan lại cộng sản?

*

Đấu tranh giai cấp, theo Wikipedia, hay còn gọi là mâu thuẫn giai cấp, là sự căng thẳng hoặc đối kháng tồn tại trong xã hội do cạnh tranh về lợi ích kinh tế và mong muốn giữa người dân của các tầng lớp khác nhau. Karl Marx, lý thuyết gia cộng sản cho rằng đấu tranh giai cấp để phát triển xã hội tiến lên thiên đường cộng sản, một nơi không còn giai cấp, mọi người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. 

Nhưng đấu tranh giai cấp như thế nào? Lenin kêu gào cách mạng vô sản, chủ trương giai cấp công nhân tiến hành lật đổ giai cấp tư bản bằng vũ lực, thiết lập chính quyền chuyên chính vô sản đầu tiên ở Liên Xô. Hàng triệu triệu người đã bị giết, bị tù đày chỉ vì họ là ông chủ tư bản hoặc thương gia nhờ buôn bán giỏi trở thành giàu có. 

Kết quả của cách mạng vô sản? Trong các nước xã hội chủ nghĩa theo kiểu Liên xô, hai giai cấp xã hội mới hình thành do kết quả của hệ thống độc tài, quan liêu của đảng cộng sản cầm quyền. Hai giai cấp mới này tiếp tục đối kháng với nhau. Một giai cấp thống trị gồm những kẻ trong đảng có đủ mọi quyền hành, bổng lộc. Một giai cấp bị trị gồm những người không trong đảng, không quyền lợi, là giai cấp dân đen hay chính là… giai cấp vô sản, vô quyền. Nhiều người đã mỉa mai gọi XHCN kiểu Liên Xô này là chủ nghĩa tư bản nhà nước, chủ nghĩa xã hội nhà nước, sự quan liêu tập thể. 

Số phận nhà nước XHCN kiểu Liên Xô? Sự dối trá trong việc xây dựng xã hội hoang tưởng ở Đông Âu đã chấm dứt. Trong cuộc cách mạng của thế kỷ, cuộc cách mạng 1989, diễn tiến hoà bình, it́ có máu đổ, người dân Đông Âu đã đứng lên xóa bỏ chế độ cộng sản, một chế độ độc tài, đảng trị đã tồn tại trên đất nước họ bao nhiêu năm để quay sang chế độ dân chủ, tự do. Các đảng cộng sản trên phần còn lại của thế giới phải thay hình đổi dạng mong có cơ may được tồn tại. 

Việc đổi mới của đảng cộng sản Việt Nam? Đảng CSVN dùng khẩu hiệu “Kinh tế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa", đã biến đổi đảng “Mác Lê” trở thành đảng “Mắt Lé”. kinh tế thì theo tư bản nhưng mắt cứ lé nhìn qua chủ nghĩa Mác Lê. Trong đất nước XHCNVN đã hình thành rõ rệt hai giai cấp. Giai cấp thống trị ngày càng giàu bao gồm những đảng viên có chức vụ, “tư bản đỏ”, "nhóm lợi ích". Bọn giai cấp này sử dụng luật đảng, luật mafia để phân chia quyền lợi, tiền bạc. Giai cấp thứ hai có thể gọi là giai cấp bị trị gồm những người vô sản. Họ là dân đen, không quyền thế, luôn bị chèn ép, bị bỏ tù…. khi đấu tranh cho quyền lợi của mình. Mỉa mai thay chính họ đã là lực lượng nòng cốt trong cách mạng vô sản mà đảng cộng sản bằng sự bịp bợm đã lợi dụng trong các cuộc chiến với giai cấp tư bản. 

Khoảng cách giàu nghèo giữa hai giai cấp ngày càng tăng. Giai cấp thống trị có tài sản khủng, thoải mái khoe khoang mình có nhà cửa nguy nga, đồ sộ, con cái gửi đi du học các nước tư bản, tiền bạc ký thác ngân hàng nước ngoài, cuộc sống gia đình từ xa hoa đến xa đọa... Giai cấp bị trị chật vật lo kiếm sống hàng ngày, người nghèo xơ xác, người có người thân chết phải bó chiếu chở về nhà bằng xe gắn máy…

Tại sao, tại sao??? Trong một xã hội dân chủ tự do, người dân được quyền chọn lựa một chính phủ hoạt động hữu hiệu. Một chính phủ không độc tài, không tham nhũng... được cung cấp tài chánh hoạt động do chính tiền đóng thuế của người dân. Theo luật pháp rất minh bạch, người lợi tức càng nhiều, đóng thuế càng cao, chính phủ có tiền trợ giúp người có lợi tức thấp. Trong xã hội cộng sản VN, đảng trên tất cả, đảng nắm quyền, đảng nắm tiền, đảng nắm tài nguyên... Đảng viên trong chính quyền, giai cấp thống trị, không sống bằng tiền thuế của người dân, họ sống bằng bổng lộc, bằng nguồn tiền tham nhũng được núp dưới nhiều hình thức. Họ coi thường người dân là điều dễ hiểu, mặc dù họ vẫn trân tráo rêu rao họ là “đầy tớ của nhân dân”. Một số người dân có lợi tức trung bình, sinh kế không bị xáo trộn nhiều do chính sách nhà nước, không có thái độ đấu tranh, mặc kệ bất công, áp bức trong xã hội: "Ồ, tụi nó đâu sống bằng tiền thuế của mình đâu mà mình đòi này, đòi nọ. Nếu mình có lên tiếng đòi hỏi, nó chèn ép, làm khó dễ, ngay việc bắt mình vào tù. Phải sống với cái xấu để được tồn tại?”. Lâu ngày thái độ này trở thành thói quen, quán tính, họ thấy bất công trong xã hội, bất công giữa giai cấp thống trị và bị trị, là “chuyện bình thường”! Thái độ “bỏ qua” này khiến giai cấp thống trị được thế làm giàu thêm lên với nhiều luồn lách ngày càng tinh vi. Bất công tăng đến một lúc giai cấp bị trị không thể cḥiu đựng, không thể tiếp tục yên lặng, họ đã đứng lên. 

Cuộc chiến giai cấp? Giai cấp thống trị hưởng tiền, hưởng lợi trên khai thác, mua bán tài nguyên đất đai, khoáng sản chung của đất nước. Giai cấp dân đen đang sinh nhai trên mãnh đất đang sống nay phải bị dời đi nơi khác vì đất bị cướp hay tài nguyên đã bị hũy hoại. Chia rẽ giữa hai giai cấp xẩy ra ngay trong quân đội, công an. Sau 30/4/1975 cấp cao tướng tá trong quân đội và công an đã phù phép biến những mãnh đất công ở những địa điểm ngon lành nhất trong thành phố thành của riêng, tài sản riêng cho gia đình. Cấp cao công an còn kiếm bao nhiêu vàng bạc trong các cuộc tổ chức vượt biên, bắt vượt biên lấy tiền chuộc. Bọn chúng gia nhập hàng ngũ quan to giàu có của giai cấp thống trị. Còn công an giao thông tép riu kiếm bạc cắc, chiến sĩ ngày đêm canh giữ biển đảo,... họ có bao giờ suy nghĩ đến sự bất công giai cấp ấy trong xã hội?

Thảm họa do Formosa gây ra ở biển miền trung qua hơn một năm vẫn còn để lại nhiều hậu quả bi thương cho người dân đen. Lượng cá đánh bắt được it́ hẳn đi, và cá đánh được ở vùng này đem bán ít ai dám mua. Du lịch, nhà hàng ăn bị ảnh hưởng một cách nặng nề. Nhiều người dân đã và đang tìm cách đi kiếm sống ở các vùng khác. Trong khi đó giai cấp thống trị cười thỏa mãn. 500 triệu đô bồi thường của Formosa dễ dầu không chui vào cái túi tham lam không đáy của giai cấp thống trị. Số tiền bồi thường này có đưa người dân Hà Tỉnh về cuộc sống như xưa? Người dân Hà Tĩnh đã hiểu, đã đứng lên biểu tình, không thể để Formosa tiếp tục huỷ hoại môi trường sống, chọn thái độ không sợ sệt trước bạo quyền, trực tiếp đối đầu với giai cấp thống trị. 

Mọi người dân trong nước đang quan tâm cuộc đối đầu can đảm của người dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức với chính quyền thành phố Hà Nội, một bộ phận của giai cấp thống trị hiện nay. Cuộc chiến sẽ như thế nào? Giai cấp thống trị sẽ nhượng bộ phần nào để xoa dịu sự phẫn nộ? Sau đó còn hơn 1000 đơn thưa kiện của dân oan liên quan đến tranh chấp tài nguyên đất đai giữa hai giai cấp trong xã hội sẽ giải quyết ra sao? Người nắm lý luận cao cấp nhất trong đảng, TBT còn mãi lo rượt đưổi con ruồi Trịnh xuân Thanh, đâu còn thì giờ giải quyết đấu tranh giai cấp?

Ngày 30/4/1975, cộng sản Việt Nam vui mừng xem là ngày cách mạng vô sản cho toàn cõi Việt Nam. Một cuộc cách mạng dối trá, lếu láo vì nó đưa Việt Nam vào tay những kẻ độc tài, tham nhũng, tạo nên sự bất công, mất lòng tin giữa hai giai cấp thống trị và bị trị đến mức độ tồi tệ chưa bao giờ có trong lịch sử. Sau ngày tháng tư đen ấy, cuộc chiến trên đất nước vẫn chưa kết thúc, nó xẩy ra với nhiều hình thức, mức độ khác nhau cùng sự chia rẽ giai cấp ngày càng tăng, càng cách biệt lớn trong xã hội. Lý thuyết căn bản của cộng sản: "Nơi nào có bất công, không còn lòng tin, nơi đó sẽ có đấu tranh, sẽ có cách mạng". Phải chăng người dân Hà Tĩnh, Đồng Tâm đang chứng minh cho mọi người lý thuyết đó, không phải chỉ là cây gậy đập ngược lại vào lưng mà trở thành những cái tát đang vỗ bốp bốp vào cái mặt trân tráo của các ông quan lại cộng sản?

22/4/2017

30/4 - Chuyện Giải Buồn: Tờ Hộ Khẩu

Mai Văn Các (Danlambao) - "Sự cố" ấy là một bước ngoặt trong cuộc đời lão và nó còn đeo theo lão không biết đến bao giờ.

"Một ngày xui xẻo," lão lẩm bẩm. Mới sáng banh mắt vừa ra mở cửa, mấy con quạ đen thù lù đậu trên cây vú sữa nhà thím Năm trông thấy lão chõ mỏ kêu "quà, quà, quà..." một hồi rồi vỗ cánh bay đi. Đến chiều lúc lão đem giá gạo ra hè nhặt sạn nấu bữa tối có bé Hai chơi bên cạnh thì viên công an ở đâu sồng sộc đi vô:

- Kiểm tra hộ khẩu.

Lão ngơ ngác nhắc lại:

- Kiểm tra hộ khẩu, hộ khẩu là gì thầy?

- Không được kêu thầy, đừng giữ mãi cái đầu óc phong kiến bóc bột! 

May quá, cái đầu óc già nua tối tăm của lão như có thần ứng mách bảo cho lão hai chữ: "đồng chí, đồng chí". Lão nói:

- Thưa đồng chí hộ khẩu là gì đồng chí?

- Ai đồng chí với gia đình Ngụy? Kêu là cán bộ nghe chưa! Tờ hộ khẩu đâu?

Lão vô nhà. Cán bộ theo sau. Tờ hộ khẩu mới lấy mấy bữa trước không biết ai để đâu mất. Hồi đó tờ khai gia đình cả vài năm lão không sờ tới. Hình như cách nay gần 1 năm lão kéo từ ngăn tủ phủi bụi bặm đem ra phường thêm tên con Sáu, vợ thằng Tư và con bé Hai xong lão lại đem về vất vô chỗ cũ.

May mắn sau ngày 30/4 nó vẫn nằm chình ình ở đó để lão đem trình cho Cách mạng làm tờ Hộ Khẩu mới. Lão tới lục ngăn tủ cũ không có, lão kéo ngăn bên kia ra xem cũng không, chỉ có bản sao Tờ Khai Gia Đình hồi trước.

Lão vã mồ hôi. Cái đầu óc già nua tối tăm của lão không giúp ích gì cho lão lúc này. Mới bữa trước tổ trưởng Năm Ghi tới tận nhà giao cho lão, không biết lão để đâu. Lão đứng ngơ ngẩn bần thần.

Viên công an sẳng giọng:

- Có một tờ hộ khẩu mà cũng không biết giữ. Kiếm đi chứ!

Lão luống cuống chạy vô phòng lật đầu giường của vợ chồng thằng Tư không có, bực mình lão lật mền lật gối, tìm trong tủ quần áo cũng không. 

Lão trở ra, đứng ngơ ngẩn cố suy nghĩ.

- Kiếm đi chứ, viên Công an lại giục.

Cuống quít quay tới quay lui, may mắn thấy cái bàn viết kê sát vách, lão cúi xuống lôi ngăn kéo ra lật lật đám sách vở ngổn ngang:

-A, nó đây rồi! Lại có cả cây viết đây nữa. Cây viết Pilot nắp mạ vàng con bé Hai vẫn đòi đem ra chơi. Thế mà cái đầu óc già nua tối tăm tới lúc cùng nó cũng giúp lão, lão cười miệng méo xệch. 

Viên công an giựt lấy tờ hộ khẩu ngắm nghía:

- Mới đây mà đã lem rồi. Ai bôi xóa mấy chữ này đây? Không muốn có Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc hả?

Lão tái mặt. Chắc con bé Hai rồi. Cách đây mấy bữa nó ngồi hý hoáy làm gì nơi đây. Nét bút yếu ớt vẽ loằng ngoằng làm lem mấy chữ Độc lập - Tự Do - Hạnh Phúc trên đầu tờ Hộ khẩu. Lão hú hồn, nếu nó xoá bỏ cả cái Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa thì chí nguy.

- Xin cán bộ bỏ qua, con bé này - lão chỉ bé Hai - nhỏ dại không biết gì.

- Nhỏ dại mà biết chống đối. Lần này tha, lần sau cho nó đi cải tạo mút mùa!

- Xin Cán bộ bỏ qua. Lão sợ hãi năn nỉ lần nữa.

Viên công an lầm lì không trả lời, hắn lật xem bên trong.

- Ngô Văn Tư là ai?

- Con trai tôi.

- Ngụy hả? 

- Dạ nó đi quân dịch, không phải Ngụy.

- Đi lính cho Ngụy là Ngụy còn vòng vo gì. Nói nó Cách Mạng lúc nào cũng độ lượng khoan dung. Phải chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Đảng, của nhà nước nếu không sẽ bị đưa đi cải tạo. Tên Tư tối nay ra công an phường trình diện. 

Lão cúi đầu:

-Dạ, dạ!

Viên công an lật trở lại nói tiếp:

- Còn mấy chỗ lem này tẩy sạch đi. Mua giấy lon (nylon) bọc lại. 

Cái bút này vẽ bậy bị tịch thu!

Bỏ cây viết Pilot nắp vàng vào sà cộp, viên công an dặn lại:

- Nhớ mua giấy lon bọc lại cho tử tế, cất kỹ đi. Thấy ông già tôi thương hại làm phúc nói cho biết tờ hộ khẩu quan trọng, rất quan trọng - hắn nhấn mạnh - mua lương thực: hộ khẩu, xin việc làm: hộ khẩu, đi học: hộ khẩu. Hộ khẩu, hộ khẩu, hộ khẩu...  Nó là mạch máu của gia đình. Mua gạo, nó; mua bo bo, nó; mua khoai mì, nó; mua... mua bắp, nó. Không có nó là chết đói nhăn răng!

Lão tái mặt, phải rồi không có gạo, không có bo bo thì chết đói cả lũ, chết đói nhăn răng. Lão sợ quá tiễn cán bộ ra khỏi cổng mà vẫn còn run. 

Thím Năm đứng ở sân thấy lão thương hại hỏi nhỏ:

- Gì thế anh Bảy, sao thằng công an nói lớn vậy?

-Xuỵt! - Lão ra dấu - Nó bảo phải kêu nó là cán bộ. Đây này, con bé Hai bôi lem mất mấy chữ làm nó la lối om xòm. Làm sao gôm hết thím Năm? Lão lo lắng hỏi.

- Mực nguyên tử đây mà. Anh Bảy lấy chút bông gòn thấm cồn lau đi là hết.

Lão thở phào nhẹ nhõm chạy vội sang nhà ông Ba Chích đối diện, giơ tờ hộ khẩu cho ông Ba xem:

- Xui quá chú Ba, con bé làm lem chút mực, chú Ba cho tôi xin chút alcool tôi lau nó đi.

Ông Ba Chích yên lặng xé miếng bông gòn bằng đầu ngón tay và thấm chút alcool đưa cho lão.

- Cho tôi xin thêm chút nữa chú Ba, sợ không đủ.

- Lúc này người khôn của hiếm anh Bảy. Lau đi thiếu lấy thêm. Mai mốt sợ không có mà xài, đừng có chê !

Cuối cùng thì lão cũng lau xong tuy những vết gạch trên mấy chữ Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc không sao sạch hết. "Tạm được rồi, mai mua giấy lon bọc nữa là xong." Lão nghĩ. 

Quay về nhà thấy con bé Hai đang úp mặt lên giường lão khóc thút thít. Chắc nó thương nội bị cán bộ la hay có điều chi đây. Con bé thương lão lắm, tuy mới hai tuổi mà cái gì nó cũng biết. Nó quấn quít bên lão, nheo nhẻo nói chuyện suốt ngày. Con nít thời nay khôn sớm, người ta nói thế. Lão vuốt nhẹ trên lưng cháu dỗ dành:

- Nội nè con, sao con khóc?

Con bé vẫn khóc thút thít làm lão phải nựng nó:

- Nói cho nội nghe, nội thương, sao con khóc?

- Cán bộ lấy cây viết của con. Nội đòi cho con đi...!

*
Tối hôm ấy khi thằng Tư ra phường trình diện về, cả nhà có buổi họp để giải quyết tờ Hộ Khẩu. Con Sáu muốn cất trong tủ quần áo, thằng Tư nói để trong tủ thờ khóa lại. 

Cả hai cách lão nghĩ đều không ổn. Mới có hơn 1 tháng được "giải phóng" mà bán hết cái này đến cái kia từ radio đến cái quạt máy. Nếu mai mốt phải bán đến mấy cái tủ lão chỉ sợ quên không lấy tờ Hộ khẩu lại thì nguy.

Nghĩ thế nhưng lão không dám nói ra sợ xui .

- Thôi để ba lo, ba đã có cách, lão nói.

Tuy giải quyết xong việc giữ tờ hộ khẩu nhưng còn kiếm giấy lon ở đâu để bọc không ai biết, lão phải chạy sang nhà tổ trưởng Năm Ghi hỏi. Năm Ghi trước đây đi bẻ ghi cho Sở Hỏa Xa hết làm ở ga Sài Gòn thì ra Hòa Hưng, Thủ Đức, ổng mới về hưu mấy năm nay. Nhà có miếng ăn, miếng để, nhất là sau khi vợ chết ổng lấy người vợ kế biết chao đảo làm ăn. Cách mạng vô Sài Gòn ổng theo ngay Cách Mạng. Tính ổng xuề xòa nhưng ai nói ổng là Cách Mạng 30 ổng nghe được thì chết ngay.

Từ nhà tổ trưởng Năm Ghi ra lão mới biết bọc giấy lon là bọc nylon. Lão lại tự giận mình, giận cái đầu óc già nua tối tăm của lão có thế mà không biết. 

Sáng hôm sau lão dậy thật sớm ra phường chầu chực. Khi cửa văn phòng mở lão nhào vô ngay mua giấy lon và nắn nót bỏ tờ hộ khẩu vô xong hỏi nhân viên phần hành:

- Thưa cán bộ, bọc giấy lon thế này được chưa?

- Được, tốt lắm.

Lão mừng quá rảo bước về ngay nhà lấy đinh đục lỗ và kiếm sợi dây móc vô đeo lên cổ, ngắm đi ngắm lại. 

Thế là yên trí, không bao giờ sợ mất và điều xui xẻo nếu lão có chết thì tờ Hộ Khẩu vẫn ở cổ lão. Con cháu trước khi chôn lão cứ việc lột ra giữ lại mà xài!

Từ đó ra cửa hàng mua lương thực, đi khám bệnh... lão cứ việc từ từ cởi nút áo phanh ngực ra trình tờ hộ khẩu, xong lão cẩn thận khép áo cài nút lại.

Không ngờ cái sáng kiến nhỏ nhen ấy lại làm cho lão nổi tiếng.

Chẳng là bữa ra phường xin chứng nhận giấy, nhân viên phụ trách yêu cầu xem hộ khẩu, lão đứng phanh ngực ra trình. Vừa lúc ấy Bí thư phường đi qua thấy hay quá vỗ vai lão khen lấy khen để. Trong buổi họp nhân dân phường tối đó lão được kéo lên cho Bí thư phát bằng khen tuyên dương "Lão gìa chấp hành nghiêm chỉnh lệnh của Đảng và nhà nước" và lấy lão làm điển hình tiên tiến nhân rộng ra học tập làm lão rất hãnh diện với tờ Hộ khẩu đeo trước ngực. 

Giá lão cao lớn như mấy ông Thượng Tướng hay Đại Tướng gì đó trên TV bữa trước thì tờ Hộ khẩu lão đeo trước ngực có khác gì tấm huy chương chiến công! Thật lẫy lừng .

Từ đó người ta kêu lão là Bảy Hộ Khẩu, không còn kêu cái tên Bảy Lùn của lão như trước nữa. 

Mất gần tháng trời đi hết khu phố này đến khu phố khác làm điển hình tiên tiến, tưởng được yên không ngờ Bí Thư Quận Ủy lại cấp giấy khen cho lão, lại mở chiến dịch học tập "nhân rộng điển hình tiên tiến" kéo lão đi làm điển hình suốt 26 phường mấy tháng mới xong làm lão mệt nhoài phát ốm. 

Bây giờ thì lão chán cái tấm huy chương này lắm rồi, nhưng không đeo ở cổ lại sợ mất.

Lão nằm dán mình trên giường chán nản nhìn lên mái tôn đang tỏa nóng hừng hực. 

Ngày Cách Mạng mùa Thu (2-9) cái tủ quần áo của mẹ con con Sáu ra đi, rồi Mùa Thu Cách mạng vừa chấm dứt thì cái tủ thờ cũng âm thầm đội nón bén gót theo sau ! 

Rồi lại từ bữa lão phát bịnh tốn kém thuốc men, cái trần nhà bằng tôn lạnh Mỹ được cẩn thận gỡ đem ra chợ tôn Lý Thường Kiệt bán!

Căn nhà nhỏ bé chật chội trước đây ra đụng vào chạm những đồ đạc dần dần lão thấy rộng thênh thang. Vợ chồng thằng Tư kéo xe ba gác ra đi từ sáng sớm đến tối mịt mới về, giá không có con bé Hai lúc nào cũng quấn lấy lão thì đời lão thật sự trống vắng quạnh hiu.

Đang lúc lòng lão buồn rười rượi thì con bé ở đâu chạy về sà ôm lấy lão làm lão nguôi nguôi .

- Sao nội buồn thế? Con thương nội lắm, con bé nói.

- Bé Hai à, con cầu trời cầu Phật cho nội chết đi cho đỡ khổ.

- Không, con không cầu trời cho nội chết đâu.

- Nội không chết thì sống làm gì?

Con bé cười hóm hỉnh lấy tay chỉ vô tờ Hộ khẩu nói:

- Sống để nội đeo cái này ở cổ, ở ngực.

Lão cười cái miệng méo xệch như mếu. Không biết lão còn phải sống để đeo cái của nợ này đến bao giờ! 


Ghi chú: (1) Ngoài Bắc người ta nói bị cắt hộ khẩu là bị cắt máu, chỉ có nước chết không làm ăn gì được.