Image copyrightXinhuaImage captionViệt Nam cáo buộc Trung Quốc tấn công ngư dân đang đánh bắt tại ‘ngư trường truyền thống’
Thái Lan bắt giữ thêm 5 tàu cá và 37 ngư dân Việt Nam ‘đánh bắt trái phép trong vùng biển nước này’ trong lúc lực lượng tuần tra Quảng Bình xua đuổi 6 tàu cá Trung Quốc ra khỏi vùng biển Việt Nam.
Trong cuộc họp báo tại Bangkok hôm 7/4, Chuẩn đô đốc Watson Booneung, phó tư lệnh Vùng I Hải quân Hoàng gia Thái Lan, Hải quân Thái Lan, cho hay: “Từ ngày 3 đến 7/4, Hải quân vùng I Thái Lan đã bắt giữ tổng cộng 11 tàu cá cùng 102 ngư dân Việt Nam đánh cá trái phép”.
Các tàu cá Việt Nam đã bị Hải quân Thái Lan dẫn giải về quân cảng Sattahip trong khi các ngư dân được đưa về cảng bằng tàu chiến.
Các ngư dân ở tỉnh Cà Mau, xuất bến hôm 27/3 và bị bắt sáng 5/4 khi đi vào lãnh hải Thái Lan để đánh mực.
Họ bị đưa về tạm giam của Vùng I Hải quân Thái Lan chờ được đưa ra xét xử.
Cùng thời điểm, 18 ngư dân Việt Nam bị Indonesia bắt giữ được Đại sứ quán Việt Nam tại nước này hoàn thành thủ tục xuất cảnh và đưa về nước, Thông tấn xã Việt Nam hôm 8/4 cho hay.
Các ngư dân được trao trả đợt này thuộc các tỉnh Bình Thuận, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Hà Tĩnh và Bà Rịa - Vũng Tàu. Họ làm việc trên ba tàu cá bị bắt từ tháng 2/2016 trên vùng biển Natuna, Indonesia.
“Thuyền trưởng và máy trưởng của những tàu này sẽ bị đưa ra xét xử và có thể phải chịu án tù từ 6 tháng đến 4 năm”, Thông tấn xã Việt Nam viết.
Image captionIndonesia tiêu hủy tàu cá 'đánh bắt trái phép' trên ngư trường của họ
Báo trong nước dẫn lời Đại sứ Hoàng Anh Tuấn “nhắc nhở ngư dân Việt Nam không tái phạm việc đánh bắt cá trên vùng biển của Indonesia”.
Ông cũng bày tỏ lo lắng về con số ngư dân bị bắt tại Indonesia vẫn chưa có dấu hiệu giảm.
Tại Indonesia hiện còn khoảng hơn 100 ngư dân Việt Nam chưa được trao trả.
Từ đầu năm 2016 đến nay, đã có 9 đợt ngư dân Việt Nam được Indonesia trao trả với tổng số gần 80 người.
'Xem thường'
Trong một diễn biến khác, hôm 8/4, lực lượng tuần tra Hải đội 2 Bộ đội biên phòng Quảng Bình vừa xua đuổi sáu tàu cá Trung Quốc ra khỏi vùng biển Việt Nam.
“Sáu tàu cá Trung Quốc đã vào sâu trong lãnh hải Việt Nam, chỉ cách cửa sông Nhật Lệ, TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình khoảng 19 hải lý về phía Đông và cách cửa sông Gianh, huyện Quảng Trạch khoảng 24 hải lý về phía đông đông nam”, báo Tuổi Trẻ tường thuật.
“Một cán bộ Bộ đội biên phòng Quảng Bình cho biết lâu nay ngư dân Trung Quốc vẫn xem thường lực lượng chức năng Việt Nam vì cho rằng nếu vi phạm, phía Việt Nam cũng không bắt giữ, không xử phạt nặng và không tịch thu tàu cũng như ngư cụ của họ như phía Trung Quốc đã làm với tàu Việt Nam”, báo này viết.
Hôm 8/4, hãng AP cho hay, lực lượng biên phòng Việt Nam đã xua đuổi hơn 100 tàu thuyền Trung Quốc trong khoảng thời gian hai tuần, và bắt giữ một tàu Trung Quốc chở 100.000 lít dầu diesel để bán cho các tàu cá trong khu vực.
Image copyrightAFPImage captionMột tàu cá tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
AP tường thuật trường hợp của ngư dân Trần Lân, thuộc gia đình năm thế hệ theo nghề đánh cá tại Biển Đông, đã phải thay đổi ngư trường những năm đầu thập niên 2000 khi tàu cá của họ bị cảnh sát biển Trung Quốc đe dọa và như đâm bốn lần gần quần đảo Hoàng Sa.
Họ chuyển đến ngư trường Vịnh Bắc Bộ ít nguồn cá hơn nhưng vẫn ‘đánh bắt trong sợ hãi vì liên tục bị người Trung Quốc tấn công’.
"Chúng tôi trang bị GPS để xác định vị trí tàu Trung Quốc và lập tức tránh xa họ", ông Lân nói. "Nhưng vấn đề là tàu của họ lớn hơn và chắc chắn chạy nhanh hơn tàu cá của chúng tôi."
Tàu của họ là một trong 1.000 tàu đang neo ở cảng cá Thọ Quang, thành phố Đà Nẵng.
Việt Nam đã nhiều lần cáo buộc Trung Quốc tấn công ngư dân đang đánh bắt tại ‘ngư trường truyền thống gần quần đảo Hoàng Sa từ nhiều thế hệ’.
Ông Lân cho biết, gia đình ông kiếm được khoảng 27.000 đôla/năm nhờ nghề đánh bắt mực tại Biển Đông.
Lan Phương BBC Tiếng Việt, từ Singapore 7 tháng 4 2016
Image copyrightReuters
Một chuyên gia người Việt cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam bắt đầu “lấn lướt” và gây ra “hệ quả tiêu cực”.
Nghiên cứu của Tiến sĩ Hồ Quốc Tuấn từ Đại học Bristol, cùng với Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đặt vấn đề tại Hội thảo bàn về Việt Nam sau 30 năm Đổi Mới tại Singapore.
Hội thảo này, quy tụ nhiều chuyên gia Việt Nam và nước ngoài, diễn ra từ 7 đến 8/4.
Trả lời BBC Tiếng Việt tại hội thảo, ông Hồ Quốc Tuấn lý giải FDI ở Việt Nam từ ngày đổi mới có vai trò rất quan trọng.
Hồ Quốc Tuấn: Trong giai đoạn sau đổi mới cần lượng vốn rất lớn để đầu tư. Vai trò của FDI trước đây 1/3 là đóng góp cho nền kinh tế. Càng về các năm sau này, vai trò của họ càng ngày càng lớn hơn.
Doanh nghiệp FDI bắt đầu lấn lướt kinh tế trong nước, nhìn thấy được rõ là về xuất khẩu. Nhìn lên thấy doanh nghiệp trong nước nhập khẩu, xuất siêu là doanh nghiệp nước ngoài. Nợ công tăng lên nhiều, Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn về ngân sách, muốn đầu tư phát triển giờ không thể dùng vốn trong nhà nước được nữa.
Vậy là bây giờ vốn nước ngoài càng quan trọng hơn, chưa kể đến sau này chúng ta không còn vay được ODA lãi suất rất thấp nữa. Chúng ta phải vay nước ngoài với lãi suất cao, thì FDI là 1 nguồn vốn đổ vào để bù đắp vào chỗ trống nữa.
BBC:Vậy vấn đề của vốn FDI với tình trạng nền kinh tế Việt Nam hiện tại là gì?
Rõ ràng Việt Nam cần vốn. Nhưng cách thu hút vốn của Việt Nam là ưu đãi quá nhiều cho vốn nước người, ví dụ như ưu đãi về thuế. Trên báo chí có nói đến rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài được ưu đãi 5 – 10 năm về thuế, không đóng thuế, hoặc đóng thuế rất thấp, hoặc được hoàn thuế.
Có dự án hỗ trợ về giải phóng mặt bằng, địa phương hỗ trợ về đất đai. Rõ ràng nếu ta đưa những lợi thế đó cho doanh nghiệp trong nước, có thể doanh nghiệp vẫn có thể làm được nhiều thứ đáng kể. Nước ngoài bản thân đã rất lớn, tài chính mạnh, như Samsung chẳng hạn, giờ ta còn ưu đãi thêm cho họ thì doanh nghiệp trong nước không thể nào cạnh tranh được.
Nói về lợi thế, ví dụ giờ Samsung vào Việt Nam dùng những công ty trong nước để làm nhà cung cấp cho họ thì cũng có lợi cho trong nước. Nhưng bây giờ chúng ta quay lại sau 10 năm, chúng ta hầu như không thành công trong việc tạo ra công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam.
Chúng ta không có nhà cung cấp địa phương cho công ty lớn đó. Họ lại sử dụng nhà cung cấp từ hàn Quốc, Nhật bản, hay như Intel là họ nhập bên kia về, chỉ coi Việt Nam là bến đậu, nhập vào, lắp ráp, rồi lại chuyển đi bán ở nước ngoài.
Image captionHội thảo về Việt Nam diễn ra tại Singapore
Xem trường hợp Honda đưa vào Việt Nam và Thái Lan. Vào thời điểm có một số nghiên cứu khoảng năm 2002-2003, số doanh nghiệp phụ trợ của Honda Thái Lan gấp 8 -10 lần của Việt Nam. Vậy là cũng một hãng đó, cũng đưa một công nghệ vào, nhưng Thái Lan làm được công nghiệp phụ trợ, thì dần dần họ sẽ nắm bắt được công nghệ. Câu hỏi ở chỗ vì sao mình không làm được như vậy? Bản thân Việt Nam cũng nói phải xây dựng công nghiệp phụ trợ nhưng đến bây giờ chính sách thì vậy. Câu hỏi cho Việt Nam là thực thi chính sách đó như thế nào?
BBC:Vậy nguyên nhân của đối cực “có hại” từ doanh nghiệp FDI là gì?
Xu thế đó tự nhiên thôi. Nếu mình có nhân công giá rẻ, họ sẽ vào để tận dụng nhân công giá rẻ của mình.
Chỉ có một điều là người ta vì lợi thế kinh tế thì phải vào Việt Nam, nhưng Việ Nam lại đi ưu đãi quá nhiều cho người ta, hi vọng người ta chuyển giao công nghiệp cho. Nhưng giờ muốn chuyển giao công nghệ cũng không được, vì khoảng cách trình độ, ví dụ như Intel muốn chuyển giao công nghệ cho mình thì khoảng cách trình độ cũng rất lớn. Coi như là hao tốn rất nhiều tài nguyên của trong nước.
Việt Nam muốn đi nhanh và hi vọng nước ngoài vào sẽ giúp ta bứt phá vượt trội. Nhưng tôi nghĩ không có đường tắt. Ta lại có nhiều chính sách đi đường tắt. Nhiều địa phương lại nghĩ bây giờ tỉnh họ thu hút được Intel chẳng hạn thì đó là một thành tích, và nghĩ rằng điều đó sẽ đưa địa phương họ đi nhanh. Nhưng vấn đề là địa phương của họ chưa sẵn sàng.
BBC: Trước 10 năm sôi động này, việc đối đãi với doanh nghiệp FDI để thu hút họ vào Việt Nam có giống bây giờ không?
Trước đây cũng có ưu đãi, nhưng tôi thấy càng về sau thì ưu đãi càng lớn. Ví dụ một tỉnh họ cảm thấy làm thí điểm, làm rất mạnh và được thành công. Tỉnh khác thấy vậy cũng làm theo. Thành ra hai tỉnh tranh đua với nhau, hai bên càng phải tăng ưu đãi để thu hút người khác.
Tức là ban đầu nếu doanh nghiệp FDI vào thì có thành công ban đầu nhưng đến khi ai cũng muốn làm thì mình đẩy mức cạnh tranh ưu đãi đầu tư lên mức quá cao.
BBC:Ban nãy ta có nói đến tình trạng bội chi ngân sách. Qua quá trình đổi mới, thu nhập bình quân đầu người Việt Nam có tăng lên, vậy còn điều gì là sai ở đây?
Gọi là sai cũng không có gì hẳn là sai. Căn bản đầu tiên là lãng phí. Việt Nam dùng chữ là chi thường xuyên rất cao. Nguồn thu hiện nay của Việt Nam bị bó hẹp vì nhiều nguyên nhân, như từ bên ngoài là giá dầu giảm. Và có những nguyên nhân là vấn đề thu thuế khó.
Có một nguyên nhân khác là trong bối cảnh khó khăn chi thường xuyên giảm không nhanh bằng giảm thu. Nhiều người có nói giờ phải giảm chi thường xuyên. Giảm chi thường xuyên là cách sử dụng xe công, nếu mua quá nhiều xe công, đó là chi phí. Muốn giảm thì phải có cách quản lý lại.
Bộ máy của nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước lớn ra, phình ra thì tăng chi thường xuyên lên.
Trong đó còn đó là chi trả nợ nữa. Phần đó không tránh được vì mình vay nợ nhiều thì trả nhiều thôi. Vậy mình đã đầu tư tiền vay đi đâu? Ta cũng biết có nhiều doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả thì coi như số tiền đầu tư cho các doanh nghiệp nhà nước đó thâm hụt đi.
BBC:Bối cảnh như vậy chính là thuận lợi cho doanh nghiệp FDI?
Nhà nước không còn nguồn lực để chi đầu tư phát triển nữa. Vì giờ chi thường xuyên chiếm phần lớn, chi cho phát triển phần nhỏ, trong khi đó chi cho phát triển là giáo dục, y tế.
Bây giờ tái đầu tư nền kinh tế, muốn xây hạ tầng như cầu, metro, bảo nhà nước bỏ ra một số tiền như vậy mà bản thân nhà nước lại khó khăn thì chỉ có thể hai con đường là đi vay nợ thêm hoặc dùng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
BBC:Với đội ngũ lãnh đạo mới, đâu sẽ là giải pháp để vượt qua giai đoạn khó khăn này?
Giảm chi thường xuyên phải là mục tiêu rất quan trọng.
Phải bán bớt các doanh nghiệp nhà nước không cần thiết thì sẽ thu ngay được một số tiền lớn.
Thứ hai, một số lĩnh vực không còn bắt buộc nhà nước phải nắm giữ thì doanh nghiệp tư nhân có thể làm.
Vậy nếu bây giờ nhà nước hoàn chỉnh hệ thống thu thuế hiệu quả, doanh nghiệp kiếm được tiền sẽ chịu nộp thuế, thì hai thứ đó cộng lại nhà nước sẽ có được thuận lợi.
BBC:Nhưng bán bớt các doanh nghiệp nhà nước có khả thi không, khi một số diễn giả vẫn nói Việt Nam vẫn chọn “định hướng xã hội chủ nghĩa”?
Đây là vấn đề cả nhà nghiên cứu đã nói rồi, cải cách chính trị thì cũng chẳng phải cải cách gì to lớn. Quan trọng là Việt Nam có muốn nhà nước nắm giữ các doanh nghiệp đó không.
Kinh tế nhà nước không đồng nghĩa với doanh nghiệp nhà nước, cũng không phải thay đổi đáng kể về thể chế, chỉ cần anh định nghĩa lại kinh tế nhà nước. Ví dụ, các công trình nhà nước đầu tư cũng là kinh tế nhà nước. Vốn đầu tư nhà nước trước giờ vẫn rất lớn.
Nhà báo Phan Lợi và blogger Đoan Trang tại Việt Nam đưa ra cách nhìn khác nhau về Luật Tiếp cận Thông tin trong hai cuộc phỏng vấn với BBC hôm 06/04.
Luật Tiếp cận Thông tin được đa số Quốc hội Việt Nam tán thành và thông qua hôm 06/04, với những quy định cụ thể những quyền và điều cấm liên quan tới việc tiếp cận thông tin của công dân.
Nhà báo Phan Lợi cho việc cụ thể hóa quyền cơ bản của công dân "là quyền tự do báo chí tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin quy định ở điều 25 Hiến Pháp năm 2013 là việc vô cùng cần thiết."
"Có luật thì người dân mới có thể khởi kiện hoặc khiếu nại phía Nhà nước mỗi khi quyền này của mình không được tôn trọng.
"Còn không có luật thì không biết lấy cơ sở nào để khiếu nại? Chẳng lẽ lôi Hiến pháp ra, mà Việt Nam tổ chức bộ máy tòa án Hiến Pháp chưa có," Chủ tịch Hội đồng Khoa học của MEC (Trung tâm Truyền thông Giáo dục Cộng Đồng) nói.
Tuy nhiên blogger Đoan Trang nhận xét, cả Luật Tiếp cận Thông tin và Luật Báo chí sửa đổi được thông qua gần đây chỉ mang tính "ghi nhận thực tế" đã tồn tại.
"So với Luật Báo chí hiện giờ thì tôi thấy nó có vẻ hiện đại hơn, cập nhật hơn cho cuộc sống, đã ghi nhận quyền của người dân được tiếp cận thông tin, được sử dụng mạng xã hội...
"Nhưng về bản chất nó vẫn chỉ là ghi nhận một thực tế thôi chứ không cổ vũ hay tạo điều kiện thực sự cho người dân.
"Việc sử dụng luật báo chí để hạn chế tự do báo chí, đây là điểm không biết bao giờ họ mới thay đổi," nhà báo tự do Đoan Trang nói.
'Vừa đá bóng vừa thổi còi'
Bình luận về việc bỏ chương V quy định về quản lý của nhà nước đối với báo chí, ông Phan Lợi cho biết trong Luật sửa đổi vẫn có 13 điều cấm liên quan đến thực hiện Luật báo chí.
"Trong 13 điều cấm này so với Luật báo chí cũ thì cụ thể hơn rất nhiều, và có tăng. Điều đấy có nghĩa rằng nhà nước không quy định rõ quyền quản lý của họ nhưng với những điều cấm họ liệt kê ra thì phạm vi hoạt động của báo chí hẹp hơn.
"Tuy nhiên chúng tôi cho rằng trong bối cảnh báo chí Việt Nam tương đối lộn xộn mà các nhà báo hành nghề chưa có các bản quy tắc đạo đức nghề nghiệp chi phối thì biện pháp đưa ra nhiều điều cấm hơn ở luật báo chí cũng là biện pháp mới hơn."
Chủ tịch Hội đồng Khoa học của MEC cũng giải thích về các điều cấm công dân tiếp cận thông tin, rằng theo ông, điều khoản này nhằm giúp cán bộ, công chức có cơ sở khi từ chối cung cấp thông tin cho công dân.
"Một người có thông tin sử dụng thế nào là việc của người ta, miễn là việc đấy không xâm hại đến quyền và lợi ích của người khác hoặc tổ chức khác."
Nhà báo Phan Lợi gợi ý Việt Nam cần có một tổ chức phán quyết về xâm phạm quyền tự do báo chí, "tức là quy định công dân có quyền A, quyền B nhưng ai là người phán quyết".
Trả lời câu hỏi liệu cơ quan độc lập này nếu có, có đe dọa sự quản lý của chính quyền đối với báo chí, ông Lợi nói: "Tôi nghĩ là có cơ quan độc lập này còn tốt hơn cho chính quyền.
"Bởi vì các phán quyết của chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước hiện tại đối với các tranh chấp liên quan đến thông tin đều gây tranh cãi.
"...Đặc biệt là trong trường hợp chính cơ quan nhà nước là đối tượng được báo chí phản ánh thì trong trường hợp ấy Nhà nước lại đồng thời là người phán quyết thì tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi diễn ra.
"Tôi cho rằng có cơ chế độc lập phán quyết như vậy tốt hơn cho Nhà nước, quyết định đúng hay sai thì nhà báo sẽ tâm phục khẩu phục hơn."
'Thiếu cụ thể'
Hai ý kiến cùng chia sẻ rằng một số điểm, điều khoản trong cả hai bộ luật cần được cụ thể hóa.
Blogger, nhà báo tự do Đoan Trang lấy ví dụ, "như thế nào là bí mật quốc gia, bí mật quân sự, cơ quan nào là cơ quan được quyền quyết định đâu là bí mật, đâu là thông tin mà báo chí và người dân không thể tiếp cận?"
"Tôi cũng đồng tình với ý kiến rằng các khái niệm được nêu trong hạn chế tiếp cận hoặc cấm, cần phải được cụ thể hóa vì có những thông tin khá trừu tượng, không thì sẽ có áp dụng tùy tiện trong việc từ chối cung cấp thông tin liên quan với những cụm từ như vậy," nhà báo Phan Lợi, quản trị của Diễn đàn Nhà báo trẻ nói.
Hai nhân vật phỏng vấn của BBC dường như cùng quan điểm đối với vấn đề thi hành luật không đồng nhất ở Việt Nam, nhưng trong khi nhà báo Phan Lợi cho rằng Việt Nam đã nhận ra vấn đề này và đưa ra "nhiều biện pháp và chế tài khá mạnh cho việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ của những quy định đã có", thì blogger Đoan Trang có ý kiến khác biệt.
Nhận xét về câu hỏi của BBC về quy định trong Luật tiếp cận Thông tin rằng "mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin," blogger Đoan Trang tỏ ra không mấy bị thuyết phục.
Chị cho rằng ngay trong giới báo chí còn không có bình đẳng, khi một số tòa báo được các quan chức ưu tiên hơn, "thoáng hơn", và tuy trên lý thuyết, "mọi người đều bình đẳng trước pháp luật nhưng thực tế lại không hề như vậy".
Biên tập viên của trang Luatkhoa.org nói, "luật ở Việt Nam là một chuyện nhưng thi hành luật lại đi một đằng".
"Luật đối với nhà nước Việt Nam là công cụ để quản lý, làm sao để tạo sự thuận tiện trong công tác quản lý, siết chặt sự tự do của người dân chứ luật đối với họ không phải là công cụ để bảo vệ quyền lợi của người dân."
Image copyrightHoang Dinh Nam AFP GETTYImage captionXã hội dân sự đang ngày càng mạnh lên ở Việt Nam
Một chuyên gia phân tích chính trị nói dù Việt Nam đang cởi mở hơn về chính trị nhưng sẽ không có chỗ cho một phe đối lập.
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải từ trường Khoa học Chính trị và Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Queensland (Úc) nói Việt Nam đang sử dụng chế độ “chuyên chế linh hoạt” để giảm bớt “áp lực” nhưng điều này không đồng nghĩa với việc họ sẽ chấp nhận sự đối lập chính trị.
Trao đổi với BBC Tiếng Việt bên lề Hội thảo bàn về Việt Nam sau 30 năm Đổi Mới tại Singapore, ông Hải nói:
"Vai trò của xã hội dân sự [vốn đang ngày càng mạnh hơn] sẽ ngày càng được khẳng định. Bản thân với những gì đang xảy ra, tôi cho rằng đó là xã hội Việt Nam đang ngày càng đa nguyên hơn.
"Như việc nhiều người tự ứng cử vừa rồi, nếu nhìn ở góc độ xã hội dân sự thì chính là sự phát triển của xã hội dân sự. Người ta đang làm như vậy rồi, và đó là tốt.
"Còn ảnh hưởng của xã hội dân sự với việc xây dựng pháp luật, đối với chính trị, tôi nghĩ về mặt chính sách vai trò của xã hội dân sự đóng góp rất nhiều. Nhà nước thừa nhận điều đó. Tôi nghĩ điều đó là tốt.
"Tuy nhiên, nếu xã hội dân sự một mức độ nào đó chuyển thành một lực lượng chính trị đối lập thì đây là lời của lãnh đạo Việt Nam nói, họ sẽ không chấp nhận sự đối lập ở Việt Nam. Nếu lực lượng đối lập này thách thức, thay đổi, lật đổ chế độ thì họ không chấp nhận."
Việt Nam hơn Trung Quốc
Ông Hải khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục thay đổi trong thời gian tới và sẽ "ngày càng cởi mở".
Image copyrightReutersImage captionViệt Nam được cho là cởi mở hơn Trung Quốc về chính trị
Ông nói Hà Nội đang đi trước Bắc Kinh về thay đổi chính trị:
"Tôi từng định viết về một số điểm khác biệt của chính trị Việt Nam với chính trị Trung Quốc, đặc biệt là trong giai đoạn chính quyền Tập Cận Bình của Trung Quốc.
"Về mặt xã hội, Việt Nam có vẻ ngày càng đa nguyên hơn. Trong khi đó xã hội Trung Quốc ngày càng đóng.
"Về báo chí Việt Nam, nếu khách quan theo dõi báo chí Việt Nam sẽ thấy cách đưa tin cũng ngày càng đa nguyên hơn. Ví dụ báo chí phản ánh được rất nhiều tiếng nói trái ngược nhau. Tôi thấy rất tốt. Trung Quốc thì Tập Cận Bình kêu gọi báo chí trung thành với đảng, là khép kín.
"Về bầu cử trong Đảng, Trung Quốc không có sự cạnh tranh, dân chủ như vậy, họ chọn sẵn lãnh đạo. Còn ở Việt Nam ít ra còn có các đề cử, đề xuất dân chủ.
"Ngay cả giữa Trung Quốc và Việt Nam, Việt Nam đã cởi mở hơn, đa nguyên hơn, và đảng biết cách làm thế nào đó để chấp nhận được những cái gì có thể cởi mở được."
'Mạnh mẽ và đổi mới'
Tiến sỹ Hải cũng nói người ta cần nhìn chính trị Việt Nam rộng hơn là chỉ gói gọn trong bốn vị trí là tổng bí thư, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, thủ tướng chính phủ.
"Ta phải nhìn nhận rộng hơn, ban lãnh đạo Việt Nam với tư cách là Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương và tất cả gương mặt trong hệ thống lãnh đạo đó.
"Nói gì thì nói, Việt Nam bây giờ với những gì đang diễn ra, cho thấy là đang nhấn mạnh đến sự lãnh đạo tập thể hơn là vai trò và tập trung quyền lực vào một người.
"Chính vì thế, khi ta nhìn vào vai trò của một người là không đầy đủ, mà phải nhìn vào sự lãnh đạo của tập thể Đảng Cộng sản Việt Nam.
"Với những gương mặt mới, lãnh đạo mới trong Đảng Cộng sản Việt Nam tôi nghĩ sẽ có rất nhiều thay đổi về cách thức hành động.
"Về mặt chính sách sẽ không thay đổi, điều đó thể hiện rõ trong Nghị quyết của Đảng rồi.
"Nhưng trong cách thức hành động họ sẽ thay đổi, sẽ làm tốt hơn. Ví dụ như trường hợp của ông Đinh La Thăng, Bí thư Thành phố Hồ Chí Minh.
"Cách thức của ông là mạnh mẽ và đổi mới."
Nhà quan sát chính trị hiện ở Đại học Queensland, Australia, cũng nói Đảng Cộng sản ý thức được việc họ phải có tinh thần vì dân:
"Ở một số địa phương, tôi nhận thấy bây giờ có vẻ như lãnh đạo, thậm chí là người đứng đầu về Đảng họ làm tập trung vào hành động nhiều hơn, làm có vẻ tốt hơn.
"Tôi nghĩ Đảng nhận thức rõ người dân là quan trọng. Vâng, ở góc độ nào đó mình phải nhìn nhận thực tâm của họ. Anh muốn tồn tại hay không thì anh cũng phải phục vụ người dân nhất định cho dù thế nào chứ.
"Chúng ta đừng chỉ nghĩ họ nói vậy chỉ là để hoa mỹ, phải nhìn nhận cái thực tâm của họ. Còn tất nhiên, khi triển khai hành động, việc làm thì có thể thất bại, có cái này khác, do người đó thực hiện.
"Có những lãnh đạo địa phương có vẻ là im lìm, nhưng cũng có lãnh đạo địa phương họ làm rất tích cực. Vậy chúng ta không nên đồng hoá tất cả vấn đề, mà cần nhìn vào trường hợp cụ thể."
Linh hoạt chính trị
Trong trả lời phỏng vấn BBC ở Singapore, tiến sỹ Hải cũng nói về bốn yếu tố "chiến lược" mà các nhà lãnh đạo Việt Nam áp dụng trong 30 năm Đổi Mới bao gồm cải cách kinh tế từ 1986, linh hoạt ứng xử chính trị, ứng xử với các lực lượng đối lập, và mở rộng quan hệ đối ngoại.
Ông nói: “Sự linh hoạt về cách ứng xử chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam như việc việc đảng chấp nhận cho các thành phần kinh tế trở thành đảng viên, nói cách khác là đảng viên làm kinh tế, giúp tăng cường năng lực của đảng với kinh tế thị trường. Ở Trung Quốc đã làm trước Việt Nam rất nhiều, tôi không dùng từ Đảng Cộng sản Việt Nam học lại từ của Trung Quốc. Đó cách mà các đảng như ở Việt Nam và Trung Quốc thích ứng với môi trường.”
Image copyrightAFP GETTYImage captionÔng Hải đánh giá cao chuyến đi Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
Về ứng xử với các lực lượng đối lập, ông Hải nhận định: “Tôi dùng từ này trong phạm vi chính trị học, lực lượng đối lập là thách thức sự cầm quyền, sự lãnh đạo của đảng, muốn thay đổi chế độ.
“Ở góc độ nào đó, người ta gọi là cực đoan, trấn áp nhưng tôi nghĩ suy cho cùng ai đã cầm quyền đều muốn giữ quyền cả, chỉ là họ muốn giữ quyền bằng cách nào thôi.
“Trong một nước chỉ có một đảng cầm quyền, đương nhiên đảng đấy muốn tiếp tục cầm quyền, tiếp tục giữ, họ có thể áp dụng chiến lược này khác, với nhiều người là trấn áp. Nhưng tôi cho cách họ ứng xử rất khéo.
“Về mặt chính trị, mở rộng quan hệ đối ngoại sẽ đem lại lợi ích chính trị cho đảng, là tăng cường được sự thừa nhận của đối tác nước ngoài với Đảng Cộng sản Việt Nam.
"Việc Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sang thăm Mỹ tháng Bảy năm ngoái và được tiếp đón và hội đàm với Tổng thống Obama trong Nhà Trắng, nó không phải chỉ là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ hai nước, mà nó còn có ý nghĩa trong quan hệ giữa Mỹ và một nước cộng sản.
"Và việc ông Nguyễn Phú Trọng đứng đầu một đảng, không có cương vị về mặt chính quyền mà có mặt hội đàm với Tổng thống Mỹ trong Nhà Trắng, cũng là một sự kiện lịch sử với Nhà Trắng.”
“Tôi cho rằng chưa bao giờ một tổng thống Mỹ tiếp một lãnh đạo Đảng Cộng sản cầm quyền trong Nhà Trắng. Có nhiều người nói với tôi vậy Đặng Tiểu Bình thì sao? Nhưng tôi nghĩ việc Đặng Tiểu Bình hội đàm tại Nhà Trắng với Tổng thống Jimmy Carter, khi ấy ông ấy là Phó thủ tướng Chính phủ.
"Tất nhiên ông ấy là người về mặt Đảng không phải là tổng bí thư đảng nhưng có thể hiểu là người đứng đầu về đảng thời điểm đó, vì ông là chủ tịch quân uỷ trung ương, nên vai trò của ông Đặng Tiểu Bình rất lớn.
“Trong tuyên bố chung giữa Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng với tổng thống Barrack Obama có một điểm rất quan trọng: Mỹ thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ở Việt Nam. Ta có thể nói là “ý tại ngôn ngoại”, đó là thừa nhận vai trò chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tôi nhìn góc độ mở rộng quan hệ đối ngoại của Việt Nam ở góc độ đó.
“Mở rộng quan hệ đối ngoại cũng bớt đi áp lực của các nước ngoài với Việt Nam, chẳng hạn với các nước phương Tây luôn gây áp lực về dân chủ, nhân quyền. Khi tăng cường quan hệ với các nước như vậy, họ cũng giảm được áp lực đó lên họ. Đó là một chiến lược và ta có thể nhìn nhận nó giúp Đảng Cộng sản Việt Nam.”