Wednesday, November 25, 2015

'Không để ý thức hệ giáo điều cản trở'

Theo BBC-7 giờ trước 

Image copyrightAFP
Image captionViệt Nam nói là theo nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa
Một cây bút hàng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa có bài viết trên Tạp chí Cộng sản kêu gọi Đảng 'không biệt phái, giáo điều' và đừng để ý thức hệ cản trở nguồn lực dân tộc 'sáng tạo, phát triển'.
Bài viết của Giáo sư Hoàng Chí Bảo từ Hội đồng Lý luận Trung ương của Đảng cầm quyền hiện nay tại Việt Nam có tựa đề theo thông lệ là 'Xây dựng Đảng về đạo đức' nhưng nêu ra một số nội dung khác thường lệ.
Trong cuộc tranh luận về đường lối vốn thường diễn ra trước kỳ đại hội Đảng, ông Hoàng Chí Bảo nêu ra quan điểm đã được giới xã hội dân sự và nhiều trí thức Việt Nam đề cập, là đổi mới không thể chỉ có kinh tế.
Ông viết:
"Đổi mới không chỉ thay đổi mô hình kinh tế mà còn thay đổi mô hình phát triển xã hội nói chung."
"Phải vượt qua tư duy cũ về phát triển - kiểu phát triển tuyến tính, đơn trị, chỉ phát triển quan hệ hợp tác trong một hệ thống (xã hội chủ nghĩa), theo mô hình Xô-viết, tự tách mình khỏi phần còn lại rộng lớn của thế giới, không có quan hệ với phương Tây tư bản chủ nghĩa."
Có vẻ như đây là sự xác tín lại các đường lối hội nhập ngày càng tăng tốc sau khi Việt Nam ký Hiệp định hợp tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) gần đây, khi ý thức hệ không còn đóng vai trò như trước.

'Không biệt phái và giáo điều'

GS Hoàng Chí Bảo cho rằng:
"Trước biến động dữ dội của thế giới toàn cầu hóa, với cách mạng khoa học - công nghệ và sự bùng nổ thông tin và công nghệ thông tin, kiểu phát triển “khép kín”, “ốc đảo” đó đã tỏ ra lỗi thời, hoàn toàn mất tính triển vọng."
Image copyrightGetty
Image captionTác giả nhắc lại 'đạo đức Hồ Chí Minh'
"Do đó, đổi mới tất yếu phải gắn liền với hội nhập, hợp tác song phương và đa phương để phát triển."
Trong bài viết hôm 20/11/2015, tác giả còn cho là không thể để ý thức hệ cản trở hợp tác:
"...Việt Nam, là bạn của tất cả các nước, không biệt phái và giáo điều, không để sự khác biệt ý thức hệ cản trở quá trình hợp tác, hiểu rõ hợp tác đi liền với cạnh tranh và đấu tranh..."
Tuy nói Việt Nam vẫn "giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa để kiên định lý tưởng" tác giả nhấn mạnh đến "phong cách lãnh đạo trí thức của Đảng trên tinh thần Đổi mới - Dân chủ - Khoa học - Nhân văn để Sáng tạo và Phát triển", theo lời trong bài.
Ngoài ra, ông cũng nhấn mạnh đến lợi ích dân tộc và cho rằng:
"Cần phải phát huy ý thức dân tộc, sức mạnh của cộng đồng dân tộc thống nhất, động lực của lòng yêu nước để bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước cường thịnh vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân."
"Đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính, nuôi dưỡng và phát triển các giá trị, các nguồn lực nội sinh của phát triển bền vững."
Tuy nhiên, về giải pháp, tác giả vẫn nêu lại một số tiêu chí về 'đạo đức cách mạng' đã được cố chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra.
Ông cũng phê phán chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm chứ chưa đề cập tới nhu cầu xây dựng hệ thống pháp luật công bằng cho tất cả mọi công dân, kể cả các đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản.
Nếu như Việt Nam đang đưa ra những kêu gọi chưa cụ thể về đạo đức cá nhân và tinh thần chí công vô tư bị xói mòn trong kinh tế thị trường thì lãnh đạo Tập Cận Bình ở Trung Quốc đã tấn công thẳng vào các thành trì của bè phái trong chiến dịch Đả hổ diệt ruồi.
Image copyrightGetty
Dù vậy, như một số nhà quan sát phương Tây gồm GS Sebastian Veg từ Paris nhận định, nếu truy quét các phái 'tham nhũng' quá mạnh trong Đảng, ông Tập sẽ 'tạo ra khủng hoảng chính trị ở cấp cao nhất'.
GS Hoàng Chí Bảo ở Việt Nam cũng nêu ra nguy cơ cho 'sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ' một khi các căn bệnh "suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, quan liêu, xa dân, thói vô trách nhiệm..." không chữa được.
"Tham nhũng vừa là nguy cơ, vừa là quốc nạn bởi nó đã trở nên phổ biến, ở mọi nơi, với những mức độ, hậu quả khác nhau. Đây là nguyên nhân chủ yếu làm giảm sút nghiêm trọng niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng. Thực trạng này đang đe dọa tới sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ như Đảng đã cảnh báo", ông Hoàng Chí Bảo cảnh báo.
Dù tình hình nghiêm trọng như vậy, ông chỉ dừng lại ở mức đề xuất "xây dựng Đảng về đạo đức, lối sống" và tăng cường giáo dục và thực hành đạo đức sâu rộng, thường xuyên trong toàn Đảng"...

Tọa đàm về Quyền lập Hội ở Việt Nam: món nợ 70 năm chưa đòi được - Phần 2

 J.B Nguyễn Hữu Vinh, viết từ Hà Nội 
Theo RFA-2015-11-25  
Hoithao_Quyenlaphoi_620
Buổi tọa đàm về quyền lập hội hôm 21/11/2015 do Chi hội Miền Bắc, Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam tổ chức Credit: JB Nguyen Huu Vinh  
Đau thì phải đẻ, đói thì phải ăn, ngạt thì phải thở
Lẽ thường, khi Hiến pháp đã quy định rõ ràng, thì hệ thống nhà nước phải ban hành đầy đủ luật lệ để đảm bảo quyền của công dân. Thế nhưng, như trên đã nói, trừ Đảng Cộng sản là cơ quan không cần luật, vẫn ngang nhiên tự tung tự tác và tự cho mình quyền đè đầu cưỡi cổ người dân. Phần còn lại, mọi hoạt động của công dân, nếu không làm vừa ý nhà cầm quyền, đều được chú ý và trừng trị, đàn áp không thương tiếc mà cũng chẳng cần đến luật. Những bộ luật còn lại, hầu như chỉ để nhằm hạn chế quyền đó của công dân.
Thế nhưng, cũng là lẽ thường, mọi quyền cơ bản của người dân là nhu cầu cấp thiết và không thể dừng lại. Và dù đã nín nhịn và chịu đựng đến 70 năm qua, thì nhu cầu đó vẫn cứ tồn tại như một nhu cầu bản năng. Bởi lẽ, là con người, thì dù có luật hay không, họ vẫn phải sống, phải ăn uống và hít thở không khí. Nếu Hiến pháp có ghi rõ là: Công dân có quyền sống, ăn uống, hít thở "theo quy định của pháp luật" đi nữa, mà không có luật, thì công dân vẫn phải cứ sống, ăn uống và hít thở không khí.
Việc không chịu ban hành các luật lệ, tạo cho người dân thói quen hành động không theo luật lệ là trách nhiệm của nhà nước, của chính phủ và cái gọi là Quốc hội của đảng. Còn việc được hưởng các quyền của mình là việc đương nhiên như cơm ăn, nước uống và không khí hàng ngày. Chẳng ai có thể vì không có luật, nên công dân phải nhịn thở không khí.
Đã 70 năm, kể từ khi bản Hiến pháp đầu tiên ra đời, gần 60 năm, kể từ khi bản Sắc lệnh số: 102/SL-L004 ngày 20 tháng 05 năm 1957 được ban bố về quyền lập hội ra đời. Trong các văn bản đó ghi rằng: "Thể lệ lập hội sẽ do Chính phủ quy định". Thế nhưng, từ đó đến nay, chính phủ, nhà nước, quốc hội... đều đánh bài lờ.
Đây là món nợ khó đòi của người dân Việt Nam dưới một chế độ luôn lấy bạo lực làm đầu.
Có lẽ đã đến lúc phải nhắc lại đến một câu nói của Hồ Chí Minh: “Trong lời tuyên ngôn của Mỹ có câu rằng: “Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng... Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đạp đổ chính phủ ấy đi, và gây lên chính phủ khác... ”. (Trích Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 270).
Và đến lúc, thì các Hội, nhóm vẫn phải ra đời để đáp ứng nhu cầu xã hội và công dân. Bởi đói thì phải ăn, đau thì phải đẻ. Trong bối cảnh đó, các nhóm Xã hội Dân sự và Hội nhà báo Độc lập Việt Nam ra đời cùng với các nhóm, hội khác.
Những phản ứng ban đầu của các cơ quan nhà nước thông qua báo chí quốc doanh, là sự dọa nạt, khiêu khích và thiếu thiện chí. Tuy nhiên những sự ngụy biện và lấp liếm của họ, chỉ là những phản ứng cho thấy sự lúng túng và tháu cáy của một cách làm không chính danh và một nhà nước không đàng hoàng. Tất cả những điều đó, trong thời đại Internet toàn cầu đã không có mấy tác dụng.
Và các hội, nhóm xã hội dân sự, trong đó có Hội nhà báo Việt Nam Độc lập vẫn ra đời, tồn tại và tiếp tục phát triển như một xu hướng không thể đảo ngược.
Những quy định không giống ai
Trước những đòi hỏi của sự hội nhập theo các định chế Quốc tế, Việt Nam đã đến lúc dù không muốn, vẫn phải đặt ra cái gọi là "luật". Thế nhưng, những cái luật đó ở Việt Nam ra sao?
Chưa cần nói đến việc thi hành trong thực tế, mà chỉ cần nói đến cách ban hành, cấu tạo Luật ở Việt Nam để hiểu một phần nào thực chất của nó là gì. Cụ thể, ở đây phân tích một vài chi tiết của Dự thảo Luật về Hội mới được khởi xướng và công bố.
Dù rằng trong các văn bản luật pháp và môi miệng quan chức nhà nước CSVN, ngôn từ "bình đẳng" luôn được nhắc đến một cách kiên trì, nhẫn nại đến mức đáng kinh ngạc. Thế nhưng như người đời thường nói: Người ta chỉ hay nhắc đến những gì người ta thiếu (!)
Ngay trong Dự thảo Luật về Hội, điều đầu tiên quy định như sau: "Điều 1, khoản 2. Luật này không áp dụng với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam; tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng".
Điều đó nghĩa là gì? Với những cánh tay nối dài của Đảng CS nhưng được nuôi bằng tiền thuế của dân, cũng đều được hưởng đặc lợi như cái Đảng của mình - Không cần luật. Riêng với các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo, thì ngược lại, được loại ra khỏi luật để trở thành đối tượng đặc biệt không được hưởng những điều kiện tối thiểu của một Hội.
Điều này, có nghĩa là tạo ra trong xã hội Việt Nam những nhóm hội con nuôi và con đẻ của Đảng và nhà nước. Điều này thể hiện sự bất bình đẳng và phân biệt đối xử ngay trong các tổ chức xã hội.
Tiếp theo là những mánh lới như sợi dây thòng lọng "theo quy định của pháp luật" để tiếp tục dùng những văn bản dưới luật khống chế quyền của công dân. Hoặc vẫn tiếp tục có những quy định mơ hồ như "phương hại đến an ninh quốc gia, an toàn xã hội, khối đại đoàn kết dân tộc"... (Khoản 2, điều 8, Dự thảo Luật về Hội) mà các cơ quan công quyền có thể suy diễn chủ quan theo ý mình nhằm kết tội công dân, thực chất là để hạn chế quyền công dân đã được mổ xẻ trong Hội thảo này.
Không chỉ có thế, những quy định trong bản dự thảo Luật về Hội được đặt ra như "Đăng ký Ban vận động thành lập Hội", "phải có đủ số người đăng ký tham gia hội tối thiểu theo quy định của Chính phủ"... rồi việc các chủ tịch chính quyền các cấp cho đến Thủ tướng phê duyệt điều lệ Hội... đều là những "biện pháp kỹ thuật" hết sức nhiêu khê và phức tạp. Điều này hạn chế cơ bản quyền được lập Hội của Công dân.
Những phức tạp, rối rắm mà cái Dự thảo này đưa ra, Tiến sỹ Nguyễn Quang A thì đánh giá: "Dự thảo tồi hơn cả mười năm trước". Và người ta kêu lên rằng: "Dự thảo luật về Hội, thực chất là nhằm ngăn cản quyền tự do thành lập Hội đoàn độc lập".
Thực chất, việc đưa ra một bộ luật như Dự thảo ở đây, chỉ là một sự thách đố và nhằm thâu tóm hầu hết những phương cách để người dân thực hiện quyền cơ bản của mình là quyền tự do lập hội. Ở đó, tất cả lại tiếp tục phải đặt mình vào bàn tay quản lý, kiềm chế và giám sát khắt khe theo ý thích của nhà cầm quyền. Các hội đoàn độc lập của người dân khó có cơ hội được thành lập, các tổ chức tôn giáo buộc đứng ra ngoài việc được công nhận các tư cách pháp nhân.
Từ xa xưa, trong chế độ Cộng sản Việt Nam vốn không có hoặc rất ít luật, mọi sự cai trị phụ thuộc vào nghị quyết, chỉ thị và hướng dẫn hoặc ý thích của các cá nhân thuộc Đảng CS. Từ ngày hội nhập, Việt Nam đã có khá nhiều bộ luật được ban hành.
Thế nhưng với những sự mơ hồ và thiếu rõ ràng, minh bạch trong các câu chữ cũng như việc thực hiện tùy tiện bằng ý chí chủ quan bởi "sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng CS" các bộ luật được sinh ra nhiều khi chỉ để làm cảnh mà chưa có tác dụng thực tế.
Đặc biệt việc áp dụng luật tùy tiện và nạn đánh tráo khái niệm ngôn ngữ... đã biến các bộ luật Việt Nam như một hệ thống lưới đủ các loại cỡ khác nhau rải dưới lòng chiếc ao cạn. Chỉ đến khi nào Đảng, nhà nước cần bắt loại "cá" nào, thì loại lưới tương ứng được kéo lên. Còn lại, nếu "đàn cá" ngoan ngoãn thì cứ tha hồ tung tăng bơi lội, phá phách mà không hề sợ pháp luật. Nhất là những loại "cá" có lý lịch, thân nhân thuộc về Đảng CSVN.
Kể từ khi Sắc lệnh số: 102/SL-L004 ngày 20 tháng 05 năm 1957 về Quyền lập Hội ra đời đến nay, người dân vẫn chưa được hưởng bất cứ quyền lập hội độc lập nào. Thậm chí nhiều người đã trả giá cho việc giành quyền này của mình bằng tù tội,  bằng mạng sống.
Trên thực tế, nếu bộ luật này được thi hành triệt để, thì có lẽ Nhà nước Việt Nam đã không biết bao lần phải đi tù về bộ luật này quy định:
Điều 2. ... - Không ai được xâm phạm quyền lập hội và quyền tự do vào hội, ra hội của người khác.
Điều 7. Người nào xâm phạm đến quyền lập hội hoặc đến quyền tự do vào hội, ra hội của người khác có thể bị cảnh cáo hoặc bị truy tố trước toà án và bị xử phạt tù từ một tháng đến một năm.
Và chính nhà nước này, dưới sự lãnh đạo của Đảng CS, đã vi phạm trầm trọng và có hệ thống những điều luật này. Họ đã tước đi quyền lập hội của hàng trăm triệu người dân Việt Nam suốt 70 năm nay.
Sự quan tâm của Cộng đồng Quốc tế
Lẽ thường, ở các nước độc tài thì việc trao quyền cho người dân, nghĩa là nhà nước độc tài sẽ mất đi vị thế của mình trong sự cai trị. Hẳn nhiên là điều đó chẳng có một nhà nước độc tài nào muốn.
Tuy nhiên, khi muốn hội nhập vào sân chơi chung của thế giới, việc một mình một chợ, riêng mình một luật đã không còn được sự chính danh và không thể hòa nhập chung. Nhà nước Việt Nam đã dần dần phải nói đến "luật" và nói đến "quyền công dân". Thậm chí đã phải phê chuẩn tham gia các Hiệp ước quốc tế về quyền con người và các vấn đề khác. Dù lời nói và thực tế của họ luôn là một khoảng cách xa vời vợi.
Điều này nhằm đối phó với dư luận và sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Nhưng, sự quan tâm của Cộng đồng quốc tế không chỉ là vì những lời nói suông hoặc chỉ là những ngôn từ mỹ miều từ nhà nước.
Tại cuộc Tọa đàm, ông David V. Muehlke Viên chức chính trị ĐSQ Hoa Kỳ đã phát biểu:
- Chính phủ Hoa Kỳ trong mọi điều kiện đều hành động theo những tiêu chuẩn và lý tưởng về tự do tôn giáo và bảo vệ nhân quyền. Tuy nhiên, chính phủ Hoa Kỳ rất thực tế và sát thực trong từng điều kiện. Chúng tôi không muốn gây ra một cuộc Cách mạng, nhưng chúng tôi xúc tiến và thúc đẩy để mọi nơi đều được phát triển về quyền con người và tự do tôn giáo.
Chúng tôi sẽ công khai với mọi người về Hiệp định TPP, trong đó có các quyền tự do lập Công đoàn độc lập và về vấn đề lao động. Hiệp định TPP là một quá trình phức tạp. Hiện nay, hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam chưa phê duyệt, nên chưa thể nói đến những cam kết của chính phủ hai nước. Sau 2 năm, Việt Nam sẽ có khoảng 3 năm để cho các vấn đề Công đoàn độc lập và lập hội được giải quyết.
Chúng tôi cũng lưu tâm đến các Dự luật ở Việt Nam. Chúng tôi muốn biết về những sự mơ hồ cũng như các biện pháp để hạn chế các quyền công dân.
Do vậy, nếu có những vấn đề với các cơ quan Công an, nhà nước về những vấn đề này, chúng tôi đề nghị các vị thông tin kịp thời đến chúng tôi.
Đại diện Đại sứ quán Vương Quốc Anh, ông Graham Knight Trưởng bộ phận chính trị, ĐSQ Anh phát biểu:
- Tôi đã được trực tiếp nghe các vấn đề về Xã hội dân sự và quyền lập Hội ở Việt Nam. Đại sứ quán Anh rất quan tâm đến vấn đề nhân quyền, tự do báo chí và tự do lập hội cũng như các quyền dân sự, chính trị của người dân Việt Nam. Tôi hy vọng trong tương lai, chúng ta sẽ có các cuộc gặp gỡ để trao đổi với nhau về tình hình Việt Nam để hiểu hơn thực tế ở đây.
Còn ông Gustav Dahlin tuỳ viên chính trị ĐSQ Thụy Điển, dù mới đến Việt Nam được mấy ngày, cũng đã đến dự và quan tâm các vấn đề được nêu ra. Ông cảm thấy rất thích thú khi được dự cuộc tọa đàm để hiểu hơn về tình hình Việt Nam.
Tạm kết
Cuộc Tọa đàm về Quyền lập hội được tổ chức đơn giản, gọn nhẹ nhưng đã có ý nghĩa quan trọng và to lớn. Ở đó nhiều vấn đề được đặt ra, mổ xẻ giữa các thành viên trong và ngoài Chi hội Miền Bắc, Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, trước sự chứng kiến của các quan chức quốc tế quan tâm đến những quyền cơ bản của công dân Việt Nam.
Ở đó cũng đã nêu rõ những vấn đề mà người dân sẽ mắc phải khi bộ Luật về Hội được thông qua mà không có những điều chỉnh cần thiết. Nó sẽ chỉ là một chiếc dây thòng lọng nhằm thắt cổ, cột chặt quyền cơ bản này của người dân. Thực chất, đó là hành động trấn cướp công khai quyền của người dân bằng cách thiếu lương thiện.
Đây là cuộc tọa đàm công khai, mở ra nhiều điều đáng quan tâm trong môi trường xã hội Việt Nam trên một mặt trận mới: Đấu tranh trên phương diện pháp lý và xây dựng Luật, để bảo vệ quyền cơ bản của con người Việt Nam.
Hà Nội, ngày 24/11/2015
· J.B Nguyễn Hữu Vinh
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

Tọa đàm về Quyền lập Hội ở Việt Nam: món nợ 70 năm chưa đòi được - Phần 1

 J.B Nguyễn Hữu Vinh, viết từ Hà Nội 
Theo RFA-2015-11-24  
620
Các thành viên của Chi hội, đại biểu của Hội anh em Dân Chủ và một số khách ngoại giao tham dự buổi tọa đàm-Photo by J.B Nguyen Huu Vinh
Buổi sinh hoạt nhỏ với ý nghĩa lớn
Ngày 21/1/2015, tại một quán cafe ở Hà Nội, Chi hội Miền Bắc, Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam tổ chức cuộc Tọa đàm về Quyền lập Hội.
Tham dự buổi tọa đàm, ngoài các thành viên của Chi hội, lần đầu tiên Ts Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội từ Sài Gòn ra tham dự. Ngoài ra, buổi tọa đàm còn đón nhận đại biểu của Hội anh em Dân Chủ và một số khách ngoại giao của các Đại sứ quán Hoa Kỳ, Vương Quốc Anh và Thụy Điển.
Mở đầu buổi Tọa đàm, Ts Phạm Chí Dũng đã chúc mừng Chi hội Miền Bắc vẫn giữ được nếp sinh hoạt đều đặn và ngày càng có chất lượng. Ông cũng nêu lên những nhận định về tình hình trong nước và quốc tế, những thuận lợi và khó khăn của Hội nhà báo Độc lập Việt Nam thời gian qua, cũng như hướng đi sắp tới của Hội và những việc cụ thể cần làm.
Tại buổi tọa đàm đã có những ý kiến sôi nổi của các thành viên cũng như các chuyên gia, các quan khách ngoại giao được thẳng thắn đề cập và mổ xẻ về tình hình ở Việt Nam, những khó khăn và những vấn đề đối với Quyền lập hội của người dân Việt Nam cũng như sự quan tâm của các chính phủ đối với quyền con người, trong đó có Quyền lập Hội.
Với một Hội đoàn được thành lập cách đây hơn một năm của những người có tâm huyết muốn cất lên tiếng nói độc lập, nói lên tiếng nói sự thật, tiếng nói của người dân, ra đời trong hoàn cảnh ngặt nghèo bị đe dọa bằng nhiều cách, khủng bố bằng nhiều hình thức... Thì việc tổ chức cuộc hội đàm về Quyền lập hội ngay giữa Thủ đô có một ý nghĩa rất lớn lao.
Quyền tự do lập hội từ lời nói đến thực tế ở Việt Nam
Có lẽ từ thời tiền sử của loài người, việc kết giao, lập thành hội nhóm nhằm để chống lại và khắc phục những ảnh hưởng của thiên nhiên, môi trường, xã hội... là một nhu cầu minh nhiên và cơ bản của loài người.
Đến thời hiện đại, cả thế giới đặt vấn đề quyền con người lên hàng trọng tâm của sự quan tâm, thì Quyền tự do lập hội càng được tôn trọng. Trong lời nói đầu của Nghị quyết 15/21 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc ghi rõ: "Tự do hội họp và tự do lập hội là những quyền quan trọng giúp thực thi nhiều quyền dân sự, chính trị, cũng như các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác. Hai quyền này là "những thành tố thiết yếu của một xã hội dân chủ" vì nó cho phép các thành viên "bày tỏ quan điểm chính trị, tham gia vào các mục tiêu văn học và nghệ thuật và các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hóa khác, tham gia vào việc thờ phụng tôn giáo và các niềm tin khác, hình thành và gia nhập các tổ chức công đoàn và hợp tác xã, bầu chọn những người lãnh đạo đại diện cho mình và buộc họ phải chịu trách nhiệm". Trong khi đó, Việt Nam không chỉ là một thành viên LHQ mà còn là một thành của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc. Thế nhưng, Quyền lập hội ở Việt Nam cho đến thời điểm này ra sao?
Trước hết, chúng ta đi từ lời nói của những người Cộng sản Việt Nam về quyền này của công dân.
Ngay trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, nghĩa là cách đây hơn 70 năm, Hồ Chí Minh đã dõng dạc tố cáo: "Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào".
Với những lời lẽ đanh thép đó, người dân Việt Nam những đã tưởng rằng kể từ này, những quyền lợi về tự do, dân chủ và nhân đạo, chính nghĩa hơn(!)
Bản Hiến pháp năm 1946 khẳng định quyền của công dân, trong đó có các quyền hội họp, lập hội, tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.
Điều 69 Hiến pháp 1992 quy định "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật".
Điều 70 của Hiến pháp 1992 quy định: "Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước".
Thế rồi, các bộ luật Hình sự cũng có những điều khoản như thật về "Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, quyền hội họp, lập hội của công dân" như Điều 124 BLHS năm 1985, Điều 129 BLHS năm 1999.
Với những điều được ghi bằng giấy trắng, mực đen trên bản Hiến pháp, với những điều luật trong bộ luật Hình sự như vậy, nhìn từ bên ngoài, hẳn mọi người đều nghĩ rằng ở Việt Nam, quyền tự do lập hội của người dân hẳn rất được tôn trọng và thực thi triệt để.
Nhưng!
Hỡi ôi, đó chỉ là những văn bản và lời nói của người Cộng sản. Để thực thi quyền tự do Lập hội của người dân, hãy nhìn vào thực tế hiện nay. Đa số những quyền lợi cơ bản của người dân đều đã bị đánh tráo khái niệm và chơi trò tháu cáy.
Hầu hết, các điều khoản trong Hiến pháp hoặc bất cứ văn bản nào của nhà nước nói về "Quyền" của người dân đều được thòng theo mấy chữ: "theo quy định của pháp luật".
Vậy cái "quy định của pháp luật" đó là  gì? Sẽ là không có bất cứ quy định nào, để người dân không thể thực hiện được những quyền đó như quyền biểu tình, quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do lập hội, tự do hội họp... và nhà cầm quyền sẵn sàng huy động bạo lực để trấn áp vì "chưa được phép". Sẽ là những văn bản nhằm hạn chế việc thực thi quyền của người dân, mà nhiều khi nhà nước bất chấp cả những ý nghĩa của câu chữ, của văn bản để áp đặt bằng được sự cai trị độc tài của mình như cái Nghị định 38CP quy định tập trung đông người nơi công cộng phải xin phép - mà đông người có nghĩa là từ 5 người trở lên - một sự hài hước sẽ trở thành kinh điển chắc chỉ có ở Việt Nam.
Cho đến nay, tháng 11/2015 các quyền cơ bản của công dân được ghi trong Hiến pháp từ 1946, nghĩa là đã 70 năm nay, vẫn là một món nợ của đám đầy tớ đối với ông chủ Nhân dân. Hầu hết những quyền như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do lập hội và hội họp, quyền biểu tình, quyền tự do tín ngưỡng... Tất cả đều chưa có luật, tất cả đều phải chờ.
Và vì chưa có luật, nên công dân không được tự do thực hiện những quyền của mình mà Hiến pháp đã ghi nhận từ cách đây 70 năm, nghĩa là gần 2/3 thế kỷ.
Cũng vì chưa có luật, do vậy nhà cầm quyền muốn hành xử cách nào, làm gì với quyền đó của công dân, đều phụ thuộc vào ý thích của hệ thống cầm quyền. Họ nghiễm nhiên coi như đó là một đặc ân, để họ có thể ban phát hoặc cấm đoán, đàn áp... tùy thích.
Cũng vì chưa có luật, nên những điều ghi trong Hiến pháp chỉ là những thứ để trang trí cho bộ mặt của nhà nước luôn rêu rao là "của dân, do dân, vì dân" với đám cán bộ là "đầy tớ của nhân dân" trước cộng đồng quốc tế.
Cũng vì chưa có luật, nên các hội, nhóm có thể thành lập và có thể tự phát miễn là ngoan ngoãn nằm trong sự quản lý theo ý thích của nhà nước. Điều này chỉ có tác dụng để nhằm cho nhà nước kể lể trước cộng đồng quốc tế rằng Việt Nam cũng có đủ cả chục ngàn hội, nhóm đấy thôi, nghĩa là quyền tự do lập hội đã được tôn trọng. Hẳn nhiên, nếu chỉ là những hội nhóm vô bổ như chim, hoa, cá, gái... thì được và chẳng cần xin phép, miễn là những hội viên đó không cần quan tâm đến chính trị, đến sự cai trị độc tài nhà nước hoặc các vấn đề với lãnh thổ, với quyền sống của xã hội và quyền công dân.
Ngược lại, những ai nhen nhúm thành lập các nhóm, hội có ý tưởng hoặc sự quan tâm đến các vấn đề có ảnh hưởng hoặc nguy cơ ảnh hưởng đến sự cai trị độc tài, lập tức được sự chú ý và các biện pháp đàn áp tàn bạo hoặc "nghiêm trị vì chưa được phép" - điều mà có nằm mơ, thì dân Việt Nam cũng chẳng bao giờ thấy cái giấy phép đó ở đâu dưới thời Cộng sản.
Cũng vì chưa có luật, nên cái gọi là "quyền tự do tôn giáo, được bảo đảm, cơ sở tôn giáo được luật pháp bảo hộ" đến mức mà hiện nay, Giáo hội Công giáo Việt Nam vẫn còn bị "mượn", chiếm, cướp... đến 2.500 cơ sở mà không có bất cứ cơ sở pháp luật nào.
Duy nhất, ở Việt Nam có một tổ chức không cần có luật, vẫn có thể ngang nhiên hoạt động, tự tung tự tác, tự áp đặt lên đầu, lên cổ nhân dân cái tròng cai trị của mình. Đó là tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam. Dù Hiến pháp đã quy định rõ "đảng phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật".
Và bên cạnh đó, một số Hội, Liên hiệp Hội, Đoàn, Mặt trận... được nhà nước đẻ ra, để làm cánh tay nối dài cho Đảng CS thì nghiễm nhiên được nuôi nấng bằng tiền dân mà không ai được bàn cãi.
Hà Nội, ngày 23/11/2015
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

Báo động tình trạng lạm dụng lao động trẻ em

Anh Vũ, thông tín viên RFA 2015-11-25  
Trẻ em bị lạm dụng sức lao động trong các lò gạch.
Trẻ em bị lạm dụng sức lao động trong các lò gạch.  File photo
Ở VN hiện nay có không ít trẻ em nghèo đang là đối tượng chịu sự bóc lột của các cơ sở sản xuất, kinh doanh... Đây là những việc làm hoàn toàn trái với pháp luật.
Thực trạng vấn đề sử dụng lao động trẻ em hiện nay ra sao và cần có các giải pháp nào để chấm dứt tình trạng này?
Theo kết quả báo cáo Khảo sát quốc gia về lao động trẻ em năm 2012 do Tổng cục Thống kê phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, ILO thực hiện cho thấy, Việt Nam có khoảng 1,75 triệu lao động trẻ em và người chưa thành niên từ 5-17 tuổi. Nghĩa là có khoảng 9,6% dân số trẻ em trong độ tuổi từ 5 đến 17 ở Việt Nam, đang là lao động trẻ em.
Quản lý lao động trẻ em lỏng lẻo
Chị Năm ở Đồng Nai, một người mẹ có 3 người con hiện đang phải làm việc sớm để kiếm sống cho chúng tôi biết:
“Hoàn cảnh của tôi khổ lắm, nhà ở dưới song thì dột, chồng đi làm thợ hồ, 3 đứa con thì cho đi làm mướn cho người ta.”
Theo nghiên cứu của Bộ LĐ-TBXH gần đây cho biết, có khoảng 50% các em được khảo sát cho rằng, các em phải làm việc trong môi trường nguy hiểm, như đào đãi vàng, công nhân xây dựng… Điều đó có thể ảnh hưởng tồi tệ đến sự phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần của trẻ. Không những thế, các lao động trẻ em cũng phải chịu nhiều sức ép tâm lý như tiền công thấp, chậm thanh toán hoặc bị chủ nhục mạ….
Đánh giá về thực trạng sử dụng lao động trẻ ở VN hiện nay, bà Võ Kim Hiền, chuyên viên Trung tâm Nghiên cứu Dân số, Lao động - Việc làm, Viện Khoa học Lao động và Xã hội nhận định:
“Đối với các trẻ em sống trong gia đình nghèo thì việc trẻ em đi kiếm sống là một hiện tượng xã hội đã có từ rất lâu. Ở VN có hiện tượng trẻ em kiếm sống sớm thì các em đã bị bóc lột sức lao động, hoặc phải lao động nặng nhọc trong các điều kiện nguy hiểm, độc hại và thủ đoạn bóc lột ngày càng tinh vi hơn. Vấn đề là làm sao để trẻ em được chăm sóc sức khỏe,  không thể để trẻ em phải làm việc trong các điều kiện nguy hiểm”
Trả lời câu hỏi, nguyên nhân do đâu khiến tình trạng trẻ em phải làm việc sớm để kiếm sống và tình trạng đó ngày một tăng, bà Hiền cho là hiện nay kinh tế nhiều gia đình khó khăn do cha mẹ công việc không ổn định, thu nhập thấp tăng, làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị mạnh hơn, khiến số lao động trẻ em tăng theo. Bà Võ Kim Hiền tiếp lời:
Đối với các trẻ em sống trong gia đình nghèo thì việc trẻ em đi kiếm sống là một hiện tượng xã hội đã có từ rất lâu. Ở VN có hiện tượng trẻ em kiếm sống sớm thì các em đã bị bóc lột sức lao động, hoặc phải lao động nặng nhọc trong các điều kiện nguy hiểm, độc hại và thủ đoạn bóc lột ngày càng tinh vi hơn
Bà Võ Kim Hiền
“Nguyên nhân chủ yếu khiến trẻ em phải kiếm sống sớm là do các em sinh ra trong những gia đình nghèo, có điều kiện kinh tế khó khăn. Hoặc cũng do nhận thức chưa đầy đủ của các em, của gia đình và cộng đồng về Luật lao động, Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục sức khỏe trẻ em. Cái nguyên nhân nữa là do nhận thức sai lầm của các gia đình cho rằng cho trẻ đi lao động sớm thì sẽ sớm nên người. Và một nguyên nhân nữa là có một số em thích tiêu xài nên đã đi làm sớm để thỏa mãn nhu cầu của các em.”
Cho dù pháp luật đã có quy định, đối với các ngành nghề được phép sử dụng lao động vị thành niên, mức phạt tiền sẽ từ 1 triệu đến 5 triệu đồng đối với hành vi trả công lao động không tương xứng cho trẻ hoặc sử dụng lao động trẻ em quá 7 giờ/ngày. Tuy vậy, việc quản lý của nhà nước trong lĩnh vực này còn lỏng lẻo, luật pháp xử lý các vụ vi phạm chưa nghiêm minh khiến các chủ cơ sở sử dụng lao động trẻ em xem thường. Bà  Thùy Nga cán bộ phòng Pháp chế, Sở Lao động TB&XH TP. Hồ Chí Minh  khẳng định:
Trẻ em Việt Nam đang phải lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. (báo Tuthien.vn)
Trẻ em Việt Nam đang phải lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. (báo Tuthien.vn)
“Cái sức răn đe, chế tài của pháp luật đối với những người vi phạm còn nhiều sơ hở và còn thiếu sự quan tâm sâu sát của chính quyền địa phương. Nên việc những vụ việc vi phạm luật về trẻ em chưa được phát hiện kịp thời và không được xử lý nghiêm khắc.”
Vi phạm pháp luật và quyền của trẻ em
Về vai trò quản lý nhà nước, trong việc sử dụng lao động trẻ em, một cán bộ phòng Bảo vệ trẻ em, Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động TB&XH yêu cầu dấu danh tính nói với chúng tôi:
“Các em nhỏ đi làm xa gia đình thì nguy cơ sẽ bị xâm hại rất lớn, để giảm thiểu cái vấn đề này thì không chỉ ngành lao động, mà tất cả các ban ngành liên quan. Và nhất là các gia đình cần phải hiểu là các em tuổi còn nhỏ mà không thể để các em đi lao động, vì như thế là chúng ta đã vi phạm pháp luật và quyền của trẻ em.”
Theo VnEconomy online mới đây cho biết, Chính phủ Việt Nam đã có cam kết rằng, đến năm 2016, Việt Nam sẽ xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, và đến 2020 sẽ xóa bỏ lao động trẻ em trong điều kiện nặng nhọc, độc hại nguy hiểm và dần sẽ giảm thiểu lao động trẻ em tham gia hoạt động kinh tế.
Các em nhỏ đi làm xa gia đình thì nguy cơ sẽ bị xâm hại rất lớn, để giảm thiểu cái vấn đề này thì không chỉ ngành lao động, mà tất cả các ban ngành liên quan. Và nhất là các gia đình cần phải hiểu là các em tuổi còn nhỏ mà không thể để các em đi lao động, vì như thế là chúng ta đã vi phạm pháp luật và quyền của trẻ emm
Một cán bộ phòng Bảo vệ trẻ em
Nói về những hệ quả mà các lao động trẻ em sẽ bị gặp phải, bà Võ Kim Hiền thấy rằng, các lao động trẻ em hiện đang phải làm tất cả những công việc, kể cả việc nặng nhọc của người lớn, miễn sao có được thu nhập ổn định. Theo bà, trung bình mỗi ngày, các em phải làm việc tới 10 giờ/ngày với mức thu nhập 50.000-60.000 đồng/ngày. Bà Võ Kim Hiền cảnh báo:
“Khi để các em ở xa gia đình khi đi kiếm sống, trước hết là các em thiếu chỗ ở an toàn. Cái thứ 2 là do các em còn nôn nớt nên các cạm bẫy xung quanh có thể đe dọa tới tính mạng hoặc đe dọa phẩm giá của các em. Và nhiều khi nhiều em sẽ trở thành nạn nhân của bạo lực đường phố hoặc các hành vi xâm hại tình dục. Vì các em còn hạn chế về cả tinh thần và thể chất nên dễ bị kẻ xấu bóc lột, xâm hại và ngược đãi. Kể cả việc các em sẽ vi phạm pháp luật.”
Nói về các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng sử dụng lao động trẻ em, bà Thùy Nga cho rằng, Nhà nước phải gắn liền việc này với công tác xóa đói, giảm nghèo, để tạo việc làm bền vững và thu nhập ổn định cho các bậc cha mẹ, để từ đó họ sẽ không bắt con em mình lao động sớm. Bà nói:
“Phải tăng cường hơn nữa việc quản lý, rà soát địa bàn và tập trung kiểm tra các cơ sở có khả năng sử dụng lao động trẻ em, để tăng cường việc ngăn chặn, xử lý và để tránh việc sử dụng lao động trẻ em.”
Giáo dục ý thức yêu lao động, tự lập vươn lên cho các em là công tác cần làm. Tuy nhiên việc lạm dụng trong sử dụng lao động trẻ em không đúng luật pháp quy định sẽ tạo ra rất nhiều nguy cơ và hệ lụy cho sự phát triển lành mạnh của xã hội và tâm lý của trẻ trong tương lai.

Gái đứng đường và người Trung Quốc tràn lan ở Đà Nẵng

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam 
Theo RFA-2015-11-25 
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa Ảnh minh họa  File photo
Hai năm trở lại đây, đặc biệt là thời gian chừng ba tháng trởi lại, thành phố Đà Nẵng xuất hiện gái đứng đường và người Trung Quốc nhiều nhan nhản. Nếu như Gái điếm lấy phía Tây thành phố làm bản doanh thì người Trung Quốc làm phía Đông thành phố làm chỗ trú ngụ vững chắc. Có thể nói, trong một chừng mực nào đó, sự xuất hiện của gái đứng đường và người Trung Quốc như một mối dung hòa giữa cung và cầu. Bởi khi người Trung Quốc xuất hiện tràn lan, trong bối cảnh hiện tại cũng đồng nghĩa với tình trạng lộn xộn, mất an ninh và những đường dây ngầm của kĩ nghệ bán dâm, ma túy và cho vay nặng lãi.
Bản doanh gái bán dâm phía Tây thành phố
Một cư dân Đà Nẵng, không muốn nêu tên, hiện đang sống ở quận Liên Chiểu, Đà Nẵng, chia sẻ: “Nhiều chỗ lắm, gần Quân Khu 5 là khu xịn nhứt, ngoài có những đường ở quận Liên Chiểu nhưng bên đó bẩn lắm. Bên đường gần quân khu 5 có nhậu, có em út thơm, thơm nhứt là ở khu Eden hoặc khách sạn Mường Thanh ở đường Ngô Quyền, có mấy em thơm lắm.”.
Theo người này, khu vực Hòa Khánh, quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng là một thủ phủ của gái bán dâm, trong đó có nhiều hình thức, từ đóng vai sinh viên cho đến một số sinh viên nghèo cải thiện cuộc sống và duy trì học tập và không ngoại trừ những cô gái bán dâm chuyên nghiệp cao cấp, mỗi lần đi khách có thể lên đến vài trăm USD. Nhưng, theo người này, vấn đề đáng ngại nhất là những cô đứng đường, các cô này chấp nhận bán dâm với giá rẻ mạt, có khi chỉ là hai mươi ngàn đồng nếu ế khách. Trường hợp bữa nào đông khách thì các cô bán dâm với giá từ năm mươi đến bảy mươi ngàn đồng trên một lần.
Gái bán dâm chia theo khu vực, mỗi khu vực tạm xem như là một tầng lớp, đằng cấp trong giới bán dâm. Ví dụ như gái bao cao cấp thường kín tiếng, chỉ có một số cán bộ cao cấp, cỡ chuyên viên cấp thành phố, thậm chí cao hơn chuyên viên, đứng đầu các ngành trong thành phố biết đến. Và cái khác của gái chân dài cao cấp này là họ diễn xuất rất tốt, khó mà để lộ hoặc làm ảnh hưởng đến người mua dâm.
Nhiều chỗ lắm, gần Quân Khu 5 là khu xịn nhứt, ngoài có những đường ở quận Liên Chiểu nhưng bên đó bẩn lắm. Bên đường gần quân khu 5 có nhậu, có em út thơm, thơm nhứt là ở khu Eden hoặc khách sạn Mường Thanh ở đường Ngô Quyền, có mấy em thơm lắm
Một cư dân Đà Nẵng
Giải thích thêm về khả năng diễn xuất của các gái gọi cao cấp, người này nói rằng hầu hết các cô đều diễn rất tài tình, có thể nhập vai đồng nghiệp hoặc sếp cao cấp hoặc chuyên viên cấp trung ương đi kinh lý. Điều này khiến cho nhiều bà vợ của một số chuyên viên vẫn nhầm tưởng là chồng đi tiếp khách của bộ vào làm việc, không hề nghi ngờ ông chồng.
Thường thì giới gái gọi cao cấp này thường hẹn hò ở các khách sạn cao cấp và khoản thù lao khá cao. Điều này khác xa với tràn lan đại hải các tiệm gội đầu, uốn tóc và massage trá hình trên các con đường như Lê Duẩn, Trường Chinh, Hoàng Văn Thái, Bắc Sơn… Ở đây, khách chỉ cần vào trong tiệm gội đầu cùng với một ma cô hoặc một khách làng chơi quen mặt, khi đặt vấn đề thỏa thuận giá và sau đó là cuộc mua bán dâm ngay trong phòng gội đầu. Giá thường dao động từ 250 ngàn đồng đến 300 ngàn đồng.
Riêng các trung tâm massage thì chuyện này diễn ra lộ liễu và có vẻ phổ thông hơn, nghĩa là không cần phải có ma cô hoặc khách quen giới thiệu. Khách vào mua một vé massge, xông hơi với giá từ 70 ngàn đồng đến 150 ngàn đồng tùy vào tiêu chuẩn giường và phòng tắm hơi. Sau đó vào bên trong, gặp các nhân viên massage, họ sẽ tự động đặt vấn đề và thỏa thuận giá.
Ở những trung tâm như vậy, vấn đề an ninh cho khách làng chơi tương đối tốt vì hệ thống bảo kê khá vững. Nhưng nếu lỡ có động tịnh gì, trung tâm massage có thể đóng vai nạn nhân, tố thẳng khách và cô gái để thí tốt, xem như mình bị oan, cô gái và khách đã qua mặt chủ chứ chủ không hề có ý định kinh doanh tình dục.
Người này cho biết là những cô bán dâm theo dạng nhân viên massage thường phục vụ cho khách người Trung Quốc, bởi đây là trung tâm ăn chơi của khách Trung Quốc từ phía Đông thành phố di chuyển sang mỗi đêm. Ngoài ra, còn có một ít khách Việt thuộc dạng trung lưu cũng vào đây.
Riêng những cô gái đứng đường thì nhiều vô kể, gồm cả một số nữ sinh viên cần tiền dể trang trải học tập và gởi về quê, nói dối với cha mẹ là tiền học bổng hằng tháng. Đối tượng mua dâm ở các trục đường về khuya thường là dân lao động, thợ hồ, xe ôm, dân buôn bán rày đây mai đó… Giá thành khu vực này rẻ mạt.
Người Trung Quốc ở phía Đông thành phố
Một người tên Kha, sống ở quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng chia sẻ: “Thì đường Trường Sa, đường biển toàn bộ là người Trung Quốc ở. Hai bên đường nó kinh doanh đủ thứ, ăn nhậu, ăn chơi. Người Việt nam mình không được vào đâu! Con đường từ Hội An ra Đà Nẵng thì đầy rẫy người Trung Quốc...”.
Theo ông Kha, vấn đề người Trung Quốc xuất hiện tràn lan, kéo theo nhiều thứ tệ nạn xã hội, trong đó nạn xì ke ma túy và mại dâm phát triển mạnh, bởi có cung thì có cầu, có cầu thì có cung. Ông Kha cho rằng những biệt khu mà công an khu vực không được phép kiểm tra của người Trung Quốc tại Đà Nẵng có thể chứa bất kì thứ hàng hóa nào, không ngoại trừ vũ khí và ma túy.
Trong đó đáng sợ nhất là ma túy. Bởi vì với vũ khí, cho dù có tiêu thụ ra thì trường thì vẫn không mất đi, vẫn lần ra dấu vết nơi phát tán. Trong khi đó, ma túy chỉ cần một chỗ tập kết an toàn, sau đó phát tán và xóa dấu vết, khi công an có đầy đủ lệnh kiểm tra thì mọi chuyện xem như đã xong. Và hiện tại, đường dây buôn ma túy, cho vay nặng lại cũng như cầm cái số đề mà đầu sỏ là người Trung Quốc, họ quản lý cả một hệ thống ma cô người Việt đã tác oai tác quái trên thành phố Đà Nẵng.
Thì đường Trường Sa, đường biển toàn bộ là người Trung Quốc ở. Hai bên đường nó kinh doanh đủ thứ, ăn nhậu, ăn chơi. Người Việt nam mình không được vào đâu! Con đường từ Hội An ra Đà Nẵng thì đầy rẫy người Trung Quốc
Ông Kha
Theo ông Kha, đây không còn là chuyện bí mật nữa. Nhưng không hiểu sao cho đến nay, hệ thống này vẫn tồn tại, số lượng thanh niên xài ma túy ở Đà Nẵng ngày càng nhiều, nạn trộm cắp cũng bắt đầu xuất hiện, gái bán dâm thì nhiều vô số kể, kẻ cho vay nặng lãi cũng nhiều. Nhưng nhà cầm quyền thành phố Đà Nẵng vẫn chưa có động thái nào nhằm chặn đứng tệ nạn xã hội. Đó là chưa muốn nói rằng sắp tới đây, có thể người Trung Quốc sẽ sang Đà Nẵng theo diện chuyên viên kĩ thuật với 300 người chỉ để quản lý 350 lao động phổ thông người Việt.
Theo ông Kha, đây là chuyện hết sức khôi hài và vô lý. Bởi với 350 công nhân, nếu thật sự cần chuyên viên kĩ thuật thì không tới 10 người là quá đủ để quản lý họ. Trong khi đó, những cán bộ đầu ngành có liên quan đến vấn đề người Trung Quốc vào Đà Nẵng sắp tới lại cho rằng đó là chuyện rất bình thường, không nằm trong tầm quan sát và quan tâm của họ.
Ông Kha cho rằng với đà quản lý lỏng lẻo và vô trách nhiệm, để người Trung Quốc vào Đà Nẵng quá nhiều nhưng không biết được họ làm gì, đi đâu thì một lúc nào đó, Đà Nẵng sẽ trở thành một bản doanh của các trùm ma cô, đầu gấu, mại dâm và xã hội đen. Đây là bài học lớn từ Bình Dương, Hà Tĩnh mà nhà cầm quyền thành phố Đà Nẵng cần phải nhận thấy ngay từ đầu!
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Lịch sử của loa sắt, tượng đài và ống tiêm

Viết từ Sài Gòn 2015-11-25  
000_Hkg4913385
Một loa phát thanh treo trên một cột điện ở Hà Nội vào ngày 19 tháng 5 năm 2011.  AFP photo/HoangDinhNam
Chuyển đổi môn học lịch sử thành môn “công dân và tổ quốc”. Chuyện này mới nghe tuyên truyền có thể dễ tin rằng đó là cách làm để tránh sự nhàm chán của môn học lịch sử mà lâu nay học sinh đã lạy trời lạy đất với nó. Nhưng nếu nhìn sâu vào bản chất của sự việc, nó cho thấy một sự đánh tráo và trí trá tiềm ẩn và nó cũng lột trần được kiểu dạy lịch sử lấy tuyên truyền đánh lận với dạy khoa học cũng như nó làm lộ rõ của một thứ lịch sử gồm loa sắt, tượng đài và ống tiêm của đảng Cộng sản Việt Nam.
Vì sao ở đây chỉ nhắc đến đảng Cộng sản Việt Nam trong vấn đề lịch sử của loa sắt, tượng đài và ống tiêm? Và vì sao người ta buộc phải tiếp tục trí trá để đi từ chỗ đánh tráo môn học sang chỗ không ngần ngại vứt bỏ môn học để đi đến một thứ tuyên truyền bằng thông số lịch sử với cái tên gọi mỹ miều là “công dân và tổ quốc”?
Ở đây, có ba vấn đề cần nêu: Mối liên hệ giữa loa sắt, tượng đài và ống tiêm; Sự đánh tráo môn học lịch sử với tuyên truyền chính trị và; Phá bỏ sự đánh tráo để đi đến một cuộc tẩy não kiểu mới.
Ở vấn đề thứ nhất, mối liên hệ giữa loa sắt, tượng đài và ống tiêm. Có thể nói nhanh rằng không có xứ sở nào lại có nhiều loa sắt để tuyên truyền cho chế độ hơn xứ sở Cộng sản. Và đương nhiên Cộng sản Việt Nam cũng nhiều loa sắt thuộc vào top hàng đầu thế giới. Đi bất kì đâu cũng có thể nghe giọng the thé từ bụi chuối, lùm tre, gốc mít, nóc nhà, thân trụ điện, nóc hợp tác xã… Hình ảnh cái loa sắt trở thành biểu tượng truyền thông của chế độ Cộng sản Việt Nam.
Và, chính những cái loa sắt có lúc ru ngủ, có lúc ma mị, có lúc đe nẹt để người dân sống trọn trong cái chuồng trâu ngựa chỉ biết vâng dạ để tồn tại là cẩm nang giữ mạng của thời đại Cộng sản. Và chính cái loa sắt cũng rêu rao tính ưu việt của chế độ cũng như nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, rót vào tai người dân sự thần thánh của Hồ Chí Minh cũng như thiên tài lãnh đạo của đảng… Trong đó có cả vấn đề thuế giá trị gia tăng là một loại thuế nhân đạo, người dân đỡ phải tốn kém, đỡ phải lo toan.
Và đây là mấu chốt vấn đề giữa cái loa sắt với tượng đài, ống tiêm. Bởi tin vào cái loa sắt, người dân không hề hay biết rằng mọi khoản tiền mà bất kì quan chức nhà nước nào lãnh nhận đều là mồ hôi, xương máu của ngót nghét một trăm triệu dân Việt Nam đóng mà có. Và tiền xây tượng đài cũng lấy từ mồ hôi, xương máu đó mà ra.
Nhưng, theo lý thuyết thì đa phần tượng đài được vận động kinh phí từ tư nhân, doanh nghiệp. Vậy tư nhân Việt Nam những ai có nhiều tiền để đóng góp tỉ này tỉ nọ mà xây tượng đài? Cũng như có bao nhiêu doanh nghiệp giàu có để đóng góp? Xin miễn bàn về đồng tiền mà họ có, bởi nguồn gốc của đồng tiền giàu có tại Việt Nam rất dễ thấy, hoặc là có kiều hối từ nước giàu gởi về hằng tháng, hoặc là làm ăn chân chính (con số này rất hiếm hoi), hoặc là tham nhũng, mở công ty để rửa tiền, hoặc là trộm cắp tài nguyên, đất đai bằng nhiều cách… Và có cả buôn ma túy.
Vấn đề tiền buôn ma túy, có thể nói rằng không có nơi nào mà tiền buôn bán ma túy lại được đóng thuế một cách trọn vẹn như tại Việt Nam. Bởi lẽ, nếu bán được một tỉ đồng tiền ma túy, kẻ buôn ma túy mang một tỉ đồng đó mua một chiếc xe hơi chẳng hạn. Thì anh ta đã đóng thuế đúng nghĩa, đúng tỉ lệ bằng tiền ma túy, nghĩa là đồng tiền đó đã góp phần vào công quĩ quốc gia thông qua thuế giá trị gia tăng. Mua đất, mua nhà, mua bất kì thứ gì bằng đồng tiền buôn bán ma túy hay buôn bán phụ nữ đều có thể vỗ ngực tự hào về khả năng đóng thuế đầy đủ của một công dân.
Và khi tượng đài được xây lên bằng ngân sách nhà nước, có thể nói rằng trong tượng đài chứa gồm cả mồ hôi của dân lành và cả khoản tiền thuế của việc buôn ma túy, buôn hàng lậu, buôn thần bán thánh… Bởi lẽ, kẻ buôn ma túy càng mua sắm được nhiều thứ thì đồng thuế giá trị gia tăng của quốc gia càng dày thêm. Và khi tượng đài càng xây dựng hoành tráng một cách dễ dãi, mặc cho đất nước lộn xộn bao nhiêu thì con nghiện, ống tiêm và giấy hít càng tăng bấy nhiêu.
Có lẽ vì vậy mà không phải ngẫu nhiên, tượng đài xây lên rồi bỏ hoang, tượng đài tốn càng nhiều tiền thì con nghiện càng thích đến những chỗ đó để hút chích, ống tiêm càng dày đặc ở đó bấy nhiêu. Điều này giống như một thứ nhân quả trước mắt, không cần che đậy.
Và tượng đài, loa sắt như một thứ nhân, ống tiêm là hệ quả của cả một quá trình mà đảng Cộng sản đã trắng trợn đánh tráo lịch sử bằng kiểu tuyên truyền hoành tráng và tốn kém, đạp lên sự đói khổ của nhân dân. Và đây cũng là một trong những chiêu bài đánh tráo lịch sử bằng trực quan sinh động. Từ bài học lịch sử ca ngợi chiến thắng, đầu độc lòng thù hận cho đến đi đến bất kì nơi nào cũng gặp những biểu tượng chiến thắng được xây dựng bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu của nhân dân.
Nhưng có vẻ như đến thời điểm hiện tại, kiểu đánh tráo này không còn hợp thời. Đòi hỏi về những mốc lịch sử đồng đại như chiến tranh biên giới phía Bắc 1979, Gạc Ma 1988, Giàn Khoan HD 981 và những tuyên bố của Bắc Kinh về đường lưỡi bò trên biển Đông… Tất cả những chuyện đó là lịch sử. Nếu còn giữ môn lịch sử thì bắt buộc phải nhắc đến những mốc này. Nghiệt nỗi, hiện tại là thời đại thông tin toàn cầu, nếu không đưa những mốc lịch sử vừa nêu vào giáo khoa thì tự làm lộ sự bưng bít, nói dối và lừa mị của mình.
Chính vì vậy, muốn tiếp tục tồn tại, đảng Cộng sản phải đi từ chỗ đánh tráo lịch sử sang chỗ triệt tiêu lịch sử và bóp méo thành môn học khác không cần đảm bảo tính khoa học nhưng đảm bảo tính tuyên truyền và nhồi sọ, tẩy não để lớp trẻ yêu đảng như yêu dân tộc và không cần biết gì về mối hiểm họa phương Bắc cũng không cần biết gì về quá khứ dân tộc.
Và khi đưa ra cái gọi là “tích hợp các môn học nhằm đảm bảo tính sinh động của lịch sử” để dạy môn “công dân và tổ quốc” thay vì dạy môn lịch sử là một dã tâm xóa bỏ ký ức dân tộc, xóa bỏ mọi giá trị của cha ông, tẩy não những thế hệ sau để con em chúng ta thấy rằng việc đảng Cộng sản theo Tàu, thân Tàu, thậm chí làm trâu ngựa cho Tàu là một việc làm thông minh, sáng suốt…!
Và, cái giá của một nền chính trị mà trong đó ký ức dân tộc, lịch sử dân tộc bị chính trị hóa, sau đó đánh lệch hướng và tẩy não, thay thế bằng cái bóng của chế độ cầm quyền sẽ là sự vong nô của tương lai. Và hiện tại, biểu hiện dễ thấy nhất là một nền lịch sử với sự đồng hành của loa sắt, tượng đài và ống tiêm ma túy. Điều này cũng là một trực quan sinh động về tương lai khô máu của dân tộc Việt Nam này.
Cần phải chặn đứng ngay tội ác này bằng mọi giá. Và kẻ nào đã lỡ tay nhúng chàm thì cũng nên dừng ngay trước khi quá muộn!
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

Nguy cơ thuốc diệt cỏ kịch độc tràn vào Việt Nam

Nguy cơ thuốc diệt cỏ kịch độc tràn vào Việt Nam

Theo PGS.TS Nguyễn Kim Vân, Hội Khoa học Kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam, năm 2016, một loại thuốc diệt cỏ cực độc của Trung Quốc có thể ồ ạt vào Việt Nam qua đường nhập lậu, làm tăng nguy cơ mất an toàn thực phẩm, ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng.

Chia sẻ tại Tọa đàm Đóng góp ý kiến với Luật An toàn Thực phẩm do Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tổ chức, PGS.TS Nguyễn Kim Vân chia sẻ: Hiện nay, Trung Quốc có khả năng chuyểnthuốc diệt cỏ paraquat (còn gọi là thuốc cỏ cháy) từ dạng lỏng sang dạng bột. Như vậy, một khối lượng lớn thuốc paraquat dạng lỏng do Trung Quốc sản xuất trước đó có nguy cơ tuồn sang các nước lân cận trong đó có Việt Nam. Paraquat có khả năng diệt cỏ rất nhanh (chỉ 24h sau khi phun thuốc, cỏ sẽ bị chết cháy hàng loạt) nên được sử dụng khá phổ biến.
Đây là loại thuốc diệt cỏ có độ độc mạnh, thuộc danh mục thuốc bị hạn chế, có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng, môi trường. Đặc biệt khi bị nhiễm độc loại thuốc này sẽ không thể giải độc. Theo Sở NN&PTNT Lào Cai, từ tháng 3/2013-6/2014, tỉnh có 26 ca ngộ độc thuốc trừ cỏ paraquat trong đó 80% tử vong. Việc tuồn lượng lớn thuốc diệt cỏ Trung Quốc này vào nước ta có nguy cơ gây mất ổn định công tác quản lý về bảo vệ thực vật - vấn đề có liên quan chặt chẽ đến an toàn thực phẩm tại Việt Nam.
PGS.TS Nguyễn Kim Vân cho biết, các cơ quan chức năng cần có biện pháp ngăn chặn từ bây giờ, quan trọng nhất là kiểm soát nhập lậu qua đường biên giới. Tình trạng thuốc nhập lậu qua biên giới ở một số tỉnh phía Bắc như Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng rất đáng báo động. Theo số liệu của Sở NN&PTNT Lào Cai, hằng năm, lượng thuốc BVTV của tỉnh ước tính 145-150 tấn thì hơn 10% trong số đó nhập lậu ngoài danh mục do Trung Quốc sản xuất, chủ yếu là thuốc diệt cỏ, thuốc kích thích sinh trưởng cho cây chuối và dứa. PGS Vân đề xuất cần tăng mức phạt với hành vi sai phạm trong sản xuất, kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển thuốc trái quy định để hạn chế tình trạng nhập lậu.
Những năm qua, lượng thuốc BVTV được sử dụng tại Việt Nam tăng nhanh, trong đó có tới 90% được nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong vòng 10 năm gần đây, số lượng thuốc BVTV sử dụng tăng 2,5 lần, số loại thuốc đăng ký sử dụng tăng 3,5 lần và giá trị thuốc nhập khẩu tăng 3,5 lần. Khối lượng hoạt chất thuốc BVTV trên ha cây trồng ở Việt Nam cao hơn một số nước. Việt Nam là 2kg/ha trong khi Thái Lan là 1,8kg/ha, Bangladesh là 1,1kg/ha, Senegal là 0,2kg/ha.
11-25-2015
Theo Nguyễn Hoài
Tiền phong