Thursday, July 16, 2015

Quan hệ thương mại Việt – Trung tiếp tục gắn kết

Thái Thịnh (VNTB)-07-16-2015

Quan hệ thương mại Việt – Trung tiếp tục gắn kết
Công nhân chở tinh bột nhập khẩu từ Việt Nam tại tỉnh Quảng Tây. Ảnh: Xinhua

Việt – Trung đang đạt được bước tiến mới trong quan hệ kinh tế, bằng chứng là sự tăng trưởng liên tục kim ngạch thương mại song phương trong 6 tháng đầu năm 2015, Tân Hoa Xã cho biết.

Thống kê từ Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) vào hôm thứ 2 này, cho thấy rằng Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong sáu tháng đầu năm 2015, lên đến 32,1 tỉ USD.

Nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn duy trì ở mức cao nhất với 24,4 tỷ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước, Tổng cục Thống kê cho biết.

Cụ thể, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT), trong năm tháng đầu tiên của năm 2015, nhập khẩu mặt hàng từ Trung Quốc, chẳng hạn như phân bón, các loại rau và trái cây,… tăng dao động từ 6,3% đến 16,9%.

Về xuất khẩu, trong sáu tháng đầu năm ước đạt 7,7 tỷ USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước.

Việt Nam cũng đã chứng kiến sự tăng trưởng trong xuất khẩu nông sản, bao gồm các loại rau và trái cây (+ 23,98%), cao su (+ 24,01%), sắn (+ 46,28%), so với cùng kỳ một năm trước đó.

Trung Quốc là nước nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam và hai bên đang tăng cường hơn nữa quan hệ thương mại song phương, quan hệ kinh tế hai nước. Trước đó, trong Thông cáo chung Việt – Trung nhân chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng vào tháng 4 vừa qua, hai bên đã đạt được một đồng thuận về triển khai thực hiện “Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế – thương mại Việt – Trung giai đoạn 2012 – 2016”, thúc đẩy thực hiện Danh mục các dự án hợp tác trọng điểm và các thỏa thuận hợp tác kinh tế thương mại mà hai bên đã ký kết.

Hai bên cũng nhất trí, “Thúc đẩy thương mại song phương tăng trưởng ổn định, cân bằng, bền vững; phía Trung Quốc khuyến khích doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng nhập khẩu các mặt hàng có sức cạnh tranh của Việt Nam; hai bên tích cực nghiên cứu việc đàm phán, ký kết Hiệp định sửa đổi về thương mại biên giới Việt – Trung.”

Trung Quốc khuyến khích doanh nghiệp trong nước mở rộng nhập khẩu hàng hoá Việt Nam: ” Phía Trung Quốc ủng hộ doanh nghiệp Trung Quốc sang Việt Nam đầu tư phát triển và sẵn sàng tạo điều kiện hơn nữa cho các doanh nghiệp Việt Nam đến Trung Quốc khai thác mở rộng thị trường. Phía Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi cần thiết cho các doanh nghiệp Trung Quốc sang đầu tư kinh doanh tại Việt Nam,” Thông cáo cho biết.

Trung Quốc hiện xếp thứ chín trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam, với 1.141 dự án trị giá 8,13 tỉ USD, theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam.

Kết nối tuyến giao thông là một trong những yếu tố thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư song phương hai nước đi vào thuận lợi.

Hai quốc gia đồng ý thảo luận và nhanh chóng quyết định một kế hoạch tổng thể nhằm xây dựng một khu vực hợp tác kinh tế xuyên biên giới và thúc đẩy các dự án kết nối hạ tầng. Việt – Trung cũng đồng ý thành lập Nhóm công tác về hợp tác cơ sở hạ tầng. Vào cuối năm 2014, Việt Nam đã khánh thành đường cao tốc dài nhất và hiện đại nhất của mình, với tổng chiều dài 245 km, nối liền Hà Nội của Việt Nam đến tỉnh Lào Cai, vùng giáp biên giới Trung Quốc.

Đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai là một phần của Hành lang giao thông Côn Minh-Việt Nam và thuộc chương trình hợp tác Tiểu vùng Mêkông mở rộng (GMS) kết nối Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và Trung Quốc.

Trong tháng 5 năm 2015, hai làn xe đầu tiên của phân khúc cuối cùng của đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai từ Lào Cai đến cửa khẩu quốc tế Kim Thành đã hoàn tất. Giúp kết nối đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai-Hà Khẩu đến cao tốc Côn Minh của Trung Quốc.

Ngoài ra, việc xây dựng 63.8km đường cao tốc Bắc Giang-Lạng Sơn, mà là một phần của 152km đường cao tốc Hà Nội-Lạng Sơn, từ Hà Nội đến cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn), đã được bắt đầu vào đầu tháng 7 năm 2015.

Trong cuộc gặp với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hoan nghênh sự tham gia Kế hoạch Con đường tơ lụa thế kỷ 21 của Việt Nam.

Nguyễn Văn Các, một nhân viên trong một công ty logistics Việt Nam cho hay, hiện có rất nhiều doanh nghiệp có đối tác là Trung Quốc bày tỏ sự ủng hộ với kết nối cơ sở hạ tầng giữa hai quốc gia được tốt hơn, vì nó tạo điều kiện tăng cường trao đổi thương mại, và doanh nghiệp hai nước sẽ được hưởng lợi từ điều đó.

“Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng. Nó sẽ có lợi cho cả hai nếu hai nước bắt tay với nhau. Tôi hy vọng hai nước sẽ tiếp tục hợp tác với nhau trong tất cả các lĩnh vực, bao gồm thương mại, đầu tư, du lịch và văn hóa,” Nguyễn Hương Thảo, một nhân viên văn phòng 28 tuổi, nói với Tân Hoa xã tại Hà Nội hôm thứ 4


Cambodia, lá bài cũ và câu chuyện mới của người Trung Quốc

TheoTTXVA-07-16- 2015   


 CAMPUCHIA-CO3
Những ngày gần đây, báo chí thế giới và Việt Nam lác đác có những thông tin nhắc đến những mâu thuẫn lẻ tẻ nổ ra tại biên giới Việt Nam – Campuchia. Đây không phải là một câu chuyện mới mà đã bắt nguồn từ lâu trong quá khứ.
Những tranh cãi giữa Việt Nam và Campuchia về phần lãnh thổ ngày nay được gọi là đồng bằng sông Cửu Long (Lãnh thổ chính thức thuộc Việt Nam hiện đại) và Campuchia khmer krom (theo cách diễn giải của người Campuchia) từng kéo dài trong nhiều thế kỷ. Về mặt lịch sử, đây là vùng đất hoang vu gần như không người ở cho đến khi những đoàn khai hoang đầu tiên của người Việt và người Minh hương (người Trung Quốc bại trận dưới triều Minh chạy sang Việt Nam lánh nạn và xin thần phục triều đình nhà Nguyễn) khai phá. Bằng nỗ lực trong nhiều thế kỷ, họ biến một vùng đất hoang vu, sình lầy thành một khu vực đông đúc và giàu có. Vùng đất này, được gọi là Nam Kỳ theo cách định danh chính thức của vua Minh Mạng vào năm 1832. Với sự kiểm soát trên thực tế trong nhiều thế kỷ, đây là vùng lãnh thổ được công nhận thuộc về Việt Nam theo mọi hiệp ước và bản đồ quốc tế hiện đại.
Năm 1859, Pháp bắt đầu công cuộc xâm lược Việt Nam. Do lợi thế vượt trội về nền văn minh, đến năm 1867, Pháp chính thức chiếm trọn toàn bộ lãnh thổ Nam Kỳ gồm 6 tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên (Tên gọi cũ chính thức của Nam kỳ lục tỉnh). Biên giới chính thức giữa Nam kỳ và Campuchia được xác lập lần đầu tiên theo thỏa ước ký kết giữa Thống đốc Nam kỳ và Vua Norodom I vào ngày 09/07/1870. Sau đó ba nặm một hiệp ước khác được ký bổ sung vào ngày 15/08/1973. Nếu đối chiếu với bản đồ Đại Nam năm 1829, một số vùng đất thuộc Tây Ninh, Châu Đốc và Hà tiên của Việt Nam đã bị cắt về Cao Miên. Tuy nhiên, những hiệp ước này là những hiệp ước chính thức đầu tiên phân định ranh giới giữa Việt Nam và Campuchia. Biên giới hiện đại giữa hai nước ngày nay về cơ bản cũng được xác lập trên cơ sở của các hiệp ước này.
Tham vọng của Campuchia với vùng đất mà họ gọi là Khmer Krom chưa bao giờ tắt trong nhiều thế kỷ, bất chấp các hiệp ước quốc tế và hiện đại được các vương triều và chính quyền Campuchia nối nhau ký kết. Tuy nhiên, theo nhiều nghiên cứu quốc tế, xét cả về mặt lịch sử và thực tế, Campuchia chưa bao giờ kiểm soát Nam kỳ, dù là dưới vương triều cực thịnh nhất của họ vào thời đế quốc Angkor từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 12. Tuy nhiên, vấn đề Campuchia Krom luôn được nêu ra mỗi khi có một thế lực chính trị muốn tranh thủ tình cảm dân tộc cực đoan của người Campuchia. Thế lực gần nhất và khét tiếng nhất đối với yêu sách này, chính là Pon pot.
Không dựa trên bất cứ một bằng chứng lịch sử hoặc thỏa ước quốc tế nào, Pon pot chỉ đơn giản tuyên bố: “Bất cứ nơi nào có cây thốt nốt mọc, đó là đất của Campuchia”. Cây thốt nốt mọc nhiều ở Cam, ở Thái cũng như ở Việt Nam. Yêu sách của Pon pot, tuy nhiên chỉ hướng tới Việt Nam. Bởi đơn giản, đó là một lá bài trong canh bạc được chơi bởi người Trung Quốc.
Chế độ Pon Pot là một trong những chế độ cai trị cực đoan nhất trong lịch sử hiện đại. Độ tàn ác của nó vượt gấp nhiều lần công cuộc kỳ thị do thái của Hitler. Nhà nước hồi giáo khét tiếng tàn bạo IS hiện nay nếu so với Pon Pot thì vẫn phải gọi Pon Pot là đại sư phụ. Hitler giết dân do thái, IS khủng bố những người Hồi Giáo tại Iraq hay Syris. Riêng Pon pot, diệt chủng chính dân tộc mình bằng những biện pháp cực kỳ tàn bạo.
Pon pot luôn tự nhận là người đại diện cho quyền lợi của Campuchia, tuy nhiên trên thực tế, ông ta là một người Campuchia gốc Hoa. Sau khi thâu tóm được quyền lực do làn sóng chiến tranh giải phóng dân tộc ở Đông Dương do Việt Nam làm nòng cốt và sự thoái lui của Mỹ, Pon pot thiết lập sự kiểm soát trên toàn lãnh thổ Campuchia từ ngày 17/04/1975. Trong vòng 4 năm, từ 1975 – 1978, theo mọi nghiên cứu quốc tế, Pon pot tàn sát từ 1,5 đến 2,3 triệu người Campuchia trên tổng dân số 8 triệu người. Nhiều nghiên cứu mới nhất thống nhất ở con số 1,7 triệu người Campuchia bị giết hại dưới thời Pon pot, tương ứng với 26% tổng dân số Campuchia. Nếu chế độ này tồn tại được thêm ít năm, với tốc độ giết hại như vậy, dân tộc Campuchia có lẽ chỉ còn tồn tại trong sách vở.
Như một cách để tập hợp dân chúng, Pon pot tìm cách gây chiến với Việt Nam. Về mặt đối nội, là để khơi gợi tình cảm dân tộc cực đoan của người Campuchia, để xao lãng và xoa dịu người Campuchia trước chính sách cai trị tàn bạo diệt chủng của chế độ Pon pot. Tuy nhiên, trên thực tế, chính sách hung hăng của Pon pot với Việt Nam nằm dưới sự thúc đẩy trực tiếp của Trung Quốc, nước duy nhất hậu thuẫn cho chế độ Pon Pot, viện trợ hầu hết vũ khí và trang bị cho thế lực này, cùng với sự hiện diện của hàng chục nghìn cố vấn trên khắp lãnh thổ Campuchia.
Bắt nguồn sâu xa của sự kiện, là chính sách bành trướng nhất quán của Trung Quốc trải dài suốt quá trình lịch sử. Là một đất nước có truyền thống hung hăng và máu xâm lược thâm căn cố đế, chính sách xuyên suốt của mọi triều đại Trung Hoa, là luôn muốn làm suy yếu, kiểm soát và nếu được thì thôn tính các quốc gia láng giềng với nó. Công cuộc thôn tính của các triều đại Trung Quốc khá thành công. Nó thành công sát nhập Mãn Thanh, Nội Mông, Tây Tạng, Đại lý, nhiều vùng đất thuộc Bách Việt và Nam Việt cũ trong suốt quá trình xâm lược nối tiếp nhau trong nhiều thế kỷ. Duy nhất có một vùng đất, cuộc xâm lược của Trung Quốc bị chặn lại, là miền Giao Chỉ vốn là nơi phát tích của nước Việt Nam hiện đại. Nhiều thế hệ nối tiếp người Việt nỗ lực đánh trả các cuộc xâm lăng của các triều đại Hán, Đường, Tống, Minh, Nguyên, Thanh và nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa hiện đại. Đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, được xác lập về cơ bản dưới triều đại nhà Lý và giữ được tính ổn định gần như bất biến trong suốt 11 thế kỷ. Ngày nay, đường biên này đã được xác lập chính thức theo hiệp định phân giới Việt Nam – Trung Hoa. Với hơn 1065 km biên giới đất liền và 383 km biên giới mặt nước. Biên giới Việt Trung được xác lập bởi một hệ thống cột mốc dày đặc, tới 1378 cột mốc biên giới, một minh chứng hùng hồn cho thấy sự “hữu hảo” và “tin cậy” giữa hai quốc gia. Đây là đường biên có mật độ cột mốc dày đặc nhất so với mọi đường biên giới quốc gia trên thế giới. Không có gì ngạc nhiên vì người Việt từng gánh chịu ít nhất 13 cuộc chiến xâm lược nối tiếp từ các triều đại cai kỵ Trung Quốc, trải dài từ thời phong kiến đến thời hiện đại.
Chính sách của chính quyền Trung Quốc hiện nay với Việt Nam không khác gì chính sách của họ với Triều Tiên. Trung Quốc luôn tìm cách phân rẽ các nước cứng đầu giáp giới với họ, nhằm làm suy yếu các quốc gia này, để phụ thuộc hoàn toàn và nếu có điều kiện thì thôn tính sát nhập. Trung Quốc thành công ở Triều Tiên, khiến đất nước này bị cắt làm đôi kể từ năm 1952. Ngày nay, Hàn Quốc (Nam Triều Tiên) là một đất nước giàu mạnh hàng đầu thế giới, sánh vai với thế giới văn minh, riêng phần Bắc Triều Tiên chịu sự kiểm soát và thao túng trực tiếp của Trung Quốc, là một quốc gia nằm ở đáy của đói nghèo, luôn phải chìa tay xin viện trợ lương thực hàng năm, nhưng thường xuyên hung hăng hô hào chiến tranh với Nhật Bản, Hàn Quốc và với Mỹ. Trung Quốc cũng tìm cách áp đặt thực tế này với Việt Nam. Năm 1954, Trung Quốc thỏa thuận với các nước lớn tách đôi Việt Nam làm hai phần với ranh giới là vỹ tuyến 17. Trong nhiều năm sau đó, Trung Quốc viện trợ vũ khí cho Bắc Việt Nam để chống lại Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ, nhằm hai mục đích: Ngăn ngừa Việt Nam độc lập thống nhất và tránh việc để một chế độ thân thiện với Hoa Kỳ tiến tới sát lãnh thổ Trung Hoa. Cũng trong thời kỳ này, lợi dụng tình hình chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc tìm cách gặp nhấm dần từng vùng lãnh thổ của nước láng giềng, dù họ luôn hô hào mị dân là đồng minh của chính phủ do ông Hồ Chí Minh lập lên ở miền Bắc. Năm 1958, Trung Quốc chiếm đóng một nửa quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 1974, lợi dụng tình hình chiến tranh Việt Nam đang ở thời kỳ cao điểm và Mỹ đã triệt thoái về nước sau hiệp định Paris năm 1972, Trung Quốc xua quân chiếm đóng nốt phần còn lại của quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, quốc gia kiểm soát Hoàng Sa trên thực tế ở thời điểm đó đã có một nỗ lực kháng cự ngắn ngủi nhưng bất thành. Tuy nhiên, người Việt trên toàn thế giới lúc bấy giờ đã xuống đường biểu tình dữ dội để phản đối sự xâm lược của Trung Quốc.
Bằng những nỗ lực khôn ngoan và năng lực tác chiến cao, Bắc Việt Nam thành công thống nhất Nam Việt Nam, xác lập một nước Việt Nam thống nhất kể từ ngày 30/04/1975. Kết cục này không nằm trong chờ mong của Trung Quốc. Chính sách của Trung Quốc với chính phủ Cộng Sản Việt Nam, vốn được coi là đồng minh nhanh chóng thay đổi. Theo xu thế này, Pon pot được Trung Quốc hậu thuẫn nhằm làm một con bài quan trọng để suy yếu Việt Nam, bắt Việt Nam phải nghe lời và khuất phục trước các yêu sách thôn tính của người Trung Quốc.
Tàn bạo nhưng khờ khạo trong suy xét tình hình, Pon pot ảo tưởng rằng có thể chiến thắng Việt nam với sự hậu thuẫn của người Trung Quốc. Từ năm 1975 đến 1978, lính Khmer đỏ của Trung Quốc nhiều lần đột kích sang lãnh thổ Việt Nam, gây ra những vụ thảm sát tàn bạo tại Tây Ninh và An Giang (Riêng cuộc đột kích của Ponpot vào Tây Ninh ngày 25/09/1977, lính Khmer đỏ đốt phá 471 ngôi nhà và giết hại hơn 800 người Việt bằng những hình thức hết sức man rợ, mang tính đặc trưng của cách thức diệt chủng mà Ponpot tiến hành ở Campuchia). Dù các cuộc tấn công của Ponpot bị đánh thiệt hại nặng bởi các lực lượng thiện chiến của Việt Nam, nhưng với sự hà hơi của Trung Quốc trong nỗ lực làm suy yếu Việt Nam, Ponpot không từ bỏ dã tâm chiến tranh. Ngày 23/12/1978, quân đội chính quy Việt Nam tràn sang biên giới Campuchia, mở đầu cho việc giải phóng quốc gia này khỏi một trong những chế độ tàn bạo nhất lịch sử. Trong vòng 2 tuần, lính Việt Nam đánh đến thủ đô Phnompenh, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ diệt chủng Pon pot. Cùng với cuộc tiến quân của Việt Nam, người Campuchia sống sót thoát khỏi quá trình diệt chủng. Thế giới kinh hoàng khi chứng kiến sự xuất hiện của những cánh đồng chết trên khắp lãnh thổ Campuchia với hơn 1,7 triệu người bỏ mạng chỉ trong vài năm Pon pot nắm quyền.
Nhằm cứu nguy cho đàn em Pon Pot, tháng 02/1979 Trung Quốc xua 600 nghìn quân ồ ạt tiến đánh Việt Nam. Đối mặt với một đất nước thiện chiến vừa trải qua 30 năm chiến tranh giành độc lập kéo dài, Trung Quốc bị chặn lại ở biên giới phía Bắc và chịu tổn thất nặng. Sau ít ngày tiến công, Trung Quốc buộc phải tuyên bố đơn phương rút quân, thất bại cả trong mục đích xâm lược Việt Nam lẫn mục tiêu giải cứu cho Pon Pot. Tuy nhiên, Việt Nam phải gánh chịu một cuộc chiến tiêu hao kéo dài trong nhiều năm sau đó, ở cả biên giới phía Bắc và cuộc chiến tại Campuchia, nhằm giữ cho đất nước này thoát khỏi sự tái chiếm của Khmer đỏ.

NGUYENTANDUNG-HunSen
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (phải) và Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia Hun Sen trong lễ khánh thành cột mốc 314 hồi năm 2012

Bước sang năm 2015, khi chính sách xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông chịu sự phản đối quyết liệt của các nước trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam, lá bài cũ Campuchia được Trung Quốc vận dụng lại trong một câu chuyện mới. Bằng các khoản viện trợ và đầu tư hậu hĩnh, Trung Quốc từng bước nắn được chính sách ngoại giao Campuchia theo hướng có lợi cho mình. Là một nước không có tranh chấp ở Biển Đông, nhưng Campuchia nhiều lần có những tuyên bố nghiêng về đòi hỏi của Trung Quốc. Tháng 7/2015, gần như cùng thời điểm Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm chính thức Hoa Kỳ, hội đàm với Tổng thống Mỹ Barack Obama trong một cuộc gặp có tính lịch sử, có một vụ xung đột nhỏ nổ ra ở biên giới Việt Nam – Campuchia, một sự kiện rõ ràng không phải là tình cờ khi nhìn vào các bài học thực tiễn và lịch sử. Sau sự kiện đó ít ngày, 23 viên tướng Campuchia đồng loạt viếng thăm Trung Quốc, một sự kiện chưa có tiền lệ, gợi lên nhiều ký ức về câu chuyện năm 1978. Có thể nói, cùng với chính sách đối ngoại bảo vệ lãnh thổ ngày càng quyết đoán của Việt Nam, cùng với xu thế nhích lại không thể đảo ngược của quan hệ Việt Mỹ, lá bài Campuchia đang được Trung Quốc vận dụng lại trong chính sách kiểm soát và thôn tính khu vực của mình.
Dĩ nhiên người Campuchia không lạ gì dã tâm bành trướng của Trung Hoa, nhưng do không có biên giới giáp ranh với Trung Hoa, Campuchia cảm thấy an toàn tương đối và tận dụng lợi thế để gặt hái càng nhiều lợi ích từ Trung Quốc càng tốt. Chính sách này phù hợp với lợi ích quốc gia Campuchia, nhưng cũng có thể đẩy đất nước này vào vòng xoáy nguy hiểm. Thủ tướng Campuchia hiện nay, Hunsen, người đàn ông đã nắm quyền qua 3 thập kỷ, là một người từng được hậu thuẫn bởi Việt Nam. Tận mắt thấy Khmer đỏ bị quân đội Việt Nam đánh tan tác chỉ trong vòng 2 tuần, Hunsen và Campuchia hiểu cái giá của sự mạo hiểm nếu lặp lại sai lầm ngu suẩn của Pon pot. Trên thực tế, bất chấp các luận điệu ủng hộ (dù không quá công khai) tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, Campuchia luôn cố gắng duy trì quan hệ thân thiện với Việt Nam. Giữa Campuchia và Thái Lan từng có đụng độ chính thức tại biên giới khiến nhiều lính hai bên thiệt mạng, nhưng ở phần biên giới giáp ranh Việt Nam, hai nước đã ký kết nhiều hiệp định phân giới chính thức vào các năm 1983, 1985 và 2005 dựa trên nền tảng đường biên giới được hoạch định theo bản đồ Bonne được xác lập giữa ranh giới Nam kỳ và Campuchia trong quá khứ. Trên thực tế hai nước đã hoàn tất phân định 78% tổng chiều dài biên giới. Phần mốc giới còn lại vẫn đang được xúc tiến trong sự nỗ lực của cả hai bên.
Lá bài Campuchia đang được Trung Quốc tìm cách vận dụng lại trong một câu chuyện mới, nhưng vấn đề là Campuchia ngày nay, sau các bài học quá khứ và lịch sử, vẫn còn chưa quên 4 năm cai trị của Ponpot và hàng chục nghìn cố vấn Trung Hoa với cái chết của 26% dân số. Dù tình cảm yêu ghét đan xen, nhưng người Campuchia không quên thực tế chính Việt Nam đã cứu dân tộc họ thoát khỏi sự diệt chủng, và càng không quên thực tế về bước chiến thần tốc của quân đội Việt Nam, khi giải phóng hầu hết lãnh thổ Campuchia chỉ trong có vài tuần. Do đó, có thể nói lá bài Campuchia trong tay Trung Quốc ngày nay không có sức nặng như thời Ponpot.
Là một quốc gia đã thoát khỏi nạn diệt chủng và hòa nhập thế giới văn minh, Campuchia có những chính sách phục vụ lợi ích quốc gia của riêng mình. Một trong những lợi ích mang tính chiến lược của họ, là quan hệ hòa bình hợp tác với Việt Nam. Lính campuchia có thể chạm súng với lính Thái Lan, nhưng điều tương tự chưa bao giờ diễn ra ở phần biên giới chưa phân định Việt Cam. Người Campuchia hiểu việc xung đột với Việt Nam có thể dẫn đến hậu quả gì. Tuy nhiên, rõ ràng Campuchia không nề hà gì khi nghiêng về Trung Quốc ở Biển Đông, nơi họ chẳng có mảy may lợi ích, nhưng đổi lại có thể là các khoản đầu tư và viện trợ hậu hĩ từ Trung Quốc. Đây là một chính sách phù hợp với lợi ích quốc gia của Campuchia, dù nó khiến Việt Nam, philipin, malaysia và các quốc gia đang có mâu thuẫn với Trung Quốc ở Biển Đông không mấy dễ chịu.
Nhận thức rõ vấn đề này, có thể giúp Việt Nam tỉnh táo đánh giá tình hình và đặt lên bàn cân một cách chính xác chính sách đối ngoại của Campuchia trong quan hệ tay ba Việt – Trung – Cam. Chúng ta cần chấp nhận thực tế Campuchia cũng đang chơi bài theo cách riêng của mình để phục vụ lợi ích quốc gia của họ, nhưng đồng thời cũng phải thừa khôn ngoan để nhận định rằng bất kể Trung Quốc xúi giục ở mức nào, Campuchia cũng sẽ không dại dột gây căng thẳng biên giới với Việt nam, bởi họ có đủ bài học quá khứ và lịch sử.
Lá bài Campuchia, do đó có thể khiến Việt nam khó chịu đôi chút ở Biển Đông, nhưng cũng không làm thay đổi được thực tế vấn đề, bởi mọi tiêu chí về luật pháp quốc tế đều rất rõ ràng. Ngược lại, chính Campuchia sẽ phải định hình chính sách của mình, bởi mọi sự dịch chuyển lại gần quỹ đạo Trung Quốc, sẽ khiến họ bị kéo xa ra khỏi Asean và phần còn lại của thế giới văn minh. Campuchia cũng nhiều lần bày tỏ nguyện vọng tham gia TPP, nhưng danh sách 12 quốc gia đang đàm phán hiệp ước không có họ, và chắc hẳn cũng sẽ không có trong tương lai gần. Dù bài học Ponpot cũng đã lùi xa, nhưng thực trạng bi bét của các quốc gia nằm trong quỹ đạo Trung Hoa cũng là một thực tế mà người Cam không mấy lạ lùng. Ngay cả Myanmar, sau nhiều chục năm lệ thuộc chặt chẽ Trung Hoa, cũng đã nỗ lực tìm mọi cách thoát ra và đất nước này chỉ khởi sắc kể từ chính sách thoát Trung của Thanswe. Đó là một tấm gương rất gần gũi cho mọi quốc gia trong khu vực.
Năm 2015, Việt Nam đang bước vào một quỹ đạo phát triển mới với nhiều hứa hẹn và cả về những triển vọng an ninh, với sự hợp tác của nhiều quốc gia lớn trên thế giới. Triển vọng của Việt Nam khi hòa nhập với thế giới văn minh, chắc chắn cũng là điều mà người Campuchia mong muốn. Trung Quốc do đó chắc chắn sẽ thất bại nếu muốn dùng Campuchia kiềm chế Việt Nam như cách họ đã từng làm với chế độ Ponpot.
TÁC GIẢ LANG ANH

Có thật “sương đã tan đầu ngõ” qua chuyến đi Mỹ của “vua” Trọng?

Nhạc sĩ Tô Hải - ...Thế là rõ! cái cuộc đón tiếp tuy chưa hoàn toàn như mọi cuộc đón tiếp dành cho mọi nguyên thủ quốc gia, đang còn thiếu duyệt binh, thiếu bắn 21 phát cà nông, không có thảm đỏ ở sân bay... nhưng được như thế đã là đạt chất chính danh rồi! Ngoài ra, mọi sự sẽ tính... sau. Cuộc thăm Mỹ đã thành công tuy không rực rỡ nhưng cũng lớn! Cho nên, xin lỗi những người mong đợi “có sự thay đổi mới trong tương lai gần”, cho phép tôi kết luận: Dù có một vua Trọng khác đi Mỹ nhưng cả vua Việt lẫn Mỹ chẳng thể nào gỡ nổi vòng kim cô 14 tốt 16 chữ vàng được đâu...

*

Vậy là chuyến “quy mã” của ông “general secretary” (người Mỹ không có gọi chức vụ ông theo kiểu Trung Quốc) đảng cộng sản, “người lãnh đạo cao nhất của chính quyền VN” đã kết thúc “tốt đẹp” tùy theo cách nhìn của từng bộ óc, trái tim, trình độ và cái... dạ dày của từng người!

Thú thiệt: Chưa bao giờ mình lại để nhiều thời gian và công sức để xem tivi, và đọc, đọc đến mờ mắt đủ các thứ tài liệu, thông tin về chuyến đi mà mình đã “dự báo” ngay từ những trang nhật ký mở lần trước khi nghe ông Trọng vạch mặt Đế quốc Mỹ và tay sai 2 lần, cũng như đọc thần chú Mác Lê tới 5 lần trong có 2 câu phát biểu lền nhau trong buổi lễ vinh danh “thần tượng Thành Đô” Nguyễn Văn Linh tại Hưng Yên, đúng 7 ngày trước khi bay qua Mỹ.

Xin phép được nhắc lại: Lập trường của chúng tôi là không thay đổi, tương lai của chúng tôi đã được vạch ra từ thời NVL với mật nghị Thành Đô... ký kết gì cũng không thể vượt qua khuôn khổ những gì chúng tôi đã thỏa thuận với người đồng chí Trung Hoa vĩ đại của chúng tôi được vì chúng tôi với họ là... một! 

Và tới hôm nay, mới qua hơn 10 ngày, mình tự kiểm điểm xem mình có quá... “bi quan”, quá “thành kiến, nghi ngờ chiến lược” không? Nhất là sau khi thấy được rất, rất nhiều bài viết khá là lạc quan, thậm chí tin tưởng tếu tới mức: “chuyến thăm Mỹ của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng báo hiệu một sự thay đổi lớn” (!?) hoặc “trước quan hệ Mỹ-Việt-Trung dịch chuyển âm thầm mà sâu sắc”(?!) v.v... và v.v...

Đáng lưu ý là những vấn đề nêu trên lại không phải từ báo Đảng mà trên ngay các trang mạng xã hội với những cái tên vừa lạ, vừa quen, với đủ mọi lý luận, dẫn chứng lịch sử, rằng thì là: “đã đến lúc phải xoay trục sang Mỹ thì mới có cơ hội... thoát Trung” của cả một số người mà mình cho là “khá già dặn về nhãn quang chính trị”!

Và mình thấy cần thiết phải theo dõi kỹ hơn từng lời nói, hành động, cử chỉ của ông vua Trọng từ lúc xuống sân bay Andrew đến lúc kết thúc ở gia đình Bill Clinton mặc dù mới gặp nhau chưa quá 10 ngày tại Hà Nội! Để khỏi bỏ xót một cuộc gặp gỡ nào, mình mở sẵn đài Tivi CNN để ghi chép những gì nhiều người bỏ qua.

Và sau đây là những gì mình đã thấy khá là... “hiếm lạ” của một “vua Trọng khác”:

1- Suốt 23 cuộc tiếp xúc (?) dài, ngắn, quan trọng hoặc chớp nhoáng hay có tính chất “cho có”, một người có thói quen khó bỏ mấy câu bùa chú Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội như tín đồ Phật giáo hay “Nam mô A Di Đà...” như ông Trọng, bỗng dưng bỏ béng cái tật này. Không tìm đâu ra mấy cái nhãn mác mà cách đây một tuần ông còn lải nhải đi, lải nhải lại tại kỷ niệm 100 năm tiền bối N.V.L tại Hưng Yên, ngay cả khi gặp chớp nhoáng các đồng chí cộng sản Mỹ của ông!

2- Vua Trọng bỗng trở khiêm tốn, tha thiết, cầu khẩn đến ngạc nhiên khi từ miệng mình (chả hiểu có từ trái tim không nữa?) những điều như sau khi vừa hôm trước biện hộ cho “quan niệm nhân quyền” ở Việt Nam chúng tôi: là không có chuyện “bắt bớ ai vì có ý kiến phản bác chính quyền”, mà chỉ có vi phạm pháp luật nên bị bắt mà thôi!...” thì hôm sau tại CSIS, ông đã nhũn nhặn, khéo léo trả lời: “Đất nước chúng tôi tuy còn không ít vấn đề cần tiếp tục phải giải quyết, trong đó có vấn đề quyền con người, nhưng chúng tôi đang nỗ lực không mệt mỏi để xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người. Tôi hiểu trong vấn đề này, hai bên còn có những khác biệt về nhận thức và cần tiếp tục thông qua đối thoại thẳng thắn, xây dựng để có cách nhìn tổng thể về những thay đổi cơ bản mang tính hệ thống, từ đó có đánh giá khách quan hơn về vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam, không để vấn đề này cản trở đà tiến triển tốt đẹp của quan hệ, cũng như ảnh hưởng tới việc xây dựng lòng tin giữa hai nước.” 

Xem toàn văn ở đây

Không còn lạnh lùng, căng cứng lên gân như trước nữa.

Vua Trọng cười hả hê khi được cường quốc số 1 công nhận "chính danh": 
Vua cha của mọi vua Việt

Ông và đoàn tùy tùng của ông (trong đó có ông tướng 3 sao Nguyễn Chí Vịnh không hề hay biết, hay là biết mà đành phải lờ đi?), khi nhắc tới vai trò của Mỹ ở Biển Đông, thì trên bản tin cũng như bản dịch toàn văn Tuyên bố về “tầm nhìn” (tức là không phải tuyên bố chung đâu nhé), mọi tên riêng Biển Đông đều được dịch thành: “The South East China Sea”. Điều này rất quan trọng khi ngay tại Đối Thoại Sangri-La, bộ trưởng Quốc Phòng Ashton Carter đã nhiều lần nhắc đến “các bên” không được thay đổi nguyên trạng trên Biển Nam Trung Hoa và thống kê các nước đã vi phạm hiệp ước về biển đảo 1982 như sau: Việt Nam: 48, Phi Luật Tân: 5, Malaixia: 5, Đài Loan: 1. Riêng Trung Quốc thì: "Trung Quốc không tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế" khi xây dựng các đảo nhân tạo, phi trường, trại lính trong quần đảo Trường Sa. "Chỉ trong vòng 18 tháng, Trung Quốc đã xây thêm 800 hecta nhiều hơn tổng cộng diện tích bồi đắp của tất cả các nước khác có tranh chấp và nhiều hơn cả suốt chiều dài lịch sử của khu vực"!... 

Rõ ràng, lần này người Mỹ cũng chẳng có dấn tới thêm một bước nào trong hy vọng của nhiều người muốn “nhờ Mỹ để thoát Trung” cả! Đối với cái anh Tàu hết sức lươn lẹo và láu cá, thì khi tung ra cái miếng mồi nhử “Biển Nam Trung Hoa thừa chỗ cho cả Mỹ lẫn Hoa Kỳ cùng hợp tác và phát triển” xem ra người Mỹ “có lý” hơn nhiều khi ủng hộ chung chung anh chàng nhỏ con Việt Nam thôi! Bởi dzậy cứ theo UNCLOS mà lầm, Biển Nam Trung Hoa có tên từ trước 1982, cứ thế mà gọi! Chẳng có gì thay đổi hiện trạng xất! Thế là một trong nhưng cái mục đích của chuyến đi, tuy không phải quan trọng hàng đầu nhưng cũng có thể mang đến một chút gì uy tín cuối đời cho vua Trọng trước khi... thoái vị chẳng còn bao xa... cũng... đi tong! 

Nhưng liệu có lép vế trước cảnh thân mật này 
khi Tập đã tung 1.000 tỷ giúp Ô Bà Má? 

Cũng như Sangri-La, không có ai mở miệng đối thoại, lần này trong tuyên bố chung về tầm nhìn nên phía Mỹ cứ thoải mái ghi:

“Both countries support the peaceful resolution of disputes in conformity with international law, including as reflected in the United Nations Convention on the Law of the Sea of 10 December 1982 (UNCLOS), and recognize the importance of fully implementing the Declaration on Conduct of Parties in the South China Sea in its entirety, as well as efforts to conclude the Code of Conduct of Parties in the South China Sea.”… 

Xem toàn văn ở đây

Rõ ràng vô tư và khách quan đến mức nếu có người trong đoàn phát hiện ra cái điểm bất lợi này thì cũng chẳng có một lời yêu cầu đính chính gì khi thành văn bản chính thức... Tức là chấp nhận sự thất bại riêng chỉ cái điểm “Biển là của ai?” ngay từ khi câm nín từ Đối thoại Sangri-La mới rồi! 

3- Dù lần đầu tiên, đồ đệ trung thành nhất của chủ nghĩa Mác-Lê đã cắn răng tự cắt cái đuôi xã hội chủ nghĩa đi để mong Mỹ công nhận nước Việt Nam có nền kinh tế thị trường... nhưng cuối cùng, trong “tuyên bố chung về tầm nhìn”, không một chữ được chấp thuận! Vẻn vẹn chỉ có mấy dòng: 

"Hoa Kỳ hoan nghênh tiến bộ của Việt Nam trong cải cách kinh tế và tái khẳng định tiếp tục ủng hộ và tăng cường hợp tác mang tính xây dựng với Việt Nam, và Hoa Kỳ ghi nhận sự quan tâm của Việt Nam đạt được quy chế kinh tế thị trường."

Tưởng không còn gì rõ hơn cái ý “Chúng tôi ghi nhận sự quan tâm của VN mong đạt đến quy chế thị trường! Hãy cố lên để bỏ đi cái điều 51 của hiến pháp 2013 đã ghi rõ ràng là: "Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo." 

Vậy thì làm sao mà ở cái nước với hiến pháp chặt chẽ như nước Mỹ này, chúng tôi lại mạo hiểm công nhận các ông đang làm kinh tế thị trường như mọi nước được!

4- Cuối cùng là chuyện thăm gia đình cựu tổng thống Bill Clinton, vừa gặp nhau tuần trước tại Hà Nội lại là một cú “hố” nũa! Thăm gia đình nhưng ai cũng biết: chủ yếu là để gặp bà “tổng thống tương lai Hilary” với mong muốn đước nghe bà nói đôi câu có lợi cho chuyến đi của vua Trọng chứ cần ông Clinton nói gì thì tuần trước, ông đã nói rồi. Nào ngờ, bà Hilary trốn mất tiêu mà không báo trước, vì ai chả biết bà dại gì để mất lá phiếu của những đại biểu quốc hội, của những khối cử tri gốc Việt khổng lồ đang theo Loretta Sanchez, Joe Lofgren v.v... cực lực phản đối chuyện mời Nguyễn Phú Trọng đến Mỹ. Thế là: vui vẻ, bắt tay, ăn tiệc ngoài trời qua loa rồi... ra thẳng sân bay hồi cố quốc! không một lời tuyên bố về bất cứ cái gì hơn những cái báo chí đã đăng tải khi ông Clinton được gặp mặt gần hết tứ trụ triều đình tại Hà Nội trước đây chưa đến 10 ngày!

Riêng cái chờ mong số một là được nâng quan hệ Mỹ Việt lên “Đối Tác Chiến Lược” thì rõ ràng đã bị bác bỏ ngay từ đầu! Chỉ riêng cái phần bỏ hạn chế bán vũ khí sát thương cũng dẫm chân tại chỗ, thì nói gì đến chuyện chơi “trò chiến lược” với cái ông vua cộng sản Việt mà bất cứ với ai, bất cứ chỗ nào, nếu được chấp nhận đều sẵn sàng... “cài răng lược... chiến” hết, để rồi chẳng được cái tích sự gì ngoài chuyện... ô-đĩ-ế! (ODA), cứ phải mở quỹ rót vô tài khoản mấy ông trùm VC dài dài!

Cứ xem ngay cái United States-Vietnam Joint Vision Statement mà người dịch dù đã nâng lên thành “Tuyên bố chung về tầm nhìn Việt Mỹ” thì thấy nổi bật lên ngay một điều khác thường: Tại sao không phải là Tuyên Bố Chung Mỹ-Việt(Declaration) mà lại là Joint Vision Statement?) Rõ ràng đến cái Tuyên Bố Chungcũng không có thì làm sao mà có chuyện hợp tác chiến lược! Cho nên trong cái” tầm nhìn chung” đó, nội dung chỉ có thể đề cập đến bất cứ điều gì có tính chất “đột phá”, cũng đành phải vu vơ, vớ vẩn hoặc “cũng có thể” thôi! 

Đọc toàn văn thì sẽ thấy chẳng có cái gì là việc “cần làm ngay”cả! 

1- Chẳng có một cam kết, hiệp ước, hiệp định nào mới được ký kết ngoài mấy cái đã đề cập từ lâu mà... không có chuyến đi này cũng sẽ được thực hiện nay mai. Dẫn chứng là mấy vị phụ trách mua bán máy bay Boeing, cấp phép cho City Bank mở ngân hàng 100% vốn ngước ngoài tại Việt Nam, hoặc xúc tiến việc xây dựng trường Đại Học Fullbrigh đều có mặt sẵn trong đoàn tùy tùng! 

2- Các vấn đề còn lại đều... “vô thưởng vô phạt”. Tỉ như: 
- Việc tránh đánh thuế hai lần; 
- Ghi nhớ về hợp tác gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc v.v... 

Tất cả, đúng là như học giả Greg Polling của CSIS nhận định: “Đều mang tính chất... biểu tượng”! mà ông tiến sỹ của đảng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Học viện Quan hệ ngoại giao cũng chẳng hề dấu diếm khi trả lời báo tuổi Trẻ ngày 8/7/2015 rằng thì là: Đối với bản thân đảng CSVN thì: Tính biểu tượng của chuyến đi đó là việc siêu cường số 1 thế giới công nhận tính chính danh và hệ thống chính trị của Việt Nam!

Thế là rõ! cái cuộc đón tiếp tuy chưa hoàn toàn như mọi cuộc đón tiếp dành cho mọi nguyên thủ quốc gia đang còn thiếu duyệt binh, thiếu bắn 21 phát cà nông, không có thảm đỏ ở sân bay... nhưng được như thế đã là đạt chất chính danh rồi! Ngoài ra, mọi sự sẽ tính... sau... 

Cuộc thăm Mỹ đã thành công tuy không rực rỡ nhưng cũng lớn! 

Cho nên, xin lỗi những người mong đợi “có sự thay đổi mới trong tương lai gần”, cho phép tôi kết luận: Dù có một vua Trọng khác đi Mỹ nhưng cả vua Việt lẫn Mỹ chẳng thể nào gỡ nổi vòng kim cô 14 tốt 16 chữ vàng được đâu.
Người Mỹ đâu có ngu mà không biết tỏng ra cái đảng của mấy ông chẳng qua chỉ còn thoi thóp, vạ gì lao vào chữa thuốc cho mấy amh trước sau cũng quy về một mối Đại Hán Đế.

Cho nên mình cứ liều mạng kết luận: ngoài cái chính danh hão được cường quốc số 1 công nhận, mọi thứ hy vọng sẽ có cái gì đó mang lại quyền lợi cho nhân dân Việt Nam đều là con số... zero! 

Biết đâu, giờ này về lại cung đình nghỉ ngơi yên tĩnh, “vua” có nghĩ lại 2 câu lẩy Kiều rồi nhờ ai mở Google ra nghiên cứu xem cái lão Joe Biden này nó xỏ mình hay do hắn đã hiểu nhầm Nguyễn Du mà lại đem ví cái đảng mình như tấm thâm nàng Kiều phải bán mình, còn nước Mỹ là Kim Trọng khi muốn cùng nàng tái hợp như xưa?? Và biết đâu đấy anh nổi giận lên sẽ trút tất cả vào báo cáo chính trị trình đại hội XII. Sẽ khối thằng tức hộc máu vì Vua lại kiên trì, kiên trì, một ly không rời ông Lê ông Mác! Mãi mãi ta sẽ sống cùng lịch sử là: Ta đây, chính là “vua Cộng Sản nước Việt chính cống” là ta đây đã sống, đã chết cho chữ Trung, chữ Hiếu với chủ nghĩa vinh quang của mấy ông Tây, ông Tầu hơi thở cuối cùng! 

Lúc ấy mình sẽ vui đến phát... trẻ lại, sống thêm vài ba năm nữa vì chỉ ngồi một chỗ mà cũng... đoán trúng phóc được là mấy ông vua cộng Việt, dù có tan sương cũng chẳng dại gì mà vén mây cho ai vào đâu! 



Cảnh sát Trung Quốc lắp camera giám sát ở Campuchia

N.Thương (theo Cambodia Daily)-16/07/2015 19:38
(NLĐO) - Báo Cambodia Daily ngày 16-7 đưa tin cảnh sát Trung Quốc đã bắt đầu lắp camera giám sát trên các đường phố chính của Phnom Penh, thủ đô Campuchia.

Việc lắp đặt được các sĩ quan mặc thường phục của Bộ Công an Trung Quốc tiến hành từ hôm thứ ba 14-7.

Ông Min Sovanna, giám đốc truyền thông của Cảnh sát Quốc gia Campuchia, cho hay các camera truyền hình mạch kín (CCTV) được lắp tại 3 nút giao thông trọng điểm của Phnom Penh vào ngày 15-7 và đến đầu tháng 8 sẽ hoàn tất việc lắp đặt 200 camera khác.

Một quan chức Campuchia cho hay đây là “quà tặng” từ Bắc Kinh nhằm giúp chính quyền Campuchia kiểm soát tội phạm và giao thông thủ đô. Trước đây, ở Campuchia có rất ít camera được lắp đặt ở các nơi công cộng.

Công an Trung Quốc mặc thường phục đang lắp camera theo dõi trên đường phố Campuchia. Ảnh: Cambodia Daily

Công an Trung Quốc mặc thường phục đang lắp camera theo dõi trên đường phố Campuchia. Ảnh: Cambodia Daily

 Ông Sovanna cũng nói thêm phía Trung Quốc sẽ lắp 32 mét vuông màn hình LCD tại trung tâm chỉ huy ở trụ sở Công an Quốc gia. "Chúng tôi sẽ làm việc 24/24 và mỗi ca trực sẽ có 15 sĩ quan sẵn sàng nhận thông tin và can thiệp những nơi có tội phạm lộng hành hay ùn tắc giao thông" - ông Sovanna nói.

Các camera đến nay đã được lắp ở các giao lộ trọng yếu, chẳng hạn như đoạn giao giữa đại lộ Norodom và đại lộ Mao Trạch Đông, và vẫn đang trong quá trình thử nghiệm.

Ông Sovanna nói không biết tổng trị giá các thiết bị nêu trên song vào tháng 8 năm ngoái, Cảnh sát Quốc gia Campuchia từng tiết lộ Bắc Kinh tài trợ 3 triệu USD cho dự án này.


Màn hình theo dõi các hình ảnh ghi được từ hệ thống camera. Ảnh: Cambodia Daily
Màn hình theo dõi các hình ảnh ghi được từ hệ thống camera. Ảnh: Cambodia Daily

Trung Quốc là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Campuchia và cũng thường cung cấp các thiết bị an ninh quân sự cho nước này. Từ tháng 12 năm ngoái, Bộ Nội vụ Campuchia đã thông báo Trung Quốc sẽ tiếp tục bỏ kinh phí xây dựng một trụ sở mới cho lực lượng công an Campuchia ở Phnom Penh.

Báo đảng xác nhận Nguyễn Ái Quốc "bị ám sát vào giữa năm 1932"

Bạn đọc Danlambao - Một văn kiện quan trọng của đảng cộng sản thừa nhận rằng nhân vật Nguyễn Ái Quốc ‘đã bị ám sát vào giữa năm 1932’ tại Hồng Kông.

Điều này được viết rất rõ trong tập 4, văn kiện đảng toàn tập, tại bài ‘Kỷ niệm ba năm ngày thành lập Đảng cộng sản Đông Dương’:

“Đảng Cộng sản Đông Dương vừa được thống nhất vào đêm trước của cuộc bãi công có tính chất khởi nghĩa của các phu đồn điền Phú Riềng, bởi ba nhóm cộng sản của Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ dưới sự lãnh đạo của người sáng lập của nó là đồng chí Nguyễn ái Quốc, đã bị ám sát vào giữa năm 1932 trong các nhà tù địa ngục của Hồng Công”.

Được biết, tác giả đã viết ra văn kiện trên chính là ông Hà Huy Tập, tổng bí thư đời thứ 3 của đảng cộng sản Việt Nam, nhiệm kỳ 1937-1938, bị Pháp xử bắn năm 1941. 

Tài liệu này hiện đang nằm tại kho lưu trữ trung ương đảng và được website báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam đăng tải vào ngày 10/6/2003.

Trang web dangcongsan.vn là cơ quan ngôn luận chính thức của trung ương đảng cộng sản Việt Nam. Tổng biên tập tờ báo này là ông Đào Ngọc Dũng, sinh năm 1956, cựu uỷ viên ban biên tập báo Nhân Dân.



Lâu nay, sách vở của chế độ vẫn luôn tuyên truyền rằng ông Hồ Chí Minh - lãnh tụ đảng CSVN là người được biết đến qua các tên gọi: Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Ái Quốc...

Trong bài viết gần đây trên Danlambao, trang web cục văn thư và lưu trữ Việt Nam cũng đã phổ biến 1 tài liệu từ năm 1939, xác nhận Hồ Chí Minh chính là thiếu tá bát lộ quân tên Hồ Quang trong ‘quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc’.

Dựa theo các dữ kiện trên, nếu bị ám sát năm 1932 thì chắc chắn Nguyễn Ái Quốc không thể là Hồ Quang (1939), và càng không thể là Hồ Chí Minh (1942).

Như vậy, đảng cộng sản hiện đang ướp xác và cúng bái ai trong lăng Ba Đình?

Như vậy, đảng cộng sản đã gọi kẻ nào, người nước nào là "cha già dân tộc" của hàng triệu người Việt Nam?


Bạn đọc Danlambao
danlambaovn.blogspot.com

Báo đảng xác nhận Nguyễn Ái Quốc "bị ám sát vào giữa năm 1932"

Bạn đọc Danlambao - Một văn kiện quan trọng của đảng cộng sản thừa nhận rằng nhân vật Nguyễn Ái Quốc ‘đã bị ám sát vào giữa năm 1932’ tại Hồng Kông.

Điều này được viết rất rõ trong tập 4, văn kiện đảng toàn tập, tại bài ‘Kỷ niệm ba năm ngày thành lập Đảng cộng sản Đông Dương’:

“Đảng Cộng sản Đông Dương vừa được thống nhất vào đêm trước của cuộc bãi công có tính chất khởi nghĩa của các phu đồn điền Phú Riềng, bởi ba nhóm cộng sản của Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ dưới sự lãnh đạo của người sáng lập của nó là đồng chí Nguyễn ái Quốc, đã bị ám sát vào giữa năm 1932 trong các nhà tù địa ngục của Hồng Công”.

Được biết, tác giả đã viết ra văn kiện trên chính là ông Hà Huy Tập, tổng bí thư đời thứ 3 của đảng cộng sản Việt Nam, nhiệm kỳ 1937-1938, bị Pháp xử bắn năm 1941. 

Tài liệu này hiện đang nằm tại kho lưu trữ trung ương đảng và được website báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam đăng tải vào ngày 10/6/2003.

Trang web dangcongsan.vn là cơ quan ngôn luận chính thức của trung ương đảng cộng sản Việt Nam. Tổng biên tập tờ báo này là ông Đào Ngọc Dũng, sinh năm 1956, cựu uỷ viên ban biên tập báo Nhân Dân.



Lâu nay, sách vở của chế độ vẫn luôn tuyên truyền rằng ông Hồ Chí Minh - lãnh tụ đảng CSVN là người được biết đến qua các tên gọi: Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Ái Quốc...

Trong bài viết gần đây trên Danlambao, trang web cục văn thư và lưu trữ Việt Nam cũng đã phổ biến 1 tài liệu từ năm 1939, xác nhận Hồ Chí Minh chính là thiếu tá bát lộ quân tên Hồ Quang trong ‘quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc’.

Dựa theo các dữ kiện trên, nếu bị ám sát năm 1932 thì chắc chắn Nguyễn Ái Quốc không thể là Hồ Quang (1939), và càng không thể là Hồ Chí Minh (1942).

Như vậy, đảng cộng sản hiện đang ướp xác và cúng bái ai trong lăng Ba Đình?

Như vậy, đảng cộng sản đã gọi kẻ nào, người nước nào là "cha già dân tộc" của hàng triệu người Việt Nam?


Bạn đọc Danlambao
danlambaovn.blogspot.com

Đến khi nào thì tên Quân Đội Nhân Dân... Tàu này được hô biến theo chân Phùng đại tướng?

Vũ Đông Hà (Danlambao) - Quân đội Nhân dân Online. Tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam. Tiếng nói này ngoài ầu ơ tiếng Việt còn có xí xô tiếng Tàu. Hỏi: để chi vậy? Trả lời: thì để "bạn" ta vừa hò vừa khoan, vừa liếm láp lưỡi bò, vừa nắm rõ tình hình của quân đội ta nhăn răng như thế nào. 

Giống như bảng tên sau đây - phải viết như vậy để quan thầy gọi cho dễ, sai cho nhanh, biểu cho gọn và Phùng đại tướng vâng dạ, hảo hảo cho... trọng thị và lẹ làng:


Đến bây giờ thì các đổ mười thiến lợn của lò lợn Binh Đà đã thậm thò thậm thụt cắt bỏ cục u của anh bộ đội cụ Hồ (Quang) ngày xưa "đánh Mỹ là đánh cho Tung Của", ngày nay "lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc."

Các đồng chí trong Ban Bảo-vệ-lãnh-đạo-sau-khi-chết thì tuyên bố đây là một cú đi mây về gió Paris-Hà Nội-Paris, giống như cú đi gió về mây bằng chuyên cơ không không thấy của cố đồng chí Tau-Có-Chi-Mô. Anh Ba Ếch thì cười cười nâng ly cụng với anh Bá Tỵ và đặt tên cho nó là cuộc đảo chánh phòng the êm như gối mộng. Còn anh Tư móm thì bình dân học vụ gọi nó là một cú Phành Đứt Thung. 

Nói chung thì trong bối cảnh của cuốn phim bộ lâm ly một kỳ nhiều tập Gần Mỹ Xa Tàu đang ăn khách, đồng chí nào của đảng ta ăn nằm, chung chạ, chăn gối nồng nàn quá xá và quá độ với các đồng chí đảng bạn thì được ưu ái cho vào bệnh viện để điều trị - nhẹ thì TIEMLA, nặng thì SIDA, quá nặng thì RADI.

Phim hay như vậy thì còn chần chờ gì nữa mà không tống khứ cục u Quân Đội Nhân Dân Tàu Vị Yểu này cho nó hợp tình hợp cảnh:


Hãy cho nó đi mây về gió theo thái thú họ Phùng, người Việt gốc con hoang. 



Hai câu chuyện của ngư dân nói lên cái hèn của những người trách nhiệm bảo vệ biển

Bạn đọc Danlambao - 11 ngư dân Bình Định được cho mặc áo Hướng về biển Đông, chụp hình cười rạng rỡ sau một chuyến đi biển hãi hùng vì sóng dữ. Không có bóng dáng Tàu khựa, chỉ có sóng ngập thuyền. Vì thế họ được hải quân vùng 4 đi cứu. 

11 ngư dân Quảng Ngãi cũng trở về. Họ bị Tàu khựa rượt đuổi và đâm chìm. Họ được cứu bởi những đồng bào ngư dân khác. Mỗi khi có mặt những tên hải tặc bạn vàng của Phùng Quang Thanh thì hải quân VN biến mất, bộ đội biên phòng anh dũng bám bờ bám bụi chờ ngư dân thoát nạn trở về để lập biên bản...

11 ngư dân bị tàu Trung Quốc tông chìm đã vào bờ

Dù đã đưa phương tiện di chuyển để tránh, thế nhưng tàu cá QNg 90559 TS, vẫn bị tàu của Trung Quốc đuổi theo đâm chìm, rồi bỏ đi. Khoảng 3 giờ sau khi thấy tàu Trung Quốc bỏ đi xa, tàu cá QNg 95248 TS, do ông Lê Văn An, ở cùng xã làm thuyền trưởng đang đánh bắt gần khu vực đó mới dám chạy đến ứng và vớt lên 11 ngư dân lên.

Chiều tối ngày 15.7, tàu cá QNg 95779 TS, do ông Võ Hải, ở xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, làm thuyền trưởng đã đưa 11 ngư dân ở cùng xã đi trên tàu cá mang số hiệu QNg 90559 TS, bị tàu Trung Quốc đâm chìm khi đang khai thác tại Hoàng Sa về cập cảng Tịnh Kỳ, TP.Quảng Ngãi an toàn. 
Ngay sau khi các ngư dân về đến cảng, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ngãi đã tiếp cận các ngư dân trên tàu bị nạn để làm rõ vụ việc.

Tàu cá đưa 11 ngư dân bị nạn về bến 

Theo lời ngư dân Trương Văn Đức (1970, ở xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, thuyền trưởng tàu cá bị đâm chìm) trình báo thì ông cùng 10 ngư dân xuất bến để ra Hoàng Sa đánh bắt vào ngày 1.7.

Đến khoảng 23 giờ ngày 9.7, khi đang khai thác hải sản tại Hoàng Sa cùng một số tàu cá khác ở Quảng Ngãi thì bị tàu Trung Quốc chạy đến, rồi dùng đèn chiếu công suất lớn rọi và xua đuổi không cho khai thác. 

Thuyền trưởng Đức kể: “Dù đã ngừng đánh bắt và đưa phương tiện di chuyển để tránh, thế nhưng vẫn bị tàu của Trung Quốc đuổi theo đâm chìm, rồi bỏ đi. Rất may là trước khi bị đâm chìm, tôi đã kịp gọi vào Icom kêu cứu”.

Bộ đội Biên phòng Quảng Ngãi tiếp cận để ghi lại lời trình báo 

Vì vậy khoảng 3 giờ sau, vào khoảng 2 giờ, ngày 10.7, khi thấy tàu Trung Quốc bỏ đi xa, tàu cá do ông An làm thuyền trưởng đang đánh bắt gần khu vực đó mới dám chạy đến ứng và vớt lên.

Đến sáng cùng ngày, thuyền trưởng An đưa 11 thuyền viên sang tàu cá do ông Hải làm thuyền trưởng chở vào bờ, để ở lại tiếp tục khai thác. 

Dù may mắn giữ được mạng sống, thế nhưng chiếc tàu cá QNg 90559 TS, cùng toàn bộ ngư cụ và 1,5 tấn hải sản khai thác được...trị giá trên 3 tỉ đồng đã bị mất sạch. 

Hiện cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ngãi đang tiếp tục điều tra, làm rõ vụ việc. 

Tin, ảnh: Tới Phan


*

Chuyến đi biển hãi hùng của 11 ngư dân Bình Định bị chìm tàu ở Trường Sa

Linh Phạm (LĐO) - Đêm tối mịt mùng, con tàu QNg 98604 cùng 11 ngư dân Bình Định chòng chành giữa những con sóng dữ, rồi bất ngờ sóng đánh chìm tàu, mạng sống của 11 con người trở nên mong manh giữa lằn ranh sinh tử. 

Sáng 15.7, tàu 561 thuộc Vùng 4 Hải quân đã đưa 11 ngư dân Bình Định trở về cảng Cam Ranh, Khánh Hòa an toàn sau chuyến biển hãi hùng. 

Từ boong tàu bước xuống, đại diện Vùng 4 Hải quân và các ngư dân đã bắt tay thật chặt, ai nấy đều cười rạng rỡ nhưng nét mặt vẫn còn ám ảnh bởi chuyến biển kinh hoàng. 

Từ cảng Cam Ranh, các ngư dân được đưa về Đồn Biên phòng TP. Cam Ranh. Vừa đến nơi, chị Nguyễn Thị Tuyết đã khóc òa khi gặp cháu trai Nguyễn Văn Quang(24 tuổi). 

Ôm chầm lấy cháu trai, chị Tuyết thút thít: “Cháu của dì đây rồi, hôm trước chị cháu gọi vô trong này dì như ngồi trên đống lửa, cháu có mệnh hệ gì thì mẹ không sống nổi”. 

Ngưng nước mắt, chị Nguyễn Thị Tuyết kể, sáng 10.7, cháu gái Nguyễn Thị Sang (chị gái Quang) hốt hoảng báo tin em trai bị chìm tàu giữa biển, chỉ báo về gia đình như vậy rồi mất liên lạc. Mẹ Quang nghe tin dữ đã ngất xỉu, không còn đứng dậy được nữa. 

“Nghe tin xong tôi rụng rời, chỉ biết gọi điện cho chỗ nọ chỗ kia, theo dõi thông tin báo chí để hỏi thăm tình hình cháu, đến tối 11.7, nghe tin Hải quân vùng 4 đã cứu được cháu thì mới yên tâm một phần”, chị Tuyết rưng rưng kể. 

Nhớ lại giây phút sinh tử , ngư dân Nguyễn Văn Quang chưa hết bàng hoàng: “Tàu chìm xuống, em bơi lênh đênh trên biển, bị “uống nước” khoảng 4 giờ, cứ ngỡ mình không còn sống nữa rồi”.

Các ngư dân cười rạng rỡ khi trở về từ "cõi chết". Ảnh: L.P

Thuyền trưởng Đỗ Văn Thu( xã Hoài Thanh, huyện Hoài Nhơn, Bình Định) cho biết, khi nước ập vào tàu, anh em đã cố gắng tạt ra nhưng sóng cứ đánh liên tục, tàu chìm hẳn, các anh em hớt hải vét những gói mì còn sót lại để cầm hơn, “chia ca” ra để một nửa ngồi trên thuyền thúng, một nửa bơi xung quanh bấu víu thấy chiếc thuyền mỏng manh, chòng chành.

Lúc gặp nạn, mỗi người đều cầm một chiếc điện thoại nhưng khi rớt xuống biển chỉ còn một chiếc điện thoại dùng được. Sau cuộc gọi đầu tiên về gia đình trong đêm, chiếc tàu trôi dạt đến nơi không có sóng, lúc này ruột gan người thân trên bờ như lửa đốt. Các lực lượng tìm kiếm cũng gặp khó khăn khi liên lạc với các ngư dân.

Chiều ngày 10.7, Trung tâm cứu nạn khu vực 4 và Vùng 4 Hải quân đã phối hợp liên lạc và tìm kiếm các ngư dân. Trao đổi với PV Lao Động lúc chiều tối, ông La Trần Quang, Trưởng phòng Phối hợp cứu nạn thuộc Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải Khu vực IV (Nhatrang MRCC) nói: “Chúng tôi đã liên lạc với các ngư dân, họ nói đang bơi trên thuyền thúng, cách đảo Nam Yết 1,5 hải lý, nhưng báo cho đảo trưởng thì ông này báo không quan sát được”.

Tối cùng ngày, liên lạc với ngư dân tiếp tục bị đứt quãng nhiều lần do mất sóng. Đến lúc tưởng chừng vô vọng, tàu cá BĐ-95541-TS đang đánh bắt gần đó đã cứu vớt và báo với các lực lượng chức năng.

Đại tá Nguyễn Công Sơn-Ủy viên Thường vụ Đảng ủy-Phó Chính ủy Tư lệnh vùng 4 cho biết, lúc 13h30 chiều 11.7, các chiến sĩ hải quân đã tiếp cận và đưa toàn bộ 11 ngư dân lên tàu sơ cứu, cứu chữa, chăm sóc sức khỏe, sau đó đưa vào đảo Song Tử Tây. 

Tại đây, kíp quân y, cán bộ chiến sĩ trên đảo đã tích cực chăm sóc sức khỏe, cung cấp quần áo và nhu yếu phẩm cho 11 ngư dân.

Theo chỉ đạo tàu, tàu 561 đã tiếp nhận 11 ngư dân và đưa vào đất liền đảm bảo an toàn tuyệt đối. 

Những việc làm của các chiến sĩ vùng 4 hải quân thể hiện quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt giữa hải quân và ngư dân. “Việc cứu ngư dân là mệnh lệnh của trái tim, thể hiện hải quân là chỗ dựa vững chắc của ngư dân”, đại tá Sơn khẳng định và chúc các ngư dân sớm ổn định cuộc sống, tiếp tục vươn khơi bám biển.

Tại lễ bàn giao 11 ngư dân, ông Phạm Trường-Phó Chủ tịch UBND huyện Hoài Nhơn đã thay mặt chính quyền Bình Định cảm ơn Vùng 4 Hải quân và tặng bánh tráng dừa, đặc sản của Bình Định cho các chiến sĩ tham gia cứu hộ 11 ngư dân Bình Định. 

Vùng 4 Hải quân đã trao 500 nghìn đồng/ người, ông Phạm Trường cũng thay mặt UBND tỉnh Bình Định hỗ trợ 4 triệu/ người cho các ngư dân. Sau lễ bàn giao, các ngư dân đã được lên xe về huyện Hoài Nhơn, Bình Định.

Cha và con trên cùng con tàu gặp nạn

Trong chuyến biển gặp nạn, ngư dân trẻ nhất là Lý Ngọc Thiện(17 tuổi), Thiện là con trai của ngư dân Lý Văn Tâm, cha con em Thiện anh Tâm cùng làm bạn cho tàu QNg 98604.

Thiện kể, em đi biển từ năm 17 tuổi, hai cha con là lao động chính trong gia đình có mẹ Lê Thị Nga và chị gái Lý Ngọc Thảo.

“Lúc tàu gặp nạn, hai cha con em gọi một cuộc về nhà, mẹ khóc qua điện thoại, sau đó thì mất sóng, đầu dây bên kia im bặt”, Thiện nhớ lại.

Chùm ảnh đón các ngư dân gặp nạn trở về:

Đại diện Vùng 4 Hải quân đón ngư dân. Ảnh: L.P 

Dì rơi nước mắt đón cháu. Ảnh: L.P 

Ông Phạm Trường-Phó Chủ tịch UBND huyện Hoài Nhơn 
tặng bánh tráng cho các chiến sĩ Vùng 4 Hải quân. Ảnh: L.P