Sunday, May 3, 2015

Tín đồ Hòa Hảo tình nguyện chữa bệnh cho người nghèo

RFA-03-05-2015
Trung tâm khám chữa bệnh từ thiện ở chùa Phật Tổ, Cà-Mau
Trung tâm khám chữa bệnh từ thiện ở chùa Phật Tổ, Cà-Mau-RFA
Họ là những cư sĩ, sống đời thanh đạm và nguyện noi gương Đức Huỳnh Giáo Chủ, đi chu du thiên hạ để làm việc thiện, gieo hạt mầm thiện lành nhằm xoa dịu vết đau của những cuộc đời không may mắn. Có thể quãng đường của họ đi không xa nhưng ước mơ và ý nguyện của họ thì rất dài, bước chân của họ tìm đến những nơi nghèo khổ, khốn khó nhất của đất nước hoặc chí ít cũng là nơi eo óc, khổ sở nhất của xứ Tây Nam Bộ. Những tín đồ Hòa Hảo đã tự nguyện làm những hành nhân đi chữa bệnh cho người nghèo, không cần bất cứ một sự đổi chác nào, đơn giản, ước mơ của họ là chữa lành bệnh cho những người khốn khó.
Những góc khuất đời sống
Ông Nhuận, một tín đồ Hòa Hảo ở Cà Mau, chia sẻ với chúng tôi: “Tôi đi nhiều nơi nhiều chỗ như Thới Bình, Cái Nước, Trần Văn Thời hoặc Năm Căn… đi xuyên suốt không có ngày nào ở nhà. Mình chở thuốc theo ai xin thì mình cho, hoặc bắt mạch. Mình đi hay gặp chỗ khó khăn vì chính quyền không thống nhất. Giờ muốn được việc mình thì phải nhịn đảng thôi. Mỗi lần đi khoảng 20 – 30km vì mình ghé chỗ này một chút chỗ kia một chút chứ không có ở lâu”
Ông Nhuận chia sẻ thêm là trong cuộc đời hơn bảy mươi tuổi và gần sáu mươi năm theo đức Huỳnh Giáo Chủ để tìm chơn nguyên cuộc sống, tìm lẽ đạo, lẽ đời, ông nhận ra cuộc sống của mình thật ý vị và không uổng phí. Với sức khỏe của một võ sư, tu luyện và tập dượt mỗi sáng sớm, sau đó lễ Phật, chay tịnh, thiền định chừng 15 phút và chuẩn bị hành lý lên đường, một ngày mới bắt đầu.
Một ngày mới của ông Nhuận với chiếc xe đạp sắt cũ dong ruổi khắp nơi, lúc lên núi, khi xuống biển, tìm những căn nhà nghèo để ghé thăm, hỏi chuyện đời, sau đó nhìn từng người để xem cơ địa của họ và nếu có ai khiến ông nghi vấn đang mang bệnh nào đó thì xin phép họ mười phút để xem mạch, sau đó tư vấn cho họ cách ăn uống và không quên bốc một than thuốc Nam tặng cho họ, cho số điện thoại, dặn nếu như uống thuốc thấy mạnh khỏe thì hãy gọi điện thoại để ông gửi thuốc đến tặng.
Thường thì những người nào từng uống thuốc của ông Nhuận đều gọi đến vài lần để yêu cầu bốc thuốc thêm. Và đương nhiên là không bao giờ ông nhận tiền thuốc, trong trường hợp người chữa bệnh nghèo khổ quá, ông Nhuận về nhà xin gạo của vợ con hoặc các đạo hữu để đến biếu cho họ.
Ông Nhuận cho biết thêm là nhiều đạo hữu khác cũng đi làm việc thiện giống như ông. Và để có tiền để duy trì đời sống gia đình, hoằng dương việc thiện, các đạo hữu đã hợp tác để làm những quán cơm chay, trồng rau, trồng cây bonsai bán trên thị trường và cũng có thể chữa bệnh cho những bệnh nhân khá giả để lấy tiền sung vào quĩ. Tỉ lệ sung vào quĩ là 50%, số tiền còn lại các đạo hữu được phép giữ để chi tiêu, tiếp tục làm việc thiện.
Trờ về chùa sau một chuyến đi chữa bệnh
Trờ về chùa sau một chuyến đi chữa bệnh
Nhưng rất tiếc là hiện tại, số đạo hữu tình nguyện làm việc thiện ở những khu vực nông thôn hẻo lánh cũng chỉ ngót nghét vài chục người nhưng nhu cầu chữa bệnh của người nghèo lại quá cao. Hầu như đi bất kì vùng nông thôn hẻo lánh nào, các đạo hữu Hòa Hảo đều nhận ra nơi ấy cần một sự chia sẻ, giúp đỡ trên mọi nghĩa. Chính vì vậy, trong một số trường hợp bệnh nặng nhưng không có tiền đi bệnh viện, các đạo hữu vừa giúp đỡ thuốc men chạy chữa vừa đi vận động, xin từng nhà, từng chùa để giúp đỡ, mặc dù sự giúp đỡ này đôi khi cũng vô vọng.
Như trường hợp một gia đình Kh.mer ở huyện Mỹ Xuyên, Sóc Trăng, người chồng bị bệnh nan y, người vợ bị huyết áp cao, ba đứa con nhỏ phải nghỉ học sớm để phụ giúp cha mẹ đi bắt ốc, đắp đầm tôm thuê mà kiếm tiền. Mặc dù các đạo hữu đã cố gắng giúp đỡ nhưng chẳng thể giúp cho trọn vẹn được, bởi lực bất tòng tâm.
Một bộ phận người bị lãng quên
Một vị đạo hữu khác, tên Phúc, có thâm niên gần hai chục năm chữa bệnh từ thiện ở các trung tâm từ thiện Tây Nam Bộ, chia sẻ: “Đi đến từng nhà rồi hốt thuốc, rồi chỉ cho người ta cách sắc thuốc nam, cũng giống thuốc bắc vậy đó. Rồi trị, chỉ cách sắc thuốc Nam. Sau này sẽ có bệnh viện Hòa Hảo mở ở Cà Mau này. Hội chữa bệnh không lấy tiền, chỉ làm từ thiện thôi, ai khá khá thì gửi hội một ít tiền để ủng hộ người nghèo…”.
Ông Phúc chua chát nói với chúng tôi rằng hiện tại, dù hiểu theo cách gì đi nữa thì cũng không thể chối bỏ một sự thật là một bộ phận lớn dân tộc thiểu số người Kh.mer Tây Nam Bộ bị bỏ quên, họ sống rất khó khăn, nghèo khổ, tương lai tăm tối.
Bởi quá nghèo nên rất nhiều gia đình không có cơ hội cho con đến trường, hơn nữa, đường sá xa xôi, muốn con học đến cấp phổ thông trung học phải tốn khoảng chi phí thuê trọ trên thị trấn, thị xã, trung tâm huyện. Mà với nhiều gia đình Kh.mer cái ăn còn không đủ huống chi chuyện cho con ở trọ để học. Chính vì vậy, phần đông trẻ em Kh.mer không đến trường, thanh thiếu niên không biết trường đại học là gì và cuộc sống đối với họ là quần quật làm, quần quật tồn tại và đôi khi làm mãi đến lúc đổ bệnh không có tiền chữa trị phải đi ăn xin.
Những người Kh.mer bị bỏ quên giữa xã hội là nỗi nhức nhối không chỉ riêng của các đạo hữu Phật Giáo Hòa Hảo, mà hầu hết những ai còn chút lương tri đều suy nghĩ về số phận của họ. Nhưng giữa suy nghĩ, trăn trở và giúp đỡ vẫn là một khoản cách quá lớn. Thậm chí khoản cách giữa tuyên truyền, ca ngợi lòng bác ái và thực tâm giúp đỡ cũng là một đường ranh giới khó phá bỏ.
Cũng theo ông Phúc, nhu cầu tối thiết của người Khmer Tây Nam Bộ hiện tại là một chính sách tốt đẹp, thực lòng và đừng làm theo kiểu hình thức cho có làm nhưng chẳng ra trò trống gì. Nhưng điều đó thật là khó trong lúc này. Càng khó, nhóm thầy thuốc nhà vườn của các đạo hữu Hòa Hảo lại càng phải nỗ lực để giúp đỡ. Bởi mọi ngóc ngách cuộc đời, mọi ngóc ngách xã hội Việt Nam, nhất là đồng bào thiểu số vẫn chưa bao giờ chạm được vào văn minh và mức sống của con người hiện đại. Đây là một câu hỏi lớn mà chỉ có lương tri và trách nhiệm của giới lãnh đạo đất nước mới có thể trả lời rõ ràng.
Rất tiếc, nỗi khốn khổ ở thôn quê miền Tây Nam Bộ nói chung và cộng đồng người Kh.mer nói riêng vẫn còn là câu hỏi bị bỏ ngõ nhiều năm nay!
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Hải quân Việt Nam phô trương sức mạnh

Cuộc phô trương sức mạnh hải quân diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc đang mạnh mẽ khẳng định chủ quyền trên biển Đông.
Cuộc phô trương sức mạnh hải quân diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc đang mạnh mẽ khẳng định chủ quyền trên biển Đông.
Theo VnExpress, Reuters, VOA-03.05.2015

Hàng nghìn binh sĩ hải quân Việt Nam hôm nay đã tham gia cuộc diễu binh đánh dấu 60 năm ngày thành lập, và người đứng đầu lực lượng này nói rằng việc “đấu tranh, bảo vệ chủ quyền phức tạp hơn”.

Ngòai ra, các chiến hạm, tàu tuần tra, tàu ngầm Kilo và nhiều biên đội tàu mặt nước của Hải quân Việt Nam đã duyệt đội hình trên biển tại quân cảng Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Đô đốc Nguyễn Văn Hiến, thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Hải quân Việt Nam, được báo chí trích lời nói: “Tình hình trên biển Đông, cũng như các vùng biển nước ta đã và đang diễn ra những diễn biến phức tạp, xuất hiện nhiều động thái mới, ảnh hưởng trực tiếp đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”.

Ông nói thêm rằng “sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền đã và đang bước vào một giai đoạn mới, nặng nề và phức tạp hơn”.

Trong khi đó, Chủ tịch Trương Tấn Sang đã ca ngợi lực lượng hải quân Việt Nam và “nêu rõ trọng trách bảo vệ chủ quyền đất nước trong tình hình mới”.

Cuộc phô trương sức mạnh hải quân diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc đang mạnh mẽ khẳng định chủ quyền trên biển Đông bằng việc bồi đắp, xây các đảo nhân tạo mà giới chức Mỹ nói sẽ tạo nên Vạn lý Trường thành bằng cát.

'Gia tăng chi tiêu quân sự'

Mới đây, Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế (SIPRI) có trụ sở tại Stockholm, Thụy Điển, nói rằng chính quyền Hà Nội tiếp tục gia tăng chi tiêu quân sự với mức tăng 9,6% trong năm 2014, lên 4,3 tỷ đôla.

Mức tăng chi tiêu này cao hơn so với mức trung bình 5% của khu vực châu Á và châu Đại Dương.

Tuần này, các hãng thông tấn quốc tế đưa tin, Việt Nam đang trang bị cho đội tàu ngầm loại tên lửa có khả năng bắn tới các thành phố ven biển của Trung Quốc.

Dữ liệu đăng trên trang web của SIPRI cho thấy Việt Nam đang mua phiên bản dùng để tấn công đất liền của loại tên lửa Klub do Nga chế tạo.

Theo Viện nghiên cứu này, tính từ năm 2005 tới nay, chi tiêu quân sự của Việt Nam tăng nhanh tới 128%, và điều đó xuất phát từ tình hình căng thẳng với Trung Quốc tại biển Nam Trung Hoa (tức biển Đông).

Năm qua, chính quyền Bắc Kinh, quốc gia hiện có tranh chấp chủ quyền lãnh hải với Việt Nam và một số quốc gia khác trên biển Đông, chi tới 216 tỷ đôla cho quân sự.

Theo Sách trắng về Quốc phòng của Việt Nam công bố lần gần đây nhất là năm 2009, Việt Nam đã chi hơn 27 nghìn tỷ đồng, tương đương 1,8% tổng sản phẩm quốc nội, cho ngân sách quốc phòng trong năm 2008.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh từng được báo chí trong nước dẫn lời cho biết sẽ công bố Sách trắng về Quốc phòng vào cuối năm ngoái.

Tuy nhiên, cho tới này cuốn sách quan trọng về vấn đề quốc phòng vẫn chưa ra mắt.

Một hợp đồng quân sự lớn nhất của Việt Nam gần đây là việc mua 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo của Nga năm 2009, trị giá khoảng 2 tỷ đôla, và dự kiến sẽ được bàn giao tất cả vào năm 2016.

“Các người còn đòi hỏi gì nữa?”

Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói về những trại cải tạo sau năm 1975

VOA Tiếng Việt - Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã hỏi ngược lại báo giới ở Paris như vậy sau khi tuyên bố những trại cải tạo có mục đích giúp những người “phạm tội ác tày trời” trở về với cuộc sống bình thường.

Kết thúc chuyến công du bốn ngày ở Pháp vào cuối tháng 4 năm 1977, ông Đồng có cuộc họp báo ở Paris, nơi ông được hỏi về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ năm 1975.

Trả lời lưu loát bằng tiếng Pháp, ông Đồng quả quyết những trại cải tạo là “sự thể hiện cực kỳ nghiêm túc quan niệm nhân quyền” của Việt Nam.

Sau năm 1975, hàng trăm ngàn sĩ quan, viên chức từng phục vụ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa phải đi học tập cải tạo tư tưởng trong những trại tập trung, thời gian từ vài ngày cho tới lâu nhất là 17 năm, theo ghi nhận của Bộ Ngoại giao Mỹ. 

Năm 2001, báo Orange County Register của Mỹ đăng một loạt bài về cuộc đời của những người từng sống trong trại cải tạo ở Việt Nam. Kết quả tìm hiểu của tờ báo từ năm 1975 đến năm 2001 cho biết ước tính một triệu người bị giam giữ mà không có cáo buộc chính thức hay được xét xử, và 165.000 người chết.

Loạt bài của báo OCR được đăng lại ở đây:
http://dartcenter.org/content/camp-z30-d-survivors#.VURJf5NQCJw. 

Bản gốc trên báo in ở đây: 


Trung úy CSGT bị đâm thủng bụng trước cửa quán karaoke

Một CSGT - trật tự ở Hải Phòng bị bảo vệ quán karaoke đâm lòi ruột ngay trước cửa quán karaoke này ở quận Ngô Quyền, Hải Phòng.

Ngày 2/5, nguồn tin từ cơ quan bảo vệ pháp luật TP Hải Phòng cho biết cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền (Hải Phòng) đã khởi tố bị can, bắt tạm giam Nguyễn Văn Quang, nhân viên một công ty dịch vụ bảo vệ.
Trước đó, Quang đã dùng dao đâm trọng thương trung úy Đỗ Tuấn Hưng, cán bộ đội Cảnh sát giao thông - Trật tự (CSGT-TT) Công an quận Kiến An, tại quán karaoke.
Theo nguồn tin của Báo Người Lao Động, tối 2/5, trung úy CSGT này cùng một nhóm bạn đến hát karaoke tại quán A&D (đường Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, Hải Phòng). Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi ra về, nhóm của anh Hưng bị mất vé gửi xe máy. Thấy vậy, bảo vệ tại quán karaoke là Nguyễn Văn Quang (SN 1983, là nhân viên của Công ty dịch vụ bảo vệ Đ.V.) yêu cầu kiểm tra đăng ký xe máy và 2 bên đã xảy ra xô xát.
Liền đó, nhóm của Hưng đã lao tới “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với nhân viên bảo vệ này. Yếu thế, Quang rút dao thủ sẵn trong người đâm 1 nhát vào bụng khiến anh Hưng lòi ruột. Ngay sau đó, nạn nhân được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, còn Quang đã bỏ trốn.
Một lãnh đạo đội CSGT-TT quận Kiến An cho biết mặc dù vết thương không ảnh hưởng đến tính mạng nhưng trung úy Hưng vẫn phải nằm viện điều trị dài ngày. Tuy nhiên, vị này cho biết thời điểm đó, anh Hưng chỉ tình cờ đi ngang qua thì thấy đám xô xát nên đã vào can thiệp và bị đâm.
Chủ Nhật, 03/05/2015 - 08:22
Theo Tr.Đức
Người lao động


VTV cuống cuồng xoá dấu vết clip Điếu Cày gặp Tổng thống Obama

Bạn đọc Danlambao - Đài truyền hình Việt Nam đang lùng sục khắp Youtube nhằm yêu cầu tháo gỡ tất cả các clip đăng lại chương trình ‘Chào buổi sáng’ phát sóng hôm 2/5/2015, trong đó có cảnh blogger Điếu Cày gặp tổng thống Obama.

Sự kiện kênh truyền hình trung ương vô tình ‘vinh danh’ blogger Điếu Cày – người vốn bị coi là kẻ thù của chế độ, dường như đã khiến chóp bu cộng sản tức giận.

Sáng ngày 3/5/2015, hầu hết các các video ghi lại chương trình nêu trên của VTV đều bị xoá không còn dấu vết, lý do được giải thích vì ‘vi phạm bản quyền’ dựa theo quy định của Youtube.

Thông thường, Youtube chỉ xoá video khi bị báo cáo vi phạm chính sách sử dụng. Trong trường hợp vi phạm bản quyền, người chủ sở hữu video sẽ trực tiếp khiếu nại lên Youtube.

Theo thông báo của Youtube, những video bị xóa là do sự khiếu nại của "Vietnam Television Digital Center", đây được cho là một bộ phận thuộc VTV, có nhiệm vụ chuyên đi báo cáo trên Youtube.

Trong quá khứ, VTV đã nhiều lần dựng clip cắt xén, bịa đặt về blogger Điếu Cày


Dù vậy, hành động xóa dấu vết như trên là vô ích. Các mạng xã hội như facebook vẫn tiếp tục phổ biến rộng khắp hình ảnh và đoạn clip này. Sự kiện Điếu Cày gặp gỡ tổng thống Obama lại càng được chia sẻ đến nhiều người hơn.

Phản ứng kiện cáo của VTV dường như là một 'biện pháp khắc phục' đối phó trước cơn phẫn nộ của đảng. Nhất là trong thời điểm chuyến thăm Hoa Kỳ của TBT Nguyễn Phú Trọng sắp diễn ra.

Trong một xã hội tự do, một bản tin như trên là điều rất đỗi bình thường, nhưng đối với chế độ cộng sản thì đó lại là một 'sai phạm tày trời'. Việc lùng sục xóa dấu vết khắp Youtube phần nào cho thấy mức độ nghiêm trọng của vụ việc, đồng thời cũng lộ rõ sự hoảng loạn của những người có liên quan.

Là một công cụ tuyên truyền đắc lực cho chế độ độc tài, VTV đang gánh chịu hậu quả từ chính những kẻ mà mình đang phục vụ. Đây cũng là một bài học chung cho những kẻ làm tay sai cho đảng. 


3/5/2015

Chính quyền lại 'vận động' mua nông sản cứu nông dân

SÓC TRĂNG (NV) - Tỉnh Ủy, Liên Ðoàn Lao Ðộng, Tỉnh Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản của tỉnh Sóc Trăng đã gửi văn bản cho các cấp trực thuộc trong tỉnh đề nghị mua hành tím để cứu nông dân.

Tại Sóc Trăng, nông dân trồng khoảng 6,200 héc ta hành tím, tổng sản lượng khoảng 100,000 tấn nhưng năm nay xuất cảng gặp khó khăn nên lượng hành tím còn tồn đọng lên tới 60,000 tấn.

Thu hoạch hành tím ở Vĩnh Châu, Sóc Trăng. (Hình: Vietpress)

Hiện nay, giá hành tím chỉ còn từ 4,000 đồng đến 5,000 đồng/ký. Trong khi chi phí đã lên tới 7.000 đồng/ký. Nếu không bán được hành tím sớm, nông dân trồng hành tím sẽ mất cả chì lẫn chài. Ða số các gia đình nông dân trồng hành tím tại Sóc Trăng thuộc dạng cận nghèo hoặc nghèo.

Cách nay hai tuần, giới sử dụng Internet tại Việt Nam từng lên tiếng kêu gọi mọi người mua dưa hấu cứu nông dân Quảng Nam, Quảng Ngãi trong bối cảnh nông dân trong dưa hấu tại hai tỉnh này tiếp tục phải đổ bỏ nông sản mà họ dốc hết sức, hết vốn liếng để trồng.

Do thương nhân Trung Quốc ngừng mua, giá dưa hấu ở Quảng Nam và Quảng Ngãi chỉ còn khoảng 300 đồng một ký. Một tạ dưa hấu nay chỉ còn khoảng 30.000 đồng, tương đương với giá một tô phở bình dân nhưng bán với giá đó cũng chưa chắc có người mua.

Ðiệp khúc vừa kể liên tục lập đi, lập lại đã vài thập niên và là nguyên nhân khiến nông dân Việt Nam thêm khốn cùng do bế tắc về sinh kế và ngập trong nợ nần.

Trước sự kiện tiền bán một tạ dưa hấu chỉ mới đủ trả một tô phở loại bình dân là chuyện nhiều nông dân từng vay mượn để mua bò sữa nhằm thay đổi sinh kế đã phải rao bán bò sữa theo giá bò thịt vì sữa bò không có chỗ tiêu thụ.

Cuối tháng 3 vừa qua, ông Trần Trường Sơn, phó chủ tịch Hội Nông Dân Sài Gòn cho biết, riêng tại Củ Chi đã có 322 gia đình nông dân không ký được hợp đồng bán sữa cho các công ty mua sữa như Vinamilk và Friesland Campina. Cũng vì vậy sữa bò tươi do họ vắt ra phải đổ bỏ.

Ðiều tương tự đã từng xảy ra ở Lâm Ðồng hồi đầu năm nay. Do thấy nuôi bò sữa có thu nhập ổn định, ít rủi ro hơn trồng trọt. Nhiều gia đình nông dân ở Ðà Lạt đã vay tiền mua bò để nuôi lấy sữa bán cho công ty Dalat Milk. Cuối cùng, vì mỗi ngày, công ty Dalat Milk chỉ có khả năng tiêu thụ khoảng 6.5 tấn sữa bò tươi, trong khi lượng sữa mà nông dân tỉnh Lâm Ðồng vắt được lên tới 9 tấn/ngày nên hồi trung tuần tháng giêng năm nay, mỗi ngày, nông dân tỉnh Lâm Ðồng phải đổ bỏ vài tấn sữa.

Vào thời điểm đó, đại diện Sở Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn tỉnh Lâm Ðồng thừa nhận đã không “kiểm soát số lượng bò sữa, khiến số lượng đàn bò tăng quá nhanh, lượng sữa tươi thu được vượt qua khả năng thu mua của các công ty chế biến sữa” và làm nông dân điêu đứng.

Còn năm ngoái, nông dân Việt Nam nhiều nơi khóc ròng vì cao su không có đầu ra nên họ phải chặt bỏ cao su để chuyển sang trồng cà phê, hạt tiêu. Trước đó bảy năm, họ đã từng đốn bó cà phê, điều để trồng cao su vì trồng cà phê và điều bị lỗ nặng.

Năm ngoái không chỉ có chuyện đốn bỏ cao su. Vào tháng 3 năm ngoái, hàng trăm ngàn tấn dưa hấu của nông dân trở thành rác vì thương nhân Trung Quốc không còn mua dưa hấu với số lượng lớn như năm trước đó. Ðến tháng 8 năm 2014, nông dân trồng thanh long ở Bình Thuận phải đem thanh long cho bò ăn vì việc xuất cảng thanh long gặp trở ngai. Cuối năm, cà chua ở Lâm Ðồng, bí đỏ ở Khánh Hòa cũng rơi vào tình trạng tương tự...

Trong khi lãnh đạo Bộ Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam, bảo rằng, lý do chính dẫn tới tình trạng nông dân Việt Nam thường xuyên phải đổ bỏ những loại nông sản mà họ trồng là vì nông dân thiếu hiểu biết về thị trường thì nhiều chuyên gia khẳng định, việc nông dân thường xuyên phải đổ bỏ các loại nông sản là vì năng lực của giới hữu trách quá kém.

Chẳng hạn cho đến nay, Bộ Thương mại vẫn không dự đoán được nhu cầu, khuynh hướng thị trường cả trong lẫn ngoài, còn các bộ như Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn, Công Thương vẫn chưa thiết lập được hệ thống phân phối nông sản hợp lý và hữu hiệu.

Tuy Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp và chính quyền Việt Nam liên tục giới thiệu hang loạt chính sách được tuyên truyền là “ưu đãi” nhằm phát triển “tam nông” (nông dân-nông thôn-nông nghiệp) nhưng năm 2000, đầu tư vào nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp) chỉ chiếm 4.7% GDP, đến năm 2005 giảm xuống còn 3.1%, năm 2010 còn 2.4% và năm 2012 chỉ còn 1.6%.

Theo một số chuyên gia, khi chính sách chỉ là như thế với nông nghiệp, FDI vào lĩnh vực nông nghiệp giảm dần là điều đương nhiên, dẫu cho Việt Nam là một trong những quốc gia xuất cảng gạo, cà phê, hạt tiêu, cao su,... nhiều nhất thế giới.

Trong khi vốn đầu tư của ngoại quốc (FDI) vào công nghiệp, công nghệ cao dịch vụ, du lịch Việt Nam có xu hướng tăng thì FDI vào nông, lâm, ngư nghiệp gần như bằng 0. Hồi 2001, FDI vào lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 8% tổng vốn FDI vào Việt Nam. Nay, FDI vào nông, lâm, ngư nghiệp chỉ còn khoảng 1.46% tổng vốn FDI vào Việt Nam. (G.Ð)
05-01- 2015 6:45:44 PM

Xin lỗi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng...

Mai Tú Ân--05-03-2015



Tình hình cây xanh Hà Nội im ắng quá như muốn chìm xuồng, lãnh chúa Thế Thảo vẫn ung dung ngự trên đầu Thủ Đô mặc cho việc làm đốn cây sai lè ra, mặc dù người dân Hà Nội đã xuống đường đòi ông Chủ Tịch Hà Nội phải chịu trách nhiệm. Nhưng để tiếp người dân cho phải phép thôi thì Thảo cũng không làm, nói chi tới việc xin lỗi, từ chức hay dừng hẳn chặt cây. Như vậy trong cuộc chiến ai thắng ai của vụ cây xanh này, Nguyễn Thế Thảo đã tạm thắng. Vì sao ?

Chắc chắn hắn mua chuộc được quan bí thư Nghị, người lúc đầu cũng hăng hái ủng hộ quyền sống của cây xanh Hà Nội lắm nhưng sau vài câu nói không biết thiệt hay chơi cho bà con HN hài lòng rồi thì hắn cũng tắt đài im re. Có nghĩa là hắn đã ngả hẳn sang phía bọn lâm tặc. Như vậy cả Bí thư lẫn chủ tịch HN đã đứng hoàn toàn về phía bóng tối rồi...

Nhưng, ở đời luôn có chữ nhưng trong mọi tình huống, và người dân HN cũng như người dân cả nước luôn tin tưởng rằng, chính nghĩa sẽ thắng. Chúng ta còn có Đỉnh Cao Trí Tuệ, còn có đồng chí lãnh đạo đáng kính của đội quân tiên phong, TBT Nguyễn Phú Trọng với hàng triệu đảng viên, những con người đã thề dưới ngọn cờ nguyện vì dân vì nước. Chúng ta còn có đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Chủ Tịch QH, cơ quan quyền lực cao nhất với gần 500 đại biểu quốc hội, và nhất là chúng ta còn có ông bao công Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang với cả bộ máy chính quyền của dân, do dân và vì dân. Và cuối cùng là đồng chí Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, uy tín chói ngời và là người duy nhất trong đệ tứ quyền lực đã lên tiếng chống lại cặp quyền lực đen Nghị Thảo. Các đồng chí ấy cùng gia đình đều hít thở dưới bóng cây xanh, đi trên con đường rợp bóng cây nên chắc chắn các đồng chí ấy đều đau lòng mà căm giận bọn lâm tặc.Thế nên đồng chí thủ tướng đã chỉ đạo phải xử lý nghiêm và đã chỉ đạo cả bộ máy chính trị nhập cuộc để cứu lấy cây xanh thủ đô. Và đồng chí Ba Dũng này đã nói là làm, tứ mã nan truy, một lời nói ra thì cưỡi bốn ngựa cũng không chạy được. Còn nhớ đồng chí đã dõng  dạc tuyên bố chủ quyền của nước ta ở bên nước ngoài. Nên giờ chúng tôi tin là TTg đang mài dao cho bén, thay trời hành đạo lấy thủ cấp của Thế Thảo để tăng bà con HN làm giò thủ. Không tin Thủ Tướng thì tin ai bây giờ, không lẽ cả một nhà nước với tất cả bộ máy chính quyền lại chơi tình vờ, giả điếc như đã chơi cả tháng qua và không lẽ người dân chúng tôi gặp toàn lừa đảo cả nên chúng tôi vẫn tuyệt đối tin ở TTg Nguyễn Tấn Dũng.

Chỉ sợ Thủ Tướng lại bị thằng Thảo nó mua đứt giống như đã mua đứt thằng Nghị thì bỏ mẹ cả cây xanh lẫn cả Thủ Đô.

Nếu vậy thì xin cho phép chúng tôi được nói thẳng với Thủ Tướng rằng : Xin lỗi, Thủ Tướng chỉ là một con đĩ. Nhưng là một con đĩ khôn ngoan, biết chọn đường để đứng...

MTA
http://ma-tu-an.blogspot.ca/2015/05/xin-loi-thu-tuong-nguyen-tan-dung.html

Sự vô liêm sỉ đã không còn giới hạn...

Mai Tú Ân-05-01-2015


Du khách không có chuyên môn vẫn ở lại giúp người địa phương cứu người trong khi các quan chức chữ thập đỏ VN qua nhờ người ta học tập lại bỏ chạy thoát thân sau khi động đất nổ ra. Nhục hơn nữa là tru tréo chữ thập đỏ nước chủ nhà  giúp đỡ để lùng vé máy bay tranh chỗ ra đi của đàn bà trẻ con

Sự kiện 10 người trong " Chữ Thập Đỏ Việt Nam" đã hèn nhát bỏ về trong sự nhục nhã cùng sự vô liêm sỉ của họ khi bào chữa cho cái hèn. Họ đi học hỏi về công tác chống động đất thì gặp cơn động đất như vậy thì họ phải coi như đó là một cơ hội tốt để thực hành những điều đã học trong thực tế chứ. Họ là những người được đào tạo về các kỹ năng đối phó với khủng hoảng, và được trả tiền để làm việc đó. Nhưng họ lại làm ngược lại cái trách nhiệm được giao một cách hèn nhát, nhục nhã. Cho họ và cho đất nước của họ...



Quan chức chữ thập đỏ chạy thoát thân về khoe thành tích tranh vé của đàn bà trẻ con để chạy trước

Không hề đem kỹ năng được đào tạo ra để giúp cho đất nước đang gặp tai họa, không hề có một động thái nào giúp đỡ những người dân Nepal đang khốn khổ và cần lắm từng sự giúp đỡ của từng đôi tay thiện nguyện, họ lại cũng vô cảm đến mức không giúp đỡ được chút nào cho cả đồng bào VN đang gặp nạn bên ấy. Và thêm gánh nặng cho đất nước đang gặp thảm họa ấy bằng cách cuống cuồng yêu cầu được thoát thân trong khi đàn bà trẻ con của nhiều nước vẫn còn kẹt lại, trong khi đường đường là những đấng nam nhi thì họ lại tháo chạy nhanh nhất có thể. Chưa kể trên con đường bỏ chạy, hẳn họ nhìn thấy những con người tình nguyện trên khắp thế giới đang ùn ùn đổ về Nepal để cứu giúp người dân...

Và trớ trêu khi nỗi hèn của họ như còn tăng gấp đôi khi điều lo sợ của họ đã không đến. Đó là vì sau cơn động đất 7,9 độ richter đó thì Nepal liên tiếp bị những cơn dư chấn và có lẽ đây mới chính là nguyên nhân của việc bỏ chạy nhục nhã của phái đoàn CTD VN. Vì khi cả đoàn tháo chạy như thế thì Nepal không còn bị động đất nữa ngoài những cơn dư chấn kể trên. Nó giống như những kẻ hèn nhát đạp lên đầu nhau để tháo chạy khỏi con tàu đắm, nhưng khi thoát được thì tàu lại không đắm.

Hèn nhát như vậy nhưng khi về nước thì lại trơ tráo không biết ngượng khi loanh quanh chối cái hèn bằng những lý do lý trấu một cách vô liêm sỉ như ông Nguyễn Xuân Duy (hình) đã trả lời trên tivi mà tôi không thèm nhắc lại vì nó đã vượt giới hạn của sự liêm sỉ.

Rồi lãnh đạo của họ, đáng ra phải lên án họ như một thứ lên tiếng của đạo đức, lương tâm giống như người dân thì lại bào chữa, bao biện một cách không thể chấp nhận được...

Điều tra và xử lý hết những kẻ làm nhục, không phải làm nhục họ vì họ không còn liêm sỉ để nhục, mà vì tội làm nhục những người Việt Nam chúng ta...

MTA
http://ma-tu-an.blogspot.ca/2015/05/su-vo-liem-si-khong-con-gioi-han.html

Tàu chở 48 du khách bị đâm chìm trên vịnh Hạ Long

Khoảng 11h20 sáng nay (2.5), tàu du lịch chở 48 du khách bị tàu vận tải đâm chìm khu vực Hòn Rom gần hòn Đỉnh Hương, Trống Mái trên vịnh Hạ Long (TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).

Tàu, 48 du khách, đâm chìm, vịnh Hạ Long
Tàu du lịch QN 5762 chở khách tham quan bị đâm chìm trên vịnh Hạ Long.

Thông tin ban đầu xác định, tàu du lịch Đôn Hiền QN 5762, do Nguyễn Văn Mạnh (SN 1985, trú tại Cẩm La, TX.Quảng Yên, Quảng Ninh) điều khiển, đang chở 48 khách (36 người lớn, 12 trẻ em) tham quan vịnh Hạ Long, bất ngờ va chạm với tàu vận tải chở đá xây dựng QN 6926 do Bùi Mạnh Sơn (SN 1973, trú tại khu 5, phường Hà An, TX.Quảng Yên) điều khiển.

Trước khi bị chìm, thuyền trưởng tàu du lịch QN 5762 đã liên lạc với tàu bạn và lực lượng cứu hộ của Ban Quản lý vịnh Hạ Long ở điểm cứu hộ gần nhất, đồng thời cố gắng di chuyển tàu về đảo đá sát đó.

Nhận được tín hiệu cứu hộ, lực lượng cứu hộ của Ban Quản lý vịnh Hạ Long đã phối hợp với tàu Bài Thơ 16 QN 6922 kịp thời đến chuyển toàn bộ khách du lịch cùng tài sản và 4 thuyền viên về cảng tàu du lịch Tuần Châu an toàn.

Tàu, 48 du khách, đâm chìm, vịnh Hạ Long
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Thị Thu Thủy cùng lực lượng các cơ quan chức năng trực tiếp ra hiện trường chỉ đạo khắc phục hậu quả.

Nhận được tin báo, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vũ Thị Thu Thủy cùng các cơ quan chức năng trực tiếp ra hiện trường chỉ đạo khắc phục hậu quả, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho du khách.

Bà Vũ Thị Thu Thủy cũng yêu cầu Ban Quản lý vịnh Hạ Long, Cảnh sát giao thông thủy phối hợp với các lực lượng chức năng thực hiện tuần tra, kiểm soát liên tục, hướng dẫn các phương tiện hoạt động trên vịnh chấp hành đúng quy định về an toàn giao thông đường thủy.

02/05/2015 16:53
(Theo Dân Việt)

Người Việt đi du lịch hay hành xác?

  - Đi du lịch là sự lựa chọn của nhiều gia đình trong kỳ nghỉ lễ dài ngày này. Tuy nhiên, sau khi chứng kiến cảnh tắc đường kéo dài, chen chúc tại các điểm vui chơi, giải trí không ít người cảm thấy sợ hãi.
Người Việt, du lịch, biển, nghỉ lễ
Sầm Sơn (Thanh Hóa) thu hút một lượng khách "khủng" dịp nghỉ lễ 30/4 và 1/5 năm nay. Cách biển 5km, tuyến đường dẫn ra biển tắc nghẽn kinh hoàng và bãi tắm thì không còn chỗ... đứng (Ảnh: Tri thức trẻ)Người Việt, du lịch, biển, nghỉ lễ
Khách ngán ngẩm khi đi biển gặp phải "biển người" (Ảnh: Tri thức trẻ)
Người Việt, du lịch, biển, nghỉ lễ
Tương tự, TP biển Nha Trang sáng 29/4 cũng kẹt cứng khi hàng trăm đoàn xe lớn, nhỏ chở du khách cùng đổ về phía nam đường Trần Phú. Xe cộ nối đuôi nhích từng chút dài hơn 1km để di chuyển (Ảnh: Tuổi trẻ) Người Việt, du lịch, biển, nghỉ lễ
Ngày đầu tiên mở cửa, cũng là ngày cao điểm trong dịp nghỉ lễ dài ngày, bãi tắm Bãi Cháy (Quảng Ninh) trở nên quá tải vì lượng du khách và người dân đổ về đây tránh nóng ngày một đông, đặc biệt là vào chiều 30/4. (Ảnh: Đài PT và TH Quảng Ninh)
Người Việt, du lịch, biển, nghỉ lễ
Khu vực bãi tắm được đưa vào sử dụng chỉ rộng khoảng 200m, dài 300m nên nhanh chóng chật cứng người (Ảnh: Đài PT và TH Quảng Ninh)
Người Việt, du lịch, biển, nghỉ lễ
Chia nhau từng "xăng ti mét" để tắm (Ảnh: Đài PT và TH Quảng Ninh)
Người Việt, du lịch, biển, nghỉ lễ
Kỳ nghỉ lễ năm nay thời tiết nắng nóng nên du lịch biển là sự lựa chọn của nhiều gia đình. Bởi vậy, từ ngày 28, 29/4, lượng du khách đổ về Đồ Sơn cũng đã rất đông. Trong ảnh là bãi biển Đồ Sơn ngày 30/4/2015 (Ảnh: Tinhaiphong.vn)
Người Việt, du lịch, biển, nghỉ lễ
Tại TP.HCM, khu du lịch Suối Tiên cũng chật cứng người đến vui chơi... (Ảnh: Dân Việt)
Người Việt, du lịch, biển, nghỉ lễ
...Và tình trạng chán nản, mỏi mệt là điều khó tránh khỏi (Ảnh: Dân Việt)
02/05/2015 19:15
l.Lan(tổng hợp)

Biển Đông : Mỹ bác đề nghị của Trung Quốc

Theo RFI-Thanh Phương
Ngày 02-05-2015 16:57

media
Các hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc gia tăng cải tạo và bồi đắp các bãi đá trong quần đảo Trường Sa, Biển Đông, ngày 08/04/2015. REUTERS/CSIS's Asia Maritime Transparency

Hôm qua, 01/05/2015, Hoa Kỳ đã bác bỏ đề xuất của một sĩ quan cao cấp Trung Quốc sẵn sàng cho Mỹ và các nước khác sử dụng các đảo đang tranh chấp trên Biển Đông cho các hoạt động cứu nạn.

Báo chí Hoa Kỳ trích dẫn một thông tin từ trang web của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, cho biết là Đô đốc Ngô Thắng Lợi ( Wu Shengli ), tư lệnh Hải quân Trung Quốc đã đưa ra đề nghị nói trên khi nói chuyện với Đô đốc Jonathan Greenert, tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ, trong một hội nghị qua màn ảnh video. Theo thông tin của Bộ Quốc phòng, Đô đốc Ngô Thắng Lợi khẳng định rằng các công trình bồi đắp những đảo đang tranh chấp « sẽ không đe dọa đến quyền tự do lưu thông hàng hải và hàng không » ở khu vực Biển Đông, mà trái lại sẽ « nâng cao khả năng dự báo thời tiết, tìm kiếm, cứu hộ trên biển, cũng như giúp bảo vệ an ninh hàng hải quốc tế ».

Thế nhưng, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ, Jeff Rathke, hôm qua nói rằng Hoa Kỳ không quan tâm đến đề nghị nói trên của phía Trung Quốc. Trong cuộc họp báo, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ đã tuyên bố thẳng thừng rằng xây dựng các cơ sở trên phần đất được bồi đắp trên các đảo đang tranh chấp « sẽ không góp phần vào hòa bình và ổn định trong vùng », cho dù có đúng là các cơ sở đó được sử dụng vào các mục đích dân sự, cứu trợ thiên tai. Ông Rathke nói thêm rằng : « Nếu thật sự muốn làm giảm các căng thẳng, Trung Quốc nên tích cực giảm căng thẳng bằng những bước cụ thể để ngưng việc cải tạo, bồi đắp đảo ».

Những tuyên bố nói trên của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho thấy là lập trường của Washington vẫn không thay đổi trên vấn đề Trung Quốc gia tăng cải tạo, bồi đắp các đảo đang tranh chấp ở Biển Đông. Trong cuộc họp báo chung với Thủ tướng Shinzo Abe ngày 28/04/2015, nhân dịp lãnh đạo chính phủ Nhật Bản viếng thăm chính thức Hoa Kỳ, Tổng thống Barack Obama đã cực lực chỉ trích những mưu toan của Trung Quốc làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông.

Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc Samuel Locklear gần đây cũng đã cho rằng Trung Quốc gia tăng bồi đắp các đảo tranh chấp ở Biển Đông có thể là nhằm mục tiêu thiết lập một vùng nhận dạng phòng không ở khu vực này, tương tự như vùng nhận dạng phòng không mà Bắc Kinh thiết lập ở vùng biển Hoa Đông vào cuối năm 2013.

Nhiều chuyên gia về an ninh tin rằng nay Trung Quốc xem Biển Đông như là một vùng « bất khả xâm phạm », không có bất cứ sự can thiệp quân sự nào của Mỹ và Bắc Kinh đang có ý định triển khai tại đây những tàu ngầm trang bị tên lửa đạn đạo ( SLBM ) có thể tấn công vào lãnh thổ lục địa của Hoa Kỳ. Nếu Bắc Kinh thực hiện được chiến lược như vậy, điều đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng răn đe hạt nhân của Mỹ và càng làm tăng mối quan ngại là sẽ không thể nào ngăn chận được đà bành trướng trên biển của Trung Quốc.

Saturday, May 2, 2015

Hàn gắn vết thương Việt Nam : Sứ mạng của các cựu binh Mỹ

Theo RFI-Trọng Thành
Ngày 02-05-2015 23:18

media
Thương binh Bobby Muler, người sáng lập Quỹ Vietnam Veterans of America Foundation.DR

Chiến tranh Việt Nam kết thúc đã bốn mươi năm. Quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam/Vietnam Veterans of America Foundation (VVAF), thành lập năm 1980, là một cơ sở có nhiều đóng góp quan trọng trong hoạt động phá gỡ bom mìn, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam..  Theo chị Thảo Griffiths, Trưởng đại diện của quỹ VVAF tại Việt Nam, ngay từ rất sớm, các cựu chiến binh Mỹ đã tham gia thúc đẩy bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

 Chị Thảo Griffiths (Hà Nội)02/05/2015
http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150502-su-mang-cua-cuu-binh-my-han-gan-vet-thuong-chien-tranh-viet-nam/#

Quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam là một tổ chức trụ cột trong sáu thành viên của liên minh các tổ chức phi chính phủ thuộc Chương trình International Campaign to Ban Landmines (Chương trình quốc tế chống mìn), thành lập năm 1992. Năm 1997, liên minh này được trao tặng giải Nobel Hòa bình.

Sau đây là cuộc phỏng vấn chị Thảo Griffiths dành cho RFI ngày 27/04/2015, nhân dịp 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.

Chị Thảo Griffiths : Từ năm 1981, theo lời mời của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch lúc bấy giờ, đoàn cựu chiến binh Mỹ đầu tiên trở lại Việt Nam. Lúc đó chưa có bất cứ một trao đổi trực tiếp nào mà dẫn đến một đoàn chính thức của chính phủ Mỹ sang Việt Nam. Những cựu chiến binh Mỹ này là những người đã đi đầu trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh.

Sau này, vào năm 1994, khi chính phủ Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam, thì các cựu chiến binh Mỹ cũng là một trong những tổ chức được mở văn phòng đại diện tại Việt Nam. Từ đó đến nay chúng tôi hoạt động tại Việt Nam đã 22 năm. Chúng tôi có bốn chương trình chính.

Một là chương trình hỗ trợ Việt Nam khắc phục bom mìn, vật nổ, đối tác của chúng tôi là Bộ Quốc phòng Việt Nam và các bộ có liên quan. Chương trình thứ hai là những người khuyết tật, không phân biệt lý do, nhưng chúng tôi ưu tiên các khu vực bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam. Đây là chương trình chúng tôi làm việc với Bộ Lao động, Thương binh, Xã hội và Bộ Y tế. Chương trình thứ ba là chăm sóc sức khỏe tâm thần, phối hợp với Bộ Y tế và Bộ LĐ, TB, XH. Chương trình cuối cùng là về giáo dục. Với tài trợ của công ty Boeing ở Việt Nam, chúng tôi xây dựng trường học ở những nơi xa xôi hẻo lánh và còn nhiều thiệt thòi, và cũng là những nơi bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.

Từ chỗ không nhìn được vào mắt nhau…

RFI : Dường như trong bốn chương trình, có hai hoặc ba là gắn nhiều với các hậu quả chiến tranh ?

Chị Thảo Griffiths : Đó là chương trình khắc phục bom mìn vật nổ và chương trình hỗ trợ người khuyết tật, đặc biệt do chất độc da cam, dioxin.

Kể từ khi Hoa Kỳ ngưng cấm vận kinh tế, thì các hỗ trợ giải quyết hậu quả chiến tranh cho Việt Nam đã tăng lên. Từ đó đến nay, tôi được biết, chính phủ Mỹ đã bỏ ra 80 triệu đô la để hỗ trợ khắc phục bom mìn vật nổ. Ngoài ra, một khoản tương tự dành cho việc hỗ trợ người khuyết tật. VVAF là một tổ chức phi chính phủ Mỹ ở Việt Nam. Chúng tôi là một đơn vị nhận ngân sách của chính phủ Hoa Kỳ.

(---) Ngay trong năm 2015 này, khi chúng ta đang rất bận rộn cho kỷ niệm việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ đã tuyên bố tăng gấp đôi phần ngân sách để hỗ trợ Việt Nam để giải quyết vấn đề bom mìn, vật nổ. Trước đây là hơn 4 triệu đô la/năm, thì nay là hơn 10 triệu đô la Mỹ. Chúng ta hoàn toàn có tín hiệu để hy vọng rằng sự hỗ trợ này có thể được duy trì ở mức này, và có thể tăng hơn nữa, nếu như Việt Nam có khả năng hấp thụ…

Lĩnh vực thứ hai là hỗ trợ người khuyết tật, đặc biệt là người nhiễm dioxin… Có thể nói là trước năm 2006, sự hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ hầu như rất ít, rất ít. Chúng ta không nhìn được vào mắt nhau, khi chúng ta nói câu chuyện dioxin, da cam. Nhưng chỉ trong vòng 8 năm, đến cuối năm 2014, thì từ chỗ không nhìn được vào mắt nhau, đây lại là câu chuyện khiến chúng ta xích lại gần nhau. Câu chuyện da cam là điển hình cho sự thành công trong hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ. Trong vòng 8 năm, chính phủ Hoa Kỳ đã hỗ trợ hơn 100 triệu, để giải quyết các hậu quả môi trường do sự tồn dư của dioxin ở những điểm nóng, đặc biệt là Đà Nẵng, và sắp tới là sân bay Biên Hòa, và ngoài ra là những vấn đề liên quan đến sức khỏe của người dân sinh sống gần những điểm nóng đó….

Điều này đã tạo ra một lòng tin rất là có thực giữa hai quốc gia, trước đây là kẻ thù. Góp phần rõ rệt cho việc xây dựng quan hệ chiến lược, toàn diện, giữa hai quốc gia, hai dân tộc.

RFI : Xin cho biết ngoài kinh phí, phía Hoa Kỳ có thêm các hỗ trợ nào ?

Chị Thảo Griffiths : Cái sự tham gia của chính phủ Mỹ ở Việt Nam ngày càng tăng lên, kéo theo quan hệ đối tác của các công ty Hoa Kỳ tại Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ, các công dân Hoa Kỳ. Họ không chỉ đưa ngân sách hỗ trợ, mà đi kèm là các trang thiết bị, đặc biệt là rà phá bom mìn, vật nổ. Những công nghệ chúng ta có không hiện đại lắm. Đối với những bom mìn, vật nổ trên bề mặt, để đảm bảo an toàn trong cuộc sống thường ngày của người dân, chúng ta giải quyết tốt rồi. Nhưng để rà phá ở độ sâu, đặc biệt khi xây dựng một nhà máy lớn, hay cầu cống, cần phải rà sâu 5 mét, 10 mét, hay rà phá thủy lôi, bom mìn ở vùng nước, đó là những thứ chúng ta thiếu…

Cầu nối quan hệ Việt – Mỹ

RFI : Xin chị cho biết, nhìn chung các cựu chiến binh Mỹ đã đóng vai trò như thế nào trong việc bình thường hóa quan hệ hai nước ?

Chị Thảo Griffiths : Tôi có nói đến chuyến đi lịch sử năm 1981, nghĩa là sau 6 năm chiến tranh kết thúc. Vết thương lòng, vết thương chiến tranh vẫn còn rất mới ở Việt Nam, thì những người cựu chiến binh này đã rất dũng cảm sang Việt Nam, để bắt đầu một quá trình thảo luận cởi mở với chính phủ Việt Nam về các vấn đề hậu quả chiến tranh.

Và tôi còn nhớ, tôi đọc báo Thời báo New York Times, ngày 3 tháng 2 năm 1996, khi ngài Tổng thống Bill Clinton đọc tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế của Hoa Kỳ với Việt Nam, thì bên tay phải của ông là Chủ tịch Quỹ cựu chiến binh Mỹ Bobby Muler. Điều này cho thấy sư công nhận rất là chính thức của các bên về vai trò của những người cựu binh đối với việc bình thường hóa quan hệ.

Tôi cũng được đọc một tờ báo của Bộ Ngoại giao Việt Nam, trong đó, một cán bộ ngoại giao cao cấp của Việt Nam kể vào những năm trước khi bình thường hóa quan hệ, việc đi lại của các cán bộ ngoại giao Việt Nam tại New York rất là hạn chế (trong bối cảnh bị cấm vận). Trong khi đó, lại cần những trao đổi không chính thức với phía Mỹ. Một trong những kênh khác nhau, đó là thông qua văn phòng của Quỹ cựu chiến binh Mỹ tại Washington DC, đến mức mọi người đùa với nhau là văn phòng của Quỹ như là một tòa đại sứ không chính thức của Việt Nam. Dù đó là câu đùa giữa những người bạn, điều này cho thấy sự trân trọng những nghĩa cử của Việt Nam đối những cựu binh Mỹ đã trực tiếp tham gia vào quá trình vận động bình thường hóa quan hệ.

Thế rồi khi có được bình thường hóa quan hệ rồi, những người cựu chiến binh Mỹ này lại là những người đầu tiên đến Việt Nam để làm các dự án này. Ông Bobby Muler bị trúng bảy viên đạn trong một trận đánh ở Cam Lộ, Quảng Trị năm ngày 29 tháng 4 năm 1969. Mặc dù ông ấy bị liệt từ ngực trở xuống, nhưng tôi chưa gặp một người nào năng động, nhiệt tình, đi lại và làm việc nhiều như ông ấy.

Điều ấy khiến tôi nghĩ đến những người khuyết tật ở Việt Nam. Một người như ông Bobby Muler vẫn tiếp tục làm việc, một phần do ý chí, nghị lực và tình cảm với Việt Nam, nhưng một phần nữa là môi trường sống của ông ấy, của những người khuyết tật cũng được tạo điều kiện. Nhưng ở Việt Nam, người khuyết tật của chúng ta gặp rất nhiều khó khăn, không chỉ về y tế, mà còn về khả năng hòa nhập trở lại với cuộc sống cộng đồng, để trở thành một thành viên tích cực. Đấy chính là mục tiêu của Quỹ, tạo điều kiện môi trường sống tốt hơn nữa… Chứ không phải như những quan niệm cũ là những người khuyết tật là gánh nặng cho xã hội. Nhưng mà người ta chỉ thực hiện được điều đó, nếu như xã hội tạo điều kiện cho họ. Đó là một trong những cam kết rất mạnh mẽ của chúng tôi ở Việt Nam….

RFI : Xin chị cho biết cụ thể.

Hỗ trợ không chỉ nạn nhân cuộc chiến 1965-1975

Chị Thảo Griffiths : Đối với người khuyết tật, từ năm 1994, chúng tôi có một hợp tác với Bộ Y tế, thông qua đó, chúng tôi xây dựng các xưởng chỉnh hình, tại bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện nhi Trung ương, và một số tỉnh ở miền bắc và miền trung Việt Nam. Ngoài các xưởng chỉnh hình, chúng tôi còn tập huấn cho các bác sĩ, kỹ thuật viên, gửi họ đi học ở các nước giỏi về lĩnh vực này. Sau đó, khi họ trở về nước, chúng tôi có chuyên gia nước ngoài làm việc cùng với họ, nghĩa là vừa học, vừa làm, để quen việc, và cung cấp cho họ các phương tiện để họ làm được những công việc như mong muốn của mình. Chương trình này kéo dài từ 1994-2008.

Chúng tôi tạo điều kiện cho những người khuyết tật, sau khi đã được lắp chân, lắp tay giả, hay các phương tiện hỗ trợ khác, như xe lăn, nẹp chỉnh hình, thì có cơ chế để họ gặp gỡ nhau. Trước hết là để họ chia sẻ những khó khăn trong chữa trị, nhưng cái quan trọng hơn là để họ hòa nhập với cuộc sống. Ví dụ như được nhận học bổng, hoặc một số kỹ năng, để sau này có thể xin việc được, có thể làm ở nhà, tư nhân, hoặc có thể thi vào các cơ quan, công ty, nhà máy… Có những gia đình, vì khuyết tật, nên rất nghèo, toàn bộ nguồn lực tập trung vào việc chữa chạy, nên nhà cửa rất dột nát, chúng tôi có thể xây nhà cho họ, hoặc sửa lại nhà, để họ có thể di chuyển bằng xe lăn… Hoặc tạo điều kiện để người trong gia đình được đi học… hoặc hỗ trợ vốn ban đầu cho họ…

Ngoài ra một mảng chính của chúng tôi là nâng cao năng lực của hệ thống y tế công cộng của Nhà nước, phối hợp với một số tổ chức.

Dù không chỉ hỗ trợ những nạn nhân chiến tranh, nhưng một trong những ưu tiên của chúng tôi là các khu vực bị ảnh hưởng chiến tranh. Ví dụ như các tỉnh miền Trung Việt Nam chẳng hạn, hay là Hà Giang. Trước đây chúng tôi cũng làm tại tỉnh biên giới phía bắc bị ảnh hưởng chiến tranh này. Chúng tôi không biệt bị ảnh hưởng chiến tranh với quốc gia nào. Chỉ đơn giản, đó là khu vực nghèo, có nhiều người khuyết tật, cần được hỗ trợ. Đấy là một trong những vùng ưu tiên, mà Việt Nam đề nghị chúng tôi hỗ trợ.

Khi chúng tôi quyết định hỗ trợ một tỉnh, thì đã là người khuyết tật chúng tôi đều giúp.

Con cái mình thật may mắn…

RFI : Những điều chị kể cho thấy, những người cựu chiến binh Mỹ sau chiến tranh đã trở lại Việt Nam, đem lại trước hết là những hàn gắn về tinh thần cho quan hệ giữa hai phía, do các hậu quả lịch sử để lại, và sau đó có những hoạt động cụ thể để khắc phục hậu quả chiến tranh. Và bây giờ đến lượt chị, những người sinh sau 1975, đã nối tiếp công việc của họ. Chắc rằng cách đây 20 năm, khó ai ngờ đến điều này, phải không chị ?

Chị Thảo Griffiths : … Hoàn toàn tình cờ, lúc đó đang sinh sống và làm việc tại Hà Giang, quê tôi, tình cờ tôi đọc được một quảng cáo trên báo, cần tìm người hỗ trợ Quỹ Cựu chiến binh Mỹ trong quá trình đàm phán với Bộ Quốc phòng Việt Nam để có được khung hợp tác để khắc phục bom mìn vật nổ.

Lúc đó, tôi chỉ biết qua một số tai nạn về mìn ở vùng biên giới quê tôi. Hầu như tôi không hiểu biết gì về hậu quả của chiến tranh trước 1975, mà chỉ được học qua lịch sử ở nhà trường. Tôi hoàn toàn tò mò, tôi nghĩ rằng lịch sử của Việt Nam là lịch sử của rất nhiều cuộc chiến trong suốt mấy nghìn năm, để hiểu Việt Nam, cần phải hiểu về chiến tranh. Từ trước đến nay, những gì mà tôi được biết về chiến tranh, đều là qua sách báo, các chương trình của chính phủ Việt Nam, qua hệ thống trường học. Tôi rất tò mò : có một cách nhìn khác không của những người tham chiến ở phía bên kia ?...

Khi tôi bắt đầu vào làm ở đây rồi, tôi mới nhận thấy tính nhân đạo của công việc này rất cao. Thứ hai là, sau khi vào làm ở đây, tôi trở thành mẹ. Hiện tại, tôi là mẹ của hai bé, và tôi cũng trưởng thành cùng các con của mình. Trong phần đầu của phỏng vấn tôi có nói nhiều về những nạn nhân của chiến tranh là những em bé, những người sinh sau năm 1975, thậm chí là những em bé không hiểu gì về bom hay mìn.

Đó là sợi dây kết nối giữa tôi với cuộc chiến. Bởi vì, với tư cách là một người mẹ, tôi cảm thấy mình may mắn, con cái mình lành lặn, sinh ra lành lặn, và có điều kiện được đi học, nhưng mà có những em bé, sinh ra lành lặn, nhưng không có điều kiện phát triển, hoặc không có trường học tốt, hay sinh sống trong khu vực bị ô nhiễm bom mìn, luôn sống trong nỗi lo sợ.

Nếu như tôi có giúp được họ, dù chỉ là một chút, thì đó cũng là một cách để trả nợ cho cuộc đời, cũng là cách cảm ơn cuộc đời. Đặc biệt là qua sự trưởng thành cùng với hai người con của tôi. Hai bé bây giờ một học lớp 8, một học lớp 6, đều hiểu rõ công việc của bố mẹ… Sau này, tôi đưa con đi một số chuyến công tác, đến những vùng cơ quan tôi hỗ trợ xây dựng trường học, hay lắp đặt chân tay giả, phẫu thuật cho các bé bị khuyết tật bẩm sinh. Các con tôi trực tiếp nhìn thấy các bé đó và hiểu được công việc cơ quan mẹ mình làm là gì… Các con tôi đều rất là thông cảm, và biết rằng công việc đó của mẹ sẽ giúp cho các bạn khác cùng lứa tuổi của mình. Tôi nghĩ đó cũng là sự may mắn rất lớn cuộc đời giành cho tôi.

Các cựu chiến binh đã hoàn thành sứ mạng

RFI : Hy vọng Quỹ mình trong thời gian tới sẽ có thêm những đóng góp cho việc khắc phục hậu quả chiến tranh và cải thiện quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.

Chị Thảo Griffiths : Tôi nghĩ trong 20 năm vừa rồi, vai trò của các cựu chiến binh trong việc bình thường hóa quan hệ và tạo điều kiện cho mối quan hệ tốt đẹp hơn là rất rõ. Tuy nhiên, trong thời gian tới, tôi nghĩ, vai trò lịch sử của những người cựu chiến binh đã được thực hiện rồi. Bây giờ, vai trò tiếp theo là của chính người Việt Nam, đặc biệt trong việc kết nối giữa người Việt trong nước, và người Việt hải ngoại. Đấy cũng là một trong những quan tâm rất lớn của tôi trong thời gian tới. Gia đình tôi hoàn toàn sinh sống ở Úc, và tôi đi đi, về về giữa Úc và Việt Nam, và Hoa Kỳ nữa, do công việc của mình, nên tôi có điều kiện gặp gỡ rất nhiều Việt hải ngoại. Tôi rất mong muốn là trong những năm tới, chúng ta xích lại gần nhau nhiều hơn nữa.

Tôi nghĩ việc này người ta đã làm được rồi, và làm rất là tốt rồi. Bây giờ cái việc trong nhà của chúng ta, để cho Việt Nam chúng ta phát triển tốt hơn, mạnh hơn, bền vững hơn, rõ ràng chúng ta phải sử dụng cái lòng dân, cái sức mạnh tổng hợp hơn nữa. Người Việt trong nước và người Việt hải ngoại cần phải xích lại gần nhau hơn nữa chứ ?! Dĩ nhiên đây sẽ là câu chuyện hai chiều, của cả trong nước, cả ngoài nước. Và nó không dễ ! Nhưng nếu chúng ta cùng cố gắng, thì sẽ dịch chuyển dần đến cái đích đó, trong một thời gian không xa.

Những người khác ý thức hệ có thể hợp tác ?

RFI : Xin chị cho biết rõ hơn về ý này.

Chị Thảo Griffiths : Tôi là một người sinh sau chiến tranh, và hoàn toàn không chứng kiến ngày 30 tháng 4 năm 1975 đó, nhưng rõ ràng đây là một cái mốc vô cùng quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Nó kết thúc một thời kỳ vô cùng đau thương của dân tộc chúng ta. Cái hậu quả chiến tranh để lại quá lớn. Thế và, trong 40 năm vừa rồi, chúng ta đã làm được nhiều việc, nhưng cũng có việc chưa làm được. Đó là ngay sau thời gian chiến tranh, cũng có rất nhiều người phải ra đi, vì những lý do khác nhau. Cho nên, có rất nhiều người vui, vì đất nước hòa bình, nhưng cũng có nhiều người buồn, vì họ phải ra đi.

Lý do của chúng ta có thể khác nhau, hệ tư tưởng của chúng ta có thể khác nhau, nhưng nếu như chúng ta xác định rằng cuối cùng chúng ta vẫn phải hướng về nhau, vì dù người Việt ở hải ngoại hay ở trong nước, thì trong tim người đó vẫn là Việt Nam…

Tôi nghĩ thế hệ của chúng tôi là có thể làm được, vì chúng tôi sinh sau chiến tranh. Chúng tôi là những người có điều kiện được học hành. Tôi là một sản phẩm của giáo dục trong nước, lớn lên tại Hà Giang… nhưng sau này khi đất nước mở cửa ra, sự hợp tác với các nước tăng lên, tôi được học bổng đi học ở Úc và sau đó là Mỹ, được tiếp thu những giá trị chung (giá trị nhân loại - ndr) ở nước ngoài… Tôi không phải là người của chính phủ… là một công dân bình thường. Nếu công việc của những người bình thường như tôi tại Việt Nam có sự lan tỏa tốt, thì có thể trở thành những tác nhân, cầu nối với người Việt ở hải ngoại.

Tôi nghĩ việc này có thể làm được, bởi vì chúng tôi không bị ảnh hưởng bởi một quá khứ quá nặng nề. Chúng tôi hiểu về quá khứ đó, nhưng không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quá khứ đó, chúng tôi không bị ảnh hưởng bởi những ý thức hệ, có thể khác nhau, hoặc có thể đối lập nhau.Thì đó là những cái mà sẽ khó, nhưng mà làm được, và cần phải làm.

RFI : Xin cảm ơn chị Thảo Griffiths.

Việt Nam : Cuộc hồi sinh của Sài Gòn

Theo RFI-Tú Anh
Ngày 02-05-2015 10:03

media
Xe cổ động chào mừng ngày 30/4/2015 tại một phố thành phố Hồ Chí Minh, Sài Gòn cũ. REUTERS/ Kham

40 năm sau ngày bị đổi tên, thủ đô cũ « đồi trụy » của Nam Việt Nam đang được hồi sinh. Thái độ lừng khừng của Barack Obama tạo cơ hội cho Paris gia tăng ảnh hưởng chính trị và thương mại tại Trung Đông. Chuyến công du và cách ứng phó của thủ tướng Nhật tại Mỹ… là những thời sự quốc tế mà báo chí Pháp, quan tâm.

"Việt Nam : cuộc hồi sinh của Sài Gòn cũ" là tựa bài phóng sự nhân ngày 30/04 được Le Monde đưa lên trang nhất. Theo đặc phái viên Bruno Philip, 40 năm sau khi xe tăng Bắc Việt tiến vào và bị đổi tên, thủ đô cũ của Nam Việt Nam đã thay hình đổi dạng khó có thể nhận ra. Nhận xét này sẽ nhàm chán trong khu vực Viễn Đông chuyển đổi nhanh chóng nếu không có nhiều sự trớ trêu. Trước tiên là thành phố Hồ Chí Minh đã lấy lại diện mạo của « Sài Gòn đòi trụy » mà những người cộng sản « khắc khổ » tìm cách cải tạo.

« Yếu tố Việt kiều »

Vào lúc Việt Nam ăn mừng 40 năm « giải phóng » thì thủ đô cũ của Nam Việt Nam chứng tỏ khả năng trở thành một trung tâm thương mại của Đông Nam Á. Tuy nhiên, viễn ảnh tươi đẹp này có thể bị đình trệ vì bộ máy hành chánh quan liêu, vì những cản lực khác xuất phát từ chế độ hậu cộng sản cộng thêm nỗi bất an lúc nào cũng phải trấn áp các tiếng nói bất đồng chính kiến.

Trớ trêu thứ hai là sức sống của miền Nam Việt Nam nhờ vào sự đóng góp của người Việt hải ngoại, phần đông là « thuyền nhân » vượt biển ra đi sau ngày cộng sản chiến thắng. Hơn 750.000 « Việt kiều » đã trở về nước du lịch trong năm 2014. Bà Lương Bạch Vân, chủ tịch ban liên liên lạc với Việt kiều, cho biết « đa số Việt kiều về thăm Sài gòn và nếu thành phố này tiếp tục phát triển được thì đó cũng là nhờ họ ». Bản thân bà chủ tịch cũng là Việt kiều « không cộng sản » đã hồi hương từ năm 1979. Trước tiên là về Hà Nội rồi sau đó định cư tại Sài Gòn vì « đây là vùng đất của sáng kiến chủ động , nơi người dân có đầu óc cởi mở, làm trước tính sau, trắc nghiệm giới hạn ». Còn dân miền Bắc thì lúc nào cũng ngần ngại và sợ « luật pháp cấm đoán ».

Theo Le Monde, tuy hợp tác với chế độ, bà phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Lương Bạch Vân chỉ trích tiến độ « đổi mới » thi hành từ 1986 là quá « chậm chạp ». Do vậy, 40 năm sau ngày « giải phóng », Việt Nam vẫn bị « kẹt cứng » ở trình độ phát triển trung bình. Thành phố mang tên Hồ Chí Minh ngày nay là một không gian bế tắt giao thông, phát triển ra mọi hướng, xây cất những khu vực dành cho người giàu có mà đa số là dân nước ngoài.

Một Việt kiều khác, sau 20 năm sống ở Nhật, trở về mở trường dạy học tỏ ra tiếc rẽ là Việt Nam chỉ « phát triển về số lượng chứ không có chất lượng ». Cuối bài phóng sự, tác giả mượn nhận xét của giáo sư Tương Lai. Lên án chế độ « độc đoán và đàn áp », nhà cải cách 80 tuổi mà cả đời nghiên cứu chủ nghĩa Mác tuyên bố một cách châm biếm : Karl Marx là một vĩ nhân, nhưng chúng ta không cần ông ta .

''Người chết ở biển'' : Hồi ức mong manh về thuyền nhân Việt Nam

Theo RFI-Trọng Thành
Ngày 02-05-2015 23:04

media
Một con thuyền chở người tỵ nạn Việt Nam. (DR)

Ám ảnh khó giãi bày về người thân qua đời trong những cảnh ngộ bất hạnh là tâm trạng thường trực của rất nhiều người gốc Việt thuộc thế hệ trước 1975. Tuần san Le Nouvel Observateur dịp 30/04 năm nay có một bài viết đặc biệt về chủ đề này, mang tựa đề « Người-chết-ở-biển ». Ký ức về một người chú từng chiến đấu trong quân đội miền Nam, cuộc đối thoại với một người thân khác từng là bộ đội miền Bắc, cho thấy nhiều người Việt trong cùng một gia đình vẫn  vô cùng xa cách, cho dù bốn thập niên đã trôi qua kể từ khi đất nước thống nhất.

Trong khi thực hiện một đề tài về những người tỵ nạn Phi Châu bị chìm tàu tại Lampedusa, người phóng viên gốc Việt Doan Bui (có thể là Doãn Bùi) bất ngờ nhận được những thông tin và hình ảnh một người chú họ mất tích trên đường vượt biển, trốn khỏi Việt Nam, cách nay hơn 30 năm. Hình ảnh người chú họ 12 tuổi « với gương mặt tròn trĩnh, cặp mắt mở to, như muốn nói “hãy nhớ đến tôi’’ ! » không ngừng ám ảnh người phóng viên.

Bác sĩ trẻ Bùi Thế Cầu, thuộc thế hệ gốc Bắc di cư 1954, từng phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng hòa. Chiến tranh kết thúc, như cả triệu người Việt có liên quan đến chế độ cũ, ông bị đưa vào trại cải tạo. Sau hai năm đày ải, viễn ảnh tương lai khép kín, với lý lịch bị ghi phục vụ trong quân đội miền Nam, người thanh niên Bùi Thế Cầu quyết định vượt biên. Lần thứ nhất không thành công, bị bắt và bị bỏ tù hai năm. Trong cuộc ra đi thứ hai năm 1982, ông đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng biển.

Không còn ai nhớ về ông, ngoại trừ một người em gái. Trở lại với số phận bi thảm của ông Bùi Thế Cầu cũng là dịp để bà nhớ đến thảm kịch trên đường vượt biển của rất nhiều người Việt phải bỏ nước ra đi, vì bị chặn hết đường sống tại quê hương.

« Vận rủi với sông nước »

Trở lại Việt Nam tháng 12/2014, về Langset (Làng Sét), một làng có nhiều người họ Bùi, ven Hà Nội, phóng viên Doan Bui gặp lại một người chú từng ngồi trên một chiếc xe tăng tiến vào dinh Độc lập ngày 30/04/1975, một người chưa bao giờ rời Việt Nam. Người chú tên V. có lưu giữ một cây phả hệ, trong đó về ông Bùi Thế Cầu, chỉ có một dòng duy nhất : « 1975, chết ở biển ». Về cái chết của người anh em họ, ông V. tâm sự : các bậc già cả thường nói dòng họ ông có vận rủi với sông nước, và khuyên lớp trẻ « không nên liều lĩnh bơi lội ». Một thông tin về người chú, mà người cháu phóng viên nhận được, cho thấy bơi là môn thể thao ưa thích của ông.

Le Nouvel Observateur nhắc lại, 20 năm sau khi lực lượng cộng sản miền Bắc chiếm Sài Gòn, khoảng 1,4 triệu người Việt đã chạy khỏi Việt Nam, 200.000 người mất mạng trên biển, theo số liệu của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc. Bài viết kết thúc với nhận xét, hiện nay rất nhiều người vẫn tiếp tục rời khỏi Việt Nam đi tỵ nạn, nhưng các « thuyền nhân » (boatpeople) Việt Nam giờ đây không còn được chú ý, như trước năm 1990, khi vẫn còn tồn tại Liên Xô và khối cộng sản.

Mối nguy kinh tế: Hội nhập sâu khi chưa sẵn sàng

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-05-02
Trưởng đoàn đàm phán của đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Mỹ bà Barbara Weisel (trái) và ông Trần Quốc Khánh đại diện của Việt Nam tham dự cuộc họp báo chung tại Singapore vào ngày 13 Tháng Ba năm 2013.AFP
Việt Nam nỗ lực tham gia các khu vực thương mại tự do với tính cách hội nhập sâu rộng. Tuy vậy đa số chuyên gia trong nước bày tỏ sự lo ngại lớn lao vì thực trạng nội lực yếu kém sẽ làm nền kinh tế quốc dân bị ảnh hưởng xấu.

Sức ép cạnh tranh

Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ về hội nhập kinh tế thương mại quốc tế, Thứ trưởng Công thương Trần Quốc Khánh được báo chí VN trích lời  đã trấn an rằng, sự lo lắng về sức ép cạnh tranh là lo lắng không hợp lý. Ông Khánh đã tuyên bố như vừa nêu tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân 2015 diễn ra ở TP.Vinh vào hạ tuần tháng 4 vừa qua.
TS Lê Đăng Doanh là chuyên gia kinh tế tham dự Diễn đàn kinh tế mùa xuân 2015, ông đã bày tỏ những ý kiến rất khác biệt với quan điểm của ông Trần Quốc Khánh. Từ Hà Nội TS Lê Đăng Doanh nhận định:
Chúng tôi thấy hết sức lo lắng, bởi vì nếu như các hãng nước ngoài như ngươi Thái nắm siêu thị Metro, rồi nhiều công ty khác như  Malaysia thì có siêu thị Parkson, người Nhật có siêu thị Aeon và Family ..v..v lúc bấy giờ khi thuế suất hàng hóa nước ngoài vào nước ta sẽ bằng 0, họ sẽ đưa hàng hóa của họ vào siêu thị và sẽ đẩy hàng hóa của chúng ta ra khỏi các siêu thị.
-TS Lê Đăng Doanh
“Chúng tôi thấy hết sức lo lắng, bởi vì nếu như các hãng nước ngoài như ngươi Thái nắm siêu thị Metro, rồi nhiều công ty khác như  Malaysia thì có siêu thị Parkson, người Nhật có siêu thị Aeon và Family ..v..v lúc bấy giờ khi thuế suất hàng hóa nước ngoài vào nước ta sẽ bằng 0, họ sẽ đưa hàng hóa của họ vào siêu thị và sẽ đẩy hàng hóa của chúng ta ra khỏi các siêu thị. Và nếu như siêu thị của họ phục vụ tốt hàng hóa lại bán rẻ có chất lượng tốt thì lúc bấy giờ hàng hóa của Việt Nam sẽ không có đất sống và các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không thể tồn tại được. Điều đó sẽ đe dọa với cả nền nông nghiệp Việt Nam, thí dụ trái cây Thái Lan rẻ và ngon, trái mít cũng ngon hơn trái mít của chúng ta, quả nhãn quả xoài cũng ngon hơn. Ngay bây giờ thuế suất chưa về 0 nhưng tôi về đồng bằng Cửu Long đã thấy trái cây Thái Lan khá nhiều, tôi không muốn dùng chữ tràn ngập nhưng đã là khá nhiều rồi…thế thì tôi thấy những điều ấy rất là lo lắng.”
Theo những gì chúng tôi đọc được trên Thời báo Kinh tế Saigon Online, thì có vẻ Thứ trưởng Công thương Trần Quốc Khánh tin tưởng rằng hội nhập càng sâu thì Việt Nam càng đổi mới nhanh và cá nhân ông cho rằng đổi mới lần thứ 2 đã bắt đầu. Trong khi các chuyên gia ngoài chính phủ đều cho thấy cải cách ở Việt Nam chậm chạp và không hiệu quả thì ông Trần Quốc Khánh vẫn tin tưởng vào tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế và thay đổi mô hình tăng trưởng. Người giữ trọng trách đàm phán của Chính phủ về hội nhập kinh tế thương mại quốc tế cho rằng chưa có gì thay đổi đột ngột ngay trong năm 2016, dù Việt Nam có cam kết AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN. Và nếu TPP Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương và Hiệp định thương mại tự do FTA với EU có ký kết được vào tháng 6 này thì vẫn không có gì thay đổi trong năm 2016 vì Việt Nam cũng như các nước đều cần quá trình phê chuẩn của Quốc hội kéo dài từ 12 tới 16 tháng.
Rõ ràng sức ép cạnh tranh khi hội nhập sâu với thế giới là một mối quan ngại sâu xa, tuy vậy Thứ trưởng Trần Quốc Khánh khẳng định cạnh tranh là bản chất của nền kinh tế Việt Nam và nếu doanh nghiệp không cạnh tranh nổi thì phải phá sản.

Nhiều chiến lược chưa thành công

Câu chuyện có vẻ không giản đơn như lời Thứ trưởng Trần Quốc Khánh, khi mà nhiều Diễn đàn kinh tế do Quốc hội tổ chức đều có chung quan ngại về sự bế tắc trong công cuộc cải cách thể chế, tái cơ cấu nền kinh tế.
ddktmx2015-622.jpg
Diễn đàn Kinh tế mùa xuân 2015 diễn ra hai ngày 21 và 22 tháng 4 tại thành phố Vinh tỉnh Nghệ An.
Phó Giáo sư TS Ngô Trí Long chuyên gia kinh tế ở Hà Nội nhận định:
“Trong cạnh tranh vấn đề giá và chất lượng là hàng đầu. Trong bối cảnh hiện nay rất nhiều chiến lược của Việt Nam nói thẳng ra là chưa thành công. Bởi lẽ là những chiến lược đó xây dựng theo tư duy không phải kinh tế thị trường mà phần lớn còn theo tư duy nửa vời của cơ chế cũ, cho nên mới dẫn đến hậu quả như vậy.
Đã hội nhập thì chơi một sân chung mà sân chung thì luật chơi phải thống nhất là chính vì vậy một trong những vấn đề cốt lõi hiện nay là vấn đề đổi mới thể chế, thực chất là đổi mới những luật chơi mà tôi đã nói…luật chơi làm sao phải phù hợp với kinh tế thị trường, phải đảm bảo là có sự cạnh tranh thực sự, cạnh tranh bình đẳng. Nếu mà anh không bảo đảm được điều đó thì coi như anh sẽ thua cuộc; trước mắt 2015 này hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN nếu anh hội nhập mà không theo đúng luật chơi về thị trường, thì chắc chắn anh sẽ bị ra ngoài quỹ đạo, anh sẽ bị thua….”
Bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên ban tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ  hiện sống và làm việc ở Hà Nội cũng bày tỏ sự quan tâm của mình khi trả lời chúng tôi. Bà nói:
“Tôi cũng có mối lo ngại như vậy, không phải chỉ những cam kết sâu và mạnh như TPP hoặc là FTA với EU không thôi, mà ngay sự việc hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN. Các doanh nghiệp Việt Nam cho đến nay có vẻ thiếu sự chuẩn bị cần thiết cho nên rất có thể họ sẽ gặp khó khăn. Ngoài ra khu vực RCEP cũng đang được bàn thảo và hình thành giữa 10 nước ASEAN và 6 nước ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Australia, New Zealand và Ấn Độ cũng sẽ đặt sức ép cạnh tranh rất lớn cho doanh nghiệp. Muộn thì là muộn nhưng không bao giờ là quá muộn, nếu như có thể khẩn trương lên để mà thúc đẩy giải quyết việc chuẩn bị. Ở đây phải chuẩn bị cả hai mặt, một mặt là của Nhà nước phải chuẩn bị môi trường kinh doanh đến các vấn đề pháp lý và việc tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước phát triển. Một mặt khác là bản thân các doanh nghiệp phải tăng tốc lên để chuẩn bị cho chính mình.”
Trong cạnh tranh vấn đề giá và chất lượng là hàng đầu. Trong bối cảnh hiện nay rất nhiều chiến lược của Việt Nam nói thẳng ra là chưa thành công. Bởi lẽ là những chiến lược đó xây dựng theo tư duy không phải kinh tế thị trường mà phần lớn còn theo tư duy nửa vời của cơ chế cũ, cho nên mới dẫn đến hậu quả như vậy.
-PGS Ngô Trí Long
Tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân 2015, chuyên gia Võ Đại Lược được SaigonTimes Online dẫn lời cho rằng, Việt Nam đã ký 8 Hiệp định thương mại tự do FTA và đang trong quá trình đàm phán 6 Hiệp định nữa. Nói như thế có nghĩa kinh tế Việt Nam đối diện cạnh tranh toàn cầu. Theo lời ông, Việt Nam sẽ phải chịu sự cạnh tranh cả về thể chế quốc gia trong khi thể chế của Việt Nam là bất cập so với nhiều nước khác. Ông Võ Đại Lược đưa ví dụ, lãi suất cho vay ở Việt Nam từ 9 tới 10% trong khi ở các nước từ 2 tới 3% thì làm sao doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh được. Vị chuyên gia nhấn mạnh khu vực đầu tư nước ngoài thống lĩnh gần 70% tổng giá trị xuất khẩu và cũng gần 70% giá trị sản xuất công nghiệp. Theo lời ông Võ Đại Lược doanh nghiệp nội địa yếu quá, chẳng có gì và nếu mọi người không nhận thức đầy đủ thì sẽ gặp thách thức rất lớn.
Liệu có là quá trễ khi mà cả nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã bỏ lỡ nhiều thời gian. TS Lê Đăng Doanh nhận định:
“Theo tôi bây giờ vẫn còn thời gian nhưng mà phải nhanh chóng và khẩn trương lên rất nhiều. Bởi vì vấn đề các doanh nghiệp của chúng ta phần lớn là quá nhỏ. Hiện nay thì khu vực kinh tế tư nhân những doanh nghiệp có đăng ký tức là hoạt động hợp pháp chỉ chiếm khoảng 12% GDP thôi, còn nền kinh tế hộ gia đình thì chiếm đến 32%. Kinh tế hộ gia đình thì quá bé không có tiền vốn cho nên họ không có năng lực cạnh tranh gì cả. Cho nên nếu Việt Nam cạnh tranh quốc tế mà lại cạnh tranh với các hộ gia đình quá nhỏ thì điều ấy là một nguy cơ quá lớn. Tôi có báo động rằng phải liên kết các doanh nghiệp lại, phải tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp nhận được sự đầu tư từ ngân hàng và liên kết các ngân hàng với doanh nghiệp để cho các doanh nghiệp và người nông dân có thể lớn mạnh lên và có thể có  một qui mô có năng lực cạnh tranh và vận dụng tốt hơn khoa học công nghệ.”
Việt Nam đã có cuộc đổi mới lần thứ nhất cuối thập niên 1980 đạt được một số tiến bộ, nhưng thể chế chính trị không cho phép việc thực hiện một nền kinh tế thị trường thực sự. Do vậy nhu cầu cho cuộc đổi mới lần thứ hai là rất lớn, khi sân chơi hội nhập rộng lớn hơn rất nhiều.
Một câu hỏi vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng, liệu việc hội nhập sâu và nhanh trong thời gian tới sẽ mang lại hiệu quả tích cực cho nền kinh tế hay không? Dù rằng Việt Nam vẫn khẳng định đường lối kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi mà chính Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh đã khẳng định làm gì có mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đó mà đi tìm và theo đuổi.