Sunday, April 26, 2015

Campuchia cáo buộc Việt Nam làm đường lấn đất

Sơn Trung, thông tín viên RFA, Campuchia
2015-04-26
Lãnh tụ Sam Rainsy đứng tại cột mốc biên giới tạm số 185 tại xóm Kbal Kandal, xã Samrong, huyện Chanhtrea, tỉnh Svay Riêng chuẩn bị cho nhổ cột mốc hồi tháng 5, 2009-samrainsyparty.org
Người dân ở tỉnh Svay Rieng, giáp với huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An cho biết phía Việt Nam đang làm đường lấn vào trong lãnh thổ của Campuchia, lấn chiếm đất nông nghiệp của người dân tuy nhiên không có động thái gì từ chính quyền Phnom Penh. Từ Svay Rieng, thông tín viên Sơn Trung có bài tường trình như sau.
Công trình này được tiến hành vài tháng nay với đơn vị thi công và đơn vị chủ quản thuộc Ủy ban Nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
Người dân ở xã Tuol Sdey, huyện Chantrea, tỉnh Svay Rieng cho biết phía Việt Nam xây dựng con đường này nhằm giúp đỡ người dân ở khu vực biên giới thuận tiện hơn trong việc đi lại, trao đổi buôn bán hàng hóa, đặc biệt là giúp thương lái mua và vận chuyển lúa từ Campuchia về Việt Nam dễ dàng hơn.
Mặc dầu vậy, một số hộ dân sinh sống tại đây lo lắng rằng con đường này sẽ trở thành vành đai bảo vệ biên giới mới của Việt Nam và hiển nhiên khu vực này sẽ thuộc về lãnh thổ của Việt Nam.
Một người dân sinh sống ở khu đất đất gần con đường này từ năm 1994 bày tỏ: “Ban đầu, biên giới ở phía kia ở trong ruộng người Việt, rồi khi làm đường, họ nhổ cột mốc nhỏ cắm lùi vào trong, trên bờ ruộng của người Việt, đến lần thứ ba này, tôi không biết họ đo như thế nào mà bây giờ biên giới nằm giữa ruộng của tôi rồi. Bên chính quyền Việt Nam họ nói là con đường này hướng sang Campuchia 100 mét hoặc 500 mét nữa mới tới đường biên giới, như vậy là đường biên giới ở ngay mái hiên nhà tôi”.
Trao đổi với chúng tôi qua điện thoại, đại diện của Ủy ban Nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An cho biết con đường này hoàn toàn nằm trong phần đất của Việt Nam.
Phần công trình trên địa bàn huyện, bên đây có đầu tư cái đường tạm gọi là đường tuần tra biên giới. Nhưng mà mình làm là làm bên đất của phía Việt Nam, có nghĩa là cách trụ cột mốc cắm mốc giữa mình với ranh của Campuchia là từ ít nhất 100 cho đến 500 mét thì làm sao gọi là qua đất của Campuchia”.
Cột mốc 189 ở biên giới Việt - Miên
Cột mốc 189 ở biên giới Việt - Miên
Khi làm đường, họ nhổ cột mốc nhỏ cắm lùi vào trong, trên bờ ruộng của người Việt, đến lần thứ ba này, tôi không biết họ đo như thế nào mà bây giờ biên giới nằm giữa ruộng của tôi rồi. Bên chính quyền VN họ nói là con đường này hướng sang Campuchia 100 mét hoặc 500 mét nữa mới tới đường biên giới, như vậy là đường biên giới ở ngay mái hiên nhà tôi
Một người dân
Vào 24 tháng 4 năm 2015, chúng tôi có mặt tại ấp Koh Reusey, trao đổi với chúng tôi, người dân ở đây cho biết nhiều đoạn, con đường mới này tiến gần sát cột mốc biên giới. “Từ cột mốc số 197 đến 194, con đường này cách cột mốc tối đa là 40 mét. Nếu như bên Việt Nam nói là cách 100 mét thì phải nhổ cột mốc biên giới vào đất Campuchia thêm 60 mét nữa”.
Đường nằm bên kia biên giới nhưng trên đất của người Khmer
Nhiều người Campuchia ở khu vực gần con đường đang thi công thừa nhận rằng, con đường này không cắt ranh giới mà phía Việt Nam cho là biên giới nhưng họ không công nhận đường biên giới đó.
Thật ra biên giới không phải ở đây, biên giới nằm ở phía đông (hướng về phía Việt Nam) 2 km lận. Ở đó có một cái hồ lớn, hồi nhỏ tôi và cha chú thường đi bắt cá ở đó nhưng không dám vượt qua hồ vì bên đó là đất của Việt Nam. Ở đó cũng có một cái cọc mốc, nhưng giờ người ta nhổ bỏ rồi và họ lấn tới tận đây”. Một người dân 30 tuổi có nhà gần cột mốc 189, ấp Donty, xã Toul Sdey, huyện Chantrea, tỉnh Svay Rieng cho biết như vậy. Anh này còn cho biết thêm trước đây anh không thấy một người Việt nào ở đây cả nhưng đến nay, ruộng của người Việt đã đến tận vách nhà của mình.
Chúng tôi tiếp xúc với nhiều hộ dân khác tại khu vực này, tất cả đều nhận định như vậy. Một người dân khoảng 50 tuổi còn cho biết thêm rằng trước đây  phía bên kia con đường là đất đai do người Khmer quản lý. Ông này cho biết: “Trước đây đất này không có chủ, nhưng không có người Việt nào đến canh tác được cả, họ đến canh tác là người Khmer mình đuổi họ đi. Sau đó họ thuê người Khmer cày đất này rồi họ canh tác. Người Khmer cày bừa thì không ai đuổi cả. Cứ vậy, người Khmer cày bừa, người Việt canh tác, dần dà đất này thành đất của họ. Rồi cột mốc cũng từ từ lấn vào đến đây”.
Liên quan đến vấn đề này Ông Nouth Bopinnaroath, đại diện tổ chức bảo vệ nhân quyền Adhoc tại tỉnh Svay Rieng, cơ quan tiếp nhận thông tin tố cáo Việt Nam chiếm đất cho rằng dù con đường mới không ảnh hưởng đến đất của một hộ dân nào, nhưng việc người dân cho rằng họ bị Việt Nam làm đường chiếm đất là hoàn toàn hợp lý. Ông nói: “Người dân không cần ghi nhận đâu là đất Việt Nam, đâu là đất Campuchia, họ biết rằng nơi mà họ chôn cất ông bà, nơi mà họ cắt cỏ, thả trâu bò, nơi mà họ có quyền khai thác, đó là lãnh thổ của Campuchia. Đến khi thấy Việt Nam làm đường, họ không cần biết biên giới ở vị trị nào nhưng con đường đó xâm hại đến đất mà họ có quyền khai thác từ trước, họ cáo buộc rằng Việt Nam chiếm đất của họ”.
Chưa thống nhất biên giới, Việt Nam đơn phương thay đổi hiện trạng
Theo lời của người đại diện Ủy ban Nhân dân huyện Thạnh Hóa thì biên giới giữa Việt Nam và Campuchia trên địa bàn huyện đã được hai nước thống nhất quá trình đàm phán, phân giới, cắm mốc và việc Việt Nam xây dựng con đường trên lãnh thổ của mình là hoàn toàn hợp lý.
Liên quan đến vấn đề này, ông Var Kimhong, Quốc vụ khanh, Trưởng Ban Phụ trách về các vấn đề biên giới cho biết, cho đến hiện nay tuyến biên giới giữa Campuchia và Việt Nam vẫn còn nhiều chỗ chưa thống nhất, trong đó có đoạn giữa huyện Chantrea và huyện Thạnh Hóa. “Việc giải quyết vấn đề biên giới giữa Campuchia và Việt Nam vẫn chưa hoàn thành thế nên chúng ta phải giữ nguyên hiện trạng theo tin thần tuyên cáo chung của Thủ tướng Thứ hai vào ngày 17 tháng 1 năm 1995. Đây là nghĩa vụ của Việt Nam, không được có bất kỳ hạnh động nào thay đổi hiện trang khu biên giới mà không có sư thống nhất từ hai bên”.
Phần công trình trên địa bàn huyện, bên đây có đầu tư cái đường tạm gọi là đường tuần tra biên giới. Nhưng mà mình làm là làm bên đất của phía Việt Nam, có nghĩa là cách trụ cột mốc cắm mốc giữa mình với ranh của Campuchia là từ ít nhất 100 cho đến 500 mét thì làm sao gọi là qua đất của Campuchia
đại diện UBND Thạnh Hóa, Long An
Ông Nouth Bopinnaroath, đại diện tổ chức Adhoc tại tỉnh Svay Rieng nhận định rằng nếu căn cứ vào điều kiện thực tiễn thì Việt Nam hoàn toàn vi phạm luật pháp quốc tế về vấn đề biên giới. Ông Bopinnaroath: “Phía Việt Nam cho biết là có sự thống nhất giữa hai bên Việt Nam và Campuchia, thế nhưng phía Ủy ban Biên giới Campuchia thì khẳng định khu vực này có điểm chưa thống nhất. Nếu căn cứ vào luật quốc tế về biên giới thì việc đóng cọc, cắm mốc hay xây dựng bất kỳ vật thể gì nhằm đánh dấu biên giới đều phải có sự đồng ý từ hai bên và cũng phải có sự thống nhất từ người dân địa phương, những người chịu ảnh hưởng trực tiếp. Không bên nào được quyền đơn phương thay đổi hiện trạng cả”.
Cũng tại huyện Chantrea này, hồi hôm 25 tháng 10 năm 2009, ông Sam Rainsy dẫn đầu nhóm hơn 100 người nhổ 6 cọc gỗ đánh dấu vị trí phân chia biên giới vì cho rằng cột này được trồng trên lãnh thổ của Campuchia và cáo buộc Việt Nam chiếm đất. Sự kiện này khiến 2 người nông dân Campuchia bị phạt tù 9 tháng 21 ngày riêng ông Sam Rainsy đã bị xử vắng mặt và bị buộc tội phá hoại của công và xúi giục người khác có hành vi vi phạm pháp luật.
Từ nhiều năm nay, các nhà hoạt động xã hội độc lập và các đảng phái đối lập luôn chỉ trích chính quyền ông Hun Sen thiếu trách nhiệm trong việc quản lý dẫn đến tình trạng Việt Nam liên tục lấn đất sang phía Campuchia.

Thủ tướng có thực tâm để cho trí thức tham gia phản biện?

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2015-04-26
Website Chính phủ cho biết, Thủ tướng vừa ban hành quyết định 501/QĐ-TTg nhằm thí điểm tổ chức Diễn đàn khoa học chuyên nghiệp của trí thức khi tham gia hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Website Chính phủ cho biết, Thủ tướng vừa ban hành quyết định 501/QĐ-TTg nhằm thí điểm tổ chức Diễn đàn khoa học chuyên nghiệp của trí thức khi tham gia hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội- Screen capture

Thủ tướng vừa quyết định cho thí điểm tổ chức Diễn đàn khoa học chuyên nghiệp của trí thức, để cho trí thức tham gia hoạt động tư vấn, phản biện các chủ trương, chính sách. Tuy nhiên nội dung của quyết định này cho thấy không chỉ vi Hiến, mà còn cho thấy Thủ tướng không thực sự cởi mở và thậm chí còn nhiều nghi ngại.
Vậy Thủ tướng có thật tâm mong  muốn để trí thức tham gia phản biện hay không?
Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra các quyết sách của nhà nước đối với các chính sách phát triển kinh tế -xã hội, an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia.
Hoạt động này nhằm bổ sung thêm các luận cứ khoa học, dựa trên cơ sở thực tiễn chân thực, khách quan, nhằm tạo ra sự đồng thuận xã hội, đồng thời phát huy tính hiệu quả của các dự án hay chính sách của nhà nước.
Nói về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội dưới góc độ khoa học,  Thạc sĩ Trần Thị Ái Liên - Trường ĐH Hoa Sen cho biết:
“Tư duy phản biện là một khả năng phân tích đánh giá, tìm hiểu thông tin rồi sau đó lập luận và chứng minh cái lập luận của mình bằng các chứng minh đo đạc được, kiểm chứng được để đưa ra một kết luận cuối cùng mang tính thuyết phục phù hợp với quy luật logic. Cái chữ phản biện nghĩa thật là cãi ngược lại, song phản biện không có nghĩa là như thế, mà nó có thể là đồng ý hoàn toàn, cũng có thể là đồng ý một nửa hoặc là không đồng ý hay không cãi lại. Nhưng nó là quá trình suy nghĩ cân nhắc sâu và rộng.”
Theo website Chính phủ cho biết, Thủ tướng vừa ban hành quyết định 501/QĐ-TTg nhằm thí điểm tổ chức Diễn đàn khoa học chuyên nghiệp của trí thức khi tham gia hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội các chủ trương, chính sách, dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Theo đó, đây là diễn đàn khoa học chuyên nghiệp hoạt động trên nguyên tắc bảo đảm tính khoa học, trung thực, khách quan, để đóng góp tích cực cho sự phát triển đất nước, bảo vệ lợi ích của quốc gia và tuân thủ luật pháp VN.
Bình luận về vấn đề này, TS. Nguyễn Quang A nói với chúng tôi:
“Tôi cũng không quan tâm lắm khi ông Thủ tướng vẽ ra cái phản biện hay là cái nghiên cứu, ông ấy có giỏi hay cởi mở thì ông hãy hủy cái quyết định 97 của ông ấy 5-7 năm trước đi thì lúc ấy tôi mới có thể tin được. Chứ còn cái quy định về phản biện hay về thế nọ thế kia cho các nhà khoa học thì cũng là cái chả ra đâu vào đâu cả. Một mặt thì ông ấy vẫn muốn nghe, nhưng một mặt thì ông áy vẫn muốn bịt mồm những người khác và ông ấy chỉ muốn nghe để cho ông ấy nghe thôi thì tôi nghĩ rằng một môi trường như thế chẳng phải là một môi trường phản biện và cũng chẳng phải là một môi trường khuyến khích. ”
Cái chữ phản biện nghĩa thật là cãi ngược lại, song phản biện không có nghĩa là như thế, mà nó có thể là đồng ý hoàn toàn, cũng có thể là đồng ý một nửa hoặc là không đồng ý hay không cãi lại. Nhưng nó là quá trình suy nghĩ cân nhắc sâu và rộng
Thạc sĩ Trần Thị Ái Liên
Đánh giá về vai trò của trí thức trong việc tham gia phản biện các vấn đề của nhà nước cũng như cộng đồng xã hội, GS. Nguyễn Huệ Chi cho biết:
Các thành viên Viện IDS. Ảnh: Tư liệu (Internet)
Các thành viên Viện IDS. Ảnh: Tư liệu (Internet)
“Đã nói đến trí thức thì phải có cái tầm nhìn để dẫn dắt xã hội được, muốn thế thì trước các vấn đề lớn của đất nước hay của cộng đồng thì anh phải có ý kiến. Mà ý kiến này phải là một ý kiến độc lập tự anh, chứ không phải bị lệ thuộc bởi một thế lực nào hết. Đã là trí thức thì phải là người có cái tầm, và có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với xã hội như thế. Cho nên tôi nghĩ rằng phản biện xã hội là chức năng của trí thức chứ không phải của ai hết. ”
Chính quyền vi phạm pháp luật nhiều nhất
Viện IDS là một viện nghiên cứu chính sách tư nhân độc lập đầu tiên ở VN, chỉ trong một thời gian ngắn viện này đã thu hút nhiều sự chú ý của giới quan tâm chính trị - thời sự trong và ngoài nước. Đây là tổ chức khoa học và công nghệ được các nhà khoa học tự thành lập. Tuy vậy, Viện IDS đã phải giải tán trước các áp lực của Chính phủ dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Nói về sự kiện này, TS. Nguyễn Quang A – nguyên Viện trưởng Viện phản biện IDS cho biết:
“Cái Viện (IDS) của chúng tôi ra đời khi ông Nguyễn Tấn Dũng đã là Thủ tướng rồi, chúng tôi hoạt động được 2 năm thì ông Thủ tướng ra một cái quyết định 97, ông ấy thay đổi môi trường pháp lý để chúng tôi không thể hoạt động được. Với tư cách là những người phản biện độc lập về chính sách, thì chúng tôi đã tự giải tán. Tôi nghĩ rằng nếu thực sự ông ấy muốn phản biện thật thì ông ấy hãy hủy cái quyết định do chính ông ấy ký 5-7 năm trước. Lúc đó mới có thể tin được một chút gì, chứ còn bây giờ vẽ ra cái quy chế phản biện thì tôi nghĩ không có ý nghĩa gì.”
Trên trang Văn Việt, nhà báo Huy Đức đã bình luận cho rằng, việc Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thí điểm tổ chức Diễn đàn khoa học chuyên nghiệp của trí thức, nếu so với cung cách “đóng cửa làm chính sách” của nhà nước VN lâu nay thì quyết định 501/QĐ-TTg đã có vẻ như cởi mở hơn. Tuy vậy, theo Điều 25 - Hiến pháp VN năm 2013 quy định công dân có quyền “Tiếp cận thông tin và phát biểu công khai ý kiến của mình về các chủ trương, chính sách, dự án phát triển kinh tế – xã hội” thì thấy quyết định của Thủ tướng quy định“chỉ những trí thức được chọn mới có quyền phản biện" lại là vấn đề vi hiến.
Tôi nghĩ rằng với quyết định như thế chứng tỏ rằng ông Thủ tướng đã vi phạm Hiến pháp. Và rất đáng tiếc là Đảng CSVN, Chính phủ và các cơ quan của nhà nước VN đã là các tổ chức vi phạm Hiến pháp, vi phạm luật của chính họ đưa ra là nhiều nhất
TS. Nguyễn Quang A
Bình luận về vấn đề này, TS. Nguyễn Quang A khẳng định:
“Tôi nghĩ rằng với quyết định như thế chứng tỏ rằng ông Thủ tướng đã vi phạm Hiến pháp. Và rất đáng tiếc là Đảng CSVN, Chính phủ và các cơ quan của nhà nước VN đã là các tổ chức vi phạm Hiến pháp, vi phạm luật của chính họ đưa ra là nhiều nhất. Do đó các tổ chức XHDS và người dân hãy lên tiếng để nói cho họ biết rằng họ là những người vi phạm Hiến pháp, vi phạm pháp luật nhiều nhất. Hãy bớt vi phạm đi!”
Trả lời câu hỏi để trí thức có thể góp phần vào việc phản biện các chính sách phù hợp và đạt hiệu quả thì Nhà nước VN cần phải làm gì?
Với một thái độ rất thẳng thắn, TS. Nguyễn Quang A ghi nhận:
“Tôi nghĩ rất đơn giản, nhà nước hãy thực hiện đúng cái Hiến pháp mà họ đã nêu ra, nhà nước hãy thực hiện đúng những cái luật của họ đã thông qua, cho dù nó vẫn chưa thực sự tốt lắm, nhưng họ vẫn phải nghiêm túc thực hiện. Đó là cái thứ nhất. Nhưng mà người dân và các nhà khoa học, đừng phải đợi họ tạo điều kiện gì cả, hãy đối chiếu theo đúng Hiến pháp là chúng tôi có quyền tiếp cận thông tin và góp ý. Và cứ thế góp ý, bất luận là ông ấy có thích hay không? Bất luận có theo các quy định của các ông ấy không, vì quyết định của các ông ấy là quyết định vi Hiến.”
Phản biện của trí thức không có nghĩa là phản đối, nhưng nó là quá trình suy nghĩ cân nhắc sâu và rộng của các trí thức trước các vấn đề quan trọng của đất nước hay cộng đồng xã hội. Để thấy hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội các chủ trương, chính sách của mỗi quốc gia có tầm hết sức quan trọng. Ở các quốc gia phát triển, chính quyền luôn coi trọng và có các chính sách phù hợp để khuyến khích các hoạt động này đối với các trí thức.

Những tà áo dài khiến bạo quyền run sợ

Bạn đọc Danlambao - Cuộc biểu tình bảo vệ cây xanh sáng 26/4/2015 đã bị CA Hà Nội đàn áp mạnh tay. Video và hình ảnh được phổ biến trên các mạng xã hội cho thấy nhiều phụ nữ dù mặc áo dài, trên tay mang những bó hoa nhưng vẫn bị lực lượng an ninh đeo băng đỏ vùi dập thô bạo.

Ngay khi CA ra tay bắt người, nhiều chị em phụ nữ đã nằm la liệt xuống đường để phản đối hành vi bạo lực. Tuy nhiên, họ vẫn tiếp tục bị một đám thanh niên to khỏe lôi đi xềnh xệch trên đất.

Sau khi những phụ nữ áo dài bị lực lượng đeo băng đỏ bắt hết, nhiều người biểu tình đồng loạt lên chiếc xe bus đậu sẵn, chấp nhận để cùng bị bắt chung.

Hơn 20 người biểu tình sau đó đã bị đưa về giam giữ tại trụ sở CA quận Long Biên. Ngay lập tức, một cuộc biểu tình đòi người đã diễn ra ngay phía bên ngoài. Trước áp lực cả bên trong lẫn bên ngoài, CA đã buộc phải thả người sau vài tiếng giam giữ phi pháp.

Bất chấp hoàn cảnh bị đàn áp, sự kiện sáng ngày 26/4/2015 là một bước tiến dài trong cuộc phản kháng bất tuân dân sự tại Việt Nam. Hình ảnh hoa và những tà áo dài tha thướt bị vùi dập bởi lực lượng côn an là minh chứng rõ rệt cho bản chất thô bạo của chế độ cộng sản.

Những người biểu tình mặc áo dài đã làm nên một chiến thắng vang dội trước bạo quyền. Phải chăng đây cũng là khởi đầu cho cuộc cách mạng áo dài tại Việt Nam?

Dưới đây là một số hình ảnh hoa và áo dài bị vùi dập trong buổi sáng chủ nhật, 26/4/2015 tại Hà Nội:





Ảnh: Facebook Tất Thành Phan

Bạn đọc Danlambao
danlambaovn.blogspot.com

Chính phủ VN mua lại OceanBank với giá 0 đồng

Theo BBC-25 tháng 4 2015

Nguyên Chủ tịch OceanBank Hà Văn Thắm bị bắt tháng 10 năm ngoái
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ mua lại Ngân hàng Đại Dương (OceanBank) với giá 0 đồng.
Đây là trường hợp thứ hai sau Ngân hàng Xây dựng (VNCB) hồi tháng Hai.
Sau khi nguyên Chủ tịch OceanBank Hà Văn Thắm bị bắt tháng 10 năm ngoái, OceanBank đã liên tiếp thay chủ tịch.
Ban đầu bà Nguyễn Minh Thu lên thay ông Thắm, nhưng chỉ hai tháng sau, bà cũng bị công an bắt tạm giam.
Hiện nay người lãnh đạo ngân hàng này là ông Đỗ Thanh Sơn, nhưng mọi hoạt động chịu sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tin về thương vụ 0 đồng được loan báo tại Đại hội cổ đông thường niên của OceanBank ngày 25/4.
Theo truyền thông trong nước, vốn điều lệ thực của OceanBank hiện chưa đủ mức vốn pháp định 3.000 tỷ đồng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ trở thành chủ sở hữu (100% vốn điều lệ) của OceanBank, chấm dứt toàn bộ quyền, lợi ích và tư cách cổ đông của các cổ đông hiện hữu.
Ngân hàng Công Thương Việt Nam (Vietinbank) sẽ tham gia quản trị, điều hành OceanBank.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nói quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền tại OceanBank sẽ được đảm bảo.

Học gì từ chính sách kinh tế của VNCH?

Theo BBC-25 tháng 4 2015

Phía ngoài Nhà hát lớn Sài Gòn trước năm 1975

Việt Nam ngày nay nên học chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong cách nhìn về kinh tế thị trường cũng như cách đào tạo, trọng dụng nhân tài.
Nhận định trên được chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, một Việt kiều Mỹ nay đang sống ở Việt Nam, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 23/4.
Ông Thành cũng cho rằng "dư âm của nền kinh tế tập trung" đang hạn chế sự phát triển của Việt Nam trong thời điểm hiện tại, cũng như trong tương lai.
BBC: Ông có thể cho biết một số đặc trưng của nền kinh tế miền Nam trước năm 1975?
Ông Bùi Kiến Thành: Trước 1975 thì kinh tế miền Nam, dù có những khó khăn do chiến tranh, nhưng vẫn là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.
Vì trong bối cảnh chiến tranh nên chính sách thời đó là mở rộng tất cả những gì có thể. Nông nghiệp thì gặp khó khăn về chiến tranh, thương mại cũng chỉ trao đổi hàng hóa, chứ việc phát triển công nghiệp thì chưa được bao nhiêu.
Nhưng nó vẫn là nền kinh tế cho phép nhân dân tự do tham gia, để những người có ‎ý chí muốn làm kinh tế được tạo điều kiện tốt.
Trong những năm dưới Đệ nhị Cộng hòa thì có khó khăn do cơ chế quản lý nhà nước vẫn chưa có những kinh nghiệm trong vận hành kinh tế thị trường, quản lý‎ nhà nước vẫn chưa hoàn toàn trong sáng, vẫn có những nhũng nhiễu của các nhóm lợi ích.
Trước 75 thì kinh tế miền Nam sống nhờ viện trợ hoa kỳ. Mỹ cung cấp cho miền Nam một tài khoản lớn, mỗi năm mấy trăm triệu đôla, mỗi năm nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam rồi chi cho chính phủ, chi cho phát triển.
Với nền Đệ nhị Cộng hòa thì chiến tranh mở rộng và chi phí của bộ máy quân sự Mỹ ảnh hưởng rất nhiều đến kinh tế. Nền kinh tế phát triển ảo, phát triển về hạ tầng chứ không phải phát triển doanh nghiêp để tạo ra công nghệ mới.
Nó có định hướng tốt là nền kinh tế thị trường nhưng không vững chắc, không dựa vào cơ sở kinh tế mà chỉ dựa vào chiến tranh là chính.
Cả Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa đều không có điều kiện để phát triển hết tiềm năng của một nền kinh tế thị trường, do chiến tranh và việc chuyển đổi qua nền kinh tế kế hoạch tập trung rất là khắc nghiệt.
Nếu so sánh với các nước khác thì Đại Hàn bắt đầu dưới thời Park Chung Hee mới bắt đầu phát triển tốt và đến 70 mới phát triển xa hơn Việt Nam Cộng Hòa.
Không thể so sánh với những nước như Nhật được. Nhật đến năm 70 đã phát triển thành nền kinh tế tiến bộ rồi.
Singapore thời đó cũng chỉ mới bắt đầu có tiến triển dưới thời L‎ý Quang Diệu và đến 70 thì phát triển xa hơn miền Nam nhiều, vì cả ba nước này không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.


BBC: Xu hướng phát triển của Việt Nam Cộng Hòa sẽ như thế nào nếu được phát triển trong hòa bình, thưa ông?
Ông Bùi Kiến Thành: Nói chung nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa là một nền kinh tế thị trường có nhiều tiềm năng, nếu được phát triển trong hòa bình thì sẽ có nhiều khả năng phát triển tốt hơn là chính sách phát triển tập trung sau 30/4/1975.
Nếu Việt Nam có hòa bình thì những chính sách phát triển kinh tế bắt đầu từ nền Đệ nhất Cộng hòa vẫn được duy trì, như khu công nghiệp Biên Hòa, các trung tâm phát triển công nghiệp. Khi đó chúng ta học dần dần thì bắt đầu tích lũy kinh nghiệm và bắt đầu đi lên.
Tuy nhiên, sau 30/4 thì tất cả những kinh nghiệm đó bị chặn đứng, áp dụng kế hoạch tập trung của miền Bắc vào miền Nam, bao nhiêu doanh nghiệp bị quốc hữu hóa, doanh nhân thì vào trại cải tạo hoặc bỏ xứ ra đi.
Nền kinh tế tan vỡ ra hết và nền kinh tế tập trung không phát triển được, việc ngăn sông cấm chợ khiến nền kinh tế đi vào ngõ cụt.
Đến khi đó nhà nước cộng sản mới áp dụng chinh sách Đổi Mới. Nhưng Đổi Mới không phải là kinh tế thị trường mà là nền kinh tế 'nhiều thành phần vận hành theo kinh tế thị trường dưới sự quản lý‎ của nhà nước".
Cho đến nay định nghĩa của nền kinh tế Việt Nam sau Đổi Mới vẫn chưa có gì mới hơn là định nghĩa năm 1986, là kinh tế nhiều thành phần có sự quản l‎ý của nhà nước.
Vì vậy nên đến 2015, chúng ta vẫn bị sự chi phối nặng nề của các doanh nghiệp nhà nước, không thoát ra được tư duy kế hoạch tập trung của một số lãnh đạo, và không thoát ra khỏi sự vận hành của kinh tế nhà nước, trì trệ và không có hiệu quả.
Từ năm 1985 đến giờ ta không bắt kịp các nền kinh tế khác vì tư duy không rõ ràng, không ai biết kinh tế xã hội chủ nghĩa là cái gì.
Một mặt thì nói là kinh tế thị trường, một mặt thì nói là có sự quản l‎ý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta đã mất hết 30 năm mà vẫn còn loay hoay trong những việc làm không rõ ràng.
Nền kinh tế thị trường của miền Nam đã bị phá vỡ sau năm 1975
BBC: Liệu chính phủ ngày nay có thể học được gì từ chính sách kinh tế miền nam trước 1975 thưa ông?
Ông Bùi Kiến Thành: Thứ nhất là kinh tế là việc của nhân dân chứ không phải của chính phủ, chính phủ không làm kinh tế. Đó là bài học lớn nhất.
Phải bỏ tập quán chính phủ đi làm kinh tế. Đã có định hướng như thế rồi nhưng chính phủ Việt Nam vẫn chưa ra khỏi vấn đề tư duy kinh tế nhà nước.
Thứ hai là các nhóm lợi ích của thành phần cầm quyền có ảnh hưởng rất lớn về vấn đề lợi ích trong nền kinh tế, khiến nền kinh tế bị khống chế bởi một nhóm lợi ích, khó mà phát triển được.
Kinh tế làm sao phải lan tỏa được để mọi người có thể tham gia, làm sao để tổ chức mà cả hệ thống chính trị, hệ thống hành chính tạo điều kiện cho người dân tham gia bình đẳng vào vấn đề kinh tế.
Ở miền Nam khi đó không có vấn đề là đảng viên thì hay ở trong hệ thống tổ chức nào mới được trọng dụng.
Đến bây giờ chúng ta thấy rằng về vấn đề quản lý nhà nước, toàn thể Việt Nam vẫn ở trong hệ thống Đảng Cộng sản, không phải đảng viên thì không được gì, mà chưa hẳn là 4 triệu đảng viên cộng sản đã là tinh túy nhất của toàn dân Việt Nam, nên nó hạn chế việc đào tạo lãnh đạo quản lý‎ nhà nước.
Chúng ta chưa thực sự mở cửa đào tạo, có hệ thống giáo dục tân tiến.
Đi vào đại học thì học những chuyện đã cũ rích rồi, từ những sách tiếng Anh dịch ra cho học sinh học mà thầy giáo đọc còn chưa hiểu, trong khi ở những nước khác, sinh viên học trên internet các dữ liệu, kiến thức mới.
Hệ thống giáo dục của Việt Nam chưa thể đưa những kinh nghiệm hay kiến thức mới vào nền giáo dục kịp thời, nên chúng ta đào tạo ra các sinh viên không đủ năng lực đi vào thực tế, đi vào xã hội.
Các doanh nghiệp khi thuê từ đại học ra phải đào tạo lại cho phù hợp với doanh nghiệp mình, nên tốn gấp đôi thời gian và tiền.
Bên cạnh đó, Việt Nam bây giờ còn có cái đại nạn là phải đi mua việc. Điều đó tạo ra vấn đề là những cán bộ làm việc trong cơ quan nhà nước không phải do năng lực. Những chuyện đó hạn chế chất lượng quản lý nhà nước của Việt Nam.
Ở miền Nam trước 75 thì là một nền giáo dục rất mở, người sinh viên và các thầy giáo được quyền tiếp cận các nền giáo dục tư tưởng, dù là tư bản hay cộng sản, không hạn chế.
Giáo dục miền Bắc khi đó chỉ có Marxist thôi, không được đọc sách báo, không nghe về tư bản chủ nghĩa, không nghe BBC, radio thì bị khóa không được mở các tần số đấy.
Giờ thì trong trường đại học mở ra nhiều hướng để sinh viên tiếp cận, ví dụ như Internet. Nhưng giáo trình thì không bao nhiêu, vì các thầy cũng có được học đâu, các thầy cũng học trong cơ chế xã hội chủ nghĩa bao năm nay rồi, nên việc đào tạo các thầy trước rồi đào tạo sinh viên sau khiến nền giáo dục bị chậm trễ.
Dư âm của một nền văn hóa tập trung vẫn khiến Việt Nam bị hạn chế cho đến nay.

'Ý thức về tự do đã ăn sâu vào miền Nam

Theo BBC-25 tháng 4 2015
Tổng tuyển cử tại miền Nam Việt Nam năm 1967
Ý thức về tự do và kinh tế thị trường đã ăn sâu vào xã hội miền Nam Việt Nam, giúp nơi đây trở thành bàn đạp cho Đổi Mới.
Nhận định trên được một người làm việc ở Sài Gòn trước 1975 nói với BBC trong dịp đánh dấu 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa, từng là phụ tá Tổng trưởng Tài chính thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, trao đổi với BBC từ California, Hoa Kỳ. Ông cho rằng chính sách viện trợ của Hoa Kỳ không những không giải quyết được các vấn đề của miền Nam thời bấy giờ, mà còn gây thêm nhiều khó khăn.
BBC:Ông đánh giá thế nào về tính tự do, mở cửa của nền kinh tế miền Nam thời bấy giờ, thưa ông?
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Có lẽ nên đặt trong hoàn cảnh của thập niên 60 của thế giới lúc đó và cái thứ nhì là hoàn cảnh riêng của Việt Nam.
Lần đầu tiên sau năm 1883 đến 1955 mới có một nước Việt Nam độc lập và bắt đầu bước qua chuyện thế nào là dân chủ, thế nào là kinh tế thị trường.
Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ miền Nam, nhất là nền Đệ nhất Cộng hòa, đã có những thành quả lớn, so với thời thực dân Pháp cai trị đất nước ta với nền kinh tế chỉ huy của họ.
Nền kinh tế với dân số 15 triệu đã phải tiếp nhận gần 2 triệu người dân di cư từ miền Bắc vào, phải xây dựng lại một hệ thống kinh tế và hành chính khác hẳn những gì nước Pháp để lại.
Trong giai đoạn đó, mức độ tự do kinh tế so với miền Bắc, chứ tôi chưa nói là các nước khác, thì những cải cách như đạo luật cải cách ruộng đất ban hành năm 1956 đã là một bước tiến đáng kể.
Bước sang nền Đệ nhị Cộng hòa thì một nửa đất nước lâm vào cảnh chiến tranh toàn diện, do những người cộng sản tổ chức ngay trong ruột của miền Nam.
Tình trạng chiến tranh ngày càng rộng mở từ năm 1965 trở đi thì miền Nam càng mất khả năng giải quyết những vấn đề kinh tế của mình, từ chuyện ruộng đất, canh tác để nuôi sống khoảng 18 triệu người.
Nhưng trong giai đoạn đó thì chính quyền của nền Đệ nhị Cộng hòa vẫn cố gắng làm được chuyện rất lạ, là xây dựng nền kinh tế thị trường, và thúc đẩy điều lớn lao hơn nền Đệ nhất Cộng hòa là đạo luật cải cách ruộng đất ngày 26/3 năm 1970, với tên gọi "Người cày có ruộng".
Đạo luật này đã giải quyết được vấn đề công ăn việc làm và hữu sản hóa cho 1 triệu rưỡi người nông dân miền Nam lúc đó.
Trong hoàn cảnh đó, nhất là sự ngu xuẩn trong chính sách viện trợ của Mỹ, mà miền Nam vẫn làm được những điều đó.
Nếu nền Đệ nhất cộng hòa gặp áp lực từ người Bắc di dân vào thì Đệ nhị Cộng hòa cũng phải đón nhận hoàn cảnh tương tự.
Năm 1972, quân đội miền Bắc đánh vào phía nam của vĩ tuyến 17, khiến bao người trôi dạt vào phía trong nam mà miền nam vẫn phải trợ cấp, tạo công ăn việc làm cho họ, trong bối cảnh Mỹ đã tháo chạy.
Trong hoàn cảnh đó mà vẫn còn giữ được mấy năm nữa thì tôi nghĩ thuần về kinh tế mà nói là cả nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa đã giải được những bài toán kinh tế mà tôi cho là nhiều quốc gia như Nam Hàn, Thái Lan, Philippines nếu rơi vào trong hoàn cảnh tương tư chưa chắc đã giải quyết được.
Người ta cứ nói là do viện trợ Mỹ nhưng không phải. Chính viện trợ Mỹ là yếu tố khiến miền Nam không đương cự nổi với tình thế chiến tranh.
BBC:Theo ông thì những chính sách tiến bộ nào của miền Nam thời đó có thể so sánh được với Nam Hàn hay Nhật Bản trong thời kỳ các nước này mới trỗi dậy?
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Một cái khá cụ thể là nói đến mức sống của người dân thực sự thời đó khá tương đối, nếu so sánh với trường hợp của Nam Hàn, Philippines hay Đài Loan.
Miền Nam lúc đó cũng đã có một số công ty quốc doanh bị buộc phải giải tư, hệ thống kinh tế do chính quyền kiểm soát phải bước sang nền kinh tế cho tư nhân.
Trong lĩnh vực của tôi khi tiếp xúc làm việc với đối tác Đài Loan, Nam Hàn thì họ theo dõi các chính sách của miền Nam có sự tôn kính, khâm phục. Hai bên đều xem nhau là đang trước áp lực của cộng sản mà phải giải quyết các vấn đề kinh tế.
Tuy nhiên chiến sự tại nam Việt nam ngày càng bùng phát dữ dội, không như hai nơi cũng bị áp lực của chiến tranh là hai Nam Hàn, Đài Loan.
Điều đó không chỉ bắt đầu từ việc chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, mà còn do tướng tá bắt đầu làm loạn từ năm 1963, khiến nền kinh tế không thể sinh hoạt bình thường như Nam Hàn hay Đài Loan, khiến miền Nam dựa vào hệ thống viện trợ của Hoa Kỳ.
Chúng ta thấy như ở Iraq hay Afghanistan là viện trợ không giúp cho quốc gia cầu viện giải quyết những vấn đề của mình, vì nó tùy thuộc vào chính sách quốc gia cấp viện khi đó. Viện trợ để giải quyết vấn đề của nước Mỹ, chứ không giải quyết vấn đề của nước nhận viện trợ.
Vận động đi bầu cử ở Sài Gòn năm 1967
BBC:Ông có tin rằng nếu có cơ hội tồn tại, Việt Nam Cộng hòa có thể sánh ngang với các cường quốc châu Á ngày nay?
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ điều đó là vấn đề giả định về lịch sử mà không xảy ra được. Thực tế ra lúc đó các quốc gia đều nghĩ rằng miền Nam là trù phú. Miền Nam có những tài nguyên, điều kiện khá hơn các nước khác như Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Philippines.
Nếu chiến sự lắng đọng trong 6 tháng thì miền Nam đã có thể tự túc về lúa gạo và lắng đọng 1 năm thì có thể trở về vị trí xuất cảng về gạo.
‎Ý thức về tự do và kinh tế thị trường đã ăn sâu vào xã hội ở miền nam.
Không khí, tinh thần kinh doanh, làm việc ở miền nam là điều còn kế thừa được sau một giai đoạn ngắn ngủi, đầy tai ương, chết chóc.
Bây giờ cũng vậy, những người ưu tú nhất của miền bắc cũng đi vào trong nam và tìm đến không khí tự do, cởi mở, thông thoáng, rộng rãi. Đó là di sản mà người ta cứ tưởng đã mất, nhưng vẫn còn đó.
Đó là đóng góp của miền Nam, vùng đất nhiều vấn đề, tai ương, nhưng cũng là nơi cho nhiều cơ sở để có thể bùng lên sau thời kỳ Đổi Mới.

Khi đồng chí X nói tiếng Anh


Trọng (Danlambao) - Chương trình vui học tiếng Anh cùng đồng chí X. Clip được chuyển thể từ một câu truyện cười tiếng Anh khá nổi tiếng.

Kính chúc bà con thôn Danlambao một ngày cuối tuần vui khoẻ.

Chuyện viên phó giáo và con khỉ

Tú Kép (Danlambao) - Vừa rồi, đài BBC Tiếng Việt mở cuộc phỏng vấn viên phó giáo sư tiến sĩ Vũ Quang Hiển về chính sách của Cộng sản Bắc Việt Nam (BVN) sau năm 1975 và về vấn đề tù binh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay Nam Việt Nam (NVN), được đăng thành hai kỳ báo trên trang web BBC Tiếng Việt.

Trên BBC ngày 18-4-2015 (kỳ báo 1), viên phó giáo sư tiến sĩ, dạy tại Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, dõng dạc tuyên bố: "Tôi nghĩ rằng sau chiến tranh, Việt Nam không có ngược đãi đối với mọi người. Bởi vì chính sách lúc ấy của nhà nước Việt Nam là chính sách hòa hợp dân tộc. Chính sách này đã công bố công khai ngay từ thời chiến tranh, chứ không phải sau hậu chiến mới có chính sách đó..."

Phát biểu của viên phó giáo không khác gì mấy ông cán bộ phường hay cán bộ xã, học tập theo cái loa đài phát thanh Hà Nội sau ngày 30-4-1975. Không biết lúc đó, 40 năm trước, viên phó giáo nầy lên mấy tuổi và sống ở đâu? Y có sống ở miền Nam không để biết sự ngược đãi, cướp của, cướp nhà của CSVN. Viên phó giáo có nghe câu danh ngôn bất hủ của một lãnh đạo CS khi vào được Sài Gòn: "Nhà ngụy ta ở, vợ ngụy ta lấy, con ngụy ta sai". Viên phó giáo có chứng kiến cái cảnh đánh tư sản, đuổi dân đi kinh tế mới để cướp nhà, cướp đất của người ta không? Sự ngược đãi tràn lan trong xã hội, từ thượng tầng xuống tới làng xã. Suýt nữa quên nhắc cho viên phó giáo rằng chẳng cần đi đâu cho xa, ngay tại Đại học, sau năm 1975, bảng xếp hạng tuyển sinh vào Đại học CS gồm 14 hạng, trong đó con ngụy quân ngụy quyền ở hai hạng chót thứ 13 và 14. Sơ sơ như thế có ngược đãi với trẻ con vô tội không thưa ngài phó giáo?

Sự ngược đãi của CSVN không thể nào kể hết cho xiết. Có một chuyện giỡn thời danh được lưu truyền như thế nầy: Sau khi Lê Duẫn chết, Lê Duẫn xuống địa ngục. Bị hành hạ khổ sở vì tội ngược đãi tàn bạo sau năm 1975, Lê Duẫn hỏi viên cai ngục làm sao thoát khỏi nơi chốn lao tù nầy. Viên cai ngục nói: "Dễ lắm, nhà ngươi phải sám hối tội ngược đãi, bạo hành ở miền Nam sau năm 1975. Nhà ngươi hãy đi lên cho hết các bậc thềm nầy, mỗi bậc thềm đọc to một tội, khi hết tội thì sẽ đến cửa thiên đàng. Mỗi lần lên một bậc, hãy nhớ dùng phấn đánh tréo làm dấu cho biết.” Lê Duẫn nhìn bậc thềm mà mừng thầm, vì quá dễ. Y từ từ bước lên, đọc một tội của mình, và đánh phấn làm dấu. Tuy nhiên khi lên mãi các bậc thềm, Lê Duẫn xài hết cả một hộp phấn, rồi hai hộp phấn, cho đến khi địa ngục hết phấn, không còn phấn để viết, mà Lê Duẫn vẫn không thấy cửa thiên đàng, đành buồn bã quay về địa ngục...

Trở lại với viên phó giáo sư tiến sĩ Vũ Quang Hiển. Viên phó giáo Hà Nội còn ba hoa chích chòe trên đài BBC: "Thế còn việc tập trung học tập hay cải tạo, tôi nghĩ đấy là để học cho nó rõ chính sách của nhà nước Việt Nam thời bấy giờ. Chứ không có nghĩa là một chế độ tù đầy... Nếu nói là tù đầy, thì tôi nghĩ đó là một sự xuyên tạc."

À cái nầy, viên phó giáo nói cũng có phần đúng. Chuyện đi học tập cải tạo và chuyện tù đày có phần khác nhau, vì tù đày còn có tòa án xét xử, định tội rõ ràng, xong có kêu án, có thời hạn ở tù và chỉ định nơi giam tù; thậm chí ác ôn như Cải cách ruộng đất còn có Tòa án nhân dân. Còn đi học tập cải tạo thì chẳng có tòa án, chẳng ai kết án, chẳng có thời hạn, chẳng biết giam ở đâu, chẳng biết khi nào về, nhiều khi đi mút mùa lệ thủy. Khác nhau quá đi chớ. Trại tù có quy chế rõ ràng, còn trại học tập cải tạo là nơi giam giữ vô thời hạn, bạo hành, ngược đãi, trả thù, bóc lột tối đa sức lao động tù nhân. Khẩu phần của một người học tập cải tạo rất thấp so với khẩu phần của một tù nhân CS dưới chính thể VNCH. (1) Trại cải tạo là một loại trại trừng giới ác độc tàn bạo nhứt trong lịch sử Việt Nam.

Viên phó giáo tiến sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội phải biết rằng chính sách học tập cải tạo không do đảng CSVN bày ra, mà chính sách nầy đã có lịch sử lâu dài từ quê cha đất tổ của CS, tức từ Liên Xô mà ra, thời năm xửa năm xưa. Sau đó Tàu cộng đem về khai triển, rồi bày cho Việt cộng học tập. Việt cộng chỉ việc vâng lệnh thi hành, tàn ác không kém các bậc thầy tý nào.

Cần nhắc lại là khi cướp được chính quyền năm 1917 ở Nga, CS Nga thiết lập chế độ cải tạo vào các năm 1918-1921 và hợp thức hóa bằng luật pháp năm 1933. Tại Trung Cộng, chính sách “lao cải” (tức lao động cải tạo) được chính thức hóa ngày 26-8-1954 và hội đồng chính phủ chấp thuận thủ tục thi hành chính sách lao cải vào tháng 8-1957. (2) 

Tại miền Bắc, sau năm 1954, một số ít quân nhân, công chức không di cư vào Nam mà ở lại đất Bắc, liền bị bắt giam vào tù cải tạo. Chính sách cải tạo do quốc hội Bắc VN chính thức quy định vào năm 1961 trong nghị quyết 49-NQTVQH và thông tư số 121-CP của hội đồng chính phủ đặt ra các biện pháp thi hành nghị quyết nầy. (3)

Mấy món ăn chơi nầy viên phó giáo Vũ Quang Hiển không lẽ chưa học tập? Chưa học tập mần răng mà mò lên tới phó giáo tiến sĩ lận. Không lẽ tên nầy thuộc loại “dốt chuyên tu, ngu tại chức”? Ngoài ra, hình như trí nhớ của viên phó giáo chưa già mà đã cụt. Nên xin thêm ở đây chính sách học tập của Việt cộng theo tài liệu của nhà văn trong nước viết như sau.

Năm 1975, trước khi tấn công Sài Gòn, Ban Bí thư Trung ương đảng Lao Động từ Hà Nội đưa ra chỉ thị số 218/CT-TW ngày 18-4-1975, quy định chính sách đối với công chức và sĩ quan VNCH bị bắt như sau: "Đối với sĩ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ, quản lý, giáo dục và lao động; sau này tùy sự tiến bộ của từng tên, sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể. Những người có chuyên môn kỹ thuật mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau nầy tùy theo yêu cầu của ta và tùy theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo, an ninh quân đội, sĩ quan tâm lý, bình định, chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sĩ quan hay sĩ quan, đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lý chặt chẽ." (4) 

Viên phó giáo còn giả nai làm như không biết: "Hai là đã không có nhà tù nào để giam cầm tất cả anh em sỹ quan binh sỹ quân đội Sài Gòn, cũng như (nhân viên) chính quyền Sài Gòn trước đây, trong nhà tù để mà đánh đập, để mà tra tấn, thì hoàn toàn không có." (trích nguyên văn từ BBC ngày 18-4-2015.)

Khổ quá, lại phải tìm giùm nhà tù cho cái anh chàng phó giáo Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo Encyclopedia of the Vietnam War (5), sau biến cố 1975, số sĩ quan, công chức và cán bộ Việt Nam Cộng Hòa bị bắt bỏ tù khoảng hơn 1 triệu người trên tổng dân số VNCH lúc đó khoảng 20 triệu người, tức 5% dân số. Tất cả bị giam trên 150 trại tù trên toàn quốc. Trong số 1 triệu người bị tù, khoảng 165,000 người (tức 15%) bỏ mình trong các trại tù (6). Cộng sản hứa sẽ thả ra khỏi tù những ai học tập cải tạo tốt, nhưng không có tiêu chuẩn xác định thế nào là học tập cải tạo tốt để được thả, nghĩa là chẳng có luật lệ quy định thời gian giam giữ tù nhân. Còn việc thả tù hoàn toàn tùy cảm hứng của CSVN.

Rồi tiếp đó, trả lời phỏng vấn trên BBC ngày 20-4-2015 (kỳ báo 2), viên phó giáo Đại học Quốc Gia Hà Nội lại lếu láo về hòa giải hòa hợp dân tộc: "Nếu chúng ta tính mỗi thế hệ khoảng 20-25 năm, thì hơn một thế hệ, hai thế hệ đã ra đời sau chiến tranh đến bây giờ rồi. Thì những gia đình đó, con cái của họ, con em của họ vẫn có công ăn, việc làm bình thường, được học hành một cách bình thường... Và người ta có thể gả vợ, gả chồng cho nhau... Thì tôi nghĩ sự hòa hợp ấy về cơ bản đã được giải tỏa."

Đúng là cho đến 2015, đã 40 năm qua, ai cũng phải kiếm công ăn việc làm, vì không lẽ 40 năm qua, người ta ngồi không, nhịn đói chờ chết. Bị ngăn sông cấm chợ, bị đổi tiền ba lần, bị đánh tư sản mại bản, tư sản dân tộc, tiểu tư sản, tiểu chủ, bị cướp trước, cướp sau, dân chúng cũng phải lo kiếm sống nuôi gia đình. Còn việc một số gia đình kẻ Bắc người Nam dựng vợ gả chồng cho con cái là chuyện bình thường trong cuộc sống xã hội, chứ đó không phải là chuyện hòa hợp hòa giải chính trị. Nói thế mà cũng nói được thưa phó giáo tiến sĩ.

Nói chuyện hòa hợp hòa giải, là nói chuyện hòa hợp hòa giải chính trị và giữa ai với ai? Dĩ nhiên ở đây kẻ mở miệng kêu gọi hòa giải hòa hợp là nhà cầm quyền CSVN. Còn đối tượng nhà cầm quyền CSVN muốn hòa giải hòa hợp là người Việt Nam, chứ ai vào đây. Hiện nay, có hai thành phần người Việt: người Việt ở trong nước và người Việt ở hải ngoại.

Sau khi CS cưỡng chiếm Sài Gòn năm 1975, những người Việt có điều kiện, tìm cách ra đi tìm đất sống tự do khắp năm châu, đông nhứt ở Bắc Mỹ. Ngày nay, người Việt họp thành những cộng đồng đông đúc, có khoảng 3 triệu người, tuy nói tiếng Việt, viết và đọc được tiếng Việt, nhưng họ đã ổn định cuộc sống, đã là công dân các nước khác, không phải là công dân Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Giai đoạn khó khăn của họ đã qua. Bây giờ họ sống ở nước ngoài, làm việc cho nước ngoài, lãnh lương nước ngoài, đóng thuế cho nước ngoài, hưởng quyền lợi và tiện nghi nước ngoài... Họ chẳng còn gì liên hệ gì đến nhà nước CSVN, họ chẳng có gì cần hòa giải hòa hợp với với đảng CSVN. Nếu vì công việc nhà, nếu phải về thăm gia đình, bà con còn ở trong nước, họ được đối xử theo quy chế người nước ngoài, luật lệ đối với người nước ngoài, và phải trả chi phí theo giá người nước ngoài, từ khách sạn, ăn uống, di chuyển, du lịch... Nói tóm lại là họ chẳng có gì cần để hòa giải hòa hợp với nhà nước CSVN.

Vậy thì chỉ có hòa giải hòa hợp giữa nhà cầm quyền CSVN và dân chúng trong nước. Muốn hòa giải với người dân trong nước thì chẳng có gì khó, mà rất đơn giản, chỉ cần CSVN dẹp bỏ độc tài, ngưng đàn áp, để cho người dân tự do sinh sống thoải mái, tự do làm ăn, tự do chính trị, tự do báo chí, tự do tôn giáo, ngưng cướp đất, giải quyết khiếu nại kiện tụng một cách công bằng, và việc đầu tiên là phải cất giùm cái mũ điều 4 Hiến pháp của CSVN. Cái điều luật lạ lùng nầy đặt CS ngồi trên đầu dân chúng Việt Nam. Đang ngồi trên đầu dân, đảng CS ngoan cố đời nào chịu bỏ điều 4 Hiến pháp. Thế thì làm sao hòa giải hòa hợp với dân chúng Việt Nam? Anh chàng phó giáo Đại học Quốc gia Hà Nội nầy đùa dai quá hà!

Đảng CSVN còn nhân danh đất nước Việt Nam, ký kết những mật ước với Tàu Cộng, nhượng bộ và bán nước cho Tàu Cộng để duy trì quyền lực và quyền lợi, rồi bắt nhân dân Việt Nam gánh chịu hậu quả các mật ước đó, mà nhân dân chẳng biết mặt mũi là những mật ước gì? Ngay cả trước khi qua Mỹ ngoại giao, tên Tàu khựa gọi viên tổng bí thư CSVN sang chầu rìa, thế là tên tổng CSVN phải lò mò sang xin triều yết, cúi đầu ký kết thêm nhiều hiệp ước do Tàu khựa soạn sẵn. Tồi đến thế là cùng.

Như thế mà làm sao hòa giải hòa hợp với dân chúng được? Còn ba cái đám cưới lẻ tẻ là chuyện nhỏ như con thỏ, chẳng nhằm nhò gì, làm sao gọi đó là đã hòa giải rồi. Sao cái con vẹt hót líu lo như giọng lưỡi các viên chính ủy phường xã nầy, lại có thể giảng dạy được sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, nghe nói là tinh hoa của Việt Nam ngày nay?

Để kết thúc bài viết về chuyện tên phó giáo Đại học, ở đây xin ghi lại câu chuyện vui trong giới tiếu lâm Hà Nội. Chuyện kể rằng trong một đại hội áo thuật (trò xiếc) trên thế giới, một phóng viên quốc tế phỏng vấn viên trưởng đoàn ảo thuật Việt Cộng. Viên trưởng đoàn Việt Cộng ba hoa kể lể như sau:

“Tớ ấy à, tớ có một khả năng đặc biệt, đó là tớ chẳng những điều khiển đoàn của tớ, mà tớ còn có thể điều khiển bất cứ đoàn xiếc của bất cứ nước nào.” Người phóng viên rất kinh ngạc, ghi nhận ý kiến của tên trưởng đoàn Việt Cộng và báo cho Ban tổ chức biết. Lúc đó, trên sân khấu, có một đoàn xiếc Đông Âu đang trình diễn. Người huấn luyện viên điều khiển một con khỉ ra sân khấu. Ông nói nhỏ với con khỉ, nó liền mỉm cười. Ông nói nhỏ lần thứ hai thì nó mếu máo muốn khóc. Ông nói nhỏ lần thứ ba thì con khỉ đứng dậy, lịch sự chào khán giả rồi đi vào. Khán giả vỗ tay ầm ỹ.

Nghe ông phóng viên ca ngợi khả năng điều khiển trò xiếc của viên trưởng đoàn Việt Cộng, Ban tổ chức liền quyết định thử tài của y và mời y lên sân khấu.

Khi viên trưởng đoàn Việt Cộng lên sân khấu, người ta đem con khỉ cho y điều khiển. Cũng lạ thật. Y nói nhỏ gì không biết, con khỉ phá lên cười ha hả khoái trá. Rồi y nói câu thứ hai, con khỉ khóc nức nở, nước mắt ràn rụa, nước mũi chảy tùm lum. Khi viên trưởng đoàn Việt Cộng nói câu thứ ba, con khỉ vụt đứng dậy, chưa kịp chào khán giả, liền chạy trốn mất biệt vào hậu trường sân khấu. Cả hội trường đứng dậy vỗ tay khâm phục viên trưởng đoàn Việt cộng.

Tối lại, tại khách sạn, viên trưởng đoàn Tàu Cộng đến khen ngợi viên trưởng đoàn Việt Cộng. Viên trưởng đoàn Tàu Cộng hỏi: "Đồng chí sao tài thế, hay nhẩy, đồng chí nói gì mà con khỉ cười hả hê vậy? Có thể cho anh em biết bí quyết tài tình của đồng chí không?”

Trưởng đoàn Việt Cộng trả lời: "Có gì đâu, chuyện rất đơn giản như đang giỡn đồng chí ạ. Em tự giới thiệu với nó: Nầy đằng ấy, tớ là phó giáo sư tiến sĩ Việt Nam đấy. Nghe nói mấy chữ phó giáo sư tiến sĩ Việt Nam, con khỉ cười quá trời. Đúng là khỉ, dám giỡn mặt với phó giáo sư tiến sĩ Việt Nam.

Rồi đồng chí nói gì mà nó khóc nức nỡ vậy? Trưởng đoàn Tàu Cộng tò mò tiếp.

Trưởng đoàn Việt Cộng trả lời: “Cũng chẳng có gì. Đàn em nói với nó: Tớ là phó giáo sư tiến sĩ, dạy Đại học, mà lương hàng tháng của tớ chỉ tạm đủ sống đạm bạc một mình tớ mà thôi, còn gia đình tớ phải tìm cách cải thiện đấy.” Nghe thế, nó tủi cho thân phận em, nó khóc nức nở, nó cũng tốt nhẩy.”

Trưởng đoàn Tàu Cộng nói ngay: "Sao lúc đó đồng chí không nói thêm với nó, tớ bán bài, bán đề thi, cho sinh viên lên lớp, bán bằng, kiếm khối tiền đấy. Ngoài ra, thỉnh thoảng có con nhạn là đà cho hưởng tý sex để đổi chác việc lên lớp nữa. Sướng chán.” Trưởng đoàn Việt Cộng trả lời ngay: "Ấy chết, ai lại nói thế, bí mật nghề nghiệp mà đồng chí, nói thế bể mánh ngay, nên đàn em chỉ làm thinh qua cầu.”

“Thế đồng chí nói thế nào mà con khỉ bỏ chạy lẹ vậy?”, viên trưởng đoàn Tàu Cộng hỏi tiếp.

“Dạ em nói với nó thế nầy: "Khỉ ơi, mày ở nước ngoài làm gì, về Việt Nam hòa giải hòa hợp với tụi tao cho vui.” Nghe nói hòa giải hòa hợp với mình, nó bỏ chạy trốn mất đất. Thật là đồ khỉ. Về Việt Nam hòa giải hòa hợp mà không chịu. Đúng là con khỉ dại hơn mấy ông bà trí ngủ, khoa bảng đầy mình, giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ hay kỹ sư gì đó, mấy ông cũng ở các nước Tây phương đấy, mấy ông bà về Việt Nam hòa giải hòa hợp, được bằng khen của nhà nước Hà Nội. Thế mà con khỉ lại chê...”

Chuyện viên phó giáo tiến sĩ muốn hòa giải hòa hợp với con khỉ ngang đây bắt đầu bốc mùi xú uế, đến nỗi con khỉ cũng chê. Thôi xin tạm ngưng. Bái bai bà con cô bác, chờ hồi sau, khi nào đài BBC tiếng Việt phỏng vấn thêm vài thằng ngố khác, mới có đề tài cho lời bàn Mao Tôn Cương, tiếp tục chuyện vui trời ơi đất hỡi như thế nầy.

24/04/2015
(Toronto, Canada)



_____________________________________

Chú thích:

 (1) Trần Vỹ, “Đời sống trong trại giam miền Bắc”, đăng trong Vàng, Máu và Nước Mắt, Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do, Canada, 2000: tr. 239-250.) 

(2) Phạm Hữu Trác, “Tù cải tạo: Trình bày và phân tích dữ kiện”, đăng trong Vàng, Máu và Nước Mắt, Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do, Canada: 2000, tr. 19.)

(3) Phạm Hữu Trác, bđd.

(4) Huy Đức, Bên thắng cuộc tập I, Sài Gòn: Osin Book, 2012, tr. 39.

(5) Spencer C. Tucker, California, 1998, tr. 602.

(6) Orange County Register, số Chủ Nhật 29-4-2001, ngày 30-4, tt. 2-3.