Tuesday, January 27, 2015

Thiên tài Quân Sự VNCH - Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/6/64/Hieu_wiki.jpg
Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu (1929 - 1975)

48 năm trước, Thiên Tài Quân Sự Việt Nam Nguyễn-văn-Hiếu đã từng đánh bại Tướng Võ-nguyên-Giáp trên chiến trường Pleime năm 1965. Khi đó ông (Thiên tài QSVN Nguyễn-văn-Hiếu) đang là đại tá Tham mưu trưởng Quân Đoàn II Quân Khu II Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ba bài viết bên dưới được tiết lộ bởi Thiếu tướng Nguyễn-văn-Hiếu, theo lời thuật lại của ông Nguyễn-văn-Tín (bào đệ của cố Thiếu tướng Nguyễn-văn-Hiếu) "...Mãi cho tới bây giờ anh tôi mới bật mí hoàn toàn về chiến dịch Pleime..." -ngưng trích email nhận được-

Trúc-Lâm Yên-Tử, Hội Sử-Học Việt-Nam tại Âu-Châu trang trọng giới thiệu đến quý chư độc giả bốn phương về tài dụng binh như thần của cố Thiếu Tướng Nguyễn-văn-Hiếu khiến cho các Tướng của Việt cộng từ Võ-nguyên-Giáp, Chu-huy-Mân tư lịnh mặt trận B3 phải chuốc lấy thảm bại.

Xin đốt một nén tâm hương kính dâng lên cố Thiếu Tướng Nguyễn-văn-Hiếu một Thiên Tài Quân-Sự Việt-Nam và cũng là một vị Anh-Hùng của dân tộc Việt-Nam. Đồng thời tưởng nhớ đến sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến Vệ Quốc An Dân chống giặc Tầu xâm lược (1954-1975)

***
Chiến Dịch Pleime/Chuprong Phá Hủy Căn Cứ Mặt Trận B3

1. Tình Báo
Qua trinh sát Radar và Hồng Ngoại Tuyến, Ban 2/MACV biết được một căn cứ lớn cỡ sư đoàn đã được thiết lập tại Chu Prong gồm nhiều kho tiếp liệu và trung tâm huấn luyện.

Ban 2/II Quân Đoàn II, biết được là vào tháng 7 năm 1965, Tướng Chu Huy Mân được phái từ Khu 5 Đà Nẵng lên vùng Cao Nguyên thành lập Mặt Trận B3 với nhiệm vụ tấn chiếm vùng Cao Nguyên. Lực lượng chính của Mặt Trận B3 sẽ gồm ba trung đoàn 32, 33 và 66. Trung Đoàn 32 đã hoạt động tại vùng Cao Nguyên từ đầu năm 1965. Trung Đoàn 33 được lệnh xuất quân vào Nam cuối tháng 7, Trung Đoàn 66 vào cuối tháng 8.

Vào đầu tháng 8 năm 1965, Bộ Tổng Tư Lệnh QĐND nhận được dự án kế hoạch tiến công Pleime-Pleiku do Mặt Trận B3 biên soạn. Ðầu tháng 10, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận Tây Nguyên nhận được điện báo: Bộ Tổng Tư Lệnh QĐND thông qua kế hoạch chiến dịch Pleime, dự tính khởi động vào cuối năm 1965 hay đầu năm 1966.

2. Khái Niệm Hành Quân
Dựa vào các tin tức tình báo thu thập được, khởi sự tháng 9 năm 1965, Ban 3/Quân Đoàn II và Ban 3/MACV phối hợp điều nghiên kế hoạch phá hủy hậu cứ Chu Prong và triệt tiêu ba trung đoàn thuộc Mặt Trận B3 cùng một lúc bằng oanh tạc chiến lược B-52.

Vấn đề khó là làm sao mật độ kết tụ của ba trung đoàn nằm trong một vùng khoảng 1 cây số vuông, nghĩa là phải có thể chấm tọa độ trung tâm khối lực lượng nhắm bắn với độ chính xác ít ra là (XX’YY’) và bia nhắm phải bất động ít ra là 8 tiếng đồng hồ, vì đó là khoảng thời gian oanh tạc cơ B-52 cần có để bay từ đảo Guam sang Chu Prong của vùng Cao Nguyên.

Thời điểm lý tưởng nhất là khi ba trung đoàn kết tụ lại tại các trung tâm tập trung và nhất là quy tụ lại tại địa điểm xuất quân chuẩn bị cho một cuộc tấn công. Các trung đoàn sẽ bất động ở vùng tập trung để tập trận trong khoảng hai ba ngày, nhưng chỉ duy trì ở điểm xuất quân chừng 2,3 tiếng, nên phải có kế hoạch nghi binh khiến địch nán lại ở điểm xuất quân ít ra 8 tiếng thì B-52 mới tới kịp đánh phá mục tiêu oanh tạc.

Khi được tin Mặt Trận B3 sẽ dùng hậu cứ Chu Prong làm địa điểm tập trung và xuất quân chuẩn bị tấn công trại Pleime, Ban 3/Quân Đoàn II thấy là có thể dùng B-52 để phá hủy hậu cứ và lực lượng Mặt Trận B3 cùng một lúc. Vấn đề là phải theo dõi sát tình hình địch quân để xác định được cách chính xác khi cả ba trung đoàn tập trung lại, và rồi đánh lừa địch nán lại vùng xuất quân trong 8 tiếng đồng hồ.

3. Thực Hiện Hành Quân

Hành Quân Dân Thắng 21
Khi Mặt Trận B3 lấy quyết định khởi động chiến dịch Plâyme sớm hơn dự tính – thay vì tháng 12 năm 1965 – vào ngày 19 tháng 10 với hai trung đoàn – 33 vây trại Pleime và 32 phục kích chiến đoàn tiếp cứu, để tránh phải đụng lính Mỹ, Ban 3/Quân Đoàn II thấy chưa phải lúc dùng tới B-52 vì trung đoàn 66 chưa có mặt tại vùng Cao Nguyên. Ban 3/ Quân Đoàn II tính kế trì hoãn chiến chỉ nhằm không để địch thực hiện kế công đồn đả viện, bằng cách tăng cường trại với hai đại đội hỗn hợp LLĐB Mỹ-Việt và xuất phát một chiến đoàn thiết kỵ tiếp cứu. Hai lực lượng này vừa đủ mạnh để xua đuổi địch đồng thời không gây thiệt hại quá nặng cho địch để chúng còn đủ lực tính kế phục hận bằng cách tấn công trại Pleime lần thứ hai, lần này có đầy đủ cả ba trung đoàn 32, 33 và 66.

Hành Quân All the Way
Khởi sự ngày 27 tháng 10, sau khi giải tỏa trại Pleime, Ban 3/Quân Đoàn II giao cho Lữ Đoàn 1 Không Kỵ trách vụ lùa địch về hậu cứ Chu Prong với hành quân All the Way. Chủ đích của các cuộc xung kích trực thăng vận nhằm không cho phép các đội toán lẻ tẻ dừng chân tại các trạm trú quân trên đường rút quân từ Pleime đến Chu Prong, chứ không tấn kích bản doanh chỉ huy của hai trung đoàn 32 và 33. Ban 2/Quân Đoàn II có nhiệm vụ theo dõi hằng ngày tiến trình rút quân của các đội toán lẻ tẻ địch quân.

Vào cuối ngày 27/10, tin tình báo cho biết các đơn vị dẫn đầu của Trung Đoàn 33 tụ tập xong tới vùng tập trung tiền phương, làng Kro (ZA080030), trong khi tiểu đoàn bảo vệ đoạn hậu vừa mới đoạn tuyệt giao tranh tại trại DSCĐ Pleime.
  • Ngày 28/10, tin tình báo cho biết Trung Đoàn 32 đã tới sát các căn cứ hậu cần tại mạn bắc của Ia Drang.
  • Ngày 29/10, tin tình báo cho biết Trung Đoàn 33 nhắm rút về Làng Anta tại YA 940010.
  • Ngày 31/10, tin tình báo cho biết các đơn vị địch tiếp tục tan rã và phân tán thành từng nhóm nhỏ. Thêm vào đó, Trung Đoàn 33 bị thiếu hụt lương thực và thuộc men vì lẽ nhiều đơn vị không tới được các kho lẫm vì bị các toán không kỵ bất thần truy đuổi.
  • Ngày 01/11, tin tình báo cho biết Lữ Đoàn 1 Không Kỵ hủy diệt một bệnh xá cấp trung đoàn; trong khi đó có tin bản doanh Trung Đoàn 33 đã tới căn cứ tại Làng Anta, nhưng khối đông của trung đoàn thì còn bị rải rác dọc giữa đàng từ Pleime đến Chu Prong.
  • Ngày 2/11, tin tình báo cho biết Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 nhận được tin Trung đoàn 66 bắt đầu di chuyển vào các vùng tập trung trong vùng Chu Prong-Ia Drang.
  • Ngày 3/11, tin tình báo cho biết Lữ Đoàn 1 Không Kỵ phục kích Tiểu Đoàn 8 thuộc Trung Đoàn 66 mới vừa xâm nhập. Tin tình báo trong ngày cũng cho biết Trung Đoàn 33 vẫn đang tìm cách lôi cái đuôi bị thương tích và bầm dập tới mật khu Chu Prong.
  • Ngày 4/11, tin tình báo cho biết Trung Đoàn 33 được lệnh ra khỏi căn cứ tại Đồi 732 và đi tới các sườn núi phía tây của Chu Prong gần YA922010 với các tiểu đoàn của trung đoàn khi những tiểu đoàn này tập trung xong thì di chuyển vị trí tời Đồi 732 xuống tới làng Anta (940010) cho tới mạn bắc bờ sông Ia Meur (980000); tin tình báo cũng cho biết các mảnh vụn của trung đoàn vẫn tìm đường về theo hướng tây, bám theo các lòng suối, và xử dụng mọi ẩn núp để tránh bị phát giác bởi các trực thăng Mỹ luôn hiện diện. Còn có một đơn vị vẫn còn tương đối trọn vẹn - tiểu đoàn dùng làm hậu vệ. Khởi sự lên đường sau và di chuyển chậm chạp hơn các đơn vị khác, tiểu đoàn vẫn còn ở phía tây của các vị trí Không Kỵ.
  • Ngày 05/11, tin tình báo cho biết Trung Đoàn 66 tiếp tục qui tụ vào các vùng tập trung trong mật khu Chu Prong và Trung Đoàn 33 chờ đợi cho các lực lượng phân tán qui tụ về đơn vị mẹ. Trung Đoàn 32 và Mặt Trận Dã chiến, trong khi đó, còn nguyên vẹn và yên lành tại phía bắc Ia Drang và gần bên biên giới Căm Bốt.
  • Ngày 07/11, tin tình báo cho biết Trung Đoàn 33 thưa thớt liếm vết thương và đợi cho các binh sĩ lê gót trở về căn cứ.
  • Ngày 08/11, tin tình báo cho biết Trung Đoàn 33 thu thập xong các đơn vị cơ hữu cuối cùng , và rút lui qua phía tây, đồng thời Trung Đoàn 32 đã thoát thân về phía đông sau cuộc phục kích.
  • Ngày 09/11, tin tình báo cho biết bản doanh Mặt Trận B3 nằm phía bắc Ia Drang.
  • Như vậy là Lữ Đoàn 1 Không Kỵ đã thành công lùa địch về hậu cứ Chu Prong. Nhưng các đơn vị địch còn trong tình trạng thế thủ trải rộng ra để khỏi bị Lữ Đoàn 1 Không Kỵ xung kích trực thăng vận.
Giai đoạn lùa địch đã xong. Bây giờ đến giai đoạn dụ địch tập trung quân xích lại nhau. Đó là nhiệm vụ Ban 3/Quân Đoàn II giao cho Lữ Đoàn 3 Không Kỵ thực hiện.

Hành Quân Silver Bayonet I
Ngày 9/11, qua lệnh Tướng Larsen, Tư Lệnh I Field Force Vietnam kiêm Cố Vấn cho Quân Đoàn II, Tướng Knowles, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Kỵ Tiền Phương, thay thế Lữ Đoàn 1 Không Kỵ với Lữ Đoàn 3 Không Kỵ, đồng thời hoán chuyển hướng truy lùng địch quân của hành quân All the Way từ tây sang đông cho hành quân Silver Bayonet I của Lữ Đoàn 3 Không Kỵ, nhằm khiến Mặt Trận B3 lầm tưởng quân Mỹ đánh mất tung tích đối phương và nghĩ là đến lúc chuyển từ thế thủ qua thế công để chuẩn bị tấn công trại Pleime lần thứ hai.

Ngày 10/11, tin tình báo cho biết Mặt Trận B3 sa vào thế nghi binh: sau khi thẩm định tình hình và khi thấy các đơn vị Mỹ coi bộ rút lui về phía đông Pleime, quyết định là cố gắng lấy lại thế thượng phong với một cuộc tấn công. Ngày N tấn công được ấn định là ngày 16 tháng 11 và ra lệnh cho ba trung đoàn tập trung lại để tái phối trí, tái trang bị và tập trận.

Ngày 12/11, cũng lại qua lệnh của Tướng Larsen, Tướng Knowles được lệnh chuẩn bị tung một tiểu đoàn – Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ - vào chân rặng núi cạnh nơi đóng quân của Trung Đoàn 66 một khi các đơn vị của ba trung đoàn được lệnh bắt đầu di chuyển đến các địa điểm xuất quân để cầm chân chúng tại chỗ cho B-52 có đủ thì giờ bay tới mục tiêu.

Ngày 14/11, khi tin tình báo cho biết Mặt Trận B3 ra lệnh các đơn vị xuất quân, Ban 3/MACV thông báo cho B-52 cất cánh để bay tới mục tiêu ấn định tại YA 8702 là tọa độ trung tâm khối của lực lượng Mặt Trận B3 và trút bom đợt đầu vào sau giờ ngọ ngày 15/11, đồng thời Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ được đổ bộ tại LZ X-Ray để cầm chân các đơn vị tại chỗ thay vì di chuyển đi tấn công trại Pleime ngay. Tin tình báo cho biết một số đơn vị xung phong của Mặt Trận B3 đã trên đường đi đến Pleime trước bình minh ngày 14/11.

Vì chỉ nhằm mục đích gây chú ý và đánh lạc hướng, nên khi nhảy vào Chu Prong phải tránh làm sao tránh động mạnh vào ổ ong khiến đàn ong hoặc hoảng sợ chạy chốn tan biến mất hoặc đổ sô vào tấn công thẳng vào mối nguy cơ. Do đó tất cả mọi động tác phải chỉ vừa đủ để khiến các lực lượng Mặt Trận B3 không hoảng sợ tan hàng chạy trốn và không buộc phải đổ sô vào diệt trừ mối đe dọa to lớn mới xuất hiện. Do đó:
  • chỉ đổ bộ có một tiểu đoàn, và đổ bộ từ từ kéo dài 5 tiếng đồng hồ mới xong;
  • khi Mặt Trận B3 quyết định đình chỉ tấn công trại Pleime và chỉ cho hai tiểu đoàn – 7 và 9 - ra ứng chiến, phía Mỹ chỉ tăng cường thêm một tiểu đoàn – 2/7;
  • khi thấy như vậy vẫn chưa đủ vì không cứu nguy được cho một đại đội bị cô lập uy hiếp, phía Mỹ âm thầm tăng cường thêm Tiểu Đoàn 2/5 bằng cách trực thăng vận tới LZ Victor cách xa 5 cây số và lặng lẽ tiến tới lZ X-Ray bằng được bộ vào lúc 12 trưa ngày 15/11, khiến Mặt Trận B3 tưởng lực lượng tương quan vẫn là 2/2, chứ không là 3/2 và không thấy cần phải tung thêm quân vào chiến trường; do đó mục tiêu cho B-52 không bị tan biến.
Thế là các đơn vị của Trung Đoàn 32 và 33 vẫn án binh bất động khi B-52 bắt đằu đánh rập sau giờ ngọ.

Trưa ngày 16/11, để Mặt Trận B3 thấy tương quan lực lượng vẫn là 2/2 thay vì đã trở thành 3/2, Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ được bốc xuất ra khỏi LZ X-Ray bằng trực thăng vận.

Ngày 17/11, hai Tiểu Đoàn 2/7 và 2/5 Không Kỵ được lệnh rời bỏ LZ X-Ray bằng đường bộ để nhường chỗ cho B-52 đánh rập ngay lên bãi đáp. Các toán quân địch còn ở lại trong vùng X-Ray thình lình chợt vỡ lẽ tại sao Không Kỵ rời bỏ đi khỏi nơi này khi oanh tạc B-52 đánh phủ lên đầu các vị trí cũ.

Ngày 18/11, Tiểu Đoàn 2/7 Không Kỵ đụng độ mạnh với Tiểu Đoàn 8/Trung Đoàn 66 khi gần tới LZ Albany. Cuộc chiến tao ngộ ác liệt này kéo dài từ trưa đến 9 giờ tối.

Hành Quân Silver Bayonet II và Hành Quân Thần Phong 7
Ngày 19/11, Tiểu Đoàn 2/7 Không Kỵ được trực thăng vận đến LZ Crooks vào khoảng 2 giờ trưa để cùng Tiểu Đoàn 2/5 Không Kỵ giữ an ninh cho căn cứ pháo binh mới được thiết lập để yểm trợ cho cuộc hành quân Thần Phong 7 của quân Dù Việt Nam.

Tin tình báo trong ngày cho biết các quân lính sống sót của hai Trung Đoàn 33 và 66 bắt đầu di chuyển từng toán nhỏ về hướng biên giới Căm Bồ, dùng sông Ia Drang làm lá chắn che đậy.

Ngày 20/11, yểm trợ pháo binh tiếp tục nã đạn vào các vị trí của Trung Đoàn 32 phía bắc Ia Drang, trong khi các đơn vị khác gây áp lực tấn lên biên giới Căm Bốt. Các đơn vị pháo binh sư đoàn tại Golf và Crooks tiếp tục cung ứng yểm trợ hỏa lực cho các lực lượng Dù VNCH về hướng tây. Đặc biệt đáng ghi nhận là hỏa lực yểm trợ cho các tiểu đoàn 3 và 6 thuộc Lữ Đoàn Dù khi họ giao tranh với phỏng chừng một tiểu đoàn của Trung Đoàn 32 Bắc Quân.

Trận oanh tạc B-52 bắt đầu từ trưa ngày 15/11 tiếp tục trong 5 ngày kế tiếp cho tới ngày 11/20 (Why Pleime, chương VI):

Trong năm ngày liên tiếp, từ 15 đến 20 tháng 11, các phóng pháo cơ B-52 đã bay tổng cộng 96 phi vụ. Từng khu vực một, các khu vực của rặng núi Chu Prông - mỗi khu 20 dậm vuông - tuần tự trải qua một cơn động đất từ Tây sang Đông. Các công sự và hầm hố trước nay từng chống cản các vụ đánh phá của phi cơ tác chiến và pháo binh bắt đầu bị các trái bom 750 cân anh trực tiếp đánh rập. Lớp cây lá rừng rậm không còn hữu hiệu cho công việc ẩn núp lẫn bao che. "Cửa hậu" vào Căm Bốt bị đóng lại và để trốn thoát, tàn quân Việt Cộng chỉ còn lại thung lũng eo hẹp của Ia Drang.

4. Thành Quả của Chiến Dịch
Thành quả của Chiến Dịch Pleime (Pleime-Chuprong-Iadrang) là hậu cứ Chu Prong bị hoàn toàn phá hủy và toàn bộ lực lượng ba trung đoàn của Mặt Trận B3 bị triệt tiêu. Các thành phần sống sót của Mặt Trận B3 phải thoát thân sang hậu cứ nằm trong lãnh thổ Căm Bốt.

Bản báo cáo Ban 2/MACV nơi trang 67 ghi nhận:
Các phi vụ SLAR và IR bay trong mười ngày đầu trong tháng 12 cung ứng thêm chứng liệu Căm Bốt được xử dụng như một mật khu và hành lang xâm nhập của địch quân. Phân tích kết quả cho thấy một đường đạo xâm nhập chạy từ Phi Trường BO KM90 trong Căm Bốt đến khu vực giao tiếp của ranh giới Căm Bốt/Kontum và Pleiku. Không ảnh chụp ngày 19 tháng 11 tiết lộ một sinh hoạt quân sự dọc theo ranh giới Căm Bốt/NVN trong vùng Sông Prek Drang. Không ảnh cho thấy một vị trí nghỉ chân (với nhiều xe cộ rầm rộ qua lại) chứng tỏ là cuộc rút lui của các đơn vị đến vùng này đã được trù liệu trước.

***

Vai Trò của Không Lực Hoa Kỳ trong Chiến Dịch Pleime
Không Lực Hoa Kỳ đóng hai vai trò khác nhau trong Chiến Dịch Pleime:
- trong Giai Đoạn I, vai trò phụ thuộc yểm trợ cho bộ chiến đẩy lui cuộc tấn công của địch vào trại Pleime;
- trong Giai Đoạn II, vai trò chính tiêu hủy các lực lượng của Mặt Trận B3 tại hậu cứ Chu Prong.
Trại Pleime

Vào tháng 9 năm 1965, hai tháng trước khi Việt Cộng tấn công trại Pleime, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II kết hợp với Ban 3/MACV, đã hoạch định một kế hoạch tiêu diệt hậu cứ Chu Prong của Mặt Trận B3 và đang chờ đợi cho lực lượng chính gồm ba trung đoàn – 32, 33 và 66 – tụ tập lại nhằm chuẩn bị tấn công trại Pleime – dự trù vào cuối năm 1965 – tại hậu cứ này để có cơ hội tiêu diệt một chập hậu cứ và lực lượng với oanh tạc B-52.

Khi Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 quyết định tấn công trại Pleime ngày 19 tháng 10 năm 1965 – sớm hơn dự định – với chỉ duy hai trung đoàn – 32 và 33 – trong khi trung đoàn 66 còn rong rủi trên đường mòn Hồ Chí Minh chỉ tới chiến trường vào khoảng trung tuần tháng 11, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II chỉ hoạch định một cuộc phản công vừa đủ để đẩy lui các chiến binh tấn công, và chờ đợi đến lúc Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 tập hợp ba trung đoàn lại chuẩn bị cho một cuộc tấn công.

Chiến thuật trì hoãn chiến được thực hiện với cuộc hành quân Dân Thắng 21 với sự yểm trợ của hỏa lực dồi dào của Không Lực Hoa Kỳ.

Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II chỉ gom góp quân bộ chiến vừa đủ để ngăn ngừa các lực lượng tấn công địch tràn ngập trại Pleime án ngữ bởi 500 DSCĐ Thượng bằng một lực lượng tăng cường gồm hai đội toán 160 chiến binh Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ-Việt và ngăn ngừa địch khống chế chiến đoàn tiếp cứu gồm một đội ngũ 1.000 chiến binh. Hai toán quân này phải đối đầu mỗi bên với 2.000 chiến binh thuộc hai trung đoàn địch. Lực Lượng phản công chính được cung ứng bởi hỏa lực mạnh mẽ của Không Lực Hoa Kỳ. Điều này giải thích tại sao Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II chỉ yêu cầu được tăng cường bởi Ingram Task Force gồm một tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn pháo binh và chống đối sự tham dự của toàn bộ một Lữ Đoàn Kỵ Binh Mỹ theo đề nghị của Tướng Kinnard. Điều này cũng giải thích tại sao Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II không xử dụng tới Chiến Đoàn Alpha TLQC và Chiến Đoàn Dù, hai lực lượng trừ bị của quân đoàn, như trong trường hợp địch vây hãm trại Đức Cơ vào tháng 8 năm 1965.

Công cuộc yểm trợ của Không Lực Hoa Kỳ được thẩm định trong bản Báo Cáo Project CHECO tựa đề The Siege of Pleime đề ngày 24 tháng 2 năm 1966.

- Không yểm tại trại Pleime:
Trong mười ngày kế tiếp ngày 19/10, hỏa lực không quân đóng vai trò then chốt trong việc bẻ gẫy cuộc tấn công. Trong 696 phi xuất ngày đêm, các phi cơ B-57, AIE, F-100, and F-8 trút 866,300 pounds bom GP, 250,380 pounds bom mảnh, 485,880 pounds bomnapalm, cộng thêm hỏa tiễn, CBU và hoả lực súng trực thăng võ trang vào các vị trí VC sát nách hàng rào trại khoảng cách 35 thước. Khi cuộc oanh kích chấm dứt, địch quân mất 326 chết đếm được xác, và quân trú phòng ước tính khoảng 700 tử thi được lôi đi. Đây là một cuộc hành quân không yểm tiếp cận lớn nhất trong cuộc chiến, và có lẽ hiệu nghiệm nhất.

- Không yểm tại ổ phục kích:
Các Không Trợ Viên Không Quân trên các phi cơ thả trái sáng điều khiển 74 phi xuất, bới các phóng pháo cơ xử dụng bom napalm, bom đa dụng, mảnh vụn, CBU, hỏa tiễn 2.75 và súng nòng 22 ly yểm trợ cho chiến đoàn tiếp cứu. Phi cơ AC-47 “Puff”, thả 25 trái sáng và bắn 4.000 viên đạn của hỏa lực súng nhỏ 7.62 ly chống quân tấn công. Vào lúc 030G, ngày 24 tháng 10, hỏa lực nhắm vào đoàn xe tiếp cứu giảm thiểu xuống các loại súng nhỏ, và vào lúc 1300G, VC đoạn giao chiến vì bị oanh kích.
Ngoài gây thương vong nặng cho các toán quân VC, các cuộc oanh kích của KLHK đã phá hủy hầu hết các súng phòng không và bích kích pháo, khiến cho địch quân không có các loại súng cộng đồng này trong trận chiến tại LZ X-Ray (Why Pleime, chương V):

Tỉ lệ 1/10 chứng tỏ tiểu đoàn 1/7 rất là may mắn vì thật bất ngờ là từ trên các đồi bao quát ngó xuống bãi đáp, địch đã không đặt các vũ khí cộng đồng để yểm trợ các cuộc tấn công. Tình trạng này chỉ có thể giải thích bởi các lý do địch đã mất gần hết các vũ khí cộng đồng trong đợt đầu.

Hậu cứ Chu Prong
Một khi hai trung đoàn VC bị đẩy lui khỏi trại Pleime, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II tập trung chú ý vào việc xử dụng oanh tạc B-52 để triệt tiêu toàn bộ ba trung đoàn của lực lượng Mặt Trận B3 cùng một lúc.

1st Air Cavalry Brigade được giao trách vụ lùa các toán quân tản mác của hai trung đoàn VC trên đường tháo lui về hậu cứ Chu Prong với hành quân All the Way từ ngày 27 tháng 10 đến 9 tháng 11.
3rd Air Cavalry Brigade được giao trách vụ khuyến dụ Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 tập họp lại ba trung đoàn để chuẩn bị một cuộc tấn công lần thứ hai vào trại Pleime với hành quân Silver Bayonet I bắt đầu từ ngày 10 tháng 11.

1/7 Air Cavalry Battalion, 2/7 Air Cavalry Battalion và 2/5 Air Cavalry Battalion được giao trách vụ ghim ba trung đoàn VC án binh bất động tại các vùng xuất quân từ ngày 14 đến 17 tháng 11.
Các pháo đài B-52 nhập cuộc oanh tạc vào chiều ngày 15 tháng 17 (chính xác vào lúc 1600G) và đánh rập toàn bộ vùng hậu cứ Chu Prong trong suốt năm ngày kế tiếp.

- Pleiku Campaing, trang 88:
Ngày 15/11 cũng được đánh dấu bởi việc xử dụng lần đầu tiên một vũ khí mới của lực lượng Mỹ và gây kinh hoàng cho quân lính địch kể cả những chiến binh gan lì nhất. Ngay sau giờ ngọ, một vùng rộng lớn quanh vị trí YA8702 thình lình nổ tung với hàng trăm tấn bom làm rung chuyển khắp cùng mặt đất như thể một tấm thảm đang được trải ra. Các phóng pháo cơ B-52 đã đánh rập. Trong năm ngày kế tiếp các phóng pháo cơ khổng lồ làm thịt một vùng rộng lớn của rặng núi Chu Prong.

- Why Pleime, chương VI :
Trong năm ngày liên tiếp, từ 15 đến 19 tháng 11, các phóng pháo cơ B52 đã bay tổng cộng 96 phi vụ. Từng khu vực một, các khu vực của rặng núi Chu Prông - mỗi khu 20 dậm vuông - tuần tự trải qua một cơn động đất từ Tây sang Đông. Các công sự và hầm hố trước nay từng chống cản các vụ đánh phá của phi cơ tác chiến và pháo binh bắt đầu bị các trái bom 750 cân anh trực tiếp đánh rập. Lớp cây lá rừng rậm không còn hữu hiệu cho công việc ẩn núp lẫn bao che. "Cửa hậu" vào Căm Bốt bị đóng lại và để trốn thoát, tàn quân Việt Cộng chỉ còn lại thung lũng eo hẹp của Ia Drang.

- G3/IFFV:
Ngày 15/11/65 lúc 10:30G: MAVC J3 (Gen DePuy) Gen DePuy gọi Col Barrow và hỏi Arc Light đã được thông qua với Tư Lệnh QĐ II chưa. Col Barrow trả lời rồi, Tư Lệnh QĐ II đã chấp thuận Arc Light. Đồng thời DePuy muốn biết nếu đơn vị của 1st Cav đã nhận giới hạn áp đặt lúc 151600G cấm không được vượt qua phía tây của lằn rang ô vuông YA chưa. Col Barrow thông báo Gen DePuy là 1st Cav đã đáo nhận giới hạn và sẽ tuân theo. Gen DePuy đích thân thay đổi đồ hình mục tiêu.
  • Ngày 16/11: Oanh tạc Arc light lúc 1602H-1632H, vùng YA 8607, 9007, 8600, 9000; tất cả phi cơ đúng mục tiêu ngoại trừ một số bom rớt trong vùng chung, YA 8015, 8215, 8212, 8412, đang điều tra nguyên do.
  • Ngày 17/11: Yêu cầu Arclight YV 932985, YV 936996, YA 898005, YA 898019. Thời điểm trên mục tiêu 171300G.
  • Ngày 18/11: Arc light cho 1300G trên mục tiêu. Ưu tiên 1. 9201-9401-9298-0408. Ưu tiên 2. 9099-9299-9096-9296. Ưu tiên 3. 8306-8506-8303-8503.
  • Thật ra thì B-52 tiếp tục oanh tạc quá ngày 20 tháng 11, theo như nhật ký G3/IFFV khi hành quân Thần Phong 7 đang tiến hành:
  • 21/11/65 lúc 22:00G: Quân Đoàn II Capt Neary và Capt Martin - (mật mã) Yêu cầu cho biết thời điểm cuộc tấn công của Lữ Đoàn Dù vào mục tiêu tại YA 810055. Lữ Đoàn Dù có hay biết gì đến Thả Bom B 52 (Arc Light) số 4 lúc 221210g không.
  • Lúc 22:50G: Quân Đoàn II Capt Neary - Về thư tín mật mã (sổ số 60). Yêu cầu này vê thông tin là để xác nhận là đối tượng Thả Bom B 52 (Arc Light) được phối hợp kỹ lưỡng. Cũng liên quan đến thư tín thứ hai của Quân Đoàn II, trích dẫn số 174, đề cập một số đề mục (thư tín về Thả Bom B 52 (Arc Light), ghi rõ lằn ranh phía nam của vùng hành quân nằm trong mục tiêu của Thả Bom B 52 (Arc Light). Thời điểm không được ghi cho sự di chuyển về hướng nam). Cần xác nhận về thời điểm di chuyển cũng như cần xác nhận là đối tưượng của thư tín mật mã Thả Bom B 52 (Arc Light) đã được phối hợp.
  • Lúc 14:50G: Ban 3 Không Lực (Capt Green) Oanh tại Thả Bom B 52 (Arc Light) không đúng giờ. Chưa có kết quả.
Thiệt hại máy bay trong Chiến Dịch Pleime
Căn cứ theo bản Báo Cáo Project CHECO:
- Ngày 20/10 lúc 0950G: một chiếc HUIB bị bắn hạ đang khi yểm trợ tái tiếp liệu. Bốn quân nhân Mỹ bị chết. Một chiếc B-57 bị bắn hạ, phi hành đoàn thoát nạn. Một chiếc B-57 khác bị buộc đáp xuống mặt đất tại Pleiku.
- Ngày 20/10 lúc 2330G: một chiếc C-123 bị trúng đạn từ mặt đất bắn lên – không nghiêm trọng. Một chiếc C-123 khác bị trúng 15 viên đạn cỡ 30. Bị hư hại nặng. Hai chiếc C-123 nữa cũng bị trúng đạn từ mặt đất bắn lên.
- Ngày 21/10 lúc 0950G: một chiếc HU1B đâm nhào xuống mặt đất tại 15 dậm phía nam Pleiku, đang khi bảo vệ công cuộc cứu thương. Bốn quân nhân Mỹ bị giết.
- Ngày 22/10 lúc 0135G: một chiếc A1E bị bắn hạ phía tây trại, phi công nhảy dù ra khỏi phi cơ. Phi công hạ cánh xuống mặt đất
- Ngày 21/10 lúc 1020G: một chiếc A1E bị bắn hạ phía nam trại. Phi công hạ cánh xuống mặt đất.
- Ngày 13/11: Hai chiếc UH1B bị hỏa lực mạnh từ mặt đất bắn hạ. Một chiếc A1E bị bắn hạ, phi công chết.
- Ngày 16/11: Hai chiếc UH1B bị bắn hạ, phi hành đoàn chiếc trực thăng thứ nhất thoát nạn, nhưng trực thăng thứ hai đâm nhào xuống mặt đất, tất cả bốn nhân viên phi hành đoàn bị chết.
Tổng cộng, trong Chiến Dịch Pleime, KLHK có 6 HUIB, 2 B-57, 3 AIE bị bắn hạ và 3 C-123 bị trúng đạn hư hỏng ít nhiều.
Nguyễn Văn Tín
Ngày 10 tháng 10 năm 2013

***

Duyệt Xét Bản Báo Cáo “Khía Cạnh Tình Báo của Pleime/Chuprong”
1. Không rõ bản báo cáo được thảo xong ngày tháng nào, chỉ biết là thư viện US Army War College nhận được một ấn bản ngày 22 tháng 8 năm 1966. Vì là một bản tường trình sau trận đánh – về khía cạnh tình báo - nên chỉ có thể đoan chắc là bản báo được thảo xong sau tháng 11 năm 1965 và trước ngày 22 tháng 8 năm 1966.

2. Bản báo cáo do Ban 2/MACV soạn thảo và có lời tựa với chữ ký của Chuẩn Tướng J.A. McChristian Trưởng Phòng Ban 2/MACV.

3. Bản báo cáo đề cập tới khía cạnh tình báo của chiến dịch Pleime/Chuprong từ ngày 20 tháng 10 đến ngày 20 tháng 11 năm 1965. Như vậy nghĩa là chỉ nói tới giai đoạn I và giai đoạn II của toàn bộ chiến dịch Pleime gồm ba giai đoạn Pleime/Chuprong/Iadrang, từ ngày 20 tháng 10 đến 26 tháng 11 năm 1965.

4. Phần 07. Thi hành, chính yếu ghi tóm lược hành quân và tóm lược tình báo hằng ngày, từ ngày 23 tháng 10 đến 20 tháng 11, giống y hệt phần 07. Thi Hành, từ ngày 23 tháng 10 đến 20 tháng 11 của Chiến Dịch Pleiku do Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Kỵ soạn thảo. Ban 2/MACV chỉ thêm tóm lược hành quân và tình báo cho ngày 20-22 tháng 10 năm 1965.

5. Ngoài ra, phần Khái Niệm Hành Quân, và phần Rút kinh nghiệm của hai bản báo cáo Ban 2/MACV và BTL/SĐ1KK cũng giống y hệt nhau. Thêm nữa, phần Kết luận của Ban 2/MACV thì lại là một đoạn trích của phần Mở Đầu của BTL/SĐ1KK.

6. Vì bản của BTL/SĐ1KK được soạn thảo xong và trình Tướng Kinnard ký ngày 4 tháng 3 năm 1966 mà bản của Ban 2/MACV không biết được soạn thảo xong và trình Tướng Christian ký ngày nào, nên khó xác định được ai sao chép ai.

Có một tài liệu khả dĩ giúp làm sáng tỏ vấn đề này. Why Pleime nhắc tới bản báo cáo tình báo đề ngày 24 tháng 11 năm 1965 của Ban 2/SĐ1KK: “27. Intelligence Report, Hqs, 1st Air Cav Div, Office of the G-2, Dated 24 Nov 65, Subject: Ia Drang Valley (Silver Bayonet 1) YA 9104 14-19 Nov 65.” Như vậy xác suất Ban 2/MACV sao chép Pleiku Campaign của BTL/SĐ1KK phần mô tả hành quân từ ngày 20 tháng 10 đến 20 tháng 11 năm 1965 cao hơn là ngược lại.

7. Tuy nhiên dựa vào lời của Tướng Christian:
Khi nhận thức thấy rõ là trong chiến dịch Chu Prong một trận chiến tầm cỡ lớn đang hình thành, Phụ Tá Tham Mưu Trưởng/Ban 2, yêu cầu các lực lượng tại chiến trường phải ghi chép cách chính xác các thao tác hành quân vào sổ nhật ký để sau này sẽ được đưa vào một bản báo cáo sau trận đánh. Sau khi tiếp nhận được thông tin này một bản tường trình sau trận đánh đã được soạn thảo và cống hiến cho chỉ huy trưởng ở mọi tầng cấp tùy nghi xử dụng.

có thể suy diễn cấu trúc bản báo cáo hành quân từng ngày gồm hai phần tóm lược hành quân và tóm lược tình báo với dụng ý cho thấy mối liên hệ tương quan hậu quả và ảnh hưởng của hai khía cạnh khái niệm hành quân và tình báo, là sáng kiến của Tướng Christian, Trưởng Phòng Ban 2/MACV.

8. Điều đáng ghi nhận là bản báo Ban 2/MACV dè dặt hơn bản báo cáo BTL/SĐ1KK khi nêu lên phương pháp thu thập tình báo chỉ liệt kê có SLAR (radar), IR (hồng ngoại tuyến), không ảnh và hỏi cung tù binh, và bỏ qua không nói tới RR (radio research - kiểm thính phát sóng radio): “The DTOC received direct SLAR and infra-red (I-R) reports from the aerial surveillance and target acquisition platoon (OV-1 Mohawk) and USAF sources, plus reports and the Radio Research Unit.” (Pleiku Campaing, trang 128).

Chỉ có nguồn tình báo gặt hái được qua phương pháp kiểm thính mới có được thông tin thức thời về ý định, trù tính, bàn thảo tại Bộ Tư Lệnh B3. Tỉ như (kiểm thính thức thời trong ngày xảy ra):
  •  Ngày 1/11, ngay sau khi tới làng Anta, các cán bộ Trung Đoàn 33 mở một cuộc họp để tìm cách khám phá nguyên do nào khiến các lực lượng Mỹ liên tục pháo tập chính xác. Họ đi đến kết luận là phải có gián điệp nằm trong hàng ngũ mới có thể cung cấp vị trí và di chuyển của các đơn vi thuộc trung đoàn.
  • Ngày 2/11, Bộ Tư Lệnh B3 nhận được tin Trung đoàn 66 bắt đầu di chuyển vào các vùng tập trung trong vùng Chu Prong-Ia Drang
  • Ngày 4/11, Trung Đoàn 33 được lệnh ra khỏi căn cứ tại Đồi 732 là nơi ra vào bất tiện, và đi tới các sườn núi phía tây của Chu Prong gần YA922010 với các tiểu đoàn của trung đoàn khi những tiểu đoàn này tập trung xong thì di chuyển vị trí tời Đồi 732 xuống tới làng Anta (940010) cho tới mạn bắc bờ sông Ia Meur (980000);
  • Ngày 08/11 Trung Đoàn 33 thu thập xong các đơn vị cơ hữu cuối cùng và bắt đầu đếm đầu người. Nhiều binh sĩ khiếm diện. Trung đoàn ghi nhận các con số tổn thất sau đây:
Đơn Vị * Quân Sộ Trước Pleime Phần Trăm hay Con Số tổn Thất
  • Tiểu Đoàn 1: 500, 33% chết
  • Tiểu Đoàn 2: 500, 50% chết
  • Tiểu Đoàn 3: 500, 33% chết
  • Đại Đội Bích Kích Pháo Trung Đoàn: 120, 50% chết
  • Đại Đội Súng Phòng Không Trung Đoàn: 150, 60% chết
  • Đại Đội Truyền Tin Trung Đoàn: 120, 4 chết-16 mất tích
  • Đại Đội Vận Tải Trung Đoàn: 150, 50% chết
  • Đại Đội Quân Y Trung Đoàn: 40, 80% chết hay mất tích
  • Đại Đội Công Binh Trung Đoàn: 60, 15 chết hay mất tích
  • Đại Đội Trinh Sát Trung Đoàn: 50, 9 chết
Tổng cộng, đếm đầu người cho thấy 890 người của con số nguyên thủy 2200 bị giết, với hơn 100 mất tich và nhiều binh sĩ hứng chịu những vết thương hủy hoại thân thể. Các quân trang mất mát cũng nặng đối với đại đội súng phòng không trung đoàn mất 13 trong số 18 súng và đại đội bích kích pháo trung đoàn mất 5 trong số 9 ống súng. Thêm 6 ống súng bích kích pháo bị mất bởi các tiểu đoàn, cùng với hầu hết các súng không giựt. Đạn dược, thực phẩm và thuốc men mất đi cũng bộn.
  • Ngày 8/11, tại bản doanh Mặt Trận Dã Chiến phía bắc Ia Drang, ngày hôm nay là ngày kiểm điểm phân tích. Đính kèm số 15 mô tả bức ảnh tình báo trình cho các cấp chỉ huy ngày 9 tháng 11.
  • Ngày 11/11, Bộ Tư Lệnh trù tính tấn công trại Pleime lần thứ hai vào ngày 16/11.
  • Ngày 12/11, các đơn vị tiếp tục chuẩn bị và tập dượt cho cuộc tấn công dự tính trại Pleime.
  • Ngày 13/11, các lực lượng bắt đầu tụ tập trong vùng Chu Prong-Ia Drang để chuẩn bị di chuyển tới Pleime và tấn công dự tính ngày 16/11, một vài đơn vị trinh sát và vận chuyển đã lên đường.
  • Các phương pháp kia – radar, hồng ngoại tuyến, không ảnh, hỏi cung tù binh – quá lắm chỉ cung cấp vị trí của các đơn vị địch quân, chứ không thể biết được những gì bàn thảo ngay trong nội bộ BTL Mặt Trận B3.
9. Một điểm khác bản báo cáo Ban 2/MACV (trang 67) nhận xét là phía Việt Cộng không hay biết đến nguồn tình báo chính xác phía Mỹ xử dụng: “Các phương pháp thu thập có giá trị đặc biệt vì chúng trung thực và rất thức thời và địch hầu như không hay biết đến sinh hoạt của các phương pháp tình báo này,” và ngỡ tưởng là có gián điệp địch nằm trong hàng ngũ cán bộ:

Mức độ hết sức chính xác của các cuộc tấn kích khiến cho cấp lãnh đạo trung đoàn bực tức triệu tập một buổi họp nhằm khám phá điều gì đã cho phép các lực lượng Mỹ liên tiếp oanh kích chính xác như vậy. Họ đi đến kết luận là chỉ có thể gián điệp nằm trong hàng ngũ mới có thể cung cấp địa điểm và di chuyển của các đơn vị của trung đoàn.
(Chiến dịch Pleiku, ngày 1 tháng 11, trang 46)

10. Một thông tin cá biệt chỉ tìm thấy trong bản báo cáo Ban 2/MACV (nơi trang 6: mô tả tình hình trước cuộc hành quân) là kế hoạch đánh rập mật khu Chu Prong bằng B-52 được điều nghiên từ tháng 9 năm 1965, trước khi Việt Cộng khởi động chiến dịch Plâyme ngày 19 tháng 10 năm 1965:

Căn cứ Chu Prong được biết là đã được tạo lập lâu trước cuộc tấn công Pleime và Ban 2 MACV đã chấm lấy vùng này để nghiên cứu vào tháng 9 năm 1965 như là có thể làm mục tiêu cho B-52.
Điều này chứng tỏ cho thấy là chiến dịch Plâyme của Việt Cộng tạo cơ hội cho Quân Đoàn II phối hợp với Ban 3/MACV phụ trách Trung Tâm Hành Oanh Tạc Chiến Lược B-52 thực hiện kế hoạch phá hủy mật khu Chuprong/Iadrang đồng thời triệt tiêu toàn bộ lực lượng gồm ba trung đoàn của Mặt Trận B3 bằng B-52.

Nguyễn Văn Tín
31 tháng 8 năm 2013

***

Phê Bình Nhận Xét của Tướng Bùi Nam Hà về Chiến Dịch Plâyme
Trong cuốn sách, Chiến thắng Plây Me: ba mươi năm sau nhìn lại: tài liệu hội thảo khoa học(*), Thiếu Tướng Bùi Nam Hà lên tiếng góp ý với bài, Từ Plây Mê-Ia Đrăng đến Sa Thầy, Đắc Tô, Một Chặng Đường Phát Triển Đầy Sáng Tạo Trong Nghệ Thuật Đánh Mỹ Ở Chiến Trường Tây Nguyên.
Ông tuyên bố là một người trong cuộc, với cương vị Tham Mưu Trưởng mặt trận, góp một vài nhận xét về chiến dịch .

Xin nói ngay là bài có khá nhiều nhận xét sai lầm và nét nổi bật chung của toàn bài là nặng phần tuyên truyền cổ võ ba quân hơn là phân tách khách quan thuần túy quân sự.

Hành quân Long Breach
Ngay từ đầu bài, Tướng Nam Hà đã sai lầm trầm trọng khi gọi tên của cuộc hành quân Mỹ nhằm “tìm và diệt” đối phương là Long Breach. Đây không phải lỗi in ấn chính tả, vì vài đoạn văn sau, ông viết:
Sư đoàn kỵ binh bay số 1 (...) hình thành một binh đoàn chiến dịch binh quân chủng hợp thành với ý định mở cuộc hành quân Long Breach (tạm dịch: đốt phá) tìm diệt quân chủ lực ta.

Không hiểu sao mà Tướng Nam Hà lại có thể “tạm dịch Long Breach là đốt phá”? Tuy nhiên xin bỏ qua chuyện nhỏ này vì tên đúng của cuộc hành quân là Long Reach do Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đặt tên cho cuộc hành quân khi giao cho Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ nhiệm vụ truy đuổi tàn quân địch sau trận vây lấn và phục kích tại trại Pleime. Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, viết trong cuốn, Pleime, Trận Chiến Lịch Sử, nơi trang 101:

Vì vậy quyết định phải tổ chức truy kích địch của Bộ Tư Lệnh Quân đoàn II, trong đó Sư đoàn I Không Kỵ làm nỗ lực chính và Liên Đoàn Nhảy dù VN làm trừ bị sẵn sàng tham dự khi tình hình tiến triển và đòi hỏi, được toàn thể chiến sĩ của Sư đoàn hân hoan nhận lãnh, vì đã mấy đơn vị được may mắn mở những trang sử đầu của mình với một cuộc trường chinh (Long Reach).

Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ thực hiện cuộc hành quân Long Reach với ba cuộc hành quân All the Way (27/10-9/11, Lữ Đoàn 1 Không Kỵ), Silver Bayonet I (9/11-17/11, Lữ Đoàn 3 Không Kỵ), và Silver Bayonet II (17/11-26/11, Lữ Đoàn 2 Không Kỵ). Khi thảo bản tường trình sau trận đánh, phía Mỹ cải danh xưng Long Reach thành Pleiku Campaign có lẽ với dụng ý xóa bỏ dấu vết lệ thuộc vào quyền lãnh đạo cuộc hành quân của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II.

Chủ yếu chiến dịch Plây Me là quân Mỹ
Tướng Nam Hà nhận xét:
Quyết tâm chiến dịch và chiến đấu được khẳng định là dụ quân địch vào trận để vây diệt mà đối tượng là tổng dự bị chiến dịch – chiến lược Mỹ-ngụy, chủ yếu là quân Mỹ.

Tướng Nam Hà khẳng định như vậy là quá xa sự thật. Chủ đích nguyên thủy của chiến dịch Plây Me là triệt hủy toàn bộ lực lượng của Quân Đoàn II bằng thế “công đồn đả viện”. Chính vì muốn tránh đụng độ lớn với quân Mỹ mà thay vì phát động chiến dịch được dự tính vào cuối năm 1965 hay đầu năm 1966 thì lại khởi động tiến công sớm hơn ngày 19 tháng 10 năm 1965 cốt ý là hy vọng Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ mới đổ bộ lên bờ biển Qui Nhơn cuối tháng 9 và đang rục rịch khăn gói lên An Khê lập trại vào giữa tháng 10 chưa sẵn sàng ứng chiến, mặc dù Trung Đoàn 66 mãi đến đầu tháng 11 mới lê gót được đến mật khu Chu Prong.

Rồi khi cho lệnh hai Trung Đoàn 32 và 33 rút lui về mật khu Chuprong-Iadrang với chủ đích kết tụ với Trung Đoàn 66 tiến công trại Pleime lần thứ hai, và lần này sẽ đánh dứt điểm chứ không đánh viện. Quả thật vậy, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 đã không tổ chức đối đầu ứng chiến với Lữ Đoàn 1 Không Kỵ khi bị lùa về mật khu Chu Prong mà chỉ tập trung quân lại nhằm tấn công trại Pleime lần thứ hai khi nhầm tưởng Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh thay thế cho Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh đánh mất tung tích của các đơn vị mình nên Mặt Trận B3 liền cải đổi thế thủ qua thế công, để rồi bị quân Mỹ đột kích bất thần tại chân rặng núi Chu Prong đang khi các đơn vị chuẩn bị lên đường tiến công trại Pleime tại các địa điểm xuất quân. Thành thử Bộ Tư Lệnh B3 rút quân về Chu Prong không phải là dụ quân Mỹ vào để đánh mà là để chuẩn bị nỗ lực triệt tiêu trại Pleime trong một cuộc tiến công thứ hai.

Phi Pháo Mỹ
Tướng Nam Hà nhận xét:
Với địa hình có “rừng che bộ đội, rừng ngăn quân thù”, lại có tài ngụy trang khéo léo, ý thức giữ bí mật, kỷ luật cao, bộ đội ta đã hạn chế, vô hiệu hóa được một phần sức mạnh của không quân, pháo binh các loại của Mỹ - chỗ dựa chủ yếu cho sức mạnh của chúng.

Tướng Nam Hà quả thật không ngờ là phía Mỹ-ngụy đã chủ yếu đánh bại đối phương bằng oanh tạc B-52, chứ không phải bằng bộ chiến và pháo binh. Đại Tá Hiếu viết trong cuốn , Why Pleime, nơi chương VI:

Trong năm ngày liên tiếp, từ 15 đến 19 tháng 11, các phóng pháo cơ B52 đã bay tổng cộng 96 phi vụ. Từng khu vực một, các khu vực của rặng núi Chu Prông - mỗi khu 20 dậm vuông - tuần tự trải qua một cơn động đất từ Tây sang Đông. Các công sự và hầm hố trước nay từng chống cản các vụ đánh phá của phi cơ tác chiến và pháo binh bắt đầu bị các trái bom 750 cân anh trực tiếp đánh rập. Lớp cây lá rừng rậm không còn hữu hiệu cho công việc ẩn núp lẫn bao che. "Cửa hậu" vào Căm Bốt bị đóng lại và để trốn thoát, tàn quân Việt Cộng chỉ còn lại thung lũng eo hẹp của Ia Drang.

Nắm thắt lưng địch mà đánh
Tướng Nam Hà nhận xét:
Nhân tố thứ hai là phát huy sở trường về tiến công vận động của binh đoàn chủ lực cơ động mà nội dung cơ bản là đánh gần với khẩu hiệu: “Nắm thắt lưng địch mà đánh”. Theo nguyên tắc đó, từ Tư Lệnh chiến dịch đến từng chiến sĩ các đơn vị binh chủng theo chức trách, vị trí của mình mà cố gắng tiếp cận bám sát địch đến mức độ tối đa. Tất cả là nhằm bảo đảm đưa toàn bộ các tiểu đoàn đột kích vào các trận chiến đấu giáp lá cà. Đó là thể hiện tư tưởng tích cực tiến công tiêu diệt địch của quân đội ta, là cách đánh bảo đảm cho ta luôn nắm quyền chủ động, còn địch lúng túng bị động, phải đối phó với ta hết tình huống này đến tình huống khác, hết trận này đến trận khác.

Có ba tình huống trong đó phía Mỹ-ngụy đã không một tị “lúng túng” hoá giải thế “Nắm thắt lưng địch mà đánh”:
- (1) Chiến thuật Việt Cộng xử dụng để triệt hạ thiết đoàn tiếp cứu ở địa điểm phục kích là đặt để các bộ đội thiết bị lưỡi lê và dao găm tiến sát tới cạnh các xe tăng và xe bọc sắt trực sẵn để giết hại các binh sĩ của thiết đoàn sẽ bấn loạn tinh thần tự nhiên chui ra khỏi lòng xe và nhảy xuống đất để ứng chiến quân phục kích. Trung Tá Nguyễn Trọng Luật biết vậy, nên đã ra lệnh các chiến binh không nhảy ra khỏi xe đồng thời thả cửa tung lựu đạn tay ra banh xác các chiến binh Việt Cộng. Đến khi cuộc phục kích kết thúc thì chỉ việc ung dung xuống xe đi đếm xác địch bị lựu đạn giết hại nằm ngổn ngang sát cạnh các xe tăng.

- (2) Với thế “kiềm vĩ kích thủ”, nắm đuôi với bộ binh đập đầu với oanh tạc B-52, cán binh Việt Cộng chịu bó tay chết thảm trong khi các toán quân Mỹ cẩn thận đứng xa vùng oanh tạc khoảng cách an toàn trên 3 cây số.

- (3) Đến khi lính dù Việt Nam nhảy vào vòng chiến trong giai đoạn chót của chiến dịch Pleime thì các cán binh Việt Cộng của hai Tiểu Đoàn Việt Cộng – 635 và 334 – sống sót chỉ tìm cách tránh nhé sợ đụng độ với quân dù, mặc dù vậy cũng bị quân dù phục kích hai lần, bị thiệt hại khoảng 200 tên

Nghiệt ngã nghề đi biển: Những cái chết lạnh buốt

Theo Người lao động27/01/2015 15:53


Một ngư dân tử nạn ngoài biển được đưa vào bờ ở Quảng Ngãi Ảnh: TỬ TRỰC

Mười ngư dân tử nạn trên biển, chỉ 1-2 người tìm được thi thể và việc đưa họ về nhà là những câu chuyện ứa nước mắt.

Vào ngày tuần giáp năm cho ông Lê Văn Tánh (SN 1969; ngụ xã An Phú, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên), vợ ông không có mặt vì cũng vừa qua đời sau thời gian cầm cự với bệnh ung thư.

Không còn cha mẹ, 4 đứa trẻ nheo nhóc phải nhờ hàng xóm và bạn thuyền làm mâm cơm giỗ cha.

Câu chuyện đau lòng 1 năm trước được bạn thuyền kể lại đầy ám ảnh.

Đông cứng vì ướp lạnh

Hôm ấy, khoảng 19 giờ ngày 1-12-2013, tàu cá do anh Lê Văn Tuấn làm thuyền trưởng đang câu cá ngừ đại dương ở vùng biển Trường Sa thì hết mồi.

Anh Nguyễn Văn Ngọc (SN 1991) được phân công xuống thúng chai câu mực làm mồi. Để kiếm tiền thuốc thang cho vợ, ông Tánh cũng xin cùng đi câu mực.

Biết chuyện chẳng lành, anh Tuấn vội đưa tàu đi tìm thì thấy nó đã bị sóng lớn đánh úp. Khi 2 ngư dân được đưa lên thuyền thì ông Tánh đã tử vong.

“Chỉ mấy phút trước, ông Tánh còn ngồi trên thúng chai với tôi mà giờ đã nằm bất động.Tôi bị sốc suốt cả chuyến về” - anh Ngọc hồi tưởng.

Phải mất 3 ngày 3 đêm, thi thể ông Tánh mới được đưa về đến bờ.

Để thi thể không bị phân hủy, bạn thuyền dùng giấy bóng quấn quanh người, đưa xuống hầm tàu, nơi trữ cá, dùng đá lạnh ướp.

“Trên đường trở về, cứ nghĩ cảnh ông Tánh bị đông lạnh dưới hầm cá thì tôi lại run lên bần bật” - anh Ngọc nói, mắt rưng rưng.

Đánh bắt với người chết

Cách đây hơn 1 năm, nhiều người vẫn còn nhắc nhớ chuyện “đánh bắt chung với người chết” của tàu ông Võ Văn Thành, ngụ xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Ngày đó, tàu ông Thành ra Hoàng Sa đánh bắt mới được 3 ngày thì một ngư dân tử nạn do lặn biển quá lâu.

Để khỏi lỗ chuyến biển, các thuyền viên quyết định tiếp tục ở lại đánh bắt, hơn nửa tháng sau mới quay về.

“Dù chuyến biển đó khá trúng nhưng trên tàu ai cũng buồn rười rượi, cứ lặng lẽ đánh bắt, lặng lẽ trở về.

Đấy là chuyến biển hãi hùng nhất đời tôi” - ông Nguyễn Thanh Trung, ngư dân đi trên chuyến tàu đó, nhớ lại.

Ông Lương Luận ngậm ngùi khi mình làm Chủ tịch Nghiệp đoàn Nghề cá phường Phú Đông nhưng không thể đưa được con tử nạn vào cửa biển Ảnh: HỒNG ÁNH

Ông Lương Luận ngậm ngùi khi mình làm Chủ tịch Nghiệp đoàn Nghề cá phường Phú Đông nhưng không thể đưa được con tử nạn vào cửa biển Ảnh: HỒNG ÁNH

Theo ông Trung, mỗi chuyến ra Hoàng Sa, các ngư dân phải vay của chủ nậu (người thu mua cá) 200 triệu đồng để lo chi phí đánh bắt như mua đá, xăng dầu.

“Nếu mới ra vài ngày, chưa đánh bắt được gì mà phải quay về thì lỗ quá nặng.
Lại đang có một vùng thời tiết xấu trên biển nên anh em chúng tôi quyết định ở lại, cho tàu tránh gió bão 2 ngày rồi tiếp tục đánh bắt.

Chúng tôi biết làm như thế rất tàn nhẫn với bạn thuyền nhưng tình thế như vậy chẳng biết phải làm sao” - ông Trung phân trần.

Để thi thể không bị phân hủy, các ngư dân gói bạn thuyền lại rồi cho vào hầm đá.

Hằng ngày, họ cử người xuống trông nom, thắp hương cúng viếng người đã khuất.
Cũng từ chuyến biển hãi hùng đó, ông Trung không còn ra khơi thêm một lần nào nữa.

“Chuyến biển quá ám ảnh, chúng tôi vì cuộc sống, vì áo cơm đã làm một việc không đúng với hương hồn người đã khuất” - ông Trung day dứt.
Người chết không được vào cửa biển

Một năm đã qua nhưng nhắc đến cái chết của con là anh Lương Công Hiệp (SN 1991; ngụ phường Phú Đông, TP Tuy Hòa), bà Ma Thị Tánh (63 tuổi) lại khóc:

“Nó bị ngã đập đầu vô máy tàu rồi tử vong. Để về đến đất liền phải mất 4 ngày, 3 đêm nên người ta đành đưa thi thể xuống hầm đá lạnh. Khi về đến bờ thì nó đông cứng, lạnh biết chừng nào”.

Nhưng như vậy cũng chưa đủ đau đớn, ông Lương Luận (68 tuổi, cha anh Hiệp), Chủ tịch Nghiệp đoàn Nghề cá phường Phú Đông, nghẹn lời khi nhớ lại chuyện thi thể con trai phải trải qua bao vất vả mới được đưa vào bờ.

Hôm tàu về gần đến nơi, do có chở người chết nên bị ngăn không được vào cửa biển Đà Diễn.

Thuyền trưởng Lương Công Hưng (anh ruột Hiệp) phải quay mũi tàu ra lại biển rồi chạy về hướng bãi ngang Đông Tác.

Mặc cho những con sóng gần bờ bổ nhào, anh Hưng quyết định neo thuyền, đưa thi thể em mình xuống thúng chai, bơi vào bờ.

“Hàng ngàn ngư dân gắn bó với cửa biển này vậy mà khi gặp nạn, họ không được vào. Đau lòng lắm nhưng cũng đành chịu” - ông Luận ngậm ngùi.

Nhắc đến tín ngưỡng không cho người chết vào cửa biển, thuyền trưởng Nguyễn Văn Hai cho biết mình đã có một bài học nhớ đời.
Đầu năm 2013, thuyền của ông đang đi đánh bắt ngoài biển thì một ngư dân gặp nạn tử vong.

Do không biết tục lệ, ông Hai cho thuyền chạy vào cảng phường 6 (TP Tuy Hòa) báo cáo với bộ đội biên phòng.

Khi phát hiện trên tàu có người chết, ngư dân ở đây buộc ông Hai phải chở thi thể ngược ra biển tìm chỗ khác đưa lên bờ.

“Chưa hết, mấy hôm sau, họ bắt chúng tôi chuẩn bị lễ mang ra cửa biển cúng xá tội, cầu an” - ông Hai kể.

Vì gia đình ông Hai khó khăn nên ngư dân của TP Tuy Hòa đã quyên góp được gần 40 triệu đồng sắm lễ vật, rước thầy về cúng “ông bà giữ cửa”. Ông Hai phải bỏ biển, trực ở đấy mấy ngày để được xá tội.

Dẫu đau lòng cũng phải tin
Ông Phan Thuẫn, Chủ tịch Nghiệp đoàn Nghề cá phường 6 (TP Tuy Hòa), cho biết theo quan niệm của người đi biển, cửa biển là của ông bà.
Ngư dân cho rằng ông bà không thích thấy cảnh chết chóc nên nếu chở người chết qua cửa sẽ bị ông bà quở phạt, làm ăn thất bát, làng xóm đói kém, tai nạn nhiều hơn nên không ai dám làm việc ấy.
Nếu không biết mà lỡ làm thì phải cúng xin ông bà xá tội.
“Với người làm nghề biển, không ai dám chắc cuộc sống phía trước của mình ra sao nên dẫu đau lòng vẫn cứ phải tin vào quan niệm này” - ông Thuẫn lý giải.

Hồng Ánh-Tử Trực

Đề cập tới tự do hàng hải, Tổng thống Mỹ tiếp tục “nắn gân” Trung Quốc

Ngọc Anh | 27.01.2015 | 20:16
Dân trí-Phát biểu tại thủ đô New Delhi ngày 27/1, Tổng thống Mỹ Barack Obama khẳng định tự do hàng hải cần phải được tôn trọng tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Các học giả cho rằng đây là một thông điệp mà Mỹ muốn gửi tới Trung Quốc.

Đề cập tới tự do hàng hải, Tổng thống Mỹ tiếp tục “nắn gân” Trung Quốc
Tổng thống Mỹ Barack Obama (Ảnh: AFP)

Trong bài phát biểu trước hầu hết khán giả trẻ tại trung tâm sự kiện Siri Port khép lại chuyến thăm Ấn Độ, Tổng thống Obama hôm nay 27/1 một lần nữa đã đề cập tới vấn đề tự do hàng hải và các vụ tranh chấp chủ quyền biển đảo tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương thời gian qua.

“Mỹ hoan nghênh vai trò ngày càng lớn của Ấn Độ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nơi tự do hàng hải cần phải được duy trì và các vấn đề tranh chấp cần phải được giải quyết thông qua bằng các biện pháp hòa bình”, Tổng thống Obama nhấn mạnh.

Theo giới quan sát, tuyên bố nêu trên của Tổng thống Obama được coi là một thông điệp mà Mỹ muốn gửi tới Trung Quốc, trong đó khẳng định Ấn Độ có thể trở thành quốc gia giúp duy trì sự cân bằng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Trước đó, Trung Quốc đã phản ứng dữ dội sau khi Mỹ và Ấn Độ ra tuyên bố chung nhấn mạnh tới “tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn hàng hải và tự do đi lại”.

Trong một tuyên bố, Bộ ngoại giao Trung Quốc khẳng định chỉ có các quốc gia có liên quan đến những tranh chấp trên Biển Đông mới nên tham gia vào vấn đề này.
Ngoài ra, cũng trong bài phát biểu, Tổng thống Obama đã đề cập tới vai trò của người dân Ấn Độ trong quá trình xây dựng một quốc gia giàu mạnh hơn trong thời gian tới.

Người đứng đầu chính phủ Mỹ tuyên bố: “Ấn Độ và Mỹ không chỉ là những đối tác tự nhiên. Tôi cho rằng Mỹ có thể trở thành đối tác tốt nhất của Ấn Độ. Dĩ nhiên, đây sẽ là vấn đề mà chỉ người dân Ấn Độ mới có thể quyết định được. Tuy vậy, tôi ở đây lúc này vì tôi tin rằng sự hợp tác giữa hai nước không chỉ mang tới nhiều việc làm và cơ hội cho người dân Ấn Độ và Mỹ mà còn giúp cho thế giới trở nên an toàn và ổn định hơn”.

Theo kế hoạch, Tổng thống Obama cùng phu nhân sẽ tới thăm Đền Taj Mahal trong ngày 27/1, nhưng chuyến đi đã bị hủy vì Nhà vua Abdullah của Ả-rập Xê-út qua đời.
Đây là lần đầu tiên một Tổng thống Mỹ thăm Ấn Độ tới 2 lần khi còn đương nhiệm.

Chuyến thăm nhằm mục đích củng cố cái mà ông Obama gọi là một trong những "mối quan hệ đối tác định hình thế kỷ 21".

Du khách Nhật ăn 3 món, 2 bia hết... 22 triệu đồng

Bữa ăn của du khách người Nhật chỉ gồm 3 món và 2 chai bia đã bị một nhà hàng ở Vũng Tàu tính giá 22 triệu.

Chiều 27/1, đoàn liên ngành du lịch và dịch vụ TP Vũng Tàu đã tiến hành kiểm tra thủ tục hành chính và đối chiếu lời khai của ông Nguyễn Như Khánh - chủ quán Hào Long Sơn (tên cũ là quán Hương Việt tại địa chỉ số 94 Hoàng Hoa Thám, phường 2, TP Vũng Tàu) để làm rõ thông tin về vụ việc quán này tính tiền bữa ăn đêm dành 2 người (trong đó có một du khách người Nhật Bản) với giá 22 triệu đồng.

Cô gái đi cùng du khách người Nhật Bản cho biết, khoảng 22h30 ngày 19/1, chị và một người đàn ông quốc tịch Nhật Bản đến quán Hào Long Sơn ăn khuya. Bữa ăn của 2 người gồm tôm sú, ốc hương, cơm chiên hải sản, 2 chai bia, ly cam ép được chủ quán tính 2,2 triệu đồng.

Du khach Nhat an 3 mon, 2 bia het... 22 trieu dong
Quán Hào Long Sơn.

Do không mang nhiều tiền mặt, du khách người Nhật đã thanh toán bằng thẻ visa. Chủ quán trực tiếp đưa khách đến máy POS quẹt thẻ, tuy nhiên số tiền trong thẻ bị rút đi là 22 triệu đồng. Vị khách Nhật tỏ ý thắc mắc nhưng không diễn đạt được vì bất đồng ngôn ngữ. Khi lên taxi về, người khách nữ đi cùng xem lại biên lai và phát hiện số tiền bị tính nhầm gấp 10 lần, nhờ tài xế taxi quay lại nhưng quán đã đóng cửa. Cũng trong đêm hôm đó, qua tài xế taxi, hai vị khách đã báo với ông Khánh chủ quán về sự nhầm lẫn trên.
Trình báo với cơ quan chức năng, ông Khánh biện bạch: “Do lỗi máy quẹt thẻ hoặc sơ ý nên tính nhầm tiền của khách. Khách muốn nhận tiền mặt hoặc qua tài khoản, quán sẵn sàng hoàn trả”.

Thứ ba, 27 Tháng một 2015, 21:38 
Theo Lao động
VietBao.vn (Theo_Kiến Thức )

Phát hiện xe tải chở 3 tấn mèo nhập lậu từ Trung Quốc về Hà Nội

3 tấn mèo có nguồn gốc từ Trung Quốc, không có giấy kiểm dịch "tuồn" về Hà Nội vừa bị lực lượng Công an quận Đống Đa, TP Hà Nội và Cục Cảnh sát môi trường, Bộ Công an, phát hiện, bắt giữ.

Vào lúc 0h00 ngày 27-1-2015, Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường – Công an quận Đống Đa, TP Hà Nội, phối hợp với Cục Cảnh sát môi trường, Bộ Công an, kiểm tra xe ô tô (loại xe tải 2,5 tấn nhãn hiệu Huyndai mang BKS 14C – 088.87 khi đang dừng đỗ tại khu vực đường Sơn Tây, quận Đống Đa, Hà Nội.

Tại thời điểm kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên xe vận chuyển 3 tấn mèo nhập lậu không có giấy tờ kiểm dịch.

Lái xe kiêm chủ hàng Hoàng Văn Hiếu, SN 1985, trú tại xã Quảng Phong, xã Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, khai nhận toàn bộ số mèo trên có nguồn gốc từ Trung Quốc. Hiếu mua tại khu vực giáp biên giới thuộc đồn biên phòng số 11, TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, về Hà Nội tiêu thụ.

Vụ việc đang được Công an quận Đống Đa hoàn tất hồ sơ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Một số hình ảnh về số mèo nhập lậu:
Phat hien xe tai cho 3 tan meo nhap lau tu Trung Quoc ve Ha Noi
Chiếc xe tải chở 3 tấn mèo bị bắt giữ
Phat hien xe tai cho 3 tan meo nhap lau tu Trung Quoc ve Ha Noi

Phat hien xe tai cho 3 tan meo nhap lau tu Trung Quoc ve Ha Noi
Nhiều con mèo đã bị chết vì ngạt
Phat hien xe tai cho 3 tan meo nhap lau tu Trung Quoc ve Ha Noi
Chủ hàng thừa nhận mèo được nhập từ Trung Quốc.
Thứ ba, 27 Tháng một 2015, 16:29
VietBao.vn (Theo_An ninh thủ đô)

Người dân tố cảnh sát khu vực vòi tiền

 MINH QUÝ - Thứ Tư, ngày 28/1/2015 - 01:05
(PL)- Hàng chục hộ dân ở đường Bùi Hữu Nghĩa (quận Bình Thạnh, TP.HCM) tố cáo tác phong làm việc của anh cảnh sát khu vực không chuẩn, vòi vĩnh tiền người kinh doanh buôn bán...
 “Tôi mở cửa hàng buôn bán xe đạp tại khu vực này mấy chục năm nay, đến bây giờ tôi mới thấy anh cảnh sát khu vực (CSKV) vòi tiền người dân lộ liễu như vậy. Tôi đề nghị các cơ quan chức năng xác minh làm rõ, xử lý cán bộ sai phạm để người dân yên tâm làm ăn”. Chị Nguyễn Thị Hoàng (46 Bùi Hữu Nghĩa, phường 2, quận Bình Thạnh, TP.HCM) phản ánh như thế với Pháp Luật TP.HCM vào sáng 27-1.
Nhiều hộ kinh doanh khác sống dọc theo đường Bùi Hữu Nghĩa (nơi nổi tiếng là khu phố mua bán phụ tùng và xe đạp, xe máy) cũng có chung sự bất bình này. Họ cho biết đã tập hợp đơn của các hộ gửi đến Công an phường 2 (quận Bình Thạnh) để trình báo.
Chị Hoàng kể: “Ngày 21-1, anh CSKV tên K. gặp tôi bảo sao không lên phường để gặp anh ấy. Tôi thắc mắc lên đó làm gì thì anh này nói “Tôi đi kiểm tra thì đã biết rồi còn hỏi gì nữa”. Tôi hiểu ý nên trả lời hằng tháng tôi vẫn thường gửi cho CSKV 200.000 đồng uống cà phê. Lúc này anh CSKV bảo đem lên phường đưa cho anh ấy. Khi tôi nói lên phường đông lắm thì anh chỉ ra gặp một người đậu xe máy bên ngoài, bảo hằng tháng đóng cho người đó. Hôm sau, do bức xúc nên tôi chưa đưa tiền”…
Anh Phạm Trọng Tùng (72 Bùi Hữu Nghĩa) kể thêm: “Mấy bữa trước anh CSKV xuống nhà đòi một tháng chung 500.000 đồng. Tôi đưa 200.000 đồng thì anh này chê ít và nói tháng sau phải đưa đủ 500.000 đồng mới nhận”.
Anh Phạm Trọng Tùng, ông Nguyễn Văn Quới, anh Nguyễn Văn Thông, chị Nguyễn Thị Hoàng, anh Nguyễn Tiến Thành (từ trái qua) phản ánh cho rằng họ bị CSKV vòi tiền. Ảnh: MQ

Các đơn từ tố cáo của người dân. Ảnh: HTD
Ngồi kế bên, anh Hồ Đắc Ly (28 Bùi Hữu Nghĩa) tiếp lời: “Vừa rồi anh CSKV xuống hỏi tôi giờ tính sao. Tôi cũng hiểu ý nên nói: “Tháng em gửi anh mấy trăm uống cà phê”. Anh CSKV này nói mấy trăm làm được gì rồi đòi 1 triệu đồng. Tôi trình bày thời gian gần đây làm ăn khó khăn, có gì anh giảm cho ít. Nghe vậy anh này bảo là tôi cứ suy nghĩ đi...”.
Theo nhiều người dân tại khu vực, anh K. này mới chuyển về đây một tuần. Tuy nhiên, thái độ, tác phong làm việc của anh không chuẩn, vòi vĩnh tiền của người kinh doanh buôn bán nên đã có hơn 20 trường hợp phản ánh. Do vậy người dân đề nghị cơ quan chức năng phải sớm có biện pháp chấn chỉnh để người dân không hoang mang, ảnh hưởng đến việc kinh doanh, sinh sống của họ.
Trước sự việc này, chúng tôi đã liên hệ với anh K. (CSKV) để trao đổi, làm rõ các vấn đề mà người dân phản ánh nhưng anh cho biết chưa thể có ý kiến vì chưa có chỉ đạo của lãnh đạo công an phường.
Trung tá Nguyễn Hữu Đức, Trưởng Công an phường 2 (quận Bình Thạnh, TP.HCM), cho biết: “Công an phường mới nhận được đơn phản ánh của người dân chiều 26-1. Sau khi tiếp nhận, tôi đã chỉ đạo cán bộ nhanh chóng kiểm tra, xác minh lại nội dung đơn. Khi có kết quả, chúng tôi sẽ trả lời cho người dân và báo cáo công an quận để có hướng xử lý”.
Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi diễn biến vụ việc để thông tin đến bạn đọc.
Dân phản ánh đúng thì sẽ xử lý nghiêm
Do người dân mới gửi đơn cho phường nên quận chưa nắm việc này. Tuy nhiên, sau khi báo thông tin, quận đã liên hệ ngay với lãnh đạo công an phường để nắm thông tin. Bên này báo cáo là mới nhận được đơn của người dân vào chiều 26-1. Theo tôi được biết thì anh CSKV này mới chuyển về địa bàn được một tuần. Hiện công an quận đã yêu cầu công an phường xác minh lại vụ việc, nếu đúng như người dân phản ánh thì quận sẽ xử lý nghiêm.
Ông PHẠM ANH TUẤN, Phó Trưởng Công an
quận Bình Thạnh (TP.HCM)

MINH QUÝ

Mỹ-Ấn kêu gọi bảo đảm tự do lưu thông tại Biển Đông

Theo RFI-Tú Anh
Ngày 27-01-2015 14:52
media
Thủ tướng Ấn N. Modi (trái) và tổng thống Mỹ, B. Obama, dự lễ duyệt binh nhân ngày Cộng Hòa, 26/01/2015.REUTERS/Stephen Crowley

Trong một bản tuyên bố chung kết thúc chuyến công du Ấn Độ của tổng thống Mỹ Barack Obama, lãnh đạo hai nước nhận định tầm quan trọng « an ninh hàng hải và hàng không trong khu vực, đặc biệt tại biển Nam Trung Hoa » tức Biển Đông. Bắc Kinh phản ứng tức khắc kêu gọi New Delhi « đừng rơi vào bẫy » của Washington.

 Trong bài diễn văn đọc ngày 27/01/2015 tại New Delhi, tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố “Hoa Kỳ hoan nghênh vai trò lớn mạnh của Ấn Độ trong vùng châu Á Thái Bình Dương, nơi mà quyền tự do lưu thông phải được duy trì. Mọi xung khắc phải được giải quyết ôn hòa, không sử dụng vũ lực ».

Lời tuyên bố này có cùng nội dung với bản tuyên bố chung công bố hôm Chủ nhật, sau những cuộc thảo luận song phương giữa lãnh đạo Mỹ và thủ tướng Ấn Narendra Modi, một nhân vật có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc hơn là các nhà lãnh đạo tiền nhiệm.

Theo AFP, sự kiện tổng thống Obama cùng thủ tướng Modi khẳng định quyền tự do giao thông « trên biển và trên không đặc biệt tại Biển Đông » cho thấy Hoa Kỳ kỳ vọng vào Ấn Độ đóng vai trò chủ động hơn để cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Tuy hai nhà lãnh đạo Mỹ-Ấn không nêu đích danh Trung Quốc, nhưng trong bối cảnh Bắc Kinh đang lấn chiếm vùng biển Đông Nam Á và có ý đồ thành lập vùng nhận dạng phòng không tại đây, Hoa lục đã lập tức phản ứng.

Phát ngôn viên bộ ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh cho rằng Mỹ và Ấn Độ không nên lo xa vì « giao thông trong biển Nam Hải vẫn ổn định » và « mọi tranh chấp sẽ được giải quyết song phương bằng tham khảo ý kiến ».

Tuy nhiên, chính quyền Trung Quốc để cho báo chí của đảng nhiệm vụ công kích. Trong một bài bình luận, Hoàn Cầu Thời Báo kêu gọi New Delhi đừng rơi vào âm mưu của Hoa Kỳ, trong chiến lược chuyển trục, lôi kéo Ấn Độ vào liên minh bao vây Trung Quốc.

Bắc Kinh cũng đem lợi nhuận kinh tế ra để chiêu dụ Ân Độ với lời kêu gọi « nâng cao quan hệ chiến lược » kể cả trợ giúp, có điều kiện, trong vấn đề hạt nhân.

Lẽ ra dân tộc đã có dân chủ-tự do ngay từ 1945

Viết để tưởng niệm các học giả Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, những người đã góp phần xây dựng nền giáo dục mới cho nước Việt Nam độc lập và một thế hệ trí thức mới đã đứng ra làm việc nước hồi giữa thế kỷ 20.

***
Do sự phức tạp của thời thế và sự nóng nảy muốn giành độc lập nhất thời của chính người Việt, lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đã không những không biến chuyển như mọi người mong muốn mà còn đầy rẫy những ngộ nhận, từ đó oan khuất cần phải được giải tỏa và làm sáng tỏ. Ðây là một việc làm vô cùng khó khăn mà một cá nhân khó có thể làm nổi. Tuy nhiên, tuy gọi là khó nhưng những người quan tâm và hiểu biết ít nhiều vẫn phải làm để sau này sẽ có người tiếp tục và điều chỉnh. Vì là một khoa học, sử học luôn luôn tiến bộ. Những gì gọi là đúng ngày hôm nay có thể sẽ cần phải được ít ra là điểu chỉnh và bổ khuyết ngày mai, không có gì gọi là chân lý vĩnh cửu trong môn học này. Người học sử không thể chủ quan nhất định điều mình nói, viết ra hay được học mãi mãi là đúng, là chân lý bất di bất dịch.

Trong bài này cũng như một số bài trước, người viết xin gửi tới các bạn đọc, đặc biệt là các nhà tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do và dân chủ, một vài nhận định về những gì Hoàng Ðế Bảo Ðại và vị thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập là nhà giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim cùng với các bộ trưởng của ông, đã làm, trong một thời gian ngắn ngủi hơn ba tháng của năm 1945, từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 6 tháng 8 năm 1945, để xây dựng một chính thể dân chủ lâu dài cho đất nước và ban hành các quyền tự do cho người dân từ cách nay ngót 70 năm bằng những đạo luật không phải là không tiến bộ. Ðây là một việc làm mà 70 năm sau với ít nhất ba thế hệ đã qua đi một cách uổng phí, với hàng triệu sinh mạng đã bị hy sinh cùng với máu và nước mắt của người dân lành vô tội, người ta vẫn chưa muốn làm hay chưa làm được.

Bốn bước tiến đã được Vua Bảo Ðại thực hiện trong thời gian này gồm có:

Thứ nhất: Ban hành dụ “Dân Vi Quý.”

Thứ hai: Ðích thân tham khảo ý kiến của các quan lại, các thân hào, nhân sĩ có uy tín để thành lập một chính phủ mới.

Thứ ba: Thành lập các hội đồng chuyên môn để mọi người có thể tham gia việc soạn thảo hiến pháp và các sinh hoạt quan trọng của quốc gia.

Thứ tư: Ban hành các đạo dụ liên quan đến các quyền tự do cơ bản của người dân.

Sau đây là những chi tiết liên hệ tới bốn bước tiến kể trên.

Khẩu hiệu “Dân Vi Quý” của Hoàng Ðế Bảo Ðại

Ðây là khẩu hiệu của vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn mà ai đã từng học sử Việt Nam đều biết và cũng là bước tiến đầu tiên của vị hoàng đế này trên đường thực hiện chế độ dân chủ của ông. Khẩu hiệu này được trích dẫn từ sách Mạnh Tử, một trong Tứ Thư của các nhà nho ta thời xưa, nguyên văn là “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” có nghĩa là “Dân là quý, sau đó là xã tắc, vua là nhẹ,” được nhà vua chính thức đưa ra trong Dụ Số 1, mở đầu cho một giai đoạn mới trong triều đại của ông. Dụ này được ban hành ngày 17 tháng 3 dương lịch năm 1945, nguyên văn như sau:

Dương Lịch ngày 17 tháng 3 năm 1945

Nước Nhật muốn hoàn toàn thực hiện chương trình xây nền thịnh vượng chung ở Ðại-Ðông-Á đã giải phóng cho nước Nam ta, và Trẫm tuyên bố Việt Nam độc lập rồi.

Nay Trẫm có trách nhiệm đối với lịch sử và thần dân, nên tự cầm lấy quyền để bảo vệ lấy quyền lợi cho Tổ-quốc và giáng dụ rằng

1) Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu “Dân Vi Quí”

2) Trong chính giới sẽ chiêu tập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng Quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Ðại-Nhật-Bản trong công cuộc kiến thiết Ðại-Ðông-Á.

3) Trẫm sẽ tài định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những phương pháp hợp với nguyện vọng của Quốc dân.

Nhận định về đạo dụ này, Nguyễn Tường Phượng trong bài “Một Ðạo Dụ, Một Chế Ðộ” đăng trên Tri Tân Tạp Chí số ra ngày 20 tháng 4 năm 1945, trên trang đầu, đã viết như sau:

“Ba điều ban bố trên đáng ghi vào lịch sử xứ này, thật là trên thuận lòng giời, dưới đẹp lòng dân, quốc dân rất trông mong ở sự thi hành triệt để khác nào như đói mong ăn và khát mong uống vậy.

“Nếu một khi nhà nước dùng được người tài, đức vẹn hai ra gánh vác, đảm đương những trọng trách, lại thêm vào đấy cái chính sách thân dân, thể tất đến dân nguyện thời nền tảng quốc gia xứ này có thể phục hưng.

“Ðược như vậy, đạo dụ ngày 17 tháng 3 đáng ghi vào trang đầu lịch sử của nước Việt-Nam độc lập.”

Còn Luật Sư Bùi Tường Chiểu, trong bài “Ðạo Dụ Số 1 Của Ðức Bảo Ðại Hoàng Ðế” đăng trên Thanh Nghị, số 107, “Số Ðặc-San Chính Trị,” ra ngày 5 tháng 5, 1945, cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của đạo dụ này. Ngay những dòng mở đầu ông viết:

“Ðạo dụ trên đối với chế độ chính trị nước ta sau này có một tính cách quan trọng đặc biệt mà ta có thể nói rằng đạo dụ này đã nêu lên một cách tóm tắt những quả quyết rõ ràng những nguyên tắc kiến thiết chính thể nước Việt-Nam sau này.”

Rồi nhấn mạnh hơn đến ba chữ Dân Vi Quý, ông phân tích:

“Nay Ðạo Dụ số 1 đã nêu lên khẩu hiệu Dân Vi Quí có nghĩa là đức Bảo-Ðại đã hủy bỏ cái lý thuyết cũ mà đến nay hầu hết các nước văn minh đã cho là không hợp thời. Ðã lấy dân làm trọng, đã lấy quyền lợi dân để trên tất cả thì vua tất chỉ là một cơ quan tối cao trong nước điều khiển những cơ quan chính trị khác để phụng vụ quốc gia, tìm những phương pháp hợp với nguyện vọng của cả quốc dân mà thi hành. Như thế là trong nền chính trị đức Bảo-Ðại Hoàng-Ðế đã định đặt quốc dân ta đi vào một con đường mới.”

Cuối cùng đi xa hơn nữa, vị luật gia này còn nói tới Hiến Pháp. Ông viết:

“Xong chúng ta có thể căn cứ vào điều thứ 3 của bản Dụ mà nói rằng đức Bảo-Ðại sẽ tuyên bố các cơ quan chính trị mới mà trong câu cơ quan ấy sẽ có một cơ quan có quyền lập pháp. Muốn tổ chức một cách phân minh các cơ quan hành chính, lập pháp và tư pháp, tất nhiên phải có một đạo hiến-luật để ấn định rõ ràng những quyền hành của các cơ quan chính trị.”

Ðúng như vậy, Hoàng Ðế Bảo Ðại sau đó đã từng bước tiến hành những biện pháp mang tính cách dân chủ để xây dựng một thể chế mới với sự đóng góp của nhiều người thay vì của một thiểu số quan lại trong triều. Sau đây là những nét chính của những nỗ lực này.

Ðặt nền tảng cho việc xây dựng chế độ mới và sửa soạn cho những công trình tái dựng đất nước lâu dài (sửa lại chính thể và toàn bộ guồng máy chính quyền).

Ðây là bước tiến thứ hai trong tiến trình xây dựng chế độ dân chủ bằng cách tạo dịp cho người dân mà đại diện là các nhân sĩ, trí thức và chuyên viên các ngành được tham gia việc nước, đồng thời thực hiện khẩu hiệu Dân Vi Quý của Hoàng Ðế Bảo Ðại. Bước đầu tiên là việc Vua Bảo Ðại tham khảo ý kiến các quan lại, trí thức nhằm thành lập chính phủ đầu tiên cho nước Việt Nam độc lập thay thế cho Nội Các Phạm Quỳnh đã từ chức. Với bước tiến thứ hai, vào khoảng từ trung tuần tháng 6 đến thượng tuần tháng 7, vừa nhằm chiêu dụ nhân tài, vừa nhằm tạo cơ hội cho người dân được góp phần vào việc đặt nền tảng và thiết lập các cơ chế căn bản cho mọi phạm vi sinh hoạt lâu dài của đất nước, bốn hội đồng đã được thành lập qua ba đạo dụ và một đạo sắc. Bốn hội đồng này gồm có:

Hội Ðồng Dự Thảo Hiến Pháp: do Phan Anh làm Thuyết Trình Viên gồm có các ông Phan Anh, Hoàng Ðạo tức Nguyễn Tường Long, Vũ Ðình Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Huy Lai, Ðặng Thái Mai, Vương Quang Nhường, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Văn Sâm, Nhượng Tống, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn Thinh và Nguyễn Trác (Dụ số 60 ngày 7 tháng 7 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 7 tháng 7 năm 1945).

Hội Ðồng Cải Cách Cai Trị, Tư Pháp và Hành Chính: do Vũ Văn Hiền làm thuyết trình viên, gồm có các ông Vũ Văn Hiền, Trần Văn Ân, Trần Văn Chương, Phạm Khắc Hòe, Lê Quang Hộ, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Khoát, Trần Văn Lý, Trần Ðình Nam, Nguyễn Khắc Niêm, Ðặng Như Nhơn, Dương Tấn Tài, Nguyễn Hữu Tảo, Trịnh Ðình Thảo và Phan Kế Toại (Dụ số 70 ngày 30 tháng 6 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 9 tháng 7 năm 1945).

Hội Ðồng Cải Cách Giáo Dục: do Hoàng Xuân Hãn làm thuyết trình viên, gồm có bà Hoàng Thị Nga, các ông Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Kha Vạng Cân, Nguyên Văn Chi, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Thành Giung, Ngụy Như Kontum, Bùi Kỷ, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Quang Oánh, Ưng Quả, Nguyễn Mạnh Tường, Hồ Ðắc thắng, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Ðạo Thúy và Nguyễn Xiển (Dụ số 71 ngày 30 tháng 6 năm 1945. Dụ này được đăng trong Việt Nam Tân Báo số ra ngày 10 tháng 7 năm 1945).

Hội Ðồng Thanh Niên: Hội Ðồng này gồm có:

Chủ Tịch: Hoàng Ðạo Thúy

Phó Chủ Tịch: Trần Duy Hưng, Bắc Chi Bộ

Phó Chủ Tịch: Tạ Quang Bửu, Nam Chi Bộ

Cố Vấn Bắc Chi Bộ: Bà Nguyễn Thị Thục Viên, các ông Nguyễn Xiển, Phạm Thành Vinh, Vũ Văn Cẩn,Nguyễn Ðăng Thục, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Xuân Phương, Trần Văn Quý, Phan Huy Quát, Ngụy Như Kon-tum, Phạm Ngọc Khuê, Nguyễn Tường Bách.

Cố Vấn Nam Chi Bộ: Bà Nguyễn Ðình Chi, các ông Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thủ, Tôn Quang Phiệt, Kha Vạng Cân, Nguyễn Tư Vinh, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Kinh Chi và Thái Can (Sắc số 65 ngày 15 tháng 6 năm 1945)

Khi đọc danh sách các hội viên được đề nghị tham gia các hội đồng kể trên để trình lên Hoàng Ðế Bảo Ðại phê duyệt, Phạm Khắc Hòe tỏ ý thắc mắc là có tên những người ông “chưa từng thấy bao giờ” nên đã hỏi Trần Trọng Kim và được Trần Trọng Kim cho biết là các danh sách này “đã được toàn thể Nội Các và nhất là các ông bộ trưởng thuyết trình viên đồng ý cả rồi, tuy chưa hỏi được ý kiến của tất cả những người hữu quan, song chắc họ vui lòng nhận cả, vì lúc này ai mà chẳng sẵn sàng ra thờ vua giúp nước” và nói thêm “Vậy ông chịu khó xin Hoàng Ðế phê chuẩn đi cho kịp thời, đừng nên hỏi đi hỏi lại nữa.” Kết quả, theo lời Phạm Khắc Hòe, là “chỉ mấy phút sau, bốn dự thảo của nội các trở thành ba đạo dụ và một đạo sắc chính thức.” Những lời đối thoại này cho ta thấy tính cách hữu hiệu và làm việc chạy theo thời gian của Trần Trọng Kim và Nội Các của ông dù đó mới chỉ là ban hành được những đạo dụ hay đạo sắc để làm nền tảng pháp lý cho những bước kế tiếp trong tương lai. Nó cũng nói lên tính cách hữu hiệu của chế độ quân chủ chuyên chế và sự tin tưởng của Hoàng Ðế Bảo Ðại vào vị thủ tướng và nội các đương thời, vì bình thường những quyết định liên hệ đến thể chế và những cơ chế tương lai trong một quốc gia dân chủ bình thường không thể nào có thể thực hiện được trong vòng trên dưới hai tháng tính từ ngày Nội Các Trần Trọng Kim họp phiên họp đầu tiên, ngày 8 tháng 5, đến ngày 10 tháng 7, ngày đạo dụ cuối cùng trong bốn đạo sắc dụ này được đệ trình, rồi được vị nguyên thủ quốc gia phê chuẩn trong có “mấy phút sau.” Một thời gian kỷ lục.

Cũng nên để ý là các vị bộ trưởng được Trần Trọng Kim nói đến ở đây là Bộ Trưởng Thanh Niên Phan Anh, Bộ Trưởng Tài Chánh Vũ Văn Hiền và Bộ Trưởng Giáo Dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn. Cả ba, ngoài bằng cấp chuyên môn, đều là những chuyên viên hàng đầu của Việt Nam thời đó. Họ là những người từ lâu đã tìm hiểu, nghiên cứu và viết những những bài tham khảo bàn về những lãnh vực riêng của mình và là những cây bút nòng cốt của tờ Thanh Nghị, một thứ “think tank” của chính phủ đương thời. Ðây cũng là dịp để họ thi thố tài năng và thực thi hoài bão mà từ lâu họ đã từng thai nghén. Cũng nên nhớ là thành ngữ “thờ vua giúp nước” cho đến thời điểm này vẫn chưa trở thành lạc hậu.

“Tuần Lễ Của Các Tự Do”

Ðây là sự ban hành một số những đạo dụ ấn định những nguyên tắc liên hệ đến các quyền tự do căn bản của người dân. Ba đạo dụ sau đây đã được báo Thanh Nghị số 117, ra ngày 21 tháng 7 năm 1945 ghi nhận theo thứ tự thời gian gồm có:

1. Dụ số 73, ngày 26 tháng 5 năm Bảo Ðại thứ 20 tức ngày 5 tháng 7 dương lịch năm 1945 về tự do lập nghiệp đoàn.

2. Dụ số 78, ngày 1 tháng 6 năm Bảo Ðại thứ 20 tức ngày 9 tháng 7 năm 1945 về tự do lập hội.

3. Dụ số 79, ngày 1 tháng 6 năm Bảo Ðại thứ 20 tức ngày 9 tháng 7 năm 1945 về tự do hội họp.

Cả ba đạo dụ này đã được ban hành trong một thời gian ngắn là thượng tuần tháng bảy năm 1945 và Thanh Nghị đã gọi tuần lễ này là “Tuần của các tự do.”

Về chi tiết, báo Thanh Nghị tóm tắt như sau:

Tự do lập hội: Từ nay phàm người công dân Việt Nam ai nấy đều có quyền lập những hội có mục đích chính trị, văn hóa, tôn giáo hay xã hội, ngoài những hội có mục đích kiếm lợi. Chỉ cần mục đích của hội không trái với pháp luật, luân lý hoặc là có hại đến nền duy nhất và sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia. Nhưng cần phải báo trước với nhà chức trách ít nhất là 30 ngày trước khi hoạt động

Muốn phân biệt các hội do Ðạo Dụ số 78 với các hội có mục đích kiếm lợi phải xét xem các hội viên có chia lãi cho nhau hay không? Nếu chia lãi thì tất phải theo những luật lệ hiện hành về các hội buôn.

Nhiều người hội họp với nhau nhiều lần cũng lại không họp thành một hội vì không có điều lệ để hội viên theo. Cho nên trong tờ khai phải đính theo cả bản điều lệ của hội mình định sáng lập.

Hội có thể tự giải tán (theo điều lệ hay theo ý muốn toàn thể hội viên) hay bị tòa án giải tán, nếu mục đích trái với pháp luật, luân lý, hại tới quốc gia, nếu không khai báo cho đúng thể lệ (chưa kể những sự trừng phạt về tội hình những người có trách nhiệm).Tài sản của hội khi đó sẽ phân phát theo điều lệ của hội, theo quyết định của đại hội đồng của hội hay theo lệnh của tòa.

Có hai thứ hội: hội thường và hội được Hội Ðồng Nội Các công nhận là một hội có ích lợi chung. Hội thường có quyền tố tụng, thu nhập tiền đóng góp của hội viên, có quyền mua, quyền sở hữu và quản lý nhà hội quán, quản trị những bất động sản mà Bộ Nội Vụ và Tài Chính cho phép mua. Còn hội được chính quyền công nhận là có ích lợi chung thì ngoài những quyền này còn có quyền được nhận những tặng dữ.

Tự do hội họp: Người dân được quyền tự do hội họp nhưng Dụ số 72 phân biệt hai thứ hội họp là hội họp trong tư gia có tính cách gia đình hay lễ nghi và các hội họp ở những nơi công cộng.

Ðối với các hội họp trong gia đình hay lễ nghi hay những hội họp của các hội tư nhóm họp trong tư gia với số người tham dự không quá 30 người, người triệu tập không cần phải khai báo. Các cuộc hội họp khác cũng được tự do nhưng phải khai báo với nhà chức trách. Tất cả các cuộc hội họp ở các nơi công cộng như họp ở ngoài đường phố, trong các công viên hay các thị xã đều phải xin phép trước. Giờ họp không được quá 12 giờ đêm trừ khi có phép riêng. Ngoài ra một nhân viên hành chánh hay tư pháp cũng có quyền tới dự.

Tự do lập nghiệp đoàn: Việc lập nghiệp đoàn cũng được coi như quyền tự do của người dân với những quy luật được ấn định trong Dụ số 73, theo đó, để tránh không cho những hội kiếm lợi giả danh làm nghiệp đoàn với mục tiêu trốn thuế, các nghiệp đoàn bị cấm không được chia lời cho các đoàn viên và khi giải tán thì của cải không được đem chia cho các đoàn viên. Ðồng thời để bảo vệ những người trong nghề, dụ này cấm không cho nghiệp đoàn cưỡng ép những người này phải gia nhập hay bắt đoàn viên phải ở lại trong nghiệp đoàn vĩnh viễn nhưng ngược lại cho phép nghiệp đoàn được từ chối không nhận một người làm đoàn viên theo điều lệ của mình. Mặt khác, nghiệp đoàn có tư cách pháp nhân trong việc bảo vệ các quyền lợi của mình, có quyền sở hữu các động sản hay bất động sản nếu xin phép, có quyền liên kết với nhau để thành lập các liên đoàn và về phía chính quyền, chính quyền có quyền cử người kiểm soát việc quản lý tài chánh của nghiệp đoàn hay liên đoàn. Cuối cùng vì nghiệp đoàn là một tổ chức có thể dùng để tranh đấu nên người sáng lập bắt buộc phải có quốc tịch Việt Nam và phải ở trong nghề ít nhất một năm.

Vì ba đạo luật kể trên đã được ban hành trong thượng tuần tháng 7 năm 1945 nên tác giả của bài báo gợi ý gọi tuần lễ này là “Tuần Lễ Của Các Tự Do.” Mặt khác nếu người ta theo dõi những cuộc hội họp của người dân ở cả hai miền Trung và Bắc đã diễn ra liên tiếp từ ngày 10 tháng 3, sau ngày Nhật đảo chánh Pháp, đặc biệt là ở Huế và Hà Nội với hàng vạn người tham dự một cách tự do, thoải mái, thì sự ban hành các đạo dụ này “đã làm hợp pháp một tình trạng riêng của các tỉnh ở Bắc Bộ Việt Nam vì từ sau ngày 9 tháng 3 các hội, các đoàn mọc lên như nấm, các cuộc hội họp công khai tự do vô cùng.”

Kết luận

Tất cả các công trình lớn lao kể trên đã được đã được Hoàng Ðế Bảo Ðại,Thủ Tướng Trần Trọng Kim và các vị bộ trưởng trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập trong những hoàn cảnh vô cùng khó khăn và trong một thời gian kỷ lục chưa tới ba tháng ngắn ngủi kể từ ngày 8 tháng 5 khi chính phủ này được trình diện đến ngày 6 tháng 8 năm 1945 khi chính phủ này từ chức và được Hoàng Ðế Bảo Ðại cho phép, ngắn hơn nữa nếu tính đến ngày 9 tháng 7, ngày các Dụ số 78 về Tự Do Lập Hội và số 79 về Tự Do Hội Họp được nhà vua chấp nhận. Ðây là một phần của một cuộc cải cách rộng lớn hơn bao trùm mọi phạm vi sinh hoạt đương thời, gọi theo Sử Gia Na Uy Stein Tonnesson là “từ trên xuống,” còn gọi theo Vũ Ngự Chiêu thì đó là một cuộc cách mạng cũng từ trên xuống:”cách mạng từ trên xuống.”Cả hai sử gia này đều có lý vì tính cách nhanh chóng ít ai có thể ngờ của nó.Câu hỏi được đặt ra ở đây là làm sao nó có thể xảy ra được trong một chế độ quân chủ chuyên chế đã từng tồn tại cả ngàn năm như vậy?Có ba sự kiện người ta có thể nghĩ tới để trả lời câu hỏi này.Ðó là ý muốn của người cầm đầu hay đúng hơn vị nguyên thủ quốc gia,ước vọng và khả năng của những người lãnh nhiệm vụ thực hiện cuộc cải cách theo ý muốn của vị nguyên thủ quốc gia ấy và cuối cùng là sự đón nhận của dư luận đương thời.

Cả ba sự kiện này đế quốc Việt Nam ở thời điểm đương thời đều có đủ. Từ Vua Bảo Ðại đến Thủ Tướng Trần Trọng Kim và các vị bộ trưởng đều là những người được huấn luyện đầy đủ, có kiến thức và nhất là có thực tâm, tha thiết với nền độc lập và sự tiến bộ của nước nhà. Ðiều đáng tiếc là biến cố 19 tháng 8 đã xảy ra, Việt Minh cướp chính quyền và tất cả đều đã bị dẹp bỏ, điển hình là ngày 22 tháng 9 năm 1945, 20 ngày sau khi tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh “bãi bỏ các nghiệp đoàn trong toàn cõi Việt Nam” và Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Võ Nguyên Giáp ký Nghị Ðịnh ngày 14 tháng 9 giải tán Hội Khai Trí Tiến Ðức trong khi cùng ngày lại ký một nghị định khác “cấp năng lực pháp luật” cho hội “Văn Hóa Cứu Quốc Việt Nam” (Việt Minh). Cuối cùng thì sau 70 năm, cho đến tận ngày hôm nay khi bài này được viết, bất chấp mọi sự hy sinh, gian khổ, máu và nước mắt của hàng triệu đồng bào, Tự Do và Dân Chủ, Công Bằng và Bác Ái vẫn nguyên vẹn chỉ là niềm mơ ước hầu như còn lâu mới đạt được của người dân Việt.

Chú thích:

1. Ðoàn Trung Còn, dịch giả, Tứ Thư, Ðại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử. Quyển Bảy,“Chương Sau: Tận Tâm.” Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 2000, tr. 263.

- Nguyễn Ðức Lân (dịch và chú giải), Tứ Thư Tập Chú, “Mạnh Tử, Chương XIV, Tân Tâm, Chương Cú Hạ.” Hà Nội: Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 1999, tr. 1346.

- Nguyễn Hiến Lê, Mạnh Tử. Saigon: Cảo Thơm, 1975. Nhà Xuất Bản Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, Los Alamitos, CA, tr. 58. - Phan Bội Châu, Khổng Học Ðăng Trọn Bộ. Houston: Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, không đề năm, tr. 463.

- Bàn về khẩu hiệu này, Phạm Khắc Hòe, Ngự Tiền Tổng Lý Văn Phòng của Vua Bảo Ðại và là người thân Việt Minh nằm trong Ðại Nội bên cạnh nhà vua cho là do một người nào đó “mớm” cho nhà vua chứ Bảo Ðại không thể có ý tưởng đó được. Nhận xét này nhiều phần không đúng nếu ta để ý tới căn bản giáo dục mà Bảo Ðại nhận được xuyên qua Phụ Ðạo Lê Nhữ Lâm từ hồi ông mới 6 tuổi rồi sau đó theo ông sang Pháp trong suốt thời gian ông ở Pháp để dạy ông về đạo làm vua theo truyền thông Việt Nam trong đó có Khổng Giáo, tiếp theo là những gì ông làm trong thời kỳ cải cách trước đó và những gì ông viết trong hồi ký sau này của ông. Xem thêm Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Ðình Huế Ðến Chiến Khu Việt Bắc.

2. Huế: Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 1987, tr. 22-23.
3. Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Ðình Huế,... dẫn trên, tr. 41-43.
4. - như trên -, tr. 41.
5. Trong mục “Ðời Sống Ðông Dương qua bài báo nhan đề ‘Mấy Ðạo Dụ về Tự Do,’” tr. 23-25.
6. - như trên-, tr. 25.
7. Việt Nam Dân Quốc Công Báo, số 2, 6 Tháng Mười 1945, “Mục Lục Công Báo ngày 6 tháng 10 năm 1945”
8. Tư cách pháp nhân.
9. Việt Nam Dân Quốc Công Báo, dẫn trên.

Theo nguoi-viet-01-26- 2015 1:55:11 PM
Phạm Cao Dương

GS London: “ Nội bộ lãnh đạo Việt Nam hé lộ bí mật”

Theo RFI-Thanh Phương
 Thứ hai, ngày 26 tháng một năm 2015
Một cảnh bên ngoài Trung tâm hội nghị Quốc gia, nơi diễn ra Đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 11, ngày 12/01/2011 Ảnh:REUTERS/Kham

Trong phần tạp chí Việt Nam trong dòng thời sự hôm nay, chúng tôi xin điểm lại một số bài trên báo chí quốc tế liên quan đến Việt Nam trong tuần qua. Trước hết là một bài viết của giáo sư Jonathan London, đại học City University of Hongkong, đăng ngày 21/01 trên trang mạng của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế ( CSIS ), Washington DC, Hoa Kỳ, đề cập đến tình hình chính trị nội bộ Việt Nam sau hội nghị toàn thể ban chấp hàng trung ương Đảng vừa qua.

Bài viết có tựa đề “ Vietnam: Open Secrets on the road to succesion” ( Việt Nam: Những bí mật bị hé lộ trên con đường chọn người kế nhiệm), đề cập đến vấn đề chọn người thay thế các lãnh đạo hiện nay và cuộc đấu đá tranh giành quyền lực trong bối cảnh vào năm tới sẽ diễn ra Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nan lần thứ 12.

Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại từ Hồng Kông, giáo sư Jonathan London cho rằng có hai điều đáng chú ý trong nội bộ chính giới Việt Nam hiện nay, đó là chuyện các ủy viên ban chấp hành trung ương bỏ phiếu tín nhiệm các ủy viên Bộ Chính trị, mà kết quả không được công bố và sự xuất hiện của trang mạng “ Chân dung quyền lực”. Sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn với giáo sư London:


Từ chính trị nội bộ chuyển sang ngoại giao của Việt Nam. Đáng chú ý trong tuần qua là bài viết của tác giả Phương Nguyễn, nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế ( CSIS ), đăng trên trang mạng East Asia Forum ( Diễn đàn Đông Á ) ngày 21/01/2015.

Trong bài viết tựa đề « Vietnam’s careful dance with the superpowers » ( Bước nhảy thận trọng của Việt Nam với các siêu cường), bà Phương Nguyễn nhắc lại rằng quan hệ quân sự Mỹ-Việt đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Các quan chức quân sự và quốc phòng cao cấp của Mỹ nay viếng thăm Việt Nam rất thường xuyên. Năm 2011, hai nước đã ký một biên bản ghi nhớ về đẩy mạnh hợp tác quốc phòng. Đến tháng 10 năm 2014, chính quyền Obama loan báo dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Quyết định này sẽ thúc đẩy việc bán vũ khí của Mỹ cho Việt Nam trong những năm tới.

Thế nhưng, theo tác giả bài viết, có nhiều yếu tố vẫn còn cản trở mối quan hệ Mỹ-Việt. Chính sách ngoại giao của Việt Nam vẫn phải tính đến “yếu tố” Trung Quốc và Hà Nội luôn quan ngại về phản ứng của Bắc Kinh trước việc Hoa Kỳ, Việt Nam thắt chặt quan hệ quân sự.

Theo tác giả Phương Nguyễn, trong khi hoan nghênh những mối lợi từ việc Hoa Kỳ quan tâm trở lại khu vực Châu Á, các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn biết rõ rằng Bắc Kinh xem chính sách “xoay trục” của Mỹ như là một nỗ lực nhằm “bao vây” Trung Quốc.

Tác giả bài viết nhận định rằng, Việt Nam vẫn cố tránh bị lâm vào thế kẹt giữa hai siêu cường và nhiều quan chức ở Hà Nội khi nói chuyện riêng đã cho rằng tình hình hiện nay của Ukraina chính là hậu quả của một chính sách ngoại giao “không cân bằng”. Mỗi lần có một bước theo hướng tăng cường quan hệ an ninh với Hoa Kỳ, Việt Nam lại phải cố trấn an Bắc Kinh.

Bà Phương Nguyễn viết:

“ Quan hệ quốc phòng Mỹ-Việt còn rất nhiều tiềm năng và rất có thể sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ trong năm nay, với việc hai nước kỷ niệm 20 năm bình thường hóa bang giao. Nhưng có một số vấn đề mà hai bên cần phải tập trung giải quyết trong thời gian trước mắt, chẳng hạn như Hà Nội vẫn đòi dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương và vẫn muốn mua thêm vũ khí của Mỹ. Về phía Washington thì tiếp tục kêu gọi tăng cường hợp tác giữa hải quân hai nước và tăng con số chiến hạm của Mỹ ghé thăm các hải cảng của Việt Nam mỗi năm. Nhưng vì thiếu một tầm nhìn xa, cho nên Hoa Kỳ và Việt Nam chỉ có thể gia tăng hợp tác ở một cấp độ mang tính chiến thuật cho một tương lai gần”.

Một bài báo khác cũng liên quan đến Việt Nam đó là bài của hãng tin Bloomberg với tựa đề “What do the weak oil price mean for the South China Sea ?" ( Giá dầu giảm có ảnh hưởng gì đối với Biển Đông ? ), đăng ngày 21/01.

Theo hãng tin Bloomberg, giá dầu hỏa vào giữa tháng Giêng đã sụt xuống còn 46 đôla/thùng. Đây là mức sụt giảm mạnh nhất của giá dầu hỏa kể từ khủng hoảng toàn cầu năm 2008. Tình hình này buộc nhiều công ty phải ngưng các dự án bị xem là không thể có lãi với giá dầu thấp như hiện nay, cũng như khiến họ phải tính đến chuyện có nên duy trì các dự án thăm dò dầu khí biển sâu rất tốn kém.

Thế nhưng, theo Bloomberg, ở Biển Đông, nơi mà các tàu của Trung Quốc và Việt Nam đã đụng độ với nhau vào tháng 5 năm ngoái, sau khi Bắc Kinh đặt giàn khoan tại vùng biển tranh chấp, các yếu tố an ninh và chính trị sẽ khiến căng thẳng do tranh chấp chủ quyền vẫn ở mức cao và thúc đẩy các nước trong vùng gia tăng chi phí quân sự.

Hãng tin Bloomberg trích lời ông Bill Hayton, tác giả cuốn “ The South China Sea: The struggle for power in Asia” ( Biển Đông: Cuộc tranh giành năng lượng), xuất bản vào năm ngoái, cho rằng thật ra Trung Quốc dùng dầu hỏa như là một cái cớ để đòi chủ quyền quốc gia và biện minh cho đòi hỏi chủ quyền ấy, vì họ lập luận rằng Biển Đông có rất nhiều trữ lượng dầu khí cần cho Trung Quốc.

Theo các nhà phân tích, Trung Quốc sẽ không giảm đáng kể các dự án thăm dò dầu khí ở Biển Đông, nhưng với giá dầu như hiện nay, Trung Quốc cũng sẽ không gia tăng đầu tư vào lĩnh vực này. Về phần các công ty dầu khí lớn của thế giới thì vẫn trong tư thế chờ đợi, tức là chờ khi nào Trung Quốc và các nước có liên quan giải quyết tranh chấp chủ quyền Biển Đông, thì họ mới đẩy mạnh đầu tư vào vùng này.

Nhưng theo hãng tin Bloomberg, Biển Đông cũng là nơi tập trung đến 10% nguồn cá đánh bắt được trên toàn cầu và đây cũng là một trong những yếu tố gây căng thẳng ở vùng này. Hãng tin này trích lời ông Ian Storey, thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, cho rằng ngoài trữ lượng dầu khí dồi dào, nhiều yếu tố khác cũng khiến tranh chấp chủ quyền Biển Đông ngày càng gay gắt. Ông nói: “ Chủ nghĩa dân tộc, nỗ lực của các bên nhằm xác quyết chủ quyền lịch sử và pháp lý, cũng như thế ganh đua địa chiến lược sẽ khiến vùng này sẽ vẫn là vấn đề hàng đầu về an ninh khu vực.”

Giáo sư Jonathan London, Hồng Kông
23/01/2015