Monday, September 8, 2014

Tai tiếng dầu ăn giả tại Đài Loan, Hồng Kông lo ngại



Rung động: Phát hiện hơn 200 doanh nghiệp Đài Loan dùng dầu ăn từ... rác thải - Ảnh 1Các thùng phuy được dùng để chứa dầu bẩn trước khi chế biến thành dầu ăn. (Ảnh: EPA)
RFI-Minh Anh

Vụ dầu ăn bị pha trộn tại Đài Loan làm Hồng Kông quan ngại. Hôm nay, 08/09/2014, chính quyền cựu thuộc địa Anh Quốc cho tiến hành lấy mẫu kiểm nghiệm các mẫu thực phẩm được bày bán trong các siêu thị nhằm xác định xem có sự hiện diện của dầu ăn giả bị pha trộn đến từ Đài Loan hay không.

Phát biểu trên đài phát thanh sở tại RTHK, một quan chức thuộc Sở Thực phẩm và Vệ sinh môi trường tại Hồng Kông cho biết chính quyền đang cho lấy mẫu để phân tích tất cả các loại thực phẩm tại các cửa hàng và một số loại sản phẩm lương thực nhập khẩu từ Đài Loan.

Cũng theo quan chức này, công tác kiểm nghiệm đang được tiến hành trên các mẫu bánh trung thu do đang là mùa lễ, trên các loại dầu ăn, tại các hiệu bánh mì và những quán ăn chuyên bán các loại thực phẩm Đài Loan.

Chiến dịch kiểm nghiệm an toàn thực phẩm được thực hiện sau khi có thông báo chính quyền Đài Loan phát giác một cơ sở sản xuất dầu ăn giả bất hợp pháp. Dầu ăn tại cơ sở này được chế biến bằng cách cho pha trộn các loại dầu đã qua sử dụng với mỡ lợn, rồi sau đó được bán lại cho công ty thực phẩm Chang Guann Co.

Tổng cộng công ty Chang Guann Co. đã mua từ cơ sở này đến 243 tấn dầu và phân phối lại cho ít nhất 900 hiệu ăn và tiệm bánh tại Đài Loan. Hiện chủ nhân của xưởng sản xuất dầu ăn giả mạo này là ông Kuo Lieh-chen đã bị bắt giữ để phục vụ cho công tác điều tra.

Đây cũng là lần thứ hai Hồng Kông bị vạ lây từ các vụ tai tiếng an toàn thực phẩm. Vào tháng 7/2014 chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh McDonald’s đã phải đình chỉ bán món gà tẩm bột chiên và nhiều món khác sau khi công nhận đã mua lô thịt hư từ một tập đoàn Mỹ có chi nhánh tại Trung Quốc.

Washington yêu cầu Bình Nhưỡng trả tự do cho ba công dân Mỹ


Kenneth Bae (áo xám), một trong ba công dân Mỹ đang bị bắt giữ tại Bắc Triều Tiên. Ảnh ngày 20/01/2014.REUTERS


RFI-Minh Anh
Vài giờ sau khi Bình Nhưỡng thông báo mở phiên xử một công dân Mỹ, Washington hôm qua 07/09/2014 kêu gọi Bắc Triều Tiên trả tự do cho ba công dân của mình.

AFP trích lời phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ yêu cầu Bắc Triều Tiên trả tự do cho hai công dân Jeffrey Fowle và Matthew Miller để họ được đoàn tụ với gia đình « vì lý do nhân đạo ». Riêng đối với công dân Mỹ Kenneth Bae, Bộ Ngoại giao Mỹ đề nghị một sự khoan hồng, đặc xá để ông này được về với gia đình và điều trị bệnh tật.
Lời đề nghị trên đưa ra vài giờ sau khi hãng thông tấn KCNA thông báo, ông Matthew Miller sẽ bị đưa ra xét xử vào ngày 14/09/2014. Vào tháng Sáu, Bắc Triều Tiên cho hay sẽ đưa ra xét xử Matthew Miller và Jeffrey Fowle về tội « có thái độ thù nghịch chống chế độ ». Còn ông Kenneth Bae bị bắt vào tháng 11/2012. Chính quyền Bắc Triều Tiên đã kết án 15 năm tù khổ sai với tội danh « thành viên giáo hội công giáo tìm cách lật đổ chế độ ».
Vào ngày 02/09/2014 cả ba công dân Mỹ đã cầu cứu Washington. Tuy nhiên, AFP cũng cho hay cả ba tù nhân trên từng có dịp trả lời phỏng vấn đài CNN về điều kiện giam giữ, dưới sự giám sát của nhân viên an ninh chính phủ, trong một phòng khách sạn. Một việc chưa từng có tại Bắc Triều Tiên, theo như nhận xét của hãng thông tấn Pháp. 

Trung Quốc lại lên giọng về biển Đông

Bắc Kinh lớn tiếng kêu gọi các nước không liên quan trực tiếp đến tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông “đừng can thiệp” và “gây thêm rắc rối”

Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị hôm 7-9 ngang nhiên đưa ra cái gọi là “4 điểm cần tôn trọng” của các bên liên quan trong vấn đề biển Đông tại cuộc gặp người đồng cấp Úc Julie Bishop ở TP Sydney.
Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị (phải) và người đồng cấp Úc Julie Bishop  Ảnh: Sydney Morning Herald
Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị (phải) và người đồng cấp Úc Julie Bishop-Ảnh: Sydney Morning Herald

Theo Tân Hoa Xã, 4 điểm trên gồm “lịch sử, luật pháp quốc tế, đối thoại và tham vấn trực tiếp giữa các nước liên quan, nỗ lực chung của Trung Quốc - ASEAN trong bảo vệ hòa bình và ổn định của biển Đông”.

 Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị (phải) và người đồng cấp Úc Julie Bishop  Ảnh: Sydney Morning Herald

Dù vậy, thực tế đã chỉ rõ Trung Quốc chính là nước không tôn trọng nguyên tắc chính họ đề ra thông qua những hành động đơn phương sai trái ở biển Đông, dẫn đến sự lên án mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế.

Vụ hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam gần đây là bằng chứng cho thấy Bắc Kinh không hề “tôn trọng luật pháp quốc tế”. Chưa hết, nước này còn gây bức xúc trong dư luận thế giới khi ngang nhiên vẽ đường 10 đoạn nhằm độc chiếm biển Đông dù không trưng ra được bất kỳ chứng cứ pháp lý xác thực nào.

Một mặt kêu gọi đối thoại và đàm phán trực tiếp giữa các nước liên quan về biển Đông nhưng Trung Quốc cho đến giờ vẫn khăng khăng đòi đàm phán song phương nhằm dễ gây sức ép lên đối phương.

Nước này còn tiếp tục trì hoãn đàm phán với ASEAN về Bộ Quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC), qua đó càng cho thấy lời kêu gọi “tôn trọng nỗ lực chung của Trung Quốc - ASEAN trong bảo vệ hòa bình và ổn định của biển Đông” mà ông Vương Nghị nêu ra là sáo rỗng.

Cũng tại cuộc hội đàm với bà Bishop, ông Vương còn lớn tiếng yêu cầu các nước không liên quan trực tiếp đến tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông “đừng can thiệp” và “gây thêm rắc rối”.

Hãng tin Bloomberg nhận định dù không nêu đích danh nhưng rõ ràng đây là thông điệp gửi Mỹ, nước đang tăng cường quan hệ quân sự với một số quốc gia có liên quan đến tranh chấp như Philippines.

Biển Đông là một trong những vấn đề đe dọa làm xấu đi quan hệ Mỹ - Trung, nhất là sau vụ chạm trán gần đây giữa máy bay hai nước trên không phận quốc tế ở vùng biển này. Không những thế, quan hệ hai nước còn chịu thử thách bởi cáo buộc tấn công mạng, chiến lược xoay trục sang châu Á của Mỹ và những bất đồng về chính sách kinh tế.

Những khúc mắc trên dự kiến được đem ra bàn khi cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Susan Rice gặp gỡ các quan chức quân sự, ngoại giao Trung Quốc ở Bắc Kinh hôm nay, 9-9.

Hãng tin AP dẫn lời bà Rice cho biết bất chấp những thách thức đang đối mặt, chính phủ Mỹ dưới thời Tổng thống Barack Obama vẫn xem Trung Quốc là ưu tiên trong chính sách đối ngoại. Vì thế, chuyến đi của bà còn nhằm mở đường cho chuyến công du Bắc Kinh của ông Obama vào tháng 11 - được bà Rice đánh giá là “cột mốc quan trọng” trong quan hệ 2 nước.

Không được đánh giá thấp Việt Nam
Hãng tin Reuters hôm 8-9 dẫn lời các chuyên gia quốc tế nhận định Việt Nam sẽ sớm tạo được sức mạnh răn đe trên biển nhờ đội tàu ngầm Kilo mua từ Nga và sẽ khiến Trung Quốc phải cân nhắc khi có ý đồ dồn ép Việt Nam tại biển Đông.
Theo Reuters, Việt Nam hiện có 2 tàu ngầm Kilo tối tân và sẽ có chiếc thứ ba vào tháng 11 tới theo hợp đồng trị giá 2,6 tỉ USD ký kết với Nga hồi năm 2009.
Các chuyên gia cho rằng một khi tàu ngầm mới đi vào hoạt động, Việt Nam nhiều khả năng sẽ tiến hành hoạt động chống tiếp cận, xâm nhập ngoài khơi bờ biển mình và xung quanh các căn cứ hải quân ở quần đảo Trường Sa.
Điều này làm phức tạp các tính toán quân sự của Trung Quốc ở biển Đông bất chấp việc nước này có lực lượng hải quân hùng hậu với khoảng 70 tàu ngầm.
“Việt Nam đã làm thay đổi toàn bộ cục diện. Họ đã có 2 tàu ngầm, thủy thủ và dường như là cả vũ khí, đồng thời năng lực và kinh nghiệm của họ sẽ lớn mạnh. Từ góc độ đánh giá của Trung Quốc, không thể xem nhẹ thực lực đánh chặn của Việt Nam” - ông Siemon Wezeman, nhà nghiên cứu về chuyển giao vũ khí tại Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), nhận định.

Thứ Hai, 23:05  08/09/2014 
Hoàng Phương
Theo Ngườilaođộng

Vietnam News luôn đến từ hôm qua?

Robert Banks-Gửi cho BBC Tiếng Việt từ London, Anh Quốc
12:43 GMT - thứ hai, 8 tháng 9, 2014



Trong thời đại truyền thông mạng, tin tức khắp thế giới ngày càng được lan tỏa từ nhiều nguồn phong phú khác nhau. Việt Nam với khoảng 36 triệu người dùng internet, cũng không là ngoại lệ.

Các trang tin tức trên mạng và di động phát triển và lan rộng nhanh chóng. Dù thế, báo in vẫn hiện diện trong đời sống hàng ngày từ bao lâu nay.

Trong trí nhớ từ rất xưa của người Việt, tên tuổi như báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên và Nhân Dân luôn là nơi để người đọc được biết về các chính sách, tham vọng, thành tựu của chính phủ và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong khi đó, với lớp độc giả là các nhà ngoại giao quốc tế, doanh nhân, chính trị gia và người nước ngoài sống lâu năm ở Việt Nam, người ta có thể mong đợi Việt Nam News - có thể coi là nguồn tin bằng tiếng Anh chính của quốc gia này – có cách đưa tin cân bằng hơn. Câu trả lời là Không.

Với lượng ấn bản 35.000 mỗi ngày và lượng độc giả khoảng 120.000, tờ báo này nhỏ nhưng khá ảnh hưởng.

Kể từ khi xuất bản lần đầu năm 1991, tờ báo đã cung cấp cho người đọc tiếng Anh các diễn tiến ở Việt Nam, cho thấy đây là quốc gia phát triển nhanh. Báo cũng thu được một khoản nhỏ từ quảng cáo nhưng phần lớn là vốn nhà nước do đây là cơ quan chịu trách nhiệm đưa tin tích cực về Việt Nam ra với thế giới.

"Chỉ có các đảng viên kỳ cựu được trao vị trí này [Tổng biên tập] và phải chịu áp lực rất căng thẳng; bất kỳ lỗi nào cũng có thể gây thiệt hại nghiêm trọng và kết thúc cả một sự nghiệp."-Robert Banks

Thật khó để giải thích quan điểm của Đảng Cộng sản và chính phủ cho độc giả chủ yếu là người Âu, và qua thời gian, Việt Nam News đã trở thành cỗ máy tuyên truyền trơn tru.

Điều hành tờ báo xuất bản hàng ngày này là cả một đội quân nhà báo, biên tập viên, người soát lỗi và các nhà quản l‎ý.

Tuy nhiên, chỉ có một vài người được lựa chọn có trách nhiệm quyết định nội dung. Kế hoạch đưa tin tức thuộc thẩm quyền các ban của Bộ Nội vụ và Ban Tuyên giáo.
Tổng biên tập chịu trách nhiệm cho sản phẩm cuối cùng và thường phải làm việc qua đêm để kiểm tra chế bản cuối từng trang một trước khi xuất bản.

Chỉ có các đảng viên kỳ cựu được trao vị trí này và phải chịu áp lực rất căng thẳng; bất kỳ lỗi nào cũng có thể gây thiệt hại nghiêm trọng và kết thúc cả một sự nghiệp – cựu tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, bà Vũ Kim Hạnh bị cách chức do cho đăng một bài báo nói ông Hồ Chí Minh từng có vợ người Trung Quốc.

 

Với toàn bộ sự chỉ đạo xuất bản báo đến từ cấp cao nhất, phóng viên bị hạn chế những gì họ được viết. Rất nhiều người làm việc như một biên dịch viên, chuyển ngữ các bài báo tiếng Việt - đã được duyệt bởi thế lực vô hình - sang tiếng Anh.

Người ta cũng yêu cầu phải có văn phong rất hình thức, và cách viết mới mẻ, sáng tạo không được tán thành. Tin tức, theo cách hiểu của họ, là việc rất nghiêm túc và phải được trình bày theo cách phù hợp.

Đội ngũ viết bài là nhóm người có độ tuổi, nền tảng và tham vọng khác nhau. Một số phóng viên lớn tuổi có vị trí giám sát, nhưng đa số người làm việc ở đây khá trẻ và rất nhiều người mới tốt nghiệp đại học.

Họ thông minh và thân thiết, cực kỳ tôn trọng cơ quan và rất vui vẻ chấp nhận vị trí của mình trong dây chuyền tổ chức này.

"Các phóng viên không phàn nàn gì mà cứ thế ngày ngày lâm vào vòng luẩn quẩn viết hàng loạt bài kiểu như ‘Việt Nam thúc đẩy quan hệ hữu nghị lâu dài với Seychelles’."-Robert Banks

Những phóng viên ở Việt Nam bắt đầu sự nghiệp bằng cách thách thức hiện trạng thì không đạt được kết quả tốt. Nhưng nếu nhất nhất nghe lời, bảo sao làm vậy thì đảm bảo họ sẽ hưởng lương khá thoải mái, có công việc tốt và nhiều cơ hội thăng tiến, thế nên họ muốn dĩ hòa vi quý.

Kết quả là báo chí điều tra trở thành của hiếm và các bài báo thì được khuyến khích sao cho viết càng khô khốc càng tốt.

Các phóng viên không phàn nàn gì mà cứ thế ngày ngày lâm vào vòng luẩn quẩn viết hàng loạt bài kiểu như ‘Việt Nam thúc đẩy quan hệ hữu nghị lâu dài với Cộng hòa Seychelles’.

Mỗi ngày Việt Nam News có một bài điểm nhấn trên trang nhất về phát triển mới vượt bậc của đất nước, hòa nhập nhanh chóng với thế giới và những bước tiến lớn trong phúc lợi xã hội.

Bên trong là các bài báo về di sản văn hóa truyền thống như hát dân ca, nghệ thuật cồng chiêng, được nhắc đi nhắc lại.

Bài phân tích tin quốc tế thường chỉ có độ dài nhất định về một sự kiện nào đó đã diễn ra, theo kiểu mà một số độc giả thường xuyên vẫn gọi đùa là khẩu hiệu ‘ngày hôm qua là tin tức của ngày hôm nay’.

Chủ nghĩa bảo thủ này đã ăn sâu vào mọi ngóc ngách của phòng tin, từ người chụp ảnh tới hiệu đính viên người nước ngoài được thuê để soát lỗi ấn bản - những người mà ý kiến của họ không được màng đến và cũng không được mong đợi trừ khi có liên quan đến ngữ pháp và cú pháp.

Tuy nhiên, với một số chủ đề nhạy cảm, phóng viên đôi khi cũng bày tỏ ý kiến của mình. Cuộc khủng hoảng gần đây trên Biển Đông tạo ra lòng giận dữ chân thật và tình cảm yêu nước đầy trách nhiệm để cho thấy vị trí cứng rắn của Việt Nam.

 
Sự kiện giàn khoan là dịp để nhà báo Việt Nam bày tỏ ý kiến cá nhân

Suốt nhiều năm, nhà báo ở Việt Nam đã nản lòng trong việc nỗ lực viết về hành động của Trung Quốc trên vùng biển tranh chấp, với các biên tập viên kiểm duyệt thông tin hay lấp liếm câu chuyện bằng hàng loạt các tin tức khác.

Thêm vào nỗi niềm này là truyền thông Trung Quốc cũng thường xuyên tấn công Việt Nam và cả người Việt.

Thế nên đây là sự kiện giải vây cho rất nhiều người khi họ được phép bày tỏ quan điểm chống Tàu trong thời gian xảy ra tranh chấp giàn khoan.

Tình cảm này vẫn đọng lại trong phòng tin, thậm chí cả cho tới bây giờ, khi quan hệ ngoại giao đã dịu lại.

Tương tự, phóng viên trên khắp Việt Nam thương tiếc cái chết của vị tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp – người chỉ huy chiến thắng trước quân Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ - và thấy vinh dự khi được tưởng niệm ông.

Nhưng nhiều người cũng thấy khó chịu khi tin tức bị đình lại, và tin này lại do chính truyền thông quốc tế đưa ra trước tiên trong lúc các lãnh đạo Việt Nam tranh cãi về cách phản ứng.

Người dân có thể suy ra từ sau những dòng chữ rằng các bài báo so sánh vị đại tướng với lãnh đạo cấp cao hiện nay thường không được nhà cầm quyền thích thú lắm.

Bên cạnh những vấn đề này, chủ đề bàn luận trong phòng tin thường xoay quanh các vấn đề như kỳ nghỉ sắp tới, cái gì đang mốt trên Facebook và kế hoạch liên hoan văn phòng. Thực tế đang là vậy và chắc sẽ còn tồn tại lâu ở Việt Nam.

Hai mươi năm tới, những nhân viên này có lẽ vẫn làm công việc đó, những ý nghĩ riêng thì giấu cho riêng mình trong lúc ngoan ngoãn tường thuật về quyết định sáng suốt mới nhất của chính phủ Việt Nam.

***Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả từng làm việc ở Việt Nam.

Lối rẽ và đại lộ ánh sáng

Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng-Gửi cho BBC từ Việt Nam
10:39 GMT - thứ hai, 8 tháng 9, 2014

 
Việt Nam muốn hội nhập với quốc tế

Trên mỗi chặng đường phát triển có nhiều lối rẽ nhưng đại lộ đi về phía ánh sáng chỉ có một.

Định đề này có thể giúp đánh giá khách quan các động thái ngoại giao trong nước từ ngày giàn khoan HD981 rút khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Đa phần giới quan sát hiện đang tập trung giải mã các hoạt động ngoại giao quan trọng gần đây của Việt Nam. Đó là chuyến công du có phần được coi là “pha đóng thế bí hiểm” của Bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị sang Mỹ (21-27/7). Sau nữa là chuyến thăm không kém phần bất ngờ của Đặc sứ Tổng Bí thư Lê Hồng Anh hai ngày tới Bắc Kinh (26-27/8).

Những đón đợi trước mắt

Hẳn nhiên là Washington cảm nhận ngay tức khắc sức nặng của lời cám ơn lẫn các thông điệp từ ông Phạm Quang Nghị so với những điều (được giả sử cho là) từ Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Phạm Bình Minh.

Còn thỏa thuận Trung-Việt 3 điểm tuy không mới nhưng các nhà phân tích vẫn cố “truy lùng” giữa các con chữ trong mỗi bản thông cáo để tìm ra sự khác biệt giữa Hà Nội và Bắc Kinh trong cách công bố kết quả.

Không lạ là người Mỹ đã đáp lại mau lẹ chuyến thăm của ông Nghị bằng chuyến công cán mang nhiều hứa hẹn của TNS McCain đến Hà Nội (8/8). Còn người Tàu, chẳng có ai ngạc nhiên là họ vẫn tiếp tục xây dựng các đảo đã từng chiếm đóng, tổ chức các tour du lịch ra Hoàng Sa, Trường Sa, xây thêm các trạm hải đăng, xua hàng vạn tàu cá xuống Biển Đông. Trí nhớ của họ về thỏa thuận 3 điểm tỏ ra rất ngắn (Ngày 4/9 Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phải họp báo phản đối).

Ảnh chụp vệ tinh cho thấy 6 rạn san hô ở quần đảo Trường Sa đã được biến thành các đảo nhỏ nhờ việc Trung Quốc “giương Đông kích Tây”, tranh thủ thời gian dư luận mải chú ý vào giàn khoan để cải tạo hạ tầng suốt mấy tháng qua. Trung Quốc cũng đang ngày đêm biến đảo Gạc Ma của Việt Nam thành căn cứ quân sự.
Trong khi đó, dư luận đón đợi nhiều từ chuyến thăm Mỹ của Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị. Thước đo kết quả trước mắt vẫn là hàng loạt nghị trình đang được khai triển trong quan hệ Mỹ-Việt.

Vòng đàm phán 10 ngày về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương đang diễn ra tại Hà Nội nếu xuôi chèo mát mái, liệu con đường của Việt Nam đến với TPP sẽ được rút ngắn? Lệnh bán vũ khí sát thương cho Việt Nam sẽ được bãi bỏ (từng phần) cuối năm nay hay đầu sang năm? Và những nội dung nào sẽ được ưu tiên trong 16 khuyến nghị của CSIS, một think-tank nổi tiếng đối với chính quyền Obama để sang năm Việt Nam và Hoa Kỳ có thể đón mừng nhiều sự kiện trọng đại khác?
Còn những nỗi lo “hậu giàn khoan” vẫn hiển hiện. Nhân Quốc khánh Việt Nam,

Trung Quốc đã gửi sang những thông điệp không thể rõ ràng hơn. Ba ngày liên tục ba thông điệp. Thứ nhất, ngày 2/9 báo Đảng của Trung Quốc đe nẹt: “Việt Nam không được bắt cá hai tay!”. Thông điệp thứ hai, ngày 3/9 vẫn tờ báo Đảng ấy:“Đừng để bang giao Trung-Việt trở thành nạn nhân cho các cuộc tranh chấp lãnh thổ!” (Ý bài này khuyên nên dâng đất, hiến đảo để giữ đại cục?). Đến ngày 4/9, tờ báo này chạy tít lớn: “Việt Nam nên từ bỏ thái độ cơ hội!”

Thiết tưởng khỏi phải bình luận gì thêm về thỏa thuận 3 điểm.

Các giá trị phổ quát

Tết Độc Lập năm nay vẫn chưa thấy truyền thông nhắc lại diễn văn nổi tiếng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày 2/9/1945 đánh giá Hoa Kỳ từng đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Nhưng khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tuyên bố ngày 8/8/2014 tại Hà Nội rằng “Đảng và Nhà nước Việt Nam coi Hoa Kỳ là một đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam” thì xu thế nâng cấp “đối tác toàn diện” Việt-Mỹ lên tầm “đối tác chiến lược” thêm nhiều triển vọng.

Bởi vì, Tổng thống Barack Obama và Tổng trưởng Quốc phòng Chuck Hagel có nói với Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trương Liên quân Mỹ Martin Dempsey trước khi ông tướng bốn sao sang Hà Nội ngày 13/8/2014: “Nơi ông cần đến bây giờ là Việt Nam”.Tuyên bố “đúp” này đã chuyển tải một thông điệp có thể kiểm chứng đối với Hà Nội trong chiến lược “xoay trục” sang châu Á của Washington.

Còn khi Chủ tịch Tập Cận Bình nói với Đặc sứ Lê Hồng Anh tại Bắc Kinh ngày 27/8 “đã là láng giềng thì không thể dọn đi nơi khác…”, chúng ta nghe như tiếng vọng ngàn xưa của một “lời nguyền địa-chính trị”. Tuy nhiên, thế “cực chẳng đã” ấy giờ đây không còn là thế “trứng chọi đá” như ngày nào…

Nhưng nếu rồi vẫn cứ “lối cũ ta về” thì rõ ràng là nguy hiểm. Không một thế lực nào có thể bắt một dân tộc vốn đã mang trong mình “gene” trội “không có gì quý hơn độc lập tự do” lại phải đi vào lối rẽ của vong thân và phụ thuộc.

Điều mà Trung Quốc bận tâm hiện nay là việc liệu mối quan hệ “đối tác toàn diện” Việt-Mỹ được cải thiện có thể cản trở Bắc Kinh bành trướng sức mạnh quân sự đến mức nào. Nếu Mỹ tăng cường vị thế ở Việt Nam, kết hợp với lực lượng sẵn có của Hoa Kỳ tại Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và Philippines thì có thể tạo ra các tam-tứ giác an ninh để “cân bằng và đối trọng” với những lấn lướt của Trung Quốc trên cả đất liền lẫn Biển Đông Nam Á (tức Biển Đông) và các biển khác ở châu Á.

"Hãy bước tiếp trên con đường dân chủ hóa: nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường, xã hội công dân. Đó chính là con đường thuận thiên, hợp với lòng người và xu thế thời đại."

Bắc Kinh có thể đẩy lùi mọi khả năng như vậy bằng cách hứa hẹn/hay đe dọa song phương đồng thời sẽ đưa ra con mồi đàm phán đa phương về COC bị chính họ trì hoãn hơn chục năm trời. Việt Nam và ASEAN đối mặt như thế nào với "cái gậy" lẫn những “củ cà rốt” song/đa phương ấy sẽ phản ánh quyết tâm chuyển dịch ra phía ánh sáng trên cuộc hành trình của Việt Nam và các nước trong khu vực.

Tiến về phía ánh sáng hay lạc lối vào tăm tối là thế lưỡng nan không chỉ của riêng Việt Nam. Những vạc dầu đang sôi ở cả Âu lẫn Á thách thức sự lựa chọn thông minh của mọi quốc gia, lớn và nhỏ.

Tại Hội nghị lần đầu tiên về ngoại giao đa phương ở Hà Nội, ngày 12/8, người đứng đầu chính phủ Việt Nam khẳng định rõ cục diện đa cực cùng với xu thế dân chủ hóa phát triển mạnh mẽ trong quan hệ quốc tế. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cam kết Việt Nam sẽ phấn đấu hết sức mình để tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả.

Nhưng muốn đạt được điều đó, phải dứt khoát từ bỏ các lối rẽ có thể dẫn đến bị nô dịch về tư tưởng, trở thành độc tài và mang tính tự hủy diệt. Hãy bước tiếp trên con đường dân chủ hóa: nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường, xã hội công dân. Đó chính là con đường thuận thiên, hợp với lòng người và xu thế thời đại.

Thời đại và thế giới đã đổi thay. Việt Nam không thể không thay đổi, nếu muốn từ các lối rẽ dễ gây hiểu nhầm cho chính cả đối tác lẫn đối tượng chuyển dịch dần ra đại lộ đi về phía ánh sáng, hướng tới các giá trị phổ quát mà nhân loại đã tích lũy được bao đời nay.

***Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, nguyên đại sứ Việt Nam tại Hà Lan.

VN 'cần cảnh giác TQ'

BBC-13:17 GMT - thứ hai, 8 tháng 9, 2014
Tướng Vĩnh cho rằng Việt Nam làm hòa với Trung Quốc 'trong thế yếu'
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, vừa có bài viết đăng trên mạng internet, cảnh báo giới lãnh đạo Việt Nam không nên lơ là cảnh giác trước Trung Quốc khi mà nước này đang tiến hành xây dựng trên bãi Gạc Ma trên Biển Đông.
Ông cũng nói với BBC rằng giữa lãnh đạo và người dân ‘có ý kiến khác nhau’ về cách đối phó với Trung Quốc.
Tướng Vĩnh đã đưa ra ý kiến trên trong bài viết đăng trên trang Bauxite Việt Nam hôm thứ Hai ngày 8/9 với tiêu đề: ‘Trường Sa của chúng ta sẽ bị uy hiếp’.
‘Có tội với Tổ quốc’
“Nếu giới cầm quyền nước ta không sớm tố cáo, đấu tranh, lại bưng bít thông tin, không để cho nhân dân đấu tranh... để đến khi căn cứ quân sự của Trung Quốc hoàn thành sẽ trở thành sự uy hiếp nặng nề đối với quần đảo Trường Sa của chúng ta,” ông viết
“Không hành động, không chuẩn bị là có tội với Tổ quốc.”
Nói chuyện với BBC, Tướng Vĩnh nói: "Các lãnh đạo cứ hòa giải với Trung Quốc nên không quan tâm đến việc họ xây dựng căn cứ trên quần đảo Trường Sa.
"Bao giờ tôi cũng muốn hòa bình ổn định (với Trung Quốc). Nhưng Trung Quốc có dừng lại đâu? Họ đang xây dựng bãi Gạc Ma thành căn cứ quân sự."Thiếu tướng NguyễnTrọng Vĩnh, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc
“Nhưng chúng tôi thì cảnh giác. Phải đấu tranh, phải tố cáo với thế giới,” ông nói thêm.
Khi được hỏi về việc Việt Nam mới đây cử ông Lê Hồng Anh sang Bắc Kinh, ông Vĩnh trả lời:
“Bao giờ tôi cũng muốn hòa bình ổn định với Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc có dừng lại đâu? Họ đang xây dựng bãi Gạc Ma thành căn cứ quân sự.
Vị tướng cao tuổi này cũng thừa nhận rằng làm căng với Trung Quốc là không có lợi với Việt Nam nhưng nói thêm rằng Hà Nội ‘phải làm bạn với nhiều nước lên chứ không phải chỉ mật thiết với một mình Bắc Kinh’.
Ông chỉ trích các nhà lãnh đạo Việt Nam ‘vẫn cứ sợ và vẫn cứ tin Trung Quốc’ và ‘không rút ra được bài học’ từ sau vụ việc Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 ra vùng biển mà Việt Nam tuyên bố có chủ quyền.
“Giữ hữu nghị với nhân dân Trung Quốc thì tôi đồng ý, nhưng lãnh đạo Trung Quốc thì không bao giờ hữu nghị với chúng tôi,” ông nói.
“Phải vừa hợp tác vừa đấu tranh. Cái gì vi phạm lợi ích quốc gia thì đấu tranh,” ông nói thêm.

Thu chi của Đảng CS là 'tuyệt mật'

BBC-15:03 GMT - thứ hai, 8 tháng 9, 2014

Tài liệu về dự trữ ngân sách và các khoản thu, chi đặc biệt của Đảng Cộng sản Việt Nam được chính thức nhắc lại là thể loại văn bản thuộc hàng 'tuyệt mật', hoặc 'tối mật', theo một tờ báo từ TP HCM.
Trang 'Một Thế Giới' vừa công bố danh sách được Thủ tướng Chính phủ tại Việt Nam quy định về nhiều tài liệu liên quan đến hoạt động của Ban Kinh tế Trung ương Đảng.
Căn cứ vào quyết định do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký hôm 4/9 vừa qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 10 năm nay, các tài liệu thực hiện nhiệm vụ quốc tế về công tác tài chính đối với các Đảng, các tổ chức chính trị nước ngoài có quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam cũng thuộc diện bí mật.
Trang web 'BấmMột Thế Giới' cũng chụp lại hình họ nói là quyết định vừa ký của Thủ tướng Việt Nam.
Ngoài ra, hạng mục 'tuyệt mật' này còn gồm cả các tài liệu, sổ công tác, thiết bị lưu giữ thông tin (gồm USB, thẻ nhớ, ổ cứng) chứa thông tin có nội dung thuộc độ Tuyệt mật của cơ quan Ban Kinh tế Trung ương.

Bí mật hay công khai?

Trong phần dẫn nhập vào quyết định mới nhất của chính phủ Việt Nam có nhắc đến cơ sở pháp lý của văn bản là 'Luật Tổ chức Chính phủ 25/12/2000' và Pháp Lệnh Bảo vệ Bí mật Nhà nước 28/12/2000' và một số văn bản pháp quy khác.

Tuy nhiên, quyết định của Việt Nam chỉ nhấn mạnh đến nhu cầu bảo mật của nhà nước và cho hay việc ra quyết định này đến từ đề nghị của Trưởng Ban Kinh tế Trung ương và Bộ trưởng Bộ Công an.
Được biết hồi đầu năm nay, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc, ông Lý Khắc Cường cũng ký một quyết định tương tự.
Nhưng theo tờ BấmChina Daily hồi tháng 2/2014, ông Lý nói nhu cầu của việc ra quy định mới về bảo mật là "nhằm tăng cường tính minh bạch của chính phủ".
Trung Quốc muốn chấn chỉnh việc áp dụng khá thoải mái dấu 'mật' hoặc xếp hạng 'bí mật quốc gia' cho rất nhiều thông tin các cơ quan nhà nước nắm giữ.
Các cơ quan nhà nước được chính phủ yêu cầu những gì cần công bố cho dư luận biết thì không được dán nhãn 'bí mật quốc gia'.
Ngoài ra họ cũng quy định rõ thời hiệu áp dụng chế độ bảo mật cho văn bản và chia cả thành các cấp độ bảo mật khác nhau.
Văn bản này của Trung Quốc có hiệu lực từ 1/3/2014.

Trò chơi đu dây cơ hội


 09-05-2014 - 01:41 — ledienduc


Sau vụ công nhân bạo loạn, đập phá các nhà máy trong khu công nghiệp Bình Dương hồi tháng 5, Uỷ viên Hội đồng Nhà nước Trung Quốc Dương Khiết Trì đã qua Hà Nội chỉ bảo cho "những đứa con hoang ngỗ ngược" Hà Nội biết vị trí của mình ở đâu.

Tiếp theo, chuyến công du Bắc Kinh cuối tháng 8 của đặc phái viên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) Nguyễn Phú Trọng, ông Lê Hồng Anh, Thường trực Ban Bí thư, dường như khẳng định lại lập trường nhất quan của ĐCSVN là "khôi phục" lại mối quan hệ hữu nghị và thân thiện với Trung Quốc.

Trong bối cảnh ấy, "Global Times" một tờ báo được quản lý bởi "Nhân dân Nhật báo", cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vào đầu tháng 9 đăng liên tiêp ba bài "Hanoi playing risky game between US, China" (2/9), "Beijing-Hanoi relationship should not fall victim to territorial row" (3/9) và "Hanoi should give up on opportunism" (4/9).
Các tác giả của cả ba bài báo đều phân tích, cảnh báo, đe đoạ và khuyến dụ Việt Nam nên như thế nào trong quan hệ với Trung Quốc hiện nay.

Trong bài "Hanoi should give up on opportunism", tác giả Ke Xiaozhai viết rằng, Việt Nam có hàng nghìn năm kinh nghiệm và những bài ​​học kinh nghiệm trong việc đối phó với Trung Quốc. Hai nuớc dù có đánh nhau, cuối cùng Việt Nam cũng luôn luôn chìa ra cành ô liu làm hòa với Trung Quốc.

"Trong bối cảnh hiện tại, mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc ổn định là phù hợp với lợi ích của Việt Nam, bởi vì nó không làm mất đi cơ hội chiến lược tách Việt Nam ra khỏi thời kỳ thịnh vượng của Trung Quốc.

"Nếu Việt Nam không thay đổi thái độ của mình, hai bên sẽ phải tham gia vào các cuộc xung đột khi Trung Quốc tăng cường các nỗ lực để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trong khu vực biển Đông".

"Hà Nội phải từ bỏ cơ hội và đi trở lại các cuộc đàm phán song phương. Lịch sử đã chứng minh rằng những lợi ích Việt Nam có thể rút ra từ mối quan hệ đối ứng và thân thiện với Trung Quốc quan trọng hơn nhiều so với lợi ích nhỏ nó có thể có được bằng cách kéo một lực lượng bên ngoài can thiệp vào mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc" - Tờ báo viết.

Thời phong kiến

Tờ "Global Times" nói không sai, nhưng không nói đầy đủ.

Là một nước láng giềng nhỏ bé, chịu ảnnh hưởng sâu sắc từ việc di dân, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn là một quốc gia tự xem mình lệ thuộc và nằm trong vùng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Chúng ta hãy điểm qua chiều dài lịch sử của các triều đại phong kiến.

Trừ Ngô Quyền, người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng nổi tiếng năm 938, chính thức kết thúc hơn một thiên niên kỉ Bắc thuộc, mở ra một thời kỳ độc lập lâu dài của Việt Nam, Đinh Tiên Hoàng và các triều đại tiếp theo đều có chính sách đối ngoại với Trung Quốc giống nhau.

Đinh Tiên Hoàng, tức Đinh Bộ Lĩnh, lên ngôi Hoàng đế năm 968. Năm 972, ông đã sai con là Đinh Liễn sang cống nhà Tống Trung Quốc. Vua nhà Tống sai sứ sang phong cho Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương.

Lê Đại Hành (Lê Hoàn), vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ 980 đến 1005, đã có những đóng góp lớn trong cuộc chống quân Tống phương Bắc. Dù là ngươi rất cương trực, khảng khái nhưng vẫn phải chịu phong chỉ với tước vị Giao Chỉ quận vương, Nam Bình vương bởi nhà Tống.

Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn), vị Hoàng đế sáng lập nhà Lý, trị vì từ năm 1009 đến năm 1028. Khi lên ngôi, Lý Thái Tổ đã sai sứ sang Trung Quốc cầu phong. Hoàng đế nhà Tống phong cho làm Giao Chỉ quận vương, sau lại phong làm Nam Bình vương vào năm 1017 (thời Tống Chân Tông).

Lê Thái Tổ (Lê Lợi ), là người lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn đánh thắng giặc Minh, vị Hoàng đế đầu tiên của triều Hậu Lê. Lên ngôi Hoàng đế năm 1428, Lê Thái Tổ sai sứ sang Trung Quốc cầu phong, thoạt đầu nhà Minh không chịu, bắt phải tìm con cháu nhà Trần lập làm vua. Vua Lê Thái Tổ sai các viên quan phụ lão trong nước làm tờ khai rằng con cháu vua Trần thật sự không còn ai nữa, và xin phong cho Lê Lợi làm vua nước Nam. Vua nhà Minh thấy vậy mới thuận và phong vương cho ông.

Nguyễn Huệ (Quang Trung Hoàng đế), người đã đánh tan tác 29 vạn quân Thanh, nhanh chóng bình thường hóa bang giao với phương Bắc. Vua Càn Long nhà Thanh đã cho sứ giả sang Đại Việt phong vương cho Nguyễn Huệ; rồi hoàng đế Quang Trung (giả) đã sang triều kiến và dự lễ mừng thọ 80 tuổi của Càn Long.

Nguyễn Ánh (Gia Long), người đánh bại nhà Tây Sơn, thống nhất sơn hà, lên ngôi hoàng đế năm 1802. Sau khi lên ngôi, Gia Long cho một đoàn sứ giả đem đồ cống sang Quảng Đông cầu phong triều đình Trung quốc.Vua nhà Thanh cho Tổng đốc Quảng Tây là Tề Bố Xâm sang làm lễ tấn phong cho Gia Long là Việt Nam quốc vương, ấn định thể lệ tiến cống hai năm một lần và cứ bốn năm một lần Việt Nam sẽ phái sứ bộ sang làm lễ triều kính.

Thời đại mới

Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai thế giới bước qua một trật tự mới. Chấm dứt giai đoạn nước lớn, mạnh hơn mang quân đi xâm lựoc nước nhỏ.

Ngày 24 tháng 10 năm 1945 Liên Hiệp Quốc ra đời với mục đích duy trì hòa bình và an ninh trên thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc. Sự tàn bạo của Thế chiến thứ hai và nạn diệt chủng dẫn tới một kết luận chung rằng Liên Hiệp Quốc phải hoạt động để ngăn chặn bất kỳ một thảm kịch nào như vậy trong tương lai.

Hiến chương Liên Hiệp Quốc bắt buộc tất cả các quốc gia thành viên phải khuyến khích "sự tôn trọng toàn diện, và sự tuân thủ, nhân quyền" và tiến hành "các hành động chung hay riêng rẽ" cho mục tiêu đó.

Lời tựa của bản Hiến chương đã nêu rõ mục đích của tổ chức này: "Chúng tôi, những dân tộc của Liên Hợp Quốc, quyết tâm cứu những thế hệ mai sau khỏi thảm họa chiến tranh".

Mặc dù trong thực tế vẫn xảy ra những cuộc chiến xâm lược cục bộ, nhưng quốc gia xâm lược bị cộng đồng quốc tế chỉ trích, tẩy chay và trừng phạt. Cuộc chiến tại Cremea và miền Đông Ukraina do nước Nga hỗ trợ phiến quân tiến hành là một ví dụ gần và rõ nhất.

Trung Quốc không thể như thời phong kiến ỉ thế mạnh cứ thế xua quân qua xâm lược Việt Nam. Dù họ đã từng làm như thế, trong năm 1974 xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, năm 1979 tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc và năm 1988 đánh chiếm một phần đảo Trường Sa. Tuy nhiên tất cả các cuộc chiến nêu trên đều mang tính cục bộ và có giới hạn.

Trò đu dây

Là một trong 193 thành viên của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam có toàn quyền tự quyết và chọn lựa đồng minh để phòng thủ chiến lược.

Giống như các nước Đông Âu Ba Lan, CH Czech, Slovakia, Bulgaria, Hungary, hay đặc biệt ba nước cộng hoà Baltic Estonia, Lithuania và Latvia. Ba quốc gia nhỏ bé này đã từng bị Stalin sát nhập vào Liên Xô và mãi tới năm 1991 sau khi Liên Xô sụp đổ mới giành lại độc lập. Năm 2004 cả ba nước gia nhập Liên minh Quân sự Bắc Đại Tây Dương NATO. Họ vẫn giữ hiếu hoà và thân thiện với nước Nga, vào NATO không phải để khiêu khích nước Nga mà để bảo vệ mình. Trước sự lo ngại về sự bành trướng của láng giềng Nga khổng lồ theo cái cách mà họ đang thực hiện ở Ukraina, trong cuộc họp thượng đỉnh NATO tháng 9 năm 2014 tại Wales (Lithuania), Tổng thống Barack Obama đã khẳng định "bảo vệ Vilnius hay Riga cũng giống như bảo vệ Paris hay London".

Thế nhưng ĐCSVN đã không chọn sách lược tìm đồng minh chiến lược để giữ nước. Hội nghị Thành Đô tháng 9 năm 1990 là con đường giống như Lê Chiếu Thống cầu nhà Thanh.

Nơi sinh ra chế độ cộng sản là châu Âu bị sụp đổ, học thuyết Mác-Lênin bị vứt bỏ, để duy trì sự độc quyền cai trị, ĐCSVN không còn nơi nào để bám víu ngoài Trung Quốc. Nhưng trong mối quan hệ này, biết rõ mục đích của ĐCSVN, Trung Quốc thường xuyên lấn lướt và hiếp đáp. Trước sự nhân nhượng của ĐCSVN, Trung Quốc mở cuộc xâm lược mềm toàn diện, nắm hầu hết các ngành công nghiệp chủ chốt của Việt Nam, đẩy nền kinh tế Việt Nam vào sự lệ thuộc nghiêm trọng.

Chinh vì thế, tác giả Li Li trong bài "Beijing-Hanoi relationship should not fall victim to territorial row" viết rằng, "Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong chín năm liên tiếp. Khá an toàn để nói rằng Việt Nam không thể phát triển mà không cần Trung Quốc, cho bây giờ và trong nhiều năm tới".

Trong giữa tháng Tám, Tham mưu trưởng liên quân Mỹ Martin Dempsey thăm Việt Nam mang ý nghĩa tượng trưng cho sự hợp tác quốc phòng và an ninh ngày càng tăng, bao gồm khả năng Washington nới lỏng lệnh trừng phạt vào xuất khẩu vũ khí cho Việt Nam.Để duy trì quyền lợi của nước Mỹ trên biển Đông nói riêng và châu Á nói chung, Mỹ buộc phải quan hệ với nhà cầm quyền Việt Nam, nhưng vẫn giữ một khoảng cách thận trọng, khi Việt Nam là nhà nước độc tài cộng sản.

Sự bất đồng quan điểm về quan hệ với Trung Quốc trong nội bộ ĐCSVN, nhất là trong hàng ngũ sĩ quan quân đội và ý muốn "thoát Trung" của xã hội, không đủ thức tỉnh Hà Nội. Quyền lực và lợi ích kinh tế riêng quá lớn đã gắn chặt đa số lãnh đạo ĐCSVN với Bắc Kinh. Họ vẫn đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ, nhưng đây là một trò chơi cơ hội và nguy hiểm, không bao giờ giải quyết được vấn đề bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trước âm mưu thôn tính hoàn toàn biển Đông của Trung Quốc.
© Lê Diễn Đức

Khả năng sản xuất của Việt Nam?

lantern
Lồng đèn biển đảo đánh bại lồng đèn Trung Quốc-Courtesy of vnmoney.nld.vn

Gia Minh -RFA 2014-09-07

Từ chiếc lồng đèn: hàng Tàu vẫn sẵn

Facebooker Liberty Mê Linh vào ngày 5 tháng 9 viết ‘Dạo một vòng Hàng Mã sắm đồ chơi tết Trung Thu cho các cháu, thất vọng toàn diện. Hàng Tàu tràn từ trong cửa hàng ra đến vỉa hè, mẫu mã đa dạng bắt mắt, giá cả phải chăng. Khó khăn lắm mới tìm được vài đồ chơi Việt thì mẫu mã thô kệch, nghèo nàn nằm co ro buồn thiu trong gian hàng…’
Facebooker này chụp hình một cái đèn kéo quân Việt Nam và cho biết giá đến 180 ngàn đồng Việt Nam.
Điều mà facebooker Liberty Mê Linh nêu ra tại Hà Nội, cũng không mấy khác ở Sài Gòn theo như lời của một bà mẹ trẻ có hai con đang độ tuổi mẫu giáo và cấp 1 cho biết về việc sắm lồng đèn Trung Thu năm nay cho con như sau:
Hôm đầu tháng có dẫn ra ngoài đường Nguyễn Thái Học mua lồng đèn. Mấy đứa nhỏ thích lồng đèn chớp tắt của Trung Quốc thôi. Lồng đèn của mỉnh ở đây thắp đèn cầy nên cũng sợ nguy hiểm. Có lồng đèn của Việt Nam là lồng đèn giấy gắn đèn LED vô.

Nỗ lực: Lồng đèn "biển đảo"
chinese-lanterns
Lồng đèn Trung Quốc vẫn sẵn trên thị trường- Courtesy of vietbao,vn

Trong khi đó từ hồi trung tuần tháng 7 truyền thông trong nước loan tin về một doanh nghiệp Việt Nam thành công trong việc sản xuất ra những chiếc lồng đèn Trung Thu với chủ đề biển đảo và theo họ đang áp đảo, đánh bại lồng đèn Trung Quốc.
Doanh nghiệp được nhắc đến là Công ty Cổ Phần Bao bì Kỹ thuật Mới, trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Hữu Khánh, tổng giám đốc công ty cho biết quá trình nỗ lực để có thể giành lại phần nào thị phần sản phẩm lồng đèn trong nước như sau:
Phải nói đây là những quyết tâm rất lớn của chúng tôi trong những năm qua. Thực không có gì đau khổ hơn khi thấy đồ chơi Trung Quốc ngày càng xuất hiện nhiều khiến cho những ngành sản xuất truyền thống của mình bị mai một, bị lụi tàn đi. Đó là điều rất buồn.
Mấy năm nay chúng tôi liên tục đẩy mạnh hơn nữa sản phẩm của mình ra. Năm trước chúng tôi chiếm được khoảng 50% thị phần, đẩy được đáng kể hàng Trung Quốc. Năm nay (chúng tôi) đầu tư mạnh. Tất cả những cán đèn, nhạc Việt và nhựa đều là chính phẩm, có chất lượng, không độc hại cho trẻ con. Chúng tôi tung ra và thấy dư luận xã hội đánh giá cao.
Đến giờ này mình phấn khởi nói được rằng đã đẩy được 90% đồ chơi Trung Quốc ra khỏi thị trường Việt Nam. Đó là điều hết sức mừng và thắng lợi.
Những điều mà Công ty Cổ phần Bao bì Kỵ Thuật Mới đạt được như vừa trình bày, theo ông Nguyễn Hữu Khánh, là nhờ vào một số yếu tố như sau:
Trong vấn đề này cũng nhờ sự phối hợp của nhau ở trong nước ‘thiên thời, địa lợi, nhân hòa’. Mấy năm nay Nhà nước có khuyến khích người Việt Nam dùng hàng Việt Nam. Đó là yếu tố số một; năm
lantern-
Lồng đèn biển đảo- Courtesy of motthegioi.com
nay Trung Quốc lại đưa giàn khoan vào lãnh hải của chúng ta.
Qua hai sự kiện đó, tôi đưa ra một số sản phẩm nhằm giáo dục con em tình yêu quê hương, đất nước, rồi tình yêu biển đảo. Chúng tôi có làm những lồng đèn trên đó thể hiện những cảnh như tàu cá của ngư dân Việt Nam, tàu cảnh sát biển Việt Nam, rồi những hình ảnh quen thuộc như cờ tổ quốc hay bồ câu bay, cá bơi lội trên mặt biển- những hình ảnh vui tươi như thế nhằm giáo dục các em thế nào là tình yêu quê hương đất nước, để các em vừa chơi, vừa học. Đây là điều mà chúng tôi mạnh dạn đưa vào và gặt hái được kết quả.

Khó khăn đầu tư

Khác với thuận tiện mà Công ty Cổ Phần Kỹ Thuật Mới có được như ông Nguyễn Hữu Khánh vừa trình bày, một doanh nghiệp tư nhân trước đây chuyên tận dụng bã mía để làm ra sản phẩm giả gỗ và trong thời gian qua chuyển sang nghiên cứu phân bón lại tỏ ra bi quan khi sản phẩm được nghiên cứu ra không thể nào được đưa vào sản xuất. Người nghiên cứu và thử nghiệm cho biết tình hình khó khăn ấy:
Không có thị trường ra mặc dù phân bón của mình tốt. Bởi cạnh tranh mà mình chưa có giấy tờ nên những nhà phân bón cho mình làm phân bón giả và đe bắt mình. Hiện nay phân bón là ngành độc quyền nên khi anh làm ra phân bón tốt hơn ( mà rõ ràng tốt hơn) nên họ đe bắt.
Mình cũng không phải là nhà khoa học, nên khi đưa ra họ cũng không cho mình làm. Mà chỉ toàn gặp trường hợp những người rình rình thấy cái hay đi theo … Mình cũng không có bản quyền, mà bản quyền đưa ra thì mất toi chứ có gì nữa đâu!
Một trở ngại khác nữa theo ông trình bày, là nguồn vốn vay khó có thể đến được với những đơn vị nhỏ như của ông, dù rằng theo ông khả năng thu lời rất cao:
Tất nhiên cũng có ưu đãi, nhưng thực sự để có tiền đến mà làm cũng khó. Không như người ta nói, phải ‘có hội, có thuyền’ với nhau, chứ vay được tiền khó lắm!
Ông đưa ra một so sánh với những đơn vị tại Trung Quốc như sau:
Trung Quốc là công xưởng của thế giới, họ có đầu tư tốt. Người ta có chính sách Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp. Kỹ sư nghiên cứu để làm ra được hàng xuất khẩu ra nước ngoài. Còn ở đây doanh nghiệp của mình không làm được. Chính sách của mình khác. Như tôi làm phân bón cho cây đu đủ, làm rẻ tiền mà người ta có chấp nhận đâu.

Thị trường bỏ ngỏ- chính sách thiếu vắng

Tình trạng hàng Trung Quốc giá rẻ nhưng kém chất lượng và thậm chí độc hại được tuồn sang Việt Nam qua ngã biên giới phía bắc lâu nay được báo chí nêu lên đã nhiều. Tuy nhiên cho đến lúc này biện pháp can thiệp của các cơ quan chức năng Việt Nam vẫn chưa được nêu ra. 
vn-electronics-factory
Một xưởng hàng điện tử của Việt Nam- Courtesy of baocongthuong.vn.com
Trong khi đó hoạt động sản xuất trong nước đối với các ngành công nghiệp như dệt may, da giày… thì chủ yếu là gia công với nguyên phụ liệu được nhập phần lớn từ Trung Quốc về. Các sản phẩm nông nghiệp như gạo, cao su, trái cây của Việt Nam thì lại tiếp tục qua đường tiểu ngạch chuyển sang Trung Quốc.
Báo chí trong nước vào những ngày đầu tháng 9 trích dẫn phát biểu của ông Trương Duy Thanh, phó vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng Bộ Công Thương cho biết tập đoàn Samsung của Hàn Quốc đưa ra danh sách 170 phụ kiện cho phía Việt Nam sản xuất nhằm cung ứng cho dòng sản phẩm GalaxyS4 và Tab của tập đoàn này.
Tuy nhiên cũng chính ông phó vụ trưởng Trương Duy Thanh cho biết sau khi hỏi các hiệp hội, doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp điện tử trong nước với 40-50 năm trong ngành. Tất cả đều trả lời là chưa làm được vì không đáp ứng được công nghệ và giá thành.
Trong danh sách 170 phụ kiện được đề nghị Việt Nam sản xuất có những vật dụng đơn giản như vỏ nhựa, tai nghe, sạc pin , cáp USB…

Đối mặt với thay đổi, Việt Nam cần làm gì?

Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain (giữa) và Thượng nghị sĩ Sheldon Whitehouse (trái) cùng với Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng trong một cuộc họp tại Hà Nội vào ngày 08 Tháng Tám, 2014. Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain (giữa) và Thượng nghị sĩ Sheldon Whitehouse (trái) cùng với Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng trong một cuộc họp tại Hà Nội vào ngày 08 Tháng Tám, 2014. AFP
Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok 2014-09-08
Trung Quốc từ những năm qua tiến hành các biện pháp gây hấn nhằm có thể chiếm cứ các vùng biển quanh Hoa Lục. Điều đó khiến cục diện thế giới biến chuyển do phản ứng không chỉ của các quốc gia liên quan mà cả các nước khác.
Trước biến chuyển bất lợi đối với Việt Nam là quốc gia bị Bắc Kinh o ép nhiều nhất, Hà Nội hiện phải vượt qua những gì để có thể giữ vững được độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Chính sách ngoại giao của Việt Nam
Việt Nam là quốc gia bị tác động trực tiếp bởi những hành động của Trung Quốc tại Biển Đông nhất là trong thời gian gần đây. Sau khi đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào, Trung Quốc cho tàu va đâm tàu kiểm ngư của Việt Nam, và đâm chìm tàu cá của ngư dân Việt Nam. Sau đó tiếp tục bắt bớ, tấn công các tàu cá của ngư dân Việt tại khu vực Hoàng Sa và cả tại Vịnh Bắc Bộ.
Hà Nội lên tiếng phản đối nhưng không có hành động cụ thể nào để có thể bảo vệ ngư dân Việt Nam cũng như buộc Trung Quốc phải tôn trọng chủ quyền lãnh hải của Việt Nam.
Hồi ngày 12 tháng 8 vừa qua, thủ tướng Việt Nam và Bộ Ngoại giao Hà Nội tổ chức hội nghị đối ngoại đa phương lần đầu tiên để tổng kết chính sách ngoại giao trong thời gian qua và đề ra phương hướng cho thời gian tới.
Muốn ‘đung đưa, cân bằng’ mối quan hệ giữa Việt Nam- Trung Quốc và Mỹ. Nếu không thay đổi mà vẫn thụ động chính sách này thì làm sao bảo vệ được mình. Bởi vì chính sách ‘đong đưa’ này đưa đất nước ta vào một cuộc khủng hoảng kép: vừa thất bại về kinh tế, vừa bị TQ đe dọa về chủ quyền
Ông Đặng Xương Hùng
Ông Đặng Xương Hùng, một viên chức ngoại giao Hà Nội tại Thụy Sỹ công khai từ bỏ đảng Cộng sản và xin tỵ nạn tại đó, nói đến đường lối ngoại giao của Hà Nội như sau:
Có mâu thuẫn trong việc tiếp tục hành trình đối tác chiến lược và đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ của mình. Đối với Trung Quốc luôn úp mở, thì Việt Nam luôn giữ chính sách 3 không ‘không tham gia liên minh quân sự với nước nào, không cho nước nào đặt căn cứ quân sự, và không dựa vào nước này để chống nước kia’. Cái 3 không này thì nhằm vào hai nước quan trọng nhất trong mối quan hệ của mình đối với bên ngoài là Trung Quốc và Hoa Kỳ. Tức là cũng muốn ‘đung đưa, cân bằng’ mối quan hệ giữa Việt Nam- Trung Quốc và Mỹ. Nếu không thay đổi mà vẫn thụ động chính sách này thì làm sao bảo vệ được mình. Bởi vì chính sách ‘đong đưa’ này đưa đất nước ta vào một cuộc khủng hoảng kép: vừa thất bại về kinh tế, vừa bị Trung Quốc đe dọa về chủ quyền.
Quan hệ với Hoa Kỳ
Đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 10 quốc gia, trong đó Trung Quốc là đối tác chiến lược toàn diện lại là quốc gia đang xâm phạm chủ quyền biển của Việt Nam.
Trong thời gian qua, Hà Nội có những động thái được cho là xích lại gần với Washington. Thực tế cho thấy trong tình thế hiện nay chỉ có Hoa Kỳ lên tiếng và có thể giúp Việt Nam đối phó với những hành động phi pháp của Trung Quốc tại Biển Đông mà thôi.
Giàn khoan HD của Trung Quốc và các tàu bảo vệ trong vùng biển Việt Nam, ảnh chụp tháng 7 năm 2014.
Giàn khoan HD của Trung Quốc và các tàu bảo vệ trong vùng biển Việt Nam, ảnh chụp tháng 7 năm 2014.
Bàn về mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, ông Đặng Xương Hùng phát biểu:
Thông điệp của ông John McCain là muốn Việt Nam và Mỹ trong thời gian tới có những bước nhảy vọt trong quan hệ giữa hai nước. Điều đó chứng tỏ mối quan tâm của Hoa Kỳ với tình hình khu vực, nhất là khi phải đối phó với sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc
Ông Đặng Xương Hùng
Sau chuyến đi (Mỹ) của ông Nghị, ông John McCain sang Hà Nội ngay. Điều này chứng tỏ Hà Nội và Washington cấp thiết rất cần nhau. Trong thông cáo báo chí của chuyến đi, ông John McCain cũng nói Hoa Kỳ và Việt Nam có một chương trình nghị sự đầy tham vọng trong thời gian tới, đặc biệt trong bối cảnh có những sự kiện xảy ra gần đây ở Biển Đông. Việc ông ấy đưa ra hết những cam kết của Mỹ với tất cả những nội dung mà Việt Nam đang quan tâm, ví dụ Hiệp ước Đối tác Thái Bình Dương tiêu chuẩn cao, công nhận nền kinh tế thị trường, tăng cường hợp tác quân sự, nâng cao khả năng theo dõi lịnh vực hàng hải và bảo vệ chủ quyền, nới lỏng lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương. Tuy nhiên trong kỳ này ông cũng rất khôn khéo không làm lo ngại phía Trung Quốc, đó là cam kết chỉ giúp Việt Nam trong phạm vi phòng thủ thôi.
Thông điệp của ông John McCain là muốn Việt Nam và Mỹ trong thời gian tới có những bước nhảy vọt trong quan hệ giữa hai nước. Điều đó chứng tỏ mối quan tâm của Hoa Kỳ với tình hình khu vực, nhất là khi phải đối phó với sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc.
Thông điệp rõ ràng như vậy.
Ông này cũng chỉ ra những thách thức mà Hà Nội cần phải vượt qua:
Theo tôi thách thức thứ nhất đối với Việt Nam là vẫn lo ngại sự cân bằng giữa Mỹ với Trung Quốc. Theo tôi dưới con mắt của những nhà lãnh đạo Mỹ thì mối quan hệ với Trung Quốc quan trọng hơn nhiều với Việt Nam; và ngược lại phía Trung Quốc cũng suy nghĩ như vậy. Đã nhiều lần chúng ta đã là những con tốt trên bàn cờ quốc tế rồi. Chúng ta phải trả giá rất nhiều từ khi đất nước chia cắt bởi Hiệp định Geneve, rồi Thông cáo Thượng Hải 72 là sự mặc cả giữa Mỹ và Trung Quốc, và nhiều sự kiện khác để chúng ta thấy đất nước mình bị thí trên bàn cờ vì lợi ích quan hệ của họ, vì lợi ích quan hệ của các nước lớn khác. Điều này cần có sự khôn ngoan. Nhất là trong tình hình hiện nay cần phải tăng cường mối quan hệ với Mỹ trên tinh thần xây dựng mối quan hệ lòng tin để làm sao nước Mỹ có thể với tinh thần nhân bản, tinh thần là người dẫn dắt trật tự thế giới, họ sẽ dành cho Việt Nam một sự hợp tác rất hiệu quả và dần dần sức mạnh của đất nước mạnh lên, và lúc đó việc nói chuyện với Trung Quốc không còn là vấn đề của riêng mình nữa mà có thể lúc đó người Mỹ cũng phải bảo vệ mối quan hệ Mỹ- Việt như bảo vệ lợi ích của chính quốc gia mình.
Thách thức thứ hai là những cam kết và sự lệ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc đã quá sâu. Các thỏa thuận cả công khai lẫn bí mật với Trung Quốc đã quá sâu, để cho giới lãnh đạo hiện nay cân nhắc thoát ra khỏi là rất khó khăn. Tôi nghĩ với họ, thách thức này là lớn nhất. Bởi vì họ mất rất nhiều: quyền lợi cá nhân, gia đình, phe nhóm, chỉ có lợi cho dân tộc, cho nhân dân thôi. Tuy nhiên nếu thoát được điều này thì các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng giải thoát được cho bản thân họ và lịch sử sẽ tha thứ.
Thách thức thứ ba là thách thức ý thức hệ vì chỉ có dựa vào ý thức hệ Trung Quốc mới có thể thao túng Việt Nam một cách dễ dàng như vậy.
Thách thức thứ tư là sự phân hóa, chia rẽ trong nội bộ lãnh đạo đảng.
Ông Đặng Xương Hùng cũng nêu rõ yêu cầu về một lãnh tụ đủ sức lèo lái đất nước trong thời điểm này.
Một số đảng viên trong đảng Cộng sản, cũng như trí thức trong và ngoài nước đều lên tiếng kêu gọi lãnh đạo Hà Nội hiện nay phải kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế về những xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Đồng thời phải từ bỏ ý thức hệ cộng sản, đổi mới theo hướng dân chủ, tự do nhằm cứu đất nước khỏi tình trạng trì trệ, lạc hậu lâu nay và sự kiềm tỏa của Trung Quốc. Tuy nhiên dường như đến nay những lời khuyên chân thành đó vẫn chưa được lắng nghe.

Áp lực nợ công tăng một cách đáng ngại


Tại một ngân hàng ở Hà Nội ngày 18/08/2014. Nợ công của Việt Nam đang tăng nhanh một cách đáng ngại.Reuters

RFI-Thanh Phương
Theo đồng hồ nợ công toàn cầu (Global debt clock) của tạp chí The Economist công bố ngày 20/08/2014 nợ công của Việt Nam hiện đã lên tới 83 tỷ đôla, tăng thêm 3 tỷ đôla trong vòng 5 tháng . Tính đổ đồng, mỗi người dân Việt Nam hiện nay gánh món nợ khoảng hơn 900 đôla.
Theo lời bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng trả lời chất vấn ở Quốc hội gần đây, tỷ lệ chi tiêu nợ công trên GDP của Việt Nam vào năm 2013 là 53,4%, tức là vẫn còn dưới ngưỡng an toàn 65% theo khuyến cáo của các định chế tài chính quốc tế.
Đúng là nếu so sánh với nhiều nước khác, tỷ lệ nợ công của Việt Nam chẳng thấm vào đâu, chẳng hạn như tính đến năm 2014 nợ công của Nhật Bản lên đến 242% GDP, hay của Mỹ lên tới 107%. Nhưng cái chính không phải là ở tỷ lệ, mà là khả năng thanh toán và cơ cấu nợ công của quốc gia đó.
Mặt khác cũng cần phải thấy là nợ công chính thức của Việt Nam hiện nay chưa tính tới nợ của các doanh nghiệp Nhà nước. Nếu tính đủ cả nợ doanh nghiệp Nhà nước thì mức nợ công này cao hơn rất nhiều. Chưa kể là có thể Việt Nam sẽ phải dùng ngân sách Nhà nước để trả những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp Nhà nước.
Chuyên gia kinh tế tế Lê Đăng Doanh, trả lời phỏng vấn RFI từ Hà Nội, cũng cho rằng nợ công của Việt Nam đúng ra phải tính luôn cả nợ của các doanh nghiệp Nhà nước, mà Nhà nước sẽ phải gánh thay. Ông cho rằng áp lực nợ công của Việt Nam hiện đang gia tăng một cách đáng ngại :
“Nợ công của Việt Nam theo số liệu chính thức do Bộ Tài chính công bố là vào khoảng 54 hay 56% GDP, như vậy còn dưới ngưỡng an toàn 65% mà Ngân hàng Thế giới ấn định. Tuy vậy ở Việt Nam, số nợ của các doanh nghiệp Nhà nước cho đến nay chưa được tính vào số nợ công của Nhà nước.
Số nợ của các doanh nghiệp Nhà nước, theo các số liệu do các chuyên gia đưa ra, là khoảng 51% GDP. Nếu cộng với số nợ công mà Bộ Tài chính công bố, thì tổng số nợ công có thể lên đến 106% hay 107% GDP. Như vậy là nó vượt xa tỷ lệ 65% của Ngân hàng Thế giới.
Nếu như doanh nghiệp Nhà nước không trả nợ được -như trường hợp Vinashin- Nhà nước phải đứng ra trả nợ thay, bởi vì Nhà nước đã đứng ra bảo lãnh, hay chính Nhà nước đã đi vay cho các doanh nghiệp này.
Điểm thứ hai cũng cần phải thấy rằng tổng số nợ công đã tăng lên một cách nhanh chóng trong thời gian gần đây và gánh nặng trả nợ đã lên đến mức 25% tổng số chi ngân sách. Đấy là một con số rất đáng lo ngại.
Trong số nợ này, có số nợ trong nước do chính phủ phát hành trái phiếu, mà trái phiếu trước kia do tình hình lạm phát nên có lãi suất rất cao. Lãi suất này, nay cũng giảm dần. Tuy vậy số nợ phải trả trong nước cũng rất là lớn và nghĩa vụ trả nợ trong năm 2014 cũng tăng rất mạnh so với năm 2013 và những năm trước đây. Cho nên, điều đáng lo ngại là tốc độ tăng của nợ công cũng như tốc độ tăng của tỷ lệ chi ngân sách để trả nợ công."
Theo tường thuật của tờ VnEconomy, tại một cuộc tham luận vào trung tuần tháng 7 vừa qua, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, tiến sĩ Trần Đình Thiên đã nêu lên ba nguy cơ của nợ công Việt Nam :
Thứ nhất là tốc độ tăng nợ vay cao, hiện đã đến mức vay để trả nợ, chứ không phải vay để sản xuất rồi bán đi lấy tiền trả nợ. Thứ hai là cơ cấu nợ, bởi vì trong nợ công của Việt Nam, nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn, nên áp lực trả nợ gay gắt và ngày càng tăng cao. Thứ ba là năng lực trả nợ của Việt Nam đã thực sự đáng báo động, với nghĩa vụ trả nợ năm 2014 đã vượt qua vạch đỏ (25% tổng thu ngân sách) và chắc sẽ còn tăng cao trong năm tới và có thể vượt qua ngưỡng mất an toàn là 30%.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cũng đặc biệt lưu ý về áp lực của các món nợ ngắn hạn đối với Việt Nam:
“ Số nợ mà cho các chương trình hỗ trợ chính thức ODA cấp thì có thời hạn trả nợ dài, có một thời gian ân hạn cũng đáng kể, thường là 5 năm và lãi suất thấp. Cho nên, số nợ đó thì không đáng lo ngại. Đáng lo ngại là số nợ trái phiếu chính phủ trong nước và số nợ vay thương mại như khoản vay 750 triệu đôla năm 2005 để mang về cấp toàn bộ cho Vinashin và lần thứ hai là khoản vay 1 tỷ đôla năm 2010 cũng đưa về cho các tập đoàn và doanh nghiệp Nhà nước.”
Chuyên gia tài chính Huỳnh Bửu Sơn, trả lời RFI từ Sài Gòn, cũng chia sẽ ý kiến nói trên của ông Lê Đăng Doanh :
“ Dòng tiền được huy động để thanh toán những khoản nợ gốc và lãi cho những khoản nợ ngắn hạn sẽ tạo áp lực mạnh hơn là các khoản nợ dài hạn. Ở đây nó cũng thể hiện mức độ rủi ro còn rất cao của Việt Nam. Nếu một nước có mức độ rủi ro thấp thì người ta có thể vay được các khoản vay dài hạn với lãi suất thấp, còn Việt Nam thì phải vay ngắn hạn nhiều hơn và với lãi suất cao hơn. Cũng giống như một doanh nghiệp không có năng lực cao thì thường là các ngân hàng cho vay với lãi suất cao và thời hạn ngắn.”
Như tiến sĩ Lê Đăng Doanh có nói ở trên, tại cuộc họp báo của chính phủ ngày 28/08/2014, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ Nguyễn Văn Nên xác nhận là chính phủ Việt Nam đang xem xét khả năng vay 1 tỷ đôla dưới hình thức phát hành trái phiếu quốc tể. Khoản vay này là nhằm để “ đảo nợ” , tức là sẽ được dùng để trả một khoản vay trên dưới 1 tỷ đôla có lãi suất cao hơn nhiều. Theo bộ trưởng Nguyễn Văn Nên, như vậy số nợ không thay đổi nhưng lãi thì trả thấp hơn.
Theo chuyên gia tài chính Huỳnh Bửu Sơn, việc phát hành trái phiếu quốc tế để lấy tiền trả nợ là chuyện bình thường ở các quốc gia khác, nhưng điều đáng ngại ở Việt Nam là trong khi nợ công tăng thêm, thì hiệu quả sử dụng nợ lại giảm xuống :
“ Các chính phủ đều có xu hướng phát hành trái phiếu để huy động nguồn tiền bên ngoài, có thể để thực hiện đầu tư công, đầu tư vào một số dự án nào đó, hoặc là để trả nợ. Cho nên việc phát hành trái phiếu là một chuyện bình thường. Tuy nhiên, đối với Việt Nam thì gần đây rất nhiều chuyên gia cảnh báo là tình hình nợ công đang tăng lên và hiệu quả sử dụng nợ công cho việc phát triển kinh tế thì đang có xu hướng kém đi.
Thật ra cái việc đi vay nợ để phát triển kinh tế là điều tốt. Thy vì nhận viện trợ thì vay nợ thể hiện trách nhiệm của một nước sử dụng đồng tiền đó để phát triển kinh tế. Nếu là viện trợ cho không thì người ta xu hướng sử dụng vào những chuyện không hiệu quả, còn đi vay nợ thì người ta phải nghĩ đến chuyện trả nợ và như vậy phải đầu tư vào những dự án tốt.
Thế nhưng tình hình ở của Việt Nam trong một hai thập niên gần đây là đầu tư công kém đi hiệu quả. Trên thực tế ta đã thấy là có nhiều công ty Nhà nước đã mắc nợ rất nhiều và lâm vào tình trạng là do hoạt động không hiệu quả nên không thể trả được nợ đúng hạn, nên Nhà nước phải đứng ra trả nợ thay.
Quốc hội và chính phủ cũng đang cố gắng giảm những khoản đầu tư đó và kêu gọi các tập đoàn Nhà nước nên tập trung vào những lĩnh vực chuyên biệt của mình hơn là đầu tư dàn trải, như trường hợp của Vinashin.”
Đây là lần thứ ba trong vòng 9 năm qua, chính phủ Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế. Trước đây, năm 2005, chính phủ đã phát hành trái phiếu quốc tế tại thị trường chứng khoán New York, để vay 750 triệu đôla với kỳ hạn 10 năm. Số trái phiếu này sẽ đến hạn trả nợ gốc và lãi vào năm 2016. Tuy nhiên, do chính phủ cho Vinashin vay lại toàn bộ số trái phiếu nói trên và khoản vay đã không được sử dụng hiệu quả, nên Vinashin hầu như không có khả năng trả nợ cho chính phủ.
Đến năm 2010, chính phủ lại phát hành 1 tỷ đôla trái phiếu kỳ hạn 10 năm tại Sở Giao dịch Chứng khoán Singapore. Số tiền này sau đó cũng được chính phủ cho một số tập đoàn kinh tế lớn như Dầu khí, Điện lực, Vinalines... vay lại. Tập đoàn Vinalines thì như đã biết, đang nợ hàng tỷ đôla không biết bao giờ mới trả xong.
Như vậy là sau khi đã vay nợ cho các tập đoàn Nhà nước làm ăn không hiệu quả, nay Nhà nước phải vay tiền coi như là để trả nợ thay cho các tập đoàn đó. Đối với tiến sĩ Lê Đăng Doanh, việc phải vay nợ mới để trả nợ cũ là một điều rất nguy hiểm đứng về mặt tài chính :
“ Đó là một điều rất đáng lo ngại, tức là chính phủ không thể dùng tiền ngân sách hay dự trữ ngoại tệ để trả nợ, mà phải vay nợ mới để trả nợ cũ. Việc vay nợ này hiện còn thuận lợi vì lãi suất trên thị trường thế giới thì thấp. Gần đây hãng Moody’s đã nâng hạng tín nhiệm tín dụng và tài chính của Việt Nam, cho nên vay kỳ này sẽ có lãi suất thấp hơn so với năm 2005.
Nhưng việc không tiền để trả mà phải vay nợ mới để trả nợ cũ là một tín hiệu rất đáng lo ngại đối với giới tài chính quốc tế. Tôi nghĩ rằng họ sẽ thương lượng một lãi suất thế nào đấy để trang trải cái rủi ro ấy. Họ sẽ có cái đánh giá rất là nghiêm túc.”
Tại hội nghị về kế hoạch và đầu tư vào cuối tháng 8/2014, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố “ Việt Nam dứt khoát không để vỡ nợ”. Nhưng tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn chưa trấn an được giới chuyên gia, như lời tiến sĩ Lê Đăng Doanh :
“ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh quyết tâm của chính phủ và tôi rất trân trọng cái quyết tâm ấy. Tuy vậy, thứ nhất, chúng ta không có khả năng dùng tiền tiết kiệm của chúng ta, tiền ngân sách thu được, mà lại phải vay nợ mới để trả nợ cũ. Thứ hai, tình hình mất cân đối ngân sách của chúng ta là khá nghiêm trọng. Tôi nghĩ đó là một vấn đề mà giới chuyên gia kinh tế và tài chính thực sự quan ngại và đang bàn cách giải quyết, để trong tương lai tránh việc vay nợ mới để trả nợ cũ.”
Nếu tình trạng nợ công như hiện nay cứ tiếp diễn, liệu Việt Nam có nguy cơ bị vỡ nợ hay không ? Đối với chuyên gia tài chính Huỳnh Bửu Sơn, để tránh nguy cơ đó, Việt Nam phải nâng cao hiệu quả hoạt động của các tập đoàn Nhà nước và giảm bớt những dự án đầu tư công không cần thiết :
“ Cho tới hiện nay thì người ta chưa nghĩ đến việc Việt Nam vỡ nợ giống như Hy Lạp. Nhưng rõ ràng là cần phải điều chỉnh lại hoạt động của các tập đoàn Nhà nước, cũng như phải giảm bớt các dự án đầu tư công quá tham vọng và không hiệu quả, để có thể bớt những khoản vay của nước ngoài, cũng như là dành đồng vốn cho các dự án có hiệu quả hơn. Như vậy sẽ làm giảm bớt nguy cơ vỡ nợ.
Tôi không nghĩ là chính phủ chi tiêu nhiều, đây chỉ là sự thiếu hiệu quả trong việc đầu tư vào khu vực kinh tế Nhà nước. Nếu đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa, nếu quyết tâm cấu trúc lại các tập đoàn kinh tế, tập trung vào những lĩnh vực thật sự có hiệu quả, thì trong thời gian tới áp lực nợ công sẽ giảm nhiều.
Thời gian qua, chương trình cổ phần hóa, được tiến hành từ cách đây hơn một thập niên rồi, nhưng còn rất chậm và sự hình thành các tập đoàn Nhà nước lớn thì càng ngày càng rõ nét hơn. Quốc hội và chính phủ cũng đã nhận thức là phải tiến hành rất nhanh việc cổ phần hóa các công ty Nhà nước, cũng như tái cấu trúc nền kinh tế, phát triển hoạt động tư doanh, thì mới mong là tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tăng lên và từ đó gánh nặng nợ công giảm dần.” 

Vai trò của các mạng truyền thông xã hội


Nguyễn Hưng Quốc
Tôi chơi facebook đã được trên 5 tháng. Càng chơi càng thích. Thế giới facebook đa dạng vô cùng. Nhảm nhí: nó có thừa. Khoe khoang để tự sướng: cũng có thừa. Nhưng tôi chỉ chú ý nhiều nhất đến các trang facebook nghiêm túc, ở đó, người viết và người đọc bày tỏ những thao thức về tình hình chính trị Việt Nam.
Phải nói ngay, những bài viết cũng như những ý kiến phản hồi về chính trị như vậy khá giống nhau. Khác ở góc nhìn. Khác ở giọng điệu. Và khác ở tiểu tiết. Nhưng nhìn chung, tất cả đều nhắm vào hai vấn đề chính: Một, lên án sự độc tài và bày tỏ ước vọng dân chủ hóa để đất nước được tự do và phát triển; và hai, lên tiếng báo động trước âm mưu xâm lấn của Trung Quốc và phê phán thái độ nhu nhược và bất lực của chính quyền Việt Nam.
Bản thân tôi, từ mấy tháng vừa qua, cũng chỉ tập trung vào hai vấn đề chính ấy.
Từ góc độ một nhà văn, chỉ quanh đi quẩn lại với hai loại đề tài ấy, nguy cơ rất dễ thấy: trùng lặp, đơn điệu và nhàm. Tôi biết vậy nhưng lại không thể thoát được. Có hai lý do: Một, đó là những ám ảnh lớn cứ đau đáu trong lòng; và hai, tôi nghĩ, trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, mọi tiếng kêu gào đều cần thiết. Bởi không phải ai cũng hiểu tất cả những thảm họa đất nước đang đối diện. Nếu hiểu, chưa chắc mọi người đã biết phải làm gì. Hơn nữa, tiếng kêu gào, tự nó, cũng là một thứ vũ khí. Một tiếng kêu gào đơn độc của một cá nhân là một sự tuyệt vọng của nạn nhân. Nhưng khi tiếng kêu gào ấy được vang âm và bắt gặp sự đồng điệu của đám đông, nó sẽ trở thành một bản hùng ca của những người ra trận. Khi cả hàng triệu người cùng gào, tiếng kêu của họ sẽ trở thành những bài ca chiến thắng.
Nhưng làm cách nào để cả triệu người cùng gào? Có hai điều kiện: Một, do một tác nhân bên ngoài khiến mọi người phẫn nộ và quên cả sợ hãi để dám xuống đường gào thét phản đối lại bạo quyền (như những gì đã xảy ra ở Trung Đông và Bắc Phi vào đầu năm 2011); và hai, khi mọi người ý thức rõ những bất công mà mình đang gánh chịu là một sự phi lý, không thể chấp nhận được (như những gì xảy ra tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối thập niên 1980). Điều kiện thứ nhất có thể đến một cách bất ngờ, không thể lường trước; còn điều kiện thứ hai thì cần thời gian để chín muồi  Các trang truyền thông xã hội có thể góp phần đắc lực để thúc đẩy quá trình chín muồi của điều kiện thứ hai này.
Để làm được điều ấy, người ta không cần phải kích động hay xúi giục ai cả. Các trang truyền thông xã hội, khi cố gắng vạch trần bộ mặt thật của chế độ, chỉ nhắm đến một mục tiêu đơn giản và rất khả thi: giành quyền viết lại lịch sử. Ở đây có hai khía cạnh cần chú ý: Một, như nhiều học giả từng ghi nhận, lịch sử bao giờ cũng được viết bởi những người thắng cuộc; và hai, lịch sử ấy nhắm vào hai mục tiêu chính: Thứ nhất, huyền thoại hóa các chiến công của họ, và thứ hai, bôi nhọ kẻ thù. Ở cả hai khía cạnh này, chính quyền Việt Nam, từ năm 1954 và đặc biệt, từ năm 1975, khi cả nước được thống nhất, được chính quyền Việt Nam thực hiện một cách đầy tự giác và triệt để. Họ bôi nhọ chính quyền miền Nam là ngụy quyền và Mỹ, kẻ từng giúp chính quyền miền Nam, là đế quốc và thực dân kiểu mới. Họ cũng tích cực tô vẽ hình ảnh của họ như những bậc anh hùng được cả thế giới ngưỡng mộ; ngưỡng mộ đến nổi nhiều người ngoại quốc từng nằm mơ thấy mình là người Việt, dĩ nhiên, là Việt xã hội chủ nghĩa. Không những anh hùng, họ còn là những con người mới xã hội chủ nghĩa đẹp đẽ, nói theo hai câu thơ của Tố Hữu: “Còn gì đẹp trên đời hơn thế / Người với người sống để yêu nhau” hoặc một câu thơ của Chế Lan Viên: “Ôi ta là ta mà ta vẫn cứ mê ta”.
Từ trước đến gần đây, chính quyền là những kẻ duy nhất có quyền viết lịch sử. Quyền ấy, không ai được chia sẻ cả. Ngay cả những người từng nắm giữ những chức vụ cao cấp với họ cũng không được quyền chia sẻ. Đó là lý do tại sao cuốn hồi ký Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm của Trần Văn Trà, vị tướng trong quân đội của họ, cũng bị thu hồi. Lý do? Nó lệch ra ngoài, dù chỉ một chút, thứ lịch sử chính thống của họ. Đó cũng là lý do tại sao gần đây, chính quyền Việt Nam ra lệnh tất cả các cuốn hồi ký, của bất cứ người nào, cũng phải qua kiểm duyệt trước khi được in. Các loại sách khác có thể được xuất bản qua phương thức liên kết với tư nhân hay tổ chức xã hội. Trừ hồi ký.
Bây giờ, với sự phát triển ào ạt của các trang mạng xã hội như blog hay facebook, người dân có thể lên tiếng bày tỏ quan điểm cũng như kinh nghiệm của mình, thế độc quyền của những người cai trị bị thách thức. Họ không thể kiểm duyệt hay cấm đoán hết được. Những câu chuyện người thật việc thật, hoàn toàn có thực, được tung lên internet. Qua những câu chuyện ấy, người ta có thể nhìn thấy chính quyền mang một bộ mặt khác hẳn. Họ độc đoán. Họ tàn bạo. Họ có những chính sách lầm lẫn một cách tai hại. Hay nói theo cách nói cô đúc được lưu hành trên internet lâu nay: Họ “lấy thù làm bạn, hèn với giặc, ác với dân”; còn về chiến lược, họ loay hoay giữa hai hướng: theo Mỹ thì mất đảng, theo Trung Quốc thì mất nước, họ thà chọn mất nước.
Với những lịch sử như thế, vai trò độc quyền của những kẻ chiến thắng bị hẹp lại; các huyền thoại của họ, do đó, có nguy cơ bị phá vỡ dần dần. Với một chế độ độc tài, huyền thoại là một trong những trụ cột chính trên đó người ta xây dựng quyền lực. Khi huyền thoại bị phá vỡ hoặc xói mòn, nền tảng của chế độ cũng lung lay.
Làm chế độ lung lay, dù một cách tiệm tiến, tự nó, đã là một thành tích quan trọng rồi.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Việt Nam sẽ phạt nặng tù nhân tải ảnh lên Facebook

Giới hữu trách Việt Nam cam kết sẽ xử phạt nghiêm một tù nhân dùng điện thoại đăng tải ảnh sinh hoạt cá nhân trong trại giam lên trang mạng xã hội Facebook.
Báo chí nhà nước đưa tin ông Nguyễn Đức Hùng đang thọ án về tội danh liên quan đến ma túy tuần rồi đã đưa lên Facebook riêng hình ảnh các sinh hoạt tù và ảnh cá nhân cùng các bạn tù đang sử dụng ma túy trong trại giam.
Theo tường thuật hôm qua của trang thông tin Một Thế Giới, chất gây nghiện trong ảnh đăng của Hùng được cho là heroin.  
Trong số các bức ảnh phạm nhân này tung lên Facebook có nhiều tấm chụp bạn tù ở trại Tân Lập (tỉnh Phú Thọ) dùng điện thoại di động tán gẫu, xâm mình cho nhau, và nhiều hình ảnh sinh hoạt khác trong trại.  
Giới chức Việt Nam nói an ninh trong nhà giam đôi khi không được bảo đảm viện dẫn nguyên nhân do trại nằm trong khu dân sinh.
Trang tin Một Thế Giới dẫn lời Trung tướng Cao Ngọc Oánh, Tổng Cục trưởng Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, nói không thể kiểm soát tình trạng tuồn điện thoại và ma túy vào trong trại giam Tân Lập, nơi có 70% tù nhân là các đối tượng liên quan đến ma túy.
Dù thừa nhận tù nhân dùng ma túy trong trại giam là một vấn nạn đang tiếp diễn, nhưng ông Oánh cho rằng nhà tù của Việt Nam ‘còn khá trong sáng.’
Người đứng đầu Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự cho biết sẽ có biện pháp xử lý nghiêm đối với phạm nhân Nguyễn Đức Hùng. Hiện tù nhân này đã bị cách ly và tịch thu điện thoại.  
Luật sư Nguyễn Quốc Đạt.
Luật sư Nguyễn Quốc Đạt.
Pháp luật Việt Nam quy định thế nào về việc tù nhân đang thọ án sử dụng điện thoại và đăng thông tin lên mạng và cụ thể hình thức xử phạt như thế nào? Luật sư Nguyễn Quốc Đạt từ Văn phòng Luật sư La Bàn ở TPHCM, nói với VOA Việt ngữ:
“Phạm nhân đang thụ án bị cách ly với xã hội. Trong nhiều trại giam, người ta tổ chức cho phạm nhân đọc báo hay xem TV tập thể. Còn chuyện sử dụng điện thoại di động trong trại giam là vi phạm quy chế. Tùy mức độ vi phạm, phạm nhân có thể bị nhắc nhở, kỷ luật, hay cách ly nếu tái phạm. Tuy nhiên, tôi nghĩ phạm nhân dùng điện thoại di động phải có sự đồng tình của quản giáo, chứ không có phạm nhân nào được cầm điện thoại vào trại. Khi gia đình gửi đồ tiếp tế, trại giam kiểm tra đồ gửi rất chặt chẽ, cái gì được hay không được phép mang vào. Chuyện gửi điện thoại vào cho phạm nhân sử dụng thì không thể, nếu có phải có sự tiếp tay, tiếp sức của quản giáo. Phải có sự tiếp tay từ trong trại giam với bên ngoài hoặc có mối liên hệ nào đó và người ta gửi gắm vào.”
VNExpress tường thuật rằng cách đây 4 tháng, phạm nhân Nguyễn Đức Hùng từng bị phạt vì sử dụng điện thoại di động trong trại giam.
Hùng giải thích đưa ảnh lên Facebook để vợ con ở nhà theo dõi tình trạng và các sinh hoạt của mình trong tù.
Theo các bức ảnh ông Hùng lên Facebook, ông không phải là trường hợp các biệt mà nhiều bạn tù khác của ông cũng sử dụng điện thoại di động trong thời gian thọ án ở cùng trại giam Tân Lập.
Việt Nam sẽ phạt nặng tù nhân tải ảnh lên Facebook