Friday, July 11, 2014

Làm gì để cứu non sông?


Bảo Giang (Danlambao) - Hãy làm một công việc bé nhỏ nhất. Mọi người cùng tham gia phát động phong trào nói lên sự thật. Nghĩa là, người người bảo nhau, người biết nói cho người không biết. Người già nói cho trẻ cùng nghe là Hồ Chí Minh và đảng CS đã dẫn Tàu cộng vào chiếm nước ta. Rồi nhà nhà giáo huấn, trao đổi và bảo nhau về việc Tàu cộng đang xâm chiếm nước ta. Đồng thời nhắc nhở cho nhau về ý chí tru diệt kẻ xâm lăng và những kẻ mãi quốc càu vinh của cha ông ta...

*

Việt Nam, dẫu có đôi ba phen bị chia cắt. Cũng có lúc có hai, ba cơ chế công quyền khác nhau. Hoặc giả, có đôi lần bị đô hộ bởi ngoại bang, nhưng người Việt Nam xem ra vẫn luôn có được những điều đáng tự hào, đáng hãnh diện, hơn hẳn những sắc dân, hay những quốc gia đồng thời với mình từ khi lập quốc như: Tề, Hàn, Triệu, Sở, Tần, Tấn, Ngụy, Ngô, Việt (của Việt vương Câu Tiễn trong bách Việt) là chúng ta, dẫu là một sắc dân nhỏ sống rải rác ở phía nam sông Dương Tử đến lưu vực sông Hồng, bị đẩy dần về phương nam, nhưng vẫn còn một quốc thể, một ngôn ngữ, một văn tự, một nòi giống sống chung trên một giải đất hình chữ S mang tên Việt Nam, chạy dài từ ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu. Cộng với một biển đông xuôi theo chiều dài của bờ đất, vươn ra ôm lấy các đảo, và quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không rời. Như thế, ta hãnh diện. Ta còn có một quê hương, một dân tộc đứng riêng ở cõi trời Nam là nhờ vào ý chí của tiền nhân qua nhiều đời luôn trung thành với hai nguyên tắc bất di bất dịch: Hy sinh vì đại nghĩa và tru di kẻ bán nước cầu vinh.

Tiếc rằng, bài sử ký này chỉ được người dân Việt Nam ở miền nam trân trọng học tập và thực hiện việc bảo vệ giang sơn của cha ông cho đến ngày 30-4-1975 là... chấm hết. Bởi vì, từ sau ngày quốc nạn 30-4-1975, và trước đó, từ 3-2-1930 đến 20-7-1954, tại miền bắc Việt Nam, dưới chế độ cộng sản, đã chẳng có sách vở nào được ghi chép, đã chẳng có người dân nào được phép nhắc nhở đến bản đồ địa lý mà cha ông ta để lại, cũng như chẳng ai được nhắc đến chuyện phạt Tống, bình Ngô, triệt Hán, diệt Thanh của cha ông ta nữa. Lý do:

Đảng cộng sản được thành lập từ 3-2-1930 với 7, 8 ủy viên tại Hồng Kông, nhưng đến năm 1941 đã chết sạch, ngoại trừ một mình Hồ tùng Mậu đang thọ án chung thân khổ sai ở cao nguyên, và một Trinh đình Cửu... mất tích, không một tin tức, không có một hoạt động nào đáng được ghi lại từ sau ngày thành lập cho đến khi ông ta chết sau này. Bỗng dưng, vào cuối năm 1938, Trung cộng cho một nhân vật có tên là Hồ Quang mang quân hàm thiếu tá trong Bát Lộ Quân của Chu Đức đóng ở Quế Lâm, Quảng Tây xuất hiện. Hồ Quang sau này được gọi là Hồ Chí Minh, về VN lãnh đạo đảng và nhà nước VNDCCH từ 1940-1969. Hồ Quang là một cái tên nghe lạ tai, nhưng thật ra đây là một trong số 169 cái tên gọi, bút hiệu, bút danh của HCM được nhà nước CSVN chính thức công nhận và công bố. Theo bản công bố này, Hồ Quang có một sơ yếu lý lịch về năm sinh, học vấn, hoàn toàn khác biệt với sơ yếu lý lịch của Nguyễn sinh Cung (Nguyễn ái Quốc) Tài liêu ghi nhận: “ Sơ yếu lý lịch của Hồ Quang tại Lớp huấn luyện Nam Nhạc, thuộc tỉnh Hồ Nam. Năm 1939. Hồ Quang 38 tuổi- Phụ trách điện đài - Quảng Đông - Thiếu tá - tốt nghiệp Đại học Lĩnh Nam – Giáo viên trường Trung học. Biết ngoại ngữ, quốc ngữ. Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc”. 胡光(即胡志明主席)1939年在湖南省南岳培训班的简历。 胡光—电台员---38岁----广东----少校 ----毕业于岭南大学------中学教师。会外语和国语.

Theo bản lý lịch chính thức này thì Hồ Quang sinh năm 1901. Trong khi đó Nguyễn Sinh Cung sinh năm 1891. Thứ đến, Hồ Quang có sở học và nơi chốn học tập hoàn toàn khác biệt với lý lịch của Nguyễn Sinh Cung. Liệu việc giới thiệu Hồ Quang có phần lý lịch riêng trong danh sách 169 bí danh, bút hiệu của Hồ Chí Minh do nhà nước CSVN công bố, có dụng ý gì khác thường chăng? Liệu sự kiện này có phải là một hình thức gián tiếp giới thiệu về lý lịch thật của người mang tên HCM là chủ tịch đảng và nhà nước CSVN từ 1940-1969 hay không? Nếu không, thì nó mang một ẩn ý gì?

Trở lại chuyện của Hồ Quang. Từ sau khi xuất hiện, Hồ Quang được Trung cộng hỗ trợ và đưa về Việt Nam, đến khoảng tháng 8-1942 đổi là Hồ Chí Minh, bị bắt ở Túc Vinh vì giấy tờ đã hết hạn? Sau khi ra tù, Hồ Chí Minh trở lại Việt Nam và trở thành lãnh tụ của đảng cộng sản và chủ tịch của nhà nước VNDCCH từ 1945. Nhưng mãi sau này, khoảng 1948-49, sau khi biết chắc không còn một người Việt Nam nào hoạt động cùng thời kỳ trước 1930, hay thân nhân nào biết rõ về tông tích diện mạo của Nguyễn Ái Quốc còn sống, cũng như biết rõ, hồ sơ của y không thể bị tiết lộ từ phía cộng sản Liên Sô và Trung cộng, Hồ Chí Minh mới từ từ úp mở cho người ngoài biết y là Nguyễn Ái Quốc! Tuy nhiên, tất cả mọi hoạt động của Hồ Chí Minh và tập đoàn CS đều cúc cung phụng vụ cho Tàu cộng và ra sức thực hiện chủ nghĩa vô tổ quốc tại nước ta. Với chủ trương này, CS đã tuyên truyền và mở cuộc chiến tranh vào miền Nam với chiêu bài giải phóng dân tộc. Nhưng thực tế là thực thi những sách lược do Trung cộng đề ra như lời công bố của Lê Duẩn bí thư đảng cộng lúc bấy giờ là:“ cuộc chiến này là đánh đánh cho Trung quốc, đánh cho liên Sô” hay là “công việc của chúng tôi là phụ thuộc vào Mao chủ Tịch” (Lê Duẫn,).

Mặt khác, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo cho Phạm Văn Đồng, người đang giữ chức Thủ tướng của nhà nước VNDCCH ký công hàm công nhận chủ quyền 12 hải lý thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trương Sa là thuộc Trung cộng theo bản công bố chủ quyền trên vùng lãnh hải lãnh thổ do Chu Ân Lai trước đó hai tuần lễ. Việc công nhận này đã gây ra một hậu quả nghiêm trọng cho chủ quyền về biển đảo của Việt Nam hiện trực thuộc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam quản lý theo Hiệp Định 1954. Nó cũng là nguyên cớ làm cho hình dạng bản đồ địa lý của Việt Nam không ngừng thay đổi.

Trước tiên, về việc tranh chấp, định ước quốc tế “Estoppels” quy định rằng “Trong một tranh chấp cụ thể, vào một thời điểm nào đó, nếu một bên có thỏa thuận hay đồng ý ngầm, hoặc công nhận chủ quyền của một bên khác đối với một vùng lãnh thổ đang tranh chấp, thì sự công nhận hoặc đồng thuận đó có hiệu lực pháp lý.” Ai cũng biết, Trung cộng đã từng mưu toan gây tranh chấp về chủ quyền biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam sau đệ nhị thế chiến. Tuy nhiên, trong hội nghị San Francisco năm 1951, dù được Nga bảo trợ, Trung cộng đã hoàn toàn thất bại trong việc tranh chấp chủ quyền với 3 phiếu thuận và 47 phiếu chống. Sau cuộc bỏ phiếu này, trưởng phái đoàn và cũng là Thủ Tướng đương nhiệm chính quyền Việt Nam lúc bấy giờ là Nguyễn Văn Hữu đã tái công bố chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Lời công bố của TT Hữu không có bất cứ một đại biểu nào trong 51 phái đoàn được mời đến để tham dự Hội nghị này, kể cả Liên Sô và người đại diện của Trung cộng lên tiếng bác bỏ. Theo nguyên tắc, chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa là không thể có tranh cãi nữa. Tuy nhiên, Trung cộng dường như chưa bao giờ từ bỏ cuồng vọng bành trướng, nên không muốn tuần thủ những quy định mang tính quốc tế từ hội nghị này.

Theo đó, việc Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận chủ quyền của Trung cộng theo công bố của Chu Ân Lai (1958) trên những vùng lãnh hải, lãnh thổ này, dù không phải là đơn vị có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền này theo Hiệp Định Geneve 1954, đã đặt Việt Nam vào tình trạng có thể mất Hoàng Sa, Trường Sa vào tay Trung cộng. Hoặc ít nhất, là VNDCCH tự cho mình quyền đại diện cho Việt Nam để từ bỏ quyền chủ quyền thuộc vùng lãnh hải và lãnh thổ này cho Trung cộng chiếm giữ theo định ước Estoppel. Bởi vì theo định ước này diễn giải, “một khi bên nào đã đồng ý, hoặc đã công nhận chủ quyền đang tranh cãi thuộc về phía bên kia thì sẽ không thể bác bỏ chủ quyền của bên kia đối với vùng lãnh thổ đó sau này. Trái lại phải tôn trọng chủ quyền của bên kia”. Lời giải thích này đã hoàn toàn đẩy VNDCCH và kế thừa của nó là CHXHCNVN ra khỏi cuộc tranh chấp với Trung cộng về Hoàng Sa, Trường Sa. Hơn thế, việc Phạm Văn Đồng còn làm Thủ tướng của nước Việt Nam thống nhất sau khi họ xóa bỏ hiêp định Geneve và Paris để chiếm đóng miền Nam bằng bạo lực vào ngày 30-4-1975, và không hề có bất cứ một lời nói, một văn thư nào đá động đến việc tiếp quản chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam theo Hội Nghị quốc tế San Francisco và Hiệp định Geneve 1954 làm cho Việt Nam mất dần tiếng nói đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Đây là một sự im lặng tồi tệ, đáng nguyễn rủa vì nó đã đồng lõa với nội dung bản công hàm mà chính y đã ký trước kia.

Tuy thế, không phải một mình Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẫn, hay Trường Chinh theo đuổi chủ trương bán nước, thờ Tàu. Trái lại, sau những kẻ mở đường này là đến Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Nguyễn Mạnh Cầm, Lê Đức Anh, Phan Văn Khải... qua hai Hiệp định, Hiệp thương biên giới vào 1999 và 2000 là 796 km2 đất giáp ranh biên giới với Trung cộng thuộc các vùng Bản Giốc, Nam Quan, Lão Sơn, Tục Lãm và gần 3/4 diện tích Vịnh Bắc bộ đã bị chúng ký bán cho Trung cộng với giá là 2,5 tỷ đô la như một số tin tức rò rỉ và lan truyền trên báo chí. Từ đó, Việt Nam đã mất hẳn những vũng đất này, và không ai còn được nhắc đến nữa! Nếu mai sau, có một thể chế mới muốn tìm lại cái cọc mốc của biên giới đã được ký kết phân ranh giữa Việt Nam với Mãn Thanh vào năm 1883 thì cũng chẳng còn tìm ra dấu tích nó nằm ở đâu nữa. Tệ hơn, nếu cộng sản còn tồn tại trên phần đất này, không biết sau 5, 10 năm nữa con cháu ta phải học bài sử ký ghi chép ra sao? Bởi vì dưới thời của những cái tên Mạnh, Kiệt, Dũng, Trọng, Sang, Hùng, Lưu, Luận, Hải... thì không còn phần đất nào của Việt Nam thiếu dấu chân đi lại của quan cán Trung cộng, và không biết là có bao nhiêu khu rừng, vùng biển hay những nơi gọi khu đặc cư, những khu làng Tàu, cơ sở thương mai, kinh doanh cho riêng Tàu nhân, mọc lên như nắm ở trên nước Việt. Trong lúc người dân Việt lầm than, lang thang không có vài mét đất làm cái lều để sinh sống!

Có nước mắt nào của người Việt Nam không rơi xuống trước thảm cảnh này không? Hỏi xem, tại sao cha ông ta trải qua hàng nghìn năm trong những nỗi khó khăn tột cùng vẫn để lại cho con cháu được phần di sản thiêng liêng to lớn như thế, mà nay con cháu sao mà tệ?

Tôi cho rằng, con cháu cũng chẵng tệ gì lắm. Tuy nhiên, sau gần 70 năm bị bào mòn bởi bởi ý thức vô tổ quốc của CS, thế hệ lớn thì vị tư kỷ thành ích kỷ, lớp trẻ thì không được giáo dục về lòng yêu quê hương, yêu đồng bào một cách đứng đắn. Cộng với một cuộc tàn phá tôn giáo và luân thường đạo lý do Việt cộng thực hiện, đã tạo ra một xã hội với những sinh hoạt bát nháo, hỗn mang, đầy tính lọc lừa vô đạo, làm cho lòng người thêm chán nản, mất niềm tin. Họ đành phải sống chụp giựt, buông xuôi, tư kỷ thành ích kỷ. Đã thế, họ không được nhắc nhở, thấm nhuần giáo huấn của tiền nhân ta trong công cuộc giữ nước và kiến quốc là nuôi lòng hy sinh vì đại nghĩa và dứt khoát tru di những kẻ mãi quốc cầu vinh, mà nên nỗi!

1. Hy sinh vì đại nghĩa dân tộc

Phải nói ngay rằng, người dân như một thúng bột tinh nguyên. Bột không có nước quyện vào, chỉ cần một cơn gió nhẹ lướt qua, bột sẽ bay đi và vương vãi khắp nơi. Lòng hy sinh vì đại nghĩa của người dân cũng thế. Nếu không được giáo dục về lòng yêu nước thương nòi một cách nhân bản, nhân văn, đứng đắn theo lịch sử để gắn kết lại với nhau, chỉ cần những biến động nhỏ, lòng người đã ly tán. Nhưng nếu lòng dân luôn được nhào nặn và nuôi sống bằng tinh thần nhân bản, bằng ý thức tổ quốc thì nó luôn kết hợp với nhau, dẫu có là giông bão, biến động, bột cũng không lìa khỏi thúng! Theo cách nhìn này, lòng hy sinh vì đại nghĩa dân tộc trong lòng người Việt Nam lúc nào cũng có và có đầy ắp. Đặc biệt, sẽ phát huy thành sức mạnh lớn để bảo vệ sự trường tồn của quê hương. Nhưng xem ra là rất dửng dưng trước những tranh chấp của các phe phái. Đó là điều rất đáng quý và cha ông ta đã biết cách chỉ tên kẻ thù, biết cách biến lòng hy sinh này thành những ngọn sóng thần, vùi dập tất cả những thế lực binh cường tướng mạnh từ Tống, Minh, Hán, Nguyên, Thanh khi chúng xâm phạm bờ cõi Việt Nam.

Nay, không phải lòng hy sinh vì đại nghĩa của dân ta không còn, nhưng một phần bị chính những kẻ bán nước cầu vinh triệt hạ. Bị triệt hạ bằng những thủ đoạn đê hèn, hay bằng những ngôn từ lừa dối như tình hữu nghị, láng giềng tốt khi đưa rước giặc vào nhà. Một phần vì người dân dửng dưng, chán ngán với những ngôn từ của các đảng phái, hay của các nhóm đấu tranh, đôi khi lạm dụng cả danh nghĩa của tôn giáo, làm người dân mất hướng, không nhận diện được kẻ thù đích thực của dân tộc. Kết quả, người dân lui dần vào cuộc sống tự kỷ, buộc phải lo cho mình hơn là cho việc bao đồng, bị lợi dụng.

Về chuyện này ta không thể trách ai, nhìn lại cuộc sinh hoạt tại miền nam trước khi mất nước, dẫu là trong lúc chiến tranh, dân số không bao nhiều mà cũng có tới mấy chục đảng phái và tổ chúc đấu tranh xuất hiện. Có người cho rằng, sở dĩ ta có nhiều đảng phái, tổ chức là vì “ ta” không quen làm đảng... phó, hay phó thủ lãnh! Kết quả, người dân chẳng còn lỗi tai nào để mà phân biệt đúng sai. Trống một nơi, chiêng một nẻo. Sang đến chế độ cộng sản, lại là một nỗi kinh hoàng khác. Trăm lời nói, trăm việc làm không có được lấy một điều thật, điều nhân nghĩa! Tất cả là giả dối, lưu manh phản trắc. Duy chỉ có cái búa cái liềm của chúng là bằng sắt thép thật và cũng là thước đo công lý! Từ đó, một tên tội đồ ác độc hạng nhất trong lịch sử, từng cho người giết vợ, quăng xác ra đường giả làm tai nạn lưu thông, cũng có thể được chúng biến thành một “cha già” dân tộc với đàn cao, hương án. Tệ hơn, chúng còn phỉ báng tôn giáo bằng cách ép, đem cái đầu lâu của Y vào nhà chùa, vào đền miếu, bày trò cúng bái để kiếm lấy phần sôi, phần bổng lộc! Với một cuộc sinh hoạt bát nháo như thế mà gọi là “chính phủ” thì người dân không muốn lui vào trong tự kỷ cũng không có đường chọn lựa khác!

2. Tru di những kẻ bán nước cầu vinh

Hình như cha ông chúng ta giỏi nhận ra chân tướng của những kẻ bán nước cầu vinh và cũng dứt khoát với những thành phần này hơn chúng ta. Điển hình là những trường hợp của Thống soái Ngô Vương Quyền trảm Kiều Công Tiễn trước khi đóng cọc nhọn xuống Đằng Giang để tiêu diệt quân Hán,. Hay tể tướng Lữ Gia, tập hợp gia nhân binh lực để khu trù Cù thị cứu nước. Rồi những Trần Ích Tắc, Mạc Đăng Dung. Lê Chiêu Thống cũng chịu chung một số phận. Trong khi đó, xem ra trong chúng ta lại không thể phân biệt được giả chân. Kẻ tội đồ của dân tộc được phe đảng của chúng đắp tượng đưa vào chùa để kiếm phần sôi, phần bổng lộc đã đành, nhưng phe “ta” lại có những kẻ tự cho mình là trí thức, có những mảnh bằng to hơn bàn tay. Hoặc giả, là lãnh tụ đảng phái, đoàn thể hay tôn giáo. Lúc trước khi chưa mất miền nam thì phá rối, thông đồng với giặc bằng cách này hay cách khác để đấu với tranh, bức tử Đệ Nhất Cộng Hòa, để đưa đến cái chết của Tự Do vào ngày 30-4-1975. Sau đó người thì bị cộng sản rọ miệng, kẻ ra hải ngoại, khi ra ngoài, tưởng họ làm được những điều hữu ích cho dân, lên tiếng vạch ra những tội ác của chúng để cho người dân nhận diện ra kẻ bán nước cầu vinh. Không ngờ, lại vì cái bả hay mộng vinh hoa hay sợ người đời quên mất tên mình, nên phải làm sớ, làm kiến nghị “dâng kế” cho cộng sản với ngôn ngữ giả tạo “ dâng kế sách cho CS thực hiện để cho dân mình bớt khổ”. Hỡi ơi cái đầu gối! Nếu CS muốn dùng những lương sách để làm cho dân bớt khổ đau thì chúng đã làm từ lâu rồi, cần gì đến cái bản kiến nghị nhố nhăng ấy!

Khi viết ra những lời này, tôi thực lòng, không chỉ trích, hay bóng gió một ai (nếu ai cảm thấy bị xúc phạm, tôi thành thật xin lỗi trước). Tôi chỉ muốn dẫn chứng một điều. Chúng ta vẫn chưa nhìn ra được kẻ thù của dân tộc là ai. Trái lại, chỉ loanh quanh, nay bảo là gia đình trị họ Ngô. Mai lại bảo, khéo là ông... Thiệu, hoặc giả, là Hồ Chí Minh và tập đoàn CS. Một khi, chúng ta chưa đồng nhất chỉ ra được kẻ thù của dân tộc là ai, ở đâu, người dân Việt Nam cũng chưa thể có đối sách, chưa thể có hướng đi, chưa thể có hành động để thoát ra khỏi con đường vòng quanh, tăm tối ấy. Theo đó, tôi cho rằng, nếu muốn tìm ra con đường, tìm ra phương thức hành động thích ứng cho Việt Nam, tất cả mọi người, không trừ ai, phải nhận diện được kẻ thù của dân tộc là ai, ở đâu. Khi chúng ta đã nhận diện được kẻ thù của dân tộc thì kế sách vẹn toàn của cha ông ta đã có sẵn, cứ thế mà thi hành để cưu quốc và kiến quốc. Chuyện mười năm không thành thì hai, ba mươi năm phải thành..

3. Hồ chí Minh là ai? Y có phải là kẻ tội đồ đã mở đường cho Tàu vào xâm lấn nước ta và gây ra cảnh cùng khốn cho dân ta hôm nay không?

Như ở phần trên tôi đã viết. Hồ Quang là một cái tên khác của Hồ Chí Minh với lý lịch như sau): “Sơ yếu lý lịch của Hồ Quang tại Lớp huấn luyện Nam Nhạc /thuộc tỉnh Hồ Nam. Năm 1939. Hồ Quang 38 tuổi- Phụ trách điện đài - Quảng Đông - Thiếu tá - tốt nghiệp Đại học Lĩnh Nam – Giáo viên trường Trung học. Biết ngoại ngữ, quốc ngữ. Nguồn: Lưu trữ Trung Quốc”. 胡光(即胡志明主席)1939年在湖南省南岳培训班的简历。 胡光—电台员---38岁----广东----少校----毕业于岭南大学------中学教师。会外语和国语. 

Trong khi đó, Nguyễn Sinh Cung, cũng gọi là Nguyễn Tất Thành, người làng Kim Liên, Nam Đàn, sinh năm 1891. Theo tài liệu của sở mật thám Pháp thì Nguyễn Sinh Cung đã chết vào năm 1933 vì bệnh lao phổi. Nay theo ông Phạm Quế Dương cho biết, Nguyễn Ái Quốc, đã chết vì bệnh lao tại Hồng Kông với những phần ghi chú như sau: “Tác giả Hùynh Tâm cũng là người Trung quốc (trong tập tài liệu dầy 141 trang) xác định Hồ chí Minh là Hồ tập Chương. Tài liệu viết: Theo hồ sơ của nhà tù Hương Cảng, Nguyễn Tất Thành đang lâm nguy bởi nhiều bệnh do trác táng, say đắm phong trần làm cơ thể hao mòn, mang bệnh truyền nhiễm cấp độ cao hết thuốc trị liệu... Năm 1832 Nguyễn Tất Thành qua đời tại nhà tù Hương Cảng, hưởng dương 40 tuổi (1892-1932). Người thân (tên Hồ Vinh - Nguyễn Vinh) đến nhận xác và tất cả vật dụng cá nhân của tử tù và đem đi hỏa táng. Tro cốt của Nguyễn Tất Thành mà số 00567, lưu trữ tại nghĩa trang Kuntsevew Moscow Russian... Tài liệu này được lưu trữ tại nhà tù Hương Cảng”.

Dĩ nhiên là chúng ta không hoàn toàn tin vào tài liệu này. Bởi vì khi “họ” cho ám số về tro cốt, chúng ta yêu cầu xét nghiệm tro cốt này bằng DNA thì có thể vấp ngã lớn vì có thể bị lừa. (bởi vì nó sẽ không trùng khớp với Nguyễn Sinh Khiêm). Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng không thể có cách chứng minh Y là Hồ Quang và cũng là Nguyễn Sinh Cung. Bởi lẽ hai người có hai bản sơ yếu lý lịch hoàn toàn khác nhau. Tôi không thể đồng ý với ý kiến lập luận rằng, Hồ Quang chỉ là một tên gọi khác của Hồ Chí Minh như hằng trăm tên khác do nhà nước CSVN sưu tầm và công bố, có gì là không đúng, có gì cần thắc mắc”. Có, nó có chỗ không đúng và có chỗ đáng thắc mắc. Bởi vì trong tất cả 169 cái tên kia không một cái tên nào có lý lịch riêng. Đó thuần tuý là bút hiệu, bút danh hay tên gọi có thể là của một người (hoặc nhiều người bị tước đoạt và được gán cho Hồ Chí Minh) Riêng cái tên Hồ Quang có sự khác biệt. Đó là một nhân sự có sơ yếu lý lịch riêng, có quân hàm có đơn vị, có địa bàn hoạt động trong hàng ngũ bộ đội của Trung cộng. Nó hoàn toàn không phải là một bí danh. Nhưng là một người khác. Trường hợp cho rằng vì phải dấu thân phận trong cuộc vận động chính trị cũng khó chấp nhận. Bởi lẽ, nếu cần dấu thân phận thì chỉ cần một cái tên, cấp bậc là đủ, không càn phải có sơ yếu lý lịch, sở học, nghề nghiệp, nơi sinh hoạt một cách rõ ràng công khai hóa như thế. Nếu cho đó là một cái sơ yêu lý lịch giả thì bản thân của Hồ Chí Minh cũng là giả nốt. Chẳng có gì là sự thật. Và y có thể là người Tàu giả làm người Việt Nam?

Ngoài ra, cũng theo tài liệu này do ông Phạm Quế Dương ghi lại: “cũng có ghi chú về gia phả và sự nghiệp của Hồ Tập Chương trong hồ sơ HTC4567 lưu trữ tại quân ủy trung ương (CPC) và tình báo Hoa Nam Trung quốc như sau: “Đương sự được đảng cộng sản trung quốc huấn luyện hơn một thập niên tại Học viện Hoàng Phố, Vân Nam... Kết quả, Trung quốc dốc hết nhân lực, tài khí tài vật lập ra một thế lực mới tại Việt Nam và tình báo Hoa Nam thổi lên một Hồ chí Minh làm chủ tịch nước VNDCCH”. Cùng nguyên tắc, chúng ta không hoàn tin và bám vào những tài liệu này làm chứng cứ. Nhưng chỉ tin vào một điều chắc chắn là, dù là Hồ Tập Chương hay là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Quang khi làm lãnh tụ đảng cộng sản và là chủ tịch nước VNDCCH đã là một mối đại họa cho Việt Nam. Đối nội thì y thủ tiêu những nhà ái quốc Việt Nam, và tàn sát dân chúng qua những cuộc đấu tố, mở rộng chiến tranh vào miền Nam. Rồi tạo nên một xã hội không còn luân thường đạo lý. Đối ngoại thì liên hệ với kẻ thù của dân tộc. Bán đất dâng đảo cho chúng để nắm lấy công quyền. Chỉ bấy nhiêu, cũng đủ để y được liệt kê vào thành phần thủ lãnh của Kiều Công Tiễn, Cù Thị, Trần Ích tắc, Lê Chiêu Thống, Mạc Đăng Dung... Đối với thành phần này, di chiếu của tiền nhân ta còn đây. Muốn cứu quốc và kiến quốc thì phải dứt khoát tru di những kẻ bán nước cầu vinh. Ngoài ra không có một phương cách nào khác.

4. Làm gì để cứu non sông đây?

Một điều cần khẳng định là, dù Hồ Quang là người Tàu hay là người Việt thì y vẫn là một thiếu tá trong đội quân của CS Trung cộng trước khi xâm nhập vào hệ thống CSVN với chủ đích lũng đoạn và tìm cách đưa Việt Nam vào làm chư hầu cho Trung cộng. Âm mưu này đã đuợc cộng sản Trung cộng che chắn và bảo vệ cẩn thận suồt thời kỳ 1940-1969 và sau đó. Tuy nhiên, bộ mặt thật và những việc y làm lợi cho Trung cộng đã lộ diện. Người Việt Nam không nên nghi ngờ gì về trường hợp của Hồ Chí Minh nữa. Trái lại, phải dứt khoát đi thôi!

Trong tay chúng ta không có một tấc sắt thì làm được cái gì?

Hãy làm một công việc bé nhỏ nhất. Mọi người cùng tham gia phát động phong trào nói lên sự thật. Nghĩa là, người người bảo nhau, người biết nói cho người không biết. Người già nói cho trẻ cùng nghe là Hồ Chí Minh và đảng CS đã dẫn Tàu cộng vào chiếm nước ta. Rồi nhà nhà giáo huấn, trao đổi và bảo nhau về việc Tàu cộng đang xâm chiếm nước ta. Đồng thời nhắc nhở cho nhau về ý chí tru diệt kẻ xâm lăng và những kẻ mãi quốc càu vinh của cha ông ta. Ý chí này nếu hôm nay chưa thực hiện được thì ngày mai cũng sẽ. Đừng sợ hãi, đừng e dè. Ngày nay không còn là thời con cái trong nhà đi tố cha mẹ anh em mình. Không phải là lúc hàng xóm láng giềng, bạn bè tố cáo chúng ta về những lời nói này với công an, với cán bộ nhà nước để kiếm sống. Dẫu có cũng chẳng hệ gì. CS có thể bắt được trăm người, thậm chí, vài ngàn người, nhưng không thể bắt hàng triệu triệu người. Như thế, tuyên ngôn sự thật sẽ được truyền đến mọi người, mọi nhà, mọi chân trời góc bể. Kẻ xâm lược nhất định thua, kẻ bán nước nhất định sẽ bị tru diệt.

Hỡi những người đã từng được gọi là anh hùng vượt biển đông. Những người đã đạp trên cái chết mà đi sau 30-4-1975, những người đã làm cho cả thế giới xúc động và ngưỡng mộ vì lòng can đảm khi vượt biển trên chiếc thuyền mong manh. Nay, nếu cần về Việt Nam thì cứ về. Chỉ xin quý vị về với 1/100 lòng can đảm của lúc ra đi. Hãy về và nói cho thân nhân và người quen biết sự thật là Hồ Chí Minh, và cộng sản đã đưa Tàu cộng vào chiếm nước ta. Hãy nói cho bà con của mình nghe về nhân quyền của con ngưòi đích thực là như thế nào. Đừng hèn nhát, đừng cúi đầu như một kẻ tội phạm, đừng dùng năm ba đồng để bán rẻ cái nhân phẩm của mình khi đút lót cho nhân viên trong các trạm kiểm soát từ phi trường. Đừng dùng năm ba đồng, vài chai bia, lon nước cho cán bộ khu vực để được nghênh ngang nơi minh về thăm. Bởi vì, nào có phải là ta “áo gấm về làng” đâu? Ta về đây là về vì tình ruột thịt với thân nhân, với dân làng, với nước non. Là chia xẻ nỗi bất hạnh với đất nước. Như thế, có gì đáng để khoa trương Việt kiều? Mà chúng ta cũng có phải là Việt kiều đâu? Chúng ta là người tỵ nạn chính trị cộng sản đấy. Ta có phải là người của chế độ đưa đi sinh sống tại nước ngoài và chấp nhận quyền lãnh đạo của họ đâu? Trái lại, ta đi vì Tự Do khi quê hương ta gặp đại nạn cộng sản. Nên khi về, xin hãy về bằng khí phách, bằng ý chí mãnh liệt “đem nhân nghĩa thắng hung tàn” đem sự thật về góp phần vào việc cứu non sông. Có thế sự ra đi của chúng ta mới có ý nghĩa.

Chỉ nói bấy nhiêu thôi ư?

Vâng, chỉ bấy nhiêu thôi, ta chỉ cần làm công việc nhỏ bé thôi. Việc tuy nhỏ, nhưng xem ra lại là con đường duy nhất để chúng ta cứu lấy non sông và dân tộc trong giai đoạn này. Bởi vì, khi có được 70% dân số nước ta biết rõ bộ mặt Tầu của Hồ  Chí Minh, biết rõ bộ mặt thật của cộng sản là tập đoàn bán nước cầu vinh như Lê Chiêu Thống, Cù Thị, Kiều Công Tiễn... thì cơn hồng thủy tru di kẻ bán nước lập tức nổi lên và người Việt Nam yêu quê hương, trọng nhân bản sẽ đứng cao trên đỉnh chiến thắng vinh quang. Kẻ bán nước sẽ bị triệt tiêu. Đó chính là cái nghĩa của con đường tay không tấc sắt chống bạo tàn. Đường đi có thể dài năm năm, mười năm hay hơn nữa, nhưng chắc chắn sẽ tới, chắc chắn chúng ta sẽ chiến thắng và ý chí của tiền nhân sẽ được thực hiện. Trái lại, sự giữ yên lặng của chúng ta, cuộc đi về bằng sự hèn nhát sẽ là những hành động đồng lõa với những kẻ bán nước cầu vinh, và dâng đất nước của tiền nhân vào tay Tàu cộng.

Tháng 7-2014

Sài Gòn: Dân oan đẩy lui lực lượng cướp đất hùng hậu bằng một can xăng 5 lít


Hội Dân oan Thủ Thiêm (Danlambao) - Chỉ bằng một can xăng 5 lít với lời tuyên bố sẵn sàng tự thiêu, một người đàn ông đã đẩy lui lực lượng cướp đất hùng hậu của giới chức tham nhũng địa phương trong vụ cưỡng chế vừa qua diễn ra tại Dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Quận 2, Sài Gòn.
  
Vụ việc xảy ra vào sáng ngày 08/07/2014, những kẻ tự xưng là "chính quyền của nhân dân và là đày tớ của nhân dân" đã huy động hàng trăm công an, bộ đội, dân quân, cán bộ, thành viên các hội Người cao tuổi, Cựu chiến binh, Phụ nữ, Nông dân... và quần chúng tự phát kéo đến căn nhà của ông Nguyễn Tiến Đạt (địa chỉ: D6/9C1, đường Trần Não, tổ 27, khu phố 2, phường Bình Khánh, quận 2) để tiến hành chiếm đoạt nhà và đất của gia đình ông Đạt. 

Điều đáng nói, cả căn nhà và phần đất của ông Đạt có diện tích 174,33m2, nhưng chỉ được áp giá đền bù có 160.840.500 đồng (160 triệu đồng, tương đương 7600 USD). Với giá đền bù rẻ mặt này, gia đình nạn nhân mất đất chỉ đủ tiền để mua gần 2 mét vuông đất cùng vị trí.


Đội quân cướp đất đông đảo với đủ mọi thành phần

Quá phẫn nộ vì cái gọi là "chính quyền nhân dân" đã hành xử bất chấp đạo lý, coi thường luật pháp, tùy tiện chiếm đoạt nhà đất của dân nghèo, em ruột của ông Đạt là Nguyễn Tiến Bình (sinh năm 1972) đã bất ngờ leo lên mái nhà, quấn mền và chuẩn bị một can xăng 5 lít sẵn sàng châm lửa tự thiêu.

Mặc dù bọn ăn cướp với lực lượng hùng hậu, gương mặt đằng đằng sát khí, trang bị vũ khí đầy đủ với xe cứu hỏa và cứu thương, tuy nhiên khi thấy có một can xăng 5 lít đã vội vàng âm thầm rút lui. Gương mặt bọn chúng đều tỏ ra tiu nghỉu vì miếng mồi ngon ăn tới miệng, nhưng đành phải bỏ của mà chạy lấy người...

Lý do nào khiến chúng sợ hãi đến như vậy?

Các vụ cướp đất tại Thủ Thiêm đã đẩy người dân rơi vào cảnh khốn cùng. 
Để chống lại lực lượng cưỡng chế, đã xảy ra trường hợp dân oan Thủ Thiêm 
phải tử vong, có người tự thiêu suýt chết, hoặc phát điên vì bị cướp đất...

Cũng xin được nhắc lại, dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm, quận 2 là dự án 9 không:

1. Không có quyết định thu hồi đất. Nhằm ăn cướp nhà đất của nhân dân
2. Không có phương án đền bù. Nhằm bóc lột và bần cùng hóa nhân dân.
3. Không có đất tái định cư đúng quy định. Vì đã chia 169 ha cho 64 dự án kinh doanh
4. Không đền bù theo giá tại thời điểm thu hồi đất. Để hưởng chênh lệch
5. Không nằm trong ranh quy hoạch và ranh thu hồi, nhưng vẫn bị chiếm đoạt . 
6. Không giải quyết khiếu nại đúng thời hạn. Để dân không khiếu kiện được. 
7. Không có quyết định phá dỡ nhà ở. Nhưng cho xe ủi cày nát.
8. Không có tiền, phải đi vay mượn, mỗi ngày phải trả lãi vay gần 6 tỷ VNĐ
9. Không có nhà đầu tư, do khiếu nại gay gắt. Các nhà đầu tư lớn đều bỏ chạy.

Tấm bảng "Công trình đang thi công cấm vào" bị sửa thành... "Còn trinh đang thi công"

Trước đó, vào năm 2012, một dân oan cũng tại Thủ Thiêm là cô Trần Thị Ngọc Muội đã chống trả bọn cướp đất bằng cách ném ném 4 quả bom xăng vào công an nhằm giải cứu người mẹ già đang bị lực lượng cưỡng chế đánh đập.

Cô Muội sau đó bị công an bắt giam và kết án 6 tháng tù giam với cáo buộc "chống người thi hành công vụ". Vụ việc đã được tường thuật trên Danlambao tại hai bài viết:



Lá chắn bảo vệ cướp Biển Đông


Huỳnh Tâm (Danlambao) - Ngày nay, thế giới là của chung nhân loại không phải của riêng ai, cho nên vấn đề quản trị một đất nước không cho phép đảng trị chuyên quyền, cũng vì trước đây có một phần dân tộc thờ ơ đưa đất nước vào huyệt lộ của cộng sản trị, đứng trên đầu dân tộc Việt Nam tung hoành vô tư. Đến nay, dân tộc Việt Nam có thấy chăng, trong sinh hoạt xã hội thường ngày đã bị Hán hóa và đàn áp nhân dân còn tệ hơn 1.000 năm nô lệ giặc Tàu! Chúng đã cướp tài sản quốc gia bằng nhiều hình thức tinh vi và dùng tâm lý ru ngủ mọi tầng lớp nhân dân, kể cả trí thức cũng bị mê hoặc. Giờ đây hãy tĩnh ngủ mê để hiểu rằng đất nước đang vào con đường mất nước, tất nhiên không còn cơ may nào quay đầu dựng lại nước. Trung Quốc cướp và cai trị bằng kinh tế, khoa học và kỹ thuật.

Từ bây giờ, nhân dân Việt Nam cần xây dựng lại tổ chức theo tinh thần nhân bản và cùng đi trên lộ trình tiến bộ dân chủ đa nguyên. Có như thế, mới nói chuyện được với những đại biểu của chính quyền đảng trị tại Việt Nam, hiện nay người Việt phải thấy 74 năm đô hộ bởi người Hán, Hồ Chí Minh là một trong những người đó.

Những HD981 chặn đường ra Biển Đông của Việt Nam, đã bí lối huyết mạch tối hệ trọng, dân tộc Việt Nam không còn đường di chuyển ra thế giới bên ngoài, và giao lưu với nhân loại, chưa kể những nguồn tài nguyên khác. Nguồn ảnh: Tân Hoa Xã.

Đến nay, Trung Quốc mới thực sự hành động cụ thể cướp lãnh thổ biên giới và lãnh hải Biển Đông Việt Nam, họ sử dụng mọi thủ đoạn cướp Biển Đông tinh vi, chẳng hạn HD981, chỉ là bước thử thách, đo chiều cao sức bật của lửa dân tộc Việt Nam. Trung Quốc khai thác chế độ lộng quyền, siêu tham nhũng thích tồn tại, lũng đoạn kinh tế, tài chính tê liệt, xã hội điêu linh người dân bỏ nước ra đi tìm nơi sống, giáo dục không xây dựng được tư cách con người, thế hệ này và mai sau nhất định bị băng hoại, trước mắt có một số thanh niên đang ở xứ người làm nghề không lương thiện, ăn cắp, móc túi, trồng cần sa, á phiện. Hiện nay đang có dấu hiệu thế giới khinh bỉ người Việt, chuẩn bị khai trừ ra khỏi sanh sách không được hưởng quyền đi lại, bởi đảng "Bác" giáo dục "trăm năm trồng người" đã học quá nhiều thói quen, tật xấu của người Trung Hoa, đến độ chấp nhận đem thân làm tay sai cho Bắc Kinh, không màng tưởng đến đất nước lâm nguy, đảng "Bác" đẩy đất nước Việt Nam mất hướng sinh tồn mà chỉ còn lại là một xã hội tràn đầy tệ đoan khủng khiếp.

Rừng vàng là tài nguyên lớn của quốc gia, cũng là lá phổi của cả đất nước, nay đã bị chúng cướp mất, khai thác cạn kiệt hết còn đường hy vọng sống, vô phương cứu chữa chỉ chờ ngày chết, phá hư môi trường thiên nhiên, từ đó thiên tai bão lụt xuất hiện quanh năm, một lúc nào đó dân tộc của chúng ta nhất định không còn lương thực để sống, và sinh hoạt dưới màn trời chiếu đất, chúng ta phải thấy đảng "Bác" đưa dân tộc đến ngưỡng cửa tự diệt vong. Việt Nam vốn đã nghèo tài nguyên nhưng đảng của "Bác" ra sức cướp phá, đập đổ cho đất nước này tan hoang, nói chung sinh lộ những thế hệ mai sau tự nó đi ăn mày, đến nay đảng "Bác" ăn cướp bẩn, lòng tham chưa thỏa mãn, tiếp tục cướp luôn "biển bạc" chặn luôn đường ra Biển Đông của dân tộc Việt Nam.

Mọi sự đều có nguyên nhân, kẻ bán người mua và nó đã nhận hàng, hiện thời kế hoạch của đảng "Bác", phản đối Trung Quốc vào Biển Đông chỉ hình thức buông trôi, la ó chỉ là chuyện nhu nhược, một kịch sĩ hèn đứng trên sân khấu câm.

Thế giới đều biết đảng của "Bác" thay mặt triều đình Bắc Kinh khủng bố, đàn áp, chống lại nhân dân Việt Nam; đảng "Bác" lấy thân ưỡn ngực làm lá chắn gọi mời cướp Biển Đông, không cho nhân dân phản đối một lời nào. Đảng của "Bác" còn có những quyết đoán sai lầm, mở đường khai thác "toàn diện" thay thế cho một cuộc chiến tranh nguội, hầu an toàn cho chế độ kéo dài đời đảng.

Tổ chức phối trí lại những cuộc họp "song phương", mời ông Dương Khiết Trì với Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Bình Minh, họp ngày 18 tháng 6 năm 2014 tại Hà Nội, chiếu theo "Y lệnh thuận" buổi lễ bàn giao phần Biển Đông còn lại cho Trung Quốc.

Đã bán biển Đông cho Trung Quốc, Việt Nam che đậy gian manh, hai đảng lấy tàu thuyền húc nhau làm cơ sở chính trị thách thức người dân phản đối. [1] Nguồn: Tân Hoa Xã.

Phạm Bình Minh cho biết:

- Việt Nam trân trọng quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước, hy vọng sẽ tiếp tục duy trì và thúc đẩy hợp tác "song phương" trong các lĩnh vực khác nhau và sẵn sàng cùng nỗ lực để cải thiện và phát triển quan hệ với Việt Nam. (越方珍惜两国传统友谊, 希望继续保持和推进两国各领域合作, 愿同中方共同努力, 改善和发展越中关系).

Ông Phạm Bình Minh không đề cập đến giàn khoan HD981 đang chiếm Biển Đông, trái lại ông ta vẫn giọng điệu kêu gọi Trung Quốc tiếp tục hợp tác. Một lời mời ngoại giao quá ư ngoạn mục, thay cho tuyên bố "từ nay Việt Nam không có Biển Đông".

Ông Dương Khiết Trì:

- Tôi cảm ơn đồng chí trở về nhà. (我感谢同志回家).

Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì và Phó Thủ tướng Việt Nam, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, tổ chức tại Hà Nội Việt Nam buổi hợp tác "song phương" toàn diện. Nguồn: Ký giả Cố Thì Hoành (顾时宏).

Truyền thông nước ngoài rất chú ý sự có mặt của Dương Khiết Trì tại Hà Nội Việt Nam. Ký giả Cố Thì Hoành (记者顾时宏), Tân Hoa Xã tại Hà Nội, đưa tin:

"...Dương Khiết Trì giải thích: Trung Quốc-Việt Nam liên quan với nhau cùng xây dựng trên vị trí nguyên tắc" (nguyên tắc miệng!). Ông cho biết thêm: "Trung Quốc luôn coi trọng các bên và các mối quan hệ của chính phủ Việt Nam từ độ cao chiến lược và tầm nhìn dài hạn, Đảng và Chính phủ Việt Nam sẵn sàng cùng nỗ lực để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh và ổn định của quan hệ đối tác hợp tác chiến lược "toàn diện" Trung Quốc-Việt Nam".

Dương Khiết Trì bắn tin, báo động để nhà nước Việt Nam thấu hiểu thân phận "chư hầu" trước nhất trung thành, chấp nhận "ổn định quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam".

Dương Khiết Trì chỉ cho đảng "Bác" và dân tộc Việt Nam cách sống:

- Hiện nay quan hệ Trung-Việt, đang phải đối mặt với một tình huống khó khăn là do phía Việt Nam tháng trước tiếp tục can thiệp trái pháp luật trong quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc điều hành giàn khoan HD981 trong quần đảo ngoài khơi, kết quả không như ý. 

Dương Khiết Trì còn nhấn mạnh rằng:

- Quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ cố hửu của Trung Quốc, không tranh cãi. Công ty Trung Quốc nằm trong quần đảo Hoàng Sa hoạt động bình thường không liên quan đến nước ngoài Việt Nam, là sự tiếp nối tự nhiên của 10 năm hoạt động thăm dò trong cùng khu vực, hoàn toàn hợp pháp và hợp lý. Trung Quốc sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền quốc gia và quyền lợi ích của hàng hải, Việt Nam phải đảm bảo vận hành an toàn thuận lợi cho những giàn khoan sau này.

Dương Khiết Trì khẳng định rằng:

- Các vấn đề hàng hải hiện nay, cả hai bên đều muốn duy trì tình hình chung của quan hệ "song phương" giữa hai bên, nhấn mạnh vào kiểm soát tình hình trên biển, về thông tin liên lạc phải "song phương", hãy tuân thủ và hướng dẫn dư luận cho chính xác, loại bỏ sự can thiệp của kẻ khác, thông qua những nỗ lực chính trị và ngoại giao để tìm kiếm một giải pháp thích hợp, ngay sau khi tình hình ổn định phải ém lại cho lắng xuống để tránh việc mở rộng vấn đề lan rộng ra lĩnh vực quốc tế. Việt Nam phải chấm dứt can thiệp hoạt động phản đối Trung Quốc để ngăn chặn đầu cơ về vấn đề này, ngăn chặn sự khác biệt xử lý, tạo ra tranh cãi, phá hoại. Hãy đốn tận gốc các vụ bạo động gần đây xảy ra ở Việt Nam, và phải có biện pháp hiệu quả để đảm bảo đảng sống còn.

Nhân viên an ninh công ty Dầu Khí của cả hai bên giải quyết các vấn đề tranh chấp Biển Đông và để tạo ra các điều kiện cần thiết, bầu không khí cho sự trao đổi và hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau, được trở lại bình thường càng sớm càng tốt. 

Tôi hy vọng tập trung tổng thể về phía Việt Nam, đối diện phù hợp với Trung Quốc để thúc đẩy quan hệ Trung-Việt Nam vượt qua khó khăn và tiếp tục di chuyển về phía trước đi đúng hướng.

Theo phát biểu của ông Dương Khiết Trì ở trên, được xem như lời giáo dục nhân dân Việt Nam, và từ đây chính thức đảng "Bác" hưởng qui chế chư hầu của Trung Quốc. Hắn mạt sát dân tộc Việt Nam quá đáng, không biết người dân mình suy nghĩ thế nào?

Phạm Bình Minh, con lừa Trung Quốc, đóng kịch kiệt xuất, cho biết:

"Việt Nam trân trọng quan hệ hữu nghị "truyền thống" giữa hai nước hy vọng sẽ tiếp tục duy trì và thúc đẩy hợp tác "song phương" trong các lĩnh vực khác nhau và cùng nỗ lực để cải thiện và phát triển quan hệ giữa Việt Nam". 

Phạm Bình Minh đưa ra quan điểm về vấn đề:

" Sẵn sàng thực hiện theo hai nhà lãnh đạo về quan hệ "song phương" và xử lý đúng đắn các vấn đề nhạy cảm để tránh nhiễu sự đồng thuận quan trọng giữa hai bên đã đạt được một mối quan hệ song phương toàn diện, tình hình hiện nay trên biển với Trung Quốc, tiếp tục duy trì thông tin liên lạc chặt chẽ và kiểm soát căng thẳng và đúng cách các vấn đề liên quan đến thế giới bên ngoài, Việt Nam và Trung Quốc có khả năng để giải quyết sự khác biệt thông qua biện pháp hòa bình".

Theo cách phát biểu của ông Phạm Bình Minh, một người đại diện cho đảng "Bác" đã chính thức đầu hàng Trung Quốc, và chấp nhận ông Dương Khiết Trì với tư cách chủ nhà Biển Đông, cho nên họ Dương nói với tư cách chủ Hán: "kỷ luật và an ủi con chó hoang" (安抚散漫的狗).



_________________________________

Tham khảo:

[1] 在出售东中国海, 越南欺骗隐瞒, 两艘船撞各方采取作为基础亲爱的丹政治.


[3] Dương Khiết Trì sang Việt Nam để đối phó với tình hình trên biển: 

[4] Dương Khiết Trì đáp ứng lời mời của những nhà lãnh đạo Việt Nam: 

[5] Dương Khiết Trì, quan hệ Trung Quốc-Việt Nam khó có thể đã được giải quyết: 

[6] Quan hệ Trung-Việt, khả năng đáp ứng mỗi nửa kia? : 

[7] Dương Khiết Trì gặp Đảng Cộng sản Việt Nam Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:

[8] Phương tiện truyền thông nước ngoài: Trung Quốc và Việt Nam không thể đồng ý về các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông:

[9] Việt Nam nên ngừng can thiệp bất hợp pháp, vào những hoạt động doanh nghiệp của Trung Quốc:

Đảng còn, dân sẽ bị lệ thuộc Tàu


Phạm Trần (Danlambao) - Sau hơn hai tháng không đuổi được giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Cộng ra khỏi thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông, đã đến lúc lãnh đạo và đảng Cộng sản Việt Nam hãy tự giác ngộ để trả lại quyền làm chủ đất nước cho dân trước khi quá muộn với quân xâm lược phương Bắc.

Lý do vì:

Thứ nhất, đảng và lãnh đạo đã mất hết lòng tin trong dân và không có khả năng đoàn kết dân tộc để bảo vệ đất nước.

Thứ hai, nhà nước chưa có bất cứ kế họach nào để giành lại Hòang Sa bị Trung Cộng chiếm bất hợp pháp từ tháng 01 năm 1974 và 8 đảo và bãi đá ở Trường Sa mất vào tay quân Trung Cộng từ tháng 3 năm 1988.

Thứ ba, Quân đội nhân dân cũng không có bất cứ hành động nào để ngăn chận Trung Cộng biến các vị trí chiếm được ở Trường Sa thành các đảo nhân tạo và lập căn cứ quân sự vĩnh viễn ở đó.

Thứ tư, Việt Nam không vận động được Liên Hiệp Quốc, Liên hiệp Châu Âu và Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN, Association of South East Asia Nations) mà Việt Nam là một trong 10 quốc gia hội viên, tuyên bố ủng hộ mình trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Cộng.

Thứ năm, các hành động bảo vệ chủ quyền của Việt Nam chỉ tập trung vào lời nói của lãnh đạo là nhiều trong khi Trung Cộng tiếp tục hành động chiếm biển và tài nguyên của Việt Nam ở Biển Đông.

Thứ sáu, các hoạt động phản bác, tranh luận về chủ quyền lãnh thổ của các học giả và chuyên viên Việt Nam trên các diễn đàn Quốc tế không sánh kịp với Trung Cộng.

Thứ bảy, Việt Nam chỉ biết “phản ứng chạy theo” chiến dịch tuyên truyền rộng rãi của Trung Cộng về chủ quyền Biển Đông bằng bản đồ, tài liệu du lịch, sách giáo khoa và báo chí nhằm “hợp thức hóa” nhận thức của người đọc đối với “chủ quyền tự vẽ hình lưỡi Bò” chiếm gần hết 3.5 triệu cây số vuông Biển Đông.

Thứ tám, vài cuộc triển lãm tài liệu lịch sử về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như tổ chức Hội thảo quốc tế “Hoàng Sa - Trường Sa: Sự thật lịch sử” diễn ra tại Đà Nẵng từ 19-21/06/2014, do trường Đại học Đà Nẵng và Đại học Phạm Văn Đồng tổ chức, tuy có chừng 100 học giả, nhà nghiên cứu quốc tế từ Mỹ, Pháp, Đức, Ấn Độ, Philippines và Việt Nam tham dự nhưng không tạo được tiếng vang trong dự luận Quốc tế.

Nguyên do vì cuộc triển lãm chỉ thu hút được người Việt trong nước, đa số là học sinh, sinh viên và ít khách du lịch hay nhân viên ngoại giao nước ngoài đến coi cho biết.

Trong khi đó thì chính quyền lại vô lý cấm báo chí không được theo dõi cuộc hội thảo Đà Nẵng nên các Hội thảo viên cũng chỉ “nói cho nhau nghe” mà thôi!

Việc làm tắc trách có hại này được Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, người tham dự cuộc Hội thảo phê bình: “Báo chí truyền thông của ta đã có đóng góp rất lớn, hiệu quả và kịp thời trong công tác tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo nói chung cũng như hội thảo này nói riêng. Tuy nhiên, đây là một hội thảo thuần túy khoa học chứ không phải một phiên tòa xử kín, các nhà báo chỉ được tham dự buổi khai mạc và phiên bế mạc. Nội dung thảo luận thì họ không được tham dự. Đây là một điều hết sức đáng tiếc.”

Than phiền của Tiếc sỹ Trục không ngạc nhiên vì từ lâu, bộ óc sợ hãi “làm phiền người láng giềng phương Bắc” của những lãnh đạo Tuyên giáo Trung ương (bây giờ là Ủy viên Bộ Chính trị Đinh Thế Huynh) và địa phương khi chạm đến những vấn đề được gọi là “nhạy cảm” liên hệ đến Trung Cộng thì liền ra lệnh cho báo chí không được viết hay cấm tham dự.

Chẳng hạn như, cho đến ngày 02/05/2014 khi Trung Cộng đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển của Việt Nam thì báo đài mới được tự do nói thẳng các “tàu của Trung Quốc” đã tấn công các tầu cảnh sát biển và tàu cá Việt Nam gần giàn khoan.

Trước ngày 02/05/2014, các viên chức đảng, báo chí, ngay cả ngư dân Việt Nam bị lính Trung cộng giả dạng dân đánh cá hay tầu cảnh sát biển của Trung cộng tấn công, đánh đập dã man và cướp phá tài sản, ngư cụ trên biển, hoặc bị đâm chìm tầu trong đêm tối cũng chỉ được Ban Tuyên giáo cho phép gọi chúng là “tàu lạ”, hay “tàu nước ngoài”!

Thậm chí quân và tàu chiến Trung Cộng đã công khai tấn công chiếm đảo và giết lính Việt Nam ở Trường Sa năm 1988 cũng từng được Sỹ quan hải quân Việt Nam gọi là “quân đội và tàu nước ngoài”!

Hải quân Việt Nam chỉ “đích danh tố cáo Trung Cộng” đã xâm lược bất hợp pháp Trường Sa từ ngày 31/12/2013.

Báo Tuổi trẻ Online tường thuật: “Tàu Hải quân Việt Nam khi qua khu vực các đảo Gạc Ma, Len Đao, Cô Lin thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam luôn tổ chức lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong sự kiện 14.3.1988 - chống Trung Quốc xâm chiếm quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam..

..Trong diễn văn của mình, thượng tá Ngô Duy Đỗ, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Trường Sa, Trưởng đoàn công tác, nhấn mạnh: “Ở vùng biển này, cách đây gần 26 năm đã diễn ra trận chiến đấu quyết liệt, quả cảm của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 146-Trường Sa anh hùng, của các tàu HQ 604, HQ 605, HQ 505, Trung đoàn công binh 83 chống lại cuộc tấn công trắng trợn, bất ngờ của Hải quân Trung Quốc… Trường Sa và Hoàng Sa từ lâu là lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc ta trên biển Đông nhưng đối phương đã đưa lực lượng lớn xuống quần đảo Trường Sa, ngang nhiên dùng vũ lực chiếm giữ trái phép một số bãi đá ngầm của ta, gây nên sự kiện 14.3.1988, làm cho tình hình càng thêm căng thẳng, phức tạp”.

Vì có “những cái đầu óc chết” không dám chạm đến, dù là hành động phi pháp hay bạo lực trắng trợn chống con người và nước Việt Nam của Trung Cộng trong hàng ngũ “được gọi là lãnh đạo tuyên truyền” của Cộng sản Việt Nam như đã chứng minh nên ông Trần Cộng Trục mới mỉa mai thêm: “Có lẽ chúng ta cũng ít nhiều lo ngại khi thảo luận, "ngộ nhỡ" có những quan điểm phản biện bất lợi cho ta từ phía các học giả nước ngoài nên mới "cấm cửa" báo chí tham gia đưa tin, phỏng vấn các buổi thảo luận về nội dung chính của hội thảo. 

Điều này đã làm mất đi cơ hội để đông đảo người dân và bạn bè quốc tế thấy được tính chính nghĩa của ta trong công cuộc bảo vệ chủ quyền, đồng thời các học giả, các nhà quản lý của ta cũng thấy được các mặt yếu kém, sơ hở của mình để khắc phục. Khi chúng ta đã tự tin về chủ quyền của mình, thì chẳng có gì chúng ta phải giấu giếm hay "họp kín" cả. Làm như vậy là lợi bất cập hại.” (Báo Giáo dục Việt Nam, 27/06/2014)

Bạn hay thù của Trung cộng?

Bên cạnh những nhược điểm vừa nêu, lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN cũng không chứng minh được bản lĩnh và khả năng bảo vệ lãnh thổ bằng những chính sách và biện pháp cụ thể.

Dư luận vẫn chưa được trả lời tại sao cho đến bây giờ, sau hơn 2 tháng từ ngày giàn khoan Trung Cộng vào “ngồi chễm chệ” trong vùng biển của Việt Nam mà Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng vẫn chưa quyết định kiện Trung Cộng ra Tòa án Quốc tế?

Ông trả lời thắc mắc này tại cuộc gặp cử tri Tây Hồ (Hà Nội) ngày 01/07 (2014): “Có ý kiến băn khoăn chiến tranh xảy ra thì sao? Chúng ta phải chuẩn bị mọi khả năng song mong nó không xảy ra... Đảng, Nhà nước, Quốc hội trên dưới một lòng làm hết trách nhiệm của mình. Chúng ta phải tiếp tục đấu tranh bằng mọi biện pháp, song đấu tranh hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, kể cả đấu tranh pháp lý.”

Nhưng đến bao giờ thì ông mới dám “đấu tranh pháp lý” tay đôi với Bắc Kinh?

Ông Trọng là người thân Trung Cộng, theo lời Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh 1974-1987, đã trấn an và khuyên cử tri: “Biển Đông là vấn đề lớn, quan trọng, hệ trọng, nhạy cảm, được toàn dân và nhiều nước trên thế giới quan tâm, cũng là vấn đề liên quan đến sự ổn định, phát triển của đất nước sắp tới, cũng như việc giải quyết quan hệ với Trung Quốc, người bạn láng giềng lớn, muốn hay không cũng phải ăn đời ở kiếp với nhau, có ai chọn được láng giềng đâu”.

“Trong lịch sử đã nhiều lần, ta luôn phải tìm cách chung sống hòa bình, thân thiện, hợp tác, phát triển, đồng thời giữ được độc lập, chủ quyền... ta thẳng thắn công khai đến toàn thế giới, không nhân nhượng, rằng việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan là vi phạm pháp luật quốc tế, vi phạm chủ quyền của VN, vi phạm thỏa thuận cấp cao giữa hai nước.”(VietnamNet, 01/07/2014)

Tất nhiên Trung Cộng là “nước lớn” là “láng giềng lớn”, nhưng bảo phải “ăn đời ở kiếp” hay “chung sống hòa bình, thân thiện, hợp tác, phát triển...” với người hàng xóm đã bị chính báo của đảng lên án “tiểu xảo” và “hành động khiêu khích trắng trợn” chống Việt Nam thì không thể là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” , hay là bạn bè với nhau theo phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. 

Vậy phải chăng, tuy ông Trọng nói là: “Ta đấu tranh toàn diện, kết hợp nhiều biện pháp, trên tinh thần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, kiềm chế, không để xảy ra xung đột, chiến tranh...”, nhưng vẫn phải “đồng thời giữ được an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, không để nội bộ rối ren...”

Nói như ông Trọng thì nghe cũng xuôi tai, nếu chỉ “biết nghe” và “không cần phải suy nghĩ hay nghiên cứu xem cái nghĩa thật của câu nói nằm ở đâu”, nhưng rõ ràng là ông muốn “chế độ” và “Đảng” phải được bảo vệ để tồn tại thì mới có thể đấu tranh với Trung Cộng.

Khốn nỗi “chế độ” và “Đảng” của CSVN đã bị Trung Cộng “kìm kẹp” và “xỏ mũi” lôi đi từ Hội nghị Thành Đô (Tứ Xuyên, Trung Cộng) năm 1990 bằng những “cú lừa” ngọai mục thì làm gì còn khả năng và nghị lực” để “tống cổ” cái gian khoan Hải Dương 981 về Tàu nữa đâu mà “bảo vệ” để làm gì và cho ai?

Lý do vì vào năm 1990, khi Chủ nghĩa Cộng sản ở Liên Sô và các nước Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Âu đã và đang đi vào chỗ chết thì Tổng Bí thư đảng Nguyễn Văn Linh đã xin sang gặp lãnh đạo Cộng sản Tàu là Giang Trạch Dân ở Thành Đô để mưu cầu sự ủng hộ để bảo vệ chế độ và cùng với Tàu bảo vệ Chủ nghĩa Xã hội để tái lập lại “Thế giới Cộng sản”. 

Nhưng giờ đây Trung Cộng không còn theo Chủ nghĩa Cộng sản kiểu Nga Sô nữa mà đã tự chế ra điều được gọi là “Xã hội Chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc” để theo đuổi “Giấc mơ Trung Hoa”, trong đó có chủ trương phải “bảo vệ chủ quyền biển” là quyền lợi “cốt lõi” của Trung Cộng.

Hẳn ông Nguyễn Phú Trọng và đảng CSVN phải biết rất rõ Chủ tịch và Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung cộng Tập Cận Bình muốn gì và Việt Nam đang mắc nợ Bắc Kinh bao nhiều ngàn tỷ dollars cho nên từ sau Hội nghị Thành Đô qua hai “triều đại” Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười, và đặc biệt từ năm 1999 đến nay, Việt Nam - dưới thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu- đã phải nhượng bộ đòi hỏi “phải được phần trội hơn” của Trung Cộng trong các Hiệp ước Biên giới (1999), Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ (2000) và Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ (2000).

Sau đó đến thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh từ 2001 đến 2010 rồi đến phiên ông Nguyễn Phú Trọng từ 2011, đảng CSVN tiếp tục trao cho Trung Cộng, qua hình thức “đấu thầu rẻ để chắc chắn trúng thầu” đến 90% các dự án kinh tế và kỹ nghệ quan trọng như điện lực, khoáng sản, cơ khí, dệt may, xi măng, làm đường cao tốc nối liền Việt-Trung, dự án khai thác Bauxite trên vùng đất chiến lược Tây Nguyên đều nằm trong tay Trung Cộng.

Các Bộ Chính trị từ thời Nguyễn Văn Linh (1986) đến Nguyễn Phú Trọng (từ 2011) phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và lịch sử về những việc làm “nhượng Tầu hại Việt” của họ.

Như vậy thì làm sao mà Việt Nam có thể “thoát Trung” nếu đảng CSVN còn tồn tại với chính sách đối phó “nửa vời” với Trung Cộng ở Biển Đông và trên tất cả các lĩnh vực khác?

Cũng vì đảng CSVN đã bị Trung Cộng trói tay chân từ năm 1990 nên Bắc Kinh đã không đánh mà thắng bằng mua chuộc và mưu mẹo để giờ đây được tự do “xâm nhập rất sâu” vào hệ thống chính trị, kinh tế, ngoại giao và quốc phòng nên Việt Nam đã hết đường thoát.

Vì vậy mà không nên ngạc nhiên khi thấy ông Nguyễn Phú Trọng khuyến cáo cử tri Hà Nội rằng: “Các lãnh đạo, đoàn thể, địa phương đều đã lên tiếng mạnh mẽ, có cả diễu hành phản đối, Chính phủ cũng mới họp tìm cách phát triển kinh tế ra sao trong bối cảnh Biển Đông căng thẳng… mọi lời nói, cử chỉ, hành động đều phải cẩn trọng, phối hợp nhịp nhàng trên các mặt trận.”

Do đó, theo ông Trọng: “Biển Đông là vấn đề lâu dài, cơ bản, đụng chạm đến chủ quyền quốc gia: TQ muốn hiện thực hóa đường lưỡi bò, độc chiếm Biển Đông, muốn Hoàng Sa – Trường Sa là của TQ. Ta luôn nói Hoàng Sa - Trường Sa là của VN, trong bối cảnh thực tế TQ đang chiếm Hoàng Sa sau hai lần cưỡng chiếm. Vì vậy, phải làm sao khẳng định chủ quyền, đấu tranh lấy lại Hoàng Sa.

Đây là việc khó khăn, ta phải kiên quyết, kiên trì, bằng nhiều biện pháp, sai một ly đi một dặm, mặt nào không tốt đều ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển đất nước”.

Chủ trương “kéo dài thời gian đấu tranh với Trung Cộng” và “chiến thuật phải từ từ” nhưng không coi chừng “trâu chậm uống nước đục” của ông Trọng sẽ không thành công vì Trung Cộng thì vẫn hung hăng tiếp tục đem giàn khoan dầu vào biển Việt Nam trong khi đảng CSVN lại không dám rũ bỏ cái điều viển vông “Lý tưởng tương đồng” với Bắc Kinh thì Việt Nam sẽ tiếp tục lún sâu vào tròng lệ thuộc mọi mặt với Trung Cộng.

E rằng nếu cứ e dè, co vòi và hy vọng hão huyền vào Lãnh đạo Trung Cộng sớm muộn cũng sẽ nhận ra “chân lý đồng chí” để “sống chung hòa bình” với Việt Nam thì toàn vẹn lãnh thổ khó mà còn nguyên.

Tuy vậy, ông Trọng vẫn chủ trương: “Đấu tranh bằng mọi biện pháp hòa bình, kể cả đấu tranh pháp lý, không mong muốn chiến tranh, xung đột xảy ra nhưng phải chuẩn bị tất cả mọi phản ứng.”

Nhưng đàng CSVN đã chuẩn bị chưa? Nếu có, tại sao không cho dân biết mà để dân phải hỏi như cử tri Tây Hồ đã thắc mắc với ông hôm 01/07 (2014)?

Thế rồi người đứng đầu đảng CSVN lại khuyên dân đừng nhầm lẫn giữa “lãnh đạo xấu” và “người dân tốt” của Trung Cộng.

Ông bảo: “Cũng cần chú ý phân biệt nhân dân TQ và các lãnh đạo Trung Quốc, phân biệt những người gây hấn, đặt giàn khoan với 1,3 tỷ người dân Trung Quốc.”

Nhưng nếu cứ “nhịn đói mà chờ sung rụng” thì có thoát chết không? Muốn có miếng ăn thì phải “tay làm hàm nhai”. Không ai có cơm thừa mà đem bố thí cho kẻ khỏe mạnh mà lười biếng, chỉ giỏi lý luận cùn mà không dám nhìn xem ánh sáng có còn ở cuối dường hầm hay không?

Thực tế của Việt Nam ngày nay là: Nếu cứ bám lấy chủ trương của ông Nguyễn Phú Trọng và đảng CSVN là phải kiên định “bảo vệ chế độ” và “bảo vệ đảng” để “bảo vệ dân” và “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ” trong cuộc đấu tranh với kẻ thủ cực kỳ nguy hiểm Trung Cộng thì dân tộc sẽ chỉ bị đẩy đến gần ngưỡng cửa lệ thuộc phương Bắc mà thôi.

Vì vậy, muốn giữ nước và dựng nước thì người CSVN phải vượt ra khỏi tư duy giáo điều và chậm hiểu để lột xác khỏi chiếc áo Cộng sản xơ cứng, lạc hậu đang tác hại đến tận xương tủy dân tộc.

Mọi phương án tiếp tục kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản độc tài Hồ Chí Minh để duy trì chế độ Cộng sản ở Việt Nam chỉ có hại cho dân cho nước mãi mãi. 

Với tình hình cực kỳ nguy nan hiện nay, ai cũng thấy chỉ có một chế độ tự do, dân chủ và đòan kết toàn dân mới bảo vệ được Tổ quốc trước âm mưu bành trướng và bá quyền của “láng giềng Trung Cộng”.

Cũng nên biết rằng nếu chẳng may nước mất vào tay Trung Cộng thì đảng CSVN có được phép tồn tại không hay sẽ bị “chặt đầu” ráo trọi?

(07/014)