Friday, June 20, 2014

Con buôn Việt học Trung Quốc lừa đảo, đầu độc dân

Hàng hóa Trung Quốc giá rẻ được chính người Việt lột mác dán Tàu dán mác Việt bán cho người tiêu dùng với giá cao.

Thói xấu của người Việt khiến hàng Trung Quốc ngập thị trường Siêu thị 'đổi đời' rau bẩn, 'lên đời' hàng Trung Quốc Còn hàng hóa Việt được thương lái Trung Quốc thu mua với giá rẻ rồi chế biến, dán nhãn mác hàng Việt Nam và xuất khẩu ngược lại Việt Nam hoặc thị trường các nước khác với giá cao.
 
Người Việt lột mác hàng Tàu dán nhãn Việt
 Trên thị trường hiện nay vẫn xuất hiện nhiều mặt hàng có xuất xứ từ Trung Quốc có mức giá rẻ được chính những thương lái, chủ buôn người Việt tận tay lột mác, dán nhãn Việt để bán cho người tiêu dùng Việt Nam một mặt đưa ra thị trường những sản phẩm kém chất lượng mặt khác đã tự tay bóp nghẹt nền sản xuất trong nước.

Những mặt hàng chủ yếu là nông sản đến các mặt hàng may mặc, thậm chí là các sản phẩm máy móc, trang thiết bị.

Cụ thể, phản ánh mới đây của tờ Tuổi trẻ về mặt hàng khoai tây tại Đà Lạt. Khoai tây Trung Quốc ồ ạt đổ về Đà Lạt để giả mạo xuất xứ bằng cách dùng đất đổ nhuộm trước khi đưa về TP HCM và các tỉnh thành tiêu thụ.

Theo ông Nguyễn Văn Sơn, phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Lâm Đồng, khoai tây Trung Quốc đa số có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao, sắp vượt mức an toàn hoặc vượt mức.

Các tiểu thương tại chợ nông sản Đà Lạt - điểm tập kết nông sản lớn nhất của Đà Lạt trước khi chuyển đi các tỉnh thành khác đã thực hiện quy trình làm giả khoai tây một cách công khai.

Cụ thể, tiểu thương đổ đất đỏ ra những tấm bạt phơi dọc đường đi nội bộ của chợ hoặc đổ những bao đất đỏ vón cục ra lối đi của xe tải để xe qua lại cán cho mịn. Đây là giai đoạn chuẩn bị nguyên liệu để “hô biến” khoai tây Trung Quốc thành khoai tây Đà Lạt.
 
Con buôn Việt học Trung Quốc lừa đảo, đầu độc dân

Tại chợ hiện có bốn cơ sở lớn trang bị máy chà tự động chuyên chà rửa khoai tây, trong đó chủ yếu tẩy bỏ lớp đất đen nhão dính trên khoai tây Trung Quốc. Chỉ vào đống khoai tây đã được tẩy bỏ lớp đất màu đen, đang được nhân công lấy đất đỏ rải đều lên số khoai tây này, bà Đoàn Thị Chè - một tiểu thương tại chợ này - “khoe” 3 tấn khoai tây Trung Quốc này vừa về sáng 19/6. Sau khi xong công đoạn thay hình đổi dạng, số khoai tây này được nhân viên của bà Chè đóng vào những bao nhỏ đưa thẳng lên những chiếc xe tải đang đợi sẵn.

Giá khoai tây Trung Quốc nhập về chợ này là 3.380 đồng/kg, sau khi “mông má” xong bán cho các đại lý nhỏ với giá 12.000 đồng/kg, và giá bán đến tay người tiêu dùng từ 25.000-30.000 đồng/kg.

Ông Dương Minh Sơn - trưởng ban quản lý chợ nông sản Đà Lạt cho biết, khoai tây Trung Quốc sẽ đổ về Đà Lạt ngày càng nhiều hơn, nhất là từ tháng 7 đến cuối tháng 11, bình quân chợ này tiếp nhận 5-12 tấn/ngày. Riêng từ ngày 16/6 đến nay, hơn 40 tấn khoai Trung Quốc đã nhập về chợ và chia cho các tiểu thương khác thực hiện những thủ thuật trước khi bán đi.

Trong khi đó, nhiều người dân có thâm niên trồng khoai tây tại hai xã Xuân Trường và Xuân Thọ, những địa bàn trồng khoai tây lớn nhất Đà Lạt - đã tính chuyện chuyển sang cây trồng khác.

Lý do bà đưa ra là vì giá bấp bênh "Lúc Nhà nước làm căng, khoai tây Trung Quốc vào ít thì được giá, thả lỏng là nông dân chết đứng. Chắc tôi phải giảm diện tích trồng khoai tây để chuyển sang trồng hoa” - bà Phạm Thị Thu Ba  (Thọ Xuân, Đà Lạt) nói.

Thậm chí các mặt hàng khô được bày bán tại các siêu thị mặc dù được đóng gói trong các bao bì với nhãn mác, ngày sản xuất đầy đủ nhưng nhãn mác chỉ ghi cơ sở đóng gói mà không ghi cơ sở sản xuất và hầu hết là hàng Trung Quốc được đóng gói tại các cơ sở đóng gói.

Với mặt hàng may mặc cũng diễn ra tình trạng tương tự, những chiếc áo được bày bán tại các cửa hàng "Made in Việt Nam" thực chất là hàng Trung Quốc đã được cắt mác khoét mác, hay mác gắn ở cổ là “Made in Vietnam” nhưng ở trong thân áo lại là “Made in China”.

Thậm chí, nhiều cửa hàng còn đầu tư in mác mới, thay đồng bộ để đánh lừa người tiêu dùng. Tuy nhiên, mác “đểu” thường dòng chữ “Made in Vietnam” rất mờ, dễ phai khi giặt chứ không được thêu, in rõ nét như hàng chuẩn.

Không chỉ vậy, giá cả của loại hàng VNXK thường không ổn định. Cùng mẫu mã, một số cửa hàng bán khá rẻ nhiều shop lại thổi cao hơn hàng trăm ngàn đồng. Họ đưa ra nhiều lý do để giữ khách như: Kiểu lạ, độc đáo chỉ có một chiếc, hay giống hàng hiệu đến 99%.... Đặc biệt, có cửa hàng còn biến hàng VNXK, có xuất xứ Trung Quốc thành hàng hiệu nhập khẩu để bán cho khách với giá cao.

Đặc biệt, tình trạng đặt cao ưu điểm giá rẻ khiến các sản phẩm máy móc, linh kiện là hàng Trung Quốc thắng thế đã gây ra những hậu quả là phải đắp chiếu máy móc, thay thế bằng những loại máy móc đắt tiền hơn.

Anh Nguyễn Tấn Phú - độc giả phản hồi bài báo "10.000 tỷ đóng tàu thép: Đừng dùng máy chính Trung Quốc!" đăng tải trên báo Đất Việt ngày 18/6 lấy một ví dụ về nhập nhà máy sản xuất ván sợi MDF cho ngành Lâm nghiệp.

Theo độc giả Nguyễn Tấn Phú, khi ta nhập nhà máy MDF Gia Lai của Thụy Điển bị nhiều người phản đối cho là đắt (1 Nhà máy MDF Thụy Điển có thể Nhập được 2 Nhà máy MDF Trung Quốc) thế nhưng ta vẫn kiên quyết nhập của Thụy Điển xây dựng tại Gia Lai.

Sau đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho nhập một nhà máy cùng loại của Trung Quốc đặt tại Thái nguyên làm đối chứng, khi nhà máy Thái nguyên của TQ hoạt động được khoảng 4 năm cứ vừa chạy vừa sửa rồi đắp chiếu thành đống sắt vụn còn nhà máy Gia Lai của Thủy Điển chạy hàng chục năm nay vẫn tốt, có lúc chạy hơn 100% công suất, đến nay vẫn tốt. Tóm lại đừng dại tham của rẻ.

Thương lái Trung Quốc lừa dân Việt

Thời gian qua, chỉ vì cái lợi trước mắt nên nhiều thương lái người Việt bất chấp mọi hệ lụy để cùng nhau đồng lõa với cánh thương lái Trung Quốc lừa bịp nông dân miền Tây.

Cụ thể là chiêu trò móc nối làm giá giữa cánh thương lái Trung Quốc với cánh thương lái Việt để đẩy giá thu mua khoai lang lên cao chót vót, có lúc lên hơn 1 triệu đồng/tạ (mỗi “tạ” ở đây bằng 60kg, theo cách tính của nông dân nhiều tỉnh ĐBSCL) khiến cho phong trào nhà nhà, người người đổ xô bỏ ruộng lên liếp trồng khoai lang ở huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long và một số địa phương lân cận vài năm trở lại đây rầm rộ hơn bao giờ hết.

Hiện có gần 20 điểm thu mua khoai lang dọc theo QL1A thuộc địa bàn xã Thuận An, huyện Bình Minh và huyện Bình Tân hình thành đều “núp” bóng dưới vỏ bọc thương lái Việt Nam. Sau đó, các thương nhân người nước ngoài trực tiếp đưa ra quy cách, giá cả để các thương lái người Việt thu mua và phân loại rồi xuất sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch.

Trên nhãn dán do thương lái Trung Quốc làm có dòng chữ Đặc sản Việt Nam viết bằng tiếng Việt
Trên nhãn dán do thương lái Trung Quốc làm có dòng chữ "Đặc sản Việt Nam" viết bằng tiếng Việt

Sau khi nông dân đã “dính chàm” đổ xô trồng khoai lang thì cánh thương lái người Việt cùng với thương lái Trung Quốc bắt đầu làm khó, khiến cho giá cả và đầu ra của mặt hàng này gặp vô vàn khó khăn. Đặc biệt là giá khoai lang trồi sụt thất thường, rớt giá thê thảm có lúc tuột xuống chỉ còn 180.000 – 200.000 đồng/tạ (khoai đẹp), nhưng tìm đỏ mắt cũng chẳng ai mua.

Hoặc tình trạng Trung Quốc thu mua các loại nông sản của Việt Nam trong đó có vải Lục Ngạn thời gian qua cũng khiến dư luận một mặt vui mừng, mặt khác cũng lo lắng tình trạng thương lái Trung Quốc tiếp tục dở chiêu trò làm ảnh hưởng đến sản xuất, xuất khẩu nông sản của Việt Nam.

Tại Lục Ngạn (Bắc Giang) xuất hiện nhiều thương lái Trung Quốc trực tiếp đến thu mua vải. Lái buôn Vương Đình Khải - người tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) trực tiếp tham gia đóng thùng vải cùng các nhân công Việt Nam. Đã có kinh nghiệm 8 năm sang Việt Nam buôn vải, Vương Đình Khải cho biết công việc rất thuận lợi, duy chỉ có giá thùng xốp và nước đá dùng để ướp vải thì lên xuống theo ngày, gây chút khó khăn cho người thu mua.

Nhãn hiệu của Vương Đình Khải được dán lên thùng vải ngay từ Việt Nam. Dù để cho người Trung Quốc đọc, trên nhãn dán vẫn có dòng chữ "Đặc sản Việt Nam" viết bằng tiếng Việt. "Phải như vậy vì người Trung Quốc rất chuộng quả vải Việt Nam", Vương Đình Khải giải thích.

Trước tình trạng này, bên cạnh niềm vui vì vải Lục Ngạn có đầu ra được cho là ổn định, nhiều ý kiến lo ngại việc thương lái Trung Quốc nhập khẩu vải sau đó sử dụng hóa chất để bảo quản vải lâu hơn và bán lại cho Việt Nam vào thời điểm trái mùa với giá cao.

Một thực tế khác xảy ra khiến cho hàng hóa nhập từ Trung Quốc về Việt Nam có giá rẻ là do thủ tục thông qian đi khó về dễ vẫn diễn ra.

Theo đó, bất cứ một xe chở rau quả nào từ Việt Nam, nếu giao hàng tại bãi hàng phía Việt Nam (sau đó đầu mối mua hàng từ TQ tự điều xe sang chở hàng về) thì mọi thủ tục do chủ hàng lo, còn nếu phải giao hàng tại bãi hàng bên TQ thì khi qua cửa khẩu, cán bộ hải quan TQ sẽ yêu cầu mở container kiểm tra hàng hóa, lấy mẫu để kiểm dịch.

Ví dụ, với thanh long, thông thường sẽ lấy khoảng 7-10kg để làm mẫu kiểm tra, xét nghiệm các loại hóa chất, dịch bệnh, thuốc bảo vệ thực vật...

Thế nhưng thủ tục hải quan khi nhập rau, củ quả… từ TQ về Việt Nam thì “qua” thoải mái. Với hơn 20 tấn lê, táo trên xe qua hải quan cửa khẩu Tân Thanh về Việt Nam không thấy một cán bộ nào yêu cầu mở container lấy mẫu kiểm tra.

 Thứ Bảy, 21/06/2014 08:35 
Theo Đất Việt

Chuyên gia gợi ý cách Mỹ đáp trả TQ ở Biển Đông

(Kienthuc.net.vn) - Theo chuyên gia Mỹ, nước này nên ủng hộ luật pháp cho Biển Đông hoặc đưa lực lượng hải quân tuần tra chung với các nước đối thủ của TQ.

Trong các cuộc tranh chấp chủ quyền với Philippines và Việt Nam trên Biển Đông, Trung Quốc đã điều động tàu hải cảnh và các phương tiện bán quân sự khác. Tuy nhiên, tàu chiến hải quân, máy bay chiến đấu và các vũ khí khác vẫn được giữ ở xa nơi tranh chấp. Do đó cuộc đối đầu trên biển mới chỉ diễn ra giữa các tàu không vũ trang hoặc bán vũ trang.
Ngày 29/3, một tàu hải cảnh Trung Quốc chặn tàu Philippines tiếp tế cho các thủy thủ nước này ở bãi Cỏ Mây. 
Theo giáo sư James R. Holmes tại ĐH Chiến tranh hải quân Mỹ, các nhà lãnh đạo Mỹ phải hiểu rõ bản chất của tình trạng Biển Đông hiện nay, đối chiếu với mong muốn của Washington và xã hội Mỹ về khu vực này đồng thời huy động các nguồn lực – ngoại giao, hải quân (tàu chiến, máy bay), nhân lực, vân vân – để đem đến một kết cục có thể chấp nhận được.
Bản chất của tình trạng đối đầu chiến lược
Thực chất tình trạng đối đầu hiện nay trên Biển Đông là gì? Đó là quá trình ganh đua chiến lược dai dẳng giữa Trung Quốc và Mỹ nhằm trả lời câu hỏi liệu Bắc Kinh có thể đơn phương hành động nhằm thay đổi trật tự thế giới do Mỹ đứng đầu hay không.
Nếu thành công, Trung Quốc sẽ tạo ra một tiền lệ theo đó nước này sẽ chiếm các vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng được luật biển công nhận đồng thời hạn chế quyền tự do đi lại trên các vùng biển mà nước này kiểm soát. Trung Quốc sẽ biến các vùng biển ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á trở thành vùng biển khép kín chịu sự quản lý của luật pháp nước này. Điều đó cũng có nghĩa các mối quan hệ đồng minh của Mỹ trong khu vực sẽ bị nới lỏng.
Các nhà bình luận Trung Quốc coi vùng biển thuộc cái gọi là “bản đồ 9 đoạn” chiếm gần hết diện tích Biển Đông là “đất xanh của quốc gia” nơi Bắc Kinh “có chủ quyền không thể tranh cãi”.
Đưa chính sách về biển của nước này vào vấn đề chủ quyền – một khái niệm khơi dậy tinh thần dân tộc của cả các quan chức và dân thường – các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã kích động cảm xúc dư luận mà sau này họ sẽ rất khó rút lui. Mặc dù giới lãnh đạo Trung Quốc có thể sẽ hoãn lại các kế hoạch khẳng định chủ quyền nếu đón nhận phản ứng mạnh mẽ từ các nước khác, nhưng khó có khả năng Bắc Kinh sẽ không từ bỏ tuyên bố chủ quyền của mình để tiến tới một bộ quy tắc ứng xử trên biển.
Vậy mục tiêu của Trung Quốc là gì?
Trung Quốc đang tham gia vào cuộc chạy đua chiến lược đối đầu với các đối thủ châu Á và Mỹ cùng một lúc. Các nhà ngoại giao Trung Quốc muốn tách biệt hai cuộc đua này với hi vọng họ sẽ ở thế vượt trội trong từng cuộc đua và ngăn chặn 2 đối thủ này liên kết với nhau chống lại nước này.
Tàu chiến USS Cowpens của Mỹ từng suýt bị tàu Trung Quốc đâm phải trên Biển Đông.  
Trong cuộc đối đầu với Mỹ, Trung Quốc đang theo đuổi chiến lược chống tiếp cận/chống xâm nhập (A2/AD) bằng cách điều động máy bay chiến đấu, tên lửa chống tàu và các loại tàu có thể gây thương vong lớn cho các lực lượng Mỹ hoạt động ở châu Á khi có chiến tranh. Nói cách khác, Bắc Kinh muốn Washington phải “nhụt chí” đồng thời hạ thấp uy tín của Mỹ về cam kết với các đồng minh trong khu vực.
Về phần các đối thủ châu Á, Trung Quốc theo đuổi tham vọng kiểm soát các hòn đảo, vùng biển và vùng trời trong khu vực. Trung Quốc áp dụng chính sách “sự đã rồi” đối với các vùng biển tranh chấp và dựa vào sức mạnh vượt trội để cản trở các đối thủ thách thức tham vọng của nước này. Thay vì sử dụng sức mạnh hải quân lớn mạnh nhanh chóng, Bắc Kinh sử dụng chiến thuật “nhẹ nhàng” bằng cách điều động tàu hải cảnh. Cho tới nay, có vẻ chiến thuật này của Trung Quốc đã có tác dụng.
Các phương án cho Mỹ
Đối mặt với chiến lược “nhiều mặt” này của Trung Quốc, Mỹ phải xác định liệu nước này có coi trọng các mối quan hệ đồng minh – cũng như mục tiêu đảm bảo cho tự do đi lại trên biển – để nỗ lực bảo vệ hay không.
Chi phí để ngăn chặn Trung Quốc bành trướng có lẽ sẽ rất cao và việc đối đầu với đối tác thương mại chính đồng thời là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân (Trung Quốc) chắc chắn sẽ đem tới rủi ro và bất trắc. Nhiều nhà chiến lược khuyên các nhà lãnh đạo Mỹ không đi theo con đường này (đối đầu Trung Quốc) trừ phi Washington đạt được lợi ích chiến lược rất cao ở châu Á cũng như duy trì vị thế đứng đầu trong hệ thống quốc tế. Như các nhà bình luận thể thao thường nói, “thời gian sẽ trả lời”.
Giả định rằng Washington sẽ dấn thân ở châu Á – Thái Bình Dương, vậy làm sao để đánh bại chiến lược của Trung Quốc?
Trước tiên, Mỹ cần kiên quyết không để quốc gia nào lôi kéo vào một cuộc xung đột có vũ trang trên Biển Đông. Thay vào đó, Washington nên ủng hộ việc thực thi luật pháp trên vùng biển này.
Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển đưa ra định nghĩa về đảo và rất ít đảo trên Biển Đông có thể được coi là đảo theo định nghĩa đó. Ví dụ, một “hòn đảo” không có nước ngọt sẽ không thể duy trì sự sống hay các hoạt động kinh tế và do đó về mặt pháp lý không thể được coi là một hòn đảo. Quốc gia nào sở hữu “hòn đảo” đó sẽ chỉ có chủ quyền với 12 hải lý xung quanh chứ không có vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý. Các quốc gia Đông Nam Á nên khai thác tối đa tự do trên các vùng biển quốc tế và phớt lờ bản đồ “đường 9 đoạn” của Bắc Kinh.
Washington nên khuyến khích các quốc gia châu Á đưa tranh chấp ra tòa án quốc tế để xác nhận đâu là đảo, đâu là đảo san hô và đâu là mỏm đá. Mỹ sẽ thắng thế nếu các quốc gia châu Á có thể bảo vệ được vùng biển ở sát đất liền các nước này.
Thứ hai, cùng nhìn nhận vấn đề theo cách nhìn của Trung Quốc. Coi Biển Đông như một lãnh thổ và điều đó sẽ giúp sáng tỏ các vấn đề. Nếu nhìn nhận theo cách này, các ngư dân Trung Quốc đánh bắt trong vòng 200 hải lý từ bờ biển đảo Palawan sẽ bị coi là đánh bắt trộm tài nguyên thiên nhiên của Philippines giống như họ xâm nhập lên đảo. Các tàu hải cảnh Trung Quốc hộ tống tàu đánh cá được coi là lực lượng xâm lược bảo vệ những kẻ đánh bắt trộm. Đi theo cách tiếp cận này, Mỹ sẽ nhanh chóng đẩy Trung Quốc vào thế bị động.
Thứ ba, các lực lượng Hải quân và canh gác bờ biển Mỹ hoạt động ở châu Á phải “dấn thân” nhiều hơn, không nên chỉ dừng lại ở các hoạt động huấn luyện thông thường. Thay vào đó, các lực lượng Mỹ nên gia nhập vào các đội tàu hải quân và bảo vệ luật pháp của các đồng minh châu Á. Lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ nên tham gia tuần tra tại các vùng biển ở khu vực này giống như các binh sĩ Mỹ tuần tra trên lãnh thổ các quốc gia NATO thời kỳ Chiến tranh lạnh.
Philippines có lẽ sẽ không thể nào ngăn cản Trung Quốc tiếp cận vùng đặc quyền kinh tế do sức mạnh hải quân yếu kém. Tuy nhiên, nếu Mỹ tăng cường điều động lực lượng canh gác bờ biển và cả năng lực to lớn của Hải quân nước này tới Đông Nam Á, các quốc gia trong khu vực sẽ có cơ hội bảo vệ những quyền lợi chính đáng của các nước này.
06:42 20/06/2014
Ngô Trang

Philippines hiện đại hóa quân đội: Mỹ giúp được đến đâu?

(Kienthuc.net.vn) - Chính phủ Philippines đang hết sức nỗ lực hiện đại hóa quân đội để có thể đối phó với những mối đe dọa từ bên ngoài.

Ba mục tiêu hiện đại hóa

Mục tiêu bao trùm của quá trình hiện đại hóa là giúp các lực lượng vũ trang Philippines có đủ năng lực cần thiết để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đối phó với những thách thức an ninh từ bên ngoài và bảo vệ những lợi ích hàng hải chiến lược của Manila – đặc biệt là những lợi ích gắn với Biển Đông.
Để đạt mục tiêu đó, Philippines tập trung vào 3 nhiệm vụ đổi mới trong giai đoạn ngắn hạn và trung hạn.

 
Quân đội Philippines trong cuộc tập trận chung với Mỹ trên Biển Đông.

Nhiệm vụ đầu tiên là thành lập “các lực lượng đáp trả chiến lược thích hợp” cho mọi phân nhánh của quân đội, tiến hành các nhiệm vụ phòng vệ tích hợp và phòng ngừa những mối đe dọa tiềm tàng từ bên ngoài có thể gây hại cho những lợi ích quốc gia cốt lõi.

Nhiệm vụ thứ hai là xây dựng một hệ thống chỉ huy tác chiến tiên tiến (gồm chỉ huy, điều khiển, truyền tin, máy tính, tình báo) cho các hoạt động quốc phòng chiến lược và nâng cao kĩ năng nhận định tình hình thông qua việc thu thập thông tin, phân tích và xâu chuỗi thông tin cũng như phân tán thông tin nhanh hơn.

Nhiệm vụ thứ ba là phát triển một mạng lưới thông tin liên lạc qua vệ tinh hiện đại để kết hợp với hệ thống chỉ huy tác chiến thực hiện nhiệm vụ giám sát và khảo sát toàn bộ chủ quyền Philippines.

Đặc biệt, có hai nhân tố có vai trò quan trọng là động lực khiến Philippines tiến hành hiện đại hóa của quân đội.

Thứ nhất là một môi trường an ninh nội bộ được cải thiện do sự suy thoái của các phong trào li khai và khủng bố.

Thứ hai là tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông ngày càng căng thẳng. Trung Quốc tỏ ra quyết liệt với tuyên bố chủ quyền của nước này đối với các hòn đảo trên Biển Đông.

Tổng thống Philippines Benigno Aquino III đã tìm cách đối phó với các tuyên bố của Bắc Kinh trên Biển Đông bằng cách hướng chi tiêu quốc phòng thay vì cho các mục tiêu nội bộ hướng ra các mục tiêu an ninh bên ngoài.

Tuy nhiên, vấn đề ở đây là các kế hoạch hiện đại hóa quân đội của ông Aquino có thể không tạo đủ sức mạnh để đối phó với sự quyết liệt của Trung Quốc trong tương lai gần. Ngoài ra, chính phủ Philippines cũng chưa có một chiến lược khả thi trước những khó khăn về tài chính.

Giải pháp cho quân đội Philippines

Theo nhà nghiên cứu Peter Chalk của tập đoàn tư vấn RAND (Mỹ), giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề này là Philippines có thể xem xét lại các kế hoạch sắm máy bay chiến đấu, tàu chiến và các thiết bị tình báo hiện đại. Thay vào đó, Manila có thể tập trung khai thác các nguồn lực trong nước có sẵn để xây dựng một hệ thống tên lửa chống tàu và tên lửa mặt đất hiệu quả.


 Tàu tuần duyên lớp Hamilton của được Philippines mua lại từ lực lượng Canh gác bờ biển Mỹ.

Mỹ đã bày tỏ mong muốn hỗ trợ các kế hoạch hiện đại hóa quốc phòng của Philippines để giúp nước này đối phó với những hành động hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông.

Tuy nhiên, hỗ trợ Manila mua sắm máy bay, tàu hải quân và thiết bị liên lạc hiện đại để có thể làm đối trọng với quân đội Trung Quốc ngày càng lớn mạnh sẽ là nhiệm vụ ốn kém lại nguy hiểm đối với Mỹ. Việc Mỹ giúp đỡ Philippines có thể khiến mối quan hệ Washington – Bắc Kinh vốn đã căng thẳng càng xấu đi.

Nếu Mỹ giúp Philippines xây dựng một hệ thống quốc phòng bờ biển lưu động, chi phí sẽ thấp hơn và ít gây căng thẳng với Trung Quốc hơn. Hệ thống đó cũng sẽ giúp Manila tăng cường năng lực đối phó với sức ép từ Bắc Kinh.

Tuy nhiên, công cuộc hiện đại hóa quân đội của Philippines cũng gặp một số vấn đề nội bộ như tình trạng tham nhũng, quản lý kém hiệu quả, đấu đá nội bộ, kĩ năng điều tra kém và rò rỉ thông tin tình báo.

Tùng Lâm

Im lặng về Iraq, Trung Quốc không “xứng danh” cường quốc?

(Kienthuc.net.vn) - Khủng hoảng Iraq cho thấy mặc dù Trung Quốc “đòi” có vị thế cường quốc nhưng vẫn chưa có hành động phù hợp với vị thế đó.

Trung Quốc – “Ngư ông đắc lợi” ở Iraq
Giữa năm 2013, truyền thông phương Tây có nhiều bài viết nhận định rằng chính Trung Quốc là nước giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh Iraq. Cụ thể, người Trung Quốc không đóng góp gì vào việc lật đổ chính quyền Saddam Hussein hay giúp bình ổn nước này nhưng Trung Quốc lại là quốc gia giành được nhiều lợi lộc nhất khi đầu tư vào ngành công nghiệp dầu mỏ Iraq thời kỳ hậu Hussein.
Theo tờ Thời báo New York, riêng Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNOC) đã đầu tư 4 tỷ USD vào ngành công nghiệp dầu mỏ Iraq. Gần một nửa sản lượng dầu mỏ xuất khẩu của Iraq cũng được đưa sang Trung Quốc. Ngoài ra, gần 10.000 công dân Trung Quốc được đưa tới làm việc tại các dự án dầu và cơ sở hạ tầng ở Iraq.
Mỏ dầu do Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc khai thác ở Iraq. 
Tuy vậy, chính quyền Trung Quốc vẫn gần như hoàn toàn im lặng về cuộc khủng hoảng ở Iraq, ngay cả khi các cường quốc khác đã tỏ ra sốt sắng.
Hôm 18/6, cuối cùng phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh cũng nói vài lời về Iraq. Theo bà, Bắc Kinh không muốn Iraq rơi vào tình trạng như Lybia vào năm 2011 khi Trung Quốc phải di tản 36.000 công dân ra khỏi nước này chỉ trong vòng hơn 1 tuần.
Bà Hoa cũng tuyên bố chính phủ Trung Quốc “sẽ làm mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ an toàn của các công dân Trung Quốc ở Iraq”.
Tuy nhiên, theo tác giả Zachary Keck trên tờ Diplomat, lời phát biểu của bà Hoa Xuân Oánh quá ngắn gọn và không có gì nổi bật trong bối cảnh phiến quân Hồi giáo dòng Sunni đã kiểm soát nhiều thành phố lớn của Iraq. Vậy lý do là gì?
Một lý do là có vẻ lợi ích chính của Trung Quốc ở Iraq – dầu mỏ - không bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi tình trạng xung đột hiện nay. Phần lớn các mỏ dầu ở Iraq đều nằm ở các vùng miền nam chịu sự kiểm soát của những người Shiite và chỉ có một dự án dầu của Trung Quốc nằm ở phía bắc thủ đô Baghdad. Ngay cả mỏ dầu này cũng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của người Kurd. Mặc dù tình trạng giao tranh đã trở nên nghiêm trọng buộc các công ty phương Tây di tản nhân viên, các công ty dầu mỏ Trung Quốc vẫn tiếp tục hoạt động bình thường.
Ngoài ra, Trung Quốc hiếm khi phản ứng trước các biến cố quốc tế nhanh như các quốc gia phương Tây. Biến cố Ukraine là một ví dụ. Trung Quốc thường phải mất vài ngày, hoặc thậm chí lâu hơn trước khi đưa ra phản ứng chính thức về biến cố đó. Lý do có lẽ là giới lãnh đạo nước này phải mất thời gian tranh luận nên phản ứng ra sao.
Một nguyên nhân khác khiến Bắc Kinh phản ứng chậm trễ về vấn đề Iraq có thể là do giới lãnh đạo nước này đang bận rộn với những nơi khác. Ví dụ, Thủ tướng Lý Khắc Cường hiện đang ở Anh trong khi Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì vừa tới thăm Việt Nam.
Trung Quốc cũng có thể trì hoãn bình luận về vấn đề Iraq vì các lý do chiến thuật. Tình hình Iraq đang thay đổi nhanh chóng và có thể Bắc Kinh muốn chờ cho tới khi mọi việc sáng tỏ và bình ổn.
Vụ việc trên cho thấy ngay cả khi Trung Quốc ngày càng “lớn tiếng” đòi hỏi thế giới coi nước này là một cường quốc, Bắc Kinh vẫn chưa sẵn lòng hành xử như một cường quốc, đặc biệt ở ngoài khu vực Đông Bắc Á. Thay vào đó, nước này tỏ ra bằng lòng với việc để Mỹ và các cường quốc trong khu vực hành động và bình ổn Iraq để Bắc Kinh tiếp tục thu lợi từ sự ổn định đó. Trong khi đó, Bắc Kinh tiếp tục nhanh chóng khai thác các nguồn dầu mỏ khác của Iraq.
Lối hành xử không xứng tầm “cường quốc”
Trước hết, không quốc gia nào coi Trung Quốc ở vào vị thế mà nước này đòi hỏi cho tới khi Trung Quốc ứng xử như một cường quốc thực sự. Tình trạng trên có thể trở nên nguy hiểm khi Trung Quốc sẽ chỉ trích thế giới thậm tệ vì không coi nước này như một cường quốc. Riêng vụ việc Iraq cũng cho thấy lối ứng xử đáng xấu hổ của Bắc Kinh.
Trung Quốc là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất đối với nền công nghiệp dầu mỏ Iraq và do đó có tầm ảnh hưởng khá lớn tới chính quyền Baghdad. Trung Quốc cũng có mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với Iran, quốc gia bảo hộ cho chính quyền Shitte ở Iraq. Đồng thời, nước này có mối quan hệ thậm chí còn gắn bó hơn với các quốc gia Ả rập dòng Sunni ở khu vực Vịnh Ba Tư, những nước lệ thuộc lớn vào nhu cầu năng lượng của Trung Quốc. Các quốc gia này ủng hộ người Iraq dòng Sunni, lực lượng đang nổi dậy chống lại chính quyền trung ước. Do đó, Bắc Kinh đang ở vị thế rất tốt làm cầu nối cho các bên.
Lực lượng an ninh Trung Quốc ở Iraq. 
Cuối cùng, việc Trung Quốc không giúp giải quyết cuộc khủng hoảng Iraq cũng là điều hổ thẹn cho mối quan hệ Mỹ - Trung. Mỹ và Trung Quốc đã nhất trí xây dựng một mô hình quan hệ mới giữa các cường quốc mặc dù chưa ai rõ cụ thể mô hình đó ra sao.
Hiện xung đột lợi ích giữa Mỹ và Trung Quốc đang tập trung vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Rõ ràng đây là khu vực quan trọng nhất đối với Trung Quốc, Mỹ và mối quan hệ giữa hai nước.
Tuy nhiên, Trung Đông thì khác. Đây là nơi có tầm quan trọng lớn đối với cả Bắc Kinh và Washington và hai bên cũng có chung quan điểm về tất cả các vấn đề lớn của khu vực này. Thứ nhất, Trung Quốc và Mỹ có lợi ích chiến lược trong việc đảm bảo các luồng dầu mỏ được lưu thông trong khu vực. Thứ hai, cả hai quốc gia đều phản đối phong trào khủng bố Hồi giáo cực đoan. Cuối cùng, Mỹ - Trung đều có lợi ích chung trong việc giải quyết mâu thuẫn Israel-Palestine.
Cũng có thể Washington nhận thấy tình hình Trung Đông đã chín muồi cho mối quan hệ Mỹ - Trung và đã đến lúc Trung Quốc thể hiện vai trò trong các vấn đề quốc tế sao cho tương xứng với sức mạnh ngày càng tăng của nước này. Vì thế, Mỹ được cho là đã nhờ Trung Quốc giúp giải quyết vấn đề Israel-Palestine.
Tuy nhiên, việc Trung Quốc “mũ ni che tai” trước tình hình Iraq cho thấy Bắc Kinh chưa sẵn lòng đóng vai trò là một cường quốc như nước này vẫn tự nhận.
07:00 21/06/2014
Tùng Lâm

Trung Quốc sa bẫy, Việt Nam cúi đầu?

TS. Dương Danh Huy -Quỹ Nghiên cứu Biển Đông 
BBC-13:38 GMT - thứ sáu, 20 tháng 6, 2014
Việt Nam dường như chủ động 'đấu chữ' trước.
Điều còn có thể cho là may mắn là cuộc đối đầu về giàn khoan HD-981 chưa chuyển sang đấu súng. Thay vào đó, nó đã đi đến một cuộc đấu chữ tại LHQ.
Trong cuộc đấu chữ này, Việt Nam đã “khai hỏa” trước. Ngày 2/6/2014 Việt Nam yêu cầu Tổng Thư ký LHQ lưu hành một công hàm cho phiên họp thứ 68 của tổ chức này, phản đối về giàn khoan HD-981, cũng như ghi mệnh đề thường lệ nói rằng “Việt Nam có đầy đủ dẫn chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa”.
Ngày 9/6/2014 Việt Nam gửi thêm một công hàm, có lẽ liên quan đến việc tàu Trung Quốc đâm chìm một tàu cá Việt Nam.
Sau đó, Trung Quốc “phản pháo” bằng cách gửi đến LHQ một “văn bản về lập trường”.
'Giành thế thượng phong'
Không chỉ cáo buộc ngược lại Việt Nam, văn bản này còn ghi Trung Quốc đã quản lý Hoàng Sa từ đời Bắc Tống, cũng như đưa ra những vấn đề như công hàm Phạm Văn Đồng, các tuyên bố có hại khác của quan chức và truyền thông của VNDCCH, sách giáo khoa và bản đồ của VNDCCH ghi Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc.
Phản công mạnh mẽ của Trung Quốc đã đạt được ba thành công quan trọng cho họ.
Thành công thứ nhất là nó làm cho một số nhà bình luận nghiêng về phía Trung Quốc, hay ít nhất không còn nghiêng về phía Việt Nam như trước. Chúng ta chỉ có thể dự đoán nó có ảnh hưởng gì với thế giới.
Bộ Ngoại giao TQ phản ứng liên tục sau những cuộc họp báo của VN.

Thành công thứ nhì là nó đã đẩy cuộc thảo luận ra khỏi phạm trù của luật biển, nơi Trung Quốc chắc chắn đã vi phạm luật quốc tế, vào phạm trù tranh chấp chủ quyền đảo, nơi có rủi ro pháp lý cho Việt Nam, trong khi Trung Quốc lại có nhiều lợi thế tuyên truyền.
Với hai thành công trên, Trung Quốc đã gây nhiều thiệt hại cho vị trí thượng phong mà Việt Nam đã đạt được trong cuộc tranh thủ dư luận trong suốt tháng trước đó, nếu không muốn nói rằng Trung Quốc đã giành được thế thượng phong.
"Chính Trung Quốc đã tham gia việc quốc tế hóa tranh chấp Hoàng Sa, điều mà họ luôn tránh từ trước đến nay"
Thành công thứ ba là, với việc nêu ra công hàm Phạm Văn Đồng và các hành vi có hại khác của VNDCCH, Trung Quốc đã đánh một đòn tâm lý mạnh vào lãnh đạo Việt Nam cũng như người dân Việt.
Trong khi Bộ Chính trị Việt Nam còn đang chần chừ về việc kiện Trung Quốc thì đòn này có thể đã làm cho họ thêm bối rối và mất tinh thần, mặc dù thật ra để đơn phương kiện Trung Quốc thì hồ sơ sẽ không phụ thuộc vào Hoàng Sa là của nước nào.
Đòn này cũng làm cho người Việt bị chia trí. Như vậy, khả năng đối phó của Việt Nam trong vấn đề giàn khoan HD-981 bị sút giảm đi nhiều.
Thế nhưng, đòn phản công này của Trung Quốc cũng bao hàm một số rủi ro cho họ. Rủi ro thứ nhất là lập luận của họ có thể bị Việt Nam phản biện trước LHQ. Phản biện của Việt Nam có thể có ba mũi nhọn.
Mũi nhọn thứt nhất, Việt Nam buộc phải phản biện Trung Quốc về công hàm Phạm Văn Đồng và các hành vi có hại khác của VNDCCH.
Mũi nhọn thứ nhì, Việt Nam có thể lập luận cho rằng bất kể Hoàng Sa là của nước nào, vùng đặc quyền kinh tế thuộc Hoàng Sa không thể vươn ra đến các nơi Trung Quốc đã triển khai giàn khoan, cho nên các nơi đó chắc chắn thuộc vùng đặc quyền kinh tế của đất liền và các đảo ven bờ Việt Nam.
Mũi nhọn thứ ba, dù có yêu sách chồng lấn đi nữa thì việc Trung Quốc đơn phương triển khai giàn khoan trong vùng có yêu sách chồng lấn đã vi phạm Điều 74 của UNCLOS. Hai mũi nhọn sau là để đặt vấn đề vào lại phạm trù của luật biển, nơi Việt Nam có nhiều lợi thế.
Rủi ro thứ nhì là việc tranh cãi qua lại ở LHQ sẽ bác bỏ quan điểm của Trung Quốc là không có tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa.
Rủi ro thứ ba là qua việc đưa lập luận của họ ra trước LHQ, và tranh cãi với Việt Nam trước LHQ, chính Trung Quốc đã tham gia việc quốc tế hóa tranh chấp Hoàng Sa, điều mà họ luôn tránh từ trước đến nay.
'TQ đã sa bẫy'
VN và TQ tố cáo lẫn nhau về việc dùng tàu gây hấn.

Do đó, có thể nói rằng, với phản công mạnh mẽ của họ, và mặc dù đã có một số thành công, chính Trung Quốc đã sa vào bẫy.
Tuy nhiên, bẫy đó sẽ chỉ sập nếu Việt Nam gửi công hàm đến LHQ phản biện lại Trung Quốc. Cho tới nay, phản ứng của Việt Nam mới chỉ là đăng bài báo về lập luận của một cá nhân lên trang web của mình ở LHQ, và họp báo.
Những phản ứng đó rõ ràng là nhẹ ký hơn chính thức đưa ra lập luận phản biện trước LHQ, và cùng lắm chỉ cho thể là biện pháp tạm thời, không thể thay thế được việc đó. Thế giới sẽ có câu hỏi, “Tại sao Việt Nam không chính thức đưa ra lập luận phản biện trước LHQ?”
Vấn đề của Việt Nam không phải là không có lập luận pháp lý để phản biện, mà là ở quá trình chính trị để đi đến quyết định.
Nếu Việt Nam quyết định không phản biện ở LHQ thì Trung Quốc đã “có gan làm giàu” và sẽ chuyển bại thành thắng, trong khi Việt Nam sẽ đi từ thắng và cơ hội đến bại.
Vấn đề của Việt Nam không phải là không có lập luận pháp lý để phản biện, mà là ở quá trình chính trị để đi đến quyết định...Người dân không thể tự đưa ra công hàm chính thức trước LHQ - nghĩa vụ của chính phủ là đại diện cho quốc gia trước LHQ và làm điều đó cho họ"

 Một trong những hệ quả là Việt Nam sẽ bị mất niềm tin của những nước và những người ủng hộ mình trên thế giới, và lãnh đạo Việt Nam sẽ bị mất nhiều niềm tin của người Việt. Như thế, tương lai sẽ càng khó khăn thêm cho Việt Nam.
Có lẽ bất cứ người Việt nào quan tâm về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông cũng mong muốn Việt Nam có công hàm phản biện chính thức trước LHQ. Có lẽ họ đều cho rằng đó là nghĩa vụ của chính phủ trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
Người dân không thể tự đưa ra công hàm chính thức trước LHQ - nghĩa vụ của chính phủ là đại diện cho quốc gia trước LHQ và làm điều đó cho họ.
Nhưng chính phủ Việt Nam có sẽ làm không thì vẫn còn là câu hỏi mở.
Cho đến nay, chiến lược của Việt Nam để đối phó với Trung Quốc dường như là “nó đấm thì mình la, nó xoa thì mình im”. Nhưng chiến lược đó chỉ có thể dẫn đến việc mất hết từng bước, vì chiến lược của Trung Quốc là “đấm, xoa, đấm, xoa” cho đến khi họ giành được hết.
Trung Quốc đã “đấm” bằng giàn khoan HD-981, cũng như họ đang “đấm” lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư Việt Nam. Việt Nam đã “la”, nhưng Trung Quốc “la” lại lớn hơn. Và Trung Quốc đã gửi Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì sang “xoa”.
Đáng lẽ Việt Nam phải giật sập bẫy bằng cách gửi công hàm phản biện đến LHQ, nhưng phải chăng thay vào đó Việt Nam sẽ cúi đầu?
Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một thành viên sáng lập của nhóm Nghiên cứu Biển Đông.


Trung Quốc sắp rút giàn khoan Hải Dương 981?

(Baodatviet.vn) - Bất luận dù rút hay không thì Trung Quốc không bao giờ dừng lại trong việc thôn tính Biển Đông của Việt Nam.
a
Giàn khoan Nam Hải 09 của Trung Quốc
Chẳng có gì khó hiểu khi cho rằng Trung Quốc sắp rút giàn khoan Hải Dương 981 bởi 3 yếu tố sau:
Về mặt kỹ thuật, khi các chân của giàn khoan đã thu lên hết thì đương nhiên, giàn khoan sẽ di chuyển.
Về mặt quân sự, đã xuất hiện 2 tàu rà quét mìn hiện đại quanh giàn khoan. Đây là nguyên tắc hoạt động của lực lượng Hải quân nói chung trước khi di chuyển, tuy nhiên, khi giàn khoan được bảo vệ 24/24 bởi một vành đai nhỏ nhất là 4 hải lý bởi hơn trăm chiếc tàu và thực tế là không có một chiếc tàu chấp pháp của Việt Nam nào tiếp cận được giàn khoan gần hơn 4 hải lý thì khu vực đó sẽ không có quả mìn hải quân (thủy lôi) nào. Nhưng sự xuất hiện của nó, tàu quét mìn, có thể đã có một thách thức nào đó đến an toàn của giàn khoan mà không phải từ lực lượng tàu chấp pháp của Việt Nam, và do vậy hướng di chuyển của tàu rà quét mìn chính là hướng di chuyển của giàn khoan Hải Dương 981.
Về mặt ngoại giao, sự xuất hiện của giàn khoan Nam Hải 09. Khả năng là giàn khoan này sẽ hạ đặt tại cửa vịnh Bắc Bộ, nơi mà Trung Quốc và Việt Nam thực sự có tranh chấp, nơi mà vùng biển nông có trữ lượng dầu lớn.
Rõ ràng là giàn khoan Hải Dương 981 đã thu được kết quả về chính trị không cao như Trung Quốc tưởng, tuy thế, kết quả không đến nỗi tệ khi Trung Quốc đã ngộ ra bao nhiêu vấn đề về Việt Nam, khu vực…
Có thể nói nhiệm vụ chính trị của giàn khoan Hải Dương 981 đã kết thúc, nhưng nếu chờ đến 15/8 mới rút như tuyên bố thì Trung Quốc sẽ trả giá hơi đắt cho việc duy trì kỹ thuật, hậu cần, bảo vệ…để cho nó tồn tại và ném tiền xuống biển. Giàu có như Mỹ mà cũng phải tính toán thiệt hơn huống chi là Trung Quốc! Chính vì lẽ đó, giàn khoan Nam Hải 09 là lối thoát danh dự cho Hải Dương 981 hung hãn và ngạo mạn rút lui trước thời hạn.
Vậy giàn khoan Hải Dương 981 sẽ rút đi đâu? Chúng di chuyển về phía Nam? Chắc chắn là không, ít nhất trong thời gian này khi mùa bão sắp đến và quả thật Trung Quốc dù có hung hăng, bất chấp đến mấy cũng chưa đến mức liều lĩnh kéo đến Trường Sa khi chưa đủ điều kiện.
Giờ đây, vấn đề khiến chúng ta quan tâm thật sự là giàn khoan Nam Hải 09. Lần này, giàn khoan Nam Hải 09 không chỉ làm nhiệm vụ chính trị đâu mà còn làm nhiệm vụ kinh tế. Họ sẽ khoan thật, khai thác dầu thật và tại nơi có trữ lượng dầu thật chứ không phải như Hải Dương 981.
Do đó Việt Nam phải dự đoán trước là chúng sẽ hạ đặt tại đâu để có cách đối phó. Không chỉ đối phó với việc hạ đặt giàn khoan mà còn đối phó với việc khi họ khoan được dầu, vận chuyển ra sao…Tất nhiên không loại trừ xảy ra đàm phán song phương.
Bất luận dù rút hay không thì Trung Quốc không bao giờ dừng lại trong việc thôn tính Biển Đông của Việt Nam. Vì thế, bằng mọi biện pháp, tăng cường sức mạnh chính trị, ngoại giao, quân sự, để đối phó với Trung Quốc là không ngừng, không lơ là mất cảnh giác với một ý chí quyết tâm cao nhất.
Thứ Bảy, 21/06/2014 06:31
  • Lê Ngọc Thống

GS Thayer: Cần đưa Trung Quốc ra Hội Đồng Bảo An

ĐÀ NẴNG 20-6 (NV) - Việt Nam nên đưa vụ Trung Quốc đặt giàn khoan dò tìm dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của mình ra Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc để thúc đẩy họ rút đi.


Quang cảnh cuộc hội thảo quốc tế về Trường Sa - Hoàng Sa ở Đà Nẵng ngày 20/6/2014. (Hình: VietnamNet)

Đó là ý kiến của ông Carl Thayer, chuyên viên về các vấn đề Việt Nam và Đông Nam Á của Học viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc, tại cuộc hội thảo “Hoàng Sa – Trường Sa : Sự thật lịch sử” ở Đà Nẵng ngày 20/6/2014. Cuộc hội thảo này do hai tỉnh thị Đà Nẵng và Quảng Ngãi phối hợp tổ chức, quy tụ rất nhiều chuyên viên và phân tích gia quốc tế hiểu biết về tranh chấp Biển Đông.

Theo ông Thayer, ngày 9/6/2014 Trung Quốc đưa tới Liên Hiệp Quốc (LHQ) bản “Tuyên bố lập trường” về giàn khoan HD981 mà họ nói là đưa tới phía nam quần đảo Hoàng Sa hoàn toàn ở trong vùng lãnh thổ của Trung quốc. Họ cáo buộc Việt Nam can thiệp “trái phép” vào các hoạt động thăm dò dầu khí bình thường của Trung Quốc, lại còn cho tàu võ trang tới đâm vào tàu của họ. Các tin tức và hình ảnh được phía Việt Nam đưa ra trước dư luận quốc tế đều chứng minh ngược lại.

Ông Thayer cho rằng, Mỹ và Úc nên thúc đẩy Hội đồng Bảo an tranh luận về vấn đề đối đầu giữa Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực giàn khoan HD981. Nhật và các quốc gia khác có quyền lợi hàng hải liên quan đến Biển Đông cũng nên tham dự.

“Trung Quốc không nên được phép theo đuổi cuộc chiến thông tin để đạt được cả hai mục tiêu: tuyên truyền quan điểm của mình lên LHQ thông qua “bản tuyên cáo” lập trường nhưng cùng lúc lại từ chối tham dự một phiên tòa LHQ.” Ông Thayer trình bày trong bản tham luận đọc tại cuộc hội thảo nói trên.

Tháng Ba vừa qua, Philippines đã nộp ở tòa án LHQ về Luật Biển một bộ hồ sơ dày tới 4,000 trang giấy, kiện Trung Quốc tuyên bố chủ quyền một diện tích chiếm gần hết Biển Đông dựa vào 9 vạch hình “Lưỡi Bò.” Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA), trụ sở ở The Hague, Hòa Lan, là cơ quan cuối cùng thụ lý vụ kiện.

Hồi đầu Tháng 6, PCA loan báo cho Trung Quốc đến giữa Tháng 12 phải phúc đáp bằng văn bản về vụ kiện của Philippines, để “bảo đảm công bằng cho cả hai bên” dù nhiều lần Bắc Kinh đã tuyên bố không tham dự vụ kiện và cũng không công nhận phán quyết.

Một trong những tàu Cảnh sát biển Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm vỡ mạn ở vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam (Hình: Cảnh sát biển Việt Nam)

Theo tờ Thanh Niên tường thuật bài tham luận của ông Thayer, ông cho rằng nếu Trung Quốc từ chối có một phiên tranh luận về giàn khoan Hải Dương 981 thì chính nước này sẽ tự hủy hoại nỗ lực dùng LHQ cho mục đích tuyên truyền của mình. Hoặc cũng rất có khả năng Bắc Kinh sẽ dùng tư cách Ủy viên thường trực tại Hội đồng Bảo an để phủ quyết bất kỳ nghị quyết nào lên án hành vi của mình tại biển Đông.

“Thế nhưng, cho dù có như vậy thì ít ra các cuộc tranh luận về tính nghiêm trọng của việc hạ đặt giàn khoan cũng đã được tiếp tục. Và từ đó, cộng đồng quốc tế có quyền yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan”. Ông nói.

Thật ra, từ khi xảy ra vụ giàn khoan HD 981, ngày 12/5/2014, ông Hoàng Ngọc Giao, chuyên gia về công pháp quốc tế, Viện trưởng nghiên cứu chính sách và phát triển Việt Nam, đã đề nghị đưa Trung Quốc ra Hội đồng Bảo an. Báo Tuổi Trẻ  đăng bức thư ngỏ của ông Giao gửi ông thủ tướng CSVN có đoạn viết rằng, hành vi của Trung Quốc “về quy mô và mức độ là rất nguy hiểm, đang đe dọa nghiêm trọng hòa bình và ổn định tại khu vực Đông Nam Á, vi phạm thô bạo luật quốc tế.”

Bức thư ngỏ viết rằng “Theo quy định tại Điều 34 Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc có thẩm quyền điều tra và xem xét về tính chất và mức độ đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế của hành vi Trung Quốc dùng vũ lực tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.”

Ngày 21/5/2014, trả lời phỏng vấn của hai hãng thông tấn AP và Reuters, ông thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng nói “Chúng tôi đang cân nhắc các phương án để bảo vệ mình, kể cả phương án đấu tranh pháp lý, theo luật pháp quốc tế.”

Tuy nhiên, tới giờ này, không thấy Hà Nội đưa ra tín hiệu gì cho biết vụ kiện có thể đang được chuẩn bị tiến hành tích cực tới đâu hay chỉ là lời dọa suông. Tin tức cho hay hiện Trung quốc đưa thêm 3 dàn khoan nữa xuống khu vực Biển Đông.

Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc là cơ quan chính trị quan trọng nhất và hoạt động thường xuyên của LHQ, chịu trách nhiệm chính về việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Những nghị quyết của Hội đồng Bảo an được thông qua mà phù hợp với Hiến Chương LHQ thì bắt buộc các nước thành viên của tổ chức phải thi hành. Hội đồng Bảo an không phục tùng Đại hội đồng LHQ.

Mọi nghị quyết của Hội đồng Bảo an chỉ được thông qua với sự đồng thuận của 5 nước thành viên thường trực là Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc. Nếu một trong các thành viên thường trực bỏ phiếu chống lại, hành động này gọi là “phủ quyết”. Ngoài những thành viên thường trực kể trên, Hội đồng Bảo an còn có 10 thành viên không thường trực được bầu luân phiên theo kết quả bầu cử tại đại hội đồng LHQ với nhiệm kỳ 2 năm. (TN)

06-20- 2014 2:14:48 PM

Việt Nam vẫn ở bậc 2 về nạn buôn người trên thế giới

 
Ảnh minh họa
RFA 20.06.2014
Việt Nam vẫn ở bậc 2 trong phúc trình về nạn buôn người trên thế giới năm 2014 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, vừa công bố ở Washington.
Theo phúc trình thường niên này, chính phủ Việt Nam tiếp tục có nhiều nỗ lực phòng chống tệ nạn buôn người, song còn nhiều việc cần phải làm trong lãnh vực kiểm tra và ngăn cấm những công ty quốc doanh hay tư nhân lợi dụng chính sách xuất khẩu lao động để đưa người ra nước ngoài làm việc là không bảo đảm phúc lợi và an toàn cho họ.
Trong khi đó thì Thái Lan và Malaysia bị liệt vào danh sách đen trong phúc trình thường niên về nạn buôn người trên thế giới năm 2014 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, tức là nằm trên bậc 3, là bậc chót với lý do không đạt nỗ lực cùng tiêu chuẩn cần có về phòng chống buôn người trong nước họ.
Phúc trình được ngoại trưởng John Kerry công bố ngày 20/6 ở Washington, thẩm định và xếp hạng 188 quốc gia trên thế giới về chiến dịch bài trừ cũng như phòng chống nạn buôn người, trong đó có những vấn đề khác chẳng hạn xuất khẩu, khai thác sức lao động của con người.
Phúc trình năm nay cũng cho thấy Trung Quốc được đánh giá có nhiều tiến bộ với kế hoạch tiến tới việc bãi bỏ những trại lao cải mà Bắc Kinh còn gọi là trại lao động cải tạo.

Tại sao Quốc hội vẫn bình thản?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA 2014-06-20Một khoá họp Quốc Hội tại Hà Nội (ảnh minh hoạ)AFP
Đã gần hai tháng từ ngày Trung Quốc mang giàn khoan HD 981 vào vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam người dân vẫn trông mong một nghị quyết của Quốc hội sẽ được loan báo khẳng định ý nguyện toàn dân về vấn đề nghiêm trọng này. Tuy nhiên thực tế cho thấy gần 500 đại biểu vẫn quan tâm đến những vấn đề khác hơn là chủ quyền dân tộc bị xâm phạm.

Chỉ đưa ra thông cáo báo chí

Ngày 1 tháng 5 năm 2014, Trung Quốc công khai kéo giàn khoan HD 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bất chấp sự căm phẫn của người Việt và dư luận quốc tế. Giàn khoan này một lần nữa cho thấy Trung Quốc không giấu diếm quyết tâm xâm chiếm toàn bộ Biển Đông và hợp thức hóa đường lưỡi bò bất hợp pháp của họ.
Hai mươi ngày sau khi giàn khoan đã được cắm xuống vùng biển của đất nước, Quốc hội Việt Nam mới lên tiếng phản đối Trung Quốc trong một thông cáo báo chí do văn phòng Quốc hội soạn thảo, bày tỏ lo ngại và yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam.
Quốc hội phải dành thời gian bàn thảo sâu về vấn đề, thái độ của chúng ta đối với vụ việc Trung Quốc đặt giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
-GS Nguyễn Minh Thuyết
Là một thông cáo báo chí nên văn bản này không mạnh hơn một thông tin và hoàn toàn không có giá trị gì trên mặt pháp lý nếu xảy ra tranh tụng. Đối với cương vị của một định chế cao nhất nước trước hành vi táo bạo nghiêm trọng xâm lấn chủ quyền của Trung Quốc, Quốc hội Việt Nam phải có những động thái rõ ràng, mạnh mẽ nói lên ý nguyện toàn dân. Quốc hội cần phải ra nghị quyết và chỉ có nghị quyết mới nói lên sức mạnh của định chế này.
Giáo Sư Nguyễn Minh Thuyết, đại biểu quôc hội hai khóa 11 và 12 nhận xét về việc này:
“Về việc giàn khoan của Trung Quốc thì Quốc hội có nghe báo cáo và các đại biểu cũng đưa ra ý kiến của mình bày tỏ sự phản đối Trung Quốc và yêu cầu Quốc hội ra nghị quyết về vấn đề này trong phiên thảo luận về tình hình kinh tế xã hội. Nhưng tôi phải nói như thế là chưa đủ bởi vì Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, là cơ quan đại biểu cao nhất của người dân thì phải thể hiện được chính kiến của mình trong tình huống như thế này cho nó rõ ý của nhà nước Việt Nam và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.
bien-dong-305.jpg
Tàu hải giám Trung Quốc (màu trắng, phía sau) ngay sát tàu Việt Nam trên Biển Đông hôm 14/5/2014.
Theo tôi thì Quốc hội phải dành thời gian bàn thảo sâu về vấn đề, thái độ của chúng ta đối với vụ việc Trung Quốc đặt giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Quốc hội là người đại diện cho toàn dân thì phải lên tiếng một cách mạnh mẽ về vấn đề này. Phải ra nghị quyết chứ không phải chỉ ra một thông cáo báo chí chung chung.”
Trong thông cáo báo chí có đoạn viết “Quốc hội tin tưởng và nhất trí cao với chủ trương của Đảng, Nhà nước đã lãnh đạo quân dân ta có nhiều biện pháp đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ trên cơ sở luật pháp quốc tế; đồng thời, kiên trì đấu tranh gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; kiên trì bảo vệ, giữ vững quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc.”

Quốc hội chờ chủ trương của Đảng?

Ngôn ngữ của thông cáo báo chí này khiến người dân hiểu được lý do tại sao Quốc hội vẫn còn phải chờ đợi mà không có một thái độ dứt khoát. Quốc hội chờ và tin tưởng vào chủ trương của Đảng thay vì ý nguyện của toàn dân. Quốc hội cũng nhấn mạnh đến việc “giữ vững quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc” mặc dù giàn khoan của Trung Quốc công khai rút ruột tài nguyên đất nước.
Gần một tháng sau trong suốt kỳ họp thứ 7 của quốc hội khóa XIII, nhiều vấn đề được đưa ra thảo luận nhưng không một lần nào vụ giàn khoan được nhắc tới nữa mặc dù tàu cảnh sát biển Việt Nam ngày ngày phải đưa lưng ra nhận vòi rồng, rượt duổi như kẻ trộm ngay trên đất nhà của mình. Tàu ngư dân tiếp tục bị húc bị quấy phá đến nỗi đã có tàu bị chìm người bị giết.
Quốc hội tránh né giàn khoan như sợ Trung Quốc giận dữ và sự né tránh ấy càng làm cho Bắc kinh thấy rõ yếu điểm của Việt Nam nên ngày càng lộng hành, ngang ngược hơn.
Đảng không có phương cách nào ngăn chặn. Chính phủ chừng như bó tay trước kẻ thù quá mạnh và manh động. Quốc hội tiếp tục im lặng và tránh né sự thật đã khiến dân chúng hoang mang cao độ.
Đối với người dân, việc im lặng của Quốc hội trong lúc đất nước nguy vong là một hành động khó chấp nhận. Nhân dân bầu người đại diện cho họ với mục đích nói lên tiếng nói của mình và khi tiếng nói chính đáng không được cất lên thì chức năng đại diện của các đại biểu không còn hợp pháp dưới cái nhìn của quần chúng. Một công dân thành phố HCM cho biết ý nghĩ của anh:
Cho tới hôm nay thì Quốc hội vẫn im lặng, đây là sự im lặng phải gọi là đáng nhục nhã, họ không còn đại diện cho nhân dân nữa. Tiếng nói của họ không phải là tiếng nói của nhân dân.
-Một người dân
“Vấn đề giàn khoan của Trung Quốc và những động thái mới đây của họ đối với Việt Nam thì bất kể một người dân bình thường nào cũng đều cảm thấy bức xúc nếu hiểu vấn đề. Còn những người ở Quốc hội được gọi là đại biều của nhân dân, so nhân dân bầu ra để thay mặt mình đối phó với những vấn đề của đất nước nhưng cho tới hôm nay thì Quốc hội vẫn im lặng, đây là sự im lặng phải gọi là đáng nhục nhã, họ không còn đại diện cho nhân dân nữa. Tiếng nói của họ không phải là tiếng nói của nhân dân.
Trong khi tất cả tầng lớp nhân dân đang xôn xao, từ những người buôn bán trên vỉa hè cho tới trí thức đều đã lên tiếng về vụ giàn khoan cũng như xây dựng quy mô ở đảo Gạc Ma và tháo mạ và hăm dọa Việt Nam trên truyền thông vậy mà Quốc hội vẫn im lặng đây là một thất vọng mà tôi có thề nói rằng họ không còn xứng đáng là đại biểu của nhân dân nữa.”
Chiều ngày 19 tháng 6, trong khi Quốc hội thảo luận về Dự án Luật hộ tịch một đại biểu duy nhất trong gần 500 đại biểu là ông Trương Trọng Nghĩa đã đứng lên nói trước nghị trường rằng: “Nếu Quốc hội lần này không có tuyên bố hay nghị quyết chính thức gì về Biển Đông thì tôi tin rằng nhân dân ta sẽ rất thất vọng, thậm chí hoang mang. Đại biểu Quốc hội chắc chắc sẽ nghẹn lời trước những ý kiến chất vấn của cử tri.
Còn phía dư luận thế giới chắc sẽ bình luận rằng: Một hành vi xâm phạm và đe dọa chủ quyền của Việt Nam trắng trợn đến thế mà Quốc hội nước này không có phản ứng chính thức gì thì việc gì mà nghị sĩ và nhân dân các nước khác phải lên tiếng. Và đây có thể là một cái cớ để phía Trung Quốc tiến hành những việc làm hiếu chiến và nguy hiểm hơn nữa”
Ý kiến của ông Trương Trọng Nghĩa ngay lập tức được nhiều tờ báo đăng lại như một phản ứng của báo chí đối với sự im lặng khó chấp nhận của cơ quan quyền lực được cho là cao nhất nước này. Mặc dù kỳ họp thứ 7 sẽ bế mạc vào ngày 24 tháng này nhưng đối với yêu cầu bức thiết của đại biểu Trương Trọng Nghĩa Quốc hội vẫn không có vẻ gì xúc động hay để ý tới.
Người dân không biết dựa vào nơi nào khác khi Đảng quá xa vời và bất lực vì cùng chung ý thức hệ, chính phủ không thoát ra được bế tắt vì kinh tế, quốc phòng quá thua sút đối phương. Cơ quan duy nhất đại diện cho dân lại tỏ ra thờ ơ và chờ đợi vào đảng và chính phủ thay vì chính quốc hội phải chứng tỏ cho Trung Quốc và thế giới thấy rằng Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một định chế hợp hiến và có thật.