Sunday, April 20, 2014

Ôi! Tân Cương

Chủ nhật, 20 Tháng 4 2014 23:40


Tôi từng mơ có một lần đặt chân đến Tân Cương, nơi có những thành quách đền đài hoành tráng, nơi có những thảo nguyên bao la, những cánh đồng cỏ rộng tít tắp phía chân trời, nơi những người dân du mục chăn thả những đàn cừu đàn ngựa và cất cao tiếng hát ngợi ca quê hương tươi đẹp, nơi có những cô giái Duy Ngô Nhĩ có dáng người châu Á nhưng lại có đôi mắt đẹp sâu thẳm và huyền bí của người châu Âu, những cô gái mà ngày đã lâu lắm rồi, khi còn bé, tôi đã chen chân đi xem đoàn ca múa Duy Ngô Nhĩ sang Việt Nam biểu diễn và tôi còn nhớ mãi động tác lắc cổ điển hình của họ, những chiếc cổ trắng ngần lắc qua lắc lại mềm mại như không có xương.

Nhưng tôi chưa có dịp đến Tân Cương vì nghe nói nơi đó đang không yên ổn. Người dân tộc ở Tân Cương trong đó có người Duy Ngô Nhĩ bị người Hán đè nén áp bức đồng hóa từ đời này sang đời khác, đến đời cộng sản thì càng ngày càng khắc nghiệt và cuộc vùng dậy của họ cũng ngày càng mạnh mẽ. Những tin tức về những cuộc nổi dậy, những cuộc đàn áp chết nhiều người từ Tân Cương dội về làm cả thế giới lo ngại.

Ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh, ông tổ của chủ nghĩa Mác đã "dạy" như vậy và người dân Tân Cương đã thực hiện đúng như vậy và họ đã bị đàn áp và tàn sát dã man. Họ phải rời bỏ quê hương dắt díu nhau hàng ngàn cây số để tìm đất sống cho dù sự sống phải đổi bằng cái chết. Sự việc vừa xảy ra ở cửa khẩu Bắc Phong Sinh tỉnh Quảng Ninh chỉ là một trong rất nhiều câu chuyện bi thương của dân tộc Duy Ngô Nhĩ, một dân tộc rất yêu tự do và phóng khoáng, một dân tộc rất hiền lành đã bị biến thành hung dữ và khi hết đường lui, họ chỉ có con đường tự sát. Khốn nạn thay! Một dân tộc đang bị xóa sổ bởi những người đồng loại cùng một Tổ quốc.

Ôi! Đã sang thế kỉ thứ 21 rồi mà sao con người còn đối xử với nhau như loài cầm thú vậy. Chúng ta hãy thử đặt địa vị của mình là một người Duy Ngô Nhĩ, mình sẽ sống ra sao khi bị khinh rẻ, bị ruồng bỏ, bị đàn áp, bị đánh đập, bị giết chết như giết một con chó. Hãy xem những tấm hình các xác chết đặt trên các xe ba gác ở cửa khẩu Bắc Phong Sinh trước khi bàn giao cho phía Trung Quốc thì thấy họ ăn mặc rách rưới đói khát đã bao ngày nay để lê được bước chân tha hương đến đất Việt Nam thì có thể hiểu được họ ở cuối con đường sống rồi. Và nếu còn sống mà bị trả về Trung Quốc họ sẽ bị tra tấn cho đến chết vì thế có thể giải thích vì sao họ sẵn sàng tự sát sau khi manh động không thành.

Vấn đề sắc tộc luôn là vấn đề nóng của thế giới. Chủ nghĩa khủng bố cực đoan đang làm đau đầu các nhà cầm quyền từ Mỹ, Nga đến Trung Quốc. Chủ nghĩa li khai đang là những thùng thuốc súng luôn sẵn sàng bùng nổ ở khắp nơi trên hành tinh này. Đức chúa Jesu, Đức Phật Thích Ca Mầu Ni, Thánh A La đều dăn dạy con người điều thiện, sống trong vòng tay thương yêu của đấng tối cao nhưng sao con người luôn lấy đạo giáo làm vũ khí để giết nhau. Từ hàng ngàn năm nay đã thế và hôm nay vẫn thế.

Lương Kháu Lão
http://bolapquechoa.blogspot.ca/2014/04/oi-tan-cuong.html

Nghe CS là Bán Lúa Giống!

HNSG2015-04-17-2014


TT Nguyễn văn Thiệu của Việt Nam Cộng Hòa từng là một tướng lãnh rồi lên làm tổng thống chống Cộng sản. Còn Ô Chuck Hagel là một quân nhân Mỹ tham chiến chống CS Bắc Việt một cách anh dũng, hai lần bị thương được ân thưởng hai huy chương cao quí Purple Hearts, sau về Mỹ học lại, làm việc, được cử làm Thượng Nghị sĩ liên bang, rồi được TT Obama cử nhiệm và Thượng Viện phê chuẩn làm Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ. Ắt hẳn Ô Hagel biết câu nói để đời của TT Nguyễn văn Thiệu, “Đừng nghe những gì CS nói, mà nhìn những gì CS làm”. Và Ô Hagel sẽ thấy rõ kinh nghiệm của người Việt về CS trong chuyến công du đầu tiên của Ông sang Trung Cộng là quan thầy của CS Việt Nam. Đó là, nghe Cộng sản là “bán lúa giống” như câu tục ngữ của người dân Việt.

Thực vậy, CS lúc thì ăn đằng sóng, nói đằng gió, lúc lại dao to búa lớn, khi lại “hồ hởi, phấn khỏi nhất trí, đồng tình”. Nhưng thực chất tất cả chỉ là tuyên truyền, quân dân, địch vận chớ không phải đối thoại, “trao đổi” gì cả. Nói một cách khác CS đối đáp, tuyên bố không phải để cho người đối tác nghe mà để tuyên truyền, thực hiện cuộc chiến tranh tâm lý, chiến tranh chánh trị, là chánh yếu. Điều này có thể thấy qua cuộc gặp gỡ của Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Hagel với các giới chức thẫm quyền của TC.
Tin báo chí Mỹ tháp tùng, và báo chí quốc tế theo dõi, trong cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Chuck Hagel và Bộ Trưởng Quốc Phòng TC Tướng Thường Vạn Toàn, cả hai đối đáp thẳng thừng, gay cấn. Ông Hagel đã dùng những lời lẽ cứng rắn, khi mô tả những mục tiêu chính sách trái ngược nhau của hai nước trong khu vực. Ông Hagel đả kích Trung Quốc lập vùng phòng không bao trùm lãnh thổ có tranh chấp với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông. Ông Hagel cũng tố cáo Trung Quốc liên tục thực hiện những vụ tấn công tin tặc, nhắm vào các cơ quan chính phủ và các công ty tư nhân của Hoa Kỳ.
Đáp lại những chỉ trích của ông Hagel, Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc tỏ ra hoà hưỡn nói rằng, nước ông không bao giờ gây hấn với Nhật Bản một cách không cần thiết, nhưng luôn luôn sẵn sàng bảo vệ lãnh thổ của mình. Bộ Trưởng Quốc Phòng TC Tướng Thường Vạn Toàn còn mời Bộ Trưởng Hagel như một giới chức ngoại quốc đầu tiên lên thăm chiến hạm Liêu Ninh, hàng không mẫu hạm duy nhất của Trung Quốc.
Trong khi đó truyền thông đại chúng nói tiếng Tàu của Đảng Nhà Nước TC mở hết công suất, loa kèn “lên gân” quần chúng nhân dân chống Mỹ. “Báo đài” trong ngoài luồng của Đảng Nhà Nước thổi phòng lời của Ông Phạm Trường Long, phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, chỉ trích ông Hagel trong một cuộc họp báo. Ông nói ông bất bình về lời phát biểu của Ô Hagel ở Tokyo rằng chính quyền Trung Quốc nên ‘tôn trọng láng giềng’.
“Báo đài” của Đảng Nhà Nước TC dẫn lời các chuyên gia của họ phê phán việc Hạ viện Hoa Kỳ thông qua một dự luật cho phép bán tàu chiến lớp Perry có hỏa tiễn dẫn đường cho Đài Loan trong khi ông Hagel đang ở Trung Quốc.Bà Diêu Vân Trúc, một chuyên gia về quan hệ quốc phòng Mỹ-Trung ở Học viện Quốc phòng nói rằng, việc Washington bán vũ khí cho Đài Bắc đã vi phạm chính sách ‘một Trung Quốc’.
Trong khi đó, ngươi cầm đầu Đảng Nhà Nước TC là Tập cận Bình, người lãnh đạo chỉ huy cao nhứt trong sách lược quậy đục nước, dậy sóng biển đảo của các nước Á châu Thái bình Dương lại nói hiền khô. Trong cuộc gặp gỡ Bộ Trưởng Hagel, Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ôn tồn, nhỏ nhẹ nói Mỹ-Trung cần phát triển mối quan hệ hợp tác quân sự kiểu mới, trong khuôn khổ chiến lược về xây dựng quan hệ nước lớn. Hai nước không xung đột, không đối đầu, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi.
Bộ Trưởng Hagel cho biết sẵn sàng tăng cường đối thoại, xây dựng lòng tin giữa hai nước nhằm đưa quan hệ song phương và quan hệ hợp tác quân sự lên tầm cao mới.
Tại buổi gặp, Chủ tịch Trung Quốc và Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ cũng trao đổi quan điểm về tình hình trên bán đảo Triều Tiên.
Những gì Ô Tập cận Bình nói là để cho Mỹ nghe, các nước ngoài nghe, chớ không phải cho dân TQ nghe. Với dân Trung Quốc Ô Tập cận Bình luôn “ động viên” phục hồi giấc mộng Trung Hoa tức là thiên tử so với các nước chư hầu.
Đối với dân TQ, thì TC hô hào bánh trướng như lời Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường nói trong hội nghị thường niên Diễn Đàn Châu Á Bác Ngao tại tỉnh đảo Hải Nam, Trung Quốc, sau khi Chủ Tich Tập cận Bình tuyên bố hiền khô và họp tác với Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Chuck Hagel. Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tuyên bố, Bắc Kinh tức Trung Ương Đảng Nhà Nước TC sẽ cung cấp hỗ trợ đầy đủ cho các sáng kiến tăng cường hợp tác hàng hải, trong lúc vẫn phản ứng mạnh mẽ trước các hành động khiêu khích làm ảnh hưởng ổn định và hòa bình trên Biển Đông.Ông nói Bắc Kinh đối xử với công bằng với các nước bạn, nhưng kiên quyết giữ vững lập trường của mình. Bắc Kinh sẵn sàng cùng làm việc với các nước để bảo đảm quyền tự do hàng hải trong khu vực.
Nhưng trước đó một ngày, tình hình hoàn toàn trái ngược, TC giương oai diệu võ, gây hấn biển đảo của các nước Á châu Thái bình dương.
Chính Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, Đô đốc Harry Harris mô tả cách hành xử của Bắc Kinh là “rất nguy hiểm”, và cáo buộc các hành động “hung hăng” của Trung Quốc gây ra căng thẳng trong khu vực.
Cái kiểu kẻ làm mủ, người làm nhọt, nay nói vầy mai nói khác là nghề của CS, tin CS là bán lúa giống./.
Vi Anh

Không thù hận nhưng vẫn quyết đòi công lý!!!

 

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 193 (15-04-2014)

Ngay sau tháng tư đen 1975 (mà toàn dân VN sắp kỷ niệm với hàng chục triệu người miền Nam buồn, hàng chục triệu người miền Bắc tiếc và có lẽ vài triệu đảng viên vô sản nay thành tư bản vui), những công dân VNCH cũ đều rợn người lạnh gáy khi lần đầu tiên nghe trong bài “Giải phóng miền Nam” có câu: “Ôi xương tan máu rơi, lòng hận thù ngất trời!” rồi trong bài “Quốc ca” có câu “Đường vinh quang xây xác quân thù!” và “Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước!” Máu của ai?Xác quân thù nào sau “cuộc cải cách ruộng đất” với nửa triệu người bị giết chết? sau “cuộc tấn công Mậu Thân” với gần chục ngàn dân thường bị chôn sống? sau “cuộc chiến tranh giải phóng” với từ 3 đến 4 triệu người tan thây? Quân ngoại chủng tàn ác xâm lược ư? Không rợn người sao được khi trước đó, trong bài Quốc ca VNCH, nếu có nói đến máu xương thì chỉ là máu xương do sự hy sinh bản thân mình vì quê hương dân tộc: “Dù cho thây phơi trên gươm giáo, thù nước lấy máu đào đem báo”, hoặc trong bài “Việt Nam Việt Nam” nổi tiếng (mà đồng bào miền Nam đều biết và lúc ấy có một số đề nghị thay thế bài “Tiếng gọi công dân”) lại có câu: “Việt Nam không đòi xương máu! Việt Nam kêu gọi thương nhau! Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu!”

Người dân miền Nam lại càng rợn người tiếp khi những năm tháng sau đó, cứ luôn nghe ra rả bên tai những cụm từ “kẻ thù của nhân dân”, “có nợ máu với cách mạng”, những cụm từ khoác một cách đương nhiên lên quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa (những con người đã tự vệ hòng bảo vệ tự do) để đày đọa bản thân họ trong các nhà tù chốn rừng sâu nước độc, với lao động khổ sai, mang tên “trại cải tạo”; để đày đọa thân nhân họ trong các lán trại nơi khỉ ho cò gáy, lao động trên vùng đất chó ăn đá gà ăn sỏi, mang tên “khu kinh tế mới”. Cụm từ “kẻ thù của nhân dân”, “có nợ máu với cách mạng” tiếp tục được chụp lên những nhà tư sản miền Nam từng biết làm giàu vật chất cho đất nước nhưng nay tài sản của họ là mối thèm thuồng cho những kẻ chiến thắng khố rách áo ôm từ miền Bắc vào; chụp lên những văn nhân nghệ sĩ miền Nam từng biết làm giàu tinh thần cho dân tộc nhưng nay tác phẩm của họ là mối nguy cơ cho những kẻ thống trị chỉ muốn quản lý tất cả, từ kinh tế tới văn hóa, từ thể xác tới tâm hồn, để nắm trong tay mọi quyền lực và quyền lợi; chụp lên những chức sắc tín đồ từng biết làm giàu tâm linh cho xã hội nhưng nay uy lực tinh thần của họ là sự thách thức cho những kẻ chủ trương duy vật vô thần luôn mong thú vật hóa, công cụ hóa mọi người dân để dễ bề thống trị.

Trong cảnh hòa bình (theo nghĩa “cách mạng” đã đè bẹp mọi đối lực), những từ “kẻ thù”, “hận thù”, “thù địch” không vì thế mà biến mất nhưng chỉ chuyển đổi nội dung và đối tượng. Trong tình thế mở cửa để nhân dân mà nhất là đảng viên cán bộ làm ăn kinh tế, kẻ thù từ nay chính là những nông dân, thị dân hay giáo dân không chịu giao đất, giao nhà, giao cơ sở, không chịu bán ruộng bán vườn bán linh địa với giá rẻ mạt cho những tên tư bản đỏ trong nước, tư bản cá mập nước ngoài. Trong những cuộc họp trước khi ra quân cướp nhà của Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, cướp đất của thị dân ở Thủ Thiêm, cướp trường của giáo dân ở Loan Lý, cướp dòng của tu sĩ tại Thiên An, cướp ruộng của nông dân ở Văn Giang… hay trục xuất sư sãi tại Bát Nhã Lâm Đồng, đàn áp giáo dân tại Mỹ Yên Nghệ An, tấn công tín đồ ở Chợ Mới An Giang, giải tán sắc tộc ở Hàm Yên Tuyên Quang…, đám công an, dân phòng, côn đồ đang hí hửng vì món tiền thưởng hậu hĩ vừa nhận hay sẽ nhận từ các công ty hay đảng ủy, đại khái đều nghe chỉ thị: “Bọn sắp chống lại các đồng chí chính là kẻ thù của nhân dân, phá hoại chủ trương của chính phủ, cản trở sự phát triển của đất nước. Cứ ra tay mạnh vào: dùi cui, roi điện, lựu đạn cay, súng hoa cải cứ mặc tình sử dụng; tiền bạc, vòng vàng, máy ảnh, điện thoại, xe cộ của bọn chúng cứ tha hồ cướp lấy….”.
Rồi trong tình cảnh quốc dân ngày càng không chịu nổi sự cai trị xã hội, quản lý đất nước, điều hành kinh tế vừa ngu dốt, vừa tham lam, vừa dối gian, vừa tàn bạo của đảng Cộng sản nên đã đứng lên đủ mọi giới để phản kháng và đòi hỏi; trong tình cảnh quốc tế ngày càng săm soi những hành vi vi phạm nhân quyền trầm trọng, những báo cáo thành tích nhân quyền láo khoét của nhà cầm quyền Hà Nội nên đã thường xuyên nhắc nhở và áp lực, kẻ thù từ nay chính là “bọn rận chủ” (lời của đám dư luận viên), “bọn quấy phá”, “bọn bị giật dây”, “bọn phản động”, “đám vi phạm pháp luật”, “đám biểu tình vì tiền” (lời của thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn), “lũ cấu kết với các lực lượng thù địch nước ngoài” (lời của bộ công an Ba Đình), “những kẻ nhận định sai trái, thiếu thiện chí về Việt Nam” (lời của bộ ngoại giao Hà Nội). Nghĩa là Cộng sản nhìn ở đâu và lúc nào cũng thấy kẻ thù. Điều đó dễ hiểu vì các ông tổ ông cố của họ (Karl Marx, Lenine) đã phân thế giới nhân loại thành hai kẻ thù sống mái một mất một còn: tư bản và cộng sản, vì các ông cha ông thầy của họ (Mao, Hồ) đã dạy: chính quyền ở đầu mũi súng, đảng ta là đảng cầm quyền (độc nhất và vĩnh viễn), nên “mọi ai chống lại tôi đều phải chết” (lời Hồ Chí Minh), “kẻ không yêu xã hội chủ nghĩa là phản động” (lời Lê Duẩn) và phải bị đào thải, tiêu diệt.
Đang lúc đó tinh thần nhân bản của thế giới văn minh, của dân tộc thuần hậu thì đều không hận thù, không báo thù cách tập thể và tàn bạo, nhất là sau những cuộc chiến tự vệ: thái độ của Bắc quân đối với Nam quân sau cuộc nội chiến Hoa Kỳ (1861-1865), thái độ của Đồng minh đối với phe Trục (Đức, Nhật) sau cuộc Thế chiến thứ II (1939-1945), thái độ của vua quan nhà Trần đối với quân Nguyên Mông bại trận, của vua quan nhà Hậu Lê đối với quân Minh đầu hàng… Hiện nay cũng thế, phong trào đấu tranh dân chủ trong lẫn ngoài nước đều chủ trương bất bạo động dù bị đàn áp khốc liệt, các cuộc biểu tình chống Tàu cộng xâm lăng, nhớ Tử sĩ yêu nước đều diễn ra trong sự ôn hòa dù bị phá cản cách vô văn hóa hay vô pháp luật, các cuộc xuống đường đòi đất đai nhà cửa của nhân dân cũng chưa có những cảnh bạo động dữ dằn (ngoại trừ súng hoa cải của Đoàn Văn Vươn và súng colt của Đặng Ngọc Viết) dù bị giải tán bởi đối lực đông đảo, côn đồ, hung hăng và tàn bạo. Thí dụ gần đây nhất và đánh động nhất là lời dặn dò trước lúc lâm chung (do bị CS đầu độc) của tù nhân lương tâm, nhà giáo Đinh Đăng Định: “Không được giữ lòng thù hận, chúng ta không phải là kẻ thù của nhau”, là thái độ tha thứ khi ra khỏi ngục của người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu. Ta hãy nghe lời linh mục Vĩnh Sang trong bài “Đem yêu thương vào nơi oán thù” viết hôm 30-03-2014: “Trong chương trình “Việt Nam Tuần Qua” [của Truyền thông Chúa Cứu Thế], ông chia sẻ về hành trình đức tin của mình, một người tù xuyên thế kỷ được gặp Chúa và những người tù khác đã được gặp Chúa, họ được biến đổi hoàn toàn. Những hận thù đau đớn biến mất trong ông, còn lại chỉ là niềm bình an sâu xa, sức mạnh tinh thần và lòng yêu thương. Những người khác cũng vậy, ông kể về một bạn tù: “Nó biến đổi hoàn toàn, không còn như xưa nữa; trước đây nó là trùm của các trùm, nay đã thay đổi”. Điều làm tôi xúc động khi ông kể: lúc bị biệt giam, dây xích quấn quanh cổ chân, ông ngồi trong tư thế như vậy ngày này qua ngày khác, nhưng vẫn bình an vì ông dùng chính dây xích ấy để làm tràng hạt Mai Khôi… Một bài hát cầu nguyện sáng tác trong tù, ông đã đổi chữ “thù hận” ra chữ khác vì lòng ông không còn hận thù nữa”. Một cán bộ Cộng sản phản tỉnh, cụ Lê Hồng Hà, cựu chánh văn phòng bộ Công an, trong bài viết mới công bố “Mấy suy nghĩ về tình hình, nhiệm vụ hiện nay”, cũng đã chứng tỏ tinh thần không thù hận khi mong mỏi rằng cuộc chuyển biến chính trị tại VN trong thời gian tới sẽ không phải là một cuộc đảo chính, một cuộc lật đổ chính quyền, không phải là một cuộc khởi nghĩa đầy máu lửa, một cuộc đổi thay đầy bạo lực, nhưng nên như một sự canh tân hệ thống chính trị cách cơ bản, nghĩa là một sự chuyển đổi chế độ cai trị cách ôn hòa, trong đó vẫn giữ Chính phủ và Quốc hội, chỉ loại bỏ sự cai trị mặc định vĩnh viễn của đảng Cộng sản. Sở dĩ cần giữ nguyên Chính phủ và Quốc hội là để các hoạt động hành chánh, kinh tế, văn hóa, xã hội, được tiếp diễn bình thường. Rồi mọi chế độ lương bổng, hưu trí, phụ cấp cho những người về hưu, những đối tượng xã hội vẫn tiếp tục trong công bình và hợp lý, kẻo xảy ra xáo trộn, đình trệ.
Nhưng dù không thù hận, nhân dân vẫn quyết đòi công lý. Trước hết đó là đòi hỏi những kẻ đã gây sai lầm và tội ác trên đất nước hơn 60 năm qua, gây đau khổ và thiệt hại cho đồng bào gần thế kỷ tròn (cụ thể là đảng Cộng sản) phải biết tỏ lòng sám hối. Sự hòa giải hòa hợp dân tộc trước tiên phải khởi từ việc kẻ mắc tội với dân tộc phải cầu xin dân tộc sự tha thứ (như trong tôn giáo, tội nhân có sám hối mới được Trời Phật thứ tha). Đây chẳng có gì ô nhục mà là nét cao của con người.
Thứ đến, đó là trả lại mọi sinh quyền cho người sống và mọi linh quyền cho người chết, mọi nhân quyền cho con người và mọi dân quyền cho công dân. Cụ thể ra, đó là phục hồi danh dự cho những cá nhân và tập thể bị vu khống, thóa mạ đang còn sống hay đã qua đời, xây lại nghĩa trang mồ mả họ, dựng lại bia đá tưởng niệm họ đã bị tàn phá đục bỏ, viết lại sử sách lăng nhục họ đã được phổ biến tuyên truyền. Đó là biểu dương công lao của những ai đã bỏ mình vì nước, coi như anh hùng liệt sĩ dân tộc, dù thuộc bất cứ chiến tuyến nào; đó là cầu siêu với thành tâm tin tưởng (như thế phải bỏ xác tín vô thần) cho mọi đồng bào đã chết oan ức trong các cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, trong các cuộc cải tạo xã hội tàn bạo, do chế độ cai trị bất công, do chế độ lao tù khắc nghiệt. Đó là thả hết mọi tù nhân lương tâm, trả lại danh dự và tài sản, đền bù mọi thiệt hại tinh thần và vật chất cho bản thân lẫn gia đình họ.
Đó là bãi bỏ Hiến pháp soạn theo Cương lĩnh đảng, các Bộ luật viết vì ích lợi đảng, chấn chỉnh hệ thống hành chánh củng cố quyền lực đảng, bộ máy công an thi hành theo lệnh đảng, xây dựng một nền giáo dục thôi đào tạo ra công cụ cho đảng, một mạng lưới thông tin thôi tuyên truyền cho đảng. Đó là bầu ra một Quốc hội thật sự đại diện cho dân và trách nhiệm trước dân, một Chính phủ thực sự của dân, do dân và vì dân. Đó là thành lập một Quân đội đứng trung lập trong mọi cuộc tranh chấp giữa nhân dân với nhà nước, đứng hiên ngang trước quân thù xâm lược đang hiện diện ngoài biển cả hay trong đất liền. Đó là mời gọi Đồng bào tha hương trở về giúp nước trong thái độ chiêu hiền đãi sĩ chân thành, tôn trọng tài năng và quyền lợi của họ giữa một thể chế dân chủ và tự do.

Đôi Dép Tháng Tư

( HNPĐ ) Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, hắn “được Cách Mạng nhân đạo khoan hồng tập trung để bảo vệ tính mạng cho, vì nếu để ở ngoài sẽ bị nhân dân trả thù”. 




 Huyện Củng Sơn thuộc tỉnh Tuy Hòa là vùng hoạt động của “Cách Mạng” trước 75. Lúc mới “nhập môn” giữa vùng rừng núi này, mỗi lần đi ra ngoài “học tập lao động để sau này trở về không còn bóc lột như thời Mỹ Ngụy nữa, mà biết tự mình làm ra của cải vật chất hầu nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp cho xã hội”, hắn nơm nớp sợ đồng bào địa phương có tiếng là dân Cách Mạng, sẽ trả thù (thù gì thì hắn không biết), nếu họ bắt gặp và nhận ra hắn là “ngụy quân.”

Một hôm, trên đường đi “lao động là vinh quang” ngang qua khu chợ, có mấy người dân chạy theo đoàn tù binh. Hắn lo lo; đang lúc chuẩn bị tinh thần chịu trận “nhân dân trả thù” thì có người dí vào túi áo hắn gói thuốc lá Sông Cầu. Đó là một nhân dân hoàn toàn xa lạ. Hắn sửng sờ, chưa kịp nói lời cảm ơn thì người đàn bà ân nhân đã lách vội vào đám đông như tìm đường chạy trốn. Từ đó về sau, nhiều người trong đám tù và hắn lâu lâu lại được “nhân dân trả thù” như thế; khi cục đường mía, lúc miếng kẹo lạc.

Lại một hôm, đám tù được thả lỏng phân tán mạnh ai nấy tự đi tìm... cỏ tranh để cắt (về lợp nhà). Hắn được một phụ nữ quần áo vá đùm vá đụp mặt hốc hác, chạy đến trước mặt, mắt dáo dác ngó trước ngó sau một vòng rồi dí vào tay cho cái bánh ú làm bằng bột củ sắn mì với nhân hột mít. Chị ta nói,” Anh ăn cho đỡ đói. Bây giờ chúng tôi mới hiểu ra..., và thương các anh quá”.

Không thấy “nhân dân trả thù” mà chỉ gặp nhân dân “thương các anh quá”, nhưng Cách Mạng vẫn nhất quyết tiếp tục “bảo vệ tính mạng cho Ngụy quân ngụy quyền, những kẻ có tội với nhân dân mà lấy hết trúc Trường Sơn làm bút, lấy sạch nước Biển Đồng làm mực cũng tả không xiết”. Tháng lại tháng. Năm qua năm. Đêm đêm nằm nêm cối đến ngộp thở trong những dãy nhà được bao bọc bởi nhiều lớp kẽm gai xen kẽ lớp xương rồng rồi lớp mìn bẩy, lớp hầm chông. Ngày ngày đi ra ngoài làm đủ thứ công việc của người tù khổ sai. Khi đi lẫn lúc về, đoàn tù binh phải dừng lại nơi cổng ra vào để lính gác đếm. Đi, đếm rất mau; về, vừa đếm vừa khám xét khắp người tù xem có lận theo trong túi áo thắt lưng con cóc con nhái, con rắn con rít, hay cọng rau nạm cỏ (như cỏ sam heo ăn được là tù ăn được)... gọi chung là những thứ “cải thiện linh tinh” bị cấm ngặt, nên trong khi chờ đợi, cứ phải ứa gan với cái bảng đỏ to tổ chảng trước mặt treo vắt ngang giữa hai cái lô cốt chằm chằm hai bên cửa ra vào, có hàng chữ màu vàng khè “KHÔNG CÓ GÌ QUÍ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO” phía trên hàng chữ “TRẠI CẢI TẠO A30” . Mỗi lần như thế, hắn lại hình dung ra cảnh tú bà cho treo trước cửa nhà chứa của mụ, cái băng trắng chữ đỏ “Chữ Trinh đáng giá ngàn vàng”.

“Ngày như lá tháng như mây”, chỉ là với thế giới bên ngoài. Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Hắn thường bày tỏ rằng, nhờ Ơn Trên phù hộ hắn mới qua khỏi hơn 2500 cái "thiên thu tại ngoại”, để có ngày được “Cách mạng khoan hồng” cấp cho tờ “Giấy Ra trại”. Trên đường về với gia đình tận vùng Cao Nguyên, hắn phải ghé lại Nha Trang để chờ mua vé xe cho chặng đường cuối. Hắn đi lang thang để nhìn lại cảnh cũ người xưa nơi thành phố mà hắn đã qua nhiều thời kỳ gắn bó. Thuở nhỏ “du học”; lớn đi thi Tú Tài; mấy tháng học Không Trợ tại Trường Không Quân, và những lần “quá cảnh” trên đường đi đi về vê. Người thiếu nữ đầu tiên đi qua đời hắn cũng từ bãi thùy dương cát trắng này. Nha Trang đã là một phần đời hắn.

Hắn đi ngang quầy bán thuốc lá lẻ bên lề đường Nguyễn Hoàng. Bổng dưng hắn nhớ và thèm một điếu thuốc CAPSTAN ngày nào. Sau khi tính nhẩm và chắc chắn số tiền Trại cải tạo cấp cho theo tiêu chuẩn nhà nước làm “của ăn đi đường” còn đủ để mua được hai điếu thuốc lá Song Long (hắn biết giá thuốc vì Trại thỉnh thoảng có mua giùm cho những ai có tiền cần mua), hắn mạnh bạo tiến đến phía quầy bán thuốc. Đã gần bảy năm, nay hắn mới được thấy lại nụ cười chào khách của những người bán thuốc lá bên đường mà trước kia hắn thường gặp. Hắn hân hoan như vừa tìm lại được một điều gì quý hóa đã mất từ lâu lắm. Nhưng bỗng dưng hắn chưng hửng khi thấy mặt cô gái bỗng nhiên tối sầm lại và tỏ vẻ dửng dưng với khách. Hắn ngạc nhiên trước thái độ thay đổi đột ngột của cô gái. Hắn kiểm điểm lại mình, và đinh ninh mình không hề có cử chỉ khiếm nhã nào hay nói năng gì khác ngoài lời hỏi mua thuốc lá. Hắn sực nhớ lúc nãy cô gái có liếc mắt xuống đôi chân hắn. Hắn chợt thoáng “lý đoán” ra nguyên nhân. Nhìn thẳng vào mặt cô bán thuốc, với vẻ nghiêm trang, hắn nói:

“Anh vừa từ trại Cải tạo ra, đang trên đường về, nên đành phải mang đôi dép này”.

Khi hắn vừa mới nói đến “Anh vừa từ trại cải tạo ra”, cặp mắt cô gái sáng lên và đôi má cô ửng hồng, nhếch lên để lộ ra cái núm đồng tiền. Hình như cô muốn nói điều gì mà không cất lên được. Cô luống cuống lấy trong hộc ra gói thuốc Hoa Mai còn nguyên rồi bằng hai tay đưa lên sát ngực hắn, với ánh mắt thương cảm trìu mến :

“Anh cầm lấy, em biếu anh. Rất tiếc bây giờ không còn thuốc trước 75”.

Hắn đã bỏ hút thuốc từ lâu, nhưng vẫn nhớ mãi gói thuốc của ba mươi năm về trước. Mỗi tháng Tư về, hắn lại càng thấy món nợ hắn mắc mỗi to hơn.

 Không phải nợ gói thuốc lá cô gái biếu. Nhưng là nợ chính cuộc đời cô mà hắn đã không bảo vệ được. Để ít ra cô khỏi phải nhìn thấy những Đôi Dép Tháng Tư đưa dân Nam đến cảnh bần cùng khốn nạn.

Nguyễn Bá Chổi
( HNPĐ )

PICS:Anh Lê Văn Dỵ (Phường Tân phú, Quận 9): “Tôi không cần báo Tuổi trẻ khóc mướn”!

Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đã dùng quyền lực ép Thành ủy, Thành đoàn Thành phố phải phế truất anh Lê Hoàng, vô hiệu hóa Lê Văn Nuôi và đặt Phạm Đức Hải chễm chệ vào ghế Tổng Biên tập báo Tuổi trẻ. 

…bên cạnh những người đẹp chân dài...
Đã hơn 5 năm kể từ ngày Báo Tuổi trẻ khi ấy đang ở thời thịnh thế, qua một đợt phong ba ở cấp thượng tầng chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đã dùng quyền lực ép Thành ủy, Thành đoàn Thành phố phải phế truất anh Lê Hoàng, vô hiệu hóa Lê Văn Nuôi và đặt Phạm Đức Hải chễm chệ vào ghế Tổng Biên tập báo Tuổi trẻ. Ngoài những bài báo, các chuyên đề phục vụ tham vọng chính trị cá nhân cho “Tư Sang “và gần đây là “Phúc đầu niểng” để củng cố “quyền lực chính trị” đã được Đức Hải và bộ sậu Hữu Phong, Xuân Trung, Xuân Toàn, Văn Đắc chuyên môn hóa thì việc làm giàu cho cá nhân từng người trong BBT được bộ sậu này hết sức quan tâm và “đồng lòng” cho phóng viên báo Tuổi trẻ sẵn sàng bẻ cong ngòi bút tung hoành ngang dọc khiến nhiều doanh nghiệp phải xất bất xang bang, thậm chí phá sản nếu không chịu cống nạp qua các hình thức như từ thiện hoặc quảng cáo mà phần lớn đều đổ vào túi “nhóm lợi ích” của báo Tuổi trẻ, không ngạc nhiên khi các lãnh đạo báo với “đồng lương” khiêm tốn mà tay nào cũng nhà lầu, xe hơi, tiền đầy túi, đàn ca sáo nhị suốt ngày trong những dịp cuối tuần, mừng tăng doanh số “từ thiện” hay mừng tăng doanh số “quảng cáo” mà đa phần là do doanh nghiệp muốn yên thân phải cống nạp.

“Ngọn lửa Tuổi trẻ” được thế hệ Lê Văn Nuôi, Lê Hoàng thổi lên nay đã tắt ngấm dưới thời Phạm Đức Hải, báo Tuổi trẻ chỉ còn lại mùi tửu sắc, bài bạc, đàn ca sáo nhị ngập tràn tòa soạn

Một chiêu thức kiếm tiền “từ thiện” của báo Tuổi trẻ mà nếu bỏ qua sẽ là một thiếu sót lớn, đó là đám phóng viên trong vai những kẻ “khóc mướn”, dùng đủ mọi chiêu trò để vống lên những mảnh đời bất hạnh, thương tâm để “hút” tiền từ thiện, nếu diễn ra chỉ một lần, hai lần thì người ta sẽ bảo là “tai nạn nghề nghiệp”, nhưng không, chiêu trò này đã được sự cổ vũ nhiệt tình của Đức Hải, Văn Đắc và giờ đây, chiêu bài “từ thiện” đã trở thành một “thương hiệu” riêng của tờ Tuổi trẻ mà chưa có bất kỳ tờ báo nào theo kịp. Bạn đọc đã có thể kiểm chứng qua bài viết trước đây “Báo Tuổi trẻ, “5 đứa trẻ trong căn nhà không có người lớn” và số phận của hơn 2 tỉ đồng từ thiện”, kỳ này, Người Trong Cuộc tiếp tục “điểm” thêm một trong vô số bài phóng sự mà không ai đọc mà không rơi nước mắt, sẵn sàng tìm đến Ban Công tác Bạn đọc để chuyển tiền vào “ngân quỹ” Công tác Xã hội báo Tuổi trẻ.

CTV Mai Hoa, Ban Chính trị Xã hội, báo Tuổi trẻ đang được Đức Hải, Vũ Bình, Văn Đắc đánh giá cao trong vai trò “khóc mướn” để câu tiền từ thiện từ các doanh nghiệp và độc giả

Báo Tuổi trẻ số ra ngày 21/9/2013 có bài phóng sự “Mẹ, con và những ngày mai vô định” của CTV Mai Hoa (tức cô phóng viên Mai Thị Hoa, sinh năm 1990, gốc Thanh Hóa, tốt nghiệp Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đang là CTV chuẩn bị bước sang giai đoạn Phóng viên tập sự của báo Tuổi trẻ). Khi đọc bài này, bất kỳ ai cũng không khỏi thương tâm, rơi nước mắt với hoàn cảnh mẹ già 73 tuổi phải đi ăn xin để nuôi cậu con trai bệnh tật, dằn vặt với nỗi buồn xa xứ, sống nhờ vào bó rau, ngọn cỏ với vài nghìn đồng xin được mỗi ngày mà không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ gì của chính quyền, đoàn thể địa phương. Người Trong Cuộc đã đất công tìm hiểu sự thật phía sau bài báo, thì ra đây lại là một màn “xảo thuật từ thiện” quen thuộc của tờ Tuổi trẻ, xin được minh bạch để bạn đọc rõ:

Hình ảnh thương tâm do CTV Mai Hoa dàn dựng

Gia đình bà Liên, anh Thành thuộc dạng tạm trú trên địa bàn phường Tân Phú, Quận 9, TP HCM, chính quyền địa phương hiểu rõ hoàn cảnh gia đình này, quan trọng nhất là tình tiết màbáo Tuổi trẻ cố tình bỏ qua là hiện nay bà Liên, anh Thành đang sống trong sự đùm bọc của người con trưởng của bà Liên là anh Lê Văn Dỵ, một chủ thầu xây dựng, có nhà cửa đàng hoàng, thậm chí có tới 3 dãy phòng trọ cho thuê, trong đó một phòng dành riêng cho cậu em trai bệnh tật. Vợ anh Dỵ cũng hành nghề buôn bán ở chợ Tân Phú, gia đình anh Dỵ hoàn toàn đủ khả năng nuôi mẹ và em trai. Hoàn toàn không có chuyện anh Dỵ để mẹ già phải thiếu ăn thiếu mặc đến mức phải đi ăn xin như báo Tuổi trẻ đã “dặm mắm thêm muối” xuyên tạc, vu khống trắng trợn. Còn nhớ khoảng một tháng sau khi báo Tuổi trẻ đăng về bà Liên, anh Thành, những người quanh khu vực xì xào, không biết báo Tuổi trẻ “gom” được bao nhiêu tiền từ thiện mà mang đến tặng cho gia đình bà Liên, anh Thành tới mấy trăm ký gạo, dầu ăn, sữa, nước mắm,… khiến anh Dỵ một phen muối mặt với bà con chòm xóm, bức xúc hét lên: “Tôi không cần báo Tuổi trẻ khóc mướn!” và đòi “đập gãy chân” nhà báo Tuổi trẻ nói láo Mai Hoa nếu dám bước vào dãy nhà trọ của gia đình một lần nữa. Ngay cả lãnh đạo chính quyền địa phương cũng dính phải “đạn lạc” của báo Tuổi trẻ khi bị Quận ủy, Thành ủy “dũa” một trận oan uổng. Quá bức xúc, UBND phường Tân Phú, Quận 9 đã gửi đơn khiếu nại, tố cáo báo Tuổi trẻ lên cơ quan chủ quản là Thành đoàn Thành phố. Đã “lỡ” ôm một đống tiền bạn đọc gửi tới, báo Tuổi trẻ đành ngậm tăm, chỉ phản hồi đơn giản bằng một công văn “giải trình” vô thưởng vô phạt mà chẳng thèm đính chính gì, mọi chuyện rồi cũng từ từ đi vào quên lãng.

Phía sau cảnh “khóc mướn” của báo Tuổi trẻ: Trưởng ban Công tác Xã hội Phan Văn Đắccô ca sĩ và bà mẹ già bán vé số

Với lòng tham vô độ, báo Tuổi trẻ đã và đang điên cuồng hút máu bạn đọc, doanh nghiệp bằng các chiêu trò săn lùng những mảnh đời bất hạnh để làm phóng sự, bài viết với những ngòi bút “chuyên nghiệp” của đám phóng viên sẵn sàng dùng “kính hiển vi” để phóng đại lên nhiều tình tiết không có thực miễn sao lấy nước mắt độc giả và bòn rút tiền từ thiện của doanh nghiệp, bạn đọc mà Đức Hải, Xuân Trung, Văn Đắc thường bảo với nhau là “càng nhiều càng ít”…

Mời độc giả "thưởng thức"  một số hình ảnh liên quan đến “công tác từ thiện” của báo Tuổi trẻ và Trưởng ban Văn Đắc (Nguồn: Facebook):

Khi hiểu được phía sau những lời kêu gọi “từ thiện” thống thiết của báo Tuổi trẻ, liệu các em học sinh sẽ còn nhịn ăn sáng để cùng làm “từ thiện”, vỗ béo cho Đức Hải và bộ sậu báo Tuổi trẻ?

Duy nhất một phương châm của báo Tuổi trẻ mà Người Trong Cuộc thấy đúng là bảng hiệu: “Bạn đọc là sức sống của Tuổi trẻ

Trưởng ban Văn Đắc thủ vai chính trong phim “Ván bài lật ngửa” của công tác từ thiện, báo Tuổi trẻ

Phía sau “đồng lương” của báo Tuổi trẻ, doanh nghiệp, bạn đọc đã giúp Trưởng ban Phan Văn Đắc sửa sang biệt thự ở quê nhà Tây Ninh và mua xe sang, tậu nhà ở TP.HCM

Ông cụ cặm cụi đóng góp từng đồng lương hưu cho “ngân sách từ thiện” của báo Tuổi trẻ…

...để Trưởng ban Văn Đắc có “điều kiện” tham gia những cuộc chơi thâu đêm…

…bên cạnh những người đẹp chân dài...

…và những bữa tiệc đầy ắp rượu, bia

Trưởng ban Văn Đắc cùng “dâm đãng viên” Bạch Hoàn

Các chiến sĩ công an cũng xếp hàng nộp từng đồng lương công chức cho “ngân sách từ thiện” của báo Tuổi trẻ

Để báo Tuổi trẻ có “điều kiện” thực hiện các chuyến “công tác xã hội” trên bàn nhậu

Chú heo rừng trở thành nạn nhân trong chuyến “từ thiện” ở quê nhà Trưởng ban Văn Đắc


Người Trong Cuộc
Theo những người nham hiểm

Sau cộng sản, sẽ có tự do dân chủ?

Nhưng khi chế độ kỳ quái đó sụp đổ, có chắc chắn sẽ có tự do dân chủ? 

Từ Thức (Bauxit VN)

Muốn xây dựng lại một đất nước đổ vỡ, phải chấm dứt chế độ cộng sản. Sự tồn tại của một chế độ kỳ quái như vậy là một hiện tượng bất bình thường trong một quốc gia bất bình thường trong thế kỷ 21. Nhưng khi chế độ kỳ quái đó sụp đổ, có chắc chắn sẽ có tự do dân chủ? Theo nhà văn Nga Svetlana Alexievitch, dân chủ, tự do đã không thực hiện ở Nga sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ những năm 1990, vì “chúng tôi, giới trí thức tiến bộ, đã có một thái độ lãng mạn”, trong khi xây dựng dân chủ là một tiến trình lâu dài, phải chuẩn bị. Muốn có dân chủ, phải có tổ chức dân chủ, có người dân chủ (démocrates), văn hóa dân chủ.
Svetlana Alexievitch, tác giả chiếm giải Médicis-Essai 2013, trong một cuộc phỏng vấn dành cho tập sanPhilosophie, số Đặc biệt (1), nói “chúng tôi tưởng tự do nằm sau cửa sổ, muốn có, chỉ việc dẹp chế độ cộng sản. Khi chúng tôi ngồi thảo luận với nhau trong phòng ăn, chúng tôi nhìn sự việc như vậy. Những người cộng sản đã ra đi dễ dàng một cách đáng ngạc nhiên, không hề chống cự. Chỉ sau này, chúng tôi mới hiểu họ chỉ cần hoạt động ngầm cũng đủ để trở lại nắm quyền.”
Bà Alexievitch, một nhà văn có cái nhìn sắc bén, là tác giả của nhiều cuốn sách về xã hội hậu cộng sản ở Nga (2) mà những người tranh đấu cho dân chủ ở Việt Nam nên đọc, để tránh khỏi cái bi kịch dã tràng, bao nhiêu hy sinh, tù đày mà cuối cùng dân chủ vẫn chỉ là một ảo tưởng.
Chúng tôi đã có ảo tưởng về một dân tộc chống Cộng, khao khát tự do, dân chủ. Điều đó chỉ có trong đầu chúng tôi (giới trí thức). Khi tự do rơi xuống đầu dân tộc đó những năm 1990, họ không đổ xô tìm đọc Soljenitsyne hay tìm hiểu sự thực về goulag như chúng tôi tưởng tượng. Họ muốn, trước hết, sống và tiêu thụ. Một số người, mà chúng tôi không nghĩ tới, đã lợi dụng, bám vào trào lưu này để leo lên cầm quyền, như Loukachenko ở Biélorussie năm 1994 hay Poutine ở Nga năm 2000. Tóm lại, chúng tôi đã hoàn toàn không chuẩn bị cho đời sống thực tế. Bởi vì dân chúng không muốn kinh tế tự do (libéralisme). Hãng xưởng đóng cửa, tình trạng thất nghiệp khiến chúng tôi, những người trí thức tự do, đã rất sớm trở thành thiểu số. Hơn nữa, chúng tôi không có chương trình hành động gì cụ thể, ngoài chuyện đẩy cộng sản ra khỏi chính quyền. Chúng tôi nghĩ chỉ việc dẹp cộng sản là một bảo đảm cho tự do. Chúng tôi không có một kinh nghiệm gì trong việc xây dựng một xã hội bình thường; chúng tôi chỉ có kinh nghiệm bạo lực.”
Svetlana Alexievitch giải thích tại sao ngày nay vẫn còn những người Nga tưởng nhớ chế độ cộng sản: Khi một nhóm chính trị và kinh tài cướp đoạt, vơ vét hết tài nguyên của đất nước, dân chúng trở thành tay trắng, không nghề nghiệp, không tương lai, họ mơ tưởng trở lại chế độ bao cấp của cộng sản. Nhất là từ những năm 1990, người ta không còn bị gởi đi Goulag, không còn những vụ đàn áp đẫm máu, và đa số dân Nga sống trong xã hội tương đối bình đẳng – tất cả đều nghèo như nhau, lối sống đó thích hợp với nhiều người Nga.
Theo Alievitch, vài năm sau khi chế độ cộng sản bị lật đổ, người cộng sản có thể trở lại cầm quyền nếu họ muốn. Trong cuộc bầu cử 1996, bà tin rằng đã có thỏa hiệp giữa Eltsine với những người cộng sản. Cộng sản có thể thắng cử nếu họ muốn, vì họ vẫn chiếm đa số cử tri. Nhưng họ không muốn công khai nắm chính quyền một lần nữa, họ lựa chọn đứng đằng sau để giật dây và trên thực tế vẫn nắm vận mệnh nước Nga. Đó là một chế độ cộng sản “giả dạng thường dân” communisme de seconde main, đề tài của cuốn sách La fin de l’homme rouge(3) của Alievitch. Người cộng sản không mặc áo đỏ nữa, nhưng vẫn nắm quyền.
Thực trạng nước Nga cho thấy những quan sát của Svetlana Alievitch không sai sự thực. Quyền lực nằm trong tay Poutine, một cựu trùm KGB. Tất cả sinh hoạt chính trị, kinh tế đều nằm trong tay những tay cựu KGB đồng lõa với Poutine. Dân chủ Nga chỉ là dân chủ giả hiệu. Tham nhũng cao độ, bất công xã hội cùng cực, kinh tế thị trường man rợ. Những người lợi dụng được chế độ lao đầu vào phong trào tiêu thụ, những người bị gạt ra ngoài xã hội ngồi hối tiếc một xã hội cộng sản trong đó không có thất nghiệp và những nhu cầu tối thiểu được nhà nước bao cấp. Trong bối cảnh đó, xây dựng một xã hội dân chủ, tự do là một ảo tưởng, một tiếng kêu giữa sa mạc.
Đó là hiện tượng chung ở những nước hậu cộng sản nghèo, dân trí thấp, như những quốc gia trước đây thuộc Liên bang Xô Viết. Hiện tượng đó không có ở Đức hay Ba Lan.
Hiện tượng đó không xảy ra ở Đức bởi vì Đông Đức được Tây Đức gồng mình xây dựng lại theo mô hình Tây Đức, một quốc gia tiến bộ và thịnh vượng nhất Âu Châu. Nhất là một văn hóa dân chủ cao, cao hơn nhiều nước Âu Châu khác, bởi vì họ còn ám ảnh bởi những kỷ niệm đen tối, ghê rợn của những năm độc tài phát xít, ý thức rằng dân chủ là con đường sống duy nhất. Dân tộc Đức đã đạt một thành quả vĩ đại: đưa một nửa quốc gia từ xã hội độc tài, nghèo đói tới một xã hội dân chủ đích thực.
Hiện tượng đó không xảy ra ở Ba Lan bởi vì Ba Lan, với trợ cấp khổng lồ của Cộng Đồng Âu Châu, đã xây dựng một nền kinh tế lành mạnh và có khả năng phát triển. Adam Michnik, một trí thức đấu tranh cho dân chủ Ba Lan: “nếu bạn ghé thăm Ba Lan, sẽ thấy ít có chuyện hồi tưởng chế độ cộng sản. Không có ai muốn quay lại với quá khứ” (1).
Chính mô hình Ba Lan hậu cộng sản đã khiến những người tranh đấu ở Ukraine nổi loạn.
Những gì xảy ra ở Nga có thể lặp lại ở Việt Nam. Chế độ cộng sản đổ nhưng vẫn không có dân chủ và người cộng sản vẫn nắm quyền, mặc dầu không mặc áo đỏ nữa. Việt Nam có đầy đủ những yếu tố của xã hội Nga: một giai cấp trí thức lãng mạn (cộng thêm cái thói chia rẽ khủng khiếp, bệnh hoạn độc quyền của dân tộc ta), không chuẩn bị, không tổ chức, một văn hóa dân chủ mơ hồ trong quần chúng, một hàng ngũ cộng sản có tổ chức, dư tiền bạc để lũng đoạn các sinh hoạt chính trị.
Dân chủ là một tiến trình lâu dài, đòi hỏi những điều kiện khách quan. Một trong những nguyên tắc căn bản: muốn có dân chủ (démocratie), phải có người dân chủ (démocrates). Hàng ngũ những người dân chủ phải đông đảo để bảo vệ khi dân chủ đang thành hình, để những người tranh đấu cho dân chủ không bị cô đơn, những lực lượng phản dân chủ không thể lộng hành.
Muốn có một hàng ngũ những người dân chủ, phải có một giai cấp trung lưu. Bởi vì giai cấp thượng lưu thường thường đồng loã với chính quyền để bảo vệ quyền lợi. Giai cấp bình dân chỉ nghĩ đến nhu cầu thực tiễn trước mắt là lo ăn, kiếm sống. Giai cấp trung lưu có ý thức, có nhu cầu tự do dân chủ, là rường cột cho bất cứ một xã hội dân chủ nào. Huấn luyện, đào tạo một văn hoá dân chủ trong giai cấp trung lưu là chuyện cần thiết, lâu dài và cấp bách. Vừa lâu dài vừa cấp bách. Cấp bách vì nước đã đến chân, nếu không muốn nói đã tới cổ. Lâu dài vì nếu La Mã không được xây trong một ngày, xây dựng văn hóa dân chủ còn nhiều đường đất hơn nữa. Một thí dụ: những người cổ võ cho dân chủ không thể chỉ thoả mãn với những lời hô hào suông, những khẩu hiệu rỗng tuếch đã nhắc đi nhắc lại ngàn lần. Phải có những bài, những sách mổ xẻ cụ thể dân chủ là gì, cần những điều kiện khách quan nào, phải tránh những cạm bẫy nào, tại sao không thể xây dựng lại đất nước nếu không có dân chủ…
Đó là chỉ là một thí dụ nhỏ trên mặt lý thuyết, chưa nói đến vấn đề tổ chức vốn là điểm yếu của người Việt. Nhưng lý thuyết không phải là chuyện vô bổ. Trái lại, đó là nền tảng cho việc xây dựng sau này. Làm thế nào để biến hàng ngũ trung lưu càng ngày càng đông đảo trở thành nền móng của một xã hội dân chủ sơ khai, trước khi họ trở thành những cái máy tiêu thụ.
Những nhận xét rất thực tế của những người trong cuộc như Svetlana Alexievitch khiến người Việt phải suy nghĩ. Nếu không muốn đi vào bánh xe đổ. Cộng sản đổ, chưa chắc đã có ngay dân chủ nếu không chuẩn bi, không có tổ chức, không có ý thức chính trị đứng đắn. Con đường sẽ còn nhiều chông gai.
Đó là một cái nhìn thực tiễn, không phải một cái nhìn bi quan. Dân chủ không ở trên trời rơi xuống, nhưng mặc dù dân chủ chưa thành hình, mặc dù những người cựu cộng sản sẽ còn lộng hành, điều chắc chắn là chủ nghĩa cộng sản đã chết. Svetlana Alexievitch trích dẫn một câu của sử gia Nga Serguei Averintsev: chế độ cộng sản“đã xây dựng những cái cầu trên một con sông của ngu dốt, nhưng dòng sông ngày nay đã hoàn toàn là dòng sông khác.”
(Paris, tháng 4.2014)
T. T.
Trí Đặng chuyển
(HNPD)

HỠI BỌN VIỆT GIAN ! KHÔNG ĐƯỢC XÚC PHẠM LÁ CỜ VÀNG

Chúng tôi mạnh mẽ tin tưởng rằng, hiện nay tuyệt đại quần chúng VN từ Nam chí Bắc đã nhận ra rằng… LÁ CỜ VÀNG 3 SỌC ĐỎ chính là LÁ CỜ CHÁNH NGHĨA… mãi mãi sẽ trường tồn với Dân Tộc Việt Nam. 

Kính chuyển
 :


     *Cảm ơn Sử gia Trần Gia Phụng đã có công nghiên cứu và trình bày thật chính xác về các diễn tiến hình thành LÁ CỜ QUỐC GIA VIỆT NAM vàng 3 sọc đỏ.


     - Lá cờ vàng 3 sọc đỏ đã được chấp thuận và lựa chọn MỘT trong số NĂM mẫu cờ… qua một cuộc “trưng cầu ý kiến”.


     - Lá cờ vàng 3 sọc đỏ không phải của nhà Vua Bảo Đại hay của Vatican hoặc Pháp vẽ ra như tên việt gian Nguyễn Mạnh Quang cùng đồng bọn VC nằm vùng… tuyên truyền khoét lác.


    - Có luận điệu cho rằng, để tiến tới “hoà hợp, hoà giải” với phe CS trong tương lai, cả 2 phe Cộng Sản và Quốc Gia cần hy sinh lá cờ của mình, và đề nghị một lá cờ khác thay thế !!!


    Rõ ràng đây là một đề nghị không thể chấp nhận được :


    1.- Như trong bài viết trên đã vạch rõ, lá cờ Vàng 3 Sọc Đỏ ra đời từ khi Quốc Gia Việt Nam vừa được Pháp trao trả độc lập năm 1948. Đó là lá cờ “thống nhứt” từ Nam chí Bắc, là biểu tượng cho Dân Tộc Việt Nam.


    2.- Trong khi đó, lá cờ Đỏ Sao Vàng là lá cờ của Đảng CSVN không phải của quốc dân Việtnam. Bọn việt gian CS Hànội đã ÁP ĐẶT lá cờ Đảng của chúng làm cờ Quốc Gia là bất hợp pháp, vì nó không đại diện cho cả Dân Tộc VN.


    Xin hãy nhìn qua Liên Xô và Khối CS Đông Âu : Khi Cộng sản cướp chánh quyền, y như Việt cộng, họ lấy cờ Đảng làm cờ Quốc GiaNhưng khi chế độ CS sụp đổ, các quốc gia Nga và Đông Âu liền cho phục hồi lá cờ Quốc Gia cũ trở lại.


     Điều nầy có nghĩa là, khi Đảng CS còn thì lá cờ còn; Khi Đảng CS mất thì lá cờ cũng mất theoĐó là quy luật lịch sử không thể thay đổiĐảng CS Hànội cũng không thể là ngoại lệ !


     3.- Huống chi, hoàn cảnh nước VN hiện vẫn còn bị chi phối bởi 2 văn kiện quốc tế là HĐ Geneva 54 và HĐ Paris 73. Sớm hay muộn, nhân dân VN sẽ được thực thi QUYỀN DÂN TỘC TỰ QUYẾT của mình. Chế độ CS Hànội sẽ bị loại trừ. Và rồi nhân dân VN sẽ quyết định lựa chọn lá cờ :


     a.- Về nguyên tắcLÁ CỜ là một sản phẩm do con người làm ra thì con người cũng có thể thay thế qua cuộc biểu quyết của Quốc hội hay Trưng cầu Ý dân.


     b.- Tuy nhiên, chúng tôi mạnh mẽ tin tưởng rằng, hiện nay tuyệt đại quần chúng VN từ Nam chí Bắc đã nhận ra rằng… LÁ CỜ VÀNG 3 SỌC ĐỎ chính là LÁ CỜ CHÁNH NGHĨA… mãi mãi sẽ trường tồn với Dân Tộc Việt Nam.


     GÓP GIÓ 30-1-2013






Lá Cờ Chính Nghĩa 


*Trần Gia Phụng




     Lời người viết: Sau khi bài “Mặt trời không bao giờ lặn bên trên lá Cờ vàng ba sọc đỏ” được đăng trên báo và đưa lên web, có một độc giả tự xưng là du học sinh Việt Nam gởi e-mail cho người viết và đưa ra hai câu hỏi:


     1) Tại sao người viết nói rằng lá Cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện năm 1948 chứ không phải 1954 khi đất nước bị chia hai?


     2)...Nếu người viết bảo rằng lá Cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ chính nghĩa thì người viết giải thích như thế nào về biến cố 1975? Xin cảm ơn anh du học sinh đã đặt câu hỏi. Sau đây là bài trả lời câu hỏi thứ nhất. Tôi sẽ trả lời câu hỏi thứ hai trong số báo sau.




1.- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ


     Năm 1945, sau thế chiến thứ hai, Hồ Chí Minh và mặt trận Việt Minh (VM), một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), nhanh tay chiếm được chính quyền. Vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) quyết định thoái vị và trao quyền lại cho mặt trận VM. Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và ra mắt chính phủ lâm thời, chọn cờ của mặt trận VM là Cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ.


     Không đầy mười ngày sau, trung ương đảng CSĐD họp tại Hà Nội ngày 11-9-1945 đưa ra chủ trương VM độc quyền cai trị đất nước. (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 143.) [Về sau, đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục việc nầy qua điều 4 hiến pháp năm 1992.]


     Để bảo đảm độc tôn quyền lực, về đối nội, VM thực hiện kế hoạch mà VM gọi là “giết tiềm lực” hay “tiêu diệt tiềm lực”, tức là tiêu diệt tất cả các đảng phái và tất cả các thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, tất cả những người có khả năng nhưng không cộng tác với VM, có thể nguy hiểm cho VM hay trở thành đối thủ của VM trong tương lai.


     Về đối ngoại, VM nhượng bộ các lực lượng nước ngoài để rảnh tay đối phó với các lực lượng đối kháng trong nước, nhằm duy trì việc độc quyền chính trị. Khi Pháp gởi lực lượng, theo quân Anh tái chiếm miền Nam, rồi tiến ra Bắc nhằm thay thế quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng, VM liên tục nhượng bộ. Thấy VM yếu kém, ngày 18-12-1946, Pháp buộc VM phải giao quyền kiểm soát an ninh Hà Nội cho Pháp. Hồ Chí Minh họp trung ương đảng CSĐD tại Vạn Phúc (Hà Nội) trong hai ngày 18 và 19-12-1946, quyết định bất ngờ tấn công Pháp tối 19-12-1946. (Một nhóm tác giả, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504.) Không thể để Pháp bắt và cũng không thể bỏ trốn nhục nhã, quyết định của hội nghị Vạn Phúc nhằm tạo cơ hội cho các nhà lãnh đạo VM và đảng CSĐD thoát thân ra khỏi Hà Nội một cách chính thức. Thế là chiến tranh không tuyên chiến xảy ra.


     Trong khi chiến tranh tiếp diễn, VM tiếp tục chủ trương “giết tiềm lực”. Trong các năm 1945, 1946, 1947 trên toàn quốc, VM giết khoảng 100,000 người ở tất cả các cấp từ trung ương xuống tới địa phương làng xã. Đứng đầu danh sách nầy là những nhân vật như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Huỳnh Phú Sổ, Trương Tử Anh …


     Vì bản năng sinh tồn, những người theo chủ nghĩa dân tộc không cộng sản phải trốn tránh, bỏ ra nước ngoài, hoặc phải đến sinh sống tại vùng do Pháp tái chiếm khi Pháp trở lại Đông Dương, hay chẳng đặng đừng cộng tác với Pháp để thành lập tổ chức hành chánh địa phương tạm thời do Pháp bảo trợ, chống lại VM.


     Ở Nam Kỳ, chính phủ Cộng hòa Lâm thời Nam Kỳ được thành lập tháng 6-1946, đổi thành chính phủ Nam Kỳ tự trị tháng 2-1947. Cũng trong tháng 2-1947, Pháp thành lập Hội đồng chấp chánh lâm thời Trung Kỳ tại Huế. Ra tới Hà Nội, Pháp thành lập Uỷ ban Lâm thời Hành chánh và Xã hội, còn được gọi là Hội đồng An dân tháng 5-1947. Tháng 10-1947, ông Nguyễn Văn Xuân, thiếu tướng trong quân đội Pháp, đã từng được Hồ Chí Minh cử làm quốc vụ khanh trong chính phủ VNDCCH ngày 2-9-1945, đứng ra thành lập chính phủ lâm thời Nam Kỳ.


     Việt Minh kết án chung tất cả các tổ chức nầy là Việt gian, tay sai thực dân Pháp. Tuy nhiên nếu những người nầy không hợp tác với Pháp để chống VM cộng sản, bảo toàn sinh mạng của chính họ, thì không lẽ họ ngồi yên để chờ đợi VM tới bắt giết, như đã từng bắt giết Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi? Nếu Nguyễn Văn Xuân, một tướng lãnh trong quân đội Pháp, là tay sai của thực dân Pháp, thì tại sao Hồ Chí Minh lại cử làm quốc vụ khanh trong chính phủ của Hồ Chí Minh?




2.- CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ XUẤT HIỆN


     Trong khi đó, trong một chuyến công du cho chính phủ VM qua Trung Hoa tháng 3-1946, theo lời cựu hoàng Bảo Đại, cố vấn chính phủ VM, ông bị phái đoàn VM bỏ rơi ở lại Côn Minh (Kunming) tháng 4-1946. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 242.) Cựu hoàng tự ý thức rằng VM bỏ rơi ông có nghĩa là VM không còn cần đến ông nữa, nên cựu hoàng bắt đầu tách ra khỏi chính phủ VM, qua trú ngụ ở Hồng Kông. Các lãnh tụ trong các tổ chức hay đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc dần dần tập họp chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, yêu cầu cựu hoàng ra cầm quyền trở lại, nhằm tranh đấu giành độc lập và thống nhất đất nước.


     Về phía Pháp, sau một thời gian thương thuyết với VM nhưng thất bại, Pháp thay đổi chính sách từ tháng 9-1947, quay qua thương thuyết với cựu hoàng Bảo Đại để tìm một giải pháp mới. Cao uỷ Pháp tại Đông Dương là Émile Bollaert gặp cựu hoàng Bảo Đại trên một chiếc tàu thả neo ở vịnh Hạ Long ngày 6-12-1947. Hai bên đồng ký bản thông cáo chung theo đó Pháp hứa trao trả độc lập cho Việt Nam và ngược lại Việt Nam hứa sẽ cộng tác và ưu tiên sử dụng chuyên viên Pháp trong công cuộc kiến thiết đất nước.


     Sau cuộc nói chuyện sơ khởi trên đây, Bảo Đại qua Pháp tiếp tục vận động. Để tạo cơ chế hành chánh chung có thể nói chuyện với Pháp, khi trở về lại Hồng Kông, cựu hoàng uỷ cho Nguyễn Văn Xuân lập chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam. Nguyễn Văn Xuân được Hội nghị các giới cầm quyền do Pháp bảo trợ và đại diện các đoàn thể, các đảng phái tại ba miền Bắc Trung, Nam Việt Nam, họp tại Sài Gòn ngày 20-5-1948, đồng ý ủng hộ làm thủ tướng.


     Ngày 1-6-1948 Nguyễn Văn Xuân chính thức công bố chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam gồm đầy đủ đại diện Bắc, Trung và Nam Việt Nam. Hôm sau, 2-6-1948, thủ tướng Nguyễn Văn Xuân công bố “Pháp quy lâm thời” (Statut provisoire), quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ ở giữaquốc ca là bài “Tiếng gọi sinh viên”, sau đổi là “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước.


     Khi chuẩn bị lập chính phủ, Nguyễn Văn Xuân đã cho trưng cầu ý kiến về việc chọn quốc kỳLúc đó có năm lá cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ, gồm có ba lá cờ do uỷ ban đại diện ba miền Bắc, Trung và Nam phần đưa ra, và hai lá cờ do đại diện Phật Giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài đề nghịCuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại không phức tạp, dễ thực hiện.


     Quốc kỳ mới do thủ tướng Nguyễn Văn Xuân công bố hình chữ nhật, chiều cao bằng hai phần ba chiều ngang, nền vàng giống như cờ của Trần Trọng Kim, nhưng thay vì quẻ ly, nay đổi lại ba sọc đỏ bằng nhau, chạy dài theo chiều ngang của lá cờ. Chiều cao chia thành 3 phần bằng nhau. Ở phần giữa, ba sọc đỏ nằm xen kẻ với hai sọc vàng, tất cả năm sọc đều bằng nhau.


     Ngày 8-3-1949 cựu hoàng Bảo Đại ký với tổng thống Pháp là Vincent Auriol hiệp định Élysée, tại Paris, theo đó chính phủ Pháp chính thức giải kết hòa ước bảo hộ năm 1884, Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Sau những thủ tục pháp lý đưa Nam Kỳ, vốn là thuộc địa của Pháp, sáp nhập trở lại vào lãnh thổ Việt Nam, nghĩa là đất nước được thống nhất, Bảo Đại trở về Việt Nam lập chính thể Quốc Gia Việt Nam do ông làm quốc trưởng cuối tháng 4-1949.


     Lúc đó, trên đất nước Việt Nam có hai chính phủ. Chính phủ QGVN ở các thành phố và vùng nông thôn phụ cận. Chính phủ VNDCCH ở núi cao, rừng sâu và bưng biền. Khu vực cai trị của hai bên không có giới tuyến rõ rệt. Hai chính phủ theo hai đường lối hoàn toàn đối kháng nhau. Chính phủ QGVN chủ trương tự do dân chủ, đa đảng tuy có phần hạn chế vì chiến tranh, và dựa trên nền tảng văn hóa dân tộc. Chính phủ VNDCCH chủ trương độc tài toàn trị, độc đảng và dựa trên nền văn hóa Mác-xít. Hai chính phủ được tượng trưng bằng hai lá cờ cũng đối nghịch nhau: Cờ vàng ba sọc đỏ và Cờ đỏ sao vàng.


     Về phía QGVN, do đặc trính tự do dân chủ, nhiều chính phủ kế tiếp nhau cầm quyền. Cuối cùng, năm 1954 quốc trưởng Bảo Đại cử Ngô Đình Diệm lập chính phủ. Ngô Đình Diệm chính thức chấp chánh từ ngày 7-7-1954 (ngày Song thất). Hai tuần sau, hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954, chia hai nước Việt Nam ở sông Bến Hải (vĩ tuyến 17), VNDCCH ở phía bắc và QGVN ở phía nam.


Ông Diệm ổn định tình hình miền Nam, tổ chức trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, thiết lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa do ông làm tổng thống ngày 26-10-1955. Quốc hội lập hiến được bầu ngày 4-3-1956, bàn chuyện thay đổi quốc kỳ và quốc ca, nhưng chưa có mẫu vẽ quốc kỳ mới nào ưng ý hơn, nên ngày 31-7-1956, Quốc hội ra quyết nghị hoãn bàn, và vẫn giữ quốc kỳ như cũ. Sau đó Quốc hội mở cuộc thi vẽ quốc kỳ mới; có tất cả 350 mẫu cờ và 50 bài nhạc được đề nghị. Ngày 17-10-1956, Quốc hội lập hiến một lần nữa ra tuyên bố không chọn được mẫu quốc kỳ và bài hát nào hay đẹp và ý nghĩa hơn, nên quyết định giữ nguyên màu cờ và quốc ca cũ làm biểu tượng quốc gia.


     Lá Cờ vàng ba sọc đỏ được miền Nam sử dụng cho đến năm 1975, khi cộng sản Bắc Việt, với sự hậu thuẫn của Quốc tế cộng sản, cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam ngày 30-4.


     Như thế, lá Cờ vàng ba sọc đỏ đã xuất hiện từ năm 1948 trên toàn quốc, chứ không phải chỉ xuất hiện sau năm 1954, ở miền Nam Việt Nam sau khi đất nước bị chia hai. Lá Cờ vàng ba sọc đỏ hoàn toàn đối nghịch với lá Cờ đỏ sao vàng chẳng những về màu sắc, nhưng quan trọng nhất đối nghịch cả về ý nghĩa chính trị. Một bên, Cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho tự do dân chủ và dân tộc; một bên, Cờ đỏ sao vàng tượng trưng cho độc tài, đảng trị và quốc tế cộng sản.


Trần Gia Phụng
Mai Luong chuyển
(HNPD)