Tuesday, March 11, 2014

Đảng ta lại đòi "Hiếp Pháp"!

Đảng ta lại đòi "Hiếp Pháp"!

An Giang: Cán bộ Toà Án Nhân Dân huyện lừa đảo chiếm đoạt gần 6 tỷ đồng!


Báo Đất Việt  - Lợi dụng sự tin tưởng của người dân, Vân đã vay nhiều lần của 6 người, tổng số tiền lên đến 8 tỷ đồng với lãi suất từ 3% đến 6%/tháng. Khi vụ việc đổ bể, Vân trả được một phần, số tiền còn lại Vân chiếm đoạt tiêu xài cá nhân.

Ngày 10.3, TAND tỉnh An Giang đã tuyên phạt Huỳnh Hải Vân (nguyên cán bộ kế toán của TAND huyện Tri Tôn, An Giang) 13 năm tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người dân lên đến 5,7 tỷ đồng.

Theo hồ sơ, trước khi Vân bị TAND tỉnh An Giang buộc tội, Vân là kế toán của TAND huyện Tri Tôn. Từ tháng 3 đến tháng 9.2012, lợi dụng sự tin tưởng của người dân, Vân đã vay nhiều lần của 6 người, tổng số tiền lên đến 8 tỷ đồng với lãi suất từ 3% đến 6%/tháng.

Khi có số tiền này, Vân cho người khác vay lại để hưởng lợi. Khi vụ việc đổ bể, Vân trả vốn được 765 triệu đồng, trả lãi 341 triệu đồng; số tiền khác Vân mang cho người khác vay và bị chiếm đoạt 716 triệu đồng, số tiền còn lại Vân chiếm đoạt tiêu xài cá nhân.

Theo Dân trí


TỪ UKRAINE TỚI VIỆT NAM (2)

HNSG2015- 

Trong bài viết “ Nước Nga và cuộc khủng hoảng Ukraine, “ tác giả Nguyễn Việt Trung hạ câu kết như vầy:
“ Nếu thế giới để Nga xâm lược Ucraine thì ngày mai có thể thế giới tỉnh dậy với các tin tức như sau: Trung Quốc cho lực lượng gìn giữ hoà bình vào quần đảo Trường Sa, Việt Nam tuyên bố tổng động viên…hoặc Trung Quốc và Philipin giao tranh dữ dội ở biển Đông.. .”
Tác giả so sánh một phần quần đảo Trường Sa với bán đảo Crimée thì thật là khập khiển:
1/ Crimée là một vị trí xung yếu với Sébastopol là căn cứ quan trọng của hạm đội Nga ở Hắc Hải.
2/ Crimée là một khu tự trị lớn với đông đảo dân số nói tiếng Nga và thân Nga.
Tóm tắt là, Crimée là trọng điểm chiến lược quân sự và chánh trị.
Trường Sa là một quần đảo nhỏ, chỉ có một đơn vị nhỏ vnxn trú phòng với dân số ít òi người Việt.
Hai bên khác nhau xa về vị trí và tầm mức quan trọng: Nga có thể vì Crimée chấp nhận chiến tranh. Tàu không bao giờ vì Trường Sa mà khai chiến, tạo dịp cho Mỹ, Nhựt, Úc can thiệp. Huống chi trên thực tế, tàu đã khống chế, chẳng những Trường Sa mà cả Biển Đông. Tàu thăm dò dầu khí vnxn bị “ tàu lạ “ hai lần cắt cáp. Ngư dân Việt Nam hành nghề trong lãnh hải VN mà bất cứ lúc nào cũng có thể bị “ tàu lạ “ uy hiếp, đụng chìm, có khi công khai ngăn chặn, bắt bớ đòi phạt tiền hoặc trả tiền chuộc mạng như mafia.
Bây giờ thử nhìn về thực trạng Việt Nam trong bang giao với đại hán tàu.
Những sự lệ thuộc từ khi tàu cọng chiếm lục địa 1949 và bảo trợ tập đoàn cọng sản hồ bác cụ gát lại.
Chỉ bắt đầu từ nơi văn tự sáp nhập đảng cọng sản An nam vào đảng Trung cọng là Mật ước Thành Đô 1990 làm điểm xuất phát mà tính đi.
Trong hồi ký Trần Quang Cơ, một thứ trưởng ngoại gioa kỳ cựu của chxhcnvn viết nguyên văn như vầy:
“ Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là vì chính ta đã tự lừa ta.
Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xã hội thế giới, chống lại hiểm hoạ “ diễn biễn hoà bình ” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm “ giải pháp Đỏ ”.
Đoạn văn kể trên xác nhận việt cọng bị tàu cọng lừa để xã nghĩa An nam từ đó trở thành một chư hầu lệ thuộc tàu với một hiệp ước chánh thức ký kết.
Trong đoạn văn tiếp theo Trần Quang Cơ diễn giải cụ thể hơn:
“ Từ sau Đại hội VII, bộ mặt bành trướng, bá quyền của tập đoàn thống trị Bắc Kinh đối với Việt Nam ngày càng quỷ quyệt, can thiệp sâu và trắng trợn vào nội bộ lãnh đạo Việt Nam. Sự quỳ phục của Lê Đức Anh ngày càng bộc lộ rõ rệt trong việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. “
Và tệ mạt hơn hết là bọn việt gian bán nước không còn giữ gì thể diện, uy quyền Quốc gia đối với chủ tàu của chúng:
“ Dư luận quốc tế xôn xao cho rằng Nguyễn Cơ Thạch là “vật tế thần” trong việc Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng đó mới chỉ là một cách nói đơn giản vì vấn đề không chỉ là bình thường hoá quan hệ mà là phụ thuộc hoá quan hệ.
“ Sau Đại hội VII, mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà nước đều do Hồng Hà, Bí thư Trung ương, phụ trách đối ngoại, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê Đức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của Tổng bí thư Đỗ Mười, quyết định. Những phần công việc xưa nay vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do Hồng Hà và Ban Đối ngoại chủ trì. Một thí dụ điển hình về vì ý đồ cá nhân họ sẵn sàng bỏ qua danh dự và quốc thể: Ngày 5/8/91, tại cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: ‘Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Đức Duy (Đại sứ Trung Quốc), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh’. Lê Đức Anh cho biết khi ở Trung Quốc, Phó ban Đối ngoại Trung Quốc Chu Lương có đề nghị: vì lý do kỹ thuật, quan hệ giữa hai Đảng xin làm qua Trương Đức Duy. “
Vậy đó, từ sau Mật ước bán nước Thành Đô đến nay, bọn việt gian cọng sản hành xử như là thổ quan của chệt tàu là vì thế: Mọi việc điều hành Đất nước cứ đến tâu trình, lãnh lịnh trực tiếp với Thái thú tàu ở Hà Nội là xong!
Năm 2010, trên Google Hỏi & Đáp có loan truyền một bản tin từ Wikileaks như vầy:
“ Trong tài liệu tuyệt mật liên quan tới Việt nam này của mình, Wikileaks khẳng định thông tin dưới đây nằm trong số 3.100 các bức điện đánh đi từ Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh của cơ quan ngoại giao Hoa kỳ tại Việt nam gửi chính phủ Hoa kỳ, tài liệu này có đoạn ghi rõ “… Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công CNCS, Đảng CSVN và nhà nước Việt nam đề nghị phía Trung quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ và Việt nam bảy tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung quốc để Việt nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc kinh như Trung quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng tây…. Phía Trung quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020)để Đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung quốc”.
Đối chiếu bản tin nầy với các đoạn hồi ký Trần Quang Cơ kể trên thấy nội dung đều phù hợp: Đặt vn xã nghĩa phụ thuộc vào trung cọng.
Nói cho cùng, chỉ cần kiểm điểm điểm lại các thỏa ước mà việt cọng ký kết với tàu khựa từ sau Mật ước Thành Đô 1990 đến nay thì thấy, quả nhiên bọn việt gian cọng sang tích cực thi hành “ các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung quốc” như sau:
Năm 1999, chúng ký Hiệp ước biên giới giao hoàn 900 KM2 giải đất biên giới, trọn Ải Nam Quan và ½ thác Bản Giốc cho mẫu quốc tàu.
Năm 2000, chúng ký Hiệp ước Vịnh Bắc Bộ giao 1/3 vịnh Bắc Việt cho tàu khựa.
Năm 2013, lần đầu tiên chủ tịt nước Sang sâu qua chầu thiên tử chệt, nó ký liền một lúc 10 văn kiện đầu hàng giao trọn quyền điều hành An nam xã nghĩa cho thiên triều, vừa ký vừa cúi đầu bái 29 lần.
Cuối năm 2013, khi tể tướng chệt Lý Khắc Cường tuần du An nam đô hộ phủ, tên việt gian gốc hoa Hoàng Trung Hải sơ thự thỏa ước gọi là “ Hai hành lang – Một vành đai “ giao trọn Bắc bộ từ biên giới xuống tận Hà Nội – Hải Phòng cho chệt trọn quyền khai thác.
Đó là về mặt chánh thức. Trên thực tế thì tàu cọng đã nắm trọn An nam xã nghĩa về mặt yếu điểm quân sự lẫn kinh tế.
Hàng vạn đặc công ( công binh đặc biệt ) tàu dưới vỏ bọc công nhân khai thác mỏ bauxite trấn giữ nóc nhà Tây nguyên khống chế cả nước.
Hàng vạn dân quân tàu dưới dạng công nhân khai thác rừng đầu nguồn trấn đóng các cao diểm chiến lược trên biên giới phía Bắc.
Hàng vạn đặc công thi công các công trình trọng điểm do việt gian cọng sản giao cho chủ thầu chêt lãnh thầu suốt dọc duyên hải từ Móng Cáy tới tận mủi Cà Mau.
Các bè nuôi cá “ gián điệp “ hoạt động thong dong ở bên bờ Vịnh Cam Ranh, kể cả Vũng Rô, Quảng Nam.
Chinatowns, phố chệt mọc lên khắp nơi từ Nam chí Bắc, tiêu biểu như Đông Đô Đại phố, Bình Dương.
Hàng hóa tàu tràn ngập từ thành thị tới tận vùng quê xa xôi, hẻo lánh như chợ Môt Ngàn, Cờ Đỏ.
Thương lái chệt tư do thu mua các mặt hàng nhằm phá hoại kinh tế VN như mua đỉa trâu, đọt giây khoai lang, móng trâu với giá cao…
Tóm tắt là, Nước Việt Nam khốn khổ hiện đang ở dưới ách đô hộ của tàu trên thực tế!
Cho nên so sánh tình cảnh Việt Nam với Ukraine thì Nước ta bị ách nạn cọng sản độc tài bạo ngược cọng sản tới hai tấng: Tầng trong là việt gian cọng sản. Tầng ngoài là đại hán chệt.
Vì vậy mà, nhân dân Ukraine chỉ rượt đuổi U gian “ Gia nô cồ vịt “ ( Yanukovich ) chạy về Nga là quét sạch cửa nhà, chỉ còn lo đương đầu với đế quốc Nga bên ngòai.
Việt Nam ta thì khó khăn nhiều hơn, bởi vì guồng máy cai trị của bọn việt gian bán nước lan rộng từ trung ương đến tận thôn làng. Cho nên không phải chỉ tống khứ 16 con cá tra Ba Đình mà được.
Chúng ta phải liều thân một mất, một còn mới mong đánh đuổi hết bọn phản nước, hại dân được.
Ukraine chỉ làm cách mạng quét dọn thượng tầng là xong.
Người Việt chúng ta phải tiến hành một cuộc cách mạng toàn triệt, quét dọn từ trên tới dưới mới xong!
Muốn được như vậy, chúng ta phải noi gương Đại đế Quang Trung, hành quân thần tốc đáo nhập Thăng Long, quét sạch cả và việt gian Lê Chiêu Thống lẫn tàu khựa Tôn Sĩ Nghị chạy về tàu.
TẾT ĐỐNG ĐA
Mồng năm Kỷ Dậu Tết năm xưa
Đại đế Quang Trung nhập Thăng Long
Gò Đống Đa treo cổ Sầm Nghi Đống
Trống Hà Hồi thúc dục vang âm
Giặc nhà Thanh Tôn Sĩ Nghị
Vượt cầu treo sông Hồng đào tẩu
Việt gian Lê Chiêu Thống theo dấu
Mùa xuân Kỷ Dậu Thăng Long huy hoàng
Xuân nay, xuân Giáp Ngọ
Toàn dân Việt theo dấu người xưa
Tái hiện Tết Đống Đa thời đại
Dân nghĩa dũng nhập Thăng Long
Đánh đuổi Việt gian cọng sản
Cả và thái thú chệt chạy về tàu
Tết Giáp Ngọ, mùa xuân Dân tộc
Xóa nhòa đi những năm dài u ám
Vì hoạn họa cọng sản tham tàn
Nước Việt từ đây đi vào vận hội mới
Tái dựng lại truyền thống tổ tiên
Văn minh lúa nước hiền hòa
Nối tiếp bốn ngàn năm văn hiến
Tỏ mặt giống con Rồng cháu Tiên
Trường Sơn hùng vĩ như gấm dệt
Giải Đất hình Rồng ngạo nghễ
Rạng rở bên bờ biển Đông
Nguyễn Nhơn

Truyền Thông Trung Thực hay Loại Văn Minh Nửa Vời?

HNSG2015- 

Tập đoàn cộng sản vô thần là một đảng cướp, chúng xem thường nhân nghĩa và chà đạp luân lý đạo đức con người mà còn biết sử dụng phương tiện truyền thông cho mục tiêu bất chính; thì tại sao những người Việt Quốc Gia có chính nghĩa đang chống lại những hành động phi nhân của chúng, không quyết tâm khai thác phương tiện này để giúp nhau có đủ tin tức, dữ kiện hầu nghĩ đúng và làm đúng cho các mục đích cao đẹp mà chúng ta theo đuổi?

Điều đáng buồn là có những người nhận mình là người “quốc gia” hoặc “chống cộng” hoặc không muốn “dính dấp đến chính trị” nhưng lại có những chủ trương, hô hào, ủng hộ những cá nhân, cơ quan truyền thông có lối hành xử theo loại “văn minh nửa vời” khi mẫn cán ca ngợi, bao che các hành động gian ác của đảng cướp VC. Đơn cử, tại Hoa Kỳ này, có kẻ ban ngày dùng báo, đài phát thanh, truyền hình, trung tâm băng nhạc của mình hô hào “làm văn hóa” hay “đấu tranh cho một Việt Nam có tự do dân chủ”; sống nhờ tiền của đồng bào, nhưng đêm về thì lại “chăn gối với kẻ thù VC”. Chúng không ngần ngại vác mặt đến tận hang ổ VC hoặc tiếp rước phái đoàn VC, mang cả cán bộ cao cấp trong tòa đại sứ VC về nhà ca hát, tiệc tùng ăn nhậu… Bị tố cáo, sau khi không còn có thể chối cải, chúng đành phải thú nhận nhưng lại sử dụng phương tiện truyền thông của mình để vu khống, mạ lỵ, lăng nhục, hăm he kiện tụng những người tố cáo hành vi đen tối của chúng. Chưa hết, cái đám “ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản” chuyên làm chuyện “dọn cỗ cho VC nó xơi”, hoặc giống như  kẻ dại  ”tự đá vào mồm” mà còn cho rằng mình là “công bằng”, tôn trọng “luật pháp”  hoặc làm truyền thông “trung thực”. Vậy mà không thiếu những người nhận mình là người “quốc gia chống cộng”, là người biết luật, là nhà báo, là nhà văn, sử dụng “danh tiếng” cá nhân, mánh khóe “viết lách” và sự lẻo mép của mình để viết bài, ra sách… trâng tráo bênh vực bọn lừa đảo đồng bào mà không chột dạ.

Hí họa: Tự đá vào mồm
Bổn phận của các cơ quan truyền thông: Truyền thông có bổn phận phải cung cấp cho độc giả, khán thính giả những điều đúng sự thật và tích cực trong tinh thần trách nhiệm. Ngày nay ít còn ai nghi ngờ về nhận xét rằng: Con người đang sống trong thời buổi tin học, và phương tiện truyền thông thật sự đã mang mọi người đến gần với nhau. Ai cũng biết điều này nhưng số người sử dụng phương tiện truyền thông cho mục đích cao đẹp vẫn còn giới hạn so với những kẻ khai thác phương tiện này cho mục tiêu bất chánh như đã nói. Vì sự hữu hiệu và nhanh chóng của phương tiện này, nên các chế độ độc tài, điển hình là bọn cộng phỉ tại Việt Nam ngày nay nắm giữ hay khống chế hết các phương tiện đó. Việc sử dụng Internet bị VC kiểm soát gắt gao bằng bức tường lửa (firewall). Tại hải ngoại VC ảnh hưởng những cá nhân hay cơ quan truyền tuy nhận mình là “quốc gia” hay “chống cộng” nhưng chuyên làm lợi cho VC bằng cái vỏ bọc “tự do ngôn luận” hay “tôn trọng sự thật”.  Ngày nay VC sẽ không ngu dại xâm nhập hay tiến gần người Việt Nam ở hải ngoại bằng nón cối, dép râu, súng AK, hoặc sử dụng biểu tượng của chúng một cách trắng trợn nữa, mà hầu hết đều qua vỏ bọc văn nghệ sĩ, tu sĩ, trí thức, thương gia, từ thiện, giảng đạo, truyền thông “trung thực”, hoặc “giao lưu văn hóa” v.v… Thành phần này mới chính là tay sai của VC, kẻ thù của dân tộc Việt Nam hay những người chống cộng chân chính tại hải ngoại.

Hí họa: Gánh xiệc của bọn đầu trâu, mặt ngựa đang diễn tuồng cho đảng VC
Truyền thông cần chính xác: Tôi muốn nói sự chính “chính xác” để phục vụ cho lẽ công chính chứ không phải chính xác theo kiểu “nạp đạn” cho kẻ thù nó tác xạ vào người lương thiện, tử tế. Đừng quên là bọn VC có trong tay hằng ngàn phương tiện truyền thông để quảng bá những điều dối trá, có lợi cho sự tồn tại của chế độ… Vậy thì cho dù chúng ta có muốn “trung thực” hay “văn minh” cỡ nào đi nữa thì cũng đừng mơ hồ mà chìm đắm trong cái loại “chính xác” hay “trung thực” toàn có lợi cho kẻ thù của mình. Thà cứ để VC căm thù chúng ta hơn là tình nguyện làm tay sai không công hay tỏ ra nịnh bợ chúng nó, khiến chúng có cớ khinh bỉ chúng ta. Nếu chúng ta có bằng chứng cơ quan truyền thông nào, hội đoàn nào, tổ chức nào, đảng phái nào, trung tâm băng nhạc nào, tu sĩ tôn giáo nào, cá nhân nào nói hay làm những điều có lợi cho VC; thì chúng ta phải lập tức cùng nhau cô lập và tẩy chay đám người đó thay vì “vô tư” ủng hộ trực tiếp hay gián tiếp, hoặc dửng dưng đứng nhìn mà không thấy chột dạ.
Cần biết mình là ai?: Người ta cũng thường nghe thấy nhiều cơ quan truyền thông của người Việt tại hải ngoại, cũng nhận mình là người Quốc Gia mà lại trân trọng sử dụng những từ ngữ, tên tuổi, danh xưng hay địa danh nổi tiếng do đảng VC áp đặt lên miền Nam sau ngày 30-4-75. Khi làm điều này họ lý luận rằng: cần phải có những ngôn ngữ thích hợp cho người nghe để ảnh hưởng được họ, hoặc phải tỏ ra cởi mở, văn minh để thu hút thính giả thay độc giả… Dĩ nhiên, tại các nước dân chủ, quyền tự do ngôn luận được triệt để tôn trọng, nhưng khi sử dụng cái quyền đó, chúng ta cần biết rõ bản chất của sự việc và biết mình là ai và đang làm gì?
VC không ngừng xâm nhập: Tôi không biết chủ trương của các tờ báo hay chương trình phát hình, phát thanh của người Việt Nam có để ý đến điều này hay không, nhưng nhận xét của riêng tôi thì các loại chữ nghĩa trịch thượng và văn chương dị hợm của VC đã tràn ngập tại hải ngoại. Chúng đã xâm nhập vào từng gia đình người Việt thuộc mọi tầng lớp bằng nhiều thể loại khác nhau, còn những chủ trương “văn minh” hay “hài hoà”, tức là phải “nói những điều thích hợp cho thính giả và độc giả” có thật sự giúp người dân Việt Nam trong và ngoài người hiểu rõ bản chất và tội ác của VC, và làm cho họ can đảm hơn, dám sống cho lý tưởng hay không? Hay mọi người nhận ra trách nhiệm của mình để có thể góp phần ngăn chận tội ác tày trời của đảng VC? Mà những tội ác này càng ngày càng tràn lan chứ không có chiều hướng suy giảm.
Chúng ta nghe thấy gì?: Suốt hơn ba thập niên qua tại hải ngoại, tôi thường nghe người ta giảng dạy, hay bảo nhau hãy cởi mở, rộng lượng mà xóa bỏ hận thù. Người ta đua nhau làm việc bác ái và tham gia công tác từ thiện để gọi là bày tỏ thiện chí. Từ trên đài phát thanh, truyền hình và báo chí của đảng VC tại Việt Nam thì ra rả mỗi ngày ca ngợi tinh thần “về nguồn” của những “khúc ruột ngàn dặm”. Công tác tuyên truyền của đảng VC xuất hiện trên các đài báo của chúng là chuyện đương nhiên, sẽ còn xảy ra dài dài cho đến khi nào đảng VC cáo chung thì mới thôi. Thế nhưng, như vậy thì có gì để nói? Trên một số đài phát thanh và báo chí của những người Việt nhận mình là Quốc Gia, người ta thường thấy lối viết hay nghe những giọng hau hau giống báo đài của đảng VC. Nội dung có khi gay gắt chống cộng sản, nhưng cũng có khi nghe không khác gì báo đài của “bác và đảng”. Có khi trên một làn sóng phát thanh, mới đó gọi đích danh VC để lên án những tội ác của chúng, rồi sau đó làm như sợ động đến đảng VC thì mất cái tính văn minh của người thuộc phe tự do, nên tỏ ra “trung thực” hay “văn minh” theo kiểu nửa vời như đã nói.
Bạn và thù: Có người đã chia sẻ với tôi ý niệm về bạn và thù, mà tôi rất tâm đắc: Khi có ai bào chữa rằng, phải có lúc viết và nói mạnh mẽ và có lúc nhẹ nhàng để đi vào lòng người đọc người nghe. Chủ chương như thế cũng không sao, nhưng lúc nói hay viết nhẹ nhàng thì cũng phải xác định cho rõ kẻ thù và mọi người biết mình ở vị trí nào, đang nói cái gì và viết về ai? Xóa bỏ hận thù không có nghĩa là thấy kẻ thù rồi nhắm mắt lại, và rồi không dám nêu đích danh hoặc không dám vạch mặt chúng cho thiên hạ thấy cái bản chất gian manh tàn độc của nó. Độc tài thế giới thì lên án gắt gao còn độc tài VC thì không dám nhắc đến. Chúng ta dù là ai, cũng phải xác định rõ kẻ thù ở đâu và ta đang ở chỗ nào, bằng ngôn ngữ gì cũng đươc. Làm sao để người nghe, người đọc biết là họ đang đọc hay nghe đài phát thanh của bạn, hoặc đang nghe đài Hà Nội hoặc đọc báo “công an” và biết ngay đây là cơ quan tuyên truyền của địch.
Cứ dại hoài hay sao?: Giả thử, VC buông súng, giải tán đảng cộng sản, trả lại tự do cho toàn thể dân chúng Việt Nam, thì ai lại không chịu. Bản chất của người thuộc phe tự do là nhân bản, và khi đó, vấn đề xóa bỏ hận thù ắt sẽ xảy ra, không cần phải hao hơi kêu gọi. Ai lại đi bắt đày đọa những người có thiện chí như thế. Nhưng sự việc may mắn vĩ đại ấy chưa xảy ra mà người ta đã nghe và đã thấy phe tự do không dám gọi VC là VC vì sợ người ta cho mình “lạc hậu” hay quá khích. Người ta có thể dại một lần, chứ chẳng lẽ dại hoài; nửa thế kỷ rồi chưa đủ hay sao? Trong khi ấy thì VC cứ ra rả thúc giục “đừng gọi chúng ông là VC nữa, vì như thế là kém văn hóa, kém văn minh”. Có người đã nghe nên không ngần ngại quảng bá những bài viết lăng nhục hình ảnh cao đẹp của người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, những hành vi xúc phạm biểu tượng thiêng  liêng của người Quốc Gia… Họ đã làm như lời VC thúc giục để gây thêm nỗi ê chề cho người Việt tha hương.
Kết luận: Nếu chúng ta sử dụng truyền thông một cách đúng nghĩa thì sẽ tạo sự đoàn kết trong tình đồng bào ruột thịt đang sống lưu vong tại hải ngoại hay còn ở lại trong nước mà không cần phải kêu gào mọi người đoàn kết hay than phiền về vấn đề thiếu đoàn kết gì cả. Đường về quê hương chắc sẽ còn phải dài thêm ra nếu chúng ta còn mơ hồ về VC và ra vẻ chống cộng theo kiểu trí thức, quân tử nửa vời. Đừng nghe VC khuyến dụ rồi quên mất bản chất tàn bạo và vô nhân đạo của chúng. “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” như Cụ Nguyễn Văn Thiệu, Cố Tổng Thống của nền Đệ Nhị Cộng Hoà đã nói trước ngày mất nước. Đừng nghe lời tuyên truyền từ những cánh tay nối dài của VC tại hải ngoại khi chúng muốn đánh lạc hướng mọi người bằng giọng điệu đạo đức nhân từ. Muốn thắng VC, chúng ta phải nghiêm khắc với chính mình. Chúng ta không thể gian manh như VC, nhưng dứt khoát phải khôn hơn cái gian manh của bọn chúng.
Huỳnh Quốc Bình

Lòng đố kỵ của người Việt (cộng)

 March 11, 2014


Đức Đạt Lai Lạt Ma: Trung Quốc là 1 nước ‘vĩ đại’ với chính phủ ‘có hại’

 HNSG2015- 

Đức Đạt Lai Lạt Ma phát biểu tại Thánh đường Quốc gia ở thủ đô Washington, 7/3/2014











Đức Đạt Lai Lạt Ma phát biểu tại Thánh đường Quốc gia ở thủ đô Washington, 7/3/2014
Lãnh tụ tinh thần Tây Tạng đang sống lưu vong, Đức Đạt Lai Lạt Ma, gọi Trung Quốc là “một nước vĩ đại”, nhưng mô tả thể chế chính trị của nước này là “có hại.”
Khi phát biểu hôm thứ sáu trước một cử tọa tại Thánh đường Quốc gia ở thủ đô Washington của Mỹ, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng điều mà người dân Trung Quốc cần có nhiều hơn là tự do và cần có ít đi là sự kiểm duyệt của chính phủ.

Ông nói rằng thể chế của Trung Quốc có hại cho việc phát triển của khả năng sáng tạo cá nhân, và ông quan tâm về việc người nghèo ở Trung Quốc không thể thông qua hệ thống tư pháp để giải quyết những sự bất bình.
Khi được hỏi tại sao Trung Quốc phản đối những chuyến viếng thăm của ông tới Washington, vụ tu sĩ đoạt giải Nobel Hòa bình này trả lời “Quí vị nên hỏi Trung Quốc.”
Các giới chức Trung Quốc cho biết họ đã trao cho Hoa Kỳ một kháng nghị để phản đối việc Đức Đạt Lai Lạt Ma hôm thứ năm đến thăm trụ sở Quốc hội Mỹ. Tại đây Đức Đạt Lai Lạt Ma đã hướng dẫn lễ cầu nguyện tại Thượng viện và gặp gỡ các nhà lãnh đạo Quốc hội Mỹ.
Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng Quốc hội Mỹ phải thực thi cam kết là thừa nhận Tây Tạng là một phần của Trung Quốc và không hậu thuẫn cho sự độc lập của Tây Tạng.
Đức Đạt Lai Lạt Ma phủ nhận tố cáo của Trung Quốc cho rằng ông là người muốn đòi cho Tây Tạng độc lập. Ông nói ông chấp nhận quyền cai trị của Trung Quốc và chỉ muốn Tây Tạng có thêm quyền tự trị và nhân quyền của đồng bào ông được tôn trọng. Ông cũng bác bỏ tố cáo của Trung Quốc cho rằng ông khuyến khích người Tây Tạng tự thiêu để phản đối sự cai trị của Bắc Kinh.
Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Tòa Bạch Ốc hồi tuần trước. Nhà lãnh đạo Mỹ tái khẳng định sự hậu thuẫn mạnh mẽ cho truyền thống tôn giáo và văn hóa của Tây Tạng. Ông cũng tán dương phương pháp tranh đấu bất bạo động của Đức Đạt Lai Lạt Ma cho quyền tự trị của Tây Tạng.



Trung Quốc chặn tàu Philippines tiếp tế cho lính đảo!

MANILA, Philippines (AP) - Tàu hải giám Trung Quốc ngăn chặn hàng hóa tiếp tế cho các binh sĩ Philippines đóng trên một đảo san hô đang có tranh chấp ở Biển Ðông, theo giới hữu trách hôm Thứ Ba.

Các tàu Trung Quốc ngăn cản không cho hai tàu dân sự do Hải Quân Philippines thuê để chuyên chở hàng hóa tiếp tế cho đảo san hô Second Thomas Shoal (tên tiếng Việt là Bãi Cỏ Mây) hôm Chủ Nhật, theo bản thông cáo của Bộ Ngoại Giao Philippines.



Chiếc tàu hải giám số hiệu 84 của Trung Quốc thường tuần tra trên biển Ðông. (Hình: Tân Hoa Xã)

Ðây là nơi Philippines gọi là Ayungin Shoal và Trung Quốc gọi là Ren'ai Reef.
“Ayungin Shoal là một phần của thềm lục địa Philippines và do đó Philippines có chủ quyền nơi đây mà không cần xin phép bất cứ quốc gia nào khác,” bản thông cáo cho hay.

Hành động của phía Trung Quốc là “mối đe dọa rõ ràng và trực tiếp đối với quyền lợi của Philippines theo Luật Biển,” bản thông cáo cho biết tiếp.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Philippines, Raul Hernandez, nói rằng việc tiếp tế là điều được thực hiện thường xuyên và trước đây không hề bị phía Trung Quốc cản trở.

“Trong 15 năm qua, chúng tôi thường xuyên có các chuyến tàu tiếp tế và chuyển đổi nhân sự mà không bị Trung Quốc ngăn chặn,” ông Hernandez cho hay.

Ông nói rằng phía Trung Quốc dùng tín hiệu, đèn, còi hụ và loa phóng thanh để buộc tàu Philippines phải rời khỏi khu vực. Các tàu Philippines trở lại Palawan, đảo gần Bãi Cỏ Mây nhất của quốc gia này.

Tổng Lãnh Sự Trung Quốc sau đó đã được triệu tới Bộ Ngoại Giao Philippines để nhận kháng thư. Ông Hernandez cho hay như thường lệ, phía Trung Quốc bác bỏ các vấn đề đưa ra trong kháng thư này.
Các binh sĩ Philippines đang chờ đợi tiếp tế hiện đóng trên một tàu bệnh viện trong tình trạng hư hỏng nặng nề sau khi được cố tình ủi bãi để mắc cạn năm 1999. 

Bắc Hàn trình diễn màn 'đảng cử..dân bầu'!

PYONGYANG, Bắc Hàn (AP) - Người dân Bắc Hàn hôm Chủ Nhật đã đi bầu quốc hội mới ở nước này. Cuộc bỏ phiếu cho Quốc Hội Nhân Dân Tối Cao là lần đầu tiên từ năm năm qua và cũng là lần đầu dưới sự cai trị của Kim Jong un.
Cuộc bầu cử trước đó diễn ra vào Tháng Ba năm 2009 với 687 đại biểu được bầu. Trên danh nghĩa đây là cơ chế cao nhất ở Bắc Hàn theo hiến pháp, nhưng trong thực tế lại không có quyền hành gì.
Thay vì chọn ứng viên họ ủng hộ, các cử tri chỉ có một ứng viên duy nhất trên lá phiếu của mình để cho biết có chấp nhận hay không.


Người dân Bắc Hàn ở thủ đô Bình Nhưỡng xếp hàng đi bỏ phiếu. (Hình: AP/Photo)

Ðại đa số cử tri đều chấp nhận nhân sự trên lá phiếu.

Dù rằng không có gì trông đợi về kết quả, cuộc bầu cử vẫn được tổ chức trong không khí tưng bừng nhộn nhịp như một ngày hội.

Ði bầu là điều bắt buộc ở Bắc Hàn. Các quan sát viên ngoại quốc cho hay đây là dịp nhà nước rà lại sự kiểm soát dân chúng.

Kim Jong un cũng có tên trong danh sách ứng cử. Nguồn tin từ các cơ quan truyền thông nhà nước nói rằng khu vực cử tri của ông là vùng núi non hẻo lánh nằm sát biên giới với Trung Quốc.

Khu vực Núi Paekdu có giá trị quan trọng trong lịch sử đảng và nhà nước cộng sản Bắc Hàn vì được coi là sinh quán của Kim Chính Nhật, cha của Kim Jong un. Tuy nhiên, các sử gia bên ngoài Bắc Hàn đều đồng ý rằng Kim Chính Nhật sinh tại Liên Xô cũ. 

Thương lái Trung Quốc phá hoại nông dân Việt

HẬU GIANG (NV) Hai năm trước, do thương lái Trung Quốc đặt hàng với giá cao, nông dân Phụng Hiệp, Hậu Giang phá các ruộng mía để trồng cây sương sáo. Nay, sương sáo không ai thèm mua, nông dân thêm khốn cùng.

Tờ Sài Gòn Giải Phóng cho biết, trước đây, trong khi mía ế, mất giá thì thương lái Trung Quốc thu mua cây sương sáo với giá từ 32,000 đồng đến 35,000 đồng một ký nên nông dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thi nhau đốn bỏ mía để trồng cây sương sáo. Nay giá mua cây sương sáo đã tụt xuống tới mức chỉ còn từ 5,000 đồng đến 8,000 đồng một ký, dù nông dân chấp nhận lỗ nặng (chi phí cho một ký sương sáo khoảng 12,000 đồng/ký) nhưng vẫn không có ai thèm mua và hàng loạt gia đình phá sản.


Những ruộng sương sáo trồng theo đơn đặt hàng của thương lái Trung Quốc ở Phụng Hiệp, Hậu Giang nay xanh rì nhưng không có ai thèm mua. (Hình: zing.vn)

Vào lúc này, Phòng Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang chỉ biết phân bua, họ không khuyến khích nông dân phá bỏ các ruộng mía trồng cây sương sáo. Chuyện thi nhau trồng cây sương sáo chỉ là... tự phát!

Ðây không phải là lần đầu tiên nông dân Việt Nam điêu đứng vì thương lái Trung Quốc. Trong vài năm qua, cả dân chúng, báo giới, lẫn các chuyên gia kinh tế, y tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, viên chức đã từng lên tiếng cảnh báo nhiều lần về tình trạng thương lái Trung Quốc phá hoại Việt Nam. Trong đó, chuyện thương lái Trung Quốc ồ ạt thu mua ốc bươu vàng - loại sinh vật được xem là đại họa của nông nghiệp - khiến nông dân lén lút nuôi để bán, làm mùa màng thất bát được dẫn ra như bằng chứng rõ ràng nhất.

Hồi tháng 9 năm ngoái, ông Nguyễn Ngọc Trân, một cựu đại biểu của Quốc Hội Việt Nam, từng hệ thống các hoạt động, thủ đoạn và tác hại của việc để cho thương lái Trung Quốc tung hoành trên khắp Việt Nam.
Qua một bài viết, đăng trên tờ Tuổi Trẻ, ông Trân lên án chiến lược “cột chặt” các doanh nghiệp Việt Nam vào mạng lưới thu mua của Trung Quốc để đẩy hoạt động xuất cảng hàng hóa sang Trung Quốc chỉ theo “con đường tiểu ngạch,” đã tạo điều kiện cho thương lái Trung Quốc dễ quịt nợ, dễ “lật kèo.”

Viên cựu đại biểu của Quốc Hội Việt Nam nhận định, phải xem việc thương lái Trung Quốc tận thu mọi thứ là có thâm ý: tận diệt các loại thực vật, động vật quý hiếm, thúc đẩy tiến trình phá rừng, làm đất sớm bạc màu, khiến quá trình rửa trôi đất đồi núi diễn ra nhanh hơn, phá hoại môi sinh, môi trường. Không chỉ tác động để hủy diệt tự nhiên, những chiến dịch thu mua của thương lái Trung Quốc còn đánh vào các doanh nghiệp Việt Nam, khiến nhiều doanh nghiệp điêu đứng vì thiếu nguyên liệu, mất uy tín vì không còn khả năng thực hiện đúng hợp đồng.
Ông Trân khẳng định, không ai nghĩ rằng, thương lái Trung Quốc chỉ là những cá nhân vào Việt Nam làm ăn riêng lẻ. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chỉ thấy lợi trước mắt mà “bắt tay” với thương lái Trung Quốc. Ðặc biệt đáng trách là chính quyền Việt Nam đã bỏ ngỏ vấn đề này. Ông Trân kêu gọi, phải xem chuyện giải quyết tình trạng thương lái Trung Quốc đang phá hoại kinh tế Việt Nam là “một nhiệm vụ không thể trì hoãn.”
Bất chấp các cảnh báo và vô số dấu hiệu cho thấy thương lái Trung Quốc cố tình đẩy nông dân Việt Nam đến chỗ khốn cùng và nông nghiệp Việt Nam rơi vào bế tắc, chính quyền Việt Nam vẫn thúc thủ, không làm gì cả.
Gần đây nhất, báo chí Việt Nam loan báo, thương lái Trung Quốc đang đặt mua không hạn chế cây Ðơn Tướng Quân (còn gọi là cây Khôi) - một loại dược thảo quý, vốn có rất nhiều ở các tỉnh rừng núi miền Bắc và điều này đẩy cây Ðơn Tướng Quân vào nguy cơ tuyệt chủng. Ông Lưu Văn Thanh, giám đốc dự án ADC thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Nông Lâm Nghiệp Miền Núi phía Bắc, cho biết, trước đây, xã Mai Lạp, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, vẫn được xem là “thủ phủ” của cây Ðơn Tướng Quân. Tại đó, Ðơn Tướng Quân nhiều như rau nhưng bây giờ thì chỉ có thể tìm trong rừng sâu hay núi cao.

Tình trạng tương tự đang xảy ra tại rừng Kỳ Sơn, Nghệ An, nơi mà năm 2007 được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An. Dân chúng vùng này đang đổ vào rừng để đốn hạ cây “kim mao cẩu tích”, còn được gọi là cây Cu Li hay cây Lông Khỉ, vì thương lái Trung Quốc đặt mua với giá cao. “Kim mao cẩu tích” là một loại dược thảo chuyên trị đau lưng, nhức xương, mỏi gân. Trước nữa, việc thương lái Trung Quốc đặt mua các loại cây như Máu Chó, Hoàng Ðằng, củ Ba Mươi, cây Khúc Khắc (còn được gọi là Thổ Phục Linh)... đã khiến các loại cây này gần như tuyệt chủng ở Kỳ Sơn, Nghệ An.

Cũng thời điểm này, thương lái Trung Quốc đang lùng sục mua mầm của Thảo Quả ở Hà Giang. Thông thường, mỗi héc ta Thảo Quả cho 2.5 tấn Thảo Quả/năm, tương đương 72 triệu. Một ký mầm Thảo Quả tương ứng với 20 cây được thương lái Trung Quốc hỏi mua với giá 50,000 đồng đã kích thích việc vặt mầm, khiến Thảo Quả bị suy giảm khả năng sinh trưởng và phát triển, không thể ra hoa, kết quả nhưng chẳng ai ngăn chặn. Ở Hà Giang, hồi giữa thập niên 2000, sau khi thương lái Trung Quốc đặt mua gốc và thân cây chè cổ thụ có tên là San Tuyết, loại chè San Tuyết nổi tiếng một thời đã biến mất khỏi thị trường.

Bà Phan Thị Thu Hiền, làm việc tại Vụ Y Học Cổ Truyền, Bộ Y Tế, thú nhận, tình trạng khai thác dược thảo theo kiểu “đào tận gốc, trốc tận rễ” là rất phổ biến, trong khi đó, các loại dược thảo cần một khoảng thời gian dài để trưởng thành, có thể thu hoạch nên nhiều nguồn dược thảo bị kiệt quệ.
Bà Hiền nói thêm, nếu chỉ riêng Bộ Y Tế thì không đủ sức ngăn chặn thương lái Trung Quốc tổ chức gom hàng khiến dân chúng đổ xô đi săn tìm, khai thác.

Cùng bàn về vấn đề này với tờ Khoa Học và Ðời Sống, ông Vũ Văn Dũng, Hội Khoa Học-Kỹ Thuật Lâm Nghiệp Việt Nam, gọi các loại dược thảo của Việt Nam là một thứ “vàng xanh.” Tình trạng thương lái Trung Quốc tận thu khiến nguồn “vàng xanh” cạn kiệt là một vấn nạn lớn. Tỉnh Bắc Kạn nói riêng và khu vực Tây Bắc Việt Nam vốn là một “vựa dược thảo” vừa lớn, vừa quý.

Nhiều năm qua, “vựa dược thảo” này trở thành nơi để thương lái Trung Quốc tổ chức nhiều đợt tận thu khiến nhiều loại dược thảo rơi vào tình trạng gần như tuyệt chủng nhưng chính quyền Việt Nam hoàn toàn bất lực. 

Bất an khi Trung Quốc đổ tiền đầu tư vào Việt Nam

NAM ÐỊNH (NV) - Sự kiện chính quyền tỉnh Nam Ðịnh cho phép một tập đoàn của Trung Quốc xây dựng một nhà máy trị giá 1,400 tỉ đồng đang làm dấy lên sự lo ngại từ các chuyên gia kinh tế Việt Nam.

Theo giấy phép đầu tư vừa được cấp, tập đoàn dệt may YULUN Giang Tô của Trung Quốc có thể xây dựng một nhà máy sản xuất sợi-dệt-nhuộm, với với công suất sản xuất sợi 9,816 tấn/năm - dệt 21.6 triệu mét/năm và nhuộm 24 triệu mét/năm, tại khu công nghiệp Bảo Minh, tọa lạc ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Ðịnh.



Ðủ loại hàng hóa vẫn từ Trung Quốc tràn vào Việt Nam và được xem là nguyên nhân khiến kinh tế Việt Nam càng ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc. (Hình: Báo Quảng Ninh)

Cũng theo các viên chức chính quyền ở Nam Ðịnh, một tập đoàn của Hồng Kông, Trung Quốc đang đề nghị xây dựng một khu công nghiệp Dệt May, có quy mô khoảng 1,000 héc ta tại huyện Nghĩa Hưng của tỉnh này.
Các chuyên gia kinh tế nhận định, Trung Quốc đã, đang và sẽ còn tăng vốn đầu tư vào Việt Nam vì kinh tế Trung Quốc hiện trong giai đoạn suy thoái.

Không chỉ có sự gia tăng số lượng các dư án đầu tư, Trung Quốc đang rót tiền mua lại cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang khó khăn về tài chính.

Ðây cũng là lý do khiến ông Lê Ðăng Doanh, một chuyên gia kinh tế lên tiếng cảnh báo về viễn cảnh, các công ty Trung Quốc sẽ nhan nhản ở Việt Nam. Ông Doanh nhận định, khi có quá nhiều công ty Trung Quốc tại Việt Nam, họ có thể thao túng thị trường, tác động đến chính sách.

Ngoài ông Doanh, bà Phạm Chi Lan, một chuyên gia kinh tế khác, vừa chính thức cảnh báo tại hội thảo “Triển vọng kinh tế và tầm nhìn chính sách năm 2014” rằng, bà cảm thấy “rủi ro đã tăng lên rất nhiều khi sự có mặt của người Trung Quốc ở Hà Tĩnh đã đông đến mức có thể cắt Việt Nam làm đôi, thì những thách thức không chỉ vấn đề kinh tế, xã hội,” bà Lan nói.

Mới đây, dư luận cũng đặt vấn đề về hoạt động của doanh nghiệp FDI có thể có lợi trước mắt nhưng về lâu dài Việt Nam lại đang đẩy kinh tế vào tay các nhà đầu tư nước ngoài.

Bà Phạm Chi Lan phân tích, “Nếu lĩnh vực bất động sản cũng mong người nước ngoài được tự do mua bán bất động sản Việt Nam thì có lẽ 5-10 năm tới Việt Nam sẽ là nước sẽ là của những họ Kim, họ Lee của Hàn Quốc, họ Tập, họ Ðặng của Trung Quốc chứ không phải của người Việt Nam và chúng ta sẽ lại là những người làm thuê, làm thuê ở dạng gia công. Thậm chí thay vì mua nhà bằng gói 30,000 tỷ không được thì lại đi thuê nhà của nhà đầu tư nước ngoài.”

Càng ngày càng nhiều cảnh báo về sự lệ thuộc của kinh tế Việt Nam vào Trung Quốc. Năm ngoái, nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng đến 23.7 tỉ USD, so với năm 2012, tăng 45%.

Trong khi xuất cảng của Việt Nam sang Trung Quốc chỉ tăng 7% thì nhập cảng từ Trung Quốc tăng 28%. Nói cách khác, tốc độ gia tăng của nhập cảng từ Trung Quốc tăng gấp 4 lần so với tốc đố xuất cảng và chênh lệch về cán cân thương mại trong quan hệ với Trung Quốc càng lúc càng lớn.

Hồi trung tuần tháng 12 năm ngoái, tại một hội nghị bàn về việc thực hiện thỏa thuận thương mại tự do, Bộ Công Thương Việt Nam xác nhận, chỉ trong 10 năm, từ 2001 đến 2012, nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng 76 lần, từ 210 triệu USD hồi 2001, thành 16 tỷ USD vào năm 2012.

Tháng 6 năm ngoái, sau khi có thống kê cho biết, bốn tháng đầu năm 2013, Việt Nam chi 40.2 tỷ USD cho việc nhập cảng, trong đó có tới 10 tỷ USD chỉ để nhập cảng nguyên liệu, vật liệu, phụ liệu, hàng hóa của Trung Quốc, ông Võ Trí Thành, một chuyên gia kinh tế, khẳng định, điều đó cho thấy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam càng ngày càng phụ thuộc vào nguyên liệu, vật liệu, phụ liêu của Trung Quốc.

Nếu Trung Quốc ngừng xuất cảng chúng sang Việt Nam, sẽ có hàng loạt doanh nghiệp Việt Nam hấp hối vì không kịp ứng phó. Ông Thành than rằng, cả khả năng cạnh tranh lẫn công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam quá yếu, vì vậy Việt Nam đang phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc cả về hàng trung gian lẫn hàng tiêu dùng cuối cùng.
Trước đó một chút, vào cuối tháng 5, ông Trương Trọng Nghĩa, một đại biểu Quốc Hội Việt Nam đã từng soạn một tham luận, cũng nhằm cảnh báo về tình trạng kinh tế Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Ông Nghĩa yêu cầu cần phải điều tra để có đầy đủ số liệu, thông tin về sự phụ thuộc của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế Trung Quốc. Ông Nghĩa cảnh báo: “Thua kém có nhiều mức độ, nhưng lệ thuộc về kinh tế là sự thua kém đáng sợ nhất, nhất là khi nó đi kèm với mối đe dọa về chủ quyền lãnh thổ.” Tuy nhiên tham luận này không được những người điều hành kỳ họp hồi tháng 5 của Quốc Hội Việt Nam cho trình bày tại diễn đàn Quốc Hội bởi... “Quốc Hội không đủ thời gian.”

Ðến tháng 8, các chuyên gia lại tiếp tục cảnh báo về một khía cạnh khác trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Ðó là kinh tế Việt Nam bị suy yếu nhanh chóng do tài nguyên bị tận thu để bán cho Trung Quốc, bất chấp nền kinh tế đang cần nội lực để hồi phục.

Theo một vài chuyên gia kinh tế, không thể tách tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc và những dấu hiệu cho thấy kinh tế Việt Nam càng ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc, ra khỏi sự câu kết rất chặt chẽ giữa các thế lực kinh tế mà chủ yếu là các doanh nghiệp lớn của nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân lớn, với các thế lực chính trị, để các bên đạt tới lợi ích lớn nhất mà Việt Nam thường gọi là nhóm lợi ích. 

Vụ máy bay Malaysian Airlines mất tích còn đầy bí ẩn!

Hà Tường Cát/Người Việt (Tổng Hợp)

Trong cuộc họp báo ở Kuala Lumpur hôm Thứ Hai, nhà chức trách Malaysia nhìn nhận rằng vụ máy bay Malaysia Airlines mất tích là “một bí ẩn hàng không chưa từng có”. Malaysia không loại trừ khả năng máy bay bị cướp, cũng như bất cứ giả thuyết nào, tuy nhiên sau 3 ngày vẫn chưa thể  đưa ra một kết luận gì.


Sau 3 ngày, trên một màn hình thông tin ở phi cảng quốc tế Sepang, Kuala Lumpur, hãy còn hàng chữ: “Chúng ta hãy cầu nguyện cho chuyến bay MH370”, mặc dầu
đến nay không còn hy vọng nào và tất cả mọi chuyện vẫn là những bí ẩn. (Hình: AP/Lai Seng Sin)


Ông Datuk Azharuddin Abdul Rahman, Tổng giám đốc cơ quan hàng không dân dụng Malaysia, nói:  là hy vọng hiểu biết  tất cả chuyện này sẽ chỉ lóe lên “nếu như một khi có thể tìm thấy một mảnh vụn của máy bay”, điều mà sau 3 ngày vẫn chưa đạt tới với một chiến dịch tìm kiếm quy mô nhất có sự tham gia của 7 quốc gia.
200 nhà báo ở tập trung ở Sepang  tham dự 4 buổi họp báo diển ra mỗi ngày từ 9 giờ sáng đến 8 giờ tối và có buổi chỉ trong vòng 1 phút vì “chưa có gì mới để thông báo”.

Chi tiết chưa được giải thích

Đó là thời điểm máy bay mất tích. Malaysia Airlines loan báo chuyến bay MH-370 mất tích lúc 2.40 giờ sáng Thứ Bảy 7 tháng 3 sau khi  cất cánh từ Kuala Lumpur lúc 12.41 giờ sáng và đang trên phi trình dự định tới Bắc Kinh lúc 6.30 giờ.

Malaysia dùng múi giờ thứ 8, cùng giờ với Bắc Kinh, nghĩa là sớm hơn Việt Nam 1 giờ. Giờ California lúc máy bay mất tích là 10.40 tối Thứ Sáu.

Nếu quả thật máy bay mất tích vào lúc này thì nó đã bay được 1 giờ 59 phút và theo bình thường thì phải đi ngang không phận Việt Nam khoảng Thừa Thiên – Huế. Cơ quan an ninh hàng không Hoa Kỳ căn cứ theo thời điểm ấy đã báo động cho Việt Nam như vậy, và sau đó rút mới lại dự đoán sau khi nhận thêm thông tin mới.
Việc tìm kiếm sau này được thực hiện trên vùng biển Tây Nam là căn cứ trên dữ kiện về  FIR (Flight Information Region), tức là vùng  chuyển giao trách nhiệm hướng dẫn. FIR-Ho Chi Minh City  mất liên lạc với máy bay 1 phút trước khi đi vào vùng của mình.  Điều ấy có nghĩa FIR-Vietnam và FIR-Malaysia hiểu máy bay  mất tích sớm hơn, chỉ trong vòng 1 giờ sau khi rời Kuala Lumpur. Như thế dựa vào đâu Malaysia Aitlines đưa ra thời điểm 2.40 giờ ấy, và tại sao có sự sai khác chậm trể? Các cơ quan truyền thông quốc tế mặc dầu đều tập trung theo dõi và loan báo tin tức rất  đầy đủ nhưng chưa cho biết gì thêm về chi tiết này.

Những điều khó hiểu

Ngưới ta không hiểu vì sao phi công đã không có một liên lạc gì trước khi máy bay lâm nạn. Máy bay bị nổ tan? Phi hành đoàn bị cưỡng chế không thể loan báo? Hay máy bay đã đi đến dáp xuống một nơi bí mật nào khác?
Điều sau cùng này là giả thuyết không tưởng nhưng lại là niềm hy vọng cuối cùng của gia đình các hành khách. Trong tình trạng hiện nay của hàng không quốc tế, khó có thể nào một máy bay đi tới nơi đâu mà không ai khám phá ra, trên đường bay cũng như khi đáp.

Trường hợp  hai động cơ đều ngưng chạy, Boeing 777-200 vẫn còn có thể bay xa gần 100 miles trước khi đâm xuống biển hay đất, phi công và những bộ phận báo nguy tự động có thừa đủ thời gian để kêu cứu báo động.
Một tình huống khó hiểu khác là bộ phận định vị tự động (GPS) hoạt động thường trực trên các máy bay hàng không dân sự đã không phát tín hiệu để  radar ở những đài hướng dẫn không lưu biết vị trí của máy bay. Do trục trặc kỹ thuật bất ngờ hay do phi công cố ý làm cho ngưng hoạt động?

Theo Reuters, Hoa Kỳ đang xem xét các hình chụp từ vệ tinh do thám có thể cho biết có một vụ nổ nào đã xảy ra trong vùng Đông Nam Á đêm sáng Thứ Bảy, để biết máy bay có bị nổ trên không  hay không nhưng chưa đưa ra kết luận.

Những chuyện bất thường

Trên danh sách hành khách do Malaysian công bố, người ta tìm thấy 2 người sử dụng hộ chiếu lấy cắp từ lâu của một công dân Áo và một công dân Ý. Hai người này đã báo cho nhà chức trách và hiện dang sống bình thường không hề lên chuyến bay MH-370. Vậy thì 2 hành khách sử dụng hộ chiếu này là ai và với mục đích gì?
Qua điều tra phối hợp của những cơ quan công lực quốc tế, người ta biết được hai người mua vé máy bay cùng lúc ở thành phố nghỉ mát Pattaya, Thái Lan,  qua China Southern Airlines, công ty hàng không Trung Quốc kết hợp hoạt động (code sharing) với Malaysia Airlines.  Lộ trình của hai người bí mật này cùng là Kuala Lumpur – Bắc Kinh – Amsterdam rồi sau đó một đi Thụy Điển, một đi Đức. Nhà chức trách Malaysia nghiên cứu băng video thu hình hành khách chờ đợi lên máy bay ở Kuala Lumpur cho biết hai người này có “gương mặt của dân châu Á” chứ không phải Âu Châu. Cảnh sát Malaysia nói rằng đã tìm được lý lịch của một người và người này không phải dân Malaysia. Những chi tiết khác chưa được tiết lộ trong khi cuộc điều tra còn đang tiến hành.
Ngoài ra, Trung Quốc cho biết có hai công dân sử dụng hộ chiếu giả mang tên người khác để đi chuyến bay MH-370. Hai người bị sử dụng hộ chiếu giả vẫn còn giữ hộ chiếu thật của mình và dang sống bình an ở  Phúc Kiến, Trung Quốc, không hề đi tới Malaysia bao giờ.

Như vậy có thể thấy đã có nhiều sơ sót  của các hãng hàng không và cơ quan an ninh phi cảng Kuala Lumpur trong việc bán vé mày bay và để cho những người dùng hộ chiếu người khác hay số hộ chiếu của người khác lên máy bay. Những sự việc bất thường ấy khiến gia tăng sự hoài nghi là có hành động khủng bố phá hoại, tuy nhiên cuộc điều tra có sự trợ lực của FBI, Interpol và cơ quan an ninh nhiếu quốc gia khác còn đang tiến hành nên chưa thể đưa ra một công bố hoặc dự đoán gì.

Malaysia cũng có  nghi ngờ là máy bay đã đổi hướng bay, quay trở về hay đi một đường khác. Dự đoán này căn cứ trên những dữ kiện gì chưa được công bố, nhưng Malaysia cũng phối hợp với Thái Lan tìm kiếm trong vùng biển Ấ Độ Dương phía Tây eo đất Malacca nối liền hai nước.

Công cuộc tìm kiếm

Việc tìm kiếm chiếc máy bay mất tích tập trung vào vùng biển  phía Nam quần đảo Thổ Chu, trước kia gọi là Thổ Châu, trong vịnh Thái Lan phía Nam đảo Phú Quốc, qua 4 ngày chưa đem đến kết quả gì.
Hiện nay 34 máy bay và 40 tàu của nhiều nước tham gia công cuộc này trên một khu vực khoảng 50 hải lý mỗi chiều, và hy vọng tìm được những nạn nhân còn sống sót hầu như đã hết.

Vì khu vực nghi ngờ máy bay lâm nạn thuộc hải phận Việt Nam nên theo công ước quốc tế, Việt Nam có quyền và trách nhiệm chính trong việc điều tra. Việt Nam đã cho phép tàu Trung Quốc và Malaysia đi vào khu vực tìm kiếm. Hải quân Hoa Kỳ phái tới một khu trục hạm và cho máy bay tuần thám biển P-8 Poseidon tìm kiếm trên mặt biển cũng như dùng phương tiện dò  kim khí dưới mặt nước.

Việt Nam không có phương tiện dò tìm dưới mật nước và chỉ có thể tìm kiếm bằng mắt, nhưng đã huy động mọi khả năng vào cuộc tìm kiếm cứu nạn. 4 máy bay An-26, 2 trực thăng Mi-171 do Nga chế tạo và một thủy phi cơ DHC-6 Sea Otter mua của Canada cùng ít nhất 7 tàu các loại khác được huy động vào công cuộc này. Đến ngày thứ ba của cuộc tìm kiếm, một số tàu đã hoạt động suốt đêm với hy vọng vớt được  nhửng vật để xác định được tọa độ của chiếc máy bay lâm nạn. Tại bộ chỉ huy tiền phương của chiến dịch đặt tại phi trường quốc tế Phú Quốc, hàng trăm phòng viên trong nước và các nước ngoài tập trung theo dõi chờ đón tin tức,

Thoạt đầu máy bay An-26  phát hiện được những vết dầu loang trên mặt biển, nhưng sau đó thử nghiệm của Malaysia kết luận đây không phải nhiên liệu máy bay phản lực mà là dầu của các tàu dánh cá. Khu vực này tập trung rất đông tàu đánh cá Việt Nam, Thái Lan, Cambodia và các nước Đông Nam Á hoạt động. Các tàu đánh cá Việt Nam cũng được huy động cung cấp tin tức về những vật thể lạ có thể gặp trên mặt biển.

Sau khi một máy bay C-130 của Singapore phát hiện một vật lạ trên biển, thủy phi cơ Việt Nam đã tới chụp được hình ảnh nghi ngờ là một cánh cửa của máy bay vào lúc gần tối, nhưng  hôm Chủ Nhật các tàu không tìm lại được vật ấy. Một tàu cảnh sát biển của Việt Nam cũng vớt được những vật khả nghi nhưng qua nghiên cứu nhận ra đó chì là những đồ rác rưởi trôi trên mặt biển.

Nhiều tin tức không được xác minh

Trong khi chưa tìm thấy gì trên vịnh Thái Lan  thì cũng có những tin cho biết người ta vớt được những vật lạ ở các bãi biển từ Gò Công đến Vũng Tàu, Tất cả đều được chú ý xem xét nhưng không đi đến kết luận nào.

Mặt khác, có rất nhiều tin tức không được xác minh nói rằng nhóm khủng bố ở Trung Quốc là thủ phạm gây ra vụ này, mặc đầu các tổ chức chống khủng bố quốc tế nói rằng cho đến nay chưa một nhóm nào đứng ra  tự nhận là tác giả. Tin từ Đài Bắc nói rằng trước đây Đài Loan đã nhận được cảnh cáo sẽ có khủng bố tại Trung Quốc. Một thư nặc danh gởi qua Internet tự nhận là nhóm Hồi Giáo dân thiểu số ở Tân Cương hành động trả thù  vì hơn 2/3 hành khách trên chuyến MH-370 là dân Trung Quốc. Tuy nhiên không thể nào xác định giá trị của thư này giống như trường hợp những tin tức vô căn cứ  đưa lên mạng lưới điện toán.


Nhật báo Người Việt sẽ tiếp tục loan tin tức cập nhật và trình bày thêm những chi tiết lạ lùng trong  số báo tới, về vụ án hàng không làm cả thế giới ngạc nhiên  vói những sự kiện vượt xa sự mường tượng của mọi người trong thời đại kỹ thuật điện tử tân tiến.