Monday, June 24, 2019

Chảy máu chất xám ở Việt Nam

Theo VOA-Nguyễn Văn Đài-24/06/2019
“Nhân tài là nguyên khí của quốc gia”, có lẽ người Việt ta không ai là không biết câu nói nổi tiếng đó. Một quốc gia muốn phát triển thịnh vượng, tất yếu phải dựa vào nhân tài ở đủ mọi lĩnh vực, phải nhờ vào trí tuệ con người chứ không phải sức mạnh cơ bắp. Và đó cũng là một chân lý hiển nhiên. Trí tuệ con người, nói theo ngôn ngữ ngày nay là “chất xám”. Từ câu nói trên, có thể suy ra: Quốc gia nào có nguồn lực chất xám dồi dào thì cường thịnh, và ngược lại. Chính vì vậy mà mời gọi nhân tài luôn là chính sách ưu tiên hàng đầu của các chính phủ. Không những vậy, chính phủ còn phải giữ chân được nhân tài, để nạn chảy máu chất xám không xảy ra.
“Chảy máu chất xám” là một cụm từ ngụ ý cho việc thất thoát nguồn nhân lực giỏi trong nước ra nước ngoài làm việc. Đặc biệt tiêu biểu cho việc này là các cử nhân thạc sĩ đi du học nước ngoài rồi sinh sống và làm việc ở đó luôn. Vậy thực trạng này ảnh hưởng đến sự phát triển của Việt Nam thế nào?
Tại sao lại xảy ra hiện tượng “chảy máu chất xám”?
Một thực tế là, có đến 70% trong số 60.000 người đi du học muốn làm việc tại nơi mình học mà không muốn trở về Việt Nam. Lý do rất đơn giản, họ thích một môi trường làm việc văn minh với công nghệ hiện đại, phong cách làm việc thoải mái và chú trọng vào chất lượng hơn là các quy định ngặt nghèo về đồng phục, thời gian làm việc cũng như các thủ tục hành chính vất vả. Nếu trở về Việt Nam, người ta cũng có cơ hội làm việc tại các công ty dù lớn đến mấy nhưng vẫn có những bất cập, vấn đề xung đột tư tưởng, khó làm việc lâu dài. Thêm nữa, các mức lương ở nước ngoài dĩ nhiên hấp dẫn hơn nhiều so với ở trong nước. Họ ở lại, và sau khi ổn định công việc thì sẽ đón cả gia đình sang nước ngoài sinh sống.
Lâu nay, khi nói về tình trạng chảy máu chất xám, người ta vẫn thường hình dung về việc nguồn chuyên gia, nhân lực khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ từ các nước có mức sống thấp, rời bỏ Tổ quốc, sang sinh sống tại những quốc gia có điều kiện để hoạt động khoa học, có chế độ đãi ngộ cao hơn như Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước phương Tây (theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này bao gồm cả các quốc gia có điều kiện kinh tế phát triển của Liên minh châu Âu như Anh, Pháp, Ðức, Na Uy, Thụy Ðiển, Thụy Sĩ...). Ðiều này là không thể phủ nhận, và chỉ nhìn vào danh sách những người đoạt giải thưởng Nobel cũng có thể thấy rõ. Tính từ khi được thành lập vào năm 1911 đến nay, giải thưởng Nobel đã được trao trong 109 "mùa" với hơn 800 cá nhân, tổ chức được nhận thuộc các lĩnh vực Vật lý, Văn học, Kinh tế, Hóa học, Hòa bình và Y học.
Như vậy, ngoại trừ giải Nobel Hòa bình mà dường như là thuộc khu vực chịu ảnh hưởng của đời sống chính trị, giải Nobel Văn học là giải thưởng duy nhất thuộc lĩnh vực nghệ thuật, còn lại, giải Nobel chủ yếu là một giải thưởng hướng tới lĩnh vực khoa học. Căn cứ theo danh sách những quốc gia sở hữu nhiều giải thưởng Nobel nhất trong tất cả các lĩnh vực, đứng đầu vẫn là các quốc gia phương Tây: Anh (116 giải), Ðức (102), Pháp (65) và nhiều nhất là Hoa Kỳ (337 giải). Ở những quốc gia này đã thật sự tạo nên một môi trường tốt cho các hoạt động nghiên cứu khoa học (tạm thời không nói đến các hoạt động sáng tạo văn học - nghệ thuật, bởi lĩnh vực này vận hành theo những logic khác). Lấy riêng trường hợp Hoa Kỳ, trong số hơn 300 giải thưởng dành cho các công dân quốc gia này, có đến 82 trường hợp trao cho những công dân sinh ra tại những quốc gia khác tới sinh sống tại Hoa Kỳ, chiếm gần 25%. Ðấy là chưa nói tới trường hợp công dân mới nhập cư tại Hoa Kỳ trong khoảng một, hai thế hệ mà dấu vết "cố quốc" vẫn còn có thể nhận biết qua tên tuổi của họ. Chỉ riêng việc đó cũng đủ nói lên sức hút mạnh mẽ đến mức nào của Hoa Kỳ đối với những bộ óc đến từ các quốc gia khác. Quy luật này cũng đúng với những lĩnh vực khác như kinh tế, kỹ nghệ, nghệ thuật. Một hiện tượng rõ nét là nhiều quốc gia phát triển đã trở thành "đất hứa" thu hút nghệ sĩ, chuyên gia, khoa học gia, trí thức từ những quốc gia đang hoặc chậm phát triển. Tất nhiên, cuộc sống tại "đất hứa" ra sao lại là chuyện hoàn toàn khác.
Nhà nước Cộng sản Việt Nam cũng nhận thức được nhu cầu đào tạo nhân tài để phát triển đất nước. Ðầu năm 2012, Bộ Giáo dục và Ðào tạo Việt Nam đã tổng kết hơn mười năm hoạt động của Ðề án 322, một đề án được hình thành vào năm 2000 với mục tiêu là đào tạo cán bộ tại những cơ sở giáo dục nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước với những ngành mà Việt Nam thiếu hoặc chất lượng chưa đạt chuẩn quốc tế. Trong mười năm hoạt động của Ðề án, với một nguồn ngân sách hơn 2.500 tỷ đồng (theo nguồn công bố của Bộ Giáo dục và Ðào tạo), 7.129 ứng viên trúng tuyển đã được gửi đi đào tạo ở các cơ sở giáo dục tiên tiến tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có 3.838 tiến sĩ, 2.042 thạc sĩ, 416 thực tập sinh và 833 cử nhân. Cũng theo nguồn của Bộ Giáo dục và Ðào tạo, 95% số lưu học sinh đã về nước đúng thời hạn và đã hoàn thành nhiệm vụ đào tạo, 2% số lưu học sinh được chuyển tiếp lên các cấp học cao hơn, và chỉ có 3% là không hoàn thành nhiệm vụ, trở về muộn hoặc không trở về.
Tuy vậy, ngay khi Ðề án khép lại, có một vấn đề đã được đặt ra một cách nghiêm túc, là hiệu quả hoạt động nghiên cứu của lưu học sinh sau khi trở về đơn vị công tác cũ. Theo điều tra của một số tờ báo, không ít nghiên cứu sinh sau khi trở về đã phải từng bước "hoãn vô thời hạn" hoặc rời bỏ hẳn hoạt động nghiên cứu khoa học vì nhiều lý do: môi trường khoa học còn bảo thủ, chưa chấp nhận thay đổi đến từ bên ngoài; điều kiện hoạt động khoa học thiếu thốn (thiếu kinh phí nghiên cứu; nghèo nàn cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thư viện...) và đặc biệt là những vấn đề của đời sống vật chất khiến nhiều nhà nghiên cứu phải đặt khoa học sang một bên để lao vào các công việc mưu sinh. Như vậy, vấn đề "chảy máu chất xám" không chỉ là những vết "ngoại thương" khi người được đào tạo rời bỏ Tổ quốc, di dân đến các quốc gia phát triển, mà còn là những vết "nội thương" khi nguồn chất xám chất lượng cao không phục vụ cho các mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, mà nhiều khi bị lãng phí trong những mục đích tầm thường của cuộc sống (nhưng không hề tầm thường với mỗi cá nhân). Nhìn một cách sâu xa, những vết "nội thương" để lại những hậu quả tai hại còn hơn cả những vết "ngoại thương". Bởi lẽ một chuyên gia, một nhà khoa học nếu còn có những liên hệ với đất nước thì đến một lúc nào đó, sau khi vượt qua được những vấn đề trước mắt, họ vẫn có thể có những đóng góp quan trọng cho Tổ quốc. Nhưng nếu một nhà khoa học bị "chết mòn" trong những điều nhỏ nhặt của cuộc mưu sinh hoặc bị những cơ chế bảo thủ, trì trệ trói buộc, thì rất nhiều khả năng, chỉ sau một khoảng thời gian mươi năm, giới khoa học sẽ mất đi một nhà khoa học.
Những nhân tài do chính Nhà nước Cộng sản dùng tiền thuế của Nhân dân để đưa ra nước ngoài đào tạo, khi họ trở còn không được sử dụng, hoặc sử dụng không hiệu quả thì còn nói gì tới việc thu hút nhân tài, chất xám từ hải ngoại hoặc từ những người đi du học tự túc.
Chảy máu chất xám có những tác động mạnh đến sự phát triển của một đất nước, làm suy giảm nguồn nhân lực chất lượng cao và dẫn đến sự kém phát triển cho đất nước. Nhà nước Cộng sản cũng đã nhận thức được điều này, nhưng họ không đủ cái tâm và tầm để thực hiện việc đào tạo, thu hút và sử dụng nhân tài. Thậm trí, chế độ Cộng sản còn hắt hủi và ruồng bỏ nhân tài.
Muốn thu hút và sử dụng hiệu quả nhân tài, chất xám để phục vụ việc phát triển đất nước. Trước việc dân chủ hóa đất nước phải được thực hiện trước tiên, vì điều này sẽ tạo ra môi trường chính trị lành mạnh, công bằng cho những nhân tài phát huy hết khả năng sáng tạo của họ. Họ không còn bị kỳ thị bởi những quan điểm chính trị khác biệt.
“Đất lành chim đậu”, đó cũng là một câu nói nổi tiếng nữa của người Việt Nam ta. Hiện tượng người Việt lũ lượt bỏ nước ra đi, cho thấy Việt Nam vẫn là miền đất dữ đối với nhân tài nói riêng, con người nói chung.
“Nhân tài là nguyên khí của quốc gia”, có lẽ người Việt ta không ai là không biết câu nói nổi tiếng đó. Một quốc gia muốn phát triển thịnh vượng, tất yếu phải dựa vào nhân tài ở đủ mọi lĩnh vực, phải nhờ vào trí tuệ con người chứ không phải sức mạnh cơ bắp. Và đó cũng là một chân lý hiển nhiên. Trí tuệ con người, nói theo ngôn ngữ ngày nay là “chất xám”. Từ câu nói trên, có thể suy ra: Quốc gia nào có nguồn lực chất xám dồi dào thì cường thịnh, và ngược lại. Chính vì vậy mà mời gọi nhân tài luôn là chính sách ưu tiên hàng đầu của các chính phủ. Không những vậy, chính phủ còn phải giữ chân được nhân tài, để nạn chảy máu chất xám không xảy ra.
“Chảy máu chất xám” là một cụm từ ngụ ý cho việc thất thoát nguồn nhân lực giỏi trong nước ra nước ngoài làm việc. Đặc biệt tiêu biểu cho việc này là các cử nhân thạc sĩ đi du học nước ngoài rồi sinh sống và làm việc ở đó luôn. Vậy thực trạng này ảnh hưởng đến sự phát triển của Việt Nam thế nào?
Tại sao lại xảy ra hiện tượng “chảy máu chất xám”?
Một thực tế là, có đến 70% trong số 60.000 người đi du học muốn làm việc tại nơi mình học mà không muốn trở về Việt Nam. Lý do rất đơn giản, họ thích một môi trường làm việc văn minh với công nghệ hiện đại, phong cách làm việc thoải mái và chú trọng vào chất lượng hơn là các quy định ngặt nghèo về đồng phục, thời gian làm việc cũng như các thủ tục hành chính vất vả. Nếu trở về Việt Nam, người ta cũng có cơ hội làm việc tại các công ty dù lớn đến mấy nhưng vẫn có những bất cập, vấn đề xung đột tư tưởng, khó làm việc lâu dài. Thêm nữa, các mức lương ở nước ngoài dĩ nhiên hấp dẫn hơn nhiều so với ở trong nước. Họ ở lại, và sau khi ổn định công việc thì sẽ đón cả gia đình sang nước ngoài sinh sống.
Lâu nay, khi nói về tình trạng chảy máu chất xám, người ta vẫn thường hình dung về việc nguồn chuyên gia, nhân lực khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ từ các nước có mức sống thấp, rời bỏ Tổ quốc, sang sinh sống tại những quốc gia có điều kiện để hoạt động khoa học, có chế độ đãi ngộ cao hơn như Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước phương Tây (theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này bao gồm cả các quốc gia có điều kiện kinh tế phát triển của Liên minh châu Âu như Anh, Pháp, Ðức, Na Uy, Thụy Ðiển, Thụy Sĩ...). Ðiều này là không thể phủ nhận, và chỉ nhìn vào danh sách những người đoạt giải thưởng Nobel cũng có thể thấy rõ. Tính từ khi được thành lập vào năm 1911 đến nay, giải thưởng Nobel đã được trao trong 109 "mùa" với hơn 800 cá nhân, tổ chức được nhận thuộc các lĩnh vực Vật lý, Văn học, Kinh tế, Hóa học, Hòa bình và Y học.
Như vậy, ngoại trừ giải Nobel Hòa bình mà dường như là thuộc khu vực chịu ảnh hưởng của đời sống chính trị, giải Nobel Văn học là giải thưởng duy nhất thuộc lĩnh vực nghệ thuật, còn lại, giải Nobel chủ yếu là một giải thưởng hướng tới lĩnh vực khoa học. Căn cứ theo danh sách những quốc gia sở hữu nhiều giải thưởng Nobel nhất trong tất cả các lĩnh vực, đứng đầu vẫn là các quốc gia phương Tây: Anh (116 giải), Ðức (102), Pháp (65) và nhiều nhất là Hoa Kỳ (337 giải). Ở những quốc gia này đã thật sự tạo nên một môi trường tốt cho các hoạt động nghiên cứu khoa học (tạm thời không nói đến các hoạt động sáng tạo văn học - nghệ thuật, bởi lĩnh vực này vận hành theo những logic khác). Lấy riêng trường hợp Hoa Kỳ, trong số hơn 300 giải thưởng dành cho các công dân quốc gia này, có đến 82 trường hợp trao cho những công dân sinh ra tại những quốc gia khác tới sinh sống tại Hoa Kỳ, chiếm gần 25%. Ðấy là chưa nói tới trường hợp công dân mới nhập cư tại Hoa Kỳ trong khoảng một, hai thế hệ mà dấu vết "cố quốc" vẫn còn có thể nhận biết qua tên tuổi của họ. Chỉ riêng việc đó cũng đủ nói lên sức hút mạnh mẽ đến mức nào của Hoa Kỳ đối với những bộ óc đến từ các quốc gia khác. Quy luật này cũng đúng với những lĩnh vực khác như kinh tế, kỹ nghệ, nghệ thuật. Một hiện tượng rõ nét là nhiều quốc gia phát triển đã trở thành "đất hứa" thu hút nghệ sĩ, chuyên gia, khoa học gia, trí thức từ những quốc gia đang hoặc chậm phát triển. Tất nhiên, cuộc sống tại "đất hứa" ra sao lại là chuyện hoàn toàn khác.
Nhà nước Cộng sản Việt Nam cũng nhận thức được nhu cầu đào tạo nhân tài để phát triển đất nước. Ðầu năm 2012, Bộ Giáo dục và Ðào tạo Việt Nam đã tổng kết hơn mười năm hoạt động của Ðề án 322, một đề án được hình thành vào năm 2000 với mục tiêu là đào tạo cán bộ tại những cơ sở giáo dục nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước với những ngành mà Việt Nam thiếu hoặc chất lượng chưa đạt chuẩn quốc tế. Trong mười năm hoạt động của Ðề án, với một nguồn ngân sách hơn 2.500 tỷ đồng (theo nguồn công bố của Bộ Giáo dục và Ðào tạo), 7.129 ứng viên trúng tuyển đã được gửi đi đào tạo ở các cơ sở giáo dục tiên tiến tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có 3.838 tiến sĩ, 2.042 thạc sĩ, 416 thực tập sinh và 833 cử nhân. Cũng theo nguồn của Bộ Giáo dục và Ðào tạo, 95% số lưu học sinh đã về nước đúng thời hạn và đã hoàn thành nhiệm vụ đào tạo, 2% số lưu học sinh được chuyển tiếp lên các cấp học cao hơn, và chỉ có 3% là không hoàn thành nhiệm vụ, trở về muộn hoặc không trở về.
Tuy vậy, ngay khi Ðề án khép lại, có một vấn đề đã được đặt ra một cách nghiêm túc, là hiệu quả hoạt động nghiên cứu của lưu học sinh sau khi trở về đơn vị công tác cũ. Theo điều tra của một số tờ báo, không ít nghiên cứu sinh sau khi trở về đã phải từng bước "hoãn vô thời hạn" hoặc rời bỏ hẳn hoạt động nghiên cứu khoa học vì nhiều lý do: môi trường khoa học còn bảo thủ, chưa chấp nhận thay đổi đến từ bên ngoài; điều kiện hoạt động khoa học thiếu thốn (thiếu kinh phí nghiên cứu; nghèo nàn cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thư viện...) và đặc biệt là những vấn đề của đời sống vật chất khiến nhiều nhà nghiên cứu phải đặt khoa học sang một bên để lao vào các công việc mưu sinh. Như vậy, vấn đề "chảy máu chất xám" không chỉ là những vết "ngoại thương" khi người được đào tạo rời bỏ Tổ quốc, di dân đến các quốc gia phát triển, mà còn là những vết "nội thương" khi nguồn chất xám chất lượng cao không phục vụ cho các mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, mà nhiều khi bị lãng phí trong những mục đích tầm thường của cuộc sống (nhưng không hề tầm thường với mỗi cá nhân). Nhìn một cách sâu xa, những vết "nội thương" để lại những hậu quả tai hại còn hơn cả những vết "ngoại thương". Bởi lẽ một chuyên gia, một nhà khoa học nếu còn có những liên hệ với đất nước thì đến một lúc nào đó, sau khi vượt qua được những vấn đề trước mắt, họ vẫn có thể có những đóng góp quan trọng cho Tổ quốc. Nhưng nếu một nhà khoa học bị "chết mòn" trong những điều nhỏ nhặt của cuộc mưu sinh hoặc bị những cơ chế bảo thủ, trì trệ trói buộc, thì rất nhiều khả năng, chỉ sau một khoảng thời gian mươi năm, giới khoa học sẽ mất đi một nhà khoa học.
Những nhân tài do chính Nhà nước Cộng sản dùng tiền thuế của Nhân dân để đưa ra nước ngoài đào tạo, khi họ trở còn không được sử dụng, hoặc sử dụng không hiệu quả thì còn nói gì tới việc thu hút nhân tài, chất xám từ hải ngoại hoặc từ những người đi du học tự túc.
Chảy máu chất xám có những tác động mạnh đến sự phát triển của một đất nước, làm suy giảm nguồn nhân lực chất lượng cao và dẫn đến sự kém phát triển cho đất nước. Nhà nước Cộng sản cũng đã nhận thức được điều này, nhưng họ không đủ cái tâm và tầm để thực hiện việc đào tạo, thu hút và sử dụng nhân tài. Thậm trí, chế độ Cộng sản còn hắt hủi và ruồng bỏ nhân tài.
Muốn thu hút và sử dụng hiệu quả nhân tài, chất xám để phục vụ việc phát triển đất nước. Trước việc dân chủ hóa đất nước phải được thực hiện trước tiên, vì điều này sẽ tạo ra môi trường chính trị lành mạnh, công bằng cho những nhân tài phát huy hết khả năng sáng tạo của họ. Họ không còn bị kỳ thị bởi những quan điểm chính trị khác biệt.
“Đất lành chim đậu”, đó cũng là một câu nói nổi tiếng nữa của người Việt Nam ta. Hiện tượng người Việt lũ lượt bỏ nước ra đi, cho thấy Việt Nam vẫn là miền đất dữ đối với nhân tài nói riêng, con người nói chung.

Cử tri và nhân dân

Theo VOA-Mặc Lâm-24/06/2019
Bí thư Tp.HCM Nguyễn Thiện Nhân thăm một tu viện ở Thủ Thiêm, 2/2/2019.
 Bí thư Tp.HCM Nguyễn Thiện Nhân thăm một tu viện ở Thủ Thiêm, 2/2/2019.
Ngày 19 tháng 6 năm 2019, trong buổi tiếp xúc cử tri quận Bình Thạnh của Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, người dân tham dự đã bày tỏ lo lắng trong việc chọn nhà thầu Trung Quốc làm dự án cao tốc Bắc Nam. Bí thư thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Ông Nguyễn Thiện Nhân đã trấn an người dân và cho rằng ‘không cần lo lắng’.
Ông Nhân khẳng định: “Trách nhiệm của Quốc hội là giám sát chặt chẽ công trình này. Đây là lợi ích quốc gia, cử tri không cần lo lắng không đảm bảo cái này hay cái kia.”
Nghe những lời hứa chắc như đinh đóng cột của ông cử tri trong phòng họp khó lòng cưỡng lại được vì một người chức cao vọng trọng như ông khi hứa tức là phải làm được, cho dù không thực hiện lời hứa đủ 10 phần thì ít ra cũng được đến 8 phần, mà đối với cử tri 8 phần của một lời hứa đã đủ cho họ đặt niềm tin vào ông, một lãnh đạo cao cấp của chế độ.
Có hai vế ở đây, vế thứ nhất là cử tri và vế thứ hai là dân chúng. Cử tri được vào phòng họp để chất vấn các đại biểu còn nhân dân thì không. Vì vậy lời ông Nhân hứa có thể được cử tri trong phòng họp hưởng ứng nhưng bên ngoài căn phòng máy lạnh ấy người dân có tin ông hay không lại là chuyện khác.
Người dân bây giờ lại không cả tin như thời kỳ đồng bào các vùng xôi đậu của miền Nam tin vào cán bộ cộng sản len lỏi vào từng nhà nói về cuộc chiến tranh chống Mỹ. Người dân bây giờ thực tế hơn và họ cũng thường xuyên đọc báo để tìm hiểu những gì mà nhà nước công bố, trong đó không hiếm những câu chuyện tiêu cực được diễn giải qua nhiều lăng kính của người viết nhưng dù dưới lăng kính nào thì người dân vẫn mơ hồ nhận ra không ít lần mình bị lừa qua các phát biểu của những vị bộ trưởng có vấn đề dính líu tới những công trình được xem là thất bại.
Từ câu chuyện đường sắt Cát Linh-Hà Đông, một công trình do tổng thầu Trung Quốc thực hiện được xem là công trình xấu nhất thế kỷ, lùi tiến độ hơn 10 lần, đội vốn hơn 40 ngàn tỷ và sau nhiều năm thi công cho tới nay vẫn chưa lăn bánh theo lời hứa của nhiều cán bộ cao cấp của ngành GTVT.
Không riêng gì công trình Cát Linh-Hà Đông những dự án lớn như Bauxite Tây Nguyên, Đường ống nước Sông Đà, Nhà máy Formosa hay nhiệt điện Vĩnh Tân Bình Thuận…tất cả đều nằm dưới bàn tay không chế của Trung Quốc và những công trình đầy tai hại này làm người dân thực sự lo âu khi dự án Đường cao tốc Bắc Nam chính thức được công khai trong lúc gần đây.
Mới đây Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể đã báo trước Quốc hội rằng: “Khi ký hiệp định với Trung quốc, chúng ta không có quyền chỉ định nhà thầu, nhà thầu là do Trung quốc chỉ định.” Đây là sự thật được phanh phui sau khi vụ tai tiếng Cát Linh-Hà Đông vở lở. Từ kinh nghiệm thực tiễn này người dân có quyền lo sợ cho một dự án có tầm cỡ quốc gia bị bộ GTVT thao túng để giao vào tay Trung Quốc như họ đã từng làm trong nhiều dự án trước đây. Phản ứng của người dân là có thật và có lẽ vì vậy ông Nguyễn Thiện Nhân trong vai trò Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Đơn vị Thành phố HCM đã lên tiếng “bảo kê” cho dư luận về vai trò của quốc hội trước các công trình trọng điểm.
Người dân đọc báo và họ cười với nhau khi có một vấn đề hài hước xảy ra trong các cơ quan công quyền, đặc biệt là Quốc hội, nơi có những phát biểu đáng nhớ của nhiều vị đại diện cho nhân dân. Ngay cả bà Nguyễn Thị Kim Ngân với tư cách Chủ tịch Quốc hội cũng đã không ngần ngại cho rằng: “Không lẽ giờ “ông” Thanh tra Chính phủ lại đi kiện "ông" Bộ trưởng này, lãnh đạo kia về tài sản thì nghe không đúng truyền thống văn hoá Việt Nam lắm”.
Người dân liệu còn bao nhiêu niềm tin vào Quốc hội sau khi nghe bà Ngân phát biểu như vậy trước gần 500 đại biểu và liệu công trình Cao tốc Bắc Nam có được Quốc hội giám sát hay cũng phớt lờ khi nhân danh truyền thống văn hóa Việt Nam?
Không riêng gì bà Chủ tịch Quốc hội, bản thân ông Nguyễn Thiện Nhân cũng không ít lần “hứa” mà không làm, nhất là trong lúc ông đang ở đỉnh cao quyền lực hơn cả bây giờ, vừa là Phó Thủ tướng, vừa là Bộ trưởng Bộ giáo dục Đào tạo.
Vào ngày 17-11-2006, trong buổi gặp gỡ 13 nhà giáo nhân dân được phong tặng danh hiệu, và một số giáo sư ở khu vực phía Bắc đại diện 44 giáo sư mới được công nhận chức danh năm 2006, ông Nguyễn Thiện Nhân đã nói bộ sẽ trình Chính phủ đề án cải cách tiền lương nhà giáo để đến năm 2010, nhà giáo có thể sống được bằng đồng lương của mình.
Lời hứa ấy không bao giờ được thực hiện.
Chưa hết, hồi gần đây trong lúc lò lửa Thủ Thiêm lên tới đỉnh cao nhất, trong vai trò Bí thư Thành Ủy ông Nguyễn Thiện Nhân đã tới gặp gỡ những nạn nhân mất đất và cũng mạnh miệng hứa “Trong khi chờ đợi thì bố trí bà con chỗ tạm cư tốt hơn. Chúng tôi không gạt bà con đâu. Vào khu tạm cư mới thay khu tạm cư cũ không phải là chúng tôi bỏ mặc bà con".
Sau bao nhiêu tháng, hôm nay bà con Thủ Thiêm vẫn tiếp tục ngồi nghe chính quyền hứa và lần này không biết bà con có còn tin vào lời ông Nhân nữa hay không?
Vẫn biết lời hứa của một chính trị gia là cần thiết đối với dân chúng nhưng hứa như ông Nguyễn Thiện Nhân chỉ làm cho dân mất thêm lòng tin của họ vào Quốc hội vốn dĩ không còn được bao nhiêu nữa. Quốc hội tỏ ra bất lực và hạn chế đến mức bà Kim Ngân phải nhìn nhận “khi Bộ chính trị đã quyếtthì Quốc hội phải thông qua”, như một điều kiện, một “quy trình” hay đúng hơn một sự thật của cái cơ quan cao nhất nước này.
Cao tốc Bắc Nam chưa hình thành đã lộ ra quá nhiều dấu hiệu do bàn tay Bắc Kinh thao túng. Dù ông Nguyễn Thiện Nhân hay bà Kim Ngân có đứng ra bảo đảm chăng nữa nhưng khi Bộ chính trị đã ra nghị quyết thì những lời lẽ đanh thép của họ sẽ đổi chiều như một tay tài xế rành nghề trên đường cao tốc.

‘Quyền lực mới nổi’ mang tên Nguyễn Thị Kim Ngân

 Theo VOA-Phạm Chí Dũng-24/06/2019 
Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân trong phiên họp ngày 11/6/2018.
Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân trong phiên họp ngày 11/6/2018
Không biết vô tình hay hữu ý, trong lúc kỳ họp quốc hội tháng 5 - 6 năm 2019 chứng kiến tình trạng ‘mất tích’ từ đầu đến cuối của ‘Tổng tịch’ Nguyễn Phú Trọng, một hình ảnh uy quyền bất chợt nổi lên.
Hình ảnh ấy mang tên Nguyễn Thị Kim Ngân - chủ tịch quốc hội.
Khác hẳn với tư thế co thủ, thận trọng và gần như ‘khép miệng’ trong nhiều kỳ họp quốc hội trước đây, vào lần này bà Ngân đã khiến giới quan sát và nhiều đại biểu quốc hội ngạc nhiên vì có ít nhất hai lần bà ta cắt ngang phần chất vấn và trả lời chất vấn một cách dũng cảm và… thô bạo.
Vết mờ Thuận Phong
Đầu tiên là vụ ‘chặn họng’ đại biểu Quốc hội Lê Thanh Vân lẫn cắt ngang Bộ trưởng Công an Tô Lâm, liên quan đến câu hỏi của đại biểu Vân về vụ phân bón Thuận Phong.
Khi ông Lê Thanh Vân đặt hai câu hỏi “Vụ sản xuất phân bón giả Thuận Phong, đã được nhiều đại biểu quốc hội liên tiếp hai khóa và hai vị hai phó thủ tướng, trong đó có một vị nay đã là thủ tướng, quan tâm chỉ đạo quyết liệt, nhưng vì sao đến nay chưa khởi tố?”, đến lượt Bộ trưởng Tô Lâm vừa trả lời "đại biểu hỏi về công ty sản xuất thương mại Thuận Phong…", thì Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân - nhân vật chủ trì phiên họp - lập tức ngắt lời.
Bà Ngân nói: "Câu này rất cụ thể, có trách nhiệm của cả Viện Kiểm sát, do đó nó không nằm trong chuyên đề này."
"Tôi đề nghị những vụ việc cụ thể, sẽ trả lời bằng văn bản vì sao chưa khởi tố công ty Thuận Phong mà Quốc hội cũng nhiều lần nhắc ở đây."
"Bộ trưởng và Viện Kiểm sát sẽ trả lời bằng văn bản cho đại biểu Lê Thanh Vân."
Nhưng theo luật sư Trần Vũ Hải, nhiều quan chức cao nhất và các cơ quan có trách nhiệm của Chính phủ đã khẳng định, vụ phân bón Thuận Phong đã đủ dấu hiệu truy cứu trách nhiệm về hành vi “sản xuất, buôn bán phân bón giả”, song nhì nhằng mấy năm nay vẫn chưa khởi tố vụ án hình sự.
Lẽ ra người dân cần biết, những thế lực nào “mạnh” đến mức phủ định cả những ý kiến của những lãnh đạo Chính Phủ và kết luận của 6 bộ ngành về vụ phân bón giả này? Và trách nhiệm của Quốc hội đến đâu trong việc giám sát vụ nổi bật này?
Nhưng bà Ngân lại để cho Bộ Công an và Viện kiểm sát trả lời riêng cho ông Nghị Vân là không thoả đáng, không công khai, minh bạch. Biết đâu, có ngày Bộ công an trả lời cho ông Nghị Vân, rồi đánh dấu “bí mật” như thư trả lời ông Dương Trung Quốc về vụ bắt cụ Kình ở Đồng Tâm. Khi đó “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” chỉ là khẩu hiệu đầu lưỡi của các vị thôi!
Cũng theo luật sư Hải, bà Ngân đã xâm phạm đến quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội và quyền hạn lẫn trách nhiệm trả lời chất vấn, giải trình của một thành viên Chính Phủ, nhưng đặc biệt là quyền của cử tri, quyền giám sát các đại biểu Quốc hội và các cơ quan công quyền, nhất là quyền được biết về hoạt động của những cơ quan đó, có đúng luật không và có vì dân không, nếu làm chưa tốt, ai chịu trách nhiệm và xử lý thế nào, kể cả cấp trên của những người vi phạm.
Còn theo nhiều chuyên gia, vụ này nếu không xử lý kiên quyết, sẽ là tiền lệ xấu khiến tình trạng sản xuất buôn bán phân bón giả, kém chất lượng tiếp tục ngang nhiên lộng hành tại Việt Nam, đặc biệt tại Nam Bộ, quê hương của chính bà Ngân, thiệt hại cho hàng chục triệu nông dân Việt Nam.
Thái độ ‘chặn họng’ thô bạo của Nguyễn Thị Kim Ngân về vụ phân bón giả Thuận Phong đang bị dư luận nghi ngờ về động cơ của bà ta muốn che đậy cho Thuận Phong khỏi bị khởi tố và truy tố.
Bệt đen ‘luật bán nước’
Vụ ‘chặn họng’ tiếp theo của Nguyễn Thị Kim Ngân xảy ra với đại biểu Nguyễn Anh Trí khi đại biểu này cắc cớ hỏi về dự luật Đặc khu.
Xin ông phân tích, đánh giá nếu lập 3 đặc khu kinh tế thì mức độ phát triển của nó như thế nào đối với địa phương, với vùng đó?” - đại biểu Nguyễn Anh Trí chất vấn Phó thủ tướng Vương Đình Huệ - quan chức thay mặt Thủ tướng đăng đàn tại Quốc hội khoá 14 tháng 5 - 6 năm 2019.
Việc ra đời đặc khu không ảnh hưởng gì tới nguồn lực của Trung ương, địa phương tập trung cho phát triển 2 đầu tàu kinh tế và 7 khu kinh tế trọng điểm” - Vương Đình Huệ trả lời.
Dùng quyền tranh luận, đại biểu Trí cho rằng bản thân ông không hài lòng với câu trả lời của phó thủ tướng và nhắc lại “Vấn đề tôi muốn hỏi ở đây là rồi đây Bắc Vân Phong, Vân Đồn, Phú Quốc sẽ phát triển tới mức nào nếu chúng ta cho làm đặc khu? Cái này tôi muốn phó thủ tướng thông tin cho dân biết? Thứ hai nữa là việc phát triển đặc khu như thế thì vấn đề an ninh toàn vẹn lãnh thổ sẽ được tính như thế nào?
Ngay lập tức, Nguyễn Thị Kim Ngân ngắt lời “Quốc hội đang bàn Luật đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt, hiện chưa ban hành, để có câu trả lời đầy đủ vấn đề đại biểu nêu thì cần nghiên cứu chặt chẽ hơn. Cho nên tôi đề nghị đại biểu cho phó thủ tướng có thời gian chuẩn bị và sẽ trả lời câu hỏi của đại biểu bằng văn bản“.
Vụ ‘chặn họng’ trên lại xảy ra đúng vào thời điểm ‘kỷ niệm’ tròn một năm phát ngôn ‘Bộ Chính trị đã quyết định về luật đặc khu rồi…’
Rất nhiều người thắc mắc và bức xúc vì sao bà Ngân lại ‘chặn họng’ đại biểu về dự luật Đặc khu.
Hãy quay ngược về quá khứ: vào tháng 5 năm 2018 khi ‘luật bán nước’ - một cái tên bi thảm mà người dân đã gọi để lên án Luật Đặc khu và vẫn tồn tại cho đến giờ đây - thình lình được trình ra Quốc hội mà không trước đó không hề thông báo cho dân biết, một số đại biểu quốc hội đã có thái độ thắc mắc, phản ứng về hành vi khuất tất đó và những hậu quả mà Luật Đặc khu có thể rước về. Nhưng ngay lập tức, Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã ‘chặn họng’ theo lối áp đặt ‘Bộ Chính trị đã quyết định về luật đặc khu rồi…’. Chính từ thái độ và hành động áp đặt theo lối ‘cả vú lấp miệng em’ như thế, người dân đã phát hiện ra nguồn cơn của nó: vào thời gian hội thảo về chủ trương đặc khu Vân Đồn ở Quảng Ninh mà được sự hỗ trợ hết sức nhiệt tình của phía Trung Quốc cùng sự tham gia trực tiếp của một nữ cố vấn Đào Nhất Đào của Tập Cận Bình, Nguyễn Thị Kim Ngân nằm trong số quan chức VIP tham dự hội thảo này, cùng với Phạm Minh Chính đã ‘nhiệt tình vỗ tay’ dành cho ‘luật bán nước’!
Vùng lên!
Tâm thế và tư thế ‘vùng lên’ của Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân - nhân vật đứng thứ ba trong ‘tam trụ’ sau Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Xuân Phúc - đang phác thảo bức tranh loang lổ bệt màu về chính trường Việt Nam trong thế phân ly: nếu trong tương lai Nguyễn Phú Trọng không thể đủ sức khỏe để ‘cống hiến lâu dài cho cách mạng’, khuynh hướng chuyển giao quyền lực cho các khối đảng, lập pháp, hành pháp và gia tăng quyền lực trong từng khối sẽ hiện ra một cách tất yếu, để từ đó phát sinh mô hình ‘đa trung tâm quyền lực’ mà nhiều quan chức cao cấp thèm muốn nhưng chẳng ai dám chính thức công khai tham vọng ấy.
Nhưng chưa cần đến lúc Nguyễn Phú Trọng ‘nằm xuống’, ngay vào lúc này đã hiện ra cảnh trạng ‘vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm’. Tâm lý muốn thể hiện quyền lực sau một thời gian dài bị kềm hãm là hoàn toàn có thể cảm thông được, nhất là với lãnh đạo của cơ quan ‘dân cử’ vẫn luôn bị dư luận xem là ‘bù nhìn’.
Cần nói thêm, ứng với truyền thống chọn lựa nhân vật trung dung và nằm ngoài giỏ cua đấu đá phe phái là chủ tịch quốc hội cho ghế tổng bí thư - mà những Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng đã từng ‘buồn ngủ gặp chiếu manh’, Nguyễn Thị Kim Ngân cũng xứng đáng có được niềm hy vọng nhái lại để biết đâu đấy có thể biến thành tổng bí thư nữ đầu tiên tại đại hội 13 của đảng cầm quyền - sẽ diễn ra vào đầu năm 2021, nếu còn có đại hội đó.

Các chính quyền ĐNÁ, gồm VN, hợp tác bắt các nhà hoạt động lưu vong?

 Reuters-22/06/2019 
Có tin ông Trương Duy Nhất bỏ trốn sang Thái Lan nhưng bị bắt và đưa về Việt Nam
Có tin ông Trương Duy Nhất bỏ trốn sang Thái Lan nhưng bị bắt và đưa về Việt Nam
Ba cảnh sát Thái Lan tới gặp Nguyễn Văn Chung, một người tị nạn Việt Nam ở Bangkok hồi tháng 1 và hỏi ông có liên lạc với một người Việt Nam khác, tên Trương Duy Nhất, mới trốn sang Thái Lan hay không.
Ông Chung trả lời là không, ông nói chưa bao giờ gặp ông Nhất mà chỉ biết đến ông qua những bài ông Nhất đăng trên Facebook.
Trương Duy Nhất là một cây viết thường chỉ trích chính quyền cộng sản Việt Nam, đã từng ngồi tù 2 năm vì tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ”.
Nhưng trong một cuộc thẩm vấn sau đó, ông Chung rất ngạc nhiên khi nhận ra một người đàn ông có vẻ là một giới chức Việt Nam, cảnh sát Thái Lan sau đó xác nhận rằng ông ta quả thực đến từ Việt Nam.
Nói với Reuters từ một nước thứ ba, nơi ông tới ẩn náu không lâu sau đó, ông Chung nói: “Bằng cách nào đó, một cách kín đáo, cảnh sát Việt Nam và cảnh sát Thái Lan đã làm việc cùng nhau và họ biết tất cả mọi thứ”.
Cuộc tiếp xúc đó rất đáng lưu ý bởi vì ông Nhất, cây viết mà cảnh sát truy lùng, mất tích hai ngày sau đó từ một trung tâm mua sắm ở Bangkok.
Ông Nhất xuất hiện trở lại ở một nhà tù Việt Nam.
Trong các bức thư gửi đến Việt Nam và Thái Lan, các đại diện của Liên Hiệp Quốc nêu ra nghi vấn về một vụ “mất tích có bàn tay của chính quyền” và bày tỏ “quan ngại sâu sắc”. Cả Thái Lan lẫn Việt Nam đều từ chối bình luận.
Trường hợp ông Nhất không phải là một vụ đơn lẻ trong những tháng gần đây.
Một số quốc gia trong khu vực đang đổi chác những người bất đồng chính kiến và các cá nhân chạy trốn đàn áp, trong một liên minh ma quỷ để giúp củng cố các chế độ của nhau.
ông Nicholas Bequelin, Ân xá Quốc tế
Cùng lúc các nhà lãnh đạo của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) gồm 10 nước thành viên họp vào cuối tuần này tại Bangkok, các nhà vận động nhân quyền công khai lên án điều mà họ gọi là sự tăng cường hợp tác trong việc cưỡng bức hồi hương những người tị nạn hoặc xin quy chế tị nạn.
Kể từ năm ngoái, đã có ít nhất 8 trường hợpchính quyền các nước Đông Nam Á bị cáo buộc là bắt giữ chính thức hoặc hợp tác với nhau để bắt cóc những người tị nạn chính trị đến từ các nước ASEAN.
“Một số quốc gia trong khu vực đang đổi chác những người bất đồng chính kiến và các cá nhân chạy trốn đàn áp, trong một liên minh ma quỷ để giúp củng cố các chế độ của nhau”, ông Nicholas Bequelin, Giám đốc Tổ chức Ân xá Quốc tế chuyên trách Đông và Đông Nam Á, phát biểu.
CỰC KỲ ĐÁNG LO NGẠI
Nhà chức trách Việt Nam, Campuchia, Malaysia và Thái Lan bị cáo buộc đã giam giữ và bắt hồi hương những người chỉ trích chính phủ các nước láng giềng, bất chấp họ được LHQ cấp quy chế tị nạn chính trị, trong một số trường hợp.
Ông Charles Santiago, một nhà lập pháp Malaysia, chủ tịch Nhóm Các Nghị sĩ vì Nhân quyền ASEAN, nói: “Xu hướng ngày càng tăng là các chính phủ Đông Nam Á hồi hương những người bất đồng chính kiến, khiến họ có thể đối mặt với nguy hiểm là điều vô cùng đáng lo ngại”.
Thái Lan, nước chủ nhà hội nghị ASEAN tổ chức vào cuối tuần này, từ chối bình luận về những khiếu nại của các tổ chức nhân quyền.
Một người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Thái Lan cho biết: “Chúng tôi không có thông tin gì về những trường hợp này”.
Thái Lan từng được coi là địa điểm an toàn cho các nhà hoạt động chạy trốn các cuộc đàn áp của các chính phủ độc tài.
Nhưng kể từ cuộc đảo chính quân sự hồi năm 2014, Thái Lan đã yêu cầu các nước láng giềng trao trả những người chống đối của chính nước họ - và cũng tuân thủ các yêu cầu tương tự từ những nước kia, theo những người chỉ trích.
Tháng trước, Malaysia đã bắt giữ và hồi hương một nhà vận động chống chế độ quân chủ Thái Lan sau khi bà đăng ký xin tị nạn với cơ quan tị nạn LHQ.
Người phụ nữ có tên là Praphan Pipithnamporn đang chờ xét xử về tội phản loạn và tội phạm có tổ chức ở Thái Lan.
Nhà lãnh đạo Malaysia Mahathir Mohamad bào chữa cho việc dẫn độ, nói rằng đất nước của ông là “một nước láng giềng tốt”.
CÓ QUA CÓ LẠI?
Năm ngoái, chính quyền Thái Lan đã bắt giữ hai người Campuchia và bắt họ hồi hương.
Sam Sokha, một nhà hoạt động bênh vực người lao động, đã ném một chiếc giày vào một tấm áp phích in hình Thủ tướng Campuchia Hun Sen. Bà đang thụ án 2 năm tù vì tội “xúc phạm quan chức nhà nước”.
Một người Campuchia khác, Rath Rott Mony, bị bắt tại Bangkok hồi tháng 12/2018 và bị cưỡng bức hồi hương. Ông này đang đối mặt với 3 năm tù vì tội “kích động phân biệt đối xử” do ông góp phần làm một bộ phim tài liệu về nạn mại dâm trẻ em. Phán quyết sẽ được đưa ra hôm 26/6.
Xu hướng ngày càng tăng là các chính phủ Đông Nam Á hồi hương những người bất đồng chính kiến, khiến họ có thể đối mặt với nguy hiểm là điều vô cùng đáng lo ngại.
ông Charles Santiago, nhà lập pháp Malaysia
Tuy một số nhà hoạt động bị dẫn độ thông qua các kênh hợp pháp, song cũng có tin về những vụ bắt cóc phi pháp, như vụ của ông Trương Duy Nhất.
Các đại diện LHQ gửi thư cho Việt Nam và Thái Lan hôm 18/4 với những lời lẽ thẳng thừng bày tỏ nghi vấn của họ. Họ nói họ tin rằng các giới chức di trú và cảnh sát Thái Lan, một “đại diện của một bộ Thái Lan” và các sĩ quan tình báo quân đội Việt Nam đến từ Hà Nội đã có dính líu trong vụ bắt cóc ông Trương Duy Nhất.
Hồi tháng 2, ba nhà hoạt động lưu vong người Thái chống chính quyền quân nhân sống ở Lào - tên là Siam Theerawut, Chucheep Chivasut và Kritsana Thapthai - bỗng dưng mất tích.
Họ đã bị nhà chức trách Việt Nam bắt giữ khi đang quá cảnh và bị giao lại cho Thái Lan, theo lời của Liên minh Nhân quyền Thái Lan có trụ sở tại Hoa Kỳ.
Cả chính quyền Việt Nam lẫn Thái Lan đều không bình luận về tin vừa kể mà Reuters không thể kiểm chứng.
Dù vậy, thời điểm các nhà hoạt động mất tích đã làm dấy lên nghi ngờ, ông Bequelin thuộc Ân xá Quốc tế nói.
“Chuỗi những chuyện xảy ra với trường hợp ông Nhất cho thấy có thể có đổi chác giữa Thái Lan và Việt Nam”, ông nói.
Hồi tháng 1 năm nay, thi thể của hai nhà hoạt động người Thái từng bỏ trốn sang Lào được tìm thấy ven bở sông Mê Kông, bên Thái Lan. Người họ bị mổ phanh ra buộc vào các tảng bê tông để dìm xuống. Không ai biết, hay nói ra, chuyện gì đã xảy đến cho các nạn nhân.

Bộ Ngoại Giao Mỹ: Nhà cầm quyền CSVN vẫn đàn áp tôn giáo

Ông Bùi Văn Trung là một trong những tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo bị CSVN kết án tù ngày 9/2/2018, được nêu trong bản phúc trình đàn áp tôn giáo tại Việt Nam của Bộ Ngoại Giao Mỹ. (Hình: báo An Giang)
WASHINGTON 24-6 (NV) .- Tuy hiến pháp CSVN công nhận dân có quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, Bộ Ngoại Giáo Mỹ nói đàn áp tôn giáo vẫn tiếp diễn tại Việt Nam trong bản tường trình công bố ngày 21/6/2019 vừa qua.
Tuy bản hiến pháp của CSVN công nhận mọi người dân đều có quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, nhưng “luật lệ lại cho phép nhà cầm quyền kiểm soát đáng kể quyền hành đạo và gồm cả những điều khoản mơ hồ cho phép giới hạn quyền tự do tôn giáo lấy cớ vì lợi ích nhà nước về an ninh quốc gia và an toàn xã hội”.
Bản phúc trình thường niên tình hình tự do tôn giáo thế giới, phần riêng về Việt Nam dài gần 9,000 từ, mở đầu như thế trước khi đi sâu vào chi tiết. Tương tự như những năm trước, bản phúc trình năm nay cũng đưa ra các dẫn chứng cụ thể để chứng minh chế độ Hà Nội nói một đàng làm một nẻo.
Bản tường trình Bộ Ngoại Ngoại Mỹ ghi nhận với dân số ước lượng khoảng 97 triệu người, Ban Tôn Giáo Chính phủ (trực thuộc Bộ nội Vụ CSVN, thực chất được lập ra để kiểm soát các hoạt động tôn giáo) đưa ra thống kê nói chỉ có 26.4% dân chúng là tín đồ các tôn giáo. Trong đó 14.91 là tín đồ Phật Giáo, 7.35% là tín đồ Thiên Chúa Giáo, 1.09% tín đồ Tin Lành, 1.16% là tín đồ Cao Đài và 1.47% là tín đồ Phật giáo Hòa Hảo. Bên cạnh đó còn có nhiều nhóm, tổ chức tôn giáo với số người tham gia hành đạo rất thấp.
“Các lãnh tụ tôn giáo, đặc biệt những người đại diện cho những nhóm không được nhà nước công nhận hoặc có giấy phép hoạt động, tường thuật đã bị nhà cầm quyền CSVN sách nhiễu bằng nhiều cách khác nhau, gồm cả đánh đập, bắt giữ, kết án tù, theo dõi, cấm cản di chuyển đi lại, tài sản bị tịch thu hay phá hủy, đồng thời, còn bị từ chối hoặc tảng lờ các đơn xin ghi danh hay những vụ xin phép khác”. Bản tường trình của Bộ Ngoại Giao Mỹ viết.
Bản tường trình kể thí dụ như 6 tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đã bị kết án từ 2 đến 6 năm tù hồi Tháng Hai 2018 vì bị vu cho tội “gây rối trật tự công cộng” và “chống người thi hành công vụ”. Có nhiều vụ báo cáo nhà cầm quyền các địa phương sách nhiễu các nhóm tín đồ Công giáo cũng như Tin Lành ở Tây Nguyên của các sắc dân thiểu số. Tín đồ Công giáo và Tin Lành ở Nghệ An, Quảng Bình cùng một số tỉnh miền núi phía Bắc như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hòa Bình, Hà Giang cũng chịu số phận tương tự.
Bản tường trình của Bộ Ngoại Giao Mỹ cho hay đại sứ, tổng lành sự và các viên chức ngoại giao cấp cao đã nhiều lần thúc hối chế độ Hà Nội để cho các nhóm tôn giáo hoạt động tự do, gồm cả Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành. Họ cũng đã nhiều lần nêu đích danh, cụ thể những trường hợp bị nhà cầm quyền đàn áp.
Cuối Tháng Tư 2019 vừa qua, Ủy Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế (USCIRF) công bố bản phúc trình về tình trạng tự do tôn giáo ở 16 quốc gia bị xem là vi phạm tự do tôn giáo ở mức nghiêm trọng, trong đó có Việt Nam, và 12 quốc gia ở mức vi phạm khá nghiêm trọng.
Bản phúc trình hàng năm do cơ quan vừa kể (thành lập theo một đạo luật do chính phủ và quốc hội bổ nhiệm các thành viên) được gửi tới Quốc Hội, Tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại Giao , đóng góp cho chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Bản phúc trình về tình trạng tự do tôn giáo ở Việt Nam trong năm 2018 cho thấy tình trạng xấu đi sau khi Luật Tín Ngưỡng và Tôn Giáo có hiệu lực.
Bản phúc trình cũng dẫn chứng các trường hợp cụ thể chứng minh cho thấy nhà cầm quyền CSVN vẫn đàn áp tôn giáo trong khi họ luôn luôn tuyên bố đảm bảo các quyền tự do tôn giáo và không tôn giáo của người dân. Trước các sự cáo buộc của Mỹ cũng như Liên Âu, chế độ Hà Nội, suốt bao năm qua, đều cho phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao phản bác là “không khách quan”, “sai lệch”. (TN)

Ông Michael Phương Minh Nguyễn phải thụ án 12 năm tù rồi mới bị trục xuất

Ông Michael Phương Minh Nguyễn bị dẫn giải đến phiên tòa hôm 24 Tháng Sáu.
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Ông Michael Phương Minh Nguyễn, người Mỹ gốc Việt, cư dân Orange County, California, bị tuyên 12 năm tù vì bị cáo buộc tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” hôm 24 Tháng Sáu.
Phán quyết của Tòa Án thành phố ở Sài Gòn nói ông Michael “sẽ bị trục xuất sau khi thi hành án xong”.
Trước đó, hôm 11 Tháng Sáu, Đại Sứ Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam “yêu cầu Việt Nam trục xuất công dân Mỹ gốc Việt Michael Phương Minh Nguyễn ngay sau phiên tòa”. Tuy nhiên yêu cầu này đã không được chấp thuận.
Ông Michael Phương Minh Nguyễn bị công an Việt Nam bắt ngày 7 Tháng Bảy, 2018, ở tỉnh Đồng Nai, khi đang trên đường từ Đà Nẵng về Sài Gòn.
Thời điểm bị bắt, ông mang theo trong người $1,200 và 1 triệu đồng ($43.2) cùng một số quần áo.
Phiên tòa diễn ra chóng vánh trong một buổi sáng, dù dự trù được tổ chức trong hai ngày 24 và 25 Tháng Sáu 2019.
Ông Michael Phương Minh Nguyễn tại phiên tòa hôm 24 Tháng Sáu. (Hình chụp qua màn hình)
Cùng bị cáo buộc chung tội danh với ông Michael, các bị cáo còn lại: ông Huỳnh Đức Thanh Bình bị tuyên 10 năm tù và 3 năm quản chế, ông Trần Long Phi bị 8 năm tù và 3 năm quản chế, và ông Huỳnh Đức Thịnh (cha của Huỳnh Đức Thanh Bình) bị 1 năm tù giam về tội “Không tố giác tội phạm”.
VnExpress hôm 24 Tháng Sáu tường thuật: “Một số người được cho là có vai trò cầm đầu gồm Lê Quốc Phong, Nguyễn Văn Bé Hai… đang bỏ trốn hoặc sống ở nước ngoài nên cơ quan chức năng chưa xử lý.”
Báo Tuổi Trẻ cùng ngày dẫn cáo trạng viết: “Do có tư tưởng bất mãn, chống lại Nhà Nước [CSVN] nên từ đầu năm 2017, Michael Phương Minh Nguyễn, Huỳnh Đức Thanh Bình, Trần Long Phi cùng một số đối tượng khác đã sử dụng tài khoản Facebook và email để câu kết với một số người nước ngoài nhằm trao đổi thông tin về tình hình chính trị, xã hội ở Việt Nam. Tháng Tám, 2017, Michael nhập cảnh về Việt Nam để tạo quan hệ và tiếp tục trao đổi về các vấn đề được dư luận quan tâm như Formosa xả thải gây ô nhiễm môi trường, việc Trung Quốc lấn chiếm trên Biển Đông… Sau đó, Michael được Bình đưa đến giới thiệu với Lê Quốc Phong (hiện đã bỏ trốn) để gặp gỡ, kết bạn.”
“Các đối tượng đã cùng nhau thành lập tổ chức “Quốc Nội Quật Khởi” để trao đổi, bàn bạc, phân công nhiệm vụ cho các thành viên, đồng thời tổ chức tuyên truyền, lập kế hoạch mua vũ khí, lôi kéo người tham gia biểu tình, chiếm trụ sở chính quyền tại Sài Gòn và Hà Nội. Mục đích của các đối tượng là gây bạo loạn nhằm tiến tới lật đổ chính quyền Nhà Nước [CSVN], xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng. Cáo trạng xác định quá trình điều tra, các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải,” theo báo Tuổi Trẻ.
Ông Huỳnh Đức Thanh Bình bị dẫn giải đến phiên tòa hôm 24 Tháng Sáu.(Hình: VnExpress)
Theo lời Luật Sư Nguyễn Văn Miếng, người bào chữa cho ông Huỳnh Đức Thanh Bình, cáo trạng cáo buộc ông Michael về Việt Nam “liên kết với một số người đi chụp hình quay phim một số buổi biểu tình”. Điển hình là cuộc biểu tình ngày 10 Tháng Sáu, 2018, về nhà làm thành clip rồi đưa lên mạng.
Hôm 10 Tháng Sáu, 2019, thông cáo do gia đình ông Michael Phương Minh Nguyễn phát đi ghi: “Thực tế là ông Michael đã bị từ chối gặp luật sư hoặc tư vấn pháp lý trong suốt 10 tháng bị giam giữ vừa qua, gia đình của ông cảm thấy rằng ông đang bị bất lợi nghiêm trọng và không thể được bảo vệ một cách hợp lý đối với bất cứ cáo buộc nào nhắm vào ông. Gia đình của Michael thắc mắc, bằng cách nào mà Michael có thể có được một phiên tòa công bằng trong những tìn huống như vậy.”
Bà Nguyễn Bảo Hiếu. (Hình: Nhân Phạm/Người Việt)
Ông Michael Phương Minh Nguyễn, theo gia đình cho biết, về Việt Nam thăm bà con hôm 27 Tháng Sáu 2018, và theo dự trù ông trở lại Mỹ ngày 16 Tháng Bảy 2018, nhưng khi người nhà lên phi trường Los Angeles đón thì không thấy ông đâu.
Hồi cuối Tháng Bảy năm 2018, bà Nguyễn Bảo Hiếu, vợ ông Michael Phương Minh Nguyễn, nói với báo Người Việt: “Tôi chỉ muốn anh về nhà càng sớm càng tốt!”

Ông Michael Phương Minh Nguyễn và vợ, bà Nguyễn Bảo Hiếu, có bốn đứa con gái, từ 9 đến 16 tuổi. (T.K.)

Nhà tù không phải nơi để huỷ diệt nhân tính

Tù nhân tại một trại giam trong chế độ cộng sản Việt Nam. (Hình minh họa: vi.rfi.fr)
Tuấn Khanh (Blog RFA)
Lời kể của chị Kim Thanh, vợ của tù nhân Trương Minh Đức tại trại giam Thanh Chương, Nghệ An, là một điểm nhấn tàn bạo khó tin về hệ thống nhà tù tại Việt Nam. Chuyện thật mới mẻ, chỉ vào giữa tháng 6/2019 thôi, chỉ chưa đầy nửa năm, sau khi đại diện của Nhà nước Việt Nam khẳng định trước Liên Hợp Quốc rằng không có chuyện đối xử tàn tệ hay tra tấn tù nhân.
“Chắc anh không thể còn về được để gặp em”, nhà báo tự do Trương Minh Đức, người bị tuyên án 12 năm tù với tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”. Nhân vật bị nhận định với tội danh ghê gớm đó đã vô số lần bị an ninh thường phục đánh đập đến nhập viện, bị câu lưu, giam tù 5 năm trước đó do đã viết bài ủng hộ cho giới công nhân bị đàn áp, bị bóc lột bởi giới chủ cũng như bày tỏ quan điểm về một Việt Nam cần một chính quyền tốt hơn.
Chị Kim Thanh kể lại lời nhắn này trong sự thảng thốt. Người tù chính trị ở Việt Nam thường phải chọn mãn hạn ra tù như một kẻ bị bẻ gãy ý chí, sống chấp nhận nhục nhằn với quản giáo, hoặc không còn là mình nếu sống theo luật pháp và quyền con người trong một trại giam. Anh Trương Minh Đức được nói lại với gia đình những điều này, khi anh và thầy Đào Quang Thực, ông Nguyễn Văn Túc cùng tuyệt thực phản đối sự đối đãi tàn tệ trong trại giam này. Đã hơn 2 tuần lễ của cuộc tuyệt thực này diễn ra – điều cùng cục mà những người tù nhân lớn tuổi này quyết phải làm – là bởi họ đã yêu cầu, kêu gọi bằng tiếng nói con người.
Mùa hè ở Nghệ An, nơi những cành lá oằn mình cháy xém trước sự thiêu đốt lên đến hơn 40 độ. Thì nơi nhà giam thấp, mái tôn, nhiều người bị giam chung, sức nóng có thể lên hơn 43-45 độ. Nhưng không có quạt, phòng giam nghẹt thở không có quạt để xua bớt sức nóng. Khi mọi người xin mở quạt, thì giám thị đáp nhanh là “quạt hỏng”. Nhưng đó chỉ là một lý do để không cải thiện tình hình, kéo dài sự hành hạ mà mục đích là bóp chết dần sức sống của những tù nhân bệnh tật và cao tuổi.
Tù nhân lương tâm Trương Minh Đức Courtesy of Duc Minh Truong
Câu chuyện của tù nhân Trương Minh Đức, Đào Quang Thực và Nguyễn Văn Túc chỉ là một góc nhỏ của nấm mồ khồng lồ mang tên trại giam, trại tù cải tạo dành cho người Việt trên đất nước hiện nay.
Đã có quá nhiều câu chuyện kể, nối tiếp và kinh hoàng, từ cái chết của thầy giáo Đinh Đăng Định, Huỳnh Anh Trí, mục sư Tin Lành Ksor Xiem… rồi những người bị tra tấn trong tù một cách tàn bạo như mục sư Nguyễn Công Chính, Hoàng Bình, Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Viết Dũng… Thậm chí những nghi vấn về thức ăn có chủ đích tàn phá sức khỏe người bị giam giữ cũng đã được phát đi từ Trần Hoàng Phúc, Trần Huỳnh Duy Thức… khiến lịch sử về nhà tù và thái độ ứng xử của một nhà nước với tù nhân bất đồng chính kiến đã ngày càng được phác thảo rõ hơn.
Và nếu tất cả đang diễn ra đồng bộ mở mọi trại giam, mọi quản giáo và mọi thời điểm, bất kỳ ai cũng có thể nhìn thấy đó hoàn toàn có tính hệ thống chứ không thể là của một vài cá nhân có thói quen tàn bạo – như kiểu Thượng tướng Lê Quý Vương từng trả lời trước Liên Hợp Quốc (LHQ) về công ước chống tra tấn, vào tháng 11/2018, là có sai lầm của một vài cá nhân cán bộ.
Không chỉ trong nhà giam, mà cách hành xử bên ngoài với dân thường ở các trại tạm giam, nhục hình điều tra, thậm chí khi không có lệnh khởi tố… cũng là những hình ảnh khác nhức nhối về một nhà nước Việt Nam tự ứng cử vào ghế Hội đồng Bảo an LHQ. Ngay cả với câu trả lời các sai lầm thuộc về cá nhân cán bộ – người ta phải tự đặt câu hỏi, vì sao ngành công an Việt Nam – đặc biệt là trong trại giam lại tuyển dụng nhiều kiểu người tàn bạo và phi nhân tính như vậy?
Có rất nhiều thứ để người ta phải ngẫm nghĩ về đạo đức của một nhà cầm quyền, dẫu đó là loại đạo đức giả hiệu. Từ sau năm 1989 đến nay, thế giới vẫn chưa bao giờ ngừng thu thập các tài liệu về các vụ tra tấn thể chất và chà đạp tinh thần con người trong các nhà tù cộng sản ở Ba Lan, Đức, Rumani, Nga Sô… những kẻ thi hành nhiệm vụ cho đến những kẻ ra lệnh vẫn luôn được gọi tên và đưa ra xét xử. Nhưng điểm chung của tất cả các trại giam và phạm nhân chính trị ấy đều có chung một đặc điểm là một bên thì cố bẻ gãy ý chí, thậm chí bào mòn sức sống của tù nhân bằng mọi cách. Một bên thì cố giữ lại phần nhân tính của mình để dành lại cho quê hương mai sau không còn cộng sản – mà điều ấy chắc chắn sẽ đến. Nột bật hơn hết, là trò kỳ quái, khi đã kết án, các trại giam và các quản giáo xay thịt luôn buộc các phạm nhân phải viết bản nhận tội và tự thú thành khẩn trong những năm tháng bị giam hãm.
Nhiều ví dụ ở Việt Nam cũng đang cho thấy điều đó, tương tự.
Khi bạn đọc được những dòng chữ này. Ở Việt Nam, vẫn còn ai đó đang tuyệt thực. Vẫn có ai đó đang bị chà đạp tinh thần hay thân thể trong các trại giam. Và ở đâu đó, vẫn còn những con người Việt Nam luôn muốn sống với luật pháp, với tư duy văn minh và đòi một làn gió cho mình, bất chấp nhà cầm quyền có thể chối bỏ hay che lấp những số phận đó.
Nếu bạn là yêu sự công bằng. Yêu sự tồn tại đường hoàng của con cái mình trong tương lai, ở một quốc gia tiến bộ và có quyền con người, bạn cần lắng nghe thấy họ, và lên tiếng cho những người như ông Trương Minh Đức, Đào Quang Thực, Nguyễn Văn Hóa, Hoàng Binh, Nguyễn Trung Tôn, Trần Hoàng Phúc, Phan kim Khánh… rất nhiều ở Việt Nam lúc này, không thể kế hết. Bạn cần lên tiếng cho những con người đang chịu tù đày – dù đúng hay sai đi nữa – vì nơi đó không phải là để dành cho việc hủy diệt nhân tính.
Bạn hãy lên tiếng, kể cả khi tôi không có thể lên tiếng cùng bạn, như ngày hôm nay.

Việt Nam còn nhiều ‘hàng Trung Quốc đội lốt Việt Nam’

CEO Tập Đoàn Asanzo Phạm Văn Tam (giữa) từng được các báo nhà nước ca tụng là doanh nhân “tay trắng làm nên sự nghiệp.” (Hình: VnEconomy.vn)
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Hai ngày sau vụ Tập Đoàn Asanzo bị phác giác “hàng Trung Quốc đội lốt hàng Việt Nam,” bà Vũ Kim Hạnh, cựu tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, và là người khởi xướng chương trình “Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao” lên tiếng giãi bày trên trang cá nhân.
Trong vụ này, bà Hạnh chịu nhiều chỉ trích và cáo buộc bán danh hiệu “Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao” cho Asanzo cũng như các doanh nghiệp khác buôn hàng Trung Quốc “đội lốt” hàng Việt Nam để họ đánh lừa người tiêu dùng.
Bà Hạnh viết trên trang cá nhân hôm 23 Tháng Sáu: “Danh hiệu ‘Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao’ không phải là do nhà nước cấp mà là danh hiệu do Hội cùng tên, của tư nhân, cấp trong 23 năm qua. Toàn bộ chi phí là do Hội này tự lo và khi trao danh hiệu, cũng hoàn toàn không thu phí. Đây là hoạt động phi lợi nhuận nhằm xác lập danh sách doanh nghiệp được người tiêu dùng tin cậy, để khuyến khích việc sản xuất, tiêu dùng hàng Việt. Toàn bộ chi phí điều tra [khảo sát về thương hiệu] do Hội tự lo.”
“Về trường hợp của Asanzo, [trước khi vụ việc vỡ lỡ] cơ quan chức năng không phát hiện doanh nghiệp làm ăn gian dối; báo chí và các đoàn thể của người tiêu dùng cũng không có ý kiến nào về Asanzo, và đó là sự thực đã diễn ra vào thời điểm của cuộc điều tra của Hội. Thực tế là tình hình quản lý gian lận thương mại của nhà nước chưa bao quát hết và việc thực thi trên cả nước cũng chưa nghiêm. Các cơ quan đã quản lý lỏng lẻo để cho doanh nghiệp làm ăn gian lận tung hoành lâu dài. Nếu cơ quan quản lý bất cập như vậy thì hiện nay, vẫn đang diễn ra một thực tế mà doanh nghiệp làm ăn chân chính Việt Nam rất lo âu là: sẽ còn không ít doanh nghiệp hành xử như Asanzo nhưng quy mô nhỏ hơn, ít truyền thông ồn ào mà chưa được phát hiện,” theo Facebook Vu Kim Hanh.
Cùng thời điểm, CEO Tập Đoàn Asanzo Phạm Văn Tam được báo VietNamNet dẫn lời thanh minh: “Sản phẩm Asanzo không phải ‘Made in Việt Nam’ mà xuất xứ tại Việt Nam và nhập các linh kiện từ Trung Quốc về lắp ráp. Asanzo đang nhượng quyền cho một vài công ty khác sử dụng thương hiệu của mình, do vậy, Asanzo không có khiếu nại trước việc những đơn vị này thuê nhà sản xuất Trung Quốc đóng logo Asanzo vào sản phẩm điện gia dụng rồi nhập về bán tại thị trường trong nước.”
Phát ngôn của ông Tam bị cho là “đổ dầu vào lửa” vì ông này đánh tráo khái niệm hàng “xuất xứ tại Việt Nam” để che đậy nguồn gốc sản phẩm nhập từ Trung Quốc.
Hiện tại, một số trang web của các nhà bán lẻ lớn tại Việt Nam đã cho gỡ các sản phẩm của Asanzo khỏi kệ hàng hoặc chuyển sang trạng thái “hết hàng.” Tuy vậy, chưa có chỉ dấu gì cho thấy tập đoàn này sẽ bị cơ quan quản lý thị trường điều tra về tội gian lận.
Facebooker Hà Thanh Phúc bình luận trên trang cá nhân: “Nói ra thì đụng chạm chứ còn nhiều doanh nghiệp khác ở Việt Nam cũng toàn nhập hàng từ Quảng Châu về rồi thay mác thôi, hoặc đặt người ta gia công ra thành phẩm luôn. Bạn muốn gì ở Quảng Châu cũng có. Mình từng là dân đi buôn ở Quảng Châu một thời gian và bạn bè là dân buôn chuyên nghiệp hàng Quảng Châu đều biết điều này. Việt Nam còn lâu mới sản xuất được, mà có làm được thì giá thành cũng quá cao, sẽ kinh doanh không có lãi. Không chỉ ‘made in Vietnam’ mà từ Trung Quốc thành Ý, Pháp cũng dễ ẹc luôn!” (T.K.)

Nguyễn Xuân Phúc cho báo nhà nước ‘thả dàn phê phán Lý Hiển Long’

Thủ Tướng Singapore Lý Hiển Long (trái) gặp Thủ Tướng CSVN Nguyễn Xuân Phúc bên lề Hội Nghị Cấp Cao ASEAN 34 tại Bangkok, Thái Lan. (Hình: Facebook Lee Hsien Loong)
BANGKOK, Thái Lan (NV) – Trong lúc đang ở Bangkok, Thái Lan tham dự Hội Nghị Cấp Cao ASEAN 34, Thủ Tướng CSVN Nguyễn Xuân Phúc lệnh cho các báo nhà nước đồng loạt đăng bài nói ông “phê phán phát biểu ngày 31 Tháng Năm của Thủ Tướng Singapore Lý Hiển Long.”
Bài do Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) phát đi hôm 23 Tháng Sáu viết: “Tại buổi tiếp, Thủ Tướng [CSVN] Nguyễn Xuân Phúc phê phán phát biểu ngày 31 Tháng Năm, 2019 của Thủ Tướng Lý Hiển Long về phần liên quan đến Việt Nam và Cambodia giai đoạn 1979-1980. Thủ Tướng Phúc khẳng định lịch sử đã chứng minh những nhận định của phía Singapore về vai trò của Việt Nam vào thời điểm đó là không đúng và việc nêu lại những định kiến này làm tổn thương sâu sắc tới Việt Nam và Cambodia, đặc biệt là thân nhân của hàng trăm ngàn quân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh xương máu để mang lại hòa bình, giúp giải phóng nhân dân Cambodia khỏi chế độ Khmer Đỏ tàn bạo và cả quá trình xây dựng đất nước đầy khó khăn, gian khổ sau này.”
TTXVN viết tiếp: “Thủ Tướng Lý Hiển Long giải thích Singapore không có ý làm tổn thương Việt Nam, chỉ nhắc lại một chương đau buồn trong lịch sử Đông Dương để nhấn mạnh hòa bình, ổn định và thịnh vượng hôm nay không mặc nhiên mà có và bối cảnh hiện nay đòi hỏi ASEAN tiếp tục duy trì đoàn kết, gắn bó và tăng cường hợp tác. Thủ tướng Lý Hiển Long cũng nhấn mạnh, Singapore hết sức coi trọng quan hệ hữu nghị và tin cậy với Việt Nam…”
Tuy nhiên, người ta không hề thấy nội dung “bị Nguyễn Xuân Phúc phê phán” trên trang cá nhân của ông Lý (Facebook Lee Hsien Loong).
Vị thủ tướng Singapore post ảnh ông gặp ông Phúc cùng với ảnh ông gặp các vị lãnh đạo khác trong khu vực. Về cuộc gặp thủ tướng CSVN, ông Lý chỉ chú thích ngắn gọn: “Gặp gỡ Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc bên lề Hội Nghị Cấp Cao ASEAN. Rất vui khi tái khẳng định cam kết tăng cường quan hệ song phương tốt đẹp của chúng tôi.”
Ngay bên dưới post này, Facebooker Nguyễn Lục comment: “… bị phê bình về phát ngôn sao không dám đưa lên đây. From Vietnam whith [viết sai chính tả chữ ‘with’] love.”
Trước đó, đã có hơn 10 ngàn Facebooker có nick Việt Nam nhấn nút “angry” (giận dữ) bên dưới một post của Thủ Tướng Singapore Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long).
Trong post được đăng hôm 31 Tháng Năm để tưởng nhớ cố Thủ Tướng Thái Lan Prem Tinsulanonda vừa qua đời, ông Lý viết: “Thời gian ông Prem làm thủ tướng trùng với lúc các thành viên ASEAN (lúc đó chỉ có 5 nước) cùng nhau chống lại sự xâm lược của Việt Nam đối với Cambodia và chính phủ Cambodia thay thế Khmer Đỏ. Thái Lan ở tiền tuyến, đối mặt với các lực lượng của Việt Nam qua biên giới nước này với Cambodia. Tướng Prem đã kiên quyết không chấp nhận việc đã rồi, và đã cùng với các đối tác ASEAN, phản đối hành động xâm chiếm của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế…”
Đến thời điểm này, ông Lý không hề đưa ra lời xin lỗi về phát ngôn như phía chính phủ CSVN và các dư luận viên trông đợi. (T.K.)