Friday, March 8, 2019

Cách “làm báo” chỉ ở Việt Nam mới có: Dịch bài của phóng viên nước ngoài rồi đăng ở báo nhà mình mà không ghi nguồn!

”...Tui không phải nhà báo, chỉ là một blogger viết cho vui, có thể viết dở nhưng tôi tự hào là chưa bao giờ vi phạm điều này, chưa bao giờ đăng một bài, thậm chí chỉ một câu của người khác mà không ghi tên tác giả hoặc chỉ ghi tên mình vào hoặc không ghi rõ nguồn, nếu đấy là bài tui dịch thì tui cũng ghi rõ tui chỉ là người dịch...”
plagiarism
LTS: Cách “làm báo” này còn non nớt, thua xa cách mượn bài của một tay “dân chủ giả hiệu’, liều mạng chôm chỉa cả một quyển sách của một học giả và bộ trưởng Pháp biến thành bài vở của mình, để mong trở thành một chính trị gia khai sáng và lưu danh hậu thế, trở thành một lãnh tụ tài ba nhất Việt Nam. Nhưng thiên bất dung gian, đương sự đã bị lật tẩy. Sau khi bị tố cáo, đương sự đã không dám thưa kiện người vạch trần thủ đoạn tu hú của đương sự vì tội phỉ báng để lấy lại thanh danh của mình. Khi có đơn kiện, nhà xuất bản liên quan đến quyển sách này sẽ thành lập một ban điều tra và một ban dich thuật để xem xét đương sự đã sao chép như thế nào, đã đạo văn bao nhiêu câu, đã in bao nhiêu sách để từ đó tính thành tiền, và đi xa hơn nữa yêu cầu thu hồi tất cả những sách đạo văn đã xuất bản. Tác giả Hà Hiển có quyền tự hào có tư cách hơn tay “dân chủ giả hiệu” kia.
cach_lambao_chomchia01
Ảnh chụp phần cuối bài trên VnExpress có ghi tác giả An Hồng, thực ra
là bài dịch lại từ báo nước ngoài mà không dẫn nguồn
Vừa rồi tôi vào trang VnExpress đọc được bài khá hay với tên bài là Trump và Kim Jong-un có thể đã ‘bắt sai tín hiệu’ của nhau ký tên tác giả là An Hồng. Nhưng vì văn phong của bài viết, dù là tiếng Việt, vẫn mang đậm “mùi Tây” nên tôi đã nghi đây có lẽ là bài dịch từ một bài báo phương Tây. Tự lần mò một lúc thì tôi phát hiện ra đây chỉ là bài mà người có tên là An Hồng dịch lại gần như nguyên văn bài viết của một phóng viên có tên là Jullian Borger của tờ báo Anh nổi tiếng “The Guardian” (Người Bảo vệ) được viết và gửi từ Hà Nội với tên bài là The art of no deal: how Trump and Kim misread each other
Như vậy, anh (hoặc chị) có tên An Hồng chỉ có công dịch lại bài viết trên của tác giả Jullian Borger chứ không phải là tác giả của bài viết này. Dù bản dịch tương đối sát nghĩa, sáng sủa nhưng công của người dịch không thể bằng công lao của người viết ra nó được.
Không chỉ bài này, tui đã từng phát hiện rất nhiều bài báo phân tích về tình hình thế giới của các nhà báo nước ngoài trên các trang như BBC, CNN, New York Times…. được các “nhà báo” Việt “khai thác” bằng cách dịch lại gần như y chang rồi đăng trên trang của nhà mình rồi nghiễm nhiên ghi luôn tên mình ở dưới các bài đó mà không chú thích rằng mình chỉ là người dịch, cũng không đề cập gì đến tên tác giả hoặc thậm chí nguồn gốc của bài báo.
Theo tôi, đây cũng phải được coi là một dạng ăn cắp. Chôm bài theo kiểu này, người dịch và người biên tập tờ báo có nguy cơ bị kiện về việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nếu những người quản lý tờ “The Guardian” biết được điều này
Tui không phải nhà báo, chỉ là một blogger viết cho vui, có thể viết dở nhưng tôi tự hào là chưa bao giờ vi phạm điều này, chưa bao giờ đăng một bài, thậm chí chỉ một câu của người khác mà không ghi tên tác giả hoặc chỉ ghi tên mình vào hoặc không ghi rõ nguồn, nếu đấy là bài tui dịch thì tui cũng ghi rõ tui chỉ là người dịch.
Tôi tự thấy tui xứng đáng là tấm gương mẫu mực để nhiều “nhà báo” Việt học tập và làm theo về điều này.
Để chứng minh VnExpress đã copy bài báo của Jullian Borger trên trang “the Guardian”, xin mời các bạn đối chiếu nội dung tiếng Việt trên VnExpress và bài gốc bằng tiếng Anh dưới đây:
***
1) Bài trên VnExpress được ghi là của An Hồng:
Trump và Kim Jong-un có thể đã ‘bắt sai tín hiệu’ của nhau
(Bài được cho là của An Hồng đang trên VnExpress)
Sự không hiểu nhau giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Kim Jong-un có thể là lý do Mỹ – Triều Tiên không đạt được thỏa thuận tại Hà Nội.
Kể từ sau hội nghị thượng đỉnh lần thứ nhất tại Singapore, Tổng thống Mỹ Donald Trump không ngừng nhấn mạnh về mối quan hệ cá nhân thân thiết với Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un. “Chúng tôi đã yêu quý nhau ngay lập tức”, Trump tuyên bố trên báo chí. “Kim Jong-un đã viết cho tôi những lá thư với ngôn từ đẹp đẽ”.
Tờ Guardian của Anh bình luận rằng những lá thư viết tay đó “dường như đã đưa Trump lên mây và quên đề xuất cụ thể Kim sẽ làm gì để thực hiện phần bên kia của thỏa thuận”. Tuyên bố chung tại Singapore nhắc đến cụm từ “hướng tới phi hạt nhân hóa hoàn toàn bán đảo Triều Tiên”, nhưng Tổng thống Mỹ dường như đã hiểu rằng Triều Tiên “cam kết giải giáp hạt nhân đơn phương”.
Trong khi đó, truyền thông nhà nước Triều Tiên lại diễn giải cụm từ trên theo hướng các bên sẽ dần tháo ngòi căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên và thực hiện giải giáp vũ khí hạt nhân theo một lộ trình. Điều đó có nghĩa là Kim Jong-un có thể đã hiểu thái độ niềm nở của Trump tại hội nghị lần thứ nhất ở Singapore hồi tháng 6 năm ngoái là “dấu hiệu của sự tuyệt vọng muốn đạt được một thỏa thuận bằng được”.
Tổng thống Mỹ và lãnh đạo Triều Tiên “bắt sai tín hiệu” của nhau là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt lớn về quan điểm giữa hai bên. Chỉ đến khi họ gặp lại nhau ở Hà Nội, sự khác biệt này mới phát lộ. “Hai lãnh đạo chợt nhận ra họ không phải là đối tác lý tưởng của nhau như họ từng tưởng tượng”, phóng viên của Guardian bình luận.
“Rõ ràng ngay từ đầu Trump và Kim đã bị mắc kẹt ở câu hỏi phi hạt nhân hóa bao nhiêu và gỡ bỏ phần nào của lệnh trừng phạt”, Joseph Yun, cựu phái viên đặc biệt của Mỹ về Triều Tiên hiện đang làm việc cho Viện Hòa Bình ở Mỹ, nhận xét. “Cả Trump và Kim hiện nay đang ở thế cực khó. Tôi nghĩ Trump giờ đây mới nhận ra rằng dù Kim Jong-un có sức quyến rũ thế nào thì phi hạt nhân hóa hoàn toàn không có trên bàn đàm phán”.
Theo chuyên gia Yun, một nguyên nhân khác dẫn đến kết quả không như mong đợi tại Hà Nội là do hội nghị thượng đỉnh lần hai trùng với phiên điều trần trước Hạ viện Mỹ của cựu luật sư Michael Cohen của Trump. Trong phiên điều trần diễn ra đúng vào nửa đêm ngày 27/2 và rạng sáng ngày 28/2, Cohen đã gọi Tổng thống Trump là “kẻ dối trá” và “tên bịp bợm”. Sự việc đã giáng một “đòn chí mạng” lên ông chủ Nhà Trắng, đẩy Trump vào tình thế phải ra tay để xoay chuyển sóng gió ở Washington. “Trump phải rời Hà Nội với một kết quả gây choáng ngợp hoặc không gì cả”, chuyên gia này viết.
“Hai bên đã có thể ký một thỏa thuận nhỏ hơn”, chuyên gia Yun nói. “Nhưng theo tôi, Trump buộc phải có trong tay một thỏa thuận hoành tráng trong bối cảnh Cohen đang gây sóng gió ở Washington. Nếu không, Trump biết sẽ phải hứng chịu búa rìu dư luận”.
Trong khi đó, nhiều chuyên gia từng lên tiếng chỉ trích chính sách đối ngoại của chính quyền Trump, lại cho rằng lần này Trump đã hành động đúng khi từ chối nhượng bộ Kim Jong-un ở Hà Nội.
Tại họp báo vào chiều ngày 28/2, Tổng thống Mỹ nói nguyên nhân hai bên không đạt được thỏa thuận là do Bình Nhưỡng “muốn được gỡ bỏ hoàn toàn trừng phạt kinh tế”. Tuy nhiên, tại buổi họp báo tổ chức đêm đó, Ngoại trưởng Ri Yong-ho và Thứ trưởng Ngoại giao Cho Son-hui của Triều Tiên đã công bố thông tin trái ngược với những gì ông Trump nói trước đó. Theo Bình Nhưỡng, họ không yêu cầu dỡ bỏ hoàn toàn trừng phạt mà chỉ yêu cầu Mỹ dỡ bỏ 5 trong số 11 lệnh cấm vận hiện nay.
Joel Wit, một cựu quan chức ngoại giao Mỹ có kinh nghiệm nhiều năm đàm phán với Triều Tiên, hiện giữ chức cố vấn cấp cao của trung tâm nghiên cứu chính sách Stimson, đồng ý với bước đi của Tổng thống Mỹ. “Nếu mà là tôi, tôi cũng không ký một thỏa thuận nào cả. Tôi nghĩ không ký là đúng”, ông Wit nói.
Vipin Narang, một chuyên gia về phi hạt nhân hóa tại Học viện Công nghệ Massachusetts, cho rằng lãnh đạo Triều Tiên không nên cam kết đóng cửa tổ hợp hạt nhân Yongbyon trong khi thực tế Kim Jong-un chỉ muốn tạm dừng. Một bản cam kết bằng văn bản sẽ đẩy lãnh đạo Triều Tiên vào tình thế dễ bị cáo buộc “nuốt lời” và hậu quả là hai bên sẽ lại rơi vào thế đối đầu.
Các chuyên gia còn chỉ ra một điểm bất thường khác. Stephen Biegun, đặc phái viên được Mỹ cử đi đàm phán với Bình Nhưỡng trước thềm hội nghị thượng đỉnh lần hai, hoàn toàn “bị ra rìa” trong khuôn khổ hội nghị. Theo quan sát của phóng viên phương Tây, chánh văn phòng Nhà Trắng Mick Mulvaney đã thế vào vị trí của Biegun trong các cuộc đối thoại giữa Mỹ và Triều Tiên tại Hà Nội.
Theo cựu quan chức của Bộ Ngoại giao Mỹ Alexandra Bell, việc Biegun bị gạt ra khỏi hội nghị thượng đỉnh gây ngạc nhiên lớn. “Tổng thống đã nhiều lần gửi đi tín hiệu qua lời nói và hành động rằng ông ấy không thực sự tin tưởng Biegun dẫn dắt quá trình này”, Alexandra Bell, hiện là giám đốc chính sách của trung tâm Chống Phổ biến Vũ khí Hạt nhân và Kiểm soát Vũ khí, nhận định.
“Dựa vào những tuyên bố của Trump tại buổi họp báo ở Hà Nội, dường như ông ấy thật sự nghĩ rằng Mỹ đã có thể đạt được một thỏa thuận hoành tráng và tuyên bố chiến thắng. Tuy nhiên, đó không phải là cách tiến trình này diễn ra”.
AN HỒNG
2) Bài trên “The Guardian” của tác giả Jullian Borger
The art of no deal: how Trump and Kim misread each other
Julian Borger in Hanoi
Thu 28 Feb 2019 14.01 GMT Last modified on Fri 1 Mar 2019 11.30 GMT
hanoi_summit05
As with many disastrous second dates, the collapse of Donald Trump’s summit with Kim Jong-un was made inevitable by the misreading of each other’s intentions at their first encounter.
Since their initial meeting in Singapore last June, the US president had become fixated on what he saw as a close personal bond with the North Korean dictator half his age. He told his supporters: “We fell in love … He wrote me beautiful letters.”
Those hand-delivered missives appear to have flattered Trump without offering concrete proposals of what Kim was going to do as part of a bargain. A joint statement issued in Singapore stated North Korea’s commitment to the “complete denuclearisation of the Korean peninsula”, which Trump appears to have understood as a pledge of complete unilateral nuclear disarmament.
In North Korea, however, the phrase is a routine regime slogan that refers to a gradual defusing of tensions on the peninsula and phased multilateral disarmament, during which North Korea would be treated as a nuclear power.
For his part, Kim appears to have come away from Singapore interpreting Trump’s gushing behaviour as sign of a desperation to strike a deal, which would potentially leave most of his arsenal in place while normalising relations with the US and lifting sanctions.
These wildly different perceptions collided painfully in Hanoi, where the two leaders discovered each other not to be the ideal partner they had previously imagined.
“It was obvious from the beginning that they would get stuck on the questions of how much denuclearisation there should be and how much sanctions relief,” said Joseph Yun, former US special representative for North Korea policy now at the US Institute of Peace thinktank. “Both Kim and Trump are now in a very difficult position. I think Trump now has to realise that complete denuclearisation, however charming Kim may be, is not on the cards.”
Yun said that Trump’s room for manoeuvre was constrained by the timing of the summit, coinciding with a furious denunciation by his former lawyer in congressional hearings. The president’s embattled position in Washington meant he had to deliver something spectacular in Hanoi or nothing at all.
“Probably a smaller deal was possible,” Yun said. “But in my view Trump had to have a big deal, with Cohen going on in Washington. If he brought home a small deal he knew he would be heavily criticised.”
Many experts who have been severely critical of Trump’s diplomacy said they thought he had done the right thing by refusing to accept the deal apparently presented in Hanoi by Kim: sanctions relief in return for undertakings to shut down North Korea’s oldest and biggest nuclear weapons complex at Yongbyon.
The two sides dispute the extent of sanctions relief: the US has said Kim wanted complete relief, North Korea has said it was asking for partial relief.
“You can all argue whether this should have been done at a summit at all,” said Joel Wit, a former state department official with long experience of negotiating with North Korea and now a senior fellow at the Stimson Center thinktank. “I wouldn’t have done that deal either. I think it was the right thing to do not to sign.”
Vipin Narang, an expert on nuclear proliferation from the Massachusetts Institute of Technology, said it was “better that Kim Jong-un didn’t commit to shutting down Yongbyon if he was going to slow-roll it, because committing to it in writing and then leaving himself vulnerable to being accused of violating it sets us on a collision course”.
For the time being, Trump has shown no sign of a backlash against Kim in the face of Thursday’s bitter disappointment. He made clear he still believed in the North Korean despot’s good faith, even in the matter of the brutal and fatal torture of the US student Otto Warmbier in a North Korean prison.
Some had feared that when it became clear Kim had no intention of giving up his nuclear arsenal Trump would resort to the threats and insults which helped bring the two countries to the brink of war in the summer and autumn of 2017.
For all the claims of his ghost-written book The Art of the Deal, Trump revealed himself to be a profoundly flawed negotiator who failed to understand his counterpart, and convinced himself only he could clinch an agreement, nuclear experts said.
Stephen Biegun, the US special representative for North Korea, who had taken part in preparatory talks with North Korean officials, was sidelined at the summit, his place at the table taken by the acting White House chief of staff, Mick Mulvaney, who has minimal foreign policy experience.
Biegun’s marginalisation was “incredibly striking”, said Alexandra Bell, a former state department arms control official.
“The president has repeatedly signalled through word and deed that he doesn’t really trust Biegun to lead this process,” said Bell, senior policy director at the Center for Arms Control and Non-Proliferation. She recalled Trump’s lack of concern about extensive vacancies at the state department when he said: “I’m the only one who matters.”
“That may be the case to the president, but it means no one can work ably on his behalf,” she added. “Based on his remarks at the press conference, he seemed to intimate that he thought we could secure a grand bargain and declare victory. That’s not how any of this works.”
***
P/S – Sau khi đăng những bài này, tôi lại phát hiện người có tên là An Hồng lại dịch một bài nữa trên báo nước ngoài rồi đăng trên VnExpress, ghi tên mình vào mà cũng không dẫn nguồn. Lần này bên bị đánh cắp là CNN và tác giả Will Ripley – xem qua các link dưới đây:
Bài trên CNN:
Bài trên VnExpress:
Điều này chứng tỏ VnExpress và những “nhà báo” như ông (bà) An Hồng này đã “làm báo” theo cách láu cá này một cách có hệ thống!
Hà Hiển

Gián điệp ở ta & Gián điệp từ Tầu

”..Thế mới biết chủ trương cẩn trọng (thà bắt lầm còn hơn bỏ sót) của nhà nước ta chỉ áp dụng với đám dân mình thôi, chứ còn với bọn tình báo nước lạ thì chính sách lại hoàn toàn khác...”
giandiep_huawei
Tuần báo Trẻ – phát hành từ Dallas, Texas – vừa cho đăng một bài phỏng vấn do nhà văn Phạm Thị Hoài thực hiện, với lời mở đầu rất giản dị và ngắn gọn:
“Cuộc trò chuyện này được thực hiện qua thư điện tử, với nhà bất đồng chính kiến Phạm Hồng Sơn, người từng bị chính quyền Việt Nam kết án 13 năm tù, sau giảm thành 5 năm tù và 3 năm quản thúc, nay sống tại Paris, Pháp.”
Chỉ đôi dòng giới thiệu thế thôi thì tôi e hơi bị thiếu. Tưởng cũng nên viết thêm năm bẩy chữ nữa, cho nó rõ ràng, theo như nguyên văn bản tin của TTXVN:
“Phạm Hồng Sơn bị kết án 13 năm tù về tội gián điệp.”
Sau năm năm bị giam giữ, nhà nước CSVN vẫn chưa biết tù nhân chính trị này hoạt động tình báo ra sao nên ông được phóng thích, và chỉ bị quản thúc tại gia thôi. Thiệt là phúc đức và may mắn. Ít ra thì cũng may mắn hơn một người tù khác: Nguyễn Hữu Đang
Ngày 21 tháng 1 năm 1960, nhân vật này bị kết án 15 năm tù vì tội “phá hoại chính trị” và “làm gián điệp” bởi Toà Án Nhân Dân Hà Nội. Đây là một “phiên toà kín” nên không ai biết ông Thứ Trưởng Bộ Thanh Niên / Thứ Trưởng Bộ Tuyên Truyền (trong nội các đầu tiên của Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà) đã “làm gián điệp” cho quốc gia hay thế lực thù địch nào, và “phá hoại chính trị” ra sao?
Mười lăm năm sau, sau khi mãn hạn tù, Nguyễn Hữu Đang lủi thủi trở về làng quê ở Thái Bình. Nơi đây – trong thời gian 15 năm quản chế – ông sống sót nhờ thịt của … côn trùng và ếch nhái. Mười lăm năm sau nữa, khi đương sự đã bước vào tuổi bát tuần thì … “thánh đế (bỗng) hồi tâm. Thế là ông được cấp thẻ cử tri, và cho lĩnh lương hưu, cứ y như thể là chưa bao giờ có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra hết trơn hết trọi.
Lại thêm một trường hợp may mắn nữa, nếu so sánh với trường hợp ít may mắn hơn (chút nữa) của một tù nhân gián điệp khác nữa: Nguyễn Văn Phổ.
Tuy chỉ được công luận biết đến qua tác phẩm Chuyện Kể Năm 2000 nhưng đây không phải là một nhân vật hư cấu. Ông bị tù với tội danh “gián điệp” và “đốt bệnh viện,” dù cái bệnh viện này không hề bị cháy.
Sau gần 20 mươi năm bị giam giữ, Nguyễn Văn Phổ được tha. Khi ra khỏi tù thì mắt bị mù, nhà cửa bị tịch thu, và vợ đã đi tu – theo lời của một người bạn đồng tù:
“Tôi nhớ ngày tôi đến Thanh Xuân Bắc thăm anh khi cả hai chúng tôi đã được ra tù. Chúng tôi ôm lấy nhau. Câu đầu tiên tôi hỏi anh là hỏi về chị Phổ, người phụ nữ ‘chờ chồng từ năm 33 tuổi đến năm 51 tuổi vẫn chờ đợi và không chịu tuyệt vọng.’
– Chị đâu rồi anh?
– Nhà tôi vào Sài Gòn đi tu rồi.
Quá bất ngờ. Tôi chỉ muốn kêu trời. Hoặc thét lên một tiếng. Nhưng họng tắc nghẹn.
– Chị tu ở đâu. Anh cho tôi địa chỉ. Tôi sắp vào trong ấy. Để tôi đến thăm chị.
Phổ lấy giấy bút. Tôi nhìn theo tay anh:
Sư cô Trí Tuệ
Tĩnh xá Tòng Lâm
260 Nguyễn Thị Minh Khai (Xô Viết Nghệ Tĩnh
cũ) Quận 3. Thành phố Hồ Chí Minh.
Đưa tờ giấy cho tôi, anh hỏi:
– Anh có đọc được không?
Tôi ngơ ngác, không biết anh hỏi gì.
– Mắt tôi không nhìn thấy gì nữa. Tôi viết theo quán tính. Tôi nhận ra anh vì nghe giọng nói của anh.
Tôi khóc. Hôm ấy tôi đã không giữ được nước mắt. Những giọt nước mắt nóng bỏng. Những giọt nước mắt lặn vào trong. Suốt thời gian ở tù, cùng một toán, cùng là tổ trưởng, chưa một lần Phổ nói với tôi vì sao anh phải vào tù, vì sao anh tù lâu đến thế. Trong tù không ai nói với ai điều vì sao ấy. Chỉ đến khi chiếc máy bay không người lái của Mỹ bay qua khu vực trại, tiếng rầm rầm trên trời ập đến rất nhanh và tắt đi cũng rất nhanh để lại dấu vết là một vệt khói mảnh vắt ngang bầu trời rất lâu mới tan, Nguyễn Văn Phổ ngước mắt nhìn vệt khói nói một mình:
– Tiên sư cái thằng Mỹ. Mình bị nghi là gián điệp Mỹ mà nó còn mạnh thế này thì đến bao giờ được ra hở giời?
Anh chỉ nói vậy. Qua đó chúng tôi biết anh bị nghi làm gián điệp cho Mỹ. Theo nhiều người kể lại, Nguyễn Văn Phổ tham gia quân đội ngay trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp năm 1946. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người ký giấy cho anh trở vào Hà Nội hoạt động tình báo. Tổ tình báo của anh có ba người. Anh, nhà văn Vũ Bằng, và một đảng viên ít tuổi nhất làm tổ trưởng. Năm 1954, khi hiệp nghị Genève được ký kết, cả tổ được lệnh chuyển vào Nam, nhưng Phổ đã xin được ở lại Hà Nội. Ít ngày sau anh bị bắt vì tội đã đốt — hay định đốt? — nhà in Ideo.
Anh bị xử tù 15 năm. Sau đó xử lại, mức án rút xuống còn 8 năm rưỡi, và thực tù hơn 17 năm. Anh cười:
– Cái tổ tình báo của tôi chỉ có mỗi Vũ Bằng là không bị bắt. Cái anh tổ trưởng đảng viên ít tuổi kia khi vào Nam cũng bị ta bắt như tôi. Vũ Bằng thật là may…
Rồi anh rủ rỉ:
– Tôi về được ít ngày thì một cô sĩ quan công an đến nói năng rất lễ phép, tế nhị. Bác làm cho chúng cháu cái thu hoạch. Cháu biết bác cũng chẳng muốn nghĩ đến những chuyện ấy nữa nhưng đây là ý kiến cấp trên của cháu.
Tôi bảo: Cô nói tôi cũng làm nữa là cấp trên của cô. Tôi viết. Cuối cùng nó lại như một bản thanh minh anh ạ. Mới nghĩ nộp ngay cũng phí. Tôi đem thuê đánh máy. Gửi Viện Kiểm Sát một bản. Tháng sau đến Viện Kiểm Sát. Anh cán bộ phụ trách việc của tôi rất phấn khởi nói: Việc của bác thế nào cũng được xử lại. Cháu đang trình viện trưởng. Nửa tháng nữa mời bác quay lại.
Y hẹn, tôi tới. Anh cán bộ kiểm sát ỉu xìu: Không xong rồi bác ơi. Đồng chí viện trưởng không duyệt. Tôi cũng chẳng nghĩ ngợi gì. Tù thì tù rồi. Cũng sắp về với tổ tiên rồi. Bẵng đi lâu lâu, đã quên hẳn chuyện khiếu nại, thì anh cán bộ viện kiểm sát tới nhà: Bác ơi! Bác làm sổ hưu đi. Vụ của bác xử lại rồi. Trắng án.” (Bùi Ngọc Tấn. Hậu Chuyện Kể Năm Hai Ngàn. Tiếng Quê Hương: Fall Church, VA, 2015).
Nghĩ cho cùng thì đây vẫn cứ là một trường hợp … may mắn: trắng án! Chả hiểu đã bao nhiêu mảnh đời, bao nhiêu gia đình đã tan nát vì những cái án “trắng tinh” như thế. Tuy thế, vì an ninh quốc gia nên chiến thuật “thà bắt lầm hơn bỏ sót” vẫn là một chính sách xuyên suốt từ thời cụ Nguyễn Hữu Đang cho đến đám cháu chắt về sau – như lứa Phạm Đoan Trang:
“… có một tội rất nặng luôn lơ lửng trên đầu những người làm việc với các cá nhân, tổ chức nước ngoài: gián điệp. Làm cộng tác viên cho báo đài nước ngoài: gián điệp. Gặp gỡ các cơ quan ngoại giao để thảo luận về tình hình nhân quyền và dân chủ trong nước và quốc tế: gián điệp. Gửi báo cáo – nghiên cứu cho các tổ chức nước ngoài: gián điệp. Vận động nhân quyền cho Việt Nam trên trường quốc tế, phản ánh tình hình nhân quyền trong nước ra nước ngoài: gián điệp. Vân vân.”
Cẩn tắc vô áy náy! Tôi hoàn toàn tán đồng sự cẩn trọng cùng mức độ nghi ngại (quá cao) của Đảng và Nhà Nước Việt Nam, và chỉ hơi băn khoăn khi biết tin Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc tuyên bố muốn Huawei hợp tác với các doanh nghiệp Việt trong lĩnh vực an toàn thông tin – vào ngày 13 tháng 1 vừa qua.
Hoá ra người đứng đầu “Chính Phủ 4.0” không hay biết gì ráo về những lo ngại của cả thế giới hiện nay về những hoạt động tình báo của công ty Hoa Vi. Ngài cũng phớt lơ luôn sự kiện một quan chức Huawei đã bị bắt tại Ba Lan với cáo buộc làm gián điệp, chỉ vài hôm trước đó, cùng lời tố cáo về hoạt động tình báo của tổ chức này .
nguyenxuanphuc_huawei
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ Tịch Tập Đoàn Huawei
Ảnh: 
TTXVN
Nhà nước ta vốn rất cẩn trọng và nhậy cảm về những hoạt động tình báo, sao bỗng dưng lại khinh xuất và mù mờ thế nhỉ? Thế mới biết chủ trương cẩn trọng (thà bắt lầm còn hơn bỏ sót) của nhà nước ta chỉ áp dụng với đám dân mình thôi, chứ còn với bọn tình báo nước lạ thì chính sách lại hoàn toàn khác. Rất “vô tư” và hoàn toàn “thoải mái,” hay nói quá ra (chút xíu) là sẵn sàng “nhận giặc làm cha!” Tội danh này, xét ra, còn nặng hơn tội làm gián điệp cho nước ngoài nhiều.
Tưởng Năng Tiến

Thursday, March 7, 2019

Một quốc Gia không có đường đi!

”...Đất nước này có ngóc đầu nổi không khi để các nhóm lợi ích ngang nhiên tồn tại? Xuất nhập khẩu có thể cạnh tranh hay không khi mà phí chồng lên phí? Và đất nước này có vô lý hay không khi không có con đường đi cho người dân?..”
bot_vietnam
Việt Nam có thể là quốc gia duy nhất không có đường đi cho quốc dân đồng bào mình, theo một cái nghĩa nào đó vì lẽ đơn giản là muốn đi, người dân phải bỏ tiền ra mua đường, nếu không thì họ không bao giờ đi đâu được. Ai cho họ qua trạm BOT?

Có một nỗi buồn cay đắng hơn khi người ta lấy tên vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới, vì người ấy mà hàng triệu người sẵn sàng hy sinh tính mạng và của cải để xả thân chiến đấu giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, để đặt tên cho một con đường, đó là đường Hồ Chí Minh. Ấy vậy mà con đường ấy không bất kỳ ai có thể đi được nếu không phải móc tiền ra.

Nếu đi từ thành phố Hồ Chí Minh lên Gia Lai thì người ta thấy trên đất Bình Dương có hai trạm BOT thu phí 15000đ/ lượt đối với xe ô-tô con,các trạm còn lại, cứ cách nhau 70km là có một trạm, mỗi tram thu 35000đ/lượt đối với ô-tô con, 140000đ/ lượt đối với ô-tô tải. Trên đoạn đường trên dưới 800 km này, người ta phải chi vào khoảng 500.000đ tiền thu phí (đối với ô-tô con), số tiền này tương đương với một nửa tiền xăng dầu của chiếc xe.

Câu hỏi đặt ra là nếu người ta không muốn đi trên đường BOT thì còn có con đường nào để đi không? Nếu không thì rõ ràng quốc gia không có đường đi. Vậy là đường đi là tài sản riêng của những người có tiền? Ai cho phép họ tự tiện tiếm quyền của đất nước? Đây là việc làm tệ hại hơn thời kỳ phong kiến, thực dân!

Một khía cạnh khác là ai mà không biết Ban Quản lý đường Hồ Chí Minh đã sử dụng hàng trăm ngàn tỷ ngân sách vào việc xây dựng con đường này, mà sao giờ nó lại biến thành tài sản của các nhà mạo nhận BOT? Vì lý do họ cơi nới ra thêm một chút mà tất cả đều thành sở hữu của họ?

Cái lắc léo là nó nằm ở chỗ cơi nới, thêm thắt chút đỉnh này. Nó có ý đồ và kịch bản ngay từ đầu. Một thứ chủ trương xấu xa, bẩn thỉu của lợi ích nhóm mà trong đó chỉ “nhà đầu tư” trá hình, những kẻ nắm tiền và Bộ Giao thông. Họ kê khống cho cố sát những khoảng đầu tư bổ sung mà đôi lúc cũng chưa thật sự cần thiết, để chia chát ngay từ khi dự án vừa chuẩn bị đầu tư và ngay lúc khởi công. Họ đổi chác nhau thời gian thu phí với những tính khác xa thực tế và viễn cảnh phát triển kinh tế đất nước. Đây cũng lại là một khoản tiền bỏ túi không nhỏ của những kẻ có thẩm quyền.

Sự lộ mặt sau vụ việc trạm BOT Dầu Giây bị cướp, cho đến việc thanh tra vào cuộc và kết luận rằng “không có gì bất thường”, người ta nhắm mắt cũng biết nó là cái gì. Giờ đây người dân bò ra đường để đếm xe qua trạm, làm lộ rõ những toan tính khốn nạn của những nhóm lợi ích thì Nhà nước trả lời như thế nào đây? Do tính toán dở, tính không sát thực tế ư? Láo! Các ông là những kẻ gian hùng đầy mưu ma chuớc quỷ, khôn lỏi và lọc lừa chứ đừng nói là thơ ngây.

Bây giờ biết hết rồi thì tính sao đây hay tiếp tục lì lợm và chay mặt chịu đấm để tiếp tục ăn xôi? Nhân dân đòi hỏi Quốc hội, Chính phủ phải nhìn thẳng vào sự thật để có biện pháp tức thì chứ không thể để cho bọn đầu trâu mặt ngựa ngang nhiên tung hoành xâm phạm tài sản quốc gia và lợi ích của nhân dân. Trước mắt là giảm giá xăng dầu, trừ ngay cái khoản tiền cầu đường cấu thành trong giá đó.

Đất nước này có ngóc đầu nổi không khi để các nhóm lợi ích ngang nhiên tồn tại? Xuất nhập khẩu có thể cạnh tranh hay không khi mà phí chồng lên phí? Và đất nước này có vô lý hay không khi không có con đường đi cho người dân? Có ngôi nhà nào được xây lên ở chỗ không có lối đi? Có kiến trúc sư nào ngu ngốc đến thế không? Có Chính phủ nào kiến tạo như thế không?

Tôi đang nói đến không chỉ là con đường Hồ Chí Minh mà muốn nói đến tất cả con đường trên toàn lãnh thổ Việt Nam nhưng cay đắng nhất vẫn là con đường mang tên Hồ Chí Minh (QL14).

Hay là đến một ngày nào đó con đường Hồ Chí Minh trên biển cũng sẽ có trạm BOT?
4-3-2019
Trần Mã Thượng

Vì sao “buôn thần bán Thánh” nở rộ như nấm sau mưa?

”...Gieo gì gặt nấy, việc làm đó, gây ra trào lưu nhiều công dân trong xã hội không còn tin ở chính mình, ở Nhà nước, ở gia đình, ở nhà trường, ở bệnh viện…, mà chỉ thực tin và ngưỡng vọng, cầu cứu và biết ơn các thế lực siêu nhiên...”
hailoc_chua
Nhiều người dân, kể cả các đại biểu Quốc hội đều quan tâm lo lắng và bức xúc trước thông tin về việc một số đại gia đầu tư xây các công trình tâm linh, nhưng được giao đất quá nhiều so với công trình. Ngoài ra, có những công trình nhà nước (sử dung tiền thuế của dân) đầu tư cơ sở hạ tầng như đường, điện, nước, cũng như các lực lượng quản lý, giữ trật tự, an ninh phục vụ cho việc “buôn thần-bán thánh” nở rộ như nấm sau cơn mưa!
Chùa chiền, nhà thờ, miếu mạo, lăng tẩm càng nhiều… là dấu hiệu về sự mất lòng tin vào thể chế và u mê của dân chúng, báo hiệu điều không lành về văn hoá của ta. Cứ thế này, thì đám đông chỉ còn tin vào Chúa, vào Phật, vào Thánh vào Thần, chứ sao tin vào Đảng vào Chính quyền được.
Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc, đa tôn giáo. Người dân luôn ủng hộ bảo tồn và phát huy giá trị di sản của cha ông để lại. Tuy nhiên, chùa chiền và các khu tâm linh đã và đang xây dựng ồ ạt với quy mô rất lớn lại chủ yếu là cho dân tộc Kinh, cho đạo Phật. Vậy điều này có làm cho các dân tộc khác, các đạo khác (đặc biệt là đồng bào và chức sắc đạo Thiên chúa) chạnh lòng không? Có ảnh hưởng tiêu cực đến chủ trương đại đoàn kết dân tộc không? Vai trò tham mưu của Bộ Văn hóa Thông tin du lịch, và Ban tôn giáo Chính phủ ở đâu? Phải chăng đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước vượt tầm nhìn của các cơ quan tham mưu?
Nhìn lại lịch sử
Phật giáo Viêt Nam nhất là Phật giáo ở miền Bắc đang trong giai đoạn phục hồi, sau giai đoạn bị “đánh tơi bời” thời cải cách ruộng đất. Tuy Phật giáo vào Việt nam trên 2000 năm nay nhưng Phật giáo Việt Nam vẫn là một nền Phật giáo trẻ, đang phát triển mạnh về lượng, chứ còn rất yếu về chất –  cùng chung với trào lưu phục dựng hàng ngàn lễ hội mà báo chí đã viết nhiều.
Nhiều chùa, nhiều sư, nhiều phật tử nhưng chưa có một nền Phật giáo mạnh và lành mạnh. Hiện nay, có hiện tượng đua nhau xây chùa, xây các khu tâm linh, tín ngưỡng, rồi khai thác, thu lời. Không phải vô cớ mà trên ngay cả các báo chính thống của Nhà nước cũng có một loạt bài lên án việc lợi dụng này như:  “Công ty chùa và giai cấp phú tăng”; ”Ồ ạt xây chùa kinh doanh-chủ đầu tư ngôi chùa lớn nhất thế giới tại Hà Nam thu lời như thế nào”?; “Kinh doanh văn hóa tâm linh phải xem đây là những dự án kinh tế”; “Tâm linh và nhiều hệ lụy không thể đong đếm”; “Xin các người hãy buông tha cho Yên Tử”; “ Đội quân giữ tiền công đức ở chùa Bái Đính”: “Đầu tư nạo vét sông Sao Khê Ninh Bình đội vốn lên 36 lần”; “Có hay không buông lỏng quản lý đầu tư luật nhân quả không từ một ai” vv… 
Theo tôi hiểu, những cao tăng đức cao, vọng trọng khá ít ỏi như Sư Ông Thích Nhất Hạnh, Hòa thượng Thích Thanh Từ (các cụ cũng trăm tuổi cả rồi) mới cố thủ trong dòng phái của mình, chứ sân khấu chính của Phật giáo lại do những người khác còn rất xa với phẩm hạnh của các cụ chủ trì. Trong nội bộ giới Phật giáo cũng còn nhiều tam độc (Tham – Sân – Si) và nhiều chuyện phức tạp lắm. vv… Đó là chưa kể đến câu chuyện cài cắm người vào hệ thống sư sãi tạo ra một tầng lớp “sư giả” có thể góp phẩn làm hỏng Phật giáo – một thế giới lẽ ra không còn thế tục.
Buông lỏng quản lý 
Việc phục hồi Phật giáo do chính quyền nhận ra không thể “đối đầu” với niềm tin tôn giáo như đã từng làm trong quá khứ. Thậm chí, chính quyền còn có vẻ thiên vị Phật giáo hơn các tôn giáo khác vì Phật giáo  có vẻ an phận hơn, hiền lành hơn, và thậm chí chính quyền dễ “điều khiển” hơn. Nhiều vị quan chức cao cấp cũng rất “tín”. Nhiều sư tìm cách thu nạp đệ tử, tiếp cận các quan chức thông qua các “quan bà” vốn cũng rất “tín”. Nhiều sư trở nên bóng bẩy như các đại gia, và cũng tham gia chính sự như một thế lực ngầm. Xu hướng dịch chuyển từ “đối đầu” chuyển sang “nuông chiều” thái quá.  Nhiều biểu hiện chưa đúng xung quanh việc xây chùa, lễ phật, lễ hội, dịch vụ cúng sao giải hạn… thường được bỏ qua.
Có lẽ các quy định pháp lý xung quanh câu chuyện Phật giáo của Nhà nước không được chặt chẽ nên quản lý nhà nước đang ở trạng thái “buông lỏng”, trong đó có câu chuyện khá tù mù về quyền sở hữu tài sản của chùa gồm cơ sở thờ tự, tiền công đức…. Riêng chủ đề này cũng cần có một khảo sát nghiên cứu riêng để đánh giá. Hiện tượng các đại gia bỏ tiền xây chùa và nhận những ưu đãi khủng từ phía Nhà nước điển hình như đại gia Xuân Trường bị công luận “chiếu tướng” cũng không có gì lạ!
Thế giới đang đầu tư cho cách mạng, công nghệ, giáo dục… trong khi tại VN lại có những dự án khủng cho một lĩnh vực mà lằn ranh giữa tâm linh và mê tín dị đoan là khá mỏng manh. Xem ra hướng phấn đấu của dân tộc ta đang rất có vấn đề.
Ngôi chùa truyền thống của VN là những ngôi chùa làng nhỏ, phục vụ nhu cầu tâm linh của cộng đồng ngôi làng ấy. Không phải vô cớ mà bao đời nay các đời Vua của ta không bao giờ cho xây chùa to cả. Vì chùa hoàn toàn do dân tự bỏ tiền và mua đất xây. Nhà nước cấp thì rất ít. Đấy là ngày xưa mình còn là đất rộng người thưa, nhưng bây giờ cấp hàng ngàn hecta thì thành ra vương phủ rồi. Từ góc độ văn hóa, những ngôi chùa quá khủng không phải là nét văn hóa tâm linh truyền thống của người Việt. Việc các dự án khủng này được chính quyền ưu đãi thực sự đáng đặt dấu hỏi.
Doanh nghiệp tư nhân đi làm chùa, sở hữu chùa, thu tiền công đức như Xuân Trường thật bất thường. Chùa là thiết chế tôn giáo khác với doanh nghiệp, nơi người ta trao gửi niềm tin, tâm linh. Doanh nghiệp có giàu cỡ nào mà muốn ủng hộ phật giáo thì cúng dường, dựng tượng… hoặc nếu có phát tâm xây chùa thì cũng là cúng dường – tài sản ấy nên được chuyển giao quyền sở hữu cho Phật giáo chứ không phải doanh nghiệp xấy chùa và sở hữu chùa.
Chùa và kinh doanh du lịch: Nếu đã có chùa sẵn rồi, du khách tâm linh kéo đến và doanh nghiệp phát triển cung cấp các dịch vụ phục vụ khách thì cũng bình thường. Đằng này là xây các cơ sở dịch vụ là chính, sau đó xây thêm một ngôi chùa vào đó để tăng yếu tố “tâm linh” là bất thường. Phật giáo là để giác ngộ chúng sinh chứ không phải là yếu tố phục vụ cho các cơ sở kinh doanh.
Việc cấp hàng ngàn ha đất tại Ninh Bình, Thái Nguyên, Hải Phòng… cho cho các doanh nghiệp tư nhân có biểu hiện rõ của lợi ích nhóm – nếu cho điều tra có khi lại trở thành các đại án. Tử chuyện quy hoạch, từ diện tích cần thiết để xây chùa quá nhỏ so với diện tích tổng thể đất được cấp, sự chồng chéo các dự án, các dự án đầu tư công… rất tù mù, rất thiếu minh bạch. Căn cứ nào cho việc cấp hàng ngàn ha đất cho các doanh nghiệp xây chùa như vậy?
Thay cho lời kết
Nhà bác học thiên tài Albert Einstain và Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhiều nhân vật nổi tiếng khác đều rất tin vào thượng đế. Trên mạng xã hội có câu nói rất đáng suy ngẫm “Các nhà khoa học tin vào thần thánh, thượng đế còn các nhà vô thần lại tin vào cácnhà khoa học“ để suy ra cách ứng xử cần thiết và đúng mực trong cuộc sống đời thường đối với cả quá khứ, hiện tại và tương lai.
Tín ngưỡng là nhu cầu hợp pháp và cần thiết cho một bộ phận dân chúng xã hội. Một số đại gia lợi dụng chính sách và có kẻ “chống lưng”, lấy nhiều đất côn, đất của dân, kể cả sử dụng nguồn ngân sách để đua nhau xây cơ sở hạ tầng phục vụ chính cho việc xây chùa chiền lớn, rồi thu lời, không ai kiểm soát nổi. Gieo gì gặt nấy, việc làm đó, gây ra trào lưu nhiều công dân trong xã hội không còn tin ở chính mình, ở Nhà nước, ở gia đình, ở nhà trường, ở bệnh viện…, mà chỉ thực tin và ngưỡng vọng, cầu cứu và biết ơn các thế lực siêu nhiên.
Tô Văn Trường

“Siêu” chùa và công nghiệp tâm linh

”...nếu không chấm dứt việc xây dựng chùa chiền tràn lan núp bóng những dự án “du lịch tâm linh” để trục lợi; nếu không loại bỏ những lễ hội mang tính bạo lực, phản cảm, khích lệ mê tín dị đoan; nếu không… thì văn hóa dân tộc sẽ đi về đâu?..”
Bài “Siêu” chùa và công nghiệp tâm linh vừa được Vietnamnet đưa lên sáng nay thì vài tiếng sau bài đã bị gỡ. Mình xin đăng lại bài đã gửi báo qua email. Tít bài theo báo đã đưa.
“Siêu” chùa và công nghiệp tâm linh
Những cái nhất không hợp lòng dân
Thời gian gần đây, xứ mình “đoạt” được nhiều cái nhất thế giới, từ vật bé mọn như bánh chưng, bánh phồng tôm, tô phở, ly cà phê,… đến cái to lớn như đường sá, cáp treo, chùa chiền,…
chua_baidinh01
Ảnh trên GDVN: Ngôi chùa được coi là chùa to nhất thế giới.
(Ảnh: NB)
Không bao lâu nữa, bạn bè quốc tế sẽ phải ngả mũ thán phục trước một công trình đồ sộ mà có lẽ trong tương lai chưa một nước nào đủ sức vượt qua: Ngôi chùa lớn nhất thế giới, tọa lạc trên một diện tích 5.100 ha (tương đương 51km2), xấp xỉ bằng diện tích một xã lớn ở miền núi hay một huyện nhỏ ở đồng bằng Bắc bộ.
Những cái “nhất” như thế, liệu có đáng để tự hào? Liệu có phải là minh chứng cho sự phát triển, phồn thịnh của đất nước trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa?
Bánh chưng nặng hàng tấn không sử dụng được, tô phở vừa làm xong phải đổ đi, ly cà phê có dung tích cả ngàn lít, xong giây phút kỉ lục rùm beng thì cũng rơi vào quên lãng.
Chùa tuy to nhất châu lục, lớn nhất thế giới nhưng “hoành tráng không tôn nghiêm/ồn ào không tĩnh lặng/Phật vẫn buồn ngàn năm”.
Rõ là những cái “nhất” như thế không làm nên thương hiệu Việt kiểu như Honda, Yamaha của Nhật Bản, Samsung, Hyundai của Hàn Quốc hay Vivo của Trung Quốc.
Có cái nhất vô bổ, chỉ để thõa danh hão nhất thời của một số ít người nhưng cũng có cái nhất khiến ông chủ của nó hốt bộn tiền.
Đua xây chùa to có phải vì thành tâm với Đức Phật?
Dư luận không khỏi ngỡ ngàng trước một loạt những dự án du lịch tâm linh siêu khủng đang mọc lên như nấm.
Những siêu dự án ấy được chính quyền cấp hàng ngàn héc ta nhưng chỉ một phần rất nhỏ dành cho việc xây dựng chùa chiền, còn lại chủ yếu là để xây các tổ hợp kinh doanh giải trí, tham quan – nghỉ dưỡng như nhà hàng, khách sạn, biệt thự, sân golf,… Toàn những thứ xa xỉ, cao cấp không có chỗ cho người lao động đang vất vả với cuộc mưu sinh.
Để mọc lên những khách sạn, nhà hàng, resort, sân golf trên diện tích hàng ngàn héc ta như thế, thật không dễ nếu tách khỏi dự án khoác áo “du lịch tâm linh”.
Có một ngành “công nghiệp không khói” mới mẻ đang hình thành mà lợi nhuận của nó không một ngành nghề nào có thể theo kịp, vượt xa cái gọi là “một vốn bốn lời”.
Đó là ngành “công nghiệp tâm linh” với những “Công ty nhà chùa”, “thị trường thần thánh”, “doanh nhân sư sãi”,….
Hàng vạn, hàng vạn người đang bị dẫn dụ, cuốn vào vòng xoáy vận hạn: Cầu may, cầu tài cầu lộc, cầu chức tước, dâng sao giải hạn,…
Cả một xã hội chìm trong khói hương, sì sụp quì lạy, chen chúc, giành giật để mong đạt được điều không tưởng. Nó hoàn toàn xa lạ đối với giáo lý tốt đẹp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Câu răn “Phật tùy tâm” chẳng còn nghĩa lý gì giữa thời buổi kim tiền.
Đức Phật nào ở trong những ngôi chùa hào nhoáng, hoành tráng với những kỉ lục vô đối?
Tôi bỗng nhớ đến hình ảnh ngôi chùa một thời khi tóc còn để chỏm. Những ngôi chùa của làng thường tọa lạc giữa đồng không mông quạnh, mái ngói rêu phong. Cảnh chùa tĩnh lặng, bình yên, có cái gì đó khiến cho mọi người kể cả những đứa trẻ như tôi tin ở chốn linh thiêng khiêm nhường ấy có Ngài (Đức Phật) ngự, để rồi tự răn mình luôn làm điều thiện, tránh xa cái ác, lo tu tâm tích đức.
Rồi chiến tranh đi qua, những ngôi chùa gắn bó bao đời với làng quê không còn nữa, phần vì do bom đạn, phần vì do chính bàn tay con người với tư duy một thời quyết xóa sạch những gì được cho là tàn tích của phong kiến.
Bây giờ thì, không chỉ chùa cũ được phục dựng, người ta còn đua nhau xây chùa mới. Những ngôi chùa hoành tráng, siêu khủng, lòe loẹt mọc lên như nấm. Nó quá xa lạ so với những ngôi chùa cổ kính bé nhỏ nhưng đậm chất văn hóa của ông cha.
Phú quí sinh lễ nghĩa! Đành là thế, nhưng lễ nghĩa nào thì cũng phải tiếp nối dòng chảy muôn đời trong truyền thống văn hóa dân tộc.
Nhưng buồn thay, hình như mọi giá trị đang bị đảo lộn.
Nếu không chấn chỉnh việc dung dưỡng những hành vi trái với giáo lí tốt đẹp của nhà Phật; nếu không chấm dứt việc xây dựng chùa chiền tràn lan núp bóng những dự án “du lịch tâm linh” để trục lợi; nếu không loại bỏ những lễ hội mang tính bạo lực, phản cảm, khích lệ mê tín dị đoan; nếu không… thì văn hóa dân tộc sẽ đi về đâu?
Nguyễn Duy Xuân

Những điều chưa thấy

”...Tôi không ngại đưa ra dự đoán về nguyên nhân có thể chấm dứt chế độ hiện hữu chính là hậu quả của ô nhiễm phát tác không kềm lại được. Cảnh báo này không đồng nghĩa với bảo vệ chế độ mà vẫn từ nỗi lo lớn hơn: thoái hoá giống nòi...”
chebien_rac
Các hội viên phụ nữ xã Nghi Thạch, huyện Nghi Lộc tích cực tham gia mô hình “Biến rác thải thành thẻ BHYT”. Một diểm sáng đáng ghi nhận dù những điểm sáng như thế còn quá ít tại Việt Nam.
(Nguồn ảnh: Phụ nữ Việt Nam)
Người Việt nặng cảm tính, ít trọng khái niệm nên các thông số môi trường khô khan ít khi lấy động được đám đông. Nhưng nếu xâu chuỗi lại các tác động của ô nhiễm thì có lẽ là một câu chuyện khác mà ở đó, không chỉ đám đông mà các chính trị gia cũng phải quan tâm và thay đổi.
Nghiên cứu mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chỉ ra tại Việt Nam có đến 98% dân số đang bị phơi nhiễm với nồng độ bụi PM2.5 (bụi mịn) cao hơn mức khuyến cáo của WHO. Những bệnh như tim mạch và đột quỵ là những nguyên nhân phổ biến nhất gây nên tử vong sớm có liên quan đến ô nhiễm không khí. Nó chiếm tới 80% số ca tử vong sớm liên quan đến bệnh này tại Việt Nam. Tiếp theo đó là các bệnh về phổi và ung thư phổi.
So với các tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn về an toàn không khí của WHO thì chỉ số chất lượng không khí (AQI) năm 2017 nhiều lần vượt ngưỡng. Cụ thể, tại Hà Nội có 99 ngày vượt quá quy chuẩn quốc gia và 257 ngày vượt quá tiêu chuẩn của WHO; tại TPHCM có 14 ngày vượt quá quy chuẩn quốc gia và 222 ngày vượt quá tiêu chuẩn của WHO.
Những điều này cho thấy tiêu chuẩn quốc gia về an toàn không khí (lẫn các chỉ số an toàn khác) là thấp nhiều so với mặt bằng chung thế giới. Và ô nhiễm dạng phơi nhiễm chính là cách tích tụ bệnh tật rất từ từ, rất rộng, hậu quả cũng rất rất lớn.
Không phải là chuyện “trời kêu ai nấy dạ”. Càng chẳng phải “sống chết có số”. Những quan niệm lỗi thời ấy bị khoa học bẻ gãy về luận cứ với các phát hiện sự liên quan giữa ô nhiễm với các bệnh có nguy cơ tử vong cao. Lấy ví dụ về bệnh tiểu đường- một bệnh dị truyền và liên quan đến chế độ ăn uống, thì nay đã có nghiên cứu chứng minh ô nhiễm không khí cũng gây ra tiểu đường.
Một máy lọc không khí chỉ giúp “pha loãng” thứ không khí ô nhiễm trong phòng. Một khẩu trang chống bụi PM2.5 chỉ bảo vệ tạm người dùng khi đi chuyển trên đường. Đó không phải là vấn đề gốc cần giải quyết trước thực trạng ô nhiễm hiện nay!
Ngăn chặn bằng chính sách đối với việc nhập công nghệ lạc hậu tạo ra các nguồn thải, trồng lại rừng và thay thế chôn lấp rác bằng công nghệ tái chế mới xử lý được vấn đề.
Nhưng vấn đề đầu tiên không phải tiền đâu để nhập công nghệ hiện đại hay công nghệ tái chế rác. Mà ở cách hệ thống chính trị này nhận định ra sao về phát triển. Những bản báo cáo đẹp về thu hút đầu tư, phát triển GDP mà “quên” các hậu quả về ô nhiễm chỉ có tác dụng tô điểm nhiệm kỳ của chính trị gia trước Đại hội Đảng XII (đầu năm 2021).
Quá trình “rút sợi dây kinh nghiệm” ấy chỉ tạo ra một số tỉ phú, triệu phú đô la và cũng tạo ra vô số các bệnh tật do ô nhiễm, nhiều cái chết bởi bệnh tật do ô nhiễm. Nếu nhìn xa hơn, các khoản “lãi vay” mang tên bệnh tật, tăng gánh nặng bảo hiểm y tế, giảm cơ hội cạnh tranh cá nhân lẫn cạnh tranh quốc gia sẽ khiến đất nước suy yếu. Kể cả yếu tố nhạy cảm là an ninh quốc phòng không thể không tính đến những núi chất thải sẽ bị kẻ thù “lạ mà quen” bắn vào và phát tán ra sao theo gió, theo nguồn nước…
Trên thực tế, đất nước đang suy yếu và không có một nghiên cứu toàn diện nào để đánh giá ngưỡng chịu đựng về ô nhiễm của quốc gia. Các bản báo cáo giàu tính từ hay các sáo ngữ của chính trị gia trước Quốc hội không chút tác dụng nào để giảm thiểu được ô nhiễm.
Tôi không ngại đưa ra dự đoán về nguyên nhân có thể chấm dứt chế độ hiện hữu chính là hậu quả của ô nhiễm phát tác không kềm lại được. Cảnh báo này không đồng nghĩa với bảo vệ chế độ mà vẫn từ nỗi lo lớn hơn: thoái hoá giống nòi.
Đó là một quá trình vô cùng đáng sợ!
Quá trình ấy sẽ không dừng lại bởi cách mà chúng ta thờ ơ với suy nghĩ “trời kêu ai nấy dạ” như đã nhắc ở trên. Quá trình ấy vẫn cứ đau đớn bởi sự thiếu thông tin của người dân và thiếu minh bạch của quan chức. Quá trình ấy cũng chính là hiện thực hóa những điều chưa thấy hoặc thấy nhưng im lặng, thờ ơ của hôm nay.
Chưa thấy, thì rồi cũng bắt buộc phải thấy thôi…
Mai Quốc Ấn
Chú thích: Các hội viên phụ nữ xã Nghi Thạch, huyện Nghi Lộc tích cực tham gia mô hình “Biến rác thải thành thẻ BHYT”. Một diểm sáng đáng ghi nhận dù những điểm sáng như thế còn quá ít tại Việt Nam. (Nguồn ảnh: Phụ nữ Việt Nam)

Phụ nữ Việt ý thức về quyền của họ đến đâu?

Trung Khang, RFA-2019-03-06  
Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội trước đây.
 Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội trước đây.AFP
Theo quan niệm Á Đông từ xưa nay, người phụ nữ thường bị xem là nhân vật đứng sau người chồng, chăm lo công việc gia đình và chỉ là tác nhân góp phần cho sự thành công của người chồng ngoài xã hội. Tuy vậy xã hội đang thay đổi và ngày càng có nhiều phụ nữ ý thức được về vai trò, quyền của họ rồi tự vươn lên làm chủ cuộc sống.
Nhân dịp 8 tháng 3, chúng tôi ghi nhận ý kiến của một số phụ nữ tại Việt Nam về vấn đề liên quan.
Ngày 8 tháng 3 là Ngày Quốc Tế Phụ Nữ trên nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Để có được ngày này nữ giới trên nhiều nước đã phải tranh đấu cho quyền lợi của nữ giới qua nhiều giai đoạn, hàng thế kỷ trước.
Đã hơn 1 thế kỷ, những đòi hỏi chính đáng của phụ nữ đã được giải quyết bằng cách này hay cách khác trên nhiều quốc gia. Còn tại Việt Nam hiện nay, người phụ nữ được hưởng quyền lợi của mình như thế nào?
Chị Nguyễn Thị Kim Tiến nhận định:
“Đã năm 2019 rồi, tôi thấy cũng có nhiều phụ nữ Việt Nam ý thức được cái quyền của họ. Ở Việt Nam thì đặt nặng tư tưởng phong kiến nhưng ngày nay đã có chuyển biến rất là nhanh, có nhiều phụ nữ hiểu về cái quyền của mình. Riêng tôi nghĩ thì con người sinh ra vốn đã không bình đẳng, nhưng mình phải hướng đến việc đòi hỏi sự bình đẳng cho giới tính của mình.”
Khi trao đổi với Đài Á Châu Tự Do hôm 6 tháng 3 năm 2019, từ Nha Trang, Chị Nguyễn Lai thì cho rằng:
"Từ xưa đến nay, người phụ nữ vẫn luôn được tôn vinh, được ca ngợi không chỉ bởi vẻ đẹp bên ngoài mà còn bởi vẻ đẹp của nội tâm bên trong. Đó là cái đẹp của đức tính cần cù, chịu thương, thịu khó, cam chịu và hy sinh. Đó cũng là đặc tính của người phụ nữ Việt. Nhưng trong xã hội ngày nay, người phụ nữ VN chịu thiệt thòi quá nhiều trong đời sống , định kiến của xã hội, một xã hội chuyên hô hào khẩu hiệu nhưng luôn làm ngược lại với những điều luật đã đưa ra."
Cùng quan điểm, Chị Trang ở Hòa Bình nói:
“Thật ra phụ nữ ở Việt Nam không hẳn được bình đẳng mà vẫn phải phụ thuộc nhiều vào đàn ông, không được nói lên tiếng nói của mình, nhiều mặt khác cũng không được thể hiện rõ ràng. Thật ra tôi thấy những cái không công bằng đối với phụ nữ cũng rất là nhiều cái, người có tiền thì không sao, còn không có tiền thì lúc nào cũng phải chịu thiệt.”
Theo Chị Nguyễn Lai, quyền lợi của đa số người phụ nữ Việt Nam rất là thua thiệt, hầu như không có. Vẫn còn tình trạng chồng đánh vợ, không những trong gia đình, ngoài xã hội cũng có những người đàn ông đánh phụ nữ rất vô cớ:
"Thật nực cười khi hiện tại luật bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ khá nhiều như Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân gia đình… Tuy nhiên, phụ nữ vẫn chịu thiệt thòi, yếu thế. Chưa có nơi nào nạn bạo hành phụ nữ lại nhiều như ở Việt Nam, nhất là những người bất đồng chính kiến, chuyện 4,5 thằng đàn ông giả danh côn đồ đánh một người phụ nữ đến ngất xỉu là chuyện thường tình, chuyện đối xử bất công đối với các tù nhân nữ về tội chính trị xảy ra ở nhiều trại tù cộng sản." 
Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội trước đây.
Ảnh minh họa chụp tại Hà Nội trước đây. AFP
Trong lịch sử xã hội Việt Nam, quyền của người phụ nữ rất hạn chế, bởi vì Việt Nam nằm trong chế độ phong kiến thực dân. Nhưng nhìn lại quá trình lịch sử thì vai trò của người phụ nữ lúc nào cũng muốn vượt trội lên để thể hiện quyền phụ nữ của mình. Đó nhận định của Bà Bùi Thị Minh Hằng. Theo bà, người phụ nữ Việt Nam đều có sự kế thừa những truyền thống từ xưa cho đến nay. Tuy nhiên, trong xã hội cộng sản cai trị như hiện nay thì quyền con người hầu như không có, vì vậy rất ảnh hưởng đến quyền của người phụ nữ:
“Bản thân tôi, những năm tháng trong nhà tù Gia Trung, tôi đã từng làm nhiều việc yêu sách về nữ quyền, như chuyện có nhiều phụ nữ ở tù cả hai mươi năm nhưng chưa từng được chăm sóc sức khỏe phụ nữ, khám phụ khoa. Tôi đã hướng dẫn các chị em đòi hỏi cái quyền của họ, đầu tiên phải cho những người xung quanh biết cái quyền mà mình phải được hưởng, trong đó có quyền đòi hỏi phải được chăm sóc sức khỏe y tế. Dù là bị cầm tù nhưng chúng tôi cũng đưa ra những yêu sách để đòi bằng được những quyền đó. Cuối cùng trại giam Gia Trung cũng phải chấp nhận đưa các đoàn bác sĩ bên ngoài về khám, bao gồm khám phụ khoa cho phụ nữ.”
Nhìn chung, đa số phụ nữ Việt Nam là những người giúp việc của gia đình, bị nhiều bất công. Những ai chịu hết nổi sự bất công, dám đấu tranh thì có thể dẫn đến gia đình đổ vỡ.
Vậy các Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hay các hội, ngành địa phương có giúp đỡ gì cho các chị em phụ nữ phải chịu bất công. Để tìm hiểu, chúng tôi liên hệ số điện thoại đường dây nóng bảo vệ phụ nữ và trẻ em được quảng bá trên Trang Chủ của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, tuy nhiên không ai nghe máy. Thử hỏi nếu có trường hợp khẩn cấp, thì người gọi phải làm sao?
Liên quan vấn đề này, Chị Nguyễn Thị Kim Tiến nhận định:
“Các ban ngành hội phụ nữ của chính phủ thì đa phần họ lập cho có, chưa thật sự quan tâm đến quyền của phụ nữ cũng như đời sống của người phụ nữ trong xã hội hiện nay.”
Chị Nguyễn Lai cho biết kinh nghiệm khi viết bài hướng dẫn các các bé gái vị thành niên hay phụ nữ tránh bị bạo hành, xâm hại:
"Ở Việt Nam, nạn bạo hành và xâm hại tình dục trẻ em - phụ nữ ngày càng gia tăng . Có những trường hợp hiếp xong rồi thủ phạm giết chết luôn. Thật đau lòng. Mặc dù chính quyền đã thành lập các hội phụ nữ, hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, nhưng thật chất chỉ là các hội ăn hại. Họ đã làm gì khi tệ nạn bạo hành phụ nữ và trẻ em ngày càng tăng???"
Trong xã hội Việt Nam hiện nay, chính phủ hầu như không thực hiện hầu hết quyền con người nói chung, đặc biệt nữ quyền còn bị hạn chế hơn nữa, ngay cả có những quyền phụ nữ bị tước đoạt. Vì vậy, theo Bà Bùi Thị Minh Hằng, phải hướng dẫn những người xung quanh phải biết nhận thức, hiểu biết về pháp luật, những quy định đó cụ thể ra sao. Bà nói tiếp:
“Tôi từng đi nhiều nơi, ngay cả ở thành thị, có những người phụ nữ, có lẽ do đặc thù công việc, cuộc sống họ cũng không hiểu những quyền của họ nữa. Vì vậy việc tuyên truyền đến mọi tầng lớp người dân rất quan trọng.”
Theo bà, không cần phải quảng bá không thực tế như các hội ngành thuộc nhà cầm quyền hay làm, mà chỉ cần từ những câu chuyện trong cuộc sống, hướng dẫn cho nhau để đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình.
Còn Chị Nguyễn Lai thì cho rằng phụ nữ Việt Nam phải biết mình luôn có cái quyền: Quyền được yêu thương, quyền được bình đẳng. Hãy biết sống cho bản thân mình và biết dứt áo ra đi nếu ai đó không làm mình hạnh phúc để tự trả lại tự do cho chính bản thân mình và nhất là tự do chọn người đại diện đấu tranh cho quyền lợi phụ nữ.