Tuesday, December 25, 2018

Lý thuyết của Marx chỉ là cặn bã của văn hóa Âu châu

Chu Chi Nam và Vũ Văn Lâm (Danlambao) - Lénine có viết: “Chủ thuyết của Mác là tổng hợp nền triết học Đức, nền kinh tế Anh và tư tưởng xã hội của Pháp.” 

Bề ngoài thì có vẻ đúng, nhưng đi xâu vào vấn đề, xét từng trường hợp một, thì không phải vậy. 

Có một nhà tư tưởng khác sau này có nói: “Tư tưởng của Mác chỉ là cặn bã của nền văn hóa Âu châu đặc biệt là 3 nước Đức Anh và Pháp.”

Thực vậy, nếu nói tinh hoa văn hóa, triết học của Đức, người ta phải nói tới Goethe về văn chương, Kant của trường phái duy lý (rationalism), Hégel, trường phái duy ý (idéalisme) và nhiều triết gia khác, như Nietzsche, trường phái tự do, chứ không phải là trường phái duy vật (matérialisme) của Marx. Nếu ai đến nước Đức, để ý, thì thấy dân Đức không đề cao, tôn thờ hay đề cập nhiều đến Marx. Ngược lại, ở nước Đức, nhất là dân Tây Đức, người ta nói nhiều đến Kant, Hégel hay Nietzsche về triết học, và Goethe về văn học. Tại nước Đức, nhiều thành phố có viện Goethe, chứ không có viện Marx. 

Đó là về triết lý, về kinh tế Anh, thì như thế nào? Phải chăng tư tưởng của Marx là tổng hợp truyền thống kinh tế Anh như Lénine nói? 

Cũng không phải như vậy. 

Nhưng phải nói tư tưởng kinh tế của Marx đã bị ảnh hưởng sâu đậm bởi một nhà kinh tế Anh là David Ricardo (1772- 1823). Người ta có thể nói tư tưởng Thặng dư Giá trị (la plus-value) của Marx là khởi đầu bởi Ricardo. Có người cho rằng về phương diện kinh tế, Marx là học trò của Ricardo. Điều này cũng chỉ đúng một phần, và chỉ đúng về vấn đề giá trị hàng hóa, điều mà Marx đã viết và hoàn thành quyển Tư Bản luận đầu tiên; nhưng 2 quyển sau thì Marx không thể hoàn thành, phải đợi đến Engels. Nhưng Engels chỉ tóm lược và đưa ra những lý luận liều lĩnh mà Marx thận trọng không dám lấy. Như vấn đề duy vật biện chứng, Marx cẩn thận không dám đi sâu vào lý luận, mà chỉ nhấn mạnh đến phần duy vật sử quan. 

Cả hai người Ricardo và Marx đều cho rằng hàng hóa có giá trị là vì có những lượng lao động được tích lũy qua nhiều tiến trình đã tiềm ẩn ở trong hàng hóa đó. Tuy nhiên ở điểm này, cả 2 người gặp phải những khó khăn, mà ngày hôm nay chúng ta thấy rất rõ: Người ta đi câu cá, vì con cá nó có giá trị, hay vì người ta bỏ thì giờ đi câu nó, nên nó mới có giá trị. Lấy trường hợp 2 người cùng đi câu một chỗ, một người vì giỏi câu hay vì hên, nên chỉ một giờ sau câu được con cá lớn. Người khia phải mất cả 10 giờ, mới câu được con cá nhỏ. Vậy 2 con cá, con cá lớn chỉ câu mất 1 giờ, còn con cá nhỏ, phải mất 10 giờ, con cá nào có giá trị. 

Vì vậy thuyết cho rằng hàng hóa có giá trị, vì có lao động ngầm chứa trong hàng hóa đó, thuyết này chỉ đúng một phần, vì đụng phải giá trị chênh lệch của lao động. 

Ricardo đã giải quyết vấn đề này qua trường phái tự do kinh tế, kinh tế thị trường, vì ông là một lý thuyết kinh tế quan trọng của Trường phái kinh tế thị trường, mà ông tổ là Adam Smith (1723-1790), cũng một người Anh. Nhưng Karl Marx không chịu, cố tìm cách giải quyết vấn đề một cách “ Khoa học “. Đấy là sự khác biệt giữa Marx và Ricardo. Nhưng đây cũng chính là một cái bẫy, Marx tự giăng ra, và tự mắc vào, vì kinh tế là một khoa họ nhân văn, không phải khoa học chính xác như toán học (2+2=4). 

Nền kinh tế Anh, ngay từ lúc đầu với Adam Smith, ông tổ của kinh tế thế giới, qua Ricardo, có thể nói là một phần của Marx, trong phần nói về giá trị hàng hóa, tới mãi sau này với Keynes (1883-1946) là trong trường phái kinh tế tự do, tôn trọng quyền tư hữu, tin tưởng ở tự do kinh tế, ở luật cung cầu của thị trường. Trong khi đó Marx chủ trương bãi bỏ quyền tư hữu, chủ trương kinh tế nhà nước, khác hẳn với kinh tế tư nhân; nên bảo tư tưởng của Marx là tổng hợp kinh tế Anh là sai. 

Về tư tưởng xã hội của Pháp thì như thế nào? 

Về điểm này, chúng ta không cần dài dòng, chúng ta chỉ nói đến 2 người cùng thời với Marx (1818-1883) là Pierre-Joseph Proudhon (1809-1865) và Victor Hugo (1802-1885). 

Proudhon là người đã từng bút chiến với Marx, đã được Marx khen là người có những cái nhìn sắc bén về kinh tế. Proudhon cùng ở trong và là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản cùng với Marx và Engels; nhưng Proudhon đã chống Marx và Engels đến kỳ cùng trong tổ chức này, vì Proudhon chủ trương chính sách vô trị, cũng như Bakounine (1814-1876), người Nga như Lénine, người có uy tín ở Nga hơn cả Lénine, và có ảnh hưởng với Proudhon ở Đậ Nhất quốc tế Công sản. Trong khi đó Marx chủ trương độc tài vô sản. 

Proudhon đã từng tiên đoán: “Nếu lý thuyết của Marx mà đượ áp dụng, thì nó sẽ trở thành con sán lãi (le téniéa) của xã hội “. Ngày hôm nay, cả trăm năm sau, quả lời tiên đoán này là đúng. Đảng cộng sản là một chính quyền thứ nhì, đứng đằng sau chính quyền chính thức, hút hết máu mủ của dân. 

Người thứ nhì có tư tưởng xã hội, nhưng chống cộng sản, đó là văn hào Victor Hugo. Ông viết rất nhiều sách bênh vực người nghèo, chống cường quyền như quyển Những Kẻ Bần cùng (Les Misérables). Ông từng nói: 

“Bắt con đại bàng làm con chim chích, buộc con thiên nga làm con vịt trời, bỏ mọi người vào cùng một giỏ để xóc, để ai cũng như ai. Đó là cộng sản, và đó cũng là cái mà tôi không thích.” 

Chỉ 2 tác giả cùng thời này cũng đủ cho ta thấy tư tưởng của Marx chẳng có ăn nhập gì với tư tưởng xã hội Pháp, như Lénine nói. 

Tuy nhiên có một câu hỏi được đặt ra là vào những năm 20, ngày thành lập ra Đảng Cộng sản Tàu, 1921, bởi Trần độc Tú, Lý đại Siêu, Mao trạch Đông v.v…, ở Á châu nói chung và 2 nước Tàu và Việt Nam nói riêng, không có ai nhìn thấy cái sai trái của lý thuyết Marx, cặn bã của văn hóa Âu châu? 

Câu trả lời là có. 

Ở bên Tàu có Tướng Tưởng giới Thạch. Ở Việt Nam có cụ Phan Bội Châu. 

Tưởng Giới Thạch, vào những năm 20, là đồ đệ của Tôn Dật Tiên, người khởi xướng cuộc cách mạng Tân hợi 1911 ở bên Tàu, đã được họ Tôn gửi sang Liên sô để học. Nhưng ông chỉ ở lại có mấy tháng rồi trở về. Có người hỏi, tại sao ông không ở bên đó để học. Ông trả lời: ở bên đó không có cái gì để tôi học. Ông nói tiếp: Một con người không có xương sống, thì suốt đời chỉ nằm và bò. Cộng sản chủ trương phá hủy, giết giai cấp trí thức và trung lưu, xương sống của một xã hội, nên tôi không có gì để học ở bên đó. 

Cũng vào đầu những năm 20, cụ Phan Bội Châu đang hoạt động ở bên Tàu, Hồ Chí Minh đang sống ở bên Pháp. Cả 2 người đều được người của Đệ Tam quốc tế Cộng sản gặp, chiêu dụ vào tổ chức này. Hồ chí Minh thì chấp nhận và xem như đã tìm được chân lý, như lời ông tự thuật trong quyển Vừa đi đường vừa kể chuyện dưới tên Trần dân Tiên. Nhưng cụ Phan Bội Châu đã tìm cách từ chối khéo: “Tôi chẳng duy vật và cũng chẳng duy tâm, tôi chỉ duy dân.” 

Lý thuyết của Marx chủ trương duy vật, đấu tranh giai cấp, bạo động lịch sử. Theo ông, cách mạng cộng sản sẽ tất yếu xẩy ra, và chỉ xẩy ra ở những nước kỹ nghệ, vì chỉ ở những nước này mới có đội quân cách mạng cộng sản thực sự, tức những người thợ thuyền, những người vô sản, không có phương tiện sản xuất, chỉ biết bán sức lao động để sống. 

Marx hy vọng cách mạng cộng sản tất yếu sẽ xẩy ra ở bên Anh, vì đây là quốc gia làm cách mạng kỹ nghệ đầu tiên trên thế giới. 

Marx chờ hoài. Cách mạng cộng sản tất yếu không xẩy ra ở Anh. Marx quay sang hy vọng ở Đức. Nhưng cách mạng cộng sản tất yếu cũng không xẩy ra ở Đức. Rồi Marx chết vào năm 1883. 

Điều này chứng tỏ lý thuyết cộng sản của Marx không gây được ảnh hưởng tại 3 nước Anh, Đức, Pháp nói riêng và những nước kỹ nghệ Âu châu nói chung. Ba mươi bốn năm sau, Lénine lấy lý thuyết của Marx, làm cuộc đảo chính ở Nga, nước chưa có kỹ nghệ, còn ở trong tình trạng nông nghiệp. 

Một câu hỏi nữa được đặt ra: Phải chăng văn hóa Âu châu chỉ có những cái cặn bã như lý thuyết của Marx, mà không có những tinh hoa? 

Câu trả lời là văn hóa Âu châu có rất nhiều tinh hoa, mà những nhà lập quốc Hoa kỳ đã biết thâu tóm tất cả những tinh hoa của Âu châu, đặc biệt là 3 nước Đức, Anh và Pháp, trong bản Tuyên ngôn độc lập và Bản Hiến pháp Hoa kỳ. 

Chúng ta hãy cùng nhau xem xét đâu là tinh hoa của 3 nước Đức, Anh, Pháp, mà những nhà lập quốc Hoa kỳ, từ Washington, John Adams, Thomas Jefferson, Benjamin Franklin, Hamilton, v.v… và nhiều người khác, đặc biệt là 13 người Đại diện 13 tiểu bang lúc đầu, đã nắm vững, thấu hiểu, rồi dùng nó, áp dụng để lập quốc. 

Trong những người trên, hai người tiêu biểu, một người đại diện cho văn hóa Đức Anh là nhà bác học Bejamin Franklin (1708-1790). Ông là người tự học, làm nhà in, nhà báo, sau nổi tiếng, rồi trở thành nhà bác học, nhà chính trị. Ông được xem là người soạn thảo chính ra bản hiến pháp Hoa kỳ. 

Thomas Jefferson (1743-1826) là người tiêu biểu cho văn hóa Pháp, bạn của Diderot, Voltaire, d’Alembert, Condorcet, người soạn thảo ra bản Tuyên ngôn Độc lập, là Tổng thống thứ 3 của Hoa kỳ. 

Có thể nói, người ta có thể tìm thấy phảng phất trong bản Tuyên ngôn độc lập, bản Hiến pháp Hoa kỳ những tinh hoa của 3 nước lớn Âu châu là Đức, Anh và Pháp, mặc dầu cách cuộc Cách mạng Cộng sản của Lénine xẩy ra sau 141 năm, nếu lấy năm 1776, ngày tuyên bố bản Tuyên ngôn độc lập và cách ngày thành lập đảng Cộng sản Tàu (1921) là 145 năm. 

Chúng ta cũng xét từng quốc gia một trong lãnh vực triết học, văn hóa, văn chương, kinh tế. 

Hãy bắt đầu bằng nước Đức. Với truyền thống triết học duy lý (le rationnalisme) bắt đầu bởi Emmanuel Kant (1724-1804), chứ không phải chủ nghĩa duy vật của Marx, với câu nói nổi tiếng “Trời ở trên đầu tôi với những ngôi sao chiếu sáng và luật đạo đức trong người tôi.” Quan niệm trọng lẽ phải, không nói dối đã ảnh hưởng sâu đậm đến những nhà soạn thảo hiến pháp Hoa kỳ. 

Ngoài ra quan niệm thương người, thương vật, yêu thiên nhiên, chống lại chủ thuyết bạo quyền của Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) qua câu “Bạn ơi, tất cả những chủ thuyết đều có màu xám xịt, chỉ có con người, cuộc sống và thiên nhiên mới có màu xanh! “ 

Ngày hôm nay những người trong Đảng Xanh của Đức cho rằng Goethe là người đi trước cũng không ngạc nhiên. 

Ngoài ra Đức còn rất nhiều những triết gia, trong đó có Friedrich Nietzsche (1844-1900) của trường phái tự do, không theo trường phái nào. Ông có một câu nói nổi tiếng: “Sự tôn thờ một chủ thuyết quá độ không những là một sự lừa dối chính bản thân mình, sự lừa dối những người khác, và hơn thế nữa là một tội ác.” 

Lénine đã tôn thờ chủ thuyết của Marx một cách quá độ, tiếp theo là Staline, Mao, Hồ và Polpot, cùng nhiều lãnh tụ khác của những nước Á Phi, Nam Mỹ theo cộng sản, đã mang lại thảm họa cho nhân loại, với 100 triệu người chết vì cộng sản, được chứng minh qua quyển sách Quyển Sách Đen về chủ nghĩa cộng sản (Le Livre noire du Communisme), của những sử gia Pháp như Stéphane Courtois, Margolin v.v… 

Chính vì vậy mà ông Ronald Reagan Tổng thống Hoa kỳ (1980-1988), có thể nói tương đương với thời kỳ của Đặng tiểu Bình trở lại nắm chính quyền từ năm 1978, cho tới khi biến cố Thiên an Môn 1989 xảy ra, đã nói: “Lịch sử nhân loại có nhiều trang sử đau thương và đẫm máu nhưng không có trang sử nào đau thương và đẫm máu bằng những trang sử cộng sản.” 

Với nước Anh, nước này có một truyền thống dân chủ, kinh tế và triết học có thể nói là lâu đời, với những người như Shakespeare (1564-1616), Hobbes (1588-1679), Lock (1632-1704), Adam Smith (1723-1790), Keynes (1883-1946). Và cũng là nước dẫn đầu trong vấn đề dân chủ, làm cách mạng kỹ nghệ đầu tiên, dẫn đầu trong tư tưởng kinh tế. 

Lénine nói tư tưởng của Marx là tổng hợp kinh tế Anh là không đúng. Không cần chứng minh dài dòng: truyền thống kinh tế Anh là kinh tế tự do, thị trường, tôn trọng quyền tự do tư hữu và quyền tự do kinh tế, như chủ trương của Adam Smith, trong khi đó Marx chủ trương bãi bỏ quyền tư hữu, kinh tế tập trung, do nhà nước quyết định. 

Về triết lý, Lock chủ trương sự khoan dung, độ lượng giữa những thành viên của một xã hội, trong khi đó Marx chủ trương đấu tranh giai cấp. Lock chủ trương xây dựng xã hội dân sự, dựa trên quyền tư hữu; trong khi đó Marx chủ trương tiêu diệt quyền tư hữu và xã hội dân sự. 

Phải kể thêm tính cách phong phú, nhân bản, chống bạo quyền, tiền tài và quyền lực của William Shakespeare (1564-1616). Ông cho rằng tiền tài và quyền lực là hai thứ dễ làm hư con người nếu dùng nó không cẩn thận và cần phải có những lực kềm chế nó. Những vỡ kịch của ông đi từ tình yêu như Roméo và Juliette, đến Hamlet, Antoine và Cléopatre, cùng rất nhiều vở kịch khác, thật là uyên bác và phong phú. 

Người ta có thể nói tinh thần của Shakespeare đã ăn sâu vào đầu óc những nhà lập quốc Hoa kỳ. 

Đó là đối với Đức và Anh còn với Pháp thì sao? 

Như trên đã nói, người thấm nhuần văn hóa Pháp là Thomas Jefferson, bạn của Condorcet, Diderot, Voltaire, với câu nói nổi tiếng: “Tôi biết rằng anh khác ý kiến tôi, nhưng tôi vẫn cố gắng tranh đấu để anh được phát biểu.” 

Bản Tuyên bố độc lập mở đầu bằng câu “Mọi người sinh ra đều bình đẳng… Chính quyền được lập ra là để bảo vệ hạnh phúc và an ninh của dân.” Đó là một khế ước xã hội (Contrat social), nếu chính quyền, tức kẻ cầm quyền không làm tròn khế ước này, thì người dân, tức kẻ bị trị, có quyền truất phế chính quyền. Đó cũng là tinh thần của quyển Le Contrat social của Jean Jacques Rousseau. 

Tinh thần tam quyền phân lập rõ ràng, mà người ta thấy trong Hiến pháp Hoa kỳ, đó chính là tinh thần của quyển Về tinh thần luật pháp (De l’Esprit des Lois) của Montesquieu. 

Ngoài ra Thomas Jefferson còn là bạn thân của Condorcet, một người quí tộc, nhưng đi theo Cách mạng Pháp 1789 ngay từ lúc đầu. Người ta có thể nói ông là tác giả đầu tiên Bản Tuyên ngôn nhân quyền, và là tác giả của một chương trình giáo dục hiện đại nhất lúc bấy giờ, và cũng là tác giả của luật Cưỡng bách giáo dục, bắt tất cả các chính quyền phải cho bất cứ một con em nào, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giai cấp, được đi học khi còn vị thành niên. 

Chính Jefferson đã lấy chương trình của bạn mình áp dụng cho tiểu bang Virginie, nơi ông làm thống đốc, sau đó cho Hoa kỳ, khi ông lên làm tổng thống thứ 3. 

Tóm lại, vì là cặn bã của văn hóa Âu châu, đặc biệt là của 3 nước Đức, Anh, Pháp, nên hậu quả của lý thuyết Mác trong suốt thế kỷ 20 vừa qua và vẫn còn cho tới ngày hôm nay đã mang đến biết bao đau thương, thảm họa cho nhân loại. 

Những quốc gia nào, cá nhân nào còn tôn thờ lý thuyết này, nên suy ngẫm lại. 
Xin đọc thêm những bài về Marx, trên http://perso.orange.fr/chuchinam/ 

Paris ngày 24/12/2018 


Thêm nạn nhân tử vong sau khi bị đưa về đồn công an

CTV Danlmabao - Chỉ vài giờ sau khi bị bắt và đưa về đồn công an, ông Nguyễn Minh Sang (46 tuổi, ngụ tại quận Tân Bình, Sài Gòn) được gia đình đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong với tình trạng chấn thương sọ não, tổn thương phổi.

Theo thông tin từ gia đình cho biết, ông Sang bán quán ăn ở khu vực chợ Phạm Văn Hai. Vào trưa ngày 20 tháng 12, ông Sang đi ngang qua ổ đánh bầu cua ăn tiền trên đường Đình Đền (trong khu vực chợ) thì có công an phường 2 (quận Tân Bình) ập tới.

Nghi ngờ ông Sang có tham gia đánh bạc, một công an lao vào dùng dùi cui đánh, khống chế và đưa ông về trụ sở công an phường. 

Khoảng 15h cùng ngày, khi gia đình đến thì ông Sang mặt mày tím tái, liên tục than đau đầu rồi mê man. Gia đình đưa nhập viện nhưng đến 6h ngày 23 tháng 12 thì ông Sang đã tử vong.
Theo kết quả chụp CT tại bệnh viện Chợ Rẫy thì ông Sang bị chấn thương sọ não, tổn thương phổi.
Cũng theo gia đình cho biết thì ông Sang không bị bệnh tật gì trước khi bị công an bắt giữ.

Trước cái chết đầy oan khuất của nạn nhân, công an quận Tân Bình nhanh chóng phủ nhận trách nhiệm và cáo buộc ông Sang “bỏ chạy và bị té”.

Đã có ít nhất 13 trường hợp công dân tử vong tại đồn công an trong năm 2018 được loan tải mà người dân biết đến. Đồn công an của chế độ CSVN đã và đang trở thành hiện trường của các vụ án giết người. Tuy nhiên đây lại là khu vực cấm, nằm ngoài vòng pháp luật, báo chí, gia đình nạn nhân khó có khả năng tiếp cận hiện trường.

Từ năm 2010 đến nay đồn công là nơi công dân Việt Nam đi dễ khó về. Hầu hết những người “được mời”, hay bị bắt giữ đều không thể bảo vệ được sức khỏe, tính mạng của mình. Đồn công an là nơi mà những kẻ giết người mà không phải đền tội.

Cũng cần phải nhắc thêm rằng, nhà cầm quyền CSVN coi việc tổng hợp những cái chết của công dân trong đồn công an tại Việt Nam cũng là “hành vi phạm tội”. Tài liệu Stop Police Killing Civilians - thu thập thông tin về 31 trường hợp công dân tử vong sau khi làm việc với công an đã từng được sử dụng như bằng chứng phạm tội nhằm kết án blogger Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước” vào năm 2017.

Trong khi Việt Nam vừa trả lời chất vấn về Công ước chống tra tấn thì ông Nguyễn Minh Sang lại là nạn nhân kế tiếp chết dưới tay công an.
25.12.2018

Thương anh “cán ngố”

Điệp Mỹ Linh (Danlambao) - Vừa chuyển sang Yahoo news, thấy tấm hình đoàn di dân từ Nam Mỹ hướng về Hoa Kỳ đang lội bì bỏm trong dòng sông Suchiate, bà Liên ngồi lặng yên; nhưng trong tâm tưởng của bà, hình ảnh từng đoàn người đói khổ/rách rưới/tàn tạ dắt díu nhau đi tìm đất sống – vào thập niên 40 – trong “vùng giải phóng” lại hiện về! 

Thập niên 40, bà Liên chỉ là đứa bé con, không thể nào hiểu được tại sao ông Thông – Bố của bé Liên – lại hãnh diện, tự hào để cùng nhiều thanh niên trí thức miền Nam đưa gia đình “thoát ly” đời sống đầy tiện nghi ở thành phố, trốn ra “bưng”, tham gia Việt Minh để chống Tây! Không thể nào bé Liên hiểu và có thể nhớ được cuộc khởi hành đầy phiêu lưu, vô định của gia đình; nhưng bé Liên lại nhớ cảnh hãi hùng khi thấy cầu, đường cái quan, đường xe lửa đều bị Việt Minh phá hủy và nhà cửa, xóm làng của dân cũng đều bị Việt Minh san bằng! 

Vì xóm làng, nhà cửa không còn, đồng bào phải đi tìm đất sống. Đó là lý do lúc nào cũng có nhiều đoàn người nheo nhóc, bồng bế nhau đi bộ dọc theo đường cái quan loan lở. Các đoàn người tản cư cứ đi hết làng này qua làng khác. Đến bất cứ làng nào đoàn người tản cư cũng chỉ thấy quang cảnh xơ xác, điêu tàn! 

Giữa sự điêu tàn gần như toàn diện của thôn làng lại nổi lên mấy khẩu hiệu chói lọi: “Đả đảo thực dân Pháp tàn phá quê hương ta”, “Toàn dân hy sinh đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược”, v.v… Mỗi khi thấy khẩu hiệu như vậy, ông Thông cười “nửa miệng”, nói nhỏ với bà Thông: “Việt Minh đúng là thứ vừa ăn cướp vừa la làng.” 

Thời điểm đó bé Liên chưa có ý niệm gì về địa lý, nhưng khi đoàn người tản cư đến cầu Ông Chừ, bé Liên lại biết mọi người đang hướng về Nha Trang, quê Nội của bé. Lý do bé Liên nghĩ như thế là vì thời gian ông Thông chưa bị thuyên chuyển ra làng Sơn Tịnh – Quảng Ngải, để nhận nhiệm vụ Trưởng Ban Văn Nghệ Quân Khu V – thỉnh thoảng bé Liên thấy ông Thông, với ánh mắt buồn vời vợi, ngồi trên mỏm đá phía bên nay cầu Ông Chừ (Tuy Hòa), lặng lẽ nhìn về phía bên kia cầu. Bé Liên hỏi: “Sao Ba buồn quá vậy?” Ông Thông xoa tóc con: “Ba nhớ bà Nội!” Như chợt nhớ chủ nghĩa “tam vô” do Việt Minh chủ xướng và những lần bị kiểm thảo tư tưởng vì dạy bé Liên học Pháp văn hoặc dạy bé Liên đàn, hát những tình khúc ướt lệ, ông Thông vội vàng tiếp: “Con! Con đừng nói lại với ai, nhen, con!” Bé Liên đáp: “Dạ, con biết rồi.” 

Nhớ lại hình ảnh đói khổ, cơ hàn trong “vùng giải phóng” ngày xưa rồi nhìn quanh quán bún bò trước căn nhà lụp xụp của bà bây giờ – nơi vùng kinh tế mới, sau năm 1975 – bà Liên nhận thấy cuộc sống sau năm 1975 cũng chẳng khác chi cuộc sống cơ hàn trong “vùng giải phóng” khi xưa! 

Khi xưa, cơ cực nhưng gia đình sum vầy; bây giờ, ông Thông bị tù tại trại tù Nghĩa Phú về “tội” Trưởng Ty Nội An Thị Xã Cam Ranh; Sơn – em của bà Liên – bị giam ở trại tù A-30 về “tội” sĩ quan “Ngụy”; bà Thông qua đời vì bệnh ruột thừa nhưng vì chồng là “Ngụy”, bác sĩ không chịu giải phẫu; em trai kế của Sơn phải vượt biên để khỏi thi hành “nghĩa vụ quân sự” bên Cao Miên; và ông Long, chồng của bà Liên, bị đưa ra Bắc vì có “nợ máu” với nhân dân! 

Mỗi khi nghĩ đến ông Long, không thể nào bà Liên không nhớ lại thời gian ông phục vụ tại các đơn vị tác chiến Hải Quân. Là đơn vị trưởng, ông Long phải có ám từ truyền tin; ông chọn Langdon làm ám hiệu. 

Nếu ông Long gan dạ, cứng rắn bao nhiêu thì bà Liên lại ủy mỵ, lãng mạn bấy nhiêu. Vì tâm hồn rất nhạy cảm và cũng vì tiếp xúc với âm nhạc từ bé, cho nên, khi phải trực diện với bất cứ tình huống nào, trong hồn của bà Liên cũng trỗi dậy dòng nhạc thể hiện được tâm trạng của bà vào thời khắc đó. Vì vậy, đang thương nhớ chồng, bà Liên chợt nhận ra tình khúc Tell Laura I Love Her của Ray Peterson đang ngân lên trong hồn. Bà Liên “ngân nga” nho nhỏ và đổi chủ từ cũng như túc từ cho phù hợp với tâm trạng của bà: “…Tell Langdon I love him. Tell Langdon I need him. Tell Langdon not to cry. My love for him will never die…” Vừa “ngân nga” đến đây, bà Liên cảm thấy thương nhớ luôn cả những đơn vị mà ông Long đã phục vụ. 

Thời gian ông Long phục vụ tại Vùng I Duyên Hải, mỗi lần đến Tiên Sa thăm chồng, nhìn thành phố Đà Nẵng lung linh trong ánh đèn, bà Liên tưởng như cả muôn vàn ngôi sao đang hội tụ trong thành phố thân yêu. 

Ngày trước, Đà Nẵng lung linh, huyền hoặc bao nhiêu thì tháng 03 năm 1975 – sau khi phải “nhận” không biết bao nhiêu đợt đại pháo của cộng sản Việt Nam (c.s.V.N.) – Đà Nẵng quằn quại bấy nhiêu! Cuối cùng, Đà Nẵng tan hoan! Đà Nẵng chỉ còn xác người, máu và nước mắt! 

Sau thời gian dài sống trong cảnh cơ hàn ở vùng kinh tế mới, bà Liên vui mừng khi hay tin Đà Nẵng hồi sinh. 

Nhưng, từ khi có laptop – do người em trai bên Mỹ gửi tặng – bà Liên đọc được tin nhiều phố Tàu đã “mọc” lên ngay trung tâm thành phố và dọc theo các bờ biển trong vịnh Đà Nẵng thì bà Liên buồn quá đổi; vì bà Liên hiểu rằng: Những cứ điểm quân sự, chiến lược quan trọng của Việt Nam tại Đà Nẵng đã “rơi” vào tay Trung Cộng! 

Nỗi buồn chưa nguôi, bà Liên lại đọc được tin trên news.zing.vn. Theo bài tường thuật của Đoàn Nguyên, Ngọc Minh: Gần 10 nhà cao tầng đã được xây dựng ở Đà Nẵng, khiến khả năng phòng thủ, tấn công của sân bay Nước Mặn bị tê liệt!... Thiếu tướng cộng sản Trần Minh Hùng – nguyên Phó tư lệnh Quân khu 5 – cũng lo lắng, xác nhận: “Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, vì sân bay này là nơi tác chiến phòng thủ của các đơn vị quân đội”. 

Tại khách sạn cũng như các khu phố Tàu, họ đem người Tàu – nhập cảnh vào Việt Nam không cần Visa – sang Việt Nam làm công cho họ; rồi từ bản hiệu, quảng cáo, hóa đơn đều in chữ Tàu; nhiều cửa hàng lại ngang nhiên không tiếp người Việt Nam, v.v… thì bà Liên khóc! 

Thì ra, người và đảng c.s.V.N. quyết tâm tận diệt người cùng dòng máu, cùng ngôn ngữ ở miền Nam chỉ với mực đích đưa người Trung cộng vào Việt Nam để đồng hóa người Việt Nam! Niềm oán hận đối với những người đã và đang đày đọa gia đình của bà và đưa toàn nước Việt Nam vào thời bao cấp rồi bán từng phần đất nước cho Trung cộng vừa dâng lên thì một anh công an cầm cái soon nhỏ, bước vào quán. Bà Liên hỏi: 

- Dạ, anh cần chi? 

- Bác bán cho tôi năm tô bún. Mua nhiều thế bác có cho thêm thịt thà gì không? 

- Dạ, tôi sẽ thêm một miếng giò heo hầm. 

- Ôi, Giời! Mua năm tô mà chỉ thêm có một miếng giò “nợn” thì về chia thế “.éo” nào được! Ai ăn, ai nhịn? 

Nghĩ đến cảnh gia đình mình, một thẻo thịt heo cũng không dám ăn, chỉ để bán, lấy tiền mua gạo và bo bo, bà Liên than: 

- Rất tiếc! Tôi không thể cho thêm mỗi tô một miếng giò heo; nhưng tôi sẽ cho thêm mỗi tô một lác chả cá, thay vì miếng dò heo. Được không, anh? 

- Ôi Giời! Buôn bán gì mà keo kiệt thế! Ngoài Bắc heo chạy từng đàn, chả ai thèm ăn; chỉ có người trong này mới xem miếng ăn bằng …cái nhà! 

Bà Liên cúi mặt, im lặng làm năm tô bún. Khi thấy bà Liên chỉ bỏ thêm năm miếng chả cá, anh công an sừng sộ: 

- Này! Này! Buôn bán thế hả? 

- Dạ, sao ạ? 

- Còn miếng giò “nợn” “núc” nãy hứa tại sao không cho vào? Quán này có giấy phép, môn bài hay không mà dám “nường gạc” công an nhân dân, hả? 

Biết anh công an nói ngược để đòi thêm, bà Liên nén nước mắt, múc miếng giò heo cho vào soon của anh ta. Bưng soon bún, trước khi quay đi, anh ta còn “tặng” bà Liên một câu nữa: 

- Ông mà tìm ra quán bún nào khác thì ông “.éo” thèm “chở nại”! 

Từ sự tủi thân, dư âm của một bài hát thời kháng chiến vọng về. Bà Liên vừa quẹt nước mắt vừa “ngân nga” nho nhỏ: “Đây quán bên đường, mái khói lên chạnh nỗi lòng. Đây quán bên đường, chờ mong khách qua đường thương…” Vừa “ngân nga” đến đây, niềm phẫn uất về tình trạng đất nước hiện tại lại dâng lên, bà Liên đổi lời ca mấy chữ cuối câu: “…Nếp quán xinh xinh, thương anh ‘cán ngố’ ra đi cướp nước… để tặng cho Tàu...” (1) Vừa “ngân nga” đến đây, bà Liên chợt nhận ra ông Tùng – cán bộ hồi hưu ở ngoài Bắc, sau khi vợ chết, được người con trai mời vào sống với gia đình cậu ấy và trở thành khách thường xuyên của bà Liên – đứng cạnh gốc cây me tây từ bao giờ. Lòng thầm lo, không biết ông Tùng đã nghe mấy chữ cuối hay không, bà Liên tỏ vẻ thân thiện: 

- Dạ, ông khỏe không? Một tô bún đặc biệt như thường lệ, phải không ạ? 

- Vâng. Hôm nay lạnh, vắng khách, nhỉ! 

- Dạ, thời tiết lạnh mà ai cũng lo mua sắm quà Noel cho nên ế quá! 

- Thế bà đã mua quà “Nô-Ên” chưa? 

- Trời! Tôi mà có tiền mua quà Noel thì Mẹ con tôi đâu phải bán bún bò! Còn ông? 

-Con tôi biếu tôi cái “ai pát, ai piết” (Ipad) gì đó; tôi học cách xử dụng mà muốn điên cái đầu! 

- Ông xử dụng được chưa? 

- Biết sơ sơ để đọc tin tức tiếng Việt thôi chứ không được như bà. 

Bà Liên chuyển đề tài: 

- Mời ông dùng bún. Biết ông thích huyết heo, hôm nay tôi thêm cho ông một miếng đấy. 

- Bà khéo thế, thảo nào quanh đây ai cũng nói tốt về bà. 

- Dạ, họ thương thì họ nói vậy chứ tôi cũng chẳng khác gì những phụ nữ lam lũ quanh đây. Mời ông dùng kẻo nguội. 

Vừa trộn tô bún, mùi ớt bột, mùi mắm ruốt, mùi sả, mùi thị bò, mùi giò heo hầm tỏa ra làm cho dịch vị của ông Tùng tiết ra rất nhiều; nhưng ông Tùng cố gắng gắp từng miếng nhỏ, ăn chậm rãi để tỏ ra ông cũng lịch sự như người miền Nam. 

Hồi mới vào Nam – bổn tính hay khoe – ông Tùng muốn mọi người gọi ông là “cán bộ” cho oai. Nhưng, chỉ sau một thời gian ngắn, nhận ra được sự ghẻ lạnh của mọi người và ông Tùng nghe loáng thoáng nhiều người gọi cán bộ là “cán ngố” thì ông chối bỏ danh từ “cán bộ”. 

Thế mà lúc nãy lại nghe bà Liên hát một câu trong bài ca thời chống Pháp và bà Liên cũng dùng danh từ “cán ngố”, ông Tùng vừa ăn chầm chậm vừa tìm cách gợi chuyện: 

- Biết bà cũng khá lâu mà chưa được nói chuyện nhiều với bà, tôi muốn hỏi thăm bà một điều, được không ạ? 

- Dạ, được chứ. 

- Câu bà hát lúc nãy có phải từ một bài ca thời kháng chiến hay không? 

Nghi là “tai họa” sắp đến, bà Lan tìm cách làm cho vấn đề nhẹ đi: 

- Tôi nghe ai hát đâu đó rồi bắt chước hát theo; vậy mà ông biết bài đó sáng tác vào thời kháng chiến. Hay thiệt! 

- Thời kháng chiến, ở Quân Khu V, có một gia đình trong Nam theo kháng chiến. Ông bà ấy tên gì tôi chả nhớ; chỉ nhớ đứa con gái của ông bà ấy còn bé xíu mà ca hát suốt ngày; con bé ấy thường hát bài này khi chị em nó ngồi cạnh quán nước và cái hầm tròn để dễ nhảy xuống hầm khi máy bay đến. 

Bà Liên mất bình tĩnh, nhưng vẫn cố đưa đẩy câu chuyện để ông Tùng khỏi nghi: 

- Vậy à? 

- Về sau, nghe tin gia đình con bé ấy hồi cư tôi cũng hơi buồn. 

- Tại sao ông lại buồn? 

- Thời ấy tôi là liên lạc viên của Quân Khu V. Công văn đến, công văn đi, “lệnh lạc” gì tôi cũng chu toàn cho nên ông Bố của con bé ấy thương tôi lắm. Thương tôi mà trốn đi lại không cho tôi đi cùng, thế bảo sao không buồn! 

Dù chẳng nhớ được liên lạc viên tại Quân Khu V là ai, bà Liên cũng chuyển tài: 

- Thôi, chuyện xưa rồi, ông buồn làm chi. 

- Không những tôi buồn mà tôi còn lo nữa cơ; vì không biết gia đình con bé ấy có thoát được “nanh vuốt” của bọn chúng hay không! 

- “Nanh vuốt” của bọn nào, thưa ông? 

- Thì bọn Việt Minh chứ bọn nào! 

- Trời đất! Ông là cựu đảng viên, cựu cán bộ mà lại nói như vậy? Ông không sợ à? 

- Sợ gì? Tôi chỉ còn cái mạng què này chứ còn gì mà sợ! 

- Thôi, ông Tùng ơi! Ông không sợ nhưng tôi sợ lắm! 

Ông Tùng chưa kịp nói gì thì một người khách bước vào: 

- Lạnh “wá”! Cô cho em tô bún thiệt cay, nhen! 

Trong khi hai phụ nữ nói chuyện nho nhỏ, ông Tùng nhìn con đường nhựa, lòng nhớ lại chuyến xe đò xuyên Việt đầu đời đã đưa ông từ Hải Phòng vào Nam. 

Xe qua bất cứ thành phố nào ông Tùng cũng thấy nhiều và rất nhiều cơ xưởng đồ sộ và nhà cao tầng, mới xây, trông rất “hoành tráng”. Lúc xe chạy dọc bờ biển, ông Tùng lại thấy khách sạn cao nghệu được xây san sát bên nhau; ra khỏi thành phố thì nhà cửa lại xập xệ, tiêu điều, tàn tạ như thời ông ở Quảng Ngãi. 

Hỏi chàng “lơ” xe, ông Tùng mới biết các cơ xưởng “khổng lồ” và khách sạn dọc các bờ biển là của Trung cộng; những tòa nhà “hoành tráng” là của cán bộ cao cấp c.s.V.N.; những vùng điêu tàn là vùng kinh tế mới dành cho gia đình của “Ngụy quân, Nguy quyền” sống. 

Xe chạy đến Đà Nẵng, vô tình nhìn về hướng Tiên Sa, lòng ông Tùng chợt chùng thấp; vì ông nhớ lại thời gian ông và người bà con bị Biệt Hải của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa bắt trong vùng biển Hải Phòng, khi ông theo người bà con đi câu. 

Sau khi bị bắt, ông Tùng rất lo sợ, vì ông nghĩ sẽ bị “Ngụy” giết ngay. Không ngờ, ông và người bà con được giải giao về Làng Kiểu Mẫu Thế Giới Tự Do bên Cù Lao Chàm, sống chung với các “đồng chí” của ông – đã bị bắt trước ông. Ông Tùng, người bà con của ông, cũng như các “đồng chí” của ông đều được đối xử tử tế, ăn uống sung sướng và mỗi ngày được “Ngụy” giảng dạy về đời sống, thái độ sống trong thế giới văn minh. 

Sự văn minh của “Ngụy” không bao giờ ông Tùng có thể thấy được trong tập thể bộ đội, đảng viên của c.s.V.N.. Đó là “Ngụy” thường nói “cảm ơn”, “xin lỗi” và ông Tùng “phục lăn” sĩ quan “Ngụy”; vì họ không những nói mà còn hát tiếng “nước ngoài”! 

Ông Tùng nhớ mãi buổi chiều gần Giáng Sinh, sau giờ “học tập”, ông Tùng cùng các “đồng chí” của ông đang được giải giao về hướng khu vực dành riêng thì nghe thiếu úy “Ngụy” vừa đi cạnh toán tù vừa “gật gù” vừa hát nho nhỏ “…We wish you a Merry Christmas. We wish you a Merry Christmas and a Happy New Year.” (2) Không nghe thiếu úy hát tiếp, ông Tùng hỏi: “Ơ kìa, anh đang hát nghe vui đáo để mà sao lại ngưng?” Thiếu úy cười: “Bài hát tới đó là hết, biểu tui hỏng ngưng sao được!” Nhận thấy thiếu úy có vẻ vui tính, dễ giải, ông Tùng nói rất nhỏ: “Anh! Anh cho tôi hỏi thăm chút, được không?” Thiếu úy cười: “Vâng, anh cứ nói.” Ông Tùng hỏi: “Nghe nói, sau thời gian học tập, chúng tôi sẽ được phóng thích trở ra Bắc, phải không, anh?” Thiếu úy đáp: “Vâng. Đúng, để các anh truyền lại cho đồng bào miền Bắc và bộ đội cụ Hồ về những điều các anh đã biết, nghe và thấy tại miền Nam.” Ông Tùng cảm thấy ớn lạnh ở sóng lưng! Thời chưa bị bắt, ông Tùng biết rõ: “Thằng” tù miền Bắc nào được “Ngụy” thả về lại miền Bắc cũng – không trước thì sau – sẽ bị đảng và người c.s.V.N. thủ tiêu, chết không biết nguyên nhân! 

Vì sợ sẽ bị các “đồng chí” thủ tiêu, đến lượt được tha để trở về Bắc, ông Tùng xin ở lại với “Ngụy”; nhưng không được chấp thuận. Cũng may, khi trở về Bắc, ông Tùng được một người bà con bên vợ – có “thế lực” trong hợp tác xã – “bao che” cho nên ông còn sống để bây giờ… 

Dòng ý tưởng của ông Tùng vừa đến đây, tiếng cô khách hàng đưa ông trở về thực tại: 

- Em “dìa”, nhen, cô. Mai mốt em ra ăn nữa. 

- Cảm ơn em. 

Tiếng ông Tùng: 

- Đấy, ai cũng thích ăn bún của bà; bà sẽ giàu lên mấy hồi. 

Đoán có lẽ ông Tùng bất mãn điều gì với c.s.V.N., bà Liên nói lên sự thật: 

- Sau 1975, người giàu lên thì chỉ có đảng viên và những nhân vật cao cấp của đảng c.s.V.N. thôi, ông à! 

Con trai của ông Tùng cũng là đảng viên đảng c.s.V.N., nhưng cuộc sống chỉ hơn cuộc sống của vợ con của “Ngụy” tý đỉnh, nhờ cậu ta biết “mánh mung”; nhưng sau khi “mánh mung” cậu ta cũng phải nộp cho cấp trên khá nhiều thì mới có thể phục vụ tại đơn vị đó. Ông Tùng nói ra nỗi xót xa trong lòng. 

- Đảng c.s.V.N. thoát thân từ những bà Mẹ quê lam lũ, những anh chị nông dân ít học, các dân tộc thiểu số. Nhưng, khi mục tiêu “thống nhất” đạt được rồi thì chính thành phần nông dân lam lũ, các bà Mẹ quê và các bộ lạc dân tộc thiểu số bị “đá đít” trước nhất. Ai đời, con cháu của người thiểu số đi học mà phải “đu giây” hoặc được bỏ vào bao ny-long rồi Bố kéo qua sông, qua suối! Nhân dân vào bệnh viện thì cứ hai bệnh nhân nằm chung một giường; người thân thăm nuôi phải nằm dưới gầm giừng người bệnh hoặc dọc hành lang hay ngoài sân bệnh viện! Còn tiền thuế của dân thì đảng c.s.V.N. dùng để xây tượng đài! 

- Ông Tùng ơi! Sao hôm nay ông nói nhiều điều… dễ sợ quá! 

- Sợ gì? Dân Việt Nam mình thiếu anh hùng hay sao mà xây tượng “thằng” Lenin, “thằng” Phi-đeo (Fidel Castro)? Bà biết tại sao c.s.V.N. thích tạo ra những đồ án lớn như dựng tượng đài hay không? 

Biết, nhưng bà Liên lại lắc đầu. Ông Tùng tiếp: 

- Bà vào “gú gồ”, tìm vietnamnet.vn, bà sẽ thấy bài Tượng Đài Và Chuyện “Bát Cơm” Của Nhiều Người. Trong bài ấy có câu đại ý như thế này: “…Nhân vụ việc bức ‘Tượng Đài Chiến Thắng’ ở Bắc Cạn bị gảy đổ ta mới biết bức tượng chỉ có giá 2 tỷ trong toàn bộ công trình 14 tỷ. Đó là thông tin do chính ông Hoàng Văn Trường, Giám đốc Sở Văn Hóa, Thể thao, Du lịch Bắc Cạn cho dư luận biết qua báo chí…” Thế thì 12 tỷ sai biệt “chạy” vào túi ai? Còn Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng – sau khi “no nê”, của cải giấu kỹ ở “nước ngoài” – xoay ra tố tham nhũng để lấy tiếng. Ông Trọng củng cố “uy tín” chính trị vừa xong thì Chủ Tịch nước Trần Đại Quang “lăng” ra chết! Thế là Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng “nhà ta” kiêm luôn chức Chủ Tịch nước cho “trọn gói”! 

- Thôi, thôi, ông Tùng ơi! Ông nói nghe “ghê” quá! Tôi… sợ lắm! 

- Bà sợ chuyện chính trị thì để tôi nói chuyện thể thao cho bà nghe, nhé! 

- Dạ. 

- Bà nghĩ như thế nào về trận đá banh vừa rồi? 

- Dạ, tôi ít theo dõi thể thao. 

- Giải AFF Su-zu-ki chỉ là một giải vùng Đông Nam Á, chứ đâu phải giải vô địch Á Châu; thế mà “chúng nó” “loạn” lên, cả “rừng” xe gắn máy khuấy động thành phố suốt đêm rồi con trai thì tung cờ, con gái thì cởi áo, chỉ mặc xì-líp “đi bão” rồi hô vang “Tự hào quá Việt Nam”! Tự hào cái quái quỹ gì khi Trung cộng dẫm nát Quê Hương mà tuổi trẻ chỉ biết ăn chơi, bia rượu, đàn điếm? Đúng là một xã hội điên loạn, đầy măc cảm tự ty! 

- Tôi ước chi người trẻ dùng năng lực của họ để tiếp tục thực hiện những cuộc biểu tình tuyệt vời như khi c.s.V.N. cho Trung cộng thuê ba đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. 

- Vụ biểu tình …“xẹp” rồi! Nhưng gần đây có một người trẻ như bà mong ước. 

- Ai vậy, thưa ông? 

Ông Tùng lấy Iphone ra, quẹt quẹt vài lần rồi đáp: 

- Đây, bà đọc đi. Yêu Sách Tám Điểm Năm 2019 Của Người Dân Việt Nam. Trong bản tin này họ nhắc đến một sinh viên đại học tên Tôn Phi. 

Bà Liên sợ, nói tránh đi: 

- Dạ, cảm ơn ông. Nhưng mắt tôi kém lắm, đọc không được. 

Ông Tùng có vẻ không vui, cất iPhone vào túi rồi nói: 

- Sau chuyến xe xuyên Việt đầu đời tôi mới hiểu rằng chúng tôi đã bị lừa! 

- Hôm trước ông bảo ông đã theo “cách mạng” từ năm ông 12 tuổi mà sao bây giờ ông nói ông bị lừa? 

- Mười hai tuổi biết cái – sắp thốt ra tiếng... “.éo” thì ông Tùng vội sửa lại – đếch gì mà theo! Lúc ấy gia đình tôi chuyên nghề nông cả mấy đời ở Quảng Ngãi. Năm đó mất mùa, hàng xóm bảo Ba Mẹ tôi xin cho tôi làm liên lạc viên, mỗi tháng được đảng cấp tám ký gạo lại được mua thực phẩm ở hợp tác xã cho nên tôi mới vào. 

- Ông người Bắc mà tại sao gia đình ông mấy đời làm nghề nông ở Quảng Ngãi? 

- Năm 1954, “chúng nó” bắt tôi phải đi tập kết; ra ngoài Bắc lấy vợ, sinh con thì nói tiếng Bắc... 

Ông Tùng vừa nói ngang đây thì đứa cháu nội đến, gọi ông về. Ông Tùng trả tiền rồi từ giã bà Liên: 

- Chào bà, nhá! Ô, quên, cảm ơn bà đã thêm cho tôi miếng huyết heo. 

- Dạ, không có chi. Ông là khách quen mà. 

Ông Tùng cười, nắm tay đứa cháu, quay đi. Bước chầm chậm trên con đường nhựa loan lổ – như tâm hồn của ông lúc bấy giờ – ông Tùng hồi tưởng lại những gì ông đã thấy trên chuyến xe xuyên Việt mà ông đã đi. 

Trong khi ông Tùng thở dài, lòng cay đắng và đầy phẫn uất vì đã nhận ra sự phản bội của đảng csVN đối với Quê Hương, dân tộc cũng như đối với ông và “đồng chí” của ông thì bà Liên nhìn theo phiến lưng cong và dáng đi khập khễnh của ông. 

Bà Liên chợt cảm thấy tội nghiệp cho những người như ông Tùng; vì đến gần cuối đời mới nhận ra được bề trái của đảng c.s.V.N.! 


1.- Quán Bên Đường của Lê Trọng Nguyễn. 

2.- We Wish You A Merry Christmas, không nhớ tên tác giả. 

Nhăm nhe đánh thuế xe ôm, quán cóc

Nhóm PV (VNTB) “Buôn bán có đồng ra, đồng vô, tôi hiểu cần phải đóng thuế. Nhưng chuyện khoán số tiền thuế phải đóng là điều bất hợp lý. Ngoài ra người dân đã nộp đủ thứ thuế thì họ phải được hưởng lợi ích an sinh tương ứng từ đồng thuế đó! Ưu việt của chế dộ xã hội chủ nghĩa không thể là cứ đè dân ra mà vắt cổ chày ra nước [*]”.

Thầy giáo Trần Tiến Sĩ đã bày tỏ như vậy khi quán cà phê cóc mà gia đình thầy mở cạnh bên trường tiểu học ở quận 5 đang được chi cục thuế nơi đây nhăm nhe đánh thuế.

Trong dịp gặp gỡ mừng lễ Giáng sinh ở quán nhậu lề đường, nhóm bạn là giáo viên đã nhận được câu hỏi từ các phóng viên Việt Nam Thời Báo, về ý kiến ra sao trước thời sự ngành thuế sẽ khoán thuế đối với những người buôn gánh, bán bưng trên hè phố, trong ngóc ngách xóm hẻm, những bác tài xe ôm ‘truyền thống’ ở đầu đường, xó chợ?


Thầy giáo Trần Tiến Sĩ kể rằng học trò nơi ông dạy, hầu hết là từ xóm nghèo Mã Lạng nổi tiếng du dãng, xì ke ma túy của quận 1. Ngoài giờ đến lớp, học trò của thầy Sĩ phải dành thời gian phụ cha mẹ làm đủ thứ nghề mưu sinh. Đồng tiền cho cơm gạo, cho áo quần, tập vở với các em này là chưa bao giờ dễ dàng… “Tôi đã bật cười khi đọc báo thấy đăng có mấy quan chức, cán bộ khoe ngoài giờ làm đã chạy xe ôm, bán chổi đót hoặc nuôi heo dành dụm tiền xây biệt phủ. Chắc mấy bác ngành thuế thấy vậy tin thiệt nên tính chuyện thu thuế xe ôm, bán vỉa hè để tránh bỏ sót?”. Thầy Sĩ mỉa mai nói.

Là giáo viên dạy văn vừa nghỉ hưu, cô giáo Nguyễn Thị Tiến kể ở khu chung cư quận 10 nơi cô ở, học trò khi đi học về là phụ gia đình ra vỉa hè xung quanh đó để bán hàng rong, như bán bánh tráng trộn, chè bịch, hột vịt lộn… “Gia đình các em cả chục miệng ăn, nhiều khi chỉ sống vào những gánh hàng chạy chợ đó. Mua món hàng về bán là đã một lần đóng thuế giá trị gia tăng. Để có chỗ bán bên lề vỉa hè không bị quản lý đô thị đuổi lên đuổi xuống, là phải biết điều nộp tiền ít hay nhiều tùy vào… lương tâm của các viên chức ấy. Tôi không biết cán bộ thuế khi áp mức thuế khoán, có gia trừ tình cảnh đó hay không?”. Cô Tiến thắc mắc.

Giáo viên dạy môn địa cấp 2, cô Nguyễn Thu Dung lập luận: “Bài học ở lớp từng giảng cho học trò về thời thực dân Pháp bóc lột người lao động nghèo xứ An Nam bằng loại thuế khoán, còn gọi là thuế trọn gói, thuế theo đầu người, một loại thuế có giá trị cố định đánh vào tất cả các cá nhân. Loại thuế này buộc mỗi cá nhân phải nộp cho chính phủ một khoản tiền như nhau, không phân biệt khả năng thu nhập, tích lũy, tiêu dùng... của họ. Thuế thân hay còn gọi là thuế đinh ở Việt Nam đánh trên mỗi nam giới trưởng thành trước đây chính là một sắc thuế khoán.

Dĩ nhiên tôi cũng giảng cho học trò rằng thuế khoán không gây ra sự thay đổi về giá cả tương đối giữa các sản phẩm, nên nó có hiệu quả kinh tế hơn so với các loại thuế khác, vì để chính phủ thu được một số tiền thuế bằng nhau, thì thuế khoán sẽ làm độ thỏa dụng của tất cả các cá nhân giảm đi ít hơn so với các loại thuế khác.

Tôi hiểu là nhà nước sẽ xét doanh thu tính thuế khoán đối với cá nhân nộp thuế, trong đó khoán là doanh thu được ổn định trong một năm. Tuy nhiên như ý kiến của thầy Sĩ, của cô Tiến, chúng ta làm sao xác định đúng mức doanh thu bình quân có chiết trừ gia cảnh của người nghèo buôn gánh bán bưng, của đồng tiền chạy xe ôm thất thường còn đến từ sức khỏe của bác tài?”.

Luật gia Nguyễn Cao, người từng có thời gian là thầy giáo môn toán của trường khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu, tiếp lời bằng một dẫn chứng: “Vấn đề của cô Tiến, cô Dung đặt ra sẽ được cán bộ thuế trả lời rằng trường hợp cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu khoán, không nộp hồ sơ khai thuế hoặc doanh thu tính thuế khoán xác định không phù hợp với thực tế kinh doanh, thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu tính thuế khoán theo quy định của pháp luật về quản lý thuế… Thông tư 92 của Bộ Tài chính đã quy định như vậy.

Nghĩa là nếu mấy quan trên của Bộ Tài chính đã quyết vắt cổ chày ra nước, thì họ vẫn có cơ sở pháp lý để thực hiện. Chuyện công bằng an sinh như thầy Sĩ nêu, thực ra đó là một chính sách xa xỉ đối với chúng ta hôm nay. Cứ nhấp chuột vào trang đồng hồ nợ công của Việt Nam, [https://countrymeters.info/en/Vietnam/economy], sẽ nhận ra ngay mỗi người dân xứ mình đang phải è cổ gánh nợ hơn 56 triệu đồng/ người! Sống trong thấp thỏm nợ mà đòi hỏi an sinh là phù phiếm…”.

Bà chủ quán nhậu mà nhóm những thầy cô giáo cùng với các phóng viên Việt Nam Thời Báo đang rôm rã luận bàn, bất ngờ xin góp chuyện. Bà nói mấy thầy cô toàn nói chuyện cao xa quá.

“Phải biết phận mình thôi, tụi em là dân vùng khác đến, người ta nói thế nào mình cũng phải chịu. Em chỉ mong sao các cấp trên quan tâm đến chị em bọn em. Bởi vì cùng là con người, vì điều kiện sống mà người ta mới phải ra đây. Tụi em đâu phải công dân hạng hai. Tụi em chỉ muốn làm ăn yên ổn, kiếm được đồng ra đồng vào cho con cái ăn học tử tế, không phải gánh đồng hồ nợ công gì đó.

Đừng phân biệt đối xử như vậy với tụi em. Tận thu, không để sót, quá sòng phẳng. Đồng ý, nhưng cần sòng phẳng luôn với dân trong việc công khai, minh bạch sử dụng tiền thuế... Chứ nghe nói mấy đại gia nhà mình ở thiên đường thuế gì ấy, sao mà bất công quá mấy thầy, cô ơi!”.

Chú thích:

[*] Cái chày ngày xưa thường dùng để giã gạo, bột, thuốc, tiêu, ớt... Người ta đẽo chày dài ngắn tùy theo cái cối lớn nhỏ và để đứng hay ngồi mà giã. Phần giữa thân chày được làm nhỏ cho vừa tay nắm. Việc giã thường khiến người giã tiết ra nhiều mồ hôi (do làm việt cật lực) toàn thân, và mồ hôi tuôn ra từ tay ngấm vào cổ chày.

Thân chày bằng gỗ đương nhiên không có nước, vậy thành ngữ “vắt cổ chày ra nước” là chỉ việc tận dụng triệt để đến cùng tận từ một việc, một vật, một vấn đề nào đó được phóng đại ám chỉ ai đó keo kiệt bủn xỉn không bao giờ phí bỏ một thứ gì... đến cái chày mà hắn còn vắt ra nước... Thành ngữ này ám chỉ kẻ bóc lột sức lao động của người khác, đến những giọt mồ hôi của người làm công giã gạo thấm vào thân chày mà giới cai trị còn cố vắt lấy không bỏ sót thì đủ thấy 5 chữ này đã lột tả hết sự nghiệt ngã, thân phận của người làm thuê như thế nào. 

Phẫn nộ: Chính quyền vắt kiệt sức dân bằng thuế phí!

Ánh Liên (VNTB) Vừa qua, Bộ Tài chính cho hay việc đề nghị các bộ ngành liên quan nghiên cứu đề xuất thu phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với khí thải ngày 26.11.2018 của Bộ Tài chính là xuất phát từ kiến nghị của cử tri tỉnh Lào Cai và Hà Nội. 


Tuyên bố này gây ra nhiều tranh cãi, ngay sau đó báo điện VNN vào cuộc làm rõ, hóa ra ‘đúng là có việc cử tri Lào Cai kiến nghị về thu phí đối với khí thải. Thế nhưng cử tri Lào Cai chỉ kiến nghị thu phí đối với khí thải công nghiệp’. Thế nhưng, khi Bộ Tài chính tiếp nhận, thì đã loại bỏ chữ công nghiệp, và kiến nghị của cử tri Lào Cai đã trở thành một kiến nghị thuế phí mới, với đối tượng, phạm vi áp dụng rộng rãi hơn.


Chưa bao giờ, người ta nhận thấy Bộ Tài chính lại ‘năng nổ’ trong tiếp nhận và triển khai kiến nghị của cử tri đến thế. Nhưng sự năng nổ này lại áp dụng khi cử tri muốn ‘tăng’ thay vì giảm. Có quá nhiều lý do để giải thích cho sự việc này, và một trong số đó là: ngân khố trong tình trạng suy kiệt. Và thay vì giải quyết triệt để vấn đề thâm thủng ngân sách theo hướng siết chặt chi tiêu cơ bản, minh bạch hóa ngân sách, chống tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư công thì ngược lại, tiến hành đẻ các loại thuế phí (đặc biệt là thuế gián thu) để bổ sung ngân sách.

Đó là lý do vì sao rất nhiều Facebooker bày tỏ sự phẫn nộ, Facebooker Nguyễn Đăng Giang cho biết, việc lắng nghe cử tri là điều cần làm, nhưng lắng nghe phải cho đúng, cho đủ, thay vì cố tình xuyên tạc lời người dân. Còn Facebooker Ngan Cao Trọng phải thừa nhận trong một phản hồi liên quan đến tin tức trên rằng: giữ túi tiền quốc gia nhưng không quản lý được thì chỉ còn biết đè dân đen ra thu chứ biết làm gì nữa. Chỉ một tỉnh miền núi Lào Cai có là đại diện cho 63 tỉnh thành cả nước không? Và đặc biệt là tỉnh miền núi nên không phải là tỉnh có tỉ lệ xe quá cao so với các tỉnh thành cả nước.

Ngoài ra, liệu có đáng phẫn nộ hay không khi mà đã có thuế bảo vệ môi trường, giờ đây lại có phí môi trường? Có sự khác nhau gì ngoài cái tên và bản chất bóc lột đồng tiền của người dân?

Nhưng tại sao một số cơ quan nhà nước lại tìm cách lắp-ghép quan điểm của người dân theo ý mình? Câu trả lời là vì, bấy lâu nay không có công cụ nào để kiểm tra và giám sát việc làm của họ, và họ dựa vào tính quyền lực (thông qua cưỡng chế) nhà nước và bộ máy truyền thông khổng lồ để ‘nhân danh nhân dân’ và ‘bóc lột nhân dân’.

Điều mà Bộ Tài chính không hề nghĩ tới (dù họ bỏ qua sự liêm sỉ) là, người dân đã khôn ngoan hơn xưa, đã có mạng xã hội để họ nhận diện phát ngôn và hành động thực của từng ‘IQ cao’. Thế nên, họ mới phát hiện ra bà lãnh đạo Bộ Tài chính đánh tráo khái niệm nhằm đạt được mục tiêu. Một trạng thái mà dân gian ví đó là ‘hở ra là đớp’, hay theo ngôn ngữ chính trị của bà Phó Chủ tịch nước thì ‘ăn của dân không từ một cái gì’.

Đặt vấn đề, giả như ngay cả khi người dân muốn có thuế phí đối với khí thải, thì người dân cũng mong muốn nó được áp dụng đúng, đủ và đầy. Tuy nhiên thực tế cho thấy, trong các loại thuế phí, thì thuế phí môi trường được coi là loại vô dụng nhất, bởi nó không trợ giúp kiểm soát môi trường cho cộng đồng dân sinh, mà là nguồn để bổ túc cho các nguồn chi khác, nói chính xác là thu chi sai mục đích. Trong khi đó, tình hình ô nhiễm môi trường Việt Nam bởi các hoạt động công nghiệp, đô thị hóa đang 'tăng trưởng' nhanh chóng. Nói cách khác, môi trường Việt Nam đang bị bán rẻ đến mức rẻ mạt, những nhà máy nhiệt điện vẫn cứ xả thải vô tội vạ; những khu công nghiệp vẫn phun khói độc và dòng thải chưa qua xử lý vào lòng đất, song và biển,… Tuyệt nhiên, không bao giờ thấy tác dụng của nguồn thuế bảo vệ môi trường nào xuất hiện. Trong khi bản thân người dân bị bóc lột đến mức ‘phí chồng phí, thuế chồng thuế’. 

Trong một báo cáo vào đầu năm 2018, tổ chức phi chính phủ - Green ID, cho biết 91% số ngày trong 3 tháng đầu năm 2018, mức độ ô nhiễm không khí của Hà Nội vượt tiêu chuẩn cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).