Friday, September 14, 2018

Hà Sĩ Phu: ‘Bị Hán hóa là mất dân tộc’

Theo VOA-Đinh Quang Anh Thái/15/09/2018 
Hà Sĩ Phu, tác giả "Chia Tay Ý Thức Hệ," tại tư gia ở Đà Lạt. (Hình: Hà Sĩ Phu gởi Đinh Quang Anh Thái)
Hà Sĩ Phu, tác giả "Chia Tay Ý Thức Hệ," tại tư gia ở Đà Lạt. (Hình: Hà Sĩ Phu gởi Đinh Quang Anh Thái)
VOA – Bài viết dưới đây được trích từ tác phẩm “Ký II” của nhà báo Đinh Quang Anh Thái, xuất bản vào trung tuần tháng Chín, 2018, qua hệ thống Amazon. Bài viết bao gồm nhiều tài liệu, quan điểm của Hà Sĩ Phu, được nhà báo Đinh Quang Anh Thái ghi lại qua nhiều hình thức trong một thời gian dài, khởi đi từ một sự kiện năm 1995 đến biến cố biểu tình chống Dự Luật Đặc Khu 2018. Hơn 20 năm trôi qua, các nhận định liên tục của Hà Sĩ Phu về tình hình chính trị trong nước, trên thế giới, và đặc biệt về mối quan hệ Việt – Trung, vẫn còn nguyên vẹn tính thời sự và tiên đoán chính xác. Bài viết được đăng tải với sự đồng ý của tác giả Đinh Quang Anh Thái.

***
Ngày 10 tháng Sáu, 2018, hàng chục ngàn đồng bào tại nhiều thành phố Việt Nam xuống đường biểu tình chống “Dự Luật Đặc Khu Kinh Tế”.
Dự luật dự trù sẽ được Quốc Hội Cộng Sản Hà Nội đưa ra biểu quyết ngày 15 Tháng Sáu, cho thuê mướn thời hạn 99 năm ba khu vực Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc.
Hầu hết các nơi biểu tình đều diễn ra ôn hòa, ngoại trừ Phan Rí. Lực lượng Cảnh Sát Cơ Động, được mệnh danh ‘Quả Đấm Thép’ của Bộ Công An Việt Nam, thúc thủ trước người biểu tình chống dự luật đặc khu và đã biến thành bạo động tại Phan Thiết, Phan Rí Cửa, Bình Thuận.
Hình ảnh trên các mạng xã hội cho thấy lực lượng Cảnh Sát Cơ Động bỏ áo giáp, nón sắt, leo tường chạy khỏi trụ sở Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bình Thuận. Họ được những người biểu tình đối xử tử tế, thậm chí có người dân còn cúi xuống đưa lưng cho cảnh sát leo lên vượt tường ra ngoài.
Ngày 15 Tháng Sáu, từ Đà Lạt, Hà Sĩ Phu gửi email cho kẻ viết bài này:
“Đinh Quang Anh Thái thân mến,
“Trước hết cho mình xin lỗi vì đã hồi âm chậm trễ. Chắc Thái không thể hình dung tình trạng của mình sau khi chị Biên mất. Bà xã mình mất là sự kiện đau thương nhất đời mình. Chị Biên chịu đựng mấy chục năm để cho mình làm nghĩa vụ của một anh trí thức, chưa đền đáp được gì thì bà ấy đã ra đi! Ngày nào mình cũng khóc. Khổ thế, yêu thương càng nhiều thì sự mất mát càng đau. Mình trơ trọi một mình với bệnh tật, phải tự lo liệu đủ mọi thứ. Đồng thời đúng lúc xã hội đang xảy ra nhiều biến động, nên mình không thể tách rời khỏi tình hình chung ấy.
“Thái hỏi đất nước mình bây giờ ra sao, so với cách đây hơn 20 năm, khi mình trả lời phỏng vấn của Thái lần đầu tiên năm 1995, mình thấy, sau hơn 20 năm, tình hình xã hội đã có những biến chuyển đáng khích lệ (số người dân chủ tiên phong xuất hiện nhiều thêm, số người dân quan tâm đến vận mệnh đất nước cũng nhiều thêm, đặc biệt là trước họa Bắc thuộc; xã hội ngày càng phơi bày sự thối nát và không ổn định, thái độ mị dân ngày càng kém hiệu quả, chính sách độc tài ngày càng lộ diện… Những cuộc biểu tình tính tới con số trăm ngàn người tham dự hôm 10-6-2018 là minh chứng cho sự tiến triển đó. Nhưng đó mới là sự biến đổi về LƯỢNG, chưa đủ để thành biến đổi về CHẤT.
“Theo mình, thực trạng đất nước chúng ta hiện nay, do thể chế có 3 tính chất là phi khoa học, độc tài và dối trá, nên xã hội không thể phát triển, tham nhũng, ách tắc, tha hóa toàn diện, bị dồn nén nên tiềm ẩn nguy cơ biến động. Mà đã xảy ra biến động rồi, điển hình là những cuộc biểu tình hôm 10 Tháng Sáu. Nhưng đấy mới là đối nội, chưa quan trọng bằng đối ngoại (nạn Bắc thuộc mới). Thoát Trung mới là nhu cầu cấp thiết hàng đầu, nhưng muốn Thoát Trung phải Thoát Cộng. Người giữ chế độ CSVN không chỉ là ĐCSVN mà chủ yếu là ĐCSTrung Quốc!”
Hà Sĩ Phu 1995
Năm 1989, lúc khối Cộng Sản Đông Âu và “cái nôi của vô sản thế giới” là Liên Xô rã ra như “cơm nguội gặp mưa”, nhà thơ Lê Bi thuộc nhóm Nhân Chủ Học Xã rao khắp bạn bè: “Ai tìm được tác giả bài viết DẮT TAY NHAU ĐI DƯỚI TẤM BIỂN CHỈ ĐƯỜNG CỦA TRÍ TUỆ, tôi tặng 1,000 đô la.”
Không ai kiếm được.
“Nhân Chủ” là từ đã được nhà cách mạng Thái Dịch Lý Đông A dùng đầu tiên vào năm 1939, lúc ông khoảng 19 tuổi, khi ông sáng lập và là Bí Thư Trưởng Duy Dân Cách Mạng Đảng. Nhân Chủ Học Xã là cơ quan lưu trữ tài liệu, nghiên cứu và huấn luyện của Duy Dân.
Sau năm 1954, từ Bắc di cư vào Nam, nhà cách mạng Thái Lăng Nghiêm tiếp tục công việc của Nhân Chủ Học Xã.
Năm 1985, các anh Trịnh Đình Thắng, Thanh Hùng, Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Văn Cường, Lưu Ngọc Thọ, Hoàng Chính Nghĩa (Lê Bi), Nguyễn Võ Thu Hương và kẻ viết bài này cùng nhau phục hoạt Nhân Chủ Học Xã tại Mỹ. Trong nhóm, ba anh Trịnh Đình Thắng, Thanh Hùng và Nguyễn Văn Cường là cán bộ Duy Dân; những anh em còn lại là những kẻ lưu vong cùng chí hướng tìm lại với nhau.
Trong nhóm, Lê Bi là người “miệng nói, tay làm.” Anh đánh máy, bỏ dấu tiếng Việt bằng tay và giao cho tôi in những cuốn “Đạo Trường Ngâm”, tập thơ của Lý Đông A; “Tự Phán” của Phan Bội Châu; “Thư Quốc Nội” tập bài nhận định về tình hình Việt Nam của tác giả ẩn danh được chuyển bí mật từ trong nước ra cho chúng tôi (sau này mới biết người chấp bút là anh Đoàn Viết Hoạt); và “Thơ Trích” của Lê Bi.
Cũng vào thời điểm anh em chúng tôi nỗ lực tìm xem ai là tác giả DẮT TAY NHAU ĐI DƯỚI TẤM BIỂN CHỈ ĐƯỜNG CỦA TRÍ TUỆ, báo Người Dân ra đời, với cùng nhân sự của Nhân Chủ Học Xã và thêm các anh Nhật Tiến, Hoàng Mạnh Hùng, Lê Thiện Tùng, Mai Văn Hiền, Phạm Gia Hòa, Nguyễn Văn Trung, Tống Nhiệm, Trần Thế Kiệt, Lã Hoàng Trung.
Nỗ lực, nhưng chúng tôi vẫn không tìm được tác giả DẮT TAY NHAU ĐI DƯỚI TẤM BIỂN CHỈ ĐƯỜNG CỦA TRÍ TUỆ.
Mãi sau này mới biết tác giả bài viết có bút hiệu là Hà Sĩ Phu.
Và ai cũng tưởng “Hà Sĩ Phu” là … sĩ phu Bắc Hà.
Nhưng không phải.
Lần đầu tiên tiếp xúc qua điện thoại và trả lời cuộc phỏng vấn ngày 04 tháng 12, 1995, phát thanh trên đài VNCR 106.3 FM tại California, Hoa Kỳ, Hà Sĩ Phu nói với tôi: “Bút hiệu của tôi đã từng bị đưa ra thảo luận. Ông Đào Duy Tùng khi đi nói chuyện mọi nơi đã cáo buộc rằng, ‘có người xưng là sĩ phu Bắc Hà đòi dạy chúng ta về Mác-Lê nin!’ Rồi khi tôi bị Bộ Nội Vụ gọi để thẩm vấn, thì Thiếu Tướng Quan Phòng có hỏi tôi ‘lấy cái tên như thế anh định có ý gì?’ Ý ông muốn nói tôi dùng cái tên đó để làm khởi động, kích động cái tinh thần sĩ phu kiên cường trong nước chăng? Tôi trả lời là lối hiểu đó là do đòi hỏi của thực tế. Người ta hiểu thế là vì trong thực tế nó đặt ra vấn đề rõ như vậy. Và nếu tên tôi có đáp ứng nhu cầu đó thì tôi không phản đối gì cả. Thực sự ra khi tôi đặt tên đó thì họ Hà, chữ Hà đó là bộ Nhân đứng chứ không phải là bộ Thủy. Nhân đứng và chữ Khả có ý nghĩa là ‘thế nào?’ ‘là ai?’ ‘làm sao?’ - thì tên Hà Sĩ Phu tôi đặt nghĩa là ‘thế nào là sĩ phu?’ ‘ai đáng là sĩ phu?’ ‘ hay làm gì có sĩ phu?’ - tức là sau đó phải đánh một dấu hỏi. Tôi không có ý khẳng định mình xứng đáng là một người sĩ phu của Bắc Hà đâu.”
Ông giải thích thêm, khi đặt bút danh cho mình là Hà Sĩ Phu, ông muốn tỏ những thao thức, trăn trở về tình trạng tụt hậu mọi mặt của Việt Nam và muốn tự nhắc mình về bổn phận và ý thức của người sĩ phu đối với con người và đất nước Việt Nam.
***
Hà Sĩ Phu, tên thật là Nguyễn Xuân Tụ, sinh năm 1940 ở Bắc Ninh. Tốt nghiệp Phó Tiến Sĩ Sinh Học tại Viện Hàn Lâm Khoa Học Tiệp Khắc. Về nước, Hà Sĩ Phu công tác tại Viện Khoa Học Việt Nam. Từ năm 1988, Hà Sĩ Phu đã công khai chống lại chủ nghĩa và sự cai trị độc tài của Cộng Sản Việt Nam. Những bài Hà Sĩ Phu viết như “Thằng Bờm,” “Biện Chứng và Ngụy Biện trong công cuộc đổi mới”; đặc biệt là bài “Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ” và “Chia Tay Ý Thức Hệ” tạo ra nhiều tiếng vang lớn, trong cũng như ngoài nước.
Trong bài “Chia Tay Ý Thức Hệ” ông viết: “Không phải như Cộng Sản thường nói rằng chủ nghĩa luôn luôn đúng, chỉ có con người thi hành sai mà ý thức hệ Cộng Sản sai từ căn bản. Phải từ bỏ ý thức hệ đó thì mới xây dựng được đất nước.”
***
Một số đoạn trong bài phỏng vấn năm 1995:
Đinh Quang Anh Thái: Trong một bài của ông, ông viết rằng, dẫu còn điều kiện này hay điều kiện khác, vai trò lịch sử của trào lưu Cộng Sản vẫn được mãi mãi ghi nhận. Và một đoạn khác ông nói, cùng với người hiệp sĩ ấy (ý ông ám chỉ người Sộng Sản) nhân dân ta đã có những ngày sống đẹp thanh khiết như thần tiên. Chúng tôi xin hỏi, ông ghi nhận những chuyện đó ở thời điểm nào? Ông cho ví dụ được không? Bà Dương Thu Hương thì đã có một giai đoạn gọi đó là một thứ thiên đường, về sau bà chua chát nhìn nhận đó là một “thiên đường mù.” Còn về phần ông, khi viết như vậy, ông muốn dùng uyển ngữ để gửi tín hiệu cho người đọc hay thực tâm ông nghĩ như vậy?

Hà Sĩ Phu: Những quá trình chuyển hóa hết sức là phức tạp. Đầu tiên là có sự xâm nhập và ký sinh của một thứ lý thuyết giai cấp cực đoan ảo tưởng phi khoa học, tức là cái dở. Nhưng nó ký sinh vào trong phong trào dân tộc. Và nó biến thành cái của dân tộc, mang thông điệp giải phóng của dân tộc. Đây là sự chuyển hóa đầu tiên. Lúc kháng chiến chống Pháp xong, lúc ấy cuộc sống còn nghèo, và cả đói nữa, cuộc thanh trừng giai cấp đã ló ra ở chỗ này, chỗ khác. Nhưng nhìn chung thì phải nhìn nhận rằng trong giai đoạn ngắn ngủi ấy, xã hội còn thanh bình, tình người còn trung hậu và xét trong số đông, tâm lý hồ hởi tin tưởng là có thật.
Về sau, do tính chất ảo tưởng cực đoan và phi khoa học của các học thuyết đó, cho nên nó thoái hóa, làm mất yếu tố tốt ban đầu, và biến những cái của dân tộc thành cái phi dân tộc và cản trở dân tộc. Thế rồi lại đến giai đoạn khác như hiện nay. Nhưng phải nhận rằng ngay trong tâm trạng bị vùi mình trong cái xấu như thế, thì một số các hạt nhân tinh hoa của dân tộc vẫn tồn tại chứ không mất đi. Và trong điều kiện như ở nước ta là một đảng đã nắm độc quyền lãnh đạo thì những hạt nhân bị vùi trong cái khối không tốt, chính họ chứ không phải ai khác, có khả năng bất ngờ tách ra, châm ngòi cho những cuộc đổi đời dân tộc một lần nữa để thanh toán cái xấu một cách hòa bình.
Tôi nghĩ nhận thức thực tiễn cũng như về phương pháp, tức là có cái phần gọi là sách lược, đều cần làm rõ điều này và thực tế ở thế giới, cũng như thực tế ở trong nước ta cũng dần dần xác định điều này. Thực tế, hiện nay những người bảo thủ ở nước ta sợ nhất khả năng chuyển hóa trong nội bộ của những nhân tố tốt đó. Cho nên họ cũng đề phòng kỹ lưỡng nhất cái khả năng này. Chỉ riêng điều ấy thôi, cũng cho thấy rằng nhận thức này, tức là nhận thức về yếu tố tích cực của phong trào Cộng Sản trong quá khứ không hề là một tư tưởng cải lương. Trái lại chính nó là một nhận thức mang xung lực mạnh mẽ nhất. Còn lối suy nghĩ có tính cách phân tuyến, đơn giản, một chiều, thì thoạt nghe có thể thấy là mạnh mẽ, có thể làm thỏa mãn một nhận thức chủ quan nào đấy, nhưng nó không phản ánh đúng cái bi kịch phức tạp của dân tộc, và do đó nó có ít khả năng tác động vào hiện thực.
Một nhà văn Cộng Sản đã nói là “thế hệ chúng tôi ở tuổi 20 mà không theo Cộng Sản thì không có tim, nhưng mà ở tuổi 50 mà còn theo Cộng Sản thì lại không có óc.” Đấy, nhận thức nó lòng vòng như vậy, đâu có thể lấy hiện tại để làm chuẩn, để quy kết quá khứ hoặc là lấy quá khứ làm chuẩn để bênh vực hiện tại một cách suy diễn máy móc được.
Đinh Quang Anh Thái: Thưa ông, sau năm 1975, trong một lần nói chuyện với ông Vũ Sinh Hiên, một trí thức Công Giáo và cũng là cây bút của Tạp chí Đứng Dậy, ông Hiên bảo tôi rằng, khi chọn thái độ ở lại để cộng tác với chế độ Cộng Sản thì việc chọn đó là một “hành trình bắt buộc của trí thức.” Ông Hiên nói như thế sau khi đã tỉnh ngộ rồi. Câu tôi muốn được hỏi ông, là liệu người trí thức có phải chọn cái “hành trình bắt buộc” như ông Hiên nói hay không? Bởi vì theo chỗ tôi biết, có nhiều người ở lứa tuổi 20 đã sáng suốt để thấy rằng phong trào Cộng Sản thực chất của nó không có gì tốt đẹp cả và nó chỉ đưa đất nước hoặc tập thể con người bị sự chọn lựa tới con đường đen tối thôi; như vậy không nhất thiết sự chọn lựa của lứa tuổi 20 theo con đường Cộng Sản là phổ quát cho tất cả mọi người. Ông nghĩ sao?
Hà Sĩ Phu: Ý kiến của ông Thái có lý. Vì theo tôi nghĩ, sự chọn lựa đó là một sự chọn lựa của con tim, trong điều kiện là khối óc phát triển chưa tới. Cái đó, có thể nói là tình trạng DÂN TRÍ còn thấp. Và rất nhiều người trí thức mà ở trong một xã hội thông tin không đầy đủ, thì cái trí tuệ phát triển chưa tới. Tôi nghĩ là cùng trong giai đoạn đó rất nhiều nước văn minh va chạm với lý thuyết Cộng Sản, nhưng họ không đi theo, họ có tin nhưng vì trí tuệ của họ đã phát triển cao hơn để họ không phải bước qua giai đoạn đó nữa.
Cho nên, thực ra, nếu nói đây là sự chọn lựa tất yếu, thì đó là sự chọn lựa tất yếu của những người trí thức nhưng mà trí tuệ phát triển chưa tới. Nếu đủ trí tuệ thì đã có thể tránh được [sự chọn lựa đó] rồi.
Đinh Quang Anh Thái: Trở lại một câu mà lúc nãy chúng tôi vừa mới trích dẫn trong bài viết của ông, là “cùng với người hiệp sĩ ấy nhân dân ta có những ngày sống đẹp như thần tiên,” thì khi viết như vậy, ông có nghĩ rằng ông đã xúc phạm đến vong linh hàng triệu nạn nhân đã lót đường cho chủ nghĩa mà bây giờ chính ông, ông cũng đang chống lại không?
Hà Sĩ Phu: Lúc nãy tôi có nói là dân tộc mình trải qua một quá trình vận động hết sức phức tạp của lịch sử. Cho nên cái lối tư duy phân tuyến đơn giản chia thành hai gói: một gói trắng, một gói đen, một gói phải, một gói trái, một gói chính, một gói tà; rồi trắng là trắng hết ngay từ đầu, đen là đen hết ngay từ đầu; thì thực sự ra nó không phản ánh đúng thực tiễn. Không phải vì tôi và anh đối địch, mà về sau là cứ khen bất cứ cái gì của tôi là xúc phạm tới anh; bởi vì trong tôi có cái đúng, cái sai. Và trong tôi, đâu phải là cá nhân tôi, còn cả tập đoàn của tôi có người thế này, thế kia. Bởi vậy khi mà khẳng định có những ngày sống đẹp, xin hiểu như thế này, cái đẹp đó là cái đẹp không trần tục, không phải là cái đẹp thực tế. Cái đẹp thần tiên làm sao tồn tại trên trần gian được? Cái đẹp đó được nẩy sinh trong điều kiện đơn giản, còn nghèo khó, còn ảo tưởng, chứ khi tiếp xúc với cuộc sống thực tiễn thì nó bị đẩy lui. Vì đó là cái đẹp mong manh của giai đoạn chưa phát triển. Thứ đến là có cái tốt lẫn cái ngộ nhận của dân tộc. Thế nhưng khi khẳng định mặt mà ta còn có thể coi là tích cực đó thì không hề có ý là phủ định những mầm mống sai lầm đã có ngay từ đầu.
Như tôi đã nói lúc đầu, trong lúc đa số có một sự hồ hởi như thế, thì một cuộc thanh trừng giai cấp có thể đã nổ ra ở một chỗ nào đó nhưng nó chưa chi phối tình hình tâm lý chung của cả nước. Vậy giữa cái sai và cái đúng, giữa mặt tích cực và tội lỗi, nó xen kẽ cùng một lúc, cho nên khẳng định vấn đề ở chỗ này, không có nghĩa là phủ định một vấn đề ở chỗ khác. Tôi nghĩ rằng, trong tình hình phức tạp đó, khi khẳng định mặt tốt trong đó có yếu tố dân tộc tham gia, tôi không hề có ý định phủ định các tội lỗi mà một bộ phận hay chính các thế lực ấy gây ra ở chỗ khác. Tôi nghĩ là hai cái đó không có gì mâu thuẫn nhau.
***
Hà Sĩ Phu là một trí thức sinh ra, lớn lên, chứng nghiệm Xã hội Chủ nghĩa Cộng sản bằng chính bản thân mình. Không thù hận, không báng bổ, ông từ tốn, lột trần bản chất của cái chủ nghĩa đang bị nhân loại vất vào thùng rác của lịch sử.
Trong nước, Hà Sĩ Phu trăn trở như thế. Ở hải ngoại, nhà thơ Lê Bi, một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, cũng trăn trở khi đặt bút viết bài thơ BỨC TƯỜNG BÁ LINH CÓ THẬT vào năm 1999, trong bối cảnh người dân cả khối Đông Âu và Liên Xô đứng lên lật đổ các chế độ Cộng Sản cai trị những đất nước này.
Bức tường Bá Linh có thật
Rất thật
Nhưng khi vỡ, nó vỡ như mơ
Rất mơ
28 năm lõa lồ trên mặt đất
Mất hôm qua hay tự bao giờ.
Đừng gởi về Việt Nam bất cứ viên gạch nào
của bức tường Bá Linh
Nó có thể làm tủi cả dòng sông Bến Hải
Đừng để lịch sử phải khóc
dù thời gian không thể quay đầu lại
Và mỗi người Việt Nam sẽ biết thêm
cái giá thống nhất nước mình.
Có những người đập phá bức tường
bằng tất cả niềm vui
Mà không kinh ngạc
Cũng chẳng ai thấy điều gì mất mát
Để chúng ta hiểu đó chỉ là chuyện bình thường
Khi con người bắt đầu đứng lên
đòi quyền sống thật
Ngay cả những giấc mơ cũng có thể bước ra đường
Mọc lên trăm ngàn ngọn nến
Những ngọn nến lung linh
Cả nước Đức phải thức
bước tới tương lai
Và trời sao cúi thấp
Chen lấn với người
Tôi cũng thức
Những cơn gió mùa thu 1989 làm rộn ràng nước Đức
Và tôi vội vàng dấu đi nước mắt
Những giọt nước mắt nuốt ngược ruột gan
Tôi ngoài Việt Nam ngoài nước Đức
Những cơn gió rộn ràng thổi ngoài Việt Nam
Gió ngoài Việt Nam
Rất ngoài Việt Nam.
Bức tường Bá Linh có thật
Quá thật
Bao nhiêu năm tôi mới có lần nhìn gần nước Đức
Nhìn từ cái búa cái đục
Trong tay những kẻ vô danh
Cũng cao hơn biết bao tầm nhìn trí tuệ
Khi thế giới chuyển mình nhìn nó đổ
Gạch đá cũng vui
Khi nhân loại tung lên những nụ cười
Một khoảng trời sao không thể ngủ
Khi những con người khám phá ra
quyền sống bình thường
Thở bình thường
Nói bình thường
Đi lại bình thường
Nước Đức không thể ngủ
Có những góc cạnh không thể ngủ
Những bản tin trên màn ảnh nhỏ
như những ngọn đèn không thể ngủ
Tôi không thể ngủ
Khi những ngọn đèn vẫn mọc ngoài Việt Nam
Chiếu sâu vào quá khứ
Tra tấn Việt Nam.
28 năm quá dài cho những kẻ đợi chờ
28 năm và 42 cây số quá ngắn
để che giấu cho một thời đại
Hãy giữ những phần còn lại
Giữ mãi
Như những bức tượng thời Trung cổ
Làm di tích
cho cả loài người.
Đừng, đừng nói với Việt Nam bất cứ một tin tức gì
về bức tường Bá Linh
Nó có thể làm Trường Sơn vùng lên tức tưởi
Những bà mẹ không thấy xác đàn con
Những oan hồn
không chiều dài chiều cao chứa nổi.
Hãy cứ để nó sần sùi
Ôi những tảng gạch vô tri vô giác
Đã thành não trạng của những niềm vui
Vừa tự vỡ.
28 năm cuộn tròn
28 năm không ngẩng mặt
Không dài hơn sông Bến Hải
Không cao hơn Trường Sơn
Hạnh phúc cho nước Đức
Đã dạy bao người bước qua ô nhục
Mà không phải hận thù
bạo lực
Và dạy tôi phải nuốt những giọt nước mắt
Giữa những niềm vui.
Nước Đức ở quá xa
Mưa tháng 11 quá xa
Tôi không ở gần được ôm được khóc
Hạnh phúc cho nước Đức
Đã dạy chúng tôi chiến thắng cao cả nhất
Là trận chiến không tốn máu xương
Và tất cả được sống bình thường
Hạnh phúc cho những bông hoa
Có thể chuyền tay cho bất cứ ai xa lạ
Những bông hoa may mắn hơn chán vạn hoa
Trong chốc lát bỗng nhiên thành cột mốc
Đón sự thật ùa ra.
Bức tường Bá Linh có thật
Nó có thật tự bao giờ?
***
Ngày mùng 5 tháng 12, 1995, đúng hai ngày sau khi trả lời phỏng vấn của đài VNCR, ông Hà Sĩ Phu bị bắt tại Hà Nội.
Phóng viên thường trú Robert Tampler tại Hà Nội của hãng thông AFP gọi điện thoại hỏi tôi, có phải vì bài phỏng vấn mà Hà Sĩ Phu bị bắt không? Tôi nói, tôi không nghĩ đó là nguyên nhân khiến Hà Sĩ Phu bị bắt.
Sáu ngày sau, sáng ngày 12 tháng 12, một bản tin khá dài, đánh đi từ Hà Nội, của hãng thông tấn quốc tế AFP, tường thuật vụ Hà Sĩ Phu bị Cộng Sản Hà Nội bắt.
Mở đầu, bản tin AFP viết: “Hà Sĩ Phu bị công an ở Hà Nội bắt giữ, trên đường trở về thành phố Hồ Chí Minh vào ngày mùng 5 tháng 12, một ngày sau khi một đài phát thanh ở hải ngoại phát đi cuộc phỏng vấn trong đó ông kêu gọi chính phủ Mỹ khoan hãy cho Hà Nội quy chế tối huệ quốc.”
Phóng viên Robert Tampler của AFP từ Hà Nội gọi điện thoại tới đài VNCR để kiểm chứng về bài phỏng vấn và hỏi về lý do của vụ bắt bớ này. Tôi trả lời, và AFP tường thuật trong bản tin là VNCR không nghĩ rằng việc phát thanh bài phỏng vấn đã đưa tới việc Hà Nội bắt giữ ông Hà Sĩ Phu. Tuy nhiên, bản tin AFP không tường thuật đầy đủ luận cứ của VNCR: VNCR đã phỏng vấn nhiểu người ở trong nước, chứ không chỉ có Hà Sĩ Phu. Trước ông, VNCR đã phỏng vấn ông Nguyễn Hộ, một đảng viên Cộng Sản từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong đảng và nhà nước Việt Nam Cộng Sản. Sau ông, VNCR phỏng vấn nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, tác giả cuốn truyện “Nửa Đời Nhìn Lại”, trong đó ông tỏ ra hối hận đã tin theo Cộng Sản.
Về phần phân tích, bản tin AFP đưa ra sự kiện gần đây Hà Nội tiến hành nhiểu cuộc xử án và bắt bớ những thành phần chống đối trong nước, cho thấy Cộng Sản Hà Nội thực sự e ngại sự chống đối này có thể trở thành phong trào, từ đó gây nguy hại cho chế độ.
Sau khi bản tin của AFP đánh đi khắp nơi trên thế giới, hai cơ quan tranh đấu cho nhân quyền là Amnesty International, trụ sở tại London, Anh Quốc, và Human Rights Watch/Asia, trụ sở tại Washington DC, đã liên lạc với VNCR để hỏi thêm chi tiết nội vụ và xin kẻ viết bài này bản ký chú cuộc phỏng vấn Hà Sĩ Phu.
Human Rights Watch/Asia sau đó cho biết, Hà Sĩ Phu bị bắt vào hồi 2 giờ chiều ngày mùng 5 tháng 12 nhân khi ông thăm viếng thân nhân ở Hà Nội. Ngày mùng 6 và mùng 7 tháng 12, công an lục soát nhà ông ở Đà Lạt, tịch thu hơn ba ngàn trang bản thảo và tài liệu, trong đó có một bài viết của ông Võ Văn Kiệt gửi Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam bàn về chiến lược chuẩn bị cho Đại Hội 8 của đảng này.
Nhà báo Huy Đức, trong cuốn Bên Thắng Cuộc, viết về vụ bắt Hà Sĩ Phu: “Ngày 5-12-1995, ông Hà Sĩ Phu, tác giả của nhiều bài chính luận sắc sảo được truyền đọc ở thời điểm ấy, đang đi xe đạp trên đường phố Hà Nội thì bị hai người đi xe máy chèn ngã. Ông Hà Sĩ Phu kêu to: ‘Ăn cướp! Ăn cướp!’ Lập tức công an xuất hiện. Thay vì bắt ‘cướp’, công an đã đưa Hà Sĩ Phu về đồn, khám túi xách, phát hiện bản sao chép thư gửi Bộ Chính Trị ngày 9-8-1995 của ông Võ Văn Kiệt. Hà Sĩ Phu khai tài liệu này ông lấy từ ông Nguyễn Kiến Giang; ông Giang khai lấy từ ông Lê Hồng Hà, một cán bộ lão thành, từng là chánh Văn phòng Bộ Công an và trước đó, từng là giám đốc trường Đào tạo sĩ quan công an 500. Ba người có liên quan đến tài liệu này đã bị bắt ngày 6-12-1996.”
Ngày 22 tháng Tám, 1996, Tòa án Hà Nội xử ông Lê Hồng Hà hai năm tù, Hà Sĩ Phu một năm tù và Nguyễn Kiến Giang 15 tháng tù treo.
***
Hà Sĩ Phu được thả ra khỏi tù ngày 5 tháng 12, 1996, sau một năm bị giam giữ vì tội bị chế độ quy chụp là “có hành vi phát tán tài liệu bí mật của nhà nước.”
Thời gian ông Hà Sĩ Phu nằm tù, tôi thường xuyên điện thoại về Việt Nam hỏi thăm tình trạng sức khỏe của ông qua “Nhóm Đà Lạt” gồm nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự và nhà văn Hoàng Tiến, nhà thơ Hoàng Cương, tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ở Hà Nội.
Khoảng hai tuần trước khi ông được thả, nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến bảo tôi, có cách nào gợi ý với những anh em dân chủ trong nước tổ chức đến đón Hà Sĩ Phu ngay cổng trại giam không. Ông Tiến bảo, hành động này đã từng được những người đấu tranh tại các nước Cộng Sản Đông Âu áp dụng. “Có tác dụng mạnh đối với quần chúng,” ông Tiến bảo tôi thế.
Như Phong Lê Văn Tiến là “nhà báo của các nhà báo,” theo cách gọi của nhà bình luận Ngô Nhân Dụng. Ông Tiến, tôi gọi bằng “cậu Tiến,” và cậu xem tôi như con của cậu. Lúc Hà Sĩ Phu bị bắt, hai cậu cháu chúng tôi ở cùng một mái nhà trong căn mobil home tại Quận Cam, California. Vì vậy, những lần tôi tiếp xúc bằng điện thoại với các nhân vật đấu tranh dân chủ tại Việt Nam, cậu luôn góp ý với tôi về nội dung các cuộc phỏng vấn. Vì cậu là chuyên gia hàng đầu trong lãnh vực “Cộng Sản học” thời trước 1975 ở Sài Gòn, nên cậu biết khá tường tận người và việc của xã hội miền Bắc.
Phỏng vấn nhà văn Hoàng Tiến, ông bảo, Hà Sĩ Phu là người theo đuổi “nghĩa lớn” của dân tộc, mà đã làm vì “nghĩa lớn” thì phải chấp nhận hy sinh thôi. Ông nói thêm, chính bản thân cũng có một thời mê đắm chủ nghĩa Cộng Sản, nhưng sau thấy “cái ác” của nó, ông dứt khoát từ bỏ, và bây giờ ông trở thành người tu đạo Phật tại gia. Và ông tin có nhân có quả, nên “Hà Sĩ Phu dấn thân vì nghĩa lớn, sẽ không có vấn đề gì đâu.”
Ý do cậu Tiến gợi, là “tổ chức đón Hà Sĩ Phu ở cổng trại giam,” tôi có trao đổi với ông Hoàng Tiến và nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự.
Ngày Hà Sĩ Phu ra tù, ngay trước cổng trại giam Thanh Xuân, đón Hà Sĩ Phu gồm: bà Thanh Biên (vợ Hà Sĩ Phu), ông đồ Nghệ An Tú Sót với một câu đối chữ Nho, người bạn Hữu Tiến từ Hải Phòng, và mấy người ruột thịt trong gia đình. “Phái đoàn” đón thẳng Hà Sĩ Phu về quê Thuận Thành-Bắc Ninh, nghỉ một ngày rồi đi máy bay vào Sài Gòn, rồi hôm sau đi máy bay lên Đà Lạt, tránh không dừng lại ở Hà Nội vì để giữ an toàn.
***
Ngày 11 tháng Bảy, 1995, Tổng Thống Bill Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cộng Sản Việt Nam.
Trước tin hai kẻ cựu thù Washington và Hà Nội bắt tay nhau chấm dứt những năm tháng dài đối đầu thù nghịch, nhiều người cho rằng, thế là lại thêm một lần nữa, Mỹ hà hơi tiếp sức cho chế độ độc tài toàn trị để tập đoàn lãnh đạo củng cố quyền lực của nó; nhưng cũng nhiều người cho rằng đây là cơ hội tốt để có thể phát động rộng lớn tinh thần đấu tranh đòi dân chủ.
Hà Sĩ Phu nhận định ra sao về vấn đề này? Ông nói, trong cuộc phỏng vấn do tác giả thực hiện ngay sau khi có quan hệ bang giao Washington - Hà Nội:
a) Nếu đối với một đối tượng giáo điều cứng ngắc, phi lý, phi quy luật như trước đây thì cách hóa giải rất là dễ. Bởi vì nó phi thực tế, phi quy luật. Cho nên bây giờ cứ bình thường hóa mọi điều đưa nó trở về với xã hội thông thường, với quy luật là nó tự bộc lộ cái tính phi lý và tự tan rã.
b) Nhưng hiện nay đối tượng ấy đã thức tỉnh, biết triệt để lợi dụng các quy luật, lợi dụng thế thượng phong của người đã nắm quyền lực và tận dụng thực trạng tâm trí để thực hiện ý định của mình, thì việc hóa giải nó không dễ dàng chút nào. Vì thế cho nên việc bình thường hóa với thế giới, đặc biệt là bình thường hóa toàn diện với Hoa Kỳ không hẳn là đơn giản.
Tôi nghĩ việc bình thường hóa là một cái sàn đấu mà mọi đấu thủ cuối cùng đều phải trở về đấy, đều phải chọn cái đó, không thể nào khác được. Các đấu thủ đều phải trở về đó để đấu, nhưng cái sàn đấu ấy không phải thuận lợi riêng cho ai. Tại sàn đấu ấy, mọi cuộc đấu ấy sẽ bắt đầu, còn việc thắng thua vẫn còn ở phía trước. Bởi tự cái sàn đấu ấy nó không quật ngã ai cả, mà cũng không phải là nó dành sẵn huy chương vàng cho ai. Cho nên, việc bình thường hóa tự nó chưa mang một ý nghĩa [thuận lợi] cho bên này, hay bên kia. Vấn đề là tạo nên thực lực, vận động cho phong trào dân chủ mà thôi.
Thứ nữa, riêng về phía người Mỹ, chúng tôi không có ảo tưởng về chuyện này nhiều lắm. Nếu ở trong nước có một phong trào đấu tranh giữa dân chủ và phi dân chủ mạnh mẽ, thì tôi nghĩ rằng cái thái độ của Mỹ rất rõ, tức là ủng hộ phía dân chủ. Nhưng nếu tình hình của ta quá bê bết chẳng hạn, thì tôi nghĩ các nhà tư bản nói chung và Mỹ nói riêng cũng không dại gì chuốc lấy việc đương đầu với nhà nước Cộng Sản làm gì.
Có người lại còn bình như thế này: Một anh tư bản nước ngoài muốn vào khai thác tận dụng các điều kiện sinh lợi ở các nước khác thì nó cần một chính phủ để ủng hộ nó. Thế là có khi làm việc với một chính phủ Cộng Sản độc tài lại hay hơn bởi vì, chính phủ Cộng Sản đã chi phối toàn bộ quần chúng rồi, nắm được chính phủ đó tức là dân chúng chẳng còn gì có thể gây trở ngại cho họ nữa. Bởi vậy họ muốn đàn áp bóc lột, nếu dân có biểu tình [phản đối], thì lập tức chính phủ ấy đã đứng ra đàn áp rồi. Còn nếu mà phong trào trong nước chưa có gì, thì chưa hẳn Mỹ và Cộng Sản đối địch với nhau đâu. Có khi họ lại hợp tác với nhau rất là ngon lành cũng nên. Vì thế, việc bình thường hóa tự nó chưa đem lại sức mạnh gì quyết định nhưng mà phải công nhận nó là cái sàn đấu rất là thuận lợi cho dân chủ.
***
Trong nhiều năm, một số các tổ chức người Việt tỵ nạn Cộng Sản tại hải ngoại liên tục tranh đấu để chế độ Hà Nội phải bỏ điều 4 Hiến Pháp (quy định vai trò cai trị độc tôn của Đảng) và tiến tới một cuộc bầu cử có quốc tế giám sát để người dân dùng lá phiếu quyết định thể chế chính trị của Việt Nam.
Tôi nêu vấn đề này với Hà Sĩ Phu.
“Về vấn đề này tôi thấy không nên nhận định tình hình theo cảm tính, theo nguyện vọng [của mình], mà phải theo đúng cái thực tế đang có. Nếu ở tình trạng như hiện nay, dẫu có một cuộc bầu cử hoàn toàn tự do, ngay đến cả có quốc tế giám sát chăng nữa, thì đảng Cộng Sản vẫn có nhiều khả năng thắng phiếu, vì bốn lý do như thế này:
1) Người dân chỉ đòi hỏi những thay đổi nếu thấy không thể nào sống như cũ được nữa. Ví dụ: một đứa trẻ khi nó thấy cái giường của nó chật hẹp quá, nó mới nhảy xuống đất nằm. Còn lúc đứa trẻ chỉ mới biết bò thôi, thì được nhảy từ cái nôi sang cái giường, không gian của cái giường đối với nó như thế đã là đủ rồi. Bởi vậy, trước đây có sự o ép rất là triệt để, bây giờ nới ra một tí tẹo, đối với dân trí thông thường người ta thấy như thế là tạm đủ rồi. Như vậy, nhu cầu gọi là phá cái giới hạn đó, để đến một không gian dân chủ tốt hơn, thì hiện nay mới có ở thành thị và một số trí thức tiên tiến thôi.
2) Đối với số đông dân cư ở các vùng nông thôn, ở miền núi, thì người dân ở đó chưa biết cái gì tồn tại ở trên đời, ngoài đảng Cộng Sản Việt Nam. Cho nên, ở các thành phố lớn, tình hình mới có thể đảo ngược. Còn khi tự do bầu cử thì ở nông thôn họ chưa chắc biết cái mới là cái gì đâu.
3) Sống quá lâu trong điều kiện dân chủ giả, dân ta đã có thói quen coi thường lá phiếu, không biết phải thực hiện quyền dân chủ bằng lá phiếu của mình. Cho nên họ coi đây là một thủ tục rất là hình thức, đi làm cho qua chuyện. Bao nhiêu năm nay bầu cho ai mà chả thế? Cho nên bây giờ nếu không được chuẩn bị, cứ thế mà tổ chức bầu cử, thì chả có cái trách nhiệm cân nhắc kỹ trong chuyện lựa chọn lá phiếu.
4) Tôi thấy cái thực tế do đảng Cộng Sản [tạo nên] trong những năm vừa rồi đã khiến cho không có một tổ chức nào, không một nhân tài xã hội nào được phép nẩy nở, bên ngoài vòng tay của đảng. Hiện nay cũng không có đối tượng nào được phơi bày ra trong nước để người ta kén chọn. Như vậy, nếu cứ giữ nguyên trạng như thế này để mà bầu cử thì dù có dân chủ cũng chưa có triển vọng gì là tốt đẹp.”
***
Tháng Bảy, 1995, Hà Sĩ Phu nhận định như thế về mối quan hệ Washington và Hà Nội.
Tháng Sáu 2018, trong email gửi cho tôi, Hà Sĩ Phu viết: “Nhận định của mình năm 1995 đến nay vẫn đúng: Nếu tiến hành trưng cầu dân ý hoặc tổ chức bầu cử tự do ngay bây giờ thì ĐCS vẫn có thể dùng những thủ đoạn để giành phần thắng vì số dân thờ ơ với vận mệnh đất nước vẫn chiếm số đông hơn, và nhiều người (kể cả cán bộ, đảng viên có chút tỉnh ngộ), vẫn bị tiêm nhiễm bởi những luận điệu lâu đời của CS, nhất là từ thần tượng ảo HCM! Nhưng điều này mới là quan trọng: nếu để cho xã hội có một quá trình chuẩn bị sinh hoạt dân chủ thì tình hình sẽ khác hẳn. Thí dụ: nếu để một năm [cho mọi người dân] có sinh hoạt dân chủ thật thì lúc ấy tình hình bầu cử hay trưng cầu dân ý có thể đảo ngược.
Năm 2009, trong cuộc phỏng vấn đăng trên báo Người Việt xuất bản tại California, kẻ viết bài này nêu câu hỏi với ông Hà Sĩ Phu: Đảng Cộng sản Việt Nam hiện sợ gì nhất, ông nói:
“Những nhà lãnh đạo Việt Nam lo sợ trước sự đồng thuận và liên kết của các tầng lớp trí thức và nhân dân, lo sợ trước sự xuất hiện của các tổ chức, thậm chí các đảng phái… nhưng gom lại vẫn chỉ nằm trong hai nỗi lo sợ lớn mà thôi: lo sợ làn sóng dân chủ và lo sợ làn sóng chống Trung Quốc.
“Hai mối lo ấy bắt nguồn từ hai vấn nạn căn bản nhất của xã hội Việt Nam hiện nay là không dân chủ và không độc lập. Muốn có dân chủ phải chống lề thói toàn trị. Muốn có độc lập phải chống nạn Bắc thuộc đang hiện hình.”
Đa số đồng bào mình có nhìn thấy “hai nỗi lo sợ” ấy của đảng Cộng Sản không?
“Hai mặt trận đấu tranh hiện nay của nhân dân có hai kẻ thù đều là giặc: giặc NỘI XÂM và giặc NGOẠI XÂM. Hai giặc này đang liên kết với nhau và sử dụng nhân dân hai nước hòng củng cố quyền lực và làm giàu.
“Như tôi đã nói nhiều lần, Chủ nghĩa Cộng sản ngự trị được ở Việt Nam là do ký sinh vào Chủ nghĩa Yêu nước, hút sinh lực từ lòng yêu nước của nhân dân. Trước đây nhiều người đã nghĩ rằng đất nước sẽ dần dần thoát khỏi chủ nghĩa ảo tưởng phi khoa học ấy bằng con đường Dân chủ hoá và Đổi mới toàn diện. Nghĩ thế cũng đúng nhưng chưa thật trúng. Ngày càng rõ rằng chủ nghĩa ấy đã vào bằng đường nào sẽ phải ra bằng đường ấy: đã mượn đường giành độc lập để vào thì sẽ bị trào lưu giành độc lập bảo vệ dân tộc trục xuất, ‘tiễn đưa’ ra. Sự có mặt của chủ nghĩa Trung Hoa trên đất nước này phải chăng là do trời đất xui khiến đến như một nhân tố tiền định để hoàn thành cho xong công đoạn tống xuất có tính lịch sử ấy? Hoặc là dân Việt Nam sẽ có cả độc lập và dân chủ trong sáng hoặc là mất trắng cả hai. Những lời “canh bạc cuối”, “tỷ lệ năm ăn năm thua” thiêng như lời sấm vậy, báo hiệu mọi điều đều có thể xảy ra.”
Thưa ông, hai cuộc “rước” chủ nghĩa và “tiễn” chủ nghĩa ấy có gì khác nhau?
“Đã bị nạn ngoại xâm (dù kiểu cũ hay kiểu hiện đại) thì nhân dân đều mất quyền làm chủ đất nước và đều gọi tắt là mất nước. Nhưng thời thuộc Pháp ta chỉ mất nước nhưng không mất dân tộc, vì Pháp không có khả năng đồng hoá dân tộc Việt Nam. Một khi dân tộc còn thì lòng yêu nước vẫn còn, và còn khả năng kháng chiến để giành lại nước. Nhưng ngày nay, nếu mất nước thì e sẽ mất luôn cả dân tộc tính! Chưa cần chứng minh bằng cách đi sâu vào lý luận, vào giáo lý Khổng Mạnh và văn hóa Trung Hoa. Chỉ cần tưởng tượng hàng vạn (biết đâu sẽ không hàng triệu) người Tàu tràn vào, lúc đầu là chiếm chỗ lao động rồi ở lại, mỗi chàng lấy một, hai hoặc ba người vợ Việt Nam bất cứ già trẻ miễn có thể sinh đẻ (hiện tượng này đã xảy ra rồi). Rất nhiều phụ nữ Việt Nam đang nghèo đói, lấy Tàu tại chỗ chẳng hơn phải sang làm nô lệ tình dục ở tận Đài Loan, Nam Hàn, Campuchia… ư? Những đứa trẻ sinh ra sẽ là Tàu hay là Việt, có lòng yêu nước nữa không, yêu nước Tàu hay yêu nước Việt?
“Bị Hán hoá là mất dân tộc. Mất dân tộc thì đau đớn hơn mất nước vì không bao giờ tìm lại được đất nước nữa mà vĩnh viễn trở thành quận huyện! Suốt bốn nghìn năm lịch sử Việt Nam, người Tàu không thực hiện được điều này, vì khi xưa còn thiếu một chủ nghĩa “Quốc tế Vô sản Đại đồng” để tiếp tay cho những kẻ thống trị (mà Mác vẫn tưởng là mình tiếp tay cho dân nghèo), cái chủ nghĩa giúp người nọ chiếm của người kia, nước nọ chiếm của nước kia cứ ngọt sớt, nó có tài biến sự chiếm đoạt thành sự tự nguyện hiến dâng, nó cứ nhân danh một người nào đó là y như rằng sẽ chiếm lĩnh được người ấy, thôn tính được người ấy. Không có chủ nghĩa Mác thì người Trung Hoa làm sao ký được 16 chữ vàng để ùa một cái tiến vào tận gan ruột Tây Nguyên giữa nước Việt Nam?”
Theo nhận định của ông, não trạng của giới lãnh đạo hiện nay tại Hà Nội ra sao mà họ lại để Trung Quốc hành xử ngày càng ngang ngược với Việt Nam, im lặng để “tàu lạ” bắt giữ, ngăn chặn ngư dân Việt Nam đánh cá trong vùng biển thuộc chủ quyền của tổ quốc chúng ta?
“Mặc dù biết sự tha hoá của quái ác quyền lực (nghĩa là khi có quyền lực người ta có thể biến chất thành một cái gì hoàn toàn khác, Lênin cũng nói vậy), nhưng tôi không tin rằng tất cả những người cầm quyền có thể đồng thuận một cách sai trái trước một nguy cơ quá lớn mà lại quá sơ đẳng như vậy. Nhất định trong thâm tâm một số người có sự giằng xé, nhất định trong nội bộ phải có sự phân liệt ý kiến. Nhưng tại sao cuối cùng ‘con tàu’ vẫn cứ một chiều lao tới không thể dừng?
“Chỉ có thể giải thích rằng yếu tố ngoại lai quá mạnh. Kẻ đã yếu bao giờ cũng phải lo xa, nhưng nhà nước Việt Nam toàn đi nước cờ muộn màng, luôn ấu trĩ ảo tưởng nên bị lừa rất sớm. “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” huống chi một chú nai vàng ngơ ngác đã bị con báo nhảy lên lưng?
“Điều nguy hiểm là tình thế đã muộn, khó gỡ lại đang bị đẩy cho tăng tốc, dồn dập, cấp tập, cốt tạo ra sự đã rồi, để tình thế không thể đảo ngược! Đã tàn ác thì phải tàn ác cấp tập ngay từ đầu, để sau đó sẽ nới ra một chút để tỏ lòng nhân ái, ấy là mẹo Machiavel. Thế nước như vậy chỉ có nhân dân mới làm thay đổi được. Nhân dân như vị tướng tài, như người khổng lồ vẫn bị giam lỏng, có thả vị tướng ‘vạn địch nhân’ này ra mới cứu được nước.”
Trước tình hình Trung Quốc ngày càng tỏ dấu hiệu bá quyền với Việt Nam, đồng bào mình trong và ngoài nước có thể làm được gì?
“Theo thiển ý, chúng ta cần làm cho mọi người Việt Nam tỉnh giấc để nhận ra tình huống rất bất thường của dân tộc mình trước nạn nội xâm và ngoại xâm đang ráo riết câu kết, đang có nguy cơ trở thành “sự đã rồi”. Lịch sử không cho thoát một ai, không châm chước cho ai ngủ gật hay giả vờ ngủ gật, hoặc thế này, hoặc thế kia đều phải trả giá trước lương tâm và trước lịch sử.
“Chỉ có nhân dân mới cứu được nước. Cần phát triển một xã hội dân sự cường tráng mới phát huy được sinh lực của dân.
“Cần dẹp mọi tị hiềm, mọi thù oán cũ để hướng vào vận mệnh đất nước, không hy sinh được một chút niềm riêng thì đừng nói chi điều đại nghĩa?”
***
Có lần trong cuộc trò chuyện điện thoại, Hà Sĩ Phu nói rằng “Chủ nghĩa Cộng sản đã vào Việt Nam bằng con đường lén lút; nó lẩn vào công cuộc chống Pháp của toàn dân chứ không qua sự nhận thức của trí tuệ. Bây giờ, giới lãnh đạo Hà Nội nếu khôn ngoan thì nên chính thức làm lễ tiễn cái chủ nghĩa này ra khỏi đất nước. Nếu không, đến một lúc nào dân tộc không còn chịu đựng được nữa thì cuộc nổi dậy sẽ đánh đuổi nó (Chủ nghĩa Cộng sản) như một tên ăn cắp.”

Trời đã sinh ra nước Ngủ lại có anh Thức làm chi?

Theo VOA-Nguyễn Hùng/14/09/2018 
Các blogger ở Hà Nội mặc áo có in hình chân dung Trần Huỳnh Duy Thức. Facebook Lê Hoàng
Các blogger ở Hà Nội mặc áo có in hình chân dung Trần Huỳnh Duy Thức. Facebook Lê Hoàng
Chuyện người tù Trần Huỳnh Duy Thức, cựu giám đốc một công ty điện thoại internet từng có hoạt động ở cả Hoa Kỳ và Singapore, tuyệt thực nhiều ngày cuối cùng cũng thu hút sự chú ý của truyền thông hải ngoại và một số nhỏ trên mạng xã hội. Điều này cũng không có gì lạ. Anh Thức ở trong nhà tù nhỏ không chính thức. Số còn lại ở trong nhà tù to phi chính thức. Điều oái oăm là dù ở tù nhưng anh Thức “tự do” và đối với anh “điều đáng sợ duy nhất là nỗi sợ”. Số ở ngoài nhiều người đi đâu cũng sợ, làm gì cũng sợ, nói gì cũng sợ. Nếu vậy liệu họ có phải là con người tự do?
Có lẽ nên đặt lại câu hỏi vì sao anh Thức ở trong cái lồng nhỏ kia tám năm qua? Thì nó cũng hao hao giống như chiến dịch diệt chim sẻ mà Mao Trạch Đông phát động 60 năm về trước vốn đã khiến hàng chục triệu người chết đói vì mất mùa. Mao nghĩ chim sẻ làm hại mùa màng trong khi loài chim này góp phần bảo vệ lúa vì chúng ăn châu chấu. Việt Nam ngày nay thấy ai có nguy cơ làm tổn hại quyền lực của mình thì cũng trống chiêng ầm ĩ và thét to “phản động”, “diễn biến hoà bình”, “chống lại nhà nước” hay thậm chí “lật đổ” như họ cáo buộc anh Thức. Mà cả bốn cái này hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển của xã hội và đúng như Mác đã tiên đoán. Trước đây Đảng Cộng sản cũng phạm đủ bốn “tội” đó mới cầm quyền được như hiện nay. Và giờ họ cũng đang có những hành vi lật đổ Hiến pháp, chống lại nhân dân và có nhiều hành vi phản động nhìn từ góc độ tiến hoá và văn minh nhân loại. Những người như anh Thức chỉ ra những gì mà họ cần làm để có thể tiếp tục cầm quyền. Nhưng đương nhiên họ có nguy cơ bị loại bỏ nếu cứ đi theo còn đường chống lại nhân dân. Cái lò của ông tổng bí thư xét theo nghĩa nào đó cũng vô cùng phản động và lật đổ cả uỷ viên Bộ Chính trị còn gì. Hay giờ nhà nước cũng độc quyền luôn món “phản động”?
Cũng phải nói thêm lật đổ chính quyền một cách hoà bình là điều thường tình vẫn xảy ra vài năm một lần ở các nước dân chủ tương đối (không có nền dân chủ nào hoàn hảo cả đâu). Donald Trump chẳng đã có cuộc lật đổ ngoạn mục cách đây chưa lâu đó sao. Ở Anh Thủ tướng David Cameron còn tự lật đổ bản thân khi từ chức năm 2016 vì ông muốn Anh ở lại EU còn người dân lại muốn ly dị. Ở những nước mà quan chức không lấy keo con voi dính mông vào ghế thì chuyện rời chính trường là chuyện bình thường “như cân đường hộp sữa”. Hay như tôi đã dẫn trong một bài trước rằngngười dân Hoa Kỳ coi chuyện thay chính quyền như thay tã lót, đâu có gì to tát.
Con đường Việt Nam
Nhưng anh Thức thực ra có nhiều điểm chung với những gì mà các nhà lãnh đạo Việt Nam hay nói, đương nhiên không phải những gì họ làm. Anh muốn kinh tế thị trường nhưng cũng muốn cả sự điều tiết Xã hội Chủ nghĩa để khắc phục những khuyết tật của thị trường.
Đây là những gì anh mong muốn: “Việt Nam sẽ là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trở thành nước dân chủ và thịnh vượng trên thế giới là mục đích mà Con đường Việt Nam hướng đến.”
Vậy Con đường Việt Nam của anh là gì? Anh có giải thích trong lời giới thiệu cho cuốn sách cùng tên hồi năm 2009: “Con Đường Việt Nam sẽ phân tích cho thấy tăng trưởng kinh tế mà không đi kèm với gia tăng năng suất lao động thì chỉ là sự vay mượn của quá khứ (như khai thác tài nguyên) và tương lai (như vay vốn đầu tư, phá hủy môi trường).
“Đây là nguyên nhân gốc của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay của Việt Nam [bài viết từ năm 2009] và được dự đoán sẽ dẫn đến một sự khủng hoảng trầm trọng cả về kinh tế, xã hội lẫn chính trị trong những năm 2010, 2011, đặt đất nước vào rất nhiều nguy cơ. Đây cũng là nguyên nhân sâu xa của sự sụp đổ ở Liên xô vì đã giáo điều xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng cách phân phối công bằng tư liệu sản xuất thông qua biện pháp công hữu hóa mà không chịu nhìn nhận đánh giá thực chứng sực tác dụng gia tăng năng suất – một yếu tố then chốt mà Mác đã xác định là tiên quyết để có thể “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” – của nó. Bất kỳ sự phát triển nào không dựa vào gia tăng năng suất lao động đều không bền vững cho dù tài nguyên có lớn đến đâu đi nữa.”
Cựu giám đốc công ty OCI cũng viết: “Cuộc sống ở Việt Nam đang tạo ra một thứ niềm tin của người dân vào việc đưa hối lộ như là cách tốt nhất, thực tế nhất để mưu cầu lợi ích cho mình – từ những việc nhỏ nhặt như chứng giấy tờ đến những chuyện to tát như các loại giấy phép béo bở, từ những mục đích chính đáng như kiếm tiền sinh sống hoặc tự khẳng định mình đến những mong muốn làm giàu bất chính hoặc vươn lên bằng cách chà đạp người khác. Hầu hết đều phải dựa vào tham nhũng, tin nó và thậm chí còn bao che cho nó.
“Niềm tin đi ngược lại nó không chỉ bị xem là ngớ ngẩn, không thức thời mà còn đầy rủi ro. Tin vào công lý ngày càng trở nên phi thực tế và tốn kém mà lại không hiệu quả.
Thứ niềm tin như vậy đang tồn tại áp đảo trong thực tế làm cho động lực tự nhiên của người dân hướng đến phục vụ nhu cầu hoặc thỏa mãn yêu cầu của những kẻ xấu nắm quyền tại các bộ máy tư pháp và hành pháp ở mọi cấp, cả bộ máy của đảng cầm quyền. Môi trường pháp lý đã không thể ngăn chặn được những cái xấu mà đạo đức xã hội cũng không còn đủ sức để lên án chúng.”
Anh Thức cũng viết Việt Nam đã cam kết coi người dân như những con người thực sự tự do, thậm chí còn là những con người tự do hơn hết nhờ “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”. Chỉ có điều họ không thực hiện đầy đủ những cam kết đó.
“Tuyên ngôn độc lập 1945 đã thừa nhận rằng mọi người sinh ra đều có sẵn các quyền con người căn bản, đều bình đẳng và tự do. Năm 1977, Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc cũng có nghĩa là sự công nhận của nhà nước Việt Nam đối với các quyền bất di bất dịch này của con người được qui định và trịnh trọng tuyên bố tại Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền của LHQ vào năm 1948. Đến 1982 thì Việt Nam đã chính thức gia nhập hai Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị; và về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa. Tại đây, nhà nước Việt Nam đã long trọng cam kết tôn trọng, bảo vệ các quyền này cho công dân Việt Nam, và đồng thời cũng thúc đẩy các quyền này trên toàn thế giới. Trên tinh thần đó, Hiến pháp hiện hành (1992) của Việt Nam cũng đã hiến định tất cả các quyền thiêng liêng này của con người Việt Nam. Với những văn bản pháp lý như vậy thì mọi công dân Việt Nam từ lúc sinh ra đời đều được hưởng bình đẳng tất cả các quyền con người như bất kỳ công dân nào khác trên thế giới mà không phân biệt quốc gia, màu da, chủng tộc, xuất thân, địa vị, quan điểm chính trị, trình độ phát triển, lịch sử hình thành, v.v…, và cũng không phải chờ sự cho phép của bất kỳ luật hoặc văn bản nào dưới hiến pháp.
“Tuy nhiên, các giá trị tốt đẹp trên danh nghĩa này còn rất xa so với thực tế trong việc thực thi quyền con người trên đất nước ta. Đại đa số người dân lẫn quan chức hiện nay đều nghĩ rằng chỉ có những quyền nào có luật qui định thì công dân Việt Nam mới được sử dụng. Quan điểm vi hiến như vậy lại tồn tại phổ biến ngay tại Quốc hội trong việc lập pháp. Sự xâm phạm tự do và các quyền cơ bản của người dân lại xảy ra phổ biến tại các cơ quan hành pháp. Còn các cơ quan tư pháp thì lại trừng phạt không thương tiếc những công dân nào dám tự do sử dụng các quyền làm người căn bản của mình đã được hiến định. Cần hiểu rằng các hành động như vậy không chỉ vi hiến mà còn vi phạm luật pháp quốc tế và đi ngược lại với các chuẩn mực văn minh của thế giới.”
“Thiên Tử” và “Quyền con người”
Anh Thức nói thay vì thành thực chia sẻ những vấn nạn và thách thức của chính quyền với người dân để cùng nhau giải quyết, các nhà lãnh đạo Việt Nam chọn cách nói dối quanh khiến niềm tin của người dân vào họ ngày càng giảm sút. Anh tin rằng nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam có sự dũng cảm và liêm chính, đất nước của anh hoàn toàn có thể có sự phát triển đáng kể và sớm sanh vai cùng các nước phát triển. Nhưng anh nói có nhiều thứ đang cản trở điều này: “Nước ta đã tuyên bố độc lập và dùng thuật ngữ Cộng hòa để đặt tên nước đã hơn 63 năm, nhưng những tư tưởng và cách hành xử phong kiến như trên vẫn còn ăn sâu trong cả người dân lẫn chính quyền một cách vô tình lẫn cố ý, vô thức lẫn có ý thức. Chính sự xơ cứng trong suy nghĩ như vậy bao đời nay đã đẩy dân tộc ta thụt lùi lại rất xa trong tất cả các bước tiến hóa quan trọng của nhân loại cho đến tận ngày nay. Mỗi lần như vậy đất nước đều bị biến thành thuộc địa mà phải mất đến hàng triệu xương máu để giành lại độc lập. Nhưng cũng chỉ là sự thay đổi hình thức trên danh nghĩa, người dân chúng ta chưa bao giờ có sự thay đổi thực chất trong suy tưởng của mình để hướng đến tự do độc lập cho mình thực sự. Chính vì vậy mà hơn một ngàn năm nay dân tộc ta chưa bao giờ có được một nền độc lập đầy đủ và thực chất.
“Nhưng không có gì là phức tạp, chúng ta chỉ cần hiểu rằng thuộc tính nào của vạn vật do trời đất tạo ra thì không có sức mạnh nào của con người có thể thay đổi được, và chính thuộc tính đó tạo ra quy luật. Người ta có thể đắp chặn ngăn nước chảy xuống vùng thấp nhưng không cách gì để thay đổi thuộc tính của nước là luôn đổ về chỗ trũng, và như vậy nước chảy về trũng là một quy luật. Tương tự như thế, những kẻ cường quyền có thể tước đoạt tự do và quyền con người nhưng không thể nào thay đổi được thuộc tính người là luôn luôn mong muốn có đủ tự do và các quyền đó. Chắc có lẽ chỉ những ai bị đánh rơi trong rừng từ lúc nhỏ thì mới không có mong muốn đó mà thôi. Do vậy Quyền Con người cũng là một quy luật mà khi được tôn trọng và sử dụng đầy đủ thì chúng ta sẽ có được sức mạnh tựa phép màu như đại hồng thủy.
“Ở nơi nào con người tự tin thực hiện các quyền này thì ở đó “thiên tử” xuất hiện, tức là Quyền con người tồn tại thực tế trong cuộc sống ở nơi ấy. Và vùng đất ở đó chính là địa linh nhân kiệt vì sẽ có rất nhiều anh hùng hào kiệt – những người tự tin, tự do và độc lập để khám phá nhiều quy luật khác của trời đất, từ đó tạo ra sức mạnh nhằm mang lại sự giàu có và những điều tốt đẹp cho cuộc sống chúng ta, bảo vệ dân tộc ta, thịnh cường đất nước ta. Đó là cách chúng ta chủ động kiến tạo nguyên khí, lựa chọn nhân tài để phát triển quốc gia, phục vụ cho chúng ta chứ không phải thụ động trông chờ và cầu may minh quân xuất hiện và ban phát tài năng của họ.”
Anh Thức thực sự tin rằng “[s]ức mạnh thực sự của một quốc gia nằm ở sự hiểu biết của cả dân tộc ở đó chứ không phải bởi trí tuệ riêng của bất kỳ một con người hay đảng phái nào” và muốn đánh thức phần còn lại của xã hội. Đáng tiếc là nhiều người vẫn đang ngủ vùi, ngủ nướng hay ngu quên nơi niêu cơm mà quên rằng xã hội và cả chính quyền là do mỗi con người góp phần tạo ra. Nếu họ không thay đổi thì cũng đừng mong chờ xã hội và chính quyền sẽ tự tốt lên. Còn chính quyền cũng không nên ảo tưởng mà nghĩ rằng quyền lực của họ là mãi mãi vì “điều duy nhất không thay đổi trên thế giới là nó sẽ thay đổi” dù họ có muốn hay không. Chỉ là khi nào và như thế nào mà thôi.

Việt Nam yêu cầu Facebook ‘hợp tác chặt chẽ’ với chính quyền

Theo VOA-14/09/2018 
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (phải) trong buổi họp với ông Simon Milner-Phó Chủ tịch về Chính sách công tại châu Á-Thái Bình Dương của Facebook.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (phải) trong buổi họp với ông Simon Milner-Phó Chủ tịch về Chính sách công tại châu Á-Thái Bình Dương của Facebook.
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Facebook hợp tác chặt chẽ với Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT), gỡ bỏ các thông tin “xấu độc”, ảnh hưởng đến quốc gia, trật tự an toàn xã hội và phải “có trách nhiệm” với hơn 60 triệu tài khoản tại Việt Nam.
Đề nghị của Thủ tướng Việt Nam được đưa ra trong cuộc họp với ông Simon Milner, Phó Chủ tịch về Chính sách công tại châu Á-Thái Bình Dương của Facebook, bên lề Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN vào chiều 13/9.
Ngoài yêu cầu kiểm soát tài khoản người dùng, các lãnh đạo của Việt Nam còn đốc thúc công ty công nghệ toàn cầu này mở văn phòng đại diện tại Việt Nam, gia tăng áp lực buộc Facebook phải tuân theo Luật An ninh mạng đầy tranh cãi mà Việt Nam mới thông qua hồi tháng 6, theo Reuters.
“Quyền Bộ trưởng (Bộ TTTT) Nguyễn Mạnh Hùng cũng đề nghị Facebook trên cơ sở kinh doanh thành công tai Việt Nam, thì cũng nên dành một tỷ lệ doanh thu để tái đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, và sớm mở văn phòng đại diện tại Việt Nam”, truyền thông Việt Nam đồng loạt cho hay.
Một phát ngôn nhân của Facebook nói với Reuters rằng cô không bình luận gì về thông tin này.
Theo nhận định của hãng thông tấn có trụ sở ở Anh, mặc dù Việt Nam có những cải cách kinh tế sâu rộng và mở cửa cho những thay đổi xã hội, nhưng Đảng Cộng sản cầm quyền vẫn không chấp nhận sự bất đồng và kiểm soát chặt chẽ truyền thông trong nước.
Các công ty công nghệ hàng đầu như Google, Facebook, YouTube… mặc dù chống lại các điều khoản của Luật An ninh mạng yêu cầu phải lưu trữ dữ liệu người dùng tại địa phương, nhưng vẫn chưa đưa ra quan điểm cứng rắn đối với các điều khoản nhằm gia tăng đàn áp các hoạt động chính trị trên mạng.
Tuy vậy, cá nhân các quan chức của công ty lại bày tỏ quan ngại rằng các trung tâm dữ liệu và văn phòng tại địa phương có thể giúp cho chính quyền dễ dàng nắm bắt dữ liệu người dùng hơn và đặt nhân viên địa phương trước nguy cơ bị bắt giữ.
Hồi tháng 7, 17 nhà lập pháp Mỹ đã kêu gọi các các lãnh đạo công ty Facebook và Google chống lại Luật an ninh mạng, vốn bị các nhà phê bình cho rằng đã trao thêm quyền lực cho nhà nước để đàn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến.
Luật an ninh mạng, bắt đầu có hiệu lực vào đầu năm tới, quy định rằng Facebook, Google và các công ty công nghệ toàn cầu phải lưu trữ dữ liệu cá nhân người dùng tại Việt Nam và mở văn phòng ở trên lãnh thổ Việt Nam.
Một số tổ chức quốc tế cũng đã lên tiếng yêu cầu Việt Nam thu hồi luật này và cho rằng đây là bản sao của Luật An ninh mạng của Trung Quốc.
Đáp lại yêu cầu của lãnh đạo Việt Nam, đại diện Facebook nói “sẵn sàng chia sẻ với Việt Nam về những vấn đề mà nhiều quốc gia đang gặp phải, nhất là an ninh mạng để hai bên cùng thảo luận, định hình những biện pháp khắc phục, xử lý sao cho phù hợp với mỗi quốc gia”, theo Zing.
Tuần trước, quyền Bộ trưởng TTTT Nguyễn Mạnh Hùng lên tiếng trên truyền thông trong nước, nói rằng Việt Nam cần xây dựng mạng xã hội “made in Vietnam” thay vì để thị phần rơi vào tay Facebook, Google, đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2022 sẽ đạt bằng hoặc hơn số tài khoản Facebook tại Việt Nam, chiếm 60 - 70% thị phần.

Chọn đi, 'Công viên Fidel' hay miễn học phí cho trẻ con?

Theo VOA-Trân Văn/14/09/2018 
Chân dung Fidel Castro.
Chân dung Fidel Castro.
Ai cũng biết trẻ con là mầm non. Nuôi, dạy, chăm sóc những mầm non ấy như thế nào sẽ tác động trực tiếp tới tương lai của một quốc gia và vận mệnh của một dân tộc.
Ở Việt Nam, nuôi, dạy, chăm sóc mầm non luôn luôn có vấn đề. Tính chất, tầm vóc của những vấn đề liên quan tới mầm non luôn luôn nghiêm trọng và đủ lớn để trở thành vấn nạn. Những vấn nạn về nuôi, dạy, chăm sóc mầm non luôn luôn thuộc loại nan giải và mức độ nan giải tăng dần theo thời gian…
***
Cách nay vài ngày, Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam tổ chức thẩm tra Dự luật sửa Luật Giáo dục - lĩnh vực có đủ loại vấn nạn và trong mắt dân chúng đã trở thành thảm họa cho cả mầm non, gia đình, xã hội cả ở hiện tại lẫn tương lai. Dự luật sửa Luật Giáo dục được xem như một nỗ lực để giải quyết những vấn nạn trong giáo dục, khiến giáo dục trở thành thảm họa.
Một trong những điểm mới của Dự luật sửa Luật Giáo dục là ý tưởng miễn học phí cho trẻ con theo học các bậc mầm non, trung học cơ sở của hệ thống công lập và hỗ trợ học phí cho trẻ con phải học phổ cập (hình thức giáo dục dành cho những đứa trẻ không đủ điều kiện về tuổi tác, học lực, tài chính để đi học một cách bình thường như những đứa trẻ khác).
Cho dù luôn khẳng định Nhà nước Xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam “ưu việt” hơn thiên hạ nhưng trước giờ, tại Việt Nam, chỉ có trẻ con theo học bậc tiểu học được miễn học phí. Các bậc học trước đó, cũng như sau đó phải trả đúng, trả đủ học phí, chưa kể bậc học nào cũng phải trả thêm đủ loại… phụ phí và đó là lý do, nghèo đồng nghĩa với thất học bởi chi phí cho giáo dục vượt quá khả năng của nhiều gia đình. Trong bối cảnh như thế, tất nhiên ý tưởng đã kể được nhiều giới, đặc biệt là người nghèo xem như một yếu tố tích cực.
Sáng 12 tháng 9, khi trình bày Dự luật sửa Luật Giáo dục trước Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam, ông Phùng Xuân Nhạ, Bộ trưởng Giáo dục – Đào tạo, nhấn mạnh, chủ trương chỉ miễn học phí cho những đứa trẻ theo học bậc tiểu học “đang gây khó khăn cho việc huy động trẻ đến trường, nhất là ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”, thành ra cần mở rộng việc miễn học phí cho cả trẻ con theo học các bậc mầm non, bậc trung học cơ sở của hệ thống công lập, hỗ trợ học phí cho trẻ con phải học phổ cập tại những cơ sở giáo dục ngoài công lập. Ông Nhạ nói thêm là theo tính toán của Ban Soạn thảo Dự luật sửa Luật Giáo dục thì nếu chấp nhận chuyện miễn học phí cho trẻ con theo học các bậc mầm non, trung học cơ sở của hệ thống công lập và hỗ trợ học phí cho trẻ con phải học phổ cập, mỗi năm, sẽ phải chi 4.370 tỉ đồng. Tuy nhiên Bộ Giáo dục – Đào tạo không xin thêm tiền từ công quỹ mà sẽ tự cân đối trong khoản 20% ngân sách được chi cho giáo dục - đào tạo.
Để thuyết phục Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam đồng tình với điểm mới – được xem là tích cực của Dự luật sửa Luật Giáo dục, ông Vũ Đức Đam, Phó Thủ tướng , lưu ý, các quốc gia khác phổ cập giáo dục đến cấp nào thì miễn học phí cho cấp đó. Việt Nam đang phổ cập giáo dục cấp trung học cơ sở và chuẩn bị phổ cập cấp trung học phổ thông nhưng chỉ miễn học phí cấp tiểu học là không ổn. Ông Đam nhắc, miễn học phí, hỗ trợ học phí là chuyện đã bàn nhiều năm nhưng chưa làm. Lần này, Bộ Giáo dục – Đào tạo và Bộ Tài chính đã tính toán kỹ và nhận thấy có thể làm được. Nếu Quốc hội gật đầu, hệ thống hành pháp sẽ tính toán lộ trình và sẽ không lấy của công khố quá mức 20% ngân sách dành cho giáo dục – đào tạo…
Đáng ngạc nhiên là Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam – bộ phận điều hành Quốc hội, nơi đại diện cho nguyện vọng, ý chí của toàn dân lại không ưng với ý tưởng miễn học phí cho cả trẻ con theo học các bậc mầm non, bậc trung học cơ sở của hệ thống công lập, hỗ trợ học phí cho trẻ con phải học phổ cập tại những cơ sở giáo dục ngoài công lập.
Ông Phùng Quốc Hiển, Phó Chủ tịch của Quốc hội Việt Nam, thừa nhận, cần hỗ trợ chuyện học hành nhưng Quốc hội đã ban hành nghị quyết là trước mắt, không ban hành chính sách mới, nếu ban hành phải cân đối nguồn lực và chất vấn: Ban Soạn thảo Dự luật sửa Luật Giáo dục đã “quán triệt tinh thần nghị quyết của Quốc hội chưa?” Trong tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về ngân sách như hiện nay, nếu thực hiện thì ngân sách có thể bảo đảm được không?
Ông Hiển dẫn chuyện một số trường ở một số thành phố, nơi học phí bảy, tám triệu đồng/tháng nhưng một số phụ huynh vẫn tranh với nhau để giành chỗ cho con mình nhằm bác bỏ ý tưởng miễn học phí, hỗ trợ học phí vì Dự luật sửa Luật Giáo dục chưa chặt chẽ, chưa hợp lý, thậm chí “vi phạm nguyên tắc thị trường”. Theo ông Hiển, phải “giới hạn việc miễn học phí đối với học sinh vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế khó khăn”.
Theo tường thuật của tờ Thanh Niên thì bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội cũng “quan tâm tới tác động của chính sách mới đối với ngân sách nhà nước”. Cho dù Dự luật sửa Luật Giáo dục khẳng định không làm cho tổng chi ngân sách dành cho giáo dục – đào tạo vượt quá tỉ lệ 20% tổng chi ngân sách nhà nước song bà Ngân vẫn băn khoăn trước chuyện “ban hành nhiều chính sách mới thực hiện thế nào” (1).
Ngoài ông Hiển, bà Ngân, những thành viên khác trong Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam như ông Nguyễn Khắc Định, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật cũng không tán thành ý tưởng miễn học phí, hỗ trợ học phí nêu trong Dự luật sửa Luật Giáo dục. Ông Định bảo rằng, cho dù chính phủ cam kết sẽ không để việc áp dụng miễn học phí, hỗ trợ học phí khiến chi tiêu của ngành giáo dục – đào tạo vượt quá tỉ lệ 20% tổng chi ngân sách nhưng ông không tán thành vì điều đó “sẽ ảnh hưởng tới các hoạt động khác của ngành” (2)…
Nhìn một cách tổng quát, đa số thành viên trong Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam không tán thành ý tưởng miễn học phí cho trẻ con theo học các bậc mầm non, trung học cơ sở của hệ thống công lập và hỗ trợ học phí cho trẻ con phải học phổ cập vì sợ thiếu tiền. Nỗi sợ ấy lớn đến mức họ không phân biệt được sự khác biệt giữa “phổ cập” và “tư thục”, nỗi sợ ấy khiến họ quên luôn rằng, chẳng riêng vùng sâu, vùng xa, các thành phố cũng đang có rất nhiều người nghèo. Nếu phổ cập giáo dục tới bậc trung học cơ sở là chủ trương chung thì thậm chí, hỗ trợ học phí cho học sinh tư thục theo mức học phí hệ công lập cũng là bình thường vì học sinh tư thục cũng là công dân, cũng là mầm non, tất cả công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Chẳng lẽ miễn học phí, hỗ trợ học phí như một thứ phúc lợi chung cho tất cả mầm non là “vi phạm nguyên tắc thị trường”?
***
Ngày 12 tháng 9, trong khi Ủy ban Thường vụ của Quốc hội Việt Nam nghe và cho ý kiến về Dự luật sửa Luật Giáo dục tại Hà Nội thì ở Quảng Trị, Hội đồng nhân dân tỉnh này triệu tập “cuộc họp bất thường” để… thông qua “Nghị quyết” về việc đặt tên cho công viên sẽ khánh thành vào ngày 15 tháng 9 tại thành phố Đông Hà là “Công viên Fidel” (diện tích 16 héc ta, có tượng đài Fidel Castro, tổng vốn đầu tư là 115 tỉ đồng – trong đó, công khố chi 30 tỉ, Quảng Trị đem công thổ ra đấu giá, kiếm thêm 85 tỉ nữa để bù vào cho đủ) (3).
Có một điểm cần lưu ý là sau khi Fidel Castro qua đời (tháng 12 năm 2016), chính quyền Cuba đã loan báo rộng rãi di nguyện của ông ta (đừng dựng tượng đài cũng đừng lấy tên ông ta đặt cho bất kỳ công trình công cộng nào) và tuyên bố sẽ thực hiện đúng di nguyện ấy. Tuy nhiên tại Việt Nam, hết Quảng Bình rồi tới Quảng Trị thi nhau tạc tượng, lập Khu tưởng niệm, xây Công viên tưởng nhớ… Fidel chỉ vì trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 9 năm 1973 – khi cuộc chiến giữa hai miền Nam, Bắc Việt Nam chưa kết thúc, Fidel từng bí mật đến Quảng Bình và đảo qua Quảng Trị vào ngày 15 tháng 9 năm 1973!
Trong bối cảnh ngân sách thâm hụt, chi nhiều hơn thu phải liên tục vay mượn đủ nguồn cả trong lẫn ngoài, nợ nần càng lúc càng cao, những Khu tưởng niệm, Công viên tưởng nhớ Fidel,… trở thành lý do hệ thống công quyền Việt Nam từ trung ương đến địa phương bị dân chúng Việt Nam chỉ trích kịch liệt (4).
Đó cũng là lý do ngày 12 tháng 9 vừa qua, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị phải tổ chức “cuộc họp bất thường” để… thông qua “Nghị quyết” về “Công viên Fidel”. Thông qua báo chí, ông Nguyễn Đức Chính, Chủ tịch tỉnh Quảng Trị phân bua, công trình xây dựng công viên khởi công từ 2015 để “phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí của nhân dân và hoàn thiện không gian đô thị”, tỉnh này chỉ nghĩ tới “Công viên Fidel” khi Fidel qua đời và đã xin Ban Bí thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN dựng tượng! Ông Chính nói thêm “Công viên Fidel” là… công viên đối ngoại của cả nước đối với Cuba chứ không riêng Quảng Trị!..
Nếu đặt thái độ, cách ứng xử của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam đối với những cổng chào, tháp biểu tượng, tượng đài, công viên, quảng trường, đủ loại dự án quốc gia trị giá hàng trăm tỉ, hàng ngàn tỉ, hàng chục ngàn tỉ, thậm chí hàng trăm ngàn tỉ… bên cạnh các chính sách về phúc lợi công cộng, ắt ai cũng thắc mắc, tại sao hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam luôn luôn dễ dãi tới mức khó hiểu đối với những kế hoạch đã biết chắc là không sinh lợi, chỉ tạo thêm nợ nần và ngược lại, xem xét chi li, bới tìm kỹ lưỡng, nêu ra hàng loạt băn khoăn cho ngân sách, công quỹ đối với những ý tưởng nhằm thực thi an sinh xã hội?
Giữa những thứ kiểu như “Công viên Fidel” với những chính sách như miễn học phí cho trẻ con theo học các bậc mầm non, bậc trung học cơ sở của hệ thống công lập, hỗ trợ học phí cho trẻ con phải học phổ cập, thứ nào hữu ích cho quốc gia, dân tộc, đáng bận tâm và phải nỗ lực thực hiện cho bằng được hơn? Tại sao tưởng nhớ - bày tỏ sự biết ơn Fidel có thể thôi thúc hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam mạnh mẽ tới mức, mạnh dạn mang cả công thổ ra đấu giá để có tiền hoàn tất “Công viên Fidel”, mà lại đắn đo, bàn ra tán vào chuyện tiếp sức cho trẻ con học hành? Đó là đặc thù của kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ư?
Chú thích

Du khách Trung Cộng vào nhiều nhưng không đi đôi với lợi ích kinh tế cho Việt Nam

Du khách Trung Cộng vào nhiều nhưng không đi đôi với lợi ích kinh tế cho Việt Nam
Phó thủ tướng CSVN Vương Đình Huệ mới đây ra lệnh tìm cách ngăn chặn việc sử dụng WeChat Pay, AliPay và những thiết bị thanh toán bất hợp pháp tại những tụ điểm du lịch có nhiều du khách Trung Cộng.
Truyền thông trong nước dẫn lời ông Huệ nói rằng, các hệ thống thanh toán này dẫn đến nguy cơ trốn thuế. Trong nửa đầu của năm 2018, có 2.5 triệu du khách Trung Cộng đến Việt Nam, chiếm 32% tổng số du khách quốc tế. Theo nhận định của học giả Lê Hồng Hiệp thuộc Viện ISEAS-Yusof Ishak ở Singapore, lợi ích kinh tế mà số du khách Trung Cộng đông đảo này mang đến cho Việt Nam không lớn lao như mọi người nghĩ. Theo một số hướng dẫn viên du lịch trong nước, nhiều chủ cửa hàng Việt Nam giờ đây cũng thiết lập trương mục ngân hàng ở Trung Cộng và chuyển tiền của du khách Trung Cộng trả thẳng vào các trương mục đó.
Ông Huệ cũng ra lệnh cho Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư đánh giá tác động của cái gọi là “tour du lịch 0 đồng” đối với kinh tế và an ninh. Đông đảo du khách Trung Cộng trong mấy năm trở lại đây đã vào Việt Nam theo những “tour du lịch 0 đồng”, cung cấp chỗ ở và bữa ăn miễn phí. Để đổi lại, họ phải đi mua sắm tại những cửa hàng chỉ phục vụ khách Trung Cộng với hàng hóa có giá cao hơn giá thị trường bản địa nhiều lần. Các cửa hàng này do người Trung Cộng làm chủ, hoặc đôi khi do người Việt Nam đứng tên nhưng có nhà đầu tư Trung Cộng đứng sau lưng. Truyền thông trong nước đã nhiều lần phản ánh hiện tượng “tour du lịch 0 đồng”, nhưng tới nay nhà cầm quyền CSVN vẫn chưa có cách nào giải quyết, thậm chí cũng không có dấu hiệu bắt đầu một cuộc điều tra.
Bên cạnh những điểm tác động trực tiếp kể trên, còn phải kể đến những yếu tố gián tiếp. Một chuyên viên trong ngành du lịch Việt Nam cho biết khuynh hướng chung của du khách Âu Mỹ là né tránh nơi nào có du khách Trung Cộng, du khách Nga. Nha Trang, Mũi Né là những thí dụ. Những địa điểm du lịch biển đặc sắc thuộc hàng đầu Á Châu của Việt Nam nay trở thành điểm du lịch rẻ tiền, phục vụ cho những du khách “hạng hai” như Trung Cộng.
Huy Lam / SBTN

Sắc diện của ông Trần Đại Quang suy giảm nhanh chóng?

Ông Trần Đại Quang cùng nội các trong buổi hội đàm với Tổng Thống Indonesia Joko Widodo (không có trong hình) tại Hà Nội hôm 11 Tháng Chín, năm 2018. (Hình: Lương Thái Linh/AFP/Getty Images)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Sắc diện của ông Trần Đại Quang, chủ tịch nước CSVN, đang suy giảm khá rõ, điều có thể thấy qua các bức ảnh mới nhất của hãng thông tấn AFP chụp tại Hà Nội hôm 11, 12 và 13 Tháng Chín, 2018, so với trước đó.
Các bức ảnh được 2 phóng viên của AFP là Nhạc Nguyễn và Lương Thái Linh chụp khi ông Trần Đại Quang tiếp Phó Chủ Tịch Nhà Nước Cuba Salvador Antonio Valdes Mesa (13 Tháng Chín), tiếp Ngoại Trưởng Nhật Bản Taro Kono (12 Tháng Chín) và cuộc họp cùng nội các đón tiếp Tổng Thống Indonesia Joko Widodo (11 Tháng Chín).
Ông Trần Đại Quang tiếp Phó Chủ Tịch Cuba Salvador Antonio Valdes Mesa tại Hà Nội hôm 13 Tháng Chín, năm 2018. (Hình: Nhạc Nguyễn/AFP/ Getty Images)
Ông Trần Đại Quang và Ngoại Trưởng Nhật Taro Kono tại Hà Nội hôm 12 Tháng Chín, 2018. (Hình: Nhạc Nguyễn/AFP/Getty Images)
Ông Trần Đại Quang đứng, trong buổi hội đàm với Tổng Thống Indonesia Joko Widodo tại Hà Nội hôm 11 Tháng Chín, năm 2018. (Hình: Lương Thái Linh/AFP/Getty Images)
Qua các bức ảnh chụp từ nhiều góc độ khác nhau cho thấy, sắc diện của ông Quang suy giảm rất nhanh kể từ đầu năm 2016, khi ông này được Quốc Hội CSVN bầu làm chủ tịch nước.
Khuôn mặt ông Trần Đại Quang gầy đi rất nhiều, trên trán có một vết màu xanh, hai gò má cao, hai thái dương tóp lại, hốc mắt sụp sâu xuống, và thần sắc không mấy vui tươi so với người bên cạnh,…
Sắc diện ông Quang cũng giảm so với các đây khoảng 10 tháng, thời gian mà hình ảnh ông Quang xuất hiện nhiều trên truyền thông quốc tế khi Việt Nam tổ chức Hội Nghị Thượng Đỉnh APEC tại Đà Nẵng, Tháng Mười Một, năm 2017.
Ông Trần Đại Quang trong cuộc họp báo với Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-in tại Hà Nội hôm 23 Tháng Ba, 2018. (Hình: Minh Hoàng/AFP/ Getty Images)
Nó cũng giảm nhanh so với gần đây nhất là hôm 23 Tháng Ba, 2018, khi ông Trần Đại Quang tiếp Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-in tại Hà Nội.
Còn nếu so với thời điểm năm 2016 và hiện tại thì đó là hai hình ảnh hoàn toàn khác biệt.
Ông Trần Đại Quang tại Hội nghị APEC, Tháng Mười Một, năm 2017 tại Đà Nẵng. (Hình: Lương Thái Linh/AFP/Getty Images)
Ông Trần Đại Quang, 62 tuổi, được Quốc Hội CSVN bầu làm chủ tịch nước vào ngày 2 Tháng Tư, 2016, thay thế ông Trương Tấn Sang. Trước đó, ông Quang là đại tướng, bộ trưởng Bộ Công An.
Hồi Tháng Mười, năm 2017, đã có hàng loạt các tin đồn đoán về việc ông Trần Đại Quang sang Nhật chữa bệnh và nhiều nguồn tin “lề trái’ còn cho hay ông Quang “bị bệnh ung thư.”
Trong khi đó, truyền thông tại Việt Nam do nhà nước quản lý gần như im bặt không có một dòng tin. Tuy nhiên ít lâu sau đó lại dẫn lời các cử tri nói “giờ thấy chủ tịch nước mạnh khỏe hồng hào…”
Hình ông Trần Đại Quang cùng Tổng Thống Philipinnes Rodrigo Duterte tại Hà Nội hôm 29 Tháng Chín, 2016, 5 tháng sau khi ông Quang nhậm chức chủ tịch nước. (Hình: Lương Thái Linh/AFP/Getty Images)
Vào Tháng Tư và Tháng Năm 2018, lại có nhiều đồn đoán về sức khỏe ông Trần Đại Quang trước khi đảng CSVN tổ chức Hội Nghị Trung Ương 7. Một số nhà quan sát còn nhận định, ông Quang sẽ bị thay thế bởi ông Nguyễn Thiện Nhân. Tuy nhiên điều đó không xảy ra, ông Quang vẫn tại vị, còn ông Nhân về làm bí thư Thành Ủy Sài Gòn thay ông Đinh La Thăng bị xử tù.
Sức khỏe của các lãnh đạo chóp bu trong đảng CSVN,đặc biệt là các ủy viên Bộ Chính Trị, được xem là “bí mật quốc gia.”
Chỉ có một trường hợp hy hữu là ông Đinh Thế Huynh, thường trực Ban Bí Thư của đảng CSVN, sau một thời gian dài bị đồn đoán là “sang Nhật chữa bệnh,” bất ngờ hôm 1 Tháng Tám 2017, Bộ Chính Trị đảng CSVN “quyết định phân công ông Trần Quốc Vượng, chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương, tham gia thường trực Ban Bí Thư trong thời gian ông Đinh Thế Huynh điều trị bệnh.”
Sau đó vào ngày 2 Tháng Ba, 2018, ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính Trị đã quyết định cho ông Huynh “thôi giữ chức thường trực Ban Bí Thư và chủ tịch Hội Đồng Lý Luận Trung Ương nhiệm kỳ 2016-2021 để tiếp tục chữa bệnh dài hạn.” (KN)

Hàng ngàn người kéo tới thủy điện Sông Hinh đào đá đen mưu sinh

Người dân ở các huyện Tây Hòa, Phú Hòa, Sơn Hòa (Phú Yên) kéo đến đây mưu sinh bằng việc đào đất kiếm đá đen. (Hình: Phụ Nữ TP.HCM)
PHÚ YÊN, Việt Nam (NV) – Đá đen bỗng dưng có giá mua cả triệu đồng/kg đã lôi kéo hàng ngàn người dân khắp nơi đổ xô đi đào bới kiếm tìm, khiến lòng hồ thủy điện Sông Hinh, huyện Sông Hinh biến dạng.
Theo báo Người Lao Động, gần hai tháng qua, hàng ngàn người dân tập trung về khu vưc lòng hồ thủy điện Sông Hinh, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, để đào đá đen kiếm sống. Cả một vùng bán ngập lòng hồ thủy điện rộng lớn bị xới tung. Có chỗ để lại những hố sâu ngập nước.
Báo VietNamNet tường thuật, vượt qua những con đường đá ngoằn ngoèo mới đến vùng bán ngập lòng hồ thủy điện Sông Hinh. Tại khu vực xã Ea Trol, từng tốp người từ thanh niên, người già, phụ nữ, có khi cả gia đình cùng mang theo những dụng cụ như cuốc, xẻng, xà beng vào lòng hồ tìm cho mình một khoảnh đất để đào đá đen. Ở đây người ta dựng cả lán trại để nghỉ ngơi, ăn cơm. Có cả những phụ nữ dùng xe máy chạy đến tận nơi bán nước lạnh cho người đào đá giải khát.
Những người đào đá cho biết, khu vực nào thấy có lớp đất trắng, cứ tiếp tục đào xuống thì chắc có đá đen. Tuy nhiên có nhiều hay ít, đá to hay nhỏ thì không biết. Nhiều chỗ đá đen được tìm thấy chỉ sau vài lớp đất, nhưng có những chỗ phải đào sâu tạo hàm ếch lút cả đầu người.
Đá đen khi đập ra bên trong giống như mảnh chai thủy tinh, sáng bóng, bán được giá cao. (Hình: Phụ Nữ TP.HCM)
Gia đình nhà ông Dương Nho Hùng, ở xã Ea Bia, huyện Sông Hinh, có ba người đi đào đá. Miệt mài đào trong hơn hai tiếng đồng hồ, cả nhà mới tìm được vài cục đá đen nhỏ. Ông Hùng cho biết, cả nhà đi đào đá đen đã một tháng nay.
Thấy đá đen có thể cho thu nhập cao, nên có hàng ngàn người từ huyện Sông Hinh cho đến huyện Sơn Hòa, Tây Hòa, thuộc tỉnh Phú Yên lên khu vực này đào đá. “Tìm đá đen cũng như tìm vàng ấy. May rủi là nhiều. Việc đào đá này chắc làm được khoảng một tháng nữa vì sắp đến mùa mưa, lòng hồ này sẽ ngập nước,” một phụ nữ ở xã Ea Trol, huyện Sông Hinh, xin giấu tên nói.
Chị cho biết ở đây có những người may mắn đào được cả tấn đá cũng có. Có người chỉ mới đào được 1 kg. Về phần mình, có ngày chị đã đào được 29 kg đá đen. Đá được làm gì thì không biết. Thấy người trong buôn đi đào, chị cũng đi.
Nói với báo Phụ Nữ TP.HCM, ông Ma H., ở xã Ea Trol, huyện Sông Hinh, kể: “Mấy tháng qua, trời nắng nóng gắt, vùng này mía chết, sắn héo, lúa khô. Không làm gì ra tiền nên vợ chồng tôi sáng nấu cơm dỡ theo ra đây đào đá. Đến nơi, bắt lớp moi hố sâu, khi phát hiện có đá đen thì mở rộng hầm, đào sâu lút đầu người mới thôi. Còn khi đào hố sâu đứng đến bụng mà tìm không có đá đen thì bỏ đi chỗ khác moi hầm mới, theo kiểu da beo.”
Những viên đá đen nằm sâu dưới lòng đất được người dân đào lên. (Hình: VietNamNet)
Ông Bùi Văn N., ở huyện Phú Hòa, cho hay: “Tôi lên đây đào đá đen gần tháng nay. Kinh nghiệm khi đào xuống gặp lớp đá trắng cứ đào theo. Đá đen nằm giữa gân đá trắng với đủ loại kích cỡ, có viên to bằng ngón tay út, đến cục lớn to bằng con cóc. Đào xong bán cho thương lái, nghe nói đá này ‘ăn’ qua Trung Quốc. Còn người mua đá đen làm gì thì… chịu.”
Hiện tại, mỗi ngày có hàng trăm điểm khai thác đá tại khu vực này. Tuy nhiên, khi được hỏi, người khai thác cho biết, họ không hề biết thương lái thu mua loại đá này để làm gì. Giá bán đá loại 1 (ba viên/kg) lên đến 3 triệu đồng (khoảng $128)/kg, đá loại 2 (8-10 viên/kg) giá 1 triệu đồng và đá loại 3 (đá xô, chủ yếu là loại nhỏ) giá 400,000 đồng/kg. Những lúc nhiều người đào, giá đá xô giảm xuống còn khoảng 340,000 đồng/kg. Thương lái đến tận nơi đào đá để thu mua.
Hôm 13 Tháng Chín, 2018, ông Ksor Y Phun, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân huyện Sông Hinh, cho biết tình trạng đào và thu mua đá đen đã có trước đây, nhưng không xô bồ và rộng khắp như bây giờ. Hiện nay việc đào đá đen đã lan ra đến địa phận của ba xã Đức Bình Đông, Ea Trol và Sông Hinh. Người dân đào đá theo kiểu “da báo” chứ không phải tập trung vào một điểm.

“Hiện nay, số lượng người khai thác đá ngày một đông, sẽ ảnh hưởng lớn đến công tác an ninh trật tự và môi trường lòng hồ thủy điện. Nếu tình trạng này tiếp tục diễn biến xấu, huyện sẽ có phương án truy quét toàn bộ. Chúng tôi đã yêu cầu các cơ quan chức năng tìm hiểu rõ việc mua bán và mục đích sử dụng loại đá này để có hướng quản lý vì đây cũng là một loại khoáng sản,” ông Y Phun nói. (Tr.N)

Rừng đước trên 20 năm tuổi ở Bến Tre chết bất thường

Một cánh rừng đước ở Bến Tre bị chết khô. (Hình: VNExpress)
BẾN TRE, Việt Nam (NV) – Gần một tháng nay, hơn 20 hécta rừng đước phòng hộ ở nhiều huyện tại Bến Tre xuất hiện tình trạng cây “chết hàng loạt bất thường.”
Báo VNExpress ngày 13 Tháng Chín, 2018, cho biết tại xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, có hơn 10 hécta rừng đước phòng hộ ven biển bị chết khô. Phần lớn diện tích đước chết xuất hiện ở phía trong lõi rừng với phần lớn cây đã trên 20 năm tuổi.
Nói về nguyên nhân, ông Phạm Văn Trường, phó giám đốc Ban Quản Lý Rừng Phòng Hộ và Đặc Dụng tỉnh Bến Tre, cho biết ngoài Thạnh Phú, rừng đước tại hai huyện Bình Đại và Ba Tri cũng xuất hiện tình trạng tương tự, tổng diện tích khoảng trên 20 hécta.
“Vẫn chưa xác định được nguyên nhân chính thức, tuy nhiên, có thể dự đoán do cây đã quá già cỗi,” ông Trường nói và cho biết, tuổi thọ trung bình của đước khoảng 20 năm.
Ban Quản Lý Rừng Phòng Hộ và Đặc Dụng tỉnh Bến Tre đang xin tỉnh cho khai thác tận thu diện tích rừng chết để trồng mới.
Trong khi đó người dân cho rằng, ai cũng biết cây đước là luôn sinh sôi nảy nổ, thế hệ này chưa chết, thế hệ khác đã lên xanh.
“Rừng đước ở huyện Cần Giờ, Sài Gòn, đã 40 năm có bao giờ chết hàng loạt vậy đâu? Trong 20 năm đó chắc chắn nhiều cây mới mọc lên, vậy không thể nào chúng chết cùng thời điểm được. Phải tìm nguyên nhân trước khi cho khai thác,” bạn đọc Nguyễn VIệt Hoàng bày tỏ trên báo VNExpress.
Còn bạn đọc Chi Huỳnh đặt nghi vấn: “Không thể tin cùng lúc chết với diện tích lớn như thế mà do tuổi thọ của cây. Mà lại chết ở vị trí phía trong lõi của rừng. Khu vực nhạy cảm quá. Phải nói đến dịch bệnh, môi trường, hay thậm chí có yếu tố phá hoại…?”
Tin cho biết, tỉnh Bến Tre hiện có hơn 4,000 hécta rừng phòng hộ trải dài 65 cây số bờ biển thuộc ba huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú, giúp bảo vệ việc giữ và bồi đắp phù sa, điều hòa hệ sinh thái cho các vùng ngập mặn. (Tr.N)