Tuesday, August 14, 2018

Tri thức nhân dân (Phần 1)

Phạm Văn (Danlambao) - Từ khá lâu ở Việt Nam các nghiên cứu về trí thức và cả dư luận nói chung đã gọi theo lối gộp chung giới trí thức trong toàn xã hội là “một đội” (“đội ngũ trí thức”) hoặc là “một nguồn lực” quan trọng của “sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đất nước, nghĩa là thống nhất, không thể phân chia. Nếu có những phần tử nào đó bị gọi là “trí ngủ”, “trùm chăn”, “không dấn thân” (“hèn”), “trí mà không thức” v.v..., thì vẫn được hiểu là những yếu kém, tiêu cực thuộc bản thân “đội ngũ”, “nguồn lực” này, hoặc bị loại khỏi “đội ngũ”, và có thể bị xem là “phản quốc”. Nhưng thực tiễn đời sống đã đập vỡ cái nhìn với đầy dụng ý nhằm phục vụ chủ trương, mục đích duy nhất nào đó, khiến người ta buộc phải ra khỏi những cuộc tranh cãi trừu tượng với những “tiêu chí” chung bắt buộc về lập trường, tư tưởng. Thực ra, giới trí thức ở Việt Nam hiện giờ không còn, không phải là “một đội” hay “một khối” như người ta mong muốn hoặc cố tình xuyên tạc, trái lại đang có sự phân hóa mạnh mẽ, sâu sắc, đã và đang chia thành hai lực lượng cơ bản đối lập nhau là trí thức đảng và trí thức nhân dân. Nhiệm vụ cấp bách của chúng ta, những trí thức nhân dân lúc này là phải chỉ rõ bản chất và ý nghĩa của sự khác biệt-đối lập này.

1. Trí thức và nhân dân nói chung

Trí thức nói chung được hiểu là những người được giáo dục-đào tạo hoặc tự giáo dục-đào tạo một cách cơ bản, có sự hiểu biết ít nhất một lĩnh vực nào đó, đồng thời được đào luyện cả về mặt tư cách-phẩm chất, và dựa vào đó, có thể làm một công việc cụ thể tương ứng. Cái đặc trưng của trí thức, nói một cách đơn giản là dùng cái đầu-trí tuệ để làm việc. Tuy nhiên, sự hiểu biết hay cái học thức này có sự thay đổi theo thời gian. Ngày nay trình độ trí thức được thể hiện qua những bậc thang khác nhau như trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học và làm việc trong các lĩnh vực tương ứng đã được phân công rõ ràng như trong kinh tế, khoa học, chính trị, nghệ thuật, giáo dục, quản lý, báo chí, ngoại giao, y tế, kể cả quân sự, anh ninh v.v..., Về chất lượng, có thể phân chia trí thức theo các mức độ: kém, trung bình, khá, cao (như học giả, bác học). 

Trí thức là tầng lớp xã hội được hình thành do phân công lao động, nhất là việc tách lao động trí óc (tinh thần) khỏi lao động chân tay (vật chất). Do đó, hình thành một lớp người chuyên “sản xuất ra” những giá trị tinh thần, những giá trị này thông qua những người (sau này được gọi là kỹ sư, chuyên gia) làm công việc tổ chức quá trình chuyển hóa chúng thành những sản phẩm, giá trị vật chất hoặc tinh thần khác. Dĩ nhiên, cần có công nhân, những người lao động trực tiếp (chân tay) để thực hiện quá trình chuyển hóa này. Như vậy, theo nghĩa chung chân chính của nó, trí thức là đại diện cho con người, xã hội, cho những người lao động trực tiếp về mặt hiểu biết, tư tưởng, tinh thần. Có thể ví họ như “cái đầu” (“bộ não”) của một cơ thể xã hội, của một cộng đồng nhất định. 

Nhưng nếu nhìn sâu vào cội nguồn, ta nhận thấy trong các truyền thống văn hóa nổi bật, những cái nôi vĩ đại của nền văn minh như Ấn Độ, Hy Lạp, La Mã, Trung Hoa v.v..., tầng lớp trí thức được hình thành trong một chỉnh thể của nó. Cái quan trọng làm cho trí thức mang ý nghĩa một tầng lớp ở đây chính là sự liên kết-tổng hợp tri thức thành một hệ thống nhất định, trong đó những tri thức triết học đóng vai trò là cơ sở. Chỉ với nghĩa như thế, sự hình thành tầng lớp trí thức mới thực sự có ý nghĩa là sự nhận thức, ý thức của xã hội về sự tồn tại của mình (theo K. Marx:“Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn, ngoài tồn tại được ý thức, còn tồn tại là quá trình đời sống hiện thực của con người”) và với những hệ thống tri thức ấy, con người mới có thể và đã thực sự biến đổi tự nhiên, làm cho tự nhiên mang tính người, thành thế giới văn hóa, trong đó con người là chủ thể.

Trong cuốn tiểu thuyết Suối nguồn nổi tiếng của mình nữ văn sĩ Ayn Rand, một công dân Mỹ gốc Nga đã qua lời nhân vật chính là Howard Roark nói rằng, anh không thiết kế-xây dựng những ngôi nhà theo yêu cầu của người sử dụng, mà làm những ngôi nhà như anh muốn, anh thích. Cho nên, trí thức là gì nếu nó không là những người đại diện cho những giá trị, hơn nữa những giá trị chân-thiện-mỹ cao quý nhất của con người? Và liệu nó có thể có điều ấy không, nếu nó không có hoặc thiếu tri thức triết học? Nói khác đi, nếu không phải là những người đứng đầu một lĩnh vực tri thức với nghĩa là đại diện cho lĩnh vực ấy cả về phẩm chất, hiểu biết và giá trị, và nếu không phải là những người đứng đầu với nghĩa là những tổng công trình sư theo nghĩa rộng, thì không thể nói đến việc tạo ra những chuẩn mực, giá trị mang ý nghĩa định hướng cho toàn bộ xã hội, cộng đồng.

Quan niệm (khái niệm) về trí thức ở trên đương nhiên bao quát được cả trí thức với tư cách triết gia. Triết gia không làm việc với những tri thức chuyên môn của mình như trí thức trong các lĩnh vực cụ thể. Họ “làm việc” một cách gián tiếp, mà có thể là “không làm” (“vô vi” – theo cách nói của Lão Tử). Vì những tri thức triết học sẽ thông qua những lĩnh vực tri thức cụ thể để đi vào những hoạt động, hành động cụ thể của người lao động trực tiếp để tạo ra thế giới sản phẩm. Bởi vậy, văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc có trở nên sâu sắc, cao siêu hay không là ở chỗ nó có một hệ thống tri thức, đời sống tinh thần được vật hóa trong đó như thế nào, đến mức độ nào. Một dân tộc có triết học thì văn hóa của nó chắc chắn sẽ thấm đẫm tinh thần triết học và do đó, trở nên có sức mạnh lớn lao. 

Khi xã hội loài người phát triển, phân chia thành các đẳng cấp, giai cấp và các tập đoàn người, hình thành nên những phe nhóm xã hội-chính trị với những lợi quyền khác nhau, cùng với sự hình thành, lớn lên, suy thoái và mất đi của chúng, đã phân chia trí thức thành những nhóm phái với những xu hướng khác nhau, thậm chí xung đột rất quyết liệt, một mất một còn. Nói chung người ta chia các phe nhóm trí thức thành những phe phái hoặc có xu hướng tiến bộ, tích cực hoặc có xu hướng bảo thủ, tiêu cực. Thường thường những trí thức có xu hướng tiến bộ, tích cực là đại diện cho các tập đoàn người hoặc triều đại có lợi ích tiến bộ, do đó có thể đại diện cho đông đảo nhân dân, ngược lại những trí thức có xu hướng bảo thủ, tiêu cực thường đại diện cho các tập đoàn người hoặc các triều đại có lợi ích lỗi thời, tiêu cực. Lịch sử các xã hội châu Âu từ thế kỷ XIX trở về trước có sự tồn tại của hai kiểu nhà nước khá phổ biến là quân chủ và dân chủ. Trong chế độ quân chủ hầu hết trí thức là trí thức của chế độ quân chủ, trí thức của nhà vua. Ở đây trí thức của nhân dân chiếm số ít, rất cá biệt. Còn trong chế độ dân chủ nói chung trí thức được hiểu là trí thức của nhân dân, là trí thức nhân dân. 

Trong thời cổ đại nhân dân chỉ được hiểu với nghĩa là tầng lớp chủ nô có xu hướng, tinh thần tự do trực tiếp đối lập với nhà nước-chế độ chính trị, còn những người nô lệ không phải là nhân dân, họ không được xem là con người. Vì thế, trí thức của nhân dân là trí thức của những người chủ nô. Trong các xã hội về sau này, bắt đầu là những xã hội hình thành trên cơ sở nền sản xuất đại công nghiệp, chế độ sở hữu tư nhân tư sản, khái niệm nhân dân đã được mở rộng, theo đó nhân dân bao gồm tất cả các tầng lớp xã hội, nhưng lực lượng cơ bản trong nhân dân vẫn là những chủ sở hữu. Chính vì thế, khái niệm “xã hội công dân” theo quan điểm của các nhà tư tưởng thế kỷ XVIII-XIX nói chung chỉ có nghĩa là chỉ tầng lớp thị dân, tức là những người có lợi ích, tài sản. Vì vậy, trí thức của nhân dân được hiểu trước hết là trí thức của tầng lớp có tài sản, của những người sở hữu.

Nhưng khi chế độ sở hữu tư nhân tư sản vượt qua giai đoạn “man rợ”, nó không coi đại bộ phận những người lao động là lực lượng chỉ như những phương tiện cho sự làm giàu của nó, trái lại như một bộ phận hữu cơ của hệ thống sản xuất xã hội trong đó nhà tư bản là người chỉ huy tối cao, lúc đó sự phát ngôn cho nhân dân ngày càng giảm dần khoảng cách giữa người chủ và làm thuê. Khái niệm nhân dân ngày càng được mở rộng, bao gồm mọi tầng lớp xã hội. Do đó, trí thức dần dần trở thành cái đầu của khối nhân dân nói chung ấy. Điều này càng diễn ra mạnh mẽ trong các nước dân chủ văn minh, khi mà bất cứ cá nhân thuộc tầng lớp xã hội nào cũng có cơ hội để trở thành người chủ, còn tư bản không còn là ưu thế riêng của một giai tầng xã hội. Vì thế, trí thức trong các xã hội dân chủ văn minh hầu hết là trí thức nhân dân. Trí thức nhân dân nói chung là trí thức tự do, mang giá trị và tư tưởng lớn lao là tự do, họ kiến tạo và thúc đẩy sự tiến bộ lịch sử. 

Vì thế, không thể hình dung được một xã hội, một cộng đồng lại không có hoặc thiếu vắng tầng lớp trí thức, nhưng sẽ là tai họa, thậm chí là khủng khiếp, nếu như một xã hội, cộng đồng lại được dẫn dắt bởi một “đội ngũ” trí thức đông đảo nhưng lại không hiểu hoặc hiểu rất sai về tương lai, tiền đồ của một cộng đồng. “Đội ngũ” ấy không khỏi đưa dân tộc “cả nước xuống hố”.

2. Trí thức đảng và trí thức “trùm chăn” 

Trong nhiều bài viết tôi đã chỉ ra, chứng minh rằng chế độ chính trị hiện thời ở Việt Nam là chế độ độc tài-toàn trị, chế độ đảng “cộng sản” trị, một biến thể mới của chế độ quân chủ trong đó vua là “kẻ giấu mặt” hoặc “vua ảo”. Đây là một chế độ quân chủ trái mùa, hết sức lỗi thời, thậm chí trở nên quái dị. Trên thực tế, những cuộc biểu tình-đấu tranh của nhân dân trong những năm tháng kể từ đầu thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI đến nay, nhất là vào 10/ 6/2018, một mặt cho thấy rõ sự thối nát của chế độ quân chủ-đảng trị, mặt khác chỉ ra một cách rõ ràng rằng nhân dân đã tách ra, đứng đối lập với chế độ này (Xem một số bài viết của tác giả Lòng yêu nước mới của nhân dân Việt Nam, Nhân dân và nhà nước, Sự sùng bái những giá trị vật chất trần trụi và cuộc chiến của Tự do-Văn minh chống lại Quái thú-Mọi rợ, đã đăng trên Dân Làm Báo vào các ngày 25/6, 4/7 và 9/7 2018). Bởi vậy, sự hiện diện của hai lực lượng trí thức cơ bản đối lập nhau trong xã hội Việt Nam đã quá rõ: trí thức đảng và trí thức nhân dân. Hai lực lượng này thể hiện tính thống nhất, có tổ chức với đường lối, mục tiêu rõ ràng. Bên cạnh đó còn có những bộ phận trí thức không có tính tổ chức, như bộ phận trí thức (có thể xem là trí thức nhân dân) bị trí thức đảng giam hãm, và một bộ phận hay hiện tượng trí thức “trùm chăn”. Trước hết nói về trí thức đảng và ít nhiều về trí thức “trùm chăn”. 

Về trí thức đảng. Với việc biến “sở hữu toàn dân” hay “sở hữu xã hội” thành sở hữu của riêng, đảng “cộng sản” cầm quyền trở thành độc tài-toàn trị. Vì vậy, từ chỗ được coi là những thành phần của giai cấp tiểu tư sản có bản tính là “ngả nghiêng”, “dao động” về tư tưởng, lập trường, nhưng nhờ sự lãnh đạo-cải hóa tài-khéo, có cả sự dối trá-hăm dọa của đảng, một bộ phận khá lớn trí thức ở Việt Nam đã trở thành đội ngũ trung thành với sự nghiệp “quang vinh muôn năm” của đảng, trí thức đảng. Lẽ ra ta nên gọi lực lượng trí thức này với cái tên đầy đủ là “trí thức đảng “cộng sản””. Nhưng để cho khỏi lặp lại nhiều lần từ “cộng sản”, ta gọi là “trí thức đảng”. [Lưu ý: Tôi thường viết cộng sản là “cộng sản”, vì thực tế “người cộng sản” ở Việt Nam nói chung, nhất là cho đến nay chưa bao giờ hoặc không còn tồn tại đúng với nghĩa ban đầu của cái tên này nữa]. 

Hiểu một cách chung nhất, từ “trí thức đảng” một mặt, có nghĩa chủ yếu là ngoài những nội dung, chức năng của trí thức nói chung, thì tính đảng “cộng sản” là phẩm chất cơ bản của lực lượng trí thức này; mặt khác, trí thức đảng còn có nghĩa, nó là một bộ phận hết sức quan trọng trong tổ chức đảng “cộng sản”, là thành phần lý luận “đầu não” của đảng, nhưng cũng đồng thời là bộ phận chân tay “có trí tuệ” của đảng. Có vẻ như đây là một nghịch lý, nhưng là một sự thật. Trí thức đảng có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành chế độ đảng “cộng sản” trị, theo nghĩa này ta cũng có thể gọi đây là chế độ đảng “cộng sản-trí thức” trị, vì cứ xem cái đám có “bằng cấp”, thậm chí “rất cao” lúc nhúc trong đảng và cách họ hành xử thì thấy. Cần thấy, một đảng cầm quyền với một lực lượng trí thức vốn đã “đầy sức mạnh”, mà trong đó lại có những vua-chúa “giấu mặt” hoặc “ảo” nữa, thì sức mạnh ấy “càng tăng lên gấp bội” bởi tính hư hư thực thực của nó. 

Cũng như trí thức nói chung, trí thức đảng trước hết là những người được đào tạo "cơ bản” về phẩm chất và tri thức thuộc những lĩnh vực chuyên môn nào đó. Họ là những kỹ sư, chuyên gia, nhà giáo, nghệ sĩ, chính trị gia, luật sư, quân sự gia, an ninh gia v.v... Nhưng trí thức đảng còn có một mặt quan trọng khác, “cao hơn”, đó là lấy học thuyết, tư tưởng Marx-Lenin, “tư tưởng-đạo đức” Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương và nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của đảng “cộng sản” làm tôn chỉ. Người ta gọi chung đây là mặt “hồng” bên cạnh mặt “chuyên” của mỗi đảng viên và mỗi trí thức đảng. Trong mặt “hồng” có “đạo đức” (“đạo đức cách mạng”) và “chuyên” (theo nghĩa là hiểu biết về các học thuyết, tư tưởng, đường lối nói trên). Về “đạo đức”, điều chủ yếu là “trung”, “tuyệt đối trung”, còn “chuyên” không quan trọng, chỉ cần những người đứng đầu “hiểu”, thậm chí hiểu một cách giáo điều, hoặc không hiểu nhưng cứ “xướng lên” là được (hầu hết các đảng viên không đọc sách Marx-Lenin, lý luận nói chung, cả ở Trung Quốc cũng thế - theo sách “Cửu bình”). Đối với đảng viên và trí thức đảng, “hồng” mới là mặt cơ bản, không thể thiếu. 

Ở trí thức đảng khi “hồng” chi phối thì những phẩm chất và chuyên môn (của một chuyên gia hoặc kỹ sư v.v...,) sẽ ngày càng bị teo tóp-chết đi tỷ lệ nghịch với những chức vụ, quyền hạn được cất nhắc-cơ cấu. Bởi vì, “đảng ta là một đảng cầm quyền”, vì thế còn gì bằng khi trí thức cầm quyền. Nếu đã là trí thức đảng thì hiếm có ai lại không có một chức vụ, quyền hạn nào đó trong bộ máy, nếu như không có chức vụ thì họ cũng là một mắt xích nào đó trong hệ thống cầm quyền-cai trị của đảng. Nhưng ngay khi còn là sinh viên, với việc nuôi sẵn mộng trở thành người đảng viên “cộng sản” cũng có nghĩa là ôm mộng quan trường và cả “đế vương” trong chế độ đảng trị, thì thường phẩm chất và năng lực tri thức chuyên môn cũng trở nên lệch lạc, không đến nơi đến chốn. Đối với những người “Tây học”, tôi nhận thấy thường trước khi du học họ đã là đảng viên, cho nên khi về họ được tạo “nguồn”, rồi được cơ cấu vào một chức vụ nào đó trong hệ thống quyền lực của đảng. Trong khi tôi hiểu Tây học có hai điều rất quý và quan trọng, về nhân cách, đó là tự do, còn về tri thức-tinh thần, đó là triết học. Hai điều này vốn kết hợp chặt chẽ với nhau. Nhưng khi đã ở trong tổ chức đảng “cộng sản” thì làm gì còn, có tự do và triết học!

Hiện giờ, khi chế độ độc tài đảng trị đã trở nên thối nát hơn bao giờ hết, trí thức đảng đã và đang bộc lộ hết sức rõ ràng tất cả những gì xấu xa, tồi tệ của chúng. Đặc biệt, với tư cách một tổ chức, với quyền lực tuyệt đối, chế độ đảng “cộng sản” trị hiện nay đã thực sự trở thành một tổ chức trí thức tham nhũng, hơn thế tham nhũng-bán nước (Xem bài Tham nhũng và “cuộc chiến chống tham nhũng” ở Việt Nam hiện nay trên Dân Làm Báo 22/7/2018). Đây thực sự là một đội ngũ có học mà như vô học. Bởi vì, chúng là những kẻ diễn “trò khỉ-đu dây” xuất sắc mà đứng đầu là kẻ có học hàm, học vị cao nhất là TBT Đảng cộng sản Nguyễn Phú Trọng. Vì trí thức cầm quyền đu dây, nghĩa là xã hội Việt Nam không có giá trị, tư tưởng cơ bản đúng đắn định hướng, mọi lĩnh vực, tổ chức hoạt động không theo nguyên tắc, chuẩn mực nào cả, trừ nguyên tắc tối cao là cái lợi của con người cá nhân hẹp hòi của chúng, cho nên nạn tham nhũng hoành hành, mà kẻ biết rõ và lợi dụng điều đó triệt để nhất chính là những trí thức-quan chức đảng (Xem bài Trò khỉ-đu dây và Tự do trên Dân Làm Báo 11/8/2018). 

Với tư cách là những trí thức riêng biệt, hoặc “đội ngũ” chịu sự “lãnh đạo” của đảng, trí thức đảng là những tên tay sai, chỉ điểm rất trung thành. Phẩm chất cơ bản của những trí thức này là tuyệt đối không có tự do, không hiểu hoặc quyết không hiểu gì về nội dung, ý nghĩa của giá trị, tư tưởng tự do. Chúng là những kẻ nô lệ-đầy tớ chính cống cho tổ chức đảng cầm quyền. Đảng xướng-hô thế nào chúng xướng-hô như thế, đảng chỉ tay về đâu chúng cũng chỉ tay về đó, thậm chí còn xung phong lên “hàng đầu”, cho dù chẳng biết “đi đâu”. Nói chung, dựa vào sự cai trị-nuông chiều của đảng, của chế độ đảng trị, trí thức đảng nghiễm nhiên tự xem mình là đại diện cho toàn thể xã hội, nhân dân về những giá trị, chân lý, đạo đức, tư tưởng, lý tưởng, rằng chân lý thuộc về họ, nhưng thực tế họ là lực lượng trực tiếp trói buộc-giam cầm nhân dân trong vòng tăm tối với một bức màn thép tư tưởng, giá trị giả tạo, sai lầm, ảo tưởng, núp dưới một hệ thống bằng cấp gắn với các chức vụ, quyền hạn cao thấp, khiến nhân dân khó có thể ngẩng mặt lên, vượt qua được. 

Hơn thế, trong lực lượng này có một bộ phận đặc trách công việc lý luận-tư tưởng. Chúng thực sự là những tên nô lệ-bưng bô cao cấp cho đảng. Trước hết chúng được quyền viết-in để phổ biến tư tưởng-đường lối-chính sách của đảng cho toàn bộ hệ thống, nhất là đối với hệ thống nhà trường. Chúng tiêu biểu cho một chủ thuyết khiếm khuyết, sai lầm, ảo tưởng là chủ nghĩa Marx-Lenin, và cả “tư tưởng”, “đạo đức”, “tác phong” Hồ Chí Minh. Chúng là những kẻ chăm lo và tích cực dựng thần tượng Hồ Chí Minh cho nhân dân, thực chất là để nhân dân đắm đuối với cái thần tượng này, cho chế độ đảng trị thực hiện chính sách ngu dân, để dễ dàng cai trị (Xem bài Thần tượng và sự sụp đổ của thần tượng trên Dân Làm Báo 27/7/2018). Cần nêu ra ở đây cái tên Hoàng Chí Bảo, một kẻ bưng bô cao cấp trong vai trò thần tượng hóa Hồ Chí Minh. Bọn này còn được quyền đi đây đi đó để học tập-tổng kết “lý luận” và “thực tiễn” với các đảng “anh em” ở Trung Quốc, Lào, Cu Ba, Vênêzuêla v.v..., thậm chí sang cả những nước Bắc Âu ngạo mạn “thay mặt” cho nhân dân họ gọi “thật đúng tên” các chế độ của họ là “chủ nghĩa xã hội dân chủ Bắc Âu”. Lưu ý, chúng còn có năng lực đánh hơi rất kỳ diệu, hễ ở đâu có cái gì na ná là chúng vơ vào để khẳng định con đường chúng “chọn” cho Việt Nam là “đúng”! 

Một hệ thống các trường lý luận chính trị được dựng lên từ cấp huyện cho đến trung ương, để dạy dỗ-giáo dưỡng những “giáo điều” Marx-Lenin, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh v.v., cho các đảng viên và trí thức cấp thấp hoặc thuộc các chuyên môn khác, nhằm đào tạo họ thành “đội ngũ” những người kế cận. Nhưng vài chục năm trở lại đây, lũ “chuyên viên” này làm công việc “giáo dưỡng” thì ít mà chủ yếu nhận phong bì của bọn học viên và ăn nhậu, đàn đúm với chúng, cả với những quan chức địa phương. Không cần chỉ ra sự “chiếm đoạt, tham ô, nhận hối lộ” của riêng mỗi cá nhân trong cái “đội ngũ” đông như kiến này, chỉ cần thấy việc hàng chục ngàn người này đang “giảng dạy- áp đặt” những học thuyết, tư tưởng nói trên cho các lớp học sinh, sinh viên và học viên trên đại học rồi nhận lương, thậm chí nhiều kẻ lương rất cao hàng tháng, hàng năm, chỉ như thế thôi, đã đủ thấy sự tham nhũng kinh hoàng của đội ngũ này như thế nào. 

Trí thức đảng chính là lực lượng trí thức trực tiếp kìm hãm dân trí Việt Nam, trong đó bộ phận lý luận-đầu não của lực lượng đầu não kiêm tay chân này của đảng, là bộ phận quyết định. Cho nên, không thể tin được những lời lẽ ngụy biện, đấy sự trí trá, tráo trở của chúng cho rằng “dân trí còn thấp cho nên chưa thể thực hiện chế độ dân chủ!”. Giờ đây, khi học thuyết nền tảng đã bị phá sập dưới chân, thì linh hồn của đảng thực sự đã chết, “đội ngũ” trí thức đảng chỉ còn biết bám chặt vào nhau, một mặt cố liều lĩnh biện minh cho học thuyết Marx-Lenin, “tư tưởng HCM”, mặt khác, thậm chí công khai xem đó là phương tiện để kiếm sống. Cho nên, khi việc làm của trí thức đảng là sự mỉa mai chính lý thuyết, lý tưởng của chúng, thì cái còn lại chỉ là những giá trị kinh tế-vật chất trần trụi, tiền bạc, những lợi ích nhóm nhỏ cố kết lại thành lợi ích nhóm lớn, thành những phe cánh trong đảng, trong hệ thống của chúng, để tiếp tục duy trì ách cai trị đối với nhân dân, đặc biệt cúi đầu ngoan ngoãn làm tay sai cho Tàu Cộng cướp nước. Cái “hồng-chuyên” của những trí thức đảng còn trơ ra như thế đấy! 

Lúc này trí thức đảng đông nhưng không còn “mạnh”, thậm chí quá yếu. Bộ phận nắm quyền, nhất là đám chóp bu, thì giở đủ những trò mưu ma chước quỷ, thậm chí đã hạ thấp xuống làm cái đầu của những thói du côn-côn đồ. Thật mỉa mai, khi chúng tiếp tục vu cáo nhân dân nhằm lật đổ “chính quyền nhân dân” để chống lại nhân dân? Về nguyên tắc, người ta chỉ có thể bỏ được cái cũ khi có cái mới để thay nó. Nhưng Nguyễn Phú Trọng và cả hệ thống của ông ta đã quá cũ nát và thối tha rồi. Bộ phận còn lại thụ động, tranh thủ kiếm sống, vinh thân phì gia. Họ ngày một thấy rõ cái tổ chức mà mình là thành phần của nó, theo tôn chỉ của nó, đã trở nên lỗi thời và thối nát. Có thể, đôi khi trong họ cái bản năng-chức năng trí thức trỗi dậy, họ muốn là trí thức theo nghĩa chân chính, muốn phục vụ đông đảo người dân, nhưng cái bản năng ấy chỉ như cái gì đó chợt lóe lên, run rẩy rồi ngay lập tức lại bị đè bẹp trong bản chất đảng tính của họ, trong những điều kiện, phương tiện vật chất mà họ đã và vẫn đang có được nhờ phục sự tổ chức. 

Nhiều người nói, hầu như trí thức Việt Nam không dám dấn thân! Đây là sự nhận thức rất nhầm lẫn, mơ hồ về hiện trạng trí thức ở Việt Nam. Dấn thân là phẩm chất cao quý của con người. Đừng hy vọng trí thức đảng, có thể dấn thân cho sự nghiệp của nhân dân, đất nước. Vấn đề đặt ra là khắc phục, thái độ của chúng ta đối với lực lượng trí thức đảng như thế nào, chúng ta học được gì ở tấm gương Liên Xô và các nước XHCN ở châu Âu, khi công việc xóa bỏ chế độ đảng trị thành công? Tuy nhiên, ta hy vọng phần đông họ, cụ thể là những người còn chưa hoặc bị nhúng chàm ít, sẽ thức tỉnh khi sự nghiệp của nhân dân ngày càng phát triển. 

Về bộ phận hay hiện tượng trí thức “trùm chăn”. Đây là bộ phận trí thức có số lượng không nhiều, họ không hoặc không hoàn toàn đứng về hai lực lượng trí thức đảng hoặc nhân dân và như đã nói, họ không có, không thành một tổ chức độc lập, riêng biệt nào cả. Họ sống dựa vào tri thức và nghề nghiệp mà mình được đào tạo là chính, với mục đích là vì bản thân, gia đình (vợ hoặc chồng và con cái) và người thân của họ. Theo nghĩa bóng của từ “trùm chăn”, thì họ không quan tâm đến sự nghiệp của nhân dân, đất nước, họ sợ mất địa vị, tiền tài và tất nhiên sợ khó khăn, nguy hiểm và nhất là sợ chết. Vì thế, có lẽ cái nghĩa thâm sâu của từ “trùm chăn” là ở chỗ, “suốt ngày”, “mùa đông cũng như mùa hè” họ đều “trùm chăn”, không chỉ vì họ muốn tránh cái thời tiết bên ngoài cóng lạnh hoặc sôi sục bởi cuộc sống lao động, đấu tranh gian khổ, khắc nghiệt của nhân dân, mà chủ yếu vì lòng họ, trái tim họ đã, thậm chí được tôi rèn để trở nên băng giá, nguội lạnh, họ co mình lại, hoặc tim họ đập lạc nhịp, lạc điệu với trái tim nhân dân, với những giai điệu, cung bậc hoặc rất sôi động hoặc rất khắc nghiệt của cuộc sống.

Trí thức “trùm chăn” không hẳn là loại người “mũ ni che tai” hoặc “sớm cắp ô đi, tối cắp ô về”, trái lại, họ có thể biết hết mọi điều xung quanh liên quan, cả sự bất công, thối nát, tàn ác của chế độ, cả những thiệt thòi, đau khổ và những điều tốt đẹp, tích cực của nhân dân, nhưng họ biết để không can dự, để tránh và giữ được mình. Họ có thể là người rất giỏi “chém gió”, xem như “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”, đôi khi còn làm người nghe cảm động rớt nước mắt, nhưng nói chung họ thường thông qua đó để làm người khác ngộ nhận rằng mình “rất có” bản lĩnh, trách nhiệm, nhằm che đậy sự thật là họ hẹp hòi, hèn nhát, vô cảm, hoặc còn một chút lương tâm thoi thóp. Trong trí thức “trùm chăn” cũng có những kẻ Tây học, nhưng như đã nói, họ thiếu hoặc không có được hai điều quan trọng là triết học và tự do, nên cái học ở họ thường không đến nơi đến chốn.

Có những trí thức “trùm chăn” là đảng viên “cộng sản”, ở họ cái danh “đảng viên” chỉ là hình thức, là cái vỏ bọc. Tôi biết có nhiều người bỏ công sức “phấn đấu” để được vào đảng, nhưng khi được rồi thì họ chỉ lợi dụng cái cơ chế đảng trị này mà lo cho cái cá nhân hẹp hòi của họ. Thậm chí hiện giờ khi đảng chủ trương mở rộng “tăng cường” đội ngũ (nhằm tăng cường sức đè nén lên nhân dân, nhưng chủ yếu để cho đông, khi biết uy tín của đảng đang ngày càng suy giảm), kẻ “phấn đấu”, nhất là sinh viên (chưa được đào tạo xong một lĩnh vực nghề nghiệp) công khai việc vào đảng là để lo cho bản thân, để an toàn, để cho dễ xin việc v.v.. Về mặt này, “trí thức trùm chăn” còn là những kẻ cơ hội chủ nghĩa. Họ là loại trí thức hai mặt, trí trá-tráo trở. Bọn chúng chỉ lợi dụng đảng cho mưu đồ cá nhân của mình. Đây là loại “trí thức trùm chăn” rất nguy hiểm. Chúng như những con rùa dưới đáy nước ngụy trang rất tinh vi, chỉ há cái miệng chờ cho con mồi đi qua rồi đớp gọn. 

Nói chung, trí thức “trùm chăn” không “thành công” lắm xét theo những mục tiêu cuộc sống mà họ lựa chọn, đặt ra cho mình. Bởi vì, trừ loại “trí trá- tráo trở” ra, vốn bản chất hèn nhát, trí thức “trùm chăn” không muốn hoặc ngại “va chạm” nên chẳng làm nên điều gì “to tát”. Trong cuộc đấu tranh của nhân dân cho chế độ Tự do-Dân chủ ta không hy vọng trí thức “trùm chăn” dấn thân, trừ khi họ thay đổi bản tính của họ, nhưng đó là công việc lâu dài, nhưng ta có thể hy vọng vào những người trẻ tuổi có xu hướng-lý tưởng trở thành trí thức kiểu này, sẽ nhận ra được sự tiêu cực của nó để sớm đứng về phía nhân dân. 

Ngày 14 tháng 8 năm 2018

Lưu ý, tiếp theo là Trí thức nhân dân (Phần 2): 1. Dấn thân và dũng cảm; 2. Trí thức nhân dân là dấn thân

Tù nhân chính trị VN: Đi hay ở - phần 1

Theo BBC- 9 giờ trước
Việt Nam, bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm
Luật sư Nguyễn Văn Đài và nhà báo tự do Phạm Đoan Trang chia sẻ những trải nghiệm cá nhân đưa đến quyết định ra đi, hoặc ở lại Việt Nam trên hành trình đấu tranh đòi dân chủ.

Trường hợp Trần Huỳnh Duy Thức

Mới đây, tù nhân chính trị Trần Huỳnh Duy Thức công bố bức thư viết trong tù dài hơn 3.500 chữ, trong đó, lần đầu ông chính thức khẳng định lựa chọn ở lại Việt Nam, từ chối tỵ nạn nước ngoài.
Trong lá thư số 115 gửi gia đình, ông Thức viết: ""Và con biết, dân tộc cần con vào thời khắc quan trọng này. Vì vậy con sẽ ở lại trên mảnh đất này. Dù chỉ là một thường dân hay một tù nhân, con vẫn luôn nỗ lực không tiếc sức bằng mọi cách để dân tộc hoàn thành kịp sứ mệnh lịch sử nói trên. Đó chính là mục tiêu tối thượng của con bao nhiêu năm nay."
Bình luận về lựa chọn này, luật sư Nguyễn Văn Đài nói đây "là một điều rất đáng tiếc".
"Tôi biết anh Thức là một người rất có trình độ, năng lực. Anh từng là nhà đầu tư Việt Nam đầu tiên ở Singapore và đã rất thành công. Sau đó anh mới trở về Việt Nam nên anh có sự nhìn nhận, đánh giá và tầm nhìn không chỉ trong một năm, một tháng hay một hai năm mà rất xa cho môi trường chính trị Việt Nam. Nhưng hiện nay sự đóng góp của anh bị hạn hẹp," ông Đài nói.
Theo ý kiến của luật sư Đài, "ngoài việc một tháng viết một lá thư về gia đình" để truyền tải thông điệp ra ngoài thì ông Thức "không thể đóng góp được gì hơn" trong điều kiện bị tù đày.
Trong khi đó, với "tầm nhìn và khả năng ngoại ngữ thông thạo, anh có thể tư vấn cho các tổ chức nhân quyền quốc tế, cho chính phủ các nước, cho tổ chức người Việt trong và ngoài nước trong vấn đề vận động đấu tranh cho nhân quyền Việt Nam"... "hiệu quả hơn nhiều so với việc anh tiếp tục kiên định ở trong tù".
Quyết định của ông Thức, theo ông Đài, có thể "gây một nguồn cảm hứng trong một giai đoạn nhất định cho những người đấu tranh trong nước nhưng về mặt tác động trực tiếp lâu dài để khơi dậy một phong trào" thì "không được nhiều."
"Ví dụ như khi ra bên ngoài, với vị thế, trình độ và kiến thức của anh, anh có thể thành lập những tổ chức chính trị hay kêu gọi vận động ở trong và ngoài nước hướng đến một công việc nào đó lớn hơn", luật sư Đài nói từ Đức.

Vì sao ra đi?

Việt Nam, bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâmBản quyền hình ảnhNGUYEN VAN DAI
Image captionLuật sư Nguyễn Văn Đài hiện đang ở Đức
Luật sư Nguyễn Văn Đài mới sang Đức ngày 7/6, sau khi chính quyền Việt Nam thả ông khỏi nhà tù nơi ông chịu mức án 15 năm với tội danh 'hoạt động nhằm lật đổ chính quyền'. Bản án được đưa ra tại phiên phúc thẩm hồi tháng 4/2018.
Giải thích lý do gia đi, ông Đài nhắc lại lần đầu ông đi tù năm 2007. Thời điểm đó an ninh Việt Nam thường xuyên hỏi ông 'một là đi nước ngoài, hi là viết bản nhận tội'. Ông đã từ chối cả hai yêu cầu này và ngồi tù trọn vẹn 4 năm, không giảm án.
Vì thế khi bị bắt tù lần hai năm 2015, biết rằng mình sẽ chịu án tù rất nặng, ông đã "suy nghĩ đến việc mình cần phải ra đi từ khi họ chưa kết án". Vì với ông, nếu ngồi tù dài như vậy, kinh nghiệm đấu tranh dân chủ 10 năm của ông sẽ bị lãng phí, Hội Anh Em Dân Chủ (HAEDC) do ông sáng lập sẽ tan rã, do các thành viên lãnh đạo đã bị bắt.
"Việc khôi phục lại hoạt động của hội để củng cố, tiếp tục công cuộc đấu tranh cho quyền con người, cho dân chủ là cần thiết. Cho nên tôi lựa chọn ra đi", luật sư Đài nói với BBC.
Trước câu hỏi vì sao năm 2012, trong bài trả lời phỏng vấn RFA, ông từng quả quyết "người đấu tranh dân chủ cần ở lại Việt Nam", rằng "ra đi là chứng tỏ sự thành công của chính quyền cộng sản Việt Nam", nay ông lại có quyết định trái ngược, ông Đài nói:
"Năm 2012, tôi hoạt động với tư cách là một nhà hoạt động nhân quyền, nhà đấu tranh dân chủ độc lập. Tôi chưa có tổ chức của mình. Đến đầu tháng 4/2013 tôi mới thành lập HAEDC. Thời điểm 2012, những người đi khỏi Việt Nam sẽ mất đi môi trường hoạt động ở trong nước bởi vì không có tổ chức."
Nhắc lại trường hợp luật sư Cù Huy Hà Vũ chấp nhận tỵ nạn ở Hoa Kỳ năm 2012, ông Đài nói thời điểm đó ông nói ông Vũ "nên ở lại Việt Nam" là do bối cảnh của giới đấu tranh dân chủ lúc đó "không có tổ chức, không có đầu mối dể hoạt động". Nên việc ông Vũ ra đi "sẽ mất đi mối liên hệ của mình, mất đi động lực hay động lực trong nước."
Ông Đài nói trường hợp của bản thân ông "thay đổi vào năm 2018" vì bối cảnh "đã khác rồi", với "công nghệ thông tin đã phát triển mạnh" và đã có "tổ chức, anh em ở trong nước".
"Lúc này khi tôi ngồi ở Berlin, Frankfurt, Washington hay Hà Nội thì sức ảnh hưởng của tôi đến truyền thông so với việc ở trong nước là như nhau.... Hai nữa, tôi có thể vận động được các tổ chức quốc tế của các nước một cách có hiệu quả hơn. Bởi vì tất cả những gì mình làm ở bên ngoài, đều là tập trung cho anh em ở trong nước. Cho nên đến thời điểm tôi lựa chọn ra đi thì có sự thay đổi hoàn cảnh đã khác rất nhiều so với thời điểm năm 2012".

Vì sao ở lại?

Việt Nam, bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâmBản quyền hình ảnhPHAM DOAN TRANG
Image captionBà Phạm Đoan Trang từ chối cơ hội sống ở Mỹ, chọn trở về Việt Nam đấu tranh dân chủ
Bà Phạm Đoan Trang từng chối cơ hội sống ở Mỹ, trở về Việt Nam đấu tranh dân chủ, đương đầu với nhiều khó khăn, như bị chính quyền Việt Nam bắt giữ, thẩm vấn, nhất là sau khi bà viết cuốn sách Chính Trị Bình Dân,
Bà Trang nói bà từng sống ở nước ngoài, dù không dài nhưng đủ để nhận ra người Việt thường có "tâm lý bỏ cuộc, rã đám", "thay vì tìm cách đấu tranh cho thế hệ tương lai" khi "tình hình đất nước trở nên tồi tệ về mọi mặt", thì "nếu có điều kiện đều tìm đường đi nước ngoài", mà không hiểu ở đó họ mãi mãi chỉ là "công dân hạng ba".
"Họ không bao giờ vươn lên cao trong xã hội, nhất là trong xã hội phương tây. Nó có thể xuất phát từ những định kiến, từ những phân biệt về chủng tộc, văn hóa hay về quốc tịch… nhưng tôi cảm thấy một điều chắc chắn là cho dù ở một quốc gia văn minh đến đâu, phát triển đến đâu thì sự phân biệt gốc gác vẫn còn..."
Vì vậy, bà Trang cho rằng tốt hơn là ở lại đấu tranh để thay đổi xã hội Việt Nam. "Nó giống như kiểu bạn thấy một đống rác, bạn không dọn mà bạn tìm cách bỏ đi."
Trước câu hỏi trong những thời gian khó khăn, như phải lang bạt khắp Việt Nam để trốn chính quyền, nếu được lựa chọn lại, có bao giờ bà chọn ra đi. Vì với tài năng của mình, bà hoàn toàn có thể đấu tranh cho dân chủ Việt Nam, từ Mỹ, một cách 'nhẹ nhàng hơn"? Bà Trang nói "chưa bao giờ ân hận vì đã về Việt Nam".
"Tôi chỉ tin chắc là tôi rất hối hận nếu tôi không về Việt Nam. Bởi tôi là người Việt Nam, và cụ thể hơn, tôi là một người viết. Mà một người viết thì phải có trải nghiệm và phải có cảm nhận, sống trong môi trường đó, hoàn cảnh đó nên đối với tôi những gì trải qua cho mình thêm vốn sống và sự trải nghiệm chứ không có gì là bi kịch, khủng khiếp hay đau khổ cả."
"Thậm chí có lần tôi cũng nói với các bạn của tôi là nếu biết đi hoạt động vui như thế này thì tôi còn hoạt động sớm hơn từ hồi sinh viên, thậm chí sớm hơn nữa."
Bình luận về lựa chọn 'ra đi' của luật sư Đài, bà Trang cho rằng do "tùy tính chất công việc".
"Nếu công việc đòi hỏi phải trực nghiệm thực tế ở Việt Nam thì nên ở Việt Nam. Công việc mà làm ở nước ngoài tốt hơn thì nên ở nước ngoài, ví dụ việc vận động quốc tế. Như chúng tôi ở trong nước, đi lại gặp gỡ với các cơ quan ngoại giao quốc tế là vô cùng khó khăn. Thậm chí đến một đại sứ quán thôi đã phải "trốn nhà trốn cửa", đi khỏi nhà từ hai hay ba ngày trước. Thậm chí là đến hai hay ba ngày trước như trường hợp của tôi cũng không thoát được. Có nhiều lần công an họ giữ trong nhà đến cả tháng. Rõ ràng là việc vận động quốc tế phải là người Việt Nam ở nước ngoài làm thì hiệu quả hơn hẳn ở trong nước."
Tuy nhiên về mặt tổng thể, bà Trang nói "người Việt Nam muốn thay đổi đất nước thì phải ở trong nước. Đất nước này có thể thay đổi chính là nhờ người dân Việt Nam chứ không phải là phương tây hay cộng đồng quốc tế hay bất cứ lực lượng nào ở bên ngoài".
"Internet đúng là rất tốt, nó xoá nhoà khoảng cách giữa Việt Nam và phần còn lại của thế giới. Nhưng xoá nhoà chứ không phải là hết hẳn."
"Nên nếu bạn ở nước ngoài, muốn thay đổi Việt Nam mà không phải làm công việc vận động quốc tế hay những việc người trong nước không thể làm được, thì bạn phải tìm người ở trong nước để làm. Riêng việc tìm người đủ năng lực, độ tín nhiệm để bạn đặt niềm tin, trở thành cộng sự của bạn, trong khi bạn không thể kết nối được trực tiếp, không tiếp nhận thông tin trực tiếp để đưa quyết định đúng đắn nhất, sáng suốt nhất, là rất khó khăn," bà Trang nói với BBC.

Đấu tranh cho VN ở nước ngoài

Dù chỉ vừa đặt chân sang Đức không lâu, luật sư Nguyễn Văn Đài cho hay ông đã gặp bộ ngoại giao Đức và một số tổ chức phi chính phủ để "vận động, hướng sự chú ý của họ vào tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam", đồng thời "kêu gọi họ gây áp lực để chính quyền Việt Nam trả tự do cho những tù nhân lương tâm đang bị giam giữ".
Ngoài ra, ông Đài cũng có các buổi nói chuyện với cộng đồng người Việt tại Đức để kêu gọi đóng góp, giúp đỡ gia đình những tù nhân lương tâm tại Việt Nam và hỗ trợ cho hoạt động của HAEDC.
Ông cũng liên lạc với HAEDC tại Việt Nam để hướng dẫn, tư vấn cách thức đấu tranh "hiệu quả" và "an toàn cho cá nhân", sau hàng loạt vụ bắt bớ vừa qua với các thành viên của hội.
Bên cạnh đó, luật sư Nguyễn Văn Đài tiếp tục đăng tải trên trang cá nhân những "bài viết bày tỏ quan điểm của mình về những sự kiện diễn ra ở trong nước". ̣(Còn tiếp)

'Tổng Biên Tập phải để nhà báo mở miệng'

 Ben Ngô- BBC Tiếng Việt 13 tháng 8 2018 

Tuổi TrẻBản quyền hình ảnhOTHER
Image captionTòa soạn báo Tuổi Trẻ

Nhà báo kỳ cựu đang bị báo Tuổi Trẻ "xem xét kỷ luật" nói với BBC rằng "các tổng biên tập phải để nhà báo được quyền mở miệng".
Hôm 12/8, ông Ngọc Vinh, một trong các thư ký tòa soạn của báo Tuổi Trẻ, cho biết trên mạng xã hội rằng ông đang bị tòa soạn "xem xét kỷ luật" vì các post Facebook bị cáo buộc "có dấu hiệu vi phạm pháp luật", "gây chia rẽ vùng miền, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc", "đưa thông tin ko đúng sự thật, xuyên tạc vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân".
Kèm theo là văn bản "Thực hiện quy trình xử lý kỷ luật…" có chữ ký của chánh văn phòng thừa lệnh tổng biên tập báo Tuổi Trẻ.
Trong một post hôm 8/8 dẫn link bài về việc "Vinashin tái cơ cấu thành SBIC: Tiếp tục thua lỗ gần 2.900 tỷ đồng trong năm 2018", ông Ngọc Vinh viết: "Câu hỏi đặt ra là, nếu thua lỗ triền miên như vậy, tại sao ko xóa sổ nó đi? Tiền dân đâu phải là tiền chùa để chi tiêu vào lũ này? Những tập đoàn như Vinashin là ung nhọt trên cơ thể quốc gia, vậy mà các tay bác sĩ chủ chốt cứ nuôi dưỡng chúng chứ ko chịu dùng đến dao mổ. Quá cay đắng!"
Một post khác trên trang cá nhân của ông viết: "Đã đến lúc chúng ta xoay chuyển nước Mỹ, từ một đất nước tuyệt vọng và giận dữ thành một đất nước vui sướng và thành công," Tổng thống Trump nói. Nước Mỹ đang là số một thế giới mà lão còn chưa hài lòng, muốn đòi hỏi thêm nữa hả lão Trump? Với một nước áp bét như Việt Nam, thật mong chờ có một lãnh tụ nào đó nói ra được cái câu đầy khao khát và gây xúc cảm cho người dân tôi như lão!"

'Quy tội quá đao to búa lớn'

Trả lời BBC hôm 13/8, nhà báo Ngọc Vinh nói: "Theo tôi, văn bản cáo buộc các post Facebook của tôi sai cả về lý và về tình."
"Về lý, tôi đã nghiên cứu các văn bản mà họ đưa ra để "định tội" tôi, thì thấy rằng tôi chả có sai phạm gì. Thật ra, vài điều trong các văn bản đó, như nhiều văn bản pháp luật khác của Việt Nam, nếu quan tòa cố ý buộc tội thì có tội, còn nếu luật sư cố gắng tranh biện thì không phải phạm tội."


"Như quy định 10 điều về "Đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam" mà họ cho rằng tôi vi phạm chẳng hạn. Họ dẫn Điều 3 của quy định này, cho rằng tôi "phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc" qua post "Lật tẩy hiện tại" nói về chủ đề đoàn kết quốc gia. Nếu các anh có đọc post này của tôi, các anh sẽ thấy rằng họ quy tội quá đao to búa lớn và thiếu căn cứ. Còn với post có mấy dòng nói về cuốn sách Gạc Ma-Vòng Tròn Bất Tử của tôi thì họ càng gán ghép vô lý hơn khi bảo rằng nó sai sự thật, xuyên tạc, vu khống…"
"Về tình, là một nhà báo phục vụ tờ Tuổi Trẻ với thâm niên 30 năm và hiện là người lớn tuổi nhất cơ quan, đáng lẽ tôi được nhận cảnh báo trước nếu như post đầu tiên của tôi có sai phạm. Anh em có thể trao đổi, bàn bạc, để tôi nhận lời khuyên bảo nếu có."

Nhà báo Ngọc VinhBản quyền hình ảnhFB NGOC VINH
Image captionNhà báo Ngọc Vinh

"Nhưng họ không làm như vậy. Đột ngột, họ tống cho tôi môt văn bản "Thực hiện quy trình xử lý kỷ luật…" trong buổi sáng rồi yêu cầu 16:00 ngày hôm sau là hạn chót để nộp bản kiểm điểm. Tôi có cảm giác như mình là một nghi phạm bị tống đạt cáo trạng phạm tộ , điều đó khiến tôi bị tổn thương, bị xúc phạm."
"Tôi có cảm giác mình như người lính ra trận bị chỉ huy bắn vào lưng vậy, và nó cực kỳ đau đớn. Tôi không thể nghĩ ra một tổng biên tập của Tuổi Trẻ lại có cách hành xử thiếu tình người, tình đồng nghiệp như thế."
Khi được hỏi vụ việc này có gì khác với vụ của nhà báo Đỗ Hùng, báo Thanh Niên ba năm trước, ông Ngọc Vinh đáp: "Cậu ấy [ông Đỗ Hùng] bị nạn vì vài dòng trạng thái cợt nhả dính tới danh nhân. Còn tôi bị nạn có lẽ vì đã mở miệng khá tự do trên mạng xã hội để nói về những tồn tại cay đắng của đất nước."
Ông Ngọc Vinh cho biết: "Tính đến trưa 13/8, tôi chưa nhận được thông báo mới. Có lẽ họ [ban biên tập] đang giận dữ vì tôi đã công khai vụ việc này trên mạng xã hội. Nếu họ bỏ qua vụ này như một sự hiểu lầm thì quá tốt (cười)"
"Tôi đã suy nghĩ rất kỹ và bàn bạc với gia đình trước khi công khai vụ việc vì chuyện này ảnh hưởng đến cơm áo vợ con tôi. Tôi còn một năm rưỡi nữa là về hưu và khoản thu nhập từ báo Tuổi Trẻ là khoản thu nhập duy nhất trong đời làm báo của tôi từ trước đến nay."
Ông cũng nói thêm rằng mình "đã tuân thủ" điều khoản trong quy định của báo Tuổi Trẻ về việc "sử dụng các dịch vụ trên Internet và thông tin trên mạng" ban hành nội bộ từ năm 2016.
"Khoản 3 Điều 3 của quy định này ghi rõ: "Không sử dụng các dịch vụ để nhân danh cơ quan báo Tuổi Trẻ dưới bất kỳ hình thức nào. Việc sử dụng các dịch vụ trên Internet là dịch vụ cá nhân, thể hiện quan điểm cá nhân, cá nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật và quy định của cơ quan báo Tuổi Trẻ."

VinhBản quyền hình ảnhFB NGOC VINH
Image captionMột trong những post được cho là khiến ông Ngọc Vinh bị báo Tuổi Trẻ "xem xét kỷ luật"

"Nghề báo là nghề mở miệng và cung cấp dịch vụ mở miệng cho dân chúng, vậy thì các tổng biên tập phải để nhà báo được quyền mở miệng, nếu không được mở miệng trên báo chính thống thì cho phép họ mở miệng trên mạng xã hội. Nghề mở miệng cũng là để khai dân trí và chấn dân khí. Nếu không được mở miệng, nghề báo sẽ tiêu điều. Ông Hồ Chí Minh có nói một câu nổi tiếng, đại ý "Dân chủ là làm cho người dân được mở miệng". Tôi thích câu nói đó!," nhà báo Ngọc Vinh nói với BBC.
Cũng trong hôm 13/8, Luật sư Nguyễn Hà Luân bình luận với BBC về văn bản "Thực hiện quy trình xử lý kỷ luật…" đối với ông Ngọc Vinh: "Toàn bộ nội dung mang tính quy kết đó là dưới góc nhìn của ông lãnh đạo đó [tổng biên tập]. Ông ta có quyền nhìn nhận theo chủ quan của mình."
"Chỉ có điều, những ông như vậy thì khồng bao giờ chấp nhận người ta được quyền nghĩ theo cách nghĩ của riêng người ta. Ông đó chỉ muốn người người đều phải nghĩ theo cái cách mà ông ta nghĩ."
"Dù sao thì đây mới là thông báo về việc sẽ xem xét kỷ luật chứ chưa có quyết định. Đây là loại văn bản nội bộ, không phải đối tượng để kiện."

Đừng để Trung Cộng có cớ động binh trước

“…biết chủ động chiến lược hóa, quốc tế hóa, quan trọng hóa vị trí của quốc gia cũng như biết khai thác mối lo của các cường quốc sẽ làm cho vị trí của quốc gia quan trọng hơn trong tranh chấp quốc tế…”
hangkhong_mauham_hoaky
Một điều mà gần như tuyệt đại đa số người Việt đều ước mà chắc chắn làm không được là dời cái bản đồ Việt Nam ra khỏi nơi đang ở hiện nay. Đi đâu cũng được miễn là tránh khỏi Tàu, dù Tàu Cộng hôm nay hay có thể Tàu không Cộng trong tương lai. Tham vọng Đại Hán, dù Đông Hán hai ngàn năm trước hay Cộng Hán này nay cũng chẳng khác nhau nhiều.
Một số quan điểm, phát xuất từ lòng căm thù Tàu Cộng, cho rằng những biện pháp phải thi hành tức khắc khi Việt Nam có dân chủ gồm:
(1) xóa bỏ các hiệp ước kể cả kinh tế bất bình đẳng và phân định biên giới mà CSVN đã ký kết với Trung Cộng,
(2) hủy bỏ tức khắc các hợp đồng kinh tế bất lợi với Tàu Cộng,
(3) Tàu Cộng phải rút về nước trong một thời gian rất ngắn toàn bộ lực lượng lao động có mặt trên lãnh thổ Việt Nam.
Đương nhiên quốc gia Việt Nam dân chủ sẽ phải làm tất cả để đạt ba mục đích trên nhưng chiến lược và chiến thuật có thể sẽ phải linh động và đừng để Trung Cộng có cớ gây chiến khi Việt Nam chưa nắm bắt được trong tay hai yếu tố “thiên thời” và “địa lợi”.
Một nước Việt Nam dân chủ non trẻ sau CS có đủ khả năng ngăn chận Trung Cộng viện lý do “bảo vệ quyền lợi và kiều dân” để động binh?
Chắc chắn là chưa đủ khả năng.
Nếu Tàu Cộng động binh liệu Mỹ sẽ nhảy vào can thiệp?
Không có gì bảo đảm Mỹ sẽ can thiệp ngay bằng các biện pháp cứng rắn.
Điều đó cũng có nghĩa, khi nào Việt Nam còn có chung biên giới trên đất liền và chung thềm lục địa dưới biển với Tàu Cộng, Việt Nam sẽ phải chấp nhận bị chi phối bởi các nguyên tắc địa lý chính trị của một quốc gia đất hẹp, dân ít mà nằm trong vùng độn (buffer state).
Do đó, dù giả thiết đã có “nhân hòa”, Việt Nam vẫn phải có một chính sách đối ngoại vô cùng khôn khéo.
1. Đàm phán
Không nên vội vã. Tất cả hiệp ước, cam kết, hứa hẹn, nợ nần v.v. với Tàu Cộng đều sẽ được giải quyết song phương hay quốc tế nếu có liên hệ đến nước thứ ba, bằng “đàm phán”. Người viết để “đàm phán” trong ngoặc bởi vì muốn nhấn mạnh đến yếu tố thời gian cũng là phần của chiến lược để phục hồi sinh lực dân tộc về văn hóa đạo đức, ổn định chính trị, phát triển kinh tế và tăng cường quốc phòng.
2. Biết chọn lựa liên minh đúng lúc
Về địa lý chính trị, vị trí của Thổ Nhĩ Kỳ sau thế chiến thứ nhất không quan trọng bằng vị trí của Thổ Nhĩ Kỳ sau thế chiến thứ hai. Nếu năm 1922, Tổng thống Thổ Mustafa Kemal xin liên minh với Mỹ chưa hẳn đã đươc TT Warren G. Harding đón nhận. Nhưng trong Chiến tranh Lạnh thì khác. Năm 1946 TT Truman chính thức gởi chiến hạm USS Missouri tới thăm Cộng Hòa Thổ kèm theo các khoản viện trợ quân sự lớn đến sau.
3. Đừng để ghét hay thương chi phối chính sách đối ngoại
Đa số người Việt ghét Tàu Cộng nhưng không nên để ghét thương chi phối chính sách đối ngoại. Georgia và Ukraine có cảm tình với chính sách của Boris Yeltsin nên tham gia khối thịnh vượng chung và cuối cùng tự đưa cổ vào tròng Putin. Lithuania, Latvia, Estonia dù trong lòng chưa quên mối hận bị Mỹ bỏ rơi sau thế chiến thứ hai, đã chọn đứng về phía Mỹ và Tây Âu khi tái lập được nền độc lập.
4. Chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia
Như người viết trình bày trong bài “Để thắng được Trung Cộng”, để bảo đảm an ninh và phát triển, các lãnh đạo của một Việt Nam dân chủ non trẻ tương lai phải biết chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia và từng bước tham gia các liên minh quân sự tin cậy. Thổ Nhĩ Kỳ cũng phải đàm phán với Liên Xô khi nền Cộng hòa Thổ vừa ra đời nhưng khi vừa đủ mạnh và thấy thời cơ đến đã dứt khoát đứng về phía Tây.
Chính sách đối ngoại của TT Mỹ Dwight D. Eisenhower là một trường hợp nghiên cứu rất hay và cần phân tích ở đây.
Trong tác phẩm được phát hành vào tháng 3, 2018 “The Age Of Eisenhower”, Giáo sư sử học William Hitchcock dành một chương dài để bàn về quan điểm của TT Mỹ Dwight D. Eisenhower đối với Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung. Theo đó, TT Eisenhower tin rằng nếu Việt Nam rơi vào tay CS các quốc gia Đông Nam Á cũng sẽ lần lượt sụp đổ theo. Lý luận này được nhiều người biết như là “thuyết domino”. Ngoại trừ việc gởi quân tham chiến, TT Eisenhower đã làm hết những gì có thể làm để ngăn chận sự bành trướng của Trung Cộng. Tổng thống thứ 34 của Mỹ xem Việt Nam quan trọng đến mức chính ông và hai phụ tá thân cận đã thảo một điện văn dài cố gắng thuyết phục Thủ Tướng Anh Sir Winston Churchill để thành lập một liên minh nhằm ngăn chận sự bành trướng của CS xuống Đông Nam Á. Nếu Mỹ, Anh, Pháp cùng thành lập liên minh quân sự, rất đông đồng minh của Mỹ sau thế chiến thứ hai đều sẽ đứng sau lưng. Anh từ chối, Pháp thua tại Điện Biên Phủ nên lịch sử dân tộc Việt bị cuốn vào một thực tế đầy tang tóc hôm nay.
Nhưng đừng quên, cũng chính TT Eisenhower đã từ chối can thiệp vào cuộc Nổi Dậy Hungary 1956 dù quốc gia Đông Âu trái độn này cũng nằm trong vị trí chiến lược không khác gì Việt Nam. TT Eisenhower lo ngại việc can thiệp của Mỹ vào Hungary có khả năng dẫn đến thế chiến thứ ba. TT Eisenhower cũng không áp lực đồng minh hay Liên Hiệp Quốc đáp ứng lời thỉnh cầu của Thủ tướng Imre Nagy, tân lãnh đạo Hungary, kêu gọi Liên Hiệp Quốc can thiệp. Một số nhà phân tích cho rằng nếu một phái đoàn Liên Hiệp Quốc có mặt tại thủ đô Budapest trong thời điểm cuối tháng 10, 1956, cho dù không ngăn chận hẳn, ít ra cũng làm chậm bước tiến của Liên Sô và giảm bớt số người bị giết trên đường phố thủ đô Budapest. Tóm lại, TT Eisenhower không làm gì cả.
Một tổng thống và cũng trong gần cùng một thời điểm nhưng Mỹ có hai chính sách đối ngoại khác nhau.
Bài học đối ngoại của TT Eisenhower là một thực tế chính trị mà các nước trong vị trí vùng trái độn đều phải học. Không nên chỉ nhìn một cách phiến diện vào khả năng quân sự của Mỹ vượt trội Tàu Cộng mà suy ra viễn ảnh đầy lạc quan của Việt Nam.
Đối với Mỹ, vùng biển Đông Á là huyết mạch kinh tế lẫn an ninh của Mỹ và các nước đồng minh với Mỹ như Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines, Indonesia, liên minh được với Mỹ đúng thời điểm vừa có thể thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa đất nước để một ngày thách thức Trung Cộng về mọi mặt.
Túi khôn của loài người bao la nhưng cũng có giới hạn. Các lý thuyết quan hệ quốc tế thường được lập đi lập lại. Như người viết kết luận trong chính luận “Để thắng được Trung Cộng”, khi chảo dầu mâu thuẫn tại Á châu được đun nóng hơn, nhiều liên minh quân sự mới sẽ ra đời. Do đó, biết chủ động chiến lược hóa, quốc tế hóa, quan trọng hóa vị trí của quốc gia cũng như biết khai thác mối lo của các cường quốc sẽ làm cho vị trí của quốc gia quan trọng hơn trong tranh chấp quốc tế. Đồng thời, sự liên minh khôn khéo trong nhiều trường hợp giúp quốc gia tránh được chiến tranh hay có thêm thời gian để chuẩn bị chiến tranh.
Trần Trung Đạo

Múa trên những xác người

“…Tại sao coi họ là thù địch, trong khi lực lượng thù địch thực sự đang nhẩy múa trên đảo Phú Lâm, không những ngang nhiên chiếm biển đảo mà còn nhẫn tâm với đàn em đến độ không giữ một chút kín đáo tối thiểu, cho đàn em giữ đôi chút thể diện…”
dao_phulam
Đảo Phú Lâm (Woody Island) Trung Cộng chiếm đóng
Trung Cộng đã và đang tổ chức rầm rộ 6 năm ngày thành lập thành phố họ đặt tên là Tam Sa trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa. Nghĩa là chính thức hóa, một cách ngang ngược , việc xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa và biển đảo VN. Nghĩa là công khai nhục mạ tập đoàn cầm quyền ở VN trước dư luận trong nước và thế giới.

Phát ngôn viên của bộ Ngoại Giao VN phản đối, đòi Trung Cộng ngưng ngay chuyện tổ chức kỷ niệm hỗn xược này. Đúng ra là xin, là thỉnh nguyện, bởi vì không có hành động gì, dù chỉ là tượng trưng đi theo đòi hỏi đó. Trong chính trị, nhiều khi chỉ một hình ảnh, một thái độ tượng trưng cũng có ý nghĩa.

Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao nói Trung Cộng “không chỉ xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của VN, mà còn đi ngược lại thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết về vấn đề trên biển giữa VN và Trung Quốc”. Và quả quyết VN “có căn cứ pháp lý và bằng cớ lịch sử khẳng định chủ quyền của VN tại Hoàng Sa, Trường Sa phù hợp với những căn bản pháp lý quốc tế”.

Tóm lại, hành động xâm lăng trắng trợn và thái độ ngang ngược của đàn anh Tàu đã tới độ khiến tập đoàn cầm quyền VN không thể tiếp tục cắm đầu dưới cát, tiếp tục rêu rao chuyện biển đảo chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, có thể giải quyết êm thắm trong tình hữu nghị. Hay nước bạn “giải phóng biển đảo cho ta, sẽ trả lại cho ta”.

Điều đó chứng tỏ những làn sóng chống xâm lăng Tàu nổi lên khắp nước đã bắt buộc nhà cầm quyền phải thay đổi đĩa hát nhàm chán cũ.

Điều đó chứng tỏ ở thời đại Internet, sự thực sớm muộn gì cũng phơi bày trước ánh sáng. Đó cũng là động lực chính khiến luật an ninh mạng vội vã ra đời.

Người dân không thể không đặt ít nhất hai câu hỏi:

1. Tại sao biết, và nhìn nhận Tàu là quân xâm lăng mà vẫn lập các đặc khu cho chúng thôn tính thêm lãnh thổ quốc gia? Mất biển đảo chưa đủ, còn phải dâng, triều cống thêm đất liền?

2. Đất nước Việt là của người Việt, Tàu Cộng là giặc xâm lược. Những người như Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần thị Nga, đông đảo những người yêu nước khác, những người trẻ xuống đường, biểu tình gần đây không nói gì khác.

Tại sao, thay vì tuyên dương, cám ơn họ, lại nhốt họ vào tù, ban những bản án nặng hơn tội cướp cuả giết người?

Tại sao coi họ là thù địch, trong khi lực lượng thù địch thực sự đang nhẩy múa trên đảo Phú Lâm, không những ngang nhiên chiếm biển đảo mà còn nhẫn tâm với đàn em đến độ không giữ một chút kín đáo tối thiểu, cho đàn em giữ đôi chút thể diện. Như một bọn cướp lỗ mãng đàn hát, nhẩy múa trong một nhà có tang ma, sau khi đã chiếm phòng khách, phòng ngủ.
Từ Thức

Mất chủ quyền 1 ngày đâu có ăn nhằm gì?

Đảng và nhà nước (lần đầu tôi đòi hỏi 2 “vị” này) phải xử nghiêm khắc đám từ nhỏ tới lớn: Ban quản lý dự án đường sắt trên cao, Tổng công ty Đường sắt, Bộ Giao thông vận tải, và tay bộ trưởng Thể, về tội để cho Trung Quốc lộng hành, coi chủ quyền đất nước không ra gì.
Bọn nhà thầu Trung Quốc (đừng có ai nói với tôi là cần phải biết ơn nó, đừng bảo rằng nó đã sang làm vất vả cho ta mà lại còn vô ơn chửi nó, xin nhớ: nó đã cố tình dây dưa kéo dài, đã gây đội vốn từ hơn 500 triệu USD thành gần 1 tỉ đô, vả lại nó không làm không công, tiền trả cho nó cả núi chứ giúp giếc gì) đã không thèm giấu diếm, công bố trước 2 ngày chuyện sẽ tự cho người lên đi thử, mạng xã hội cũng phê phán rất ồn ào từ trước đó sự tự tung tự tác của nhà thầu, tuy nhiên cuối cùng chúng vẫn thực hiện trót lọt, vẫn cười vào mũi chính quyền xứ này, vậy nếu không phải sự làm ngơ, vô trách nhiệm, hoặc “tiếp tay cho giặc” của phía VN thì là cái gì?
Nay Bộ GTVT lại còn nỏ mồm chống chế, giải thích loằng ngoằng, nào là nhà thầu họp công đoàn, tiện thể cho người nhà đi thử, nào là vé chỉ có giá trị trong 1 ngày, nào là đã yêu cầu chấm dứt ngay vi phạm, không để thế lọ thế chai…
Đèo mẹ chúng nó chứ, “vé chỉ có giá trị trong 1 ngày”, mất chủ quyền 1 ngày đâu có ăn nhằm gì với chúng nó. Chúng muốn mất luôn cơ.
Hãy cách chức ngay tay Thể và đám tàn hại đất nước, không thì đảng và nhà nước cũng tự xử luôn đi.
Đúng là xứ này lắm chuyện cười ra nước mắt./.