Wednesday, July 4, 2018

Đầy tớ mãi đè đầu cỡi cổ ông bà chủ

Cánh Dù lộng gió (Danlambao) - Ngay từ đầu mang tên Việt Minh csvn đã dùng thủ đoạn và chiêu dụ những người nhẹ dạ theo chúng, góp người, công góp của cho chúng.

Chúng kêu gào kháng chiến chống thực dân Pháp, chiêu dụ những thanh niên có bầu nhiệt huyết yêu nước gia nhập hàng ngũ Việt Minh đi chết thay cho chúng trong những lần đối mặt với quân đội Pháp. Chúng vừa kêu gọi vừa ép buộc người dân làm dân công đi tải đạn đào hầm hố cho chúng, người giàu thì chúng hù doạ để đem tiền của ủng hộ phong trào kháng chiến, dân nghèo thì chúng phát động hũ gạo nuôi quân, nói chung chúng không từ bỏ mọi mánh khoé để lừa bịp và chiêu dụ mọi tầng lớp nhân dân, đến khi công cuộc kháng chiến chúng cho là đã thành công thì chúng vơ hết công lao cho rằng do đảng sáng suốt lãnh đạo làm lên chiến thắng vẻ vang, lẫy lừng năm châu bốn biển.

Thời kỳ chống Mỹ thì chúng kêu gào chống Mỹ cứu nước, một điều lạ là hiệp định Geneve chia đôi 2 miền Nam Bắc, nước của chúng ngoài miền Bắc mà chúng lại xua quân vào Nam cứu nước, trong khi miền Nam đang có tự do đời sống sung túc phồn thịnh nhất nhì cả vùng Đông Nam Á thời đó. Ngay chính Võ Nguyên Giáp là người chỉ huy mặt trận khe sanh nhưng chẳng bao giờ dám bước chân qua khỏi vỹ tuyến 17 ấy vậy mà cái đám ACQGTMCS là MTGPMN và gia đình của chúng lại vểnh tai lên mà nghe lọt những lời dụ dỗ tuyên truyền, rước giặc vào nhà giết hại chính những đồng bào mình. Đem mìn và chất nổ khủng bố những đồng bào đã từng chia sẻ ngọt bùi với mình trong chế độ VNCH tự do, dân chủ.

Những viên đạn đã từng xuyên qua tim hoặc qua đầu những người được cho là phản động cũng chính là những đồng bào đang sống với gia đình chúng trong cùng làng cùng xóm, chỉ vì bị nghi là đưa tin tức cho VNCH hay không tiếp tế cho chúng, tối đến chúng gõ cửa và đem đi xử. Những viên đạn pháo từ trong rừng rót xuống những nóc nhà dân kể cả trường học tiểu học như ở Cai Lậy làm thịt da nát tan gây ra những cái chết không kịp trăn trối. Những quả mìn gài bẫy giữa đường làm xe chở khách nổ tung lật nhào hành khách trên xe người chết người bị thương cũng là những người dân vô tội và cũng là đồng bào của chúng. Ấy thế mà chúng hãnh diện coi như là một chiến công cần được tuyên dương và nhân rộng ra cho đồng bọn noi gương.

Hết thời chiến tranh bây giờ đến thời không còn tiếng súng thì chúng chui từ trong rừng ra nhận công để nhận chức vụ này chức vụ nọ, để hưởng những bổng lộc do cái đảng khát máu của chúng ban cho.

Chúng tự cho rằng công lao của chúng bỏ ra bây giờ đã đến thời kỳ thu hoạch hay được đền đáp nên ra sức vơ vét không chừa một thứ gì cứ như chúng chưa từng được vơ vét khi còn thời kỳ chiến tranh. Chỉ có một đảng duy nhất, quyền sinh sát trong tay nên chúng muốn làm gì thì làm, muốn kết án ai thì kết án, muốn lấy của ai cái gì là quyền của chúng cấm cãi, chúng đưa ra những loại thuế mà trên thế giới phải ngạc nhiên vì chưa từng bao giờ có. Chúng có quyền cướp đất cướp nhà của người dân tuỳ ý miễn sao chúng thấy có lợi cho chúng là chúng cưỡng chế rồi quy hoạch đem bán lấy lời gấp trăm lần trong khi bồi thường cái giá rẻ mạt.

Kể cả chúng coi đất nước này là của riêng chúng, muốn cắt đâu là cắt, muốn bán đâu là bán không cần quan tâm đến ý kiến của người dân. chúng coi người dân như những con vịt tha hồ vặt lông nhưng nghĩ đủ mọi cách làm sao cho những con vịt đó không thể kêu lên được bằng cách đưa ra những luật lệ trái khoáy, người dân kêu gào oan sai chúng ghép cho cái tội phản động, vì thế chỉ biết nuốt hận lâu lâu lại có một người ức quá tự thiêu hay bắn chết cán bộ rồi tự sát.

Một điều lạ là chúng tự coi cái đất nước này là sân chơi dành riêng cho chúng, cắt, xén, bán chỗ nào tuỳ ý, lấy tiền gởi ra ngoại quốc, mua nhà mua cửa cho con đi du học tìm chỗ chạy chọt để có thẻ định cư vĩnh viễn vì một số quốc gia như Canada hễ có tiền triệu sẽ được định cư tại nước này không biết đúng hay sai, chiêu mà chúng hay xử dụng là mở các công ty ma để có chân qua lại trước khi chính thức nhập quốc tịch vào các nước khác. khi đã xin giấy phép đầu tư thì tự nhiên chúng được hợp pháp ở tại nước đó để làm ăn, về vấn đề này thì quý độc giả bên những quốc gia đó quá rõ.

Cái đau cho người dân sống với cái đảng bất nhân này là biết mà không được nói, đau mà không được kêu, một khi chúng vặt lông thì cắn răng mà chịu đựng, mở miệng ra kêu oan thì được bịt ngay miệng bằng 2 từ phản động thế là đâu lại vào đó.

Chúng là những kẻ ăn trên ngồi trốc, ăn không chừa một cái gì của người dân. Chúng ra các loại thuế bắt người dân gồng mình gánh nặng, chúng áp đặt các luật lệ để nhốt tù những ai dám chống đối chính sách của chúng.

Đã đến lúc các ông chủ phải đứng lên đòi lại quyền làm người trong tay các đày tớ trung thành của Tàu Cộng chứ không phải của nhân dân như HCM từng tuyên bố, đừng để các đầy tớ đè đầu cỡi cổ nữa.

Ngày 04/07/2018


Cái "khu đặc biệt" của đảng đã hiện cục phân Tàu

CTV Danlambao - "Dự thảo không có một chữ nào về Trung Quốc, chỉ có những người cố tình hiểu theo hướng đó và đẩy vấn đề lên, chia rẽ quan hệ ta với Trung Quốc." Đó là tuyên bố của Nguyễn Chí Dũng - Bộ trưởng KH-ĐT về nội dung của dự luật Đặc Khu. Chỉ gần 1 tháng sau, ba cái khu đặc biệt của đảng đã lộ hàng và lộ mùi rõ rệt với đề xuất của Nguyễn Đức Long, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh: "tiếp tục đề xuất Chính phủ hoàn thiện dự thảo Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt và đẩy nhanh xây dựng khu hợp tác song phương với Trung Quốc." 

Nguyễn Đức Long đã kiến nghị thông qua chủ trương đầu tư khu công nghiệp Đầm Nhà Mạc (Quảng Yên). Chi phí thực hiện dự án này là 6.940 tỉ đồng, diện tích 1.192,9 ha với thời hạn thực hiện 50 năm (và có thể là 99 năm khi đảng cho đây là "trường hợp đặc biệt). 

Kế đến Nguyễn Đức Long cũng yêu cầu chính phủ tiến hành gấp Khu hợp tác kinh tế biên giới Móng Cái (Việt) - Đông Hưng (Tàu). Khu này nằm ở phường Hải Hòa thuộc Tp Móng Cái với diện tích của dự án là 1.360 ha. Dự án này có chi phí là 15.000 tỷ đồng với 100% vốn đầu tư chủ yếu là của Tàu cộng. 

Để thực hiện 2 dự án này, Nguyễn Đức Long đề nghị sớm hoàn thiện dự án luật đặc khu để trình Quốc hội xem xét và thông qua tại Kỳ họp thứ 6 theo đúng kế hoạch

Lý do Nguyễn Đức Long nóng lòng về việc thông qua dự luật Đặc khu là vì Quảng Ninh thuộc vào khu Vân Đồn và hiện nay nhiều cơ sở vật chất, hạ tầng, nhất là sân bay quốc tế Vân Đồn đã được khởi công xây dựng. 

Có nghĩa là luật về đặc khu chưa được chính thức thông qua nhưng đặc khu Vân Đồn đã từng bước hình thành, và trong luật thì không có chữ Trung Quốc nào nhưng đặc khu thì đầy rẫy Tàu cộng. 

Do đó, "đặc khu" chỉ là một thứ "ván đã đóng thuyền". Chủ trương lớn của đảng là giao 3 vị trí chiến lược cho giặc trong 99 năm đã được tiến hành. Và luật đặc khu chỉ là để "luật hoá" cho những giao kèo cho Tàu cộng mướn đất 99 năm.

04.07.2018

Ngu hết biết: Rác hôi vì biến đổi khí hậu!

Tư nghèo (Danlambao) - Sau cái ngày phỏng giái, Tư tui mới biết chỉ có ở nước ta mới có cái thứ "đỉnh cao trí tuệ của loài người". Sau mấy chục năm tiếp tục bị phỏng, Tư tui mới té ngữa ra rằng cái đỉnh cao đó lại là trí tuệ của mấy con heo.

Một con heo mới được phát hiện trong danh sách đỉnh cao dày cộm đó là cha nội Nguyễn Toàn Thắng, Giám đốc Sở Tài Môi thành phố Hồ Bả Chó. Con này vừa mới "nổi tiếng" với câu phát biểu bốc mùi về bãi rác Đa Phước: "Năm nay do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và các mùa nên sẽ có mùi hôi."

Thầy chạy! 

Vậy năm ngoái hay khi nào khí hậu hổng biến đổi thì rác rất thơm tho!? Còn "và các mùa" là cái giống gì? Bộ năm trước hổng có ảnh hưởng các mùa?

Có ngu thì ngu vừa vừa, chừa chỗ cho mấy con heo khác ở Ba Đình nó ngu chớ cha nội!

Con heo này đang là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, Bí thư Đảng ủy - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thành Hồ. Nó cũng khoe nó là Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Cử nhân Luật, Cử nhân Kinh tế, Cao cấp Lý luận Chính trị. (2) Nhưng nó không tiết lộ nó lượm mấy cái bằng cấp này ở cái chợ nào. 

Nhưng chừng đó bằng cấp mà phun ra câu rác hôi là do biến đổi khí hậu và các mùa thì bảo đảm đó là bằng... rác! 

Dưới sự lãnh đạo của những con heo này thì không trách gì Việt Nam ta sẽ xuống hố cả lũ hay trở thành một bãi rác vĩ đại, hôi thúi vì... khí hậu biến đổi! 

04.07.2018

Quân Đội Nhân Dân hãy đứng ra cứu nước

Lê Dủ Chân (Danlambao) - ...Tàu cộng không thể xâm lược Việt Nam bằng vũ lực và con đường duy nhất mà họ phải đi là sử dụng đảng CSVN làm công cụ xâm lược cho đến khi đa số dân Việt bị Hán hóa tự nguyện sáp nhập vào mẫu quốc Tàu cộng. Do vậy âm mưu thôn tính nước ta của Tàu cộng thành hay bại trong giai đoạn này dứt khoát không phải do quyết tâm của giới cầm quyền Bắc Kinh mà do đảng cộng sản Việt Nam có còn tồn tại trên cương vị lãnh đạo lãnh đạo nước ta để làm tay sai cho họ hay không. 

Tổ quốc trên hết, dân tộc trước hết. Để tránh một cuộc đổ máu tương tàn giữa người Việt Nam quyết tâm bảo vệ tổ quốc, bảo vệ dân tộc và bè lũ tay sai của Tàu cộng là đảng CSVN, tôi thiết tha kêu gọi Quân Đội Nhân Dân Việt Nam hãy đứng ra nhận lấy nhiệm vụ lịch sử phế bỏ quyền lãnh đạo của đảng CSVN trên đất nước chúng ta...

*

Kính thưa quý vị tướng lãnh, sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

Thưa quý vị, mặc cho tuyên giáo của đảng cộng sản nói gì và khi gia nhập vào Quân Đội Nhân Dân Việt Nam quý vị tuyên thệ gì, riêng cá nhân tôi vẫn tin rằng trong tận cùng trái tim của quý vị, dù là đảng viên hay không phải là đảng viên đảng cộng sản đều biết rằng mình là người Việt Nam, tổ quốc của mình là nước Việt Nam, dân tộc của mình là dân tộc Việt Nam. 

Chính vì suy nghĩ đúng đắn đó mà đã có hàng ngàn, hàng vạn chiến hữu của quý vị bỏ mình trong chiến tranh chống thực dân Pháp, trong chiến tranh chống xâm lược Tàu để giành độc lập cho đất nước và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ cho tổ quốc trong thời gian qua. 

Tổ quốc còn, dân tộc còn tất cả đều còn, tổ quốc mất, dân tộc mất tất cả đều mất. Một khi nước đã mất vào tay ngoại bang thì cho dù dưới một hình thức nào đó, đảng cọng sản của quý vị có còn, một bộ phận Quân Đội Nhân Dân có còn thì đảng đó, quân đội đó cũng chỉ là một chi bộ, một bộ phận của đảng cộng sản, của quân đội ngoại bang và nhiệm vụ của nó là phục vụ, bảo vệ đảng cộng sản, đất nước, người dân của ngoại bang. 

Tôi tin rằng là người Việt Nam, hơn nữa là một quân nhân với dòng máu của Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng "Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc" quý vị chắc chắn sẽ không cam tâm chấp nhận tình huống này. 

Đọc lại lịch sử nước ta chắc quý vị cũng thấy rằng trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của dân mình, không có thời đại nào người dân Việt Nam không phải đổ máu để bảo vệ tổ quốc trước âm mưu xâm lấn của kẻ thù phương Bắc. Âm mưu thôn tính Việt Nam của họ chưa bao giờ ngưng nghỉ và ngay cả ngày hôm nay khi tập đoàn cai trị CSVN đã cam tâm tình nguyện làm đồng chí, làm anh em hoặc lên tiếng thừa nhận "Bên ni biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương" với họ. 

Sau hơn 64 năm (1954-2018) dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam, đất nước đang lâm nguy, tổ quốc chúng ta có nguy cơ bị xóa tên trên bản đồ thế giới để trở thành một phần lãnh thổ của nước láng giềng Tàu cộng, dân tộc chúng ta có nguy cơ bị Hán hóa. Hơn ai hết quý vị, nhất là những lãnh đạo cấp cao trong quân đội, dù không nói ra nhưng không thể chối cãi sự thật phũ phàng rằng: 

1- Đảng cộng sản Việt Nam đã giao đất, nhượng biển, đảo của Việt Nam cho Tàu cộng 

Cụ thể như: 

- Giao Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam cho Tàu cộng (Công hàm do Phạm Văn Đồng - Ủy Viên bộ Chính Trị / TƯ đảng CSVN kiêm Thủ Tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký ngày 14/09/1958). 

- Giao 1/4 bãi Tục Lãm thuộc phường Hải Hoà, thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Việt Nam. 

- Giao 2/3 thác Bản Giốc thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Việt Nam. 

- Giao Núi Lão Sơn hay còn gọi là cao điểm 1509 thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Việt Nam. 

- Giao Ải Nam Quan thuộc tỉnh Lạng Sơn Việt Nam. 

- Giao gần 1/2 diện tích biển tại vịnh Bắc Bộ Việt Nam. 

- Ngoài ra chỉ trong 16 năm (1999-2015) Việt Nam đã mất 15420.0 Km2 đất liền về tay Tàu cộng. Theo số liệu của World Bank / Data / land area thì năm 1999 diện tích nước Việt Nam là: 325.490 Km2 đến năm 2015 chỉ còn 310.070 Km2. Xin quý vị vào đây để rõ: 


2- Đảng CSVN đã đánh mất chủ quyền quốc gia về tay Tàu cộng 

Cụ thể như: 

- Để Tàu cọng công bố "đường lưỡi bò" với mưu đồ chiếm trọn Biển Đông của Việt Nam. 

- Để Tàu cộng xua ngư dân, đưa tàu hải giám vào vào lãnh hải của Việt Nam đánh cá cũng như đánh, bắt, cướp, giết ngư dân Việt Nam. 

- Để Tàu cộng đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa Việt Nam. 

- Để Tàu cộng bồi đắp, tái tạo, và xây dựng các đảo đã chiếm được của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thành những căn cứ quân sự với mục đích độc chiếm Biển Đông và cô lập nước ta. 

- Tuân theo lệnh của Tàu cộng yêu cầu công ty Repsol của Tây Ban Nha ngưng dự án khai thác dầu ở các lô 07/03 và 136/03 thuộc mỏ Cá Rồng Đỏ, ngoài khơi Vũng Tàu Việt Nam. 

- Không kiện Tàu cộng ra tòa án Trọng Tài Thường Trực (PCA) về việc Tàu cộng tuyên bố chủ quyền "đường lưỡi bò" đối với biển Đông và sự kiện tranh chấp chủ quyền Biển Đông với Tàu cộng. 

- Lãnh đạo cao nhất của đảng và nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phải qua Tàu cộng nhận chỉ thị của lãnh đạo đảng và nhà nước Tàu cộng trước khi có chuyến công du sang Hoa Kỳ. 

- Hầu hết Tổng Bí Thư đảng CSVN, người có quyền lực cao nhất nước Việt Nam từ trước đến nay đều do Tàu cộng cử đảng bầu không khác gì quốc hội Việt Nam có được là do đảng cử dân bầu... 

3- Đảng cộng sản Việt Nam đã bán đất, tài nguyên quốc gia cho Tàu cộng

Cụ thể như: 

- Tính đến năm 2012 ở cả ba miền Bắc-Tàu-Nam Việt Nam có 18 tỉnh cho công ty nước ngoài chủ yếu là Tàu cộng thuê rừng trong thời hạn 50 năm với diện tích trên 398.374 ha, hầu hết đất rừng cho thuê nằm ở vị trí trọng yếu về quốc phòng an ninh, rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn. 

- Cho Tàu cộng khai thác bauxite ở Tây Nguyên (chủ trương lớn của đảng / Nguyễn Tấn Dũng). 

- Cho Tàu cộng núp dưới vỏ bọc công ty Formosa Đài Loan xây dựng nhà máy gang thép Formosa Hà Tĩnh. 

- Cho Tàu cộng thuê trong 99 năm (một thế kỷ) 3 đặc khu hành chính - kinh tế Vân Đồn / Quảng Ninh, Bắc Vân Phong / Khánh Hòa và Phú Quốc / Kiên Giang (quyết sách của đảng / Nguyễn Thị Kim Ngân). Ở đây cũng xin mở ngoặc rằng: Trong dự luật đặc khu hành chính / kinh tế không nêu đích danh Tàu cộng mà dùng từ "nước ngoài" nhưng lối chơi chữ xảo quyệt của đảng cộng sản không lừa gạt được ai bởi vì trước đây họ đã từng gọi tàu, thuyền Tàu cộng xâm nhập vào lãnh hải nước ta, đánh, bắt, giết ngư dân nước ta là "tàu lạ" hơn nữa dù chưa chính thức cho thuê nhưng Tàu cộng đã và đang có mặt để xây dựng 3 đặc khu nêu trên rồi!! 

4- Đảng cộng sản Việt Nam đã trao vai trò chủ đạo nền kinh tế quốc dân vào tay Tàu cộng

Cụ thể như: 

- Theo thống kê của cục Đầu Tư Nước Ngoài thuộc Bộ Kế Hoạch-Đầu Tư vào năm 2017 Tàu cọng (chưa kể Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao) có tổng cộng 1541 dự án đầu tư tại Việt Nam (gồm 1346 dự án có sẳn và 195 dự án mới) và hơn 593 dự án mua lại của doanh nghiệp Việt. Nếu tính bình quân thì cứ mỗi tỉnh, thành phố Việt Nam có trên 30 dự án do người Tàu thực hiện. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu các công ty Tàu cộng theo lệnh của Bắc Kinh đồng loạt rút hết ra khỏi nước ta? Đảng và nhà nước CSVN có dám để sự kiện đó xảy ra hay không hay là nhất nhất phải chìu lòng "ông Tàu"? 

- Theo số liệu thống kê 4 tháng đầu năm 2018 của Tổng cục Hải quan cho thấy lượng quặng và khoáng sản Việt Nam xuất sang Tàu chiếm 80% tổng lượng xuất khẩu. 

- Theo tờ Xinhua, lượng hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Tàu trong tháng 1/2018 tăng106%so với tháng 1/2017. 

- Theo tờ báo Vietnamnews, Tàu Cộng hiện là thị trường xuất khẩu chủ lực và đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. 

- Biểu đồ tổng quan tỷ trọng % GDP liên quan đến Tàu Cộng của một số quốc gia / Nguồn: Natixis, Bloomberg.


Với biểu đồ trên đây, Việt Nam là 1 trong 3 nước có nền kinh tế lệ thuộc lớn nhất vào Tàu cộng. Một khi nền kinh tế quốc gia đã bị lệ thuộc thì các mặt khác như chính trị, xã hội... của quốc gia đó làm sao tránh khỏi tránh khỏi bị kềm chế. 

5- Đảng cộng sản Việt Nam đã mở đường Hán hóa dân tộc Việt Nam cho Tàu cộng

Cụ thể như: 

- Mở cửa biên giới phía Bắc để dân Tàu tự do, ồ ạt xâm nhập hợp pháp và bất hợp pháp vào Việt Nam dưới mọi hình thức, như du lịch, công nhân, buôn bán... Tàu cộng có hơn 1 tỷ 300 triệu dân với vấn nạn gái thiếu trai thừa, Việt Nam ta có khoảng 96 triệu dân đa số là nghèo đói, cần việc làm. Với chủ trương mở cửa biên giới phía Bắc để người Tàu vào ra tự do như hiện nay cộng thêm với công nhân Tàu có mặt trên khắp các tỉnh thành Việt Nam càng ngày càng nhiều thì trong 1, 2 hoặc 3 thế hệ nữa nước ta chắc chắn bị sáp nhập vào nước Tàu như như nước Cộng Hoà Tự Trị Cremia (Krym) đã sáp nhập vào nước Nga sau cuộc bầu cử ngày 16/03/2014 vừa qua. 

- Đưa tiếng Hán vào giảng dạy cho học sinh Việt Nam tại cấp tiểu học và trung học cơ sở. 

- Thành lập Viện Khổng tử (triết gia thời Xuân Thu nước Tàu lập ra Nho giáo hay còn gọi là Khổng giáo). 

- Xây dựng hoành tráng Cung Hữu Nghị Việt Hoa để truyền bá văn hóa và tư tưởng đại Hán.

- Tuyên truyền, ru ngủ dân Việt Nam bằng luận diệu phản quốc như "Đời đời nhớ ơn Trung Quốc", "Sơn thủy tương liên, lý tưởng tương thông, văn hóa tương đồng, vận mệnh tương quan / 16 chữ vàng 4 tốt" hoặc "chưa bao giờ đất nước ta được như hôm nay"!?. 

- Đồng lõa với Tàu cộng đầu độc môi trường Việt Nam bằng chất thải công nghệ thải ra từ các hãng xưởng Tàu cộng đang hoạt động tại Việt Nam, giết hại người dân Việt Nam bằng thực phẩm độc hại xâm nhập từ Tàu cộng. 

- Trấn áp, bỏ tù những người Việt Nam yêu nước đứng lên chống lại âm mưu xâm lược của Tàu cộng để bảo vệ tổ quốc và dân tộc Việt Nam. 

- Ra các điều luật 258, 88, 79 và mới đây là luật An Ninh Mạng với mục đích bịt miệng người dân, sửa sai lịch sử, bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ để làm tròn sứ mạng rước giặc vào nhà, rước voi về giày mả tổ do Tàu cộng giao phó. 

Kính thưa quý vị

Chúng ta đang ở trong thế kỷ 21, là thế kỷ mà một quốc gia dù hùng mạnh đến đâu cũng không thể xâm lược một quốc gia khác bằng quân sự. Mỹ là cường quốc đứng đầu thế giới nhưng cũng phải rút khỏi Iraq sau khi đánh đổ được nhà độc tài Saddam Hussein, Nga cũng là cường quốc số 1, số 2 trên thế giới nhưng muốn thâu tóm nước Cọng Hòa Tự Trị Cremia (Crym) cũng phải dùng đến phương pháp "xâm lược mềm" có nghĩa là Nga hóa dân bản xứ Cremia trước sau đó mới tổ chức bầu cử để sáp nhập Cremia vào Nga. Tàu cộng đất rộng, người đông, tiềm lực quân sự tương đối mạnh nhưng không dám đem quân đánh để lấy lại đất đai của mình là Hồng Kông mà phải đợi đến khi người Anh trao trả vào năm 1997 mới nhận lại được. 

Ban lãnh đạo Tàu cộng tại Bắc Kinh nhận thức rõ được đều đó, họ biết rõ họ cần yên ổn để xây dựng đất nước họ trở thành một cường quốc, họ biết rõ quốc gia của họ do xung đột tranh chấp biên giới trên đất liền (Nga, Ấn Độ) và trên biển (Nhật, Nam Hàn, Phi Luật Tân, Việt Nam, Mã Lai, Đài Loan, Mỹ...) đang có nhiều kẻ thù và trong nước của họ cũng chứa đầy mầm mống nội loạn từ các dân tộc bị họ cướp nước trước đây như Mông, Hồi, Mãn, Tạng đến những người dân Tàu, Hồng Kông yêu tự do, dân chủ, nhân quyền, tất cả, tất cả đang chờ thời cơ để thay đổi nước Tàu, thời cơ đó chính là một cuộc chiến tranh giữa Tàu cộng với bất cứ quốc gia nào trên thế giới. 

Nói như vậy để chúng ta thấy rằng ít nhất là trong 4, 5 thập niên tới Tàu cộng không thể xâm lược Việt Nam bằng vũ lực và con đường duy nhất mà họ phải đi là sử dụng đảng CSVN làm công cụ xâm lược cho đến khi đa số dân Việt bị Hán hóa tự nguyện sáp nhập vào mẫu quốc Tàu cộng. Do vậy âm mưu thôn tính nước ta của Tàu cộng thành hay bại trong giai đoạn này dứt khoát không phải do quyết tâm của giới cầm quyền Bắc Kinh mà do đảng cộng sản Việt Nam có còn tồn tại trên cương vị lãnh đạo lãnh đạo nước ta để làm tay sai cho họ hay không. 

Tổ quốc trên hết, dân tộc trước hết. Để tránh một cuộc đổ máu tương tàn giữa người Việt Nam quyết tâm bảo vệ tổ quốc, bảo vệ dân tộc và bè lũ tay sai của Tàu cộng là đảng cộng sản Việt Nam, tôi thiết tha kêu gọi Quân Đội Nhân Dân Việt Nam hãy đứng ra nhận lấy nhiệm vụ lịch sử phế bỏ quyền lãnh đạo của đảng CSVN trên đất nước chúng ta. Nhân dân ủng hộ quý vị, Tổ Quốc ghi ơn quý vị. 

04.07.2018

Nhân vụ Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc: CSVN đã bắt đầu bị lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc từ bao giờ? Tại sao?

Đọc lại những bài viết của các cố vấn Tàu ở Việt Nam trong Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhất (1946-1954) 

Phạm Cao Dương (Danlambao) - Đây là những bài viết được ghi là của “một số lão đồng chí đã từng cộng tác trong Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam đầu những năm 50 của thế kỷ 20” theo lời của Nhóm biên tập của tập tài liệu có nhan đề Ghi Chép Thực Về Việc Đoàn Cố Vấn Quân Sự Trung Quốc Viện Trợ Việt Nam Chống Pháp (Hồi ký của những người trong cuộc) do Nhà Xuất Bản Lịch Sử Đảng Cộng Sản Trung Quốc ấn hành ở Bắc Kinh năm 2002, bản dịch tiếng Việt của Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy với Dương Danh Dy cũng là người hiệu đính. Bản dịch này không ghi nơi xuất bản cũng như tên nhà xuất bản với lý do được nêu là tài liệu lưu hành nội bộ và được gửi từ trong nước ra hải ngoại qua thư điện tử. Cũng vậy, ghi là nội bộ nhưng sách cũng không được ghi rõ là nội bộ của cơ quan nào. Dương Danh Dy là một nhà nghiên cứu được nhiều người tin cậy. Ông đã từng giữ chức Tổng Lãnh Sự Việt Nam ở Quảng Châu, Trung Quốc.

I. Nội dung của tài liệu 

Tập tài liệu này dày 280 trang qua thư điện tử và gấp đôi tức trên dưới 560 trang theo khổ sách in nhỏ, gồm tổng cộng 10 bài, thêm hai trang Lời Cuối Sách. Tác giả đầu tiên là La Quý Ba, ngưòi được Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc bí mật cử sang Việt Nam đầu năm 1950 làm đại diện liên lạc giữa Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương, sau này là Đại Sứ đầu tiên của Cộng Sản Trung Quốc ở Việt Nam. Bài này ngắn và có tính cách tổng quát, được viết để tưởng nhớ Mao Trạch Đông. Tác giả thứ hai là Trương Quảng Hoa. Ông này xuất thân làm công tác ở văn phòng cố vấn quân sự của Đoàn, lo về thống kê nên nắm vững tình hình “giao nhận vật tư” để báo cáo cho lãnh đạo của Đoàn. Trương Quảng Hoa có cả thảy bốn bài, đồng thời giữ vai trò sửa chữa và hiệu đính, kể cả sửa chữa và hiệu đính cho phần “Đại Sử Ký” tức phần niên biểu các sự kiện chính ở cuối sách trong đó có bài viết tổng quát và một bài viết về vai trò có tính cách quyết định của tướng Trần Canh trong trận Đông Khê - Thất Khê. Chủ trương của Trần Canh cũng như của các cố vấn Tàu đối nghịch với chủ trương ban đầu của các chỉ huy trưởng Việt Minh, trong đó có các Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 102 Nguyễn Hữu An và Trung Đoàn 88 Thái Dũng. 

Người có bài thứ ba là Vu Hoá Thuần, viết về Vi Quốc Thanh trong cả hai trận Đông Bắc và Điện Biên Phủ, một vai trò cũng quyết định giống như vai trò của Trần Canh trong chiến dịch Đông Bắc. Vương Nghiên Tuyền nguyên ở trong ban tham mưu của Tướng Trần Canh và là cố vấn cho Đại Đoàn 308 trong thời chiến tranh chống Pháp, năm 1956 lại trở sang Việt nam làm tổ trưởng Tổ Chuyên Gia Quân Sự cho đến năm 1957. Ông này có hai bài dài và coi như nòng cốt của tập sách. Tiếp theo là các bài của Độc Kim Ba và của Như Phụng Nhất mà tiểu sử không được ghi dù là gián tiếp. Cuối cùng là một niên biểu liệt theo ngày tháng tiến trình hoạt động của Đoàn Cố Vấn Trung Quốc từ ngày được thành lập, từ tháng Giêng và tháng Hai năm 1950 cho đến trung tuần tháng Ba năm 1956.

Viện trợ của Trung Quốc 

Nói tới Chiến Tranh Pháp - Việt Minh (1946-1954) không ai là không biết tầm quan trong của viện trợ của Cộng Sản Trung Quốc cho Cộng Sản Việt Nam kể từ sau khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc chiếm được toàn thể Trung Hoa Lục Địa, hay chậm hơn và đúng hơn chút nữa là từ trung tuần tháng 8 năm 1950, khi hai đoàn cố vấn quân sự, một do Vi Quốc Thanh và Đặng Dật Phàm cầm đầu từ Quảng Tây và một do Trần Canh hướng dẫn từ Vân Nam đến bộ chỉ huy tiền phương của Việt Minh ở Quảng Uyên, Cao Bằng và được Võ Nguyên Giáp và Trần Đăng Ninh đón tiếp và thuyết trình. Đây là thời điểm then chốt. Nó mở đầu cho một giai đoạn mới trong lịch sử Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhất, trong đó viện trợ của Trung Quốc đóng vai trò quyết định. Sau thời điểm này quân đội của Tướng Giáp không còn phải “chiến đấu trong vòng vây”, không còn chỉ đánh du kích nữa mà đã chuyển sang vận động chiến rồi sau đó là công kiên chiến để đánh bại địch quân, theo sách lược của Mao Trạch Đông và kinh nghiệm của Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc. Hồi ký của các nhà lãnh đạo Việt Minh trong đó có Tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư Lệnh Quân Đội, có Đặng Văn Việt, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 174, con Hùm Xám của Đường Số 4, đều nói tới nguồn viện trợ duy nhất và thiết yếu này nhưng lại tương đối ít. Những chiến thắng của Việt Minh từ các trận Đông Khê và Cao Bằng trong chiến dịch Việt Bắc tới trận Điện Biên Phủ theo các chỉ huy người Việt này là do sự hoạch định chiến lược và chiến đấu của chính người Việt. 

Các cố vấn Trung Quốc trong tập Ghi Chép Thực kể trên đã gần như nói ngược lại. Không những thế họ còn viết nhiều hơn nữa, không riêng về quân sự như cung cấp dư dả súng ống, đạn dược, quân trang, quân dụng, soạn thảo tài liệu huấn luyện, tái tổ chức lại quân đội với chủ trương đặt nặng vai trò của chính trị trong quân đội, thành lập và võ trang những đại đơn vị mới như các Đại Đoàn 316, 320, 325, 351 và một trung đoàn công binh bên cạnh các đại đoàn 304, 308, 312 và một số trung đoàn đã có từ trước, mà còn giúp Việt Minh giải quyết những khó khăn về kinh tế, tài chánh, đặc biệt là về tiền tệ, lương thực để Việt Minh từ thế gần như thụ động, bị bao vây trên nhiều mặt trận, sang chủ động làm chủ chiến trường. Các cố vấn Tàu còn cho biết họ đã soạn thảo các chiến lược và trực tiếp tham gia chiến trận cùng với quân đội của Tướng Giáp từ đó đã giúp cho Cộng Sản Việt Nam toàn thắng. 

II. Những dữ kiện có thể rút tỉa: Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu bị lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc từ bao giờ? 

Một cách tóm tắt, khi đọc tài liệu này ta có thể ghi nhận được những dữ kiện sau đây: 

1. Thứ nhất: Hai chuyến đi bí mật sang Nga của Hồ Chí Minh bị thất bại. Viện trợ của Cộng Sản Tàu cho Cộng Sản Việt Nam là do sự thỏa thuận từ trước của Staline, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. 

Những sự kiện này đã xảy ra tiếp theo hai chuyến đi bí mật của Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh vào đầu tháng Giêng năm 1950 và vào mùa đông năm 1951. Lần đi thứ nhất, khi Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh thì Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã đi riêng tới Moscow để ký Hiệp Ước Tương Trợ Đồng Minh Hữu Nghị Trung-Xô từ trước nên họ Hồ chỉ được Lưu Thiếu Kỳ đón tiếp rồi sau đó được Lưu Thiếu Kỳ thu xếp để sang Moscow. Câu hỏi được đặt ra là trước khi đi Mao và Lưu có biết là Hồ sẽ sang Bắc Kinh hay không? Câu hỏi này được đặt ra nhưng câu trả lời phần nhiều là có. Nếu vậy tại sao hai người lại không đợi Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh để rồi cùng đi? Câu trả lời phần nào có thể được thấy nếu người ta theo dõi những gì đã xảy ra sau đó. 

Thứ nhất là trong buổi tiệc do Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô tổ chức để khoản đãi Hồ Chí Minh khi họ Hồ mới tới Moscow tối ngày 6 tháng Hai năm 1950, Staline đã không đến dự và Staline chỉ tiếp ông này nhiều ngày sau đó và tiếp ở phòng làm việc của mình với sự có mặt của nhiều ngưới khác trong đó có cả Vương Gia Tường là đại sứ Trung Quốc ở Liên Xô. Thứ hai là trong buổi tiếp tân chiêu đãi trọng thể dành cho Mao Trạch Đông, Châu Ân Lai và toàn thể các đoàn viên phái đoàn Trung Quốc, Hồ Chí Minh cũng được mời, có thể là không chính thức vì chuyến đi của ông là bí mật. Lợi dụng cơ hội này và khi Staline rất vui, Hồ Chí Minh đã ngỏ ý xin được ký một hiệp ước tương tự như hiệp ước Trung-Xô Mao Trạch Đông đã ký với Staline trước đó. Staline đã từ chối. Trương Quảng Hoa đã kể lại cuộc đối thoại giữa hai người như sau: 

Staline rất vui, trong bữa tiệc luôn luôn trò chuyện với khách. Hồ Chí Minh nắm lấy thời cơ này cười hỏi Staline: “Đồng chí còn có chỉ thị gì nữa đối với công tác của Việt Nam chúng tôi không?” Staline cười: “Tôi làm sao có thể chỉ thị cho đồng chí, đồng chí là Chủ tịch nước, quan còn to hơn tôi mà!” 

Hồ Chí Minh lại nói: “Các đồng chí đã ký hiệp ước với Trung Quốc, nhân tôi ở đây, chúng tôi cũng muốn ký một hiệp ước!” Staline nói: “Thế người ta hỏi đồng chí từ đâu ra? Chúng tôi giải thích như thế nào?” 

Hồ chí Minh nói: “Điều đó rất dễ, đồng chí cho chiếc máy bay chở tôi lượn một vòng trên trời, sau đó cho người ra sân bay đón tôi, đưa một tin trên báo, không được sao?” 

Staline cười lớn nói: “Đó là quá sức tưởng tượng đặc biệt của người phương Đông các anh” (trang 21). 

Họ Trương ghi tiếp là “Rất nhiều người dự tiệc cũng đều cười vang lên”. Chi tiết này chứng tỏ cuộc đối thoại giữa Hồ Chí Minh và Staline là công khai trước mặt mọi người. Nhưng xét toàn bộ người ta thấy Staline tỏ ra rất lạnh nhạt, không tôn trọng Hồ Chí Minh, đã mỉa mai khi trả lời những câu hỏi nghiêm chỉnh và quan trọng của họ Hồ. Không những thế Staline còn đem những đề nghị của Hồ ra làm trò cười cho những người có mặt trong buổi chiêu đãi và thẳng thừng từ chối những lời yêu cầu của họ Hồ, trong đó có đề nghị ký một hiệp định là điều họ Hồ rất mong muốn. 

Tại sao vậy? Theo Trương Quảng Hoa, Staline lo lắng Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc, là Ti Tô thứ hai. Nhưng đọc kỹ chi tiết hơn, người ta thấy hai điều. Một là Staline có chủ trương muốn Hồ Chí Minh đẩy sớm hơn và mạnh hơn cách mạng xã hội và kinh tế thay vì chỉ lo đánh Pháp để sớm tiến tới chủ nghĩa vô sản và hai là Staline đã cùng Mao Trạch Đông, và ngay cả trước đó không lâu, Lưu Thiếu Kỳ trong một chuyến đi bí mật sang Nga, đã từng thảo luận và đồng ý với nhau về vai trò viện trợ cho Cộng Sản Việt Nam của Trung Quốc rồi. Đây là lý do chính và Hồ Chi Minh khi được các lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc thu xếp cho sang Nga chỉ là để nghe một chuyện đã được sắp xếp rồi. Riêng về cá nhân Hồ Chí Minh, xuyên qua cuộc đối thoại này, người ta thấy phần nào bản chất thực tế, kiên nhẫn, chịu đựng, quyền biến đến độ lì lợm, sẵn sàng dùng những biện pháp lừa dối như ông đã thường làm ở Việt Nam của ông. Cuối cùng thì chuyến đi Liên Xô của Hồ Chí Minh hoàn toàn thất bại, không giành được gì trực tiếp từ phía Liên Xô, không được Staline coi trọng như Mao Trạch Đông để từ đây Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam phải nghe và hoàn toàn trông cậy vào viện trợ của Trung Quốc. 

Vận mệnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam nói riêng và vận mệnh của dân tộc Việt Nam cũng như lãnh thổ Việt Nam nói chung, có thể đã bị quyết định ngay từ chuyến đi của Hồ Chí Minh này. Nói như vậy là vì khi làm cố vấn cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, các chuyên gia Trung Quốc bắt buộc phải nghiên cứu địa hình, địa diện, các cao điểm chiến thuật, chiến lược, trục lộ giao thông cùng các tiềm năng khác có thể khai thác... bằng chính tai mắt và khối óc của mình, chưa kể khi họ vạch và làm đường và khi khí giới, quân trang quân dụng được vượt qua biên giới, chở sang cho Việt Minh. Các cao điểm chiến lược, các cột mốc biên giới hẳn khó lọt qua con mắt của các chuyên gia quân sự Trung Quốc ngay từ thời điểm này để chuyển về cho Trung Ương Đảng của họ, không cần phải đợi tới bốn chục năm sau. 

Về chủ trương giữ bí mật cho những chuyến đi của Hồ Chí Minh và sau này là về Đoàn Cố Vấn Trung Cộng cũng là điều người ta cần chú ý. Phía nào thực sự chủ trương giữ bí mật và tại sao phải giữ bí mật? Câu hỏi cần phải đươc đặt ra, cũng như Hồ Chí Minh có hứa hẹn gì với Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo khác của Trung Quốc để đánh đổi lấy viện trợ của Trung Quốc không? Cũng vậy có thật viện trợ này là không hoàn trả và hoàn toàn vô vị lợi dựa trên nghĩa vụ quốc tế giữa các đảng cộng sản hay không hay ngược lại, có liên hệ gì tới sự nhượng bộ của Cộng Sản Việt Nam đối với Cộng Sản Trung Quốc sau này không? Về điều này người đọc nên để ý tới sự gợi ý của Staline là Trung Quốc giúp cho Việt Nam một con gà thì Việt Nam có thể trả lại cho Trung Quốc một trái trứng. Con gà là quân sự, là kinh tế, tài chính, là lương thực, là tiền tệ, còn trái trứng là cái gì? Cũng vậy, sự giữ bí mật này có liên hệ gì tới cách giải thích sự thỏa hiệp với Pháp của Hồ Chí Minh hồi năm 1946 trước đó, đại khái là: "thà ngửi c... thằng Tây ít năm còn hơn là làm nô lệ thằng Tàu thêm một ngàn năm nữa" hay những gì họ Hồ và Đảng Cộng Sản đã lên án phía Việt Quốc, Việt Cách mấy năm trước đó? Hay giữ bí mật theo yêu cầu của Nga và của Tàu hay tất cả? 

Người viết sẽ trở lại vấn đề này trong một bài khác. Cũng cần phải để ý tới sự kiện là thời điểm của cuộc viếng thăm là đầu năm 1950, lúc Liên Xô sau thế chiến thứ hai chưa đủ mạnh và Cộng Sản Trung Quốc chỉ mới lên cầm quyền ở Trung Hoa Lục Địa không được bao lâu. Cả hai lúc đó đều không muốn gây chuyện trực tiếp với Pháp và gián tiếp với Hoa Kỳ. 

2. Thứ hai: Viện trợ cho Việt Nam không phải chỉ vì nhu cầu của Việt Nam mà cả Trung Cộng vì Trung Cộng cũng có nhu cầu đánh đuổi quân Pháp nhằm bảo đảm biên giới phía Nam của mình chống lại tàn dư của Trung Hoa Quốc Dân Đảng. 

Điều này cũng được các tác giả dẫn thượng nói tới. Chiến dịch Đông Bắc và sau này đánh Tây Bắc và sang Lào thay vì đồng bằng sông Hồng mà các cố vấn Trung Quốc đã bắt ép các nhà chỉ huy quân sự Việt Minh phải chấp nhận cũng nhằm mục tiêu này.

Quân sự CSVN -TRUNG QUỐC 

3. Thứ ba: Có một sự khác biệt về chủ trương chiến lược và chiến thuật giữa các cố vấn Trung Quốc và các tướng tá Việt Minh và phía Việt Minh bị bó buộc phải nghe theo. 

Có nhiều khác biệt về chủ trương chiến lược và chiến thuật giữa các cố vấn Trung Quốc và các tướng tá Việt Minh và phía Việt Minh bị bó buộc phải nghe theo trong đó có mục tiêu tấn công như đánh để tiêu diệt địch hay đánh để chiếm các cứ điểm hay các thị trấn? địa điểm tấn công, đánh nơi nào trước, Cao Bằng hay Đông Khê, đồng bằng sông Hồng hay Lai Châu, Tây Bắc và Lào? đánh nhưng vẫn phải lưu tâm tới hoàn cảnh của các chiến sĩ anh em, đồng bào của mình hay đánh để thắng với bất cư giá nào? Cuối cùng các cố vấn Trung Cộng khi không thuyết phục các tướng tá Việt Minh được đã luôn luôn báo cáo về cho Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Mao Trạch Đông, để Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc liên lạc với Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, và Hồ Chí Minh và cuối cùng các cố vấn Trung Quốc đã luôn luôn thắng thế. Chủ trương của họ đã được Hồ Chí Minh và Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận, đồng thời may mắn cho họ, kết quả đã là chiến thắng. 

Đọc các bài viết của người Trung Quốc người ta có cảm tưởng là các chiến thắng của Việt Minh từ Đông Bắc đến Điện Biên Phủ hoàn toàn là do công lao của các cố vấn Trung Quốc, từ đầu đến cuối, từ hoạch định chiến lược, lựa chọn địa điểm để đánh đến trực tiếp tham gia theo dõi, chỉ huy trận đánh và trực tiếp can thiệp ngay khi cần. Các tướng tá Việt Nam đều bị coi là thiếu kinh nghịêm, nhút nhát, không dám chấp nhận gian khổ. Chẳng hạn như trong chiến dịch Việt Bắc, Trần Canh và Vi Quốc Thanh đã nghiên cứu tỉ mỉ phòng tuyến Quốc Lộ 4 của Pháp để đưa ra đề nghị đánh Đông Khê trước thay vì Cao Bằng. Đề nghị này đã được Hồ Chí Minh lúc đó lên thị sát mặt trận, trực tiếp phê chuẩn thay vì qua Tổng Tư Lệnh Võ Nguyên Giáp. Họ Hồ còn chỉ thị thêm rằng: “Chiến dịch này chỉ được thắng, không được thua!” đúng như chủ trương của Trần Canh. Lý do là vì Hồ đã quen biết Trần Canh từ lâu trước đó, từ năm 1925-1926, đã yêu cầu Mao Trạch Đông cử Trần Canh sang giúp và tin cậy ở Trần Canh, đồng thời biết rõ nhu cầu Trung Viện. 

Chỉ được thắng, không được thua hay thắng bằng bất cứ giá nào, bất kể sự hy sinh của binh sĩ là chủ trương của Trần Canh, khác với chủ trương của Võ Nguyên Giáp và của Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 174 Đặng Văn Việt. Trong trận Đông Khê khi vị Trung Đoàn Trưởng này, vì bộ đội của mình bị thương vong quá nhiều, định rút lui, Vi Quốc Thanh đã điện thoại cho cố vấn Trương Chí Thiện của trung đoàn này, thúc đẩy vị chỉ huy của trung đoàn này, điều chỉnh bố trí và đánh tiếp. Giữa Trần Canh và Võ Nguyễn Giáp tối ngày 4 tháng 10 năm 1950 cũng đã tranh cãi nặng nề qua điện thoại, khi quân Việt Minh tấn công chiếm núi Cốc Xá sau ba ngày liên tiếp và bị thiệt hại nặng, Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Việt Minh ra lệnh cho bộ đội tạm ngưng tấn công để nghỉ ngơi chỉnh đốn. Tranh cãi nặng nề qua điện thoại đến độ Trần Canh có lúc đã nói to: “Nếu trận này không đánh nữa thì tôi xin cuốn gói chuồn” và nói tiếp: “Vào giờ phút then chốt này, bộ chỉ huy mà dao động thì chôn vùi thời cơ rất tốt để chiến dịch thắng lợi”, đồng thời dập mạnh điện thoại xuống. Nhưng rồi sau đó Trần Canh đã liên lạc thẳng với Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Kết quả là Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho bộ đội tiếp tục, còn Mao Trạch Đông thì khuyến cáo phải nhanh chóng tiêu diệt địch cho dù thương vong quá lớn cũng không nên quá lo, không nên dao động (trang 41). 

Vệ Quốc Đoàn và Quân Đội CSVN 

4. Thứ Tư: Trong việc giúp Việt Minh huấn luyện và tổ chức lại quân đội, các cố vấn Trung Cộng còn giúp và rất có thể đã áp lực các nhà lãnh đạo của đảng này thực hiện một cuộc chỉnh huấn với chữ dùng trong tài liệu là chỉnh quân chính trị. Danh xưng Vệ Quốc Đoàn bị bãi bỏ và bị thay thế bằng danh xưng Quân Đội Nhân Dân theo Tàu. 

Công tác này đã được các cố vấn Trung Cộng lưu ý từ ngay những ngày đầu, nhưng mãi đến mùa hè và mùa thu năm 1953 mới trở thành qui mô toàn diện. Nó nằm trong chủ trương cách mạng căn bản của Mao Trạch Đông và luôn cả của Staline qua khuyến cáo của Staline khi Staline tiếp Hồ Ghí Minh hồi đầu năm 1950, với những dấu hiệu đầu tiên đã lộ rõ qua những nhận xét của các cố vấn Trung Quốc về các cấp chỉ huy của bộ đội Việt Minh khi họ thấy những vị chỉ huy này có trình độ học vấn cao, ghi chú nhanh, học giỏi, nhưng nặng đầu óc tư sản, nhút nhát, sợ gian khổ, sợ khó khăn, không có tầm nhìn chiến lược... trong khi các binh sĩ cấp dưới ít học và không được thăng thưởng. Những ngôn từ như tố khổ, giác ngộ giai cấp... đã được Vu Hóa Thầm nhắc tới trong bài viết của tác giả này (trang 63). Chiến dịch chỉnh huấn quân sự, chính trị qui mô này đã được phối hợp với phong trào cải cách ruộng đất, lúc này đang được tiến hành ở các cứ địa của Việt Minh ở Việt Bắc. Những sĩ quan xuất thân là các sinh viên, học sinh, những thành phần trí thức, quan lại, tư sản đã tham gia Vệ Quốc Đoàn từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo, thuần túy chỉ vì yêu nước, không còn được phục vụ như xưa nữa. Ngay danh xưng Vệ Quốc Đoàn, một danh xưng mang nậng tinh thần quốc gia, cũng bị phế bỏ. Một giai đoạn trong cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Minh, nói riêng, của Cuộc Chiến 30 năm đã đi qua, kèm theo với tất cả những gì đẹp đẽ nhất và lãng mạn, nhuốm nặng tình yêu nước nhất của nó. Trung Đoàn Trưởng Đặng Văn Việt, Con Hùm Xám Của Đường Số 4, thay vì trở thành tướng như nhiều thuộc cấp của ông sau này, vì đã đánh bại không phải một mà hai đại tá của quân Pháp theo tiêu chuẩn của Hồ Chí Minh khi ông này phong cấp đại tướng cho Võ Nguyên Giáp, đã bị gửi qua Trung Quốc làm tân khóa sinh của một trường sĩ quan. Cũng may là họ Đặng hãy còn tốt phước do cha mẹ ông bà để lại, được để cho sống sót. 

Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật phải chăng vì danh xưng Vệ Quốc Đoàn không còn dược dùng nữa, thay thế bằng danh xưng Quân Đội Nhân Dân giống như Quân Đội Nhân Dân Trung Hoa, được quan niệm và tổ chức theo khuôn mẫu của Quân Đội Nhân Dân Trung Hoa, những bài hát tràn ngập lòng yêu nước thời đó đại loại như của Nhạc Sĩ Phan Huỳnh Điểu: 

Đoàn Vệ Quốc Quân một lần ra đi 
Là có mong chi đâu ngày trở về. 
Ra đi, ta đi bảo tồn sông núi. 
Ra đi, ra đi thề chết chớ lui. 
Cờ bay phất phới, ngời màu Lạc Hồng. 
Kèn reo vang tiếng, gọi dòng Lạc Hồng 
Cùng Vệ Quốc Quân. 
Ra đi ra đi theo hồn sông núi, 
Thù bao năm xưa có bao giờ nguôi. 

Hay những bài thơ đẹp và đầy không khí vui tươi của một tác giả nào đó mà người viết bài này có dịp học thuộc lòng hồi còn nhỏ theo mẹ đi tản cư về Thái Bình hay vào Thanh Hóa đến bây giờ vẫn còn nhớ, như: 

Đoàn Vệ Quốc áo đen 
vượt qua sườn Tam Đảo 
Sau những ngày dông bão. 
Việt Bắc giặc lui rồi 
Lũ tàn quân xơ xác 
Chiến sĩ ta reo cười 
Chim rừng vang tiếng hát. 
Các anh như bầy chim, 
Nẻo rừng sâu bay tới. 
Huyện Tam Dương im lìm 
Bỗng dưng vào đại hội. 

Và của Hoàng Cầm: 

Đêm liên hoan đầu người nhấp nhô như sóng biển ngang tàng. 
Ta muốn thét cho vỡ toang lồng ngực 
vì say sưa tình thân thiết Vệ Quốc Đoàn. 

Sau những năm hào hùng này không còn được ai sáng tác nữa hay có sáng tác cũng chẳng bao giờ được phổ biến vì khi các lãnh đạo chủ trương “phá tan biên cương” với ảo vọng “loài người sống thân yêu”, tất cả đều bị cấm. Còn lại chỉ là một hoài vọng để cho những người lính già lâu lâu ngồi nhớ lại, kể cho nhau nghe hay viết cho nhau đọc. Chỉ tiếc rằng cái đẹp vừa hào hùng vừa lãng mạn của thời trai trẻ, mà chính họ cũng như thời thế đã tạo được cho họ, đã không toàn vẹn như cái đẹp của người lính già thuở Bình Mông ngày trước: 

Bạch đầu quân sĩ tại 
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong 
(Lính già phơ tóc bạc, 
Kể chuyện thủa Nguyên Phong) 

Trần Nhân Tông (Xuân Nhật Yết Chiêu Lăng) - Ngô Tất Tố dịch. 

Trên đây chỉ là một vài dữ kiện quan trọng mà người đọc tài liệu này (Ghi Chép Thực Về Việc Đoàn Cố Vấn Quân Sự Trung Quốc Viện Trợ Việt Nam Chống Pháp)đọc được và chia sẻ với độc giả. Hy vọng tác phẩm này được phổ biến rộng rãi hơn và được nhiều người đọc hơn, nhất là những người được các tác giả, rõ hơn các cố vấn Tàu do Mao Trạch Đông và Đảng Cộng Sản Tàu phái sang giúp Đảng Cộng Sản Việt Nam thực hiện cuộc cách mạng vô sản theo khuôn mẫu của họ, thời đầu thập niên năm mươi của thế kỷ trước, bằng cách này hay bằng cách khác nói tới, hầu có thể đóng góp thêm sự thực về một giai đoạn cực kỳ khó khăn, cực kỳ phức tạp và tế nhị nhưng không phải là không có những nét đẹp riêng của lịch sử Việt Nam trước khi mọi sự trở thành đen tối, đến độ nhiều người coi như là tuyệt vọng, như người ta thấy sau này. 

Để kết luận, ta có thể nói rằng đối chiếu những gì các cố vấn Tàu kể lại với những gì Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam thực hiện không lâu sau chuyến đi bí mật của Hồ Chí Minh sang Nga đầu thập niên 1950.

Trong số này, đặc biệt có Phong Trào Tố Khổ và Cuộc Cải Cách Ruộng Đất, cuộc “Chỉnh Quân Chính Trị” loại trừ các thành phần tiểu tư sản, sự kiện bãi danh xưng Vệ Quốc Đoàn bị bãi bỏ, thay thế bằng danh xưng Quân Đội Nhân Dân theo mẫu của Cộng Sản Tầu, kèm theo với các chức chính ủy được đặt ra trong quân đội vân vân...

Trong lúc cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp còn đang tiếp diễn và đòi hỏi một sự đoàn kết toàn dân về đủ mọi mặt thì những việc làm theo lệnh Trung Quốc của CSVN cho người ta thấy rõ hơn vai trò quốc tế và sự lệ thuộc Trung Quốc và Nga Xô của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu ngay từ thời này. 

Đối với những người CSVN thì độc lập dân tộc chỉ là cái cớ bề ngoài, không bao giờ được coi là quan trọng bằng nghĩa vụ quốc tế cách mạng. Họ sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh của các cố vấn nước ngoài hơn là tiếng gọi dù là thiêng liêng của Tổ Quốc. 

*

Tác giả: Tiến sỹ Lịch sử Phạm Cao Dương, nguyên Giáo sư các Trường Đại học thời VNCH trước 1975. Ông cũng là Giáo sư Sử học và Văn hóa Việt Nam tại một số trường Đại học Hoa Kỳ ở California trước khi nghỉ hưu.