Thursday, May 3, 2018

Tại sao lãnh đạo Bộ Quốc phòng vẫn tại vị?

Theo VOA-Trân Văn /01/05/2018 
Đại tá Phùng Danh Thắm (trái), Tổng giám đốc Tổng công ty Thái Sơn, bị khởi tố về cáo buộc “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” trong khi Đại tá Bùi Văn Tiệp, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không - Không quân, bị cáo buộc “lợi
Đại tá Phùng Danh Thắm (trái), Tổng giám đốc Tổng công ty Thái Sơn, bị khởi tố về cáo buộc “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” trong khi Đại tá Bùi Văn Tiệp, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không - Không quân, bị cáo buộc “lợi
Hai chữ “nghiêm minh” tiếp tục khiến người ta cảm thấy buồn cười khi lãnh đạo Bộ Quốc phòng đang “chỉ đạo xử lý” những hậu quả do Tổng Công ty Thái Sơn (doanh nghiệp do Bộ Quốc phòng thành lập, chỉ đạo, giám sát hoạt động) đã gây ra cho kinh tế, xã hội, uy tín quân đội…
Nếu giới lãnh đạo Bộ Quốc phòng không đặt ra, bám vào chủ trương “quân đội làm kinh tế”, sẽ không có chuyện Thượng tá Đinh Ngọc Hệ - Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thái Sơn, tự “Út trọc”, tự “Út Bộ trưởng”, tung hoành ngang dọc, khuấy đảo “giang hồ”, không có sự kiện Đại tá Phùng Danh Thắm - Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thái Sơn, Đại tá Bùi Văn Tiệp – cựu Tư lệnh Sư đoàn 367 của Quân chủng Phòng không – Không quân, trở thành bị can, không có vụ án “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” làm dư luận rúng động (1)!
Về lý thuyết, vạch ra đường hướng để thực hiện tội phạm là chủ mưu, tạo ra những tiền đề nhằm hỗ trợ hành vi phạm tội ít nhất cũng bị xem là đồng phạm. Có bao giờ, ở đâu, chủ mưu hay đồng phạm có thể đứng ra “chỉ đạo xử lý tội phạm” mà còn được khen là “đi đầu”, “nghiêm minh”?
***
Tháng 6 năm ngoái, sau scandal Đồng Tâm (nông dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội rào làng, giữ con tin,… phản đối việc dán nhãn “đất quốc phòng”, tịch thu đất để giao cho Viettel – Tập đoàn Viễn thông Quân đội, một doanh nghiệp của Bộ Quốc phòng) và scandal sân golf Tân Sơn Nhất (nhân danh “sự nghiệp quốc phòng, Bộ Quốc phòng khăng khăng thủ giữ 157 héc ta thuộc phạm vi phi trường Tân Sơn Nhất để tiếp tục cho thuê làm sân golf, bất kể phi trường này nghẽn cả trên trời, lẫn tắc ở dưới đất vì không thể mở rộng), một Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dõng dạc cam kết: Quân đội sẽ thôi, không làm kinh tế nữa (2).
Chuyên gia nhiều giới đã từng trưng nhiều bằng chứng cả trong lẫn ngoài Việt Nam, khuyến cáo nên loại bỏ chủ trương “quân đội làm kinh tế” vì đó là cội nguồn của nhiều vấn nạn: Dễ bị các cá nhân lạm dụng để trục lợi. Làm vẩn đục môi trường kinh doanh, nguy hại cho nỗ lực phát triển kinh tế, xã hội. Đặc biệt là suy giảm khả năng quốc phòng do nhân tâm xáo trộn, quân đội cần được dân chúng tin – yêu – hỗ trợ thì lại tạo ra bất bình, nội bộ phân hóa vì một bên gánh chịu gian nan, khổ cực trong khi bên còn lại thì giàu có “nứt đố, đổ vách”, ăn chơi phè phỡn, chưa kể “quân đội làm kinh tế” sẽ khiến lãnh đạo quân đội chao đảo, bị khuynh đảo vì lợi…
Đó là lý do cam kết của tướng Lê Chiêm, có sự hiện diện của Thủ tướng Việt Nam như một nhân chứng được nhiều giới tán thưởng, khen là sáng suốt (3). Tuy nhiên niềm vui “ngắn chẳng tày gang”. Chỉ nửa tháng sau, một Thượng tướng khác, cũng đảm nhiệm vai trò Thứ trưởng Quốc phòng như tướng Lê Chiêm là tướng Nguyễn Chí Vịnh “đăng đàn”, phủ nhận cam kết của đồng liêu. Theo đó, tướng Lê Chiêm không thay mặt quân đội (?) mà chỉ nêu quan điểm cá nhân. Quan điểm cá nhân của tướng Lê Chiêm “cũng đúng nhưng không đầy đủ”. Tướng Vịnh thay mặt quân đội “nói lại cho rõ” là: “Quân đội sẽ tiếp tục làm “kinh tế quốc phòng”, thậm chí “sẽ còn ‘làm’ mạnh hơn nữa (4)”!
Không chỉ khẳng định quân đội sẽ tiếp tục “tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế” vì đó là “chức năng, nhiệm vụ hết sức quan trọng của quân đội”, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Quốc phòng còn gọi tất cả những người góp ý rằng quân đội nên thôi, đừng làm kinh tế là “chúng”, là một kiểu chống phá của các thế lực thù địch. Tướng Lịch nhấn mạnh: “Nguyên tắc của chúng ta là Đảng lãnh đạo tuyệt đối về mọi mặt đối với quân đội, không giao cho tổ chức, cá nhân nào lãnh đạo, điều hành quân đội” cho nên “trách nhiệm chính trị của Đảng bộ quân đội là phải làm tốt và làm tốt hơn nữa trong sản xuất, kinh doanh” để “chứng minh rằng chủ trương xây dựng các doanh nghiệp quân đội của Đảng ta là đúng đắn” (5).
Chủ trương “quân đội làm kinh tế” đã tạo ra một sĩ quan cấp bậc đại tá liên tục là “doanh nhân tiêu biểu” của “Việt Nam”, “doanh nhân tiêu biểu” của “khối doanh nghiệp Trung ương”, “doanh nhân tiêu biểu” của “khối doanh nghiệp quân đội”, “doanh nhân tiêu biểu” của “khối doanh nghiệp Sài Gòn”,... những danh hiệu ấy còn giúp Đại tá Phùng Danh Thắm liên tục được Thủ tướng tặng bằng khen “vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong nhiều năm” (6). Cuối tuần rồi, Đại tá Thắm bị khởi tố. Chẳng có “thế lực thù địch” nào rờ tới Đại tá Thắm. Chính... “ta” tống giam ông Đại tá – “doanh nhân tiêu biểu” đã từng được xem như một cá nhân xuất sắc, lãnh đạo một doanh nghiệp đang ra sức “chứng minh rằng chủ trương xây dựng các doanh nghiệp quân đội của Đảng ta là đúng đắn” ấy!
***
Giới lãnh đạo Đảng CSVN, rồi giới lãnh đạo Quốc hội Việt Nam, giới lãnh đạo chính phủ Việt Nam từng nói rất nhiều về sự câu kết giữa nhiều cá nhân với nhau để trục lợi, bất kể đạo lý, bất chấp luật pháp và gọi những cá nhân ấy là “nhóm lợi ích”.
Dẫu giờ đã rõ, Tổng Công ty Thái Sơn – một trong những doanh nghiệp tiêu biểu của Bộ Quốc phòng – là ổ tội phạm, dẫu có nhiều thắc mắc chưa được giải đáp, chẳng hạn tại sao quân đội có “Quân ủy trung ương”, có lực lượng tình báo, lực lượng an ninh rải khắp nơi nhưng giờ mới biết, giờ mới ngăn chặn, xử lý, giờ mới “phát hiện” Đinh Ngọc Hệ tự “Út Trọc”, tự “Út Bộ trưởng” danh vang bốn bể, sử dụng bằng cấp giả (?), dẫu chẳng có chứng cứ nào cho thấy các viên chức lãnh đạo Bộ Quốc phòng dính “chàm” nhưng chẳng lẽ cam kết của giới lãnh đạo Đảng CSVN, giới lãnh đạo Quốc hội Việt Nam, giới lãnh đạo chính phủ Việt Nam về việc truy cứu trách nhiệm những người đứng đầu là cam kết suông?
Chẳng lẽ Bộ trưởng Ngô Xuân Lịch, Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh và những ông tướng nhất mực cổ súy cho việc duy trì hiện trạng “quân đội làm kinh tế” vẫn hoàn toàn vô can, vẫn không hề có bất kỳ liên đới nào về mặt trách nhiệm? Chủ trương “quân đội làm kinh tế” đâu chỉ tạo ra scandal Đồng Tâm, scandal sân golf Tân Sơn Nhất. Chủ trương rất nhất quán đó đã giúp Công ty Long Biên (chủ đầu tư sân golf Tân Sơn Nhất) thâu tóm phi trường quân sự Gia Lâm (Hà Nội), biến cả phi trường này thành sân golf Long Biên, dẫu cũng có hàng loạt sai phạm được xác định là nghiêm trọng (sai qui hoạch chi tiết, tự ý thay đổi thiết kế đã được phê duyệt – xây dựng thêm nhiều khối nhà không có trong giấy phép, làm thêm tầng cho một số khối nhà khác, thu hẹp hệ thống giao thông nội bộ và hệ thống xử lý nước thải,…) (7), song cũng giống như sân golf Tân Sơn Nhất, Công ty Long Biên vẫn “bình an, vô sự”.
Nhìn lại riêng năm ngoái, nếu không có chủ trương “quân đội làm kinh tế”, chắc chắn không có thêm hàng loạt scandal khác: Lữ đoàn 170 thuộc Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân băm ba trái núi ven vịnh Hạ Long - vốn bất khả xâm phạm vì thuộc khu vực đã được UNESCO xác định là “di sản thiên nhiên của thế giới” - để lấy vôi (8)! Sư đoàn 370 Không quân lấy một phần đất vốn cũng thuộc phi trường Tân Sơn Nhất giao cho một số doanh nghiệp xây dựng các khu giải trí, dịch vụ mà không hề xin phép, không cho chính quyền địa phương vào kiểm tra với lý do đó là “khu vực quân sự” (9)! Bộ Tư lệnh Hải quân các vùng 3, 4, 5 đứng ra làm lá chắn cho một số doanh nghiệp móc cát ở những đoạn bờ biển xung yếu (Đà Nẵng, Cam Ranh, Phú Quốc,…) để bán cho Singapore, bất chấp sạt lở đã nhãn tiền, nhờ khoác vỏ “quốc phòng” được tạo điều kiện mua đi, bán lại quyền “nạo vét” theo kiểu bán mười - khai một trốn đủ loại thuế nhưng đến nay, vẫn không có doanh nghiệp nào “mắc nạn” (10).
***
Cuối tuần rồi, truyền thông Mỹ loan báo, Học viện đào tạo Hạ sĩ quan cao cấp của Lục quân Mỹ (U.S. Army Sergeants Major Academy) vừa khởi động một cuộc điều tra để xác định bản chất 700 áo thun của công ty Grunt Style.
U.S. Army Sergeants Major Academy là nơi Lục quân Mỹ đào tạo các Thượng sĩ nhất trong vòng 10 tháng, trước khi lựa chọn - bổ nhiệm họ làm Thượng sĩ nhất Thường vụ của các đơn vị từ cấp tiểu đoàn trở lên. Những Thượng sĩ nhất này thường rời khỏi trường với một vài vật kỷ niệm về khóa mà họ đã theo học.
Mới đây, mỗi thành viên của khóa 68 được tặng một áo thun. U.S. Army W.T.F.! Moments – blog chuyên bới tìm, thu thập những thông tin, sự kiện thuộc loại coi không được trong Lục quân Mỹ - bảo rằng, những chiếc áo thu đó là quà tặng của Grunt Style. Họ nhấn mạnh, Grunt Style là một doanh nghiệp chuyên sản xuất quần áo phỏng theo kiểu quân đội, do vậy nhận tài trợ của Grunt Style là “phi đạo đức” và vi phạm luật pháp.
Đại diện Grunt Style phản bác đã tài trợ áo thun cho U.S. Army Sergeants Major Academy nói chung và khóa 68 nói riêng. Họ khẳng định, đã nhận được một đơn đặt hàng 674 áo thun và đã được thanh toán tiền. Bởi quân đội Mỹ nghiêm cấm vận động và nhận quà từ bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào nếu cá nhân hay nơi tài trợ đang hoặc sẽ có thể đạt được những lợi ích nào đó từ vị trí của người nhận quà hay loại công việc mà người nhận quà đảm nhận nên Phát ngôn viên của U.S. Army Sergeants Major Academy vừa loan báo, học viện này đã mở cuộc điều tra để xác định thực hư (11).
Chẳng thể và cũng không nên xem Mỹ là mẫu mực. Câu chuyện vừa kể chỉ là một ví dụ về quan niệm cũng như một số cách thức mà thiên hạ đặt ra để bảo đảm quân đội của họ “tận trung” với quốc gia, “tận nghĩa” với dân tộc, không bị biến thành con rối, múa may dưới tác động của lợi ích. “Quân đội làm kinh tế”, doanh nhân được vời vào phong hàm sĩ quan, sĩ quan trở thành “doanh nhân tiêu biểu” từ khi quân đội thôi “trung với nước” để “trung với Đảng”. Kết quả như đã thấy. Nếu thật sự tâm niệm và không ngừng nỗ lực xây dựng quân đội chính qui, hiện đại, tại sao giới lãnh đạo quân đội vẫn mê tạo bóng cho một số cá nhân núp, lúc thấy không ổn cho mình thì đuổi ra và mạnh miệng bảo rằng, đó là “nghiêm minh”?
Chú thích

43 năm đánh gục ý chí và tiêu diệt ý thức Dân tộc!

Image may contain: one or more people

BBT – Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 290 (01–05-2018)

Nhà cầm quyền Cộng sản VN đang rầm rộ kỷ niệm cái gọi là “43 năm thống nhất Đất nước, giải phóng miền Nam, xây dựng cuộc sống độc lập, tự do, hạnh phúc, kiến tạo xã hội công bằng, văn minh, dân chủ”!?!

Nhưng quốc dân, quốc tế và lịch sử đều thấy đó là cuộc thống nhất đất nước bằng xương máu và súng đạn, cuộc xâm chiếm một quốc gia độc lập và có chủ quyền; đó là việc làm cho Tổ quốc ngày càng lệ thuộc Trung Cộng, đời sống nhân dân mất hết mọi tự do cơ bản, ngày càng khổ sở điêu đứng; đó là việc tạo ra một xã hội đầy dẫy bất công bóc lột, ngập tràn bạo lực dối trá, hoành hành độc tài đảng trị. Hiện tình Việt Nam ngày càng hà khắc về chính trị, thụt lùi về kinh tế, chồng chất về thuế má, hỗn loạn về xã hội, ô nhiễm về môi trường, sa sút về văn hóa, suy đồi về đạo đức, thu hẹp về đất đai và nhất là bấp bênh về an ninh quốc phòng…” Bản Lên Tiếng của hơn 40 tổ chức và nhiều cá nhân người Việt hôm 30-04-2018 đã nói như thế.

Tất cả những tệ nạn và thảm trạng vừa nêu có thể nói là hậu quả của việc đánh gục ý chí chung của Dân tộc và hủy diệt ý thức của mọi thành phần trong xã hội, một âm mưu mà Đảng đã cố công thực hiện 43 năm qua và trước đó nữa tại miền Bắc, để an toàn thống trị nhân dân và tùy ý sử dụng đất nước, kể cả việc bán Tổ quốc cho ngoại bang, ngõ hầu giữ được quyền lực và quyền lợi. Đúng như một nhà văn Nga từng nói: «CS thực chất là một sự ác tinh thần» (Spiritual evil).
1- Tiêu diệt ý thức đại diện quốc dân nơi thành viên Quốc hội. Được ngồi vào cơ quan quyền lực cao nhất nước với danh nghĩa này do Đảng tuyển chọn, các thành viên ấy qua 14 khóa đã chỉ làm một công việc là «nhất trí cao, phấn khởi lớn, giơ tay đồng thuận» trước ý muốn của Đảng, của Bộ chính trị (Hiến pháp đứng sau Cương lĩnh Đảng, như Nguyễn Phú Trọng từng nói mà!). Những cuộc gặp gỡ, hỏi ý cử tri địa phương chỉ là trò mỵ dân; những cuộc chất vấn thành viên chính phủ thuần là màn trình diễn! Từ công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, hiệp ước Thành Đô năm 1991, hiệp định lãnh thổ năm 1999, hiệp định lãnh hải năm 2000 ký với Tàu, đến thỏa ước cho Tàu khai thác bauxite ở Tây Nguyên năm 2008, xây dựng Formosa Vũng Áng rồi đầu độc biển năm 2016, chưa kể vô vàn vụ việc vi phạm nhân quyền khác, Quốc hội chẳng hề đứng về phía quốc dân để tìm hiểu, chất vấn, phản biện và hành động, một để cho Bộ Chính trị mặc sức tung hoành.

2- Tiêu diệt ý thức phục vụ công chúng nơi viên chức chính quyền. Là những kẻ đã được đảng bộ trung ương hay địa phương đặt để, chẳng được nhân dân bầu chọn (bao cuộc bầu cử hội đồng nhân dân các cấp chỉ là trò hề), những viên chức chính quyền ấy hầu hết ứng xử như những ông trời con, hung thần thổ địa, hống hách khinh người, chỉ lo tích lũy của cải hơn là phục vụ quần chúng. Kiểu cách «hành là chính» để móc túi người dân làm giấy tờ; những màn «cướp cơm chim» của kẻ nghèo khổ và nạn nhân bão lụt; các cuộc cướp đất của nông dân và thị dân dưới chiêu bài phát triển kinh tế quy hoạch sản xuất; việc cấu kết với các nhóm lợi ích (công ty, tập đoàn) để xẻ thịt tài nguyên quốc gia, đem tài sản công phục vụ tầng lớp tư bản; chuyện cho Tàu Cộng thuê rừng quốc phòng, rừng phòng hộ, yếu địa quốc gia, mua hàng loạt khu vực rộng lớn, thiết lập những nhà máy gây ô nhiễm, trúng thầu xây dựng những công trình kém chất lượng với chút «tiền lại quả»… đều là những chuyện sờ sờ xảy ra trên cả nước.
3- Tiêu diệt ý thức tôn trọng và bảo vệ nhân dân nơi công an cảnh sát. Bị nhồi nhét tư tưởng «còn Đảng còn mình, làm lá chắn bảo vệ Đảng, được Đảng gầy dựng, lãnh đạo và trả lương», giới này đã hoàn toàn trở thành công cụ đàn áp nhân dân: từ những đám dân oan bị cướp đất đứng lên đòi tài sản, những nhóm công dân cất tiếng đòi dân chủ, đến những nhóm tín đồ tập hợp đòi tự do hành đạo, những tốp thợ thuyền đình công đòi lương bổng xứng đáng. Lực lượng «bảo vệ luật pháp» này cũng đang là kẻ hỗ trợ cho công tố viên trong các phiên tòa chính trị, nỗi kinh hoàng cho những ai bị bắt về đồn công an với bất cứ lý do «vi phạm» lớn nhỏ, là người thuê mướn và khen thưởng bọn côn đồ theo dõi, ngăn chận và đánh đập các chiến sĩ dân chủ. Rồi lợi dụng quyền lực được đảng dung túng cho, tướng tá công an hết buôn ma túy đến bảo kê cờ bạc, mua rẻ công sản đến mua chuộc quan chức, lập công ty để bí mật kinh doanh cho ngành mình hay cho sếp mình.

4- Tiêu diệt ý thức bảo vệ Tổ quốc nơi hàng ngũ quân đội: Ghi tâm lời thề «trung với Đảng» (thay vì trung với nước), «phấn đấu thực hiện một nước VN xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng…» (trích 10 lời thề của QĐND), coi việc «chính trị hóa/đảng hóa quân đội» là chuyện bình thường, rồi được cho tự do làm kinh tế, quân đội nhân dân nay thực sự trở thành công cụ của Đảng, chỉ lo làm giàu (nhất là hàng lãnh đạo, vốn nắm vô số tổ chức kinh tài lớn nhỏ như Ngân hàng Quân đội, công ty Viettel), khi cần thì tước đoạt công sản lẫn tư sản (như phi trường Tân Sơn Nhất, đất ruộng thôn Hoành…), quên lãng bổn phận bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trên lãnh hải, bỏ mặc ngư dân cho sự sách nhiễu, cướp bóc, tàn sát của Tàu Cộng. Hải quân, cảnh sát biển, lực lượng tuần duyên trang bị đủ thứ khí tài hiện đại nhưng chỉ bám bờ và xua dân bám biển. Các chiến hữu của mình đã tử trận trong chiến tranh biên giới, ở ngoài đảo Trường Sa, nhưng bị cấm tưởng niệm, thế mà lực lượng quân đội cũng chẳng dám lên tiếng phản đối.
5- Tiêu diệt ý thức bảo vệ luật pháp và công lý nơi viên chức tòa án. Dưới sự cầm trịch của CS, ngành tư pháp nói chung và giới viên chức tòa án nói riêng bị biến thành công cụ của đảng, theo cơ chế tam quyền phân công. Đặc biệt trong các vụ án chính trị, công an thẩm vấn, kiểm sát công tố và quan tòa xét xử hầu như luôn toa rập ăn ý với nhau, từ kết luận điều tra đến cáo trạng tội phạm và hình phạt tuyên xử. Tại những phiên tòa loại này, công tố chẳng cần xem xét bằng chứng, đối chất với luật sư biện hộ, thẩm phán thì ngắt lời bị cáo, xét xử chóng vánh cách kỳ lạ, có những «bản án bỏ túi» do trên ấn định sẵn mà thời gian gần đây hết sức bất công và nặng nề. Việc chạy án, việc hối lộ ba thành phần nói trên đều được coi như chuyện bình thường, nhất là trong các vụ án và phiên tòa hình sự. Ngoài những luật gia hay luật sư có tinh thần dân chủ (nay xuất hiện ngày càng nhiều và cũng bị đàn áp không ít), vô số luật sư vẫn sẵn sàng loại trừ các đồng nghiệp «có vấn đề» với đảng, sẵn sàng bênh vực hay ngậm miệng trước nhiều bộ luật chỉ có lợi cho đảng.
6- Tiêu diệt ý thức thương xót bệnh nhân nơi các y bác sĩ: Nền y tế VN từ lâu vẫn nổi tiếng thế giới với những bệnh viện quá tải, y sĩ thiếu khả năng, y phí tăng cao mãi, trang bị lỗi thời, vệ sinh tồi tệ; với cảnh bỏ mặc những ca cấp cứu chưa nộp tiền, đòi buộc bệnh nhân lót tay mới săn sóc chu đáo, cung cấp thuốc quá hạn hay thuốc dổm giả (vụ Công ty VN Pharma nhập 200 ngàn hộp thuốc trị ung thư); với cảnh ăn hoa hồng quá độ khiến giá dược phẩm bị đẩy lên tận trời, ưu tiên săn sóc cho đảng viên cán bộ, coi rẻ những ai dùng thẻ bảo hiểm y tế, đòi hối lộ kể cả khi chuyển viện hay đem xác về nhà, và dân nghèo vào bệnh viện chỉ có nước tử vong… Chữ «nhà thương» nay hoàn toàn vô nghĩa, vì ở đó chỉ có sự khai thác khổ đau của con người.
7- Tiêu diệt ý thức làm chứng cho sự thật và lẽ phải nơi giới tu hành: CS từng phỉ báng tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ nhân dân, nhưng nay lại muốn tôn giáo trở thành thuốc phiện thực sự. Và nó đang làm được điều đó với những chức sắc chỉ còn biết ý nghĩa cuộc sống và hoạt động tu hành của mình là xây dựng điện thờ nguy nga, tổ chức lễ hội rầm rộ, xuất ngoại kiếm bạc xin tiền, mà hoàn toàn dửng dưng trước cảnh sự thật bị xuyên tạc, công lý bị xem thường, đồng bào, thậm chí đồng đạo bị đàn áp, xã hội bị băng hoại, tổ quốc bị lâm nguy… Những vị này còn lý luận mình không muốn «làm chính trị» – do dị ứng với từ này – chỉ lên tiếng về các nguyên tắc luân lý chung chung (an toàn hơn) chứ không can thiệp vào những trường hợp cụ thể (dễ gặp nguy hiểm). Họ sẵn sàng đặt tượng tên tội đồ dân tộc, từng bách hại tôn giáo bên cạnh Đức Phật trên điện thờ, hay lấy tên của y làm danh hiệu cho giáo phận… Thậm chí có vị thỏa hiệp hay làm tay sai cho chế độ.
8- Tiêu diệt ý thức lương sư hưng quốc nơi các cô thầy: Nền giáo dục CS mang tính chính trị, không nhắm đào tạo những công dân tự do cho nước nhưng là nhào nặn những thần dân nô lệ cho đảng. Chính vì thế, Đảng đã quyết tâm quản lý chặt chẽ giới giáo chức, huấn luyện ra những thầy cô «hồng hơn chuyên», buộc hiệu trưởng mọi loại trường (trừ một số trường mẫu giáo của các giáo hội) phải là đảng viên để nắm chắc đường lối chủ trương của đảng, để theo dõi tư tưởng lập trường của giáo viên và học sinh. Thành ra nền giáo dục VN ngày càng sa sút với vô số giáo viên mua bằng cấp, thiếu tư cách, thiếu khả năng, với vô vàn vụ việc thầy bạo hành trò, đổi tình lấy điểm, bắt nữ sinh làm điếm, để công an hành hạ học trò, cấm sinh viên lên tiếng đòi dân chủ hay biểu tình chống xâm lược… Từ đó, sự ngây thơ, tính trong sáng, đức chân thật, lòng yêu nước nơi học sinh cũng tiêu tùng. Tệ nạn học đường ngày càng gia tăng với vụ giáo viên bị bắt quỳ, học sinh đánh lộn nhau, hành hung thầy dạy, học hành kiểu gian dối hay kiểu đối phó, mua điểm…
9- Tiêu diệt ý thức tôn trọng sự thật nơi giới truyền thông. Vì chủ trương dùng bạo lực và gian dối để cai trị, CS quản lý toàn bộ nền truyền thông, với Luật báo chí kiểm soát chặt chẽ từ nhân sự đủ cấp đến phương tiện đủ loại, với Ban tuyên giáo trung ương nắm đầu mọi tổng biên tập và biên tập, với những đội quân chiến đấu trên mạng hàng chục ngàn người thuộc bộ Công an và bộ Quốc phòng, với đám lính đánh thuê mang tên dư luận viên lên tới cả trăm ngàn đứa… Tất cả cố gắng đem nguyên tắc «nghe theo đảng, nói theo đài» vào trong quần chúng, xã hội, sẵn sàng dối trá vì tiền, chà đạp tiếng lương tâm vì lợi, để tô hồng cho đảng, để đổ tội cho dân, để vu khống thóa mạ những ai cổ vũ cho công lý và sự thật.
Việc tiêu diệt ý thức của mọi thành phần có ảnh hưởng xã hội nói trên đều chỉ nhắm mục tiêu: đánh gục ý chí dân tộc, để không người Việt nào còn đủ sự sáng suốt của lý trí, sự vững mạnh của khí phách, sự nhiệt thành của trái tim ngõ hầu liên kết với nhau mà chống lại bạo lực và gian trá của CS, mà khôi phục nhân quyền và dân chủ cho Đồng bào, mà bảo vệ tự do và độc lập cho Đất nước. «Mọi lợi quyền phải qua tay mình», đó là câu nhật tụng, lẽ sống còn của người CS, dù phải bảo toàn lợi lộc và quyền lực đó bằng việc tàn phá đất nước và dâng nộp tổ quốc cho kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc, đang ngày đêm nuôi mộng Hán hóa Việt Nam.
Ban Biên Tập Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận

Nước độc, người độc


“Nợ xấu tăng vì lợn rớt giá” – Phó Thống đốc ngân hàng nhà nước, Đào Minh Tú.
Nguyen Cao Nguyen FB
Ngày nào cũng đọc, cũng nghe cả đống những phát ngôn điếm đàng mị dân, dối trá tráo trở trắng trợn của bọn “lãnh đạo” VC;
“400 tấn cá chết là do bị sặc nước” – Cục trưởng phòng chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Văn Phú Chính.
Ngày nào cũng đọc, cũng nghe hàng đống những chuyện “lãnh đạo” VC áp bức, sách nhiễu, đày đoạ, ngang ngược, bất công với người dân;
Ngày nào cũng đọc, cũng nghe hàng đống những chuyện người Việt đầu độc lẫn nhau bằng thực phẩm;
Ngày nào cũng đọc, cũng nghe hàng đống những chuyện chém giết, cướp bóc, từ người chém giết, cướp bóc người đến VC chém giết cướp bóc dân;
Ngày nào cũng đọc, cũng nghe hàng đống những chuyện lừa lọc, lường gạt, hiếp dâm từ người với người đến VC với người….
 “Xây công viên nghĩa trang để giúp tỉnh phát triển bền vững” – Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn Trì.
Và ngày nào cũng đọc, cũng nghe hàng đống những chuyện khoe giàu sang, lịch lãm của người Việt;

Và ngày nào cũng đọc, cũng nghe hàng đống những lời khuyên về “cách sống” trong “túi khôn” của người Việt; rằng phải sống vô ưu, vô lo, vô tư, vô oán…; tức là đừng lo gì cả, để nhà nước lo, để được sống lâu,
Không biết sống lâu để làm gì?!
He he…thiệt không có nơi đâu giống nơi đó!

Wednesday, May 2, 2018

‘Kiểm tra tài sản quan chức’: ông Trọng ‘học tập’ TQ như thế nào?

Nguyễn Phú Trọng (trái) gặp Vương Kỳ Sơn (phải) trong một lần ‘học tập kinh nghiệm Trung Quốc’. Ảnh: VOV
Thiền Lâm
Vietnam – Cali Today news – Mùa hè năm 2018, nội bộ đảng Cộng sản và chính trường Việt Nam chuẩn bị bước áo một cơn xáo trộn mới: ‘kiểm tra tài sản quan chức’.
Vậy ông Trọng sẽ làm thế nào để khui được núi tài sản khổng lồ của giới quan chức tham nhũng và các đối thủ chính trị của ông ta?
Hệ quy chiếu đầu tiên mà ông Trọng đã có thể căn cứ vào đó để tung ra chủ trương ‘kiểm tra tài sản quan chức’ là ‘kinh nghiệm Trung Quốc’. Những chuyến làm việc vùa công khai vừa không công bố của ông Trọng và Ủy ban Kiểm trar trung ương Việt Nam ở Bắc Kinh từ năm 2015 đến năm 2017 đã gắn kết chặt chẽ lịch trình làm việc với Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật trung ương Trung Quốc của Vương Kỳ Sơn.

‘Kiểm tra tài sản cán bộ’ là “cuộc cách mạng long trời lở đất” mà ông Tập Cận Bình và Ủy Ban Kiểm Tra Kỷ Luật Trung Ương (CCDI) đã tung ra từ năm 2012 đến nay.
Năm 2013, tờ New York Times trích dẫn truyền thông nhà nước Trung Quốc, đưa tin rằng một khẩu hiệu mới đã trở nên phổ biến trong giới quan chức chính phủ: “Ăn lặng lẽ, đi nhẹ nhàng, chơi bí mật.”
Kinh nghiệm Trung Quốc mà các đoàn Việt Nam có thể đã “học tập” từ các chuyến đi Bắc Kinh của ông Trọng là sau khi các báo cáo kê khai của cá nhân được nộp đầy đủ, các cơ quan giám sát kỷ luật sẽ lựa chọn các báo cáo một cách ngẫu nhiên và kiểm tra thật kỹ lưỡng các báo cáo này. Bất cứ ai bị phát hiện khai báo không trung thực sẽ bị khóa tài khoản.
Trong năm 2015, hơn 3900 quan chức Trung Quốc bị loại khỏi danh sách đề nghị thăng chức và 124 người bị giáng cấp. Năm 2016, 10% tổng số báo cáo kê khai được kiểm tra, giảm 5% so với năm trước đó.
Sau vụ Bạc Hy Lai, ông Tập Cận Bình và nhân vật được xem là “số 2,” ông Vương Kỳ Sơn của CCDI – đã “làm” tiếp Bộ Công An của ông Chu Vĩnh Khang. Tiếp đến là quân đội Trung Quốc. Để thăng tiến, các sĩ quan quân đội cấp thấp thường hối lộ các sĩ quan cấp cao hơn với quà tặng và tiền hoặc hàng hóa xa xỉ. Năm 2014, các nhà chức trách bắt giữ ông Từ Tài Hậu, một tướng đã nghỉ hưu từng là ủy viên bộ chính trị và là phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Trung Quốc. Trong ngôi nhà của ông này, họ phát hiện ra vô số vàng, tiền mặt, trang sức và những bức họa có giá trị – những món quà tặng mà đảng buộc tội là từ các sĩ quan cấp thấp, những người tìm cách tiến thân trên dây chuyền chỉ huy.
Các cuộc điều tra được CCDI dẫn dắt. Ủy ban cử các tổ điều tra tới kiểm tra tất cả các bộ và cơ quan và mọi doanh nghiệp lớn thuộc sở hữu nhà nước. Các tổ điều tra này có quyền lực không hạn chế để điều tra, bắt giữ và thẩm vấn hầu hết tất cả mọi người, nhưng chủ yếu là các quan chức chính phủ, phần lớn trong số họ là đảng viên. Một khi tổ điều tra tin rằng họ đã thu thập đủ bằng chứng về hành vi sai trái, thì CCDI sẽ khai trừ những người thuộc diện tình nghi ra khỏi đảng rồi sau đó giao họ cho hệ thống pháp lý để truy tố.
Trong tuyên bố vào nửa đầu năm 2017, CCDI khẳng định biết rõ chỗ ẩn náu của khoảng 1/3 đối tượng trong tổng số gần 1000 đối tượng (bị truy nã vì cáo buộc các tội danh tham nhũng) đang lẩn trốn, sống lưu vong ở nước ngoài.
Thậm chí, CCDI còn có quyền lực vượt cả ngành công an. Nếu luật pháp Trung Quốc chỉ cho phép cảnh sát bắt giữ nghi can trong bảy ngày mà không chính thức buộc tội người đó, trừ phi cảnh sát có được sự cho phép rõ ràng từ các nhà chức trách pháp lý để gia hạn thời gian giam giữ, thì CCDI bắt giữ nghi can trong thời gian dài hơn mà không tìm kiếm bất kỳ sự phê chuẩn nào và không đưa ra bất kỳ lời buộc tội chính thức nào, cho thấy một “tiêu chuẩn riêng biệt” dành cho cơ quan đặc biệt này.
“Học tập” Trung Quốc như thế nào?
Có những điểm tương đồng rất đáng lưu ý giữa Trung Quốc và Việt Nam trong kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản quan chức – hành động tương tự như
-Chủ thể của chiến dịch kiểm tra tài sản quan chức ở Trung Quốc là CCDI, còn ở Việt Nam là Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương.
-Đối tượng quan chức bị kiểm tra tài sản ở Trung Quốc là các cán bộ do Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư quản lý. Ở Việt Nam cũng tương tự. Theo đó, các quan chức Việt Nam nằm trong diện bị kiểm tra tài sản sẽ bao gồm các ủy viên bộ chính trị, ủy viên ban bí thư, ủy viên trung ương, ủy viên thường vụ của các tỉnh/thành ủy. Con số này vào khoảng 1000 người.
-Hoạt động kiểm tra tài sản được tiến hành khi cơ quan tổ chức có thẩm quyền yêu cầu cần phải kiểm tra, giám sát tài sản của cán bộ; khi có kiến nghị, phản ánh, đơn thư tố cáo có việc kê khai tài sản không trung thực; và khi có dấu hiệu vi phạm quy định của nhà nước về kê khai tài sản.
-Một điểm tương đồng nữa giữa Trung Quốc và Việt Nam là sau khi “làm” xong, cơ quan kiểm tra trung ương “sẽ có thông cáo và công khai đầy đủ đến các cơ quan báo chí và nhân dân.”
Sau khi có quy định của Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Việt Nam hứa hẹn sẽ có văn bản hướng dẫn việc xây dựng kế hoạch, việc thực hiện yêu cầu của cơ quan tổ chức có thẩm quyền, việc xử lý đơn thư kiến nghị phản ánh như thế nào; cũng sẽ có một hướng dẫn cụ thể, trên cơ sở đó hàng năm xây dựng kế hoạch để tiến hành kiểm tra, giám sát bao nhiêu cuộc và như nào…
Đúng một năm trước, Nguyễn Phú Trọng đã thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành chủ trương ‘kiểm tra tài sản cán bộ’ đối với khoảng 1000 quan chức cao cấp. Tuy nhiên, chủ trương này nhanh chóng rơi vào khoảng lặng bởi nhiều lực cản.
Nhưng lần này, nhiều dấu hiệu cho thấy ông Trọng muốn ‘làm thật’.
Hẳn là vào những ngày này, nhiều quan chức trong đảng đang bấn loạn trong tâm trạng làm sao để tẩu tán tài sản và sau đó là tẩu thoát cá nhân.

VC có công gì?


Ngo Du Trung FB

VC và tay sai lúc nào cũng khoe “công lao” của chúng đã làm được hai việc sau đây cho đất nước và dân tộc VN:

Một: Đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giành độc lập cho VN.

Hai: Đã xây dựng được đất nước VN từ nghèo đói phải ăn bo bo đến ăn có thịt có cá như hiện nay.

Có đúng vậy không?

Thứ nhất: Giả sử, nếu không có HCM và đảng cộng sản VN thì VN có được độc lập không?
Chắc chắn là có. Vì sau thế chiến thứ hai, những quốc gia bị các “nước thực dân” đô hộ đều đã được trao trả độc lập với tổn thất rất nhẹ về cả sinh mạng cũng như vật chấl.
Chỉ có VN dưới sự “lãnh đạo tài tình” của đảng cộng sản VN, bằng cách tiêu diệt tất cả các đảng phái khác để mình được độc quyền làm theo cách ngu của mình, phải tốn hao hàng triệu sinh mạng người Việt mới “giành độc lập” cho nửa nước; và tốn hao hàng triệu sinh mạng nữa trong cuộc chiến 20 năm mới “thống nhất” cả nước.
Nếu không có cái đám ngu mà ham mê bạo lực và quyền lực, quyết tâm chiếm đoạt quyền lực bằng những phương cách ngu xuẩn của đứa chỉ biết dùng bạo lực, giết người để cướp chính quyền của đảng CSVN thì VN chắc chắn cũng vẫn có độc lập.
Cho nên, bọn ngu làm theo cách ngu thì tuy đạt được kết quả nhưng gây bao nhiêu tang tóc điêu linh cho đất nước và dân tộc. Như vậy là tội, không phải là công.
Thứ hai: Có phải nhờ đảng CSVN mà dân Việt từ chỗ phải ăn bo bo để sống tiến lên chỗ ăn có cơm có thịt không?
Nước Việt trước đây tuy nghèo, nhưng người dân không phải ăn bo bo, không phải đóng thuế cứt. Chỉ từ khi VC cai trị miền Bắc thì người dân miền Bắc mới phải ăn bo bo, phải đóng thuế cứt; và cả nước phải ăn bo bo suốt hơn mười năm đầu sau khi VC cai trị cả nước từ năm 1975.
Tại sao? Tại vì cái ngu của VC! Ngu giống y như cái ngu trong chiến tranh. Cái ngu của bọn huênh hoang “biến sỏi đá thành cơm”, cho nên sỏi đá không thành cơm, mà thành bo bo, dân ăn ỉa không ra cứt để đóng thuế cứt. Sợ dân nổi loạn, VC phải mở của ra đi ăn xin, mời tư bản, mời đế quốc, mời “bọn đu càng” đem tiền của vào cứu nguy VN.
Như vậy, dân Việt có gạo có thịt ăn như hiện nay là nhờ tư bản, nhờ đế quốc, nhờ “bọn đu càng” chứ đâu phải nhờ VC?!
Trái lại, nếu không phải là VC cai trị VN trong 43 năm qua, mà chỉ cần một lãnh đạo tầm thường nào khác, với mọi điều kiện thuận lợi như VN đã có, thì chắc chắn dân Việt không phải đi làm cu li cho Kampuchia như hiện nay.
Hàng ngàn ngàn tỷ đô la từ tiền vay mượn nhẹ lãi của thế giới, tiền giúp đỡ cho không của thế giới, tiền của “bọn đu càng”, tiền bán tài nguyên quốc gia…, chỉ một phần nhỏ chia cho dân mua… cá thịt, còn lại tất cả chun vào túi VC lớn, VC nhỏ để tuồn ra nước ngoài chuẩn bị cho một ngày tháo chạy.
Như vậy là tội; không phải công.
VC không có công gì với đất nước. Chúng dùng mọi thủ đoạn hèn hạ, bẩn thỉu, tàn bạo và ngu xuẩn để tóm thu quyền lực. Và khi có quyền lực trong tay rồi thì đua nhau vơ vét, bóc lột, phá tan nát đất nước, bán cả đất nước để làm giàu; tuồn tiền bạc, tài sản ra ngoại quốc và chuẩn bị chuồn.
Người Việt hãy mở mắt ra, đừng thấy được ăn cơm thay bo bo như hiện nay rồi tin lời VC rằng đó là nhờ công lao của VC. Đừng tự lừa mình mà cảm ơn cái đứa cướp thức ăn của mình, bắt mình đói rét xong cho mình ăn no một chút thì lại cảm ơn nó. Đừng tự lừa mình mà cảm ơn đứa cướp mất tự do từng có của mình, đè đầu mình xuống bùn, rồi thả lơi ra một chút thì mình mang ơn nó đã cho mình một chút… tự do.

Ngày này năm ấy: vết thương có sẽ liền da?

Phương Thảo (VNTB) Cái bắt tay lịch sử của hai vị lãnh đạo Triều Tiên và Hàn Quốc ở Bàn Môn Điếm hôm thứ Sáu tuần qua đã làm cho không ít người Việt phải bùi ngùi hối tiếc. Cũng là cái cảm giác họ có được như khi bức tường Berlin sụp đổ vì nhận ra rằng lịch sử quá nghiệt ngã cho một đất nước cũng từng bị chia đôi, và từng tự hào là quốc gia đầu tiên trong số 3 quốc gia trên thế giới bị chia cắt được thống nhất.


Một nước Đức thống nhất không tốn một viên đạn. Người dân Đông Đức không còn phải tìm cách vượt tường qua phía Tây để cầu mong một cuộc sống dễ thở hơn. Đông Tây hợp nhất để giờ đây Đức trở thành trụ cột của châu Âu với nền kinh tế hùng mạnh. 

Cái bắt tay mang tính biểu tượng lịch sử của Kim Jong Un và MoonJae-in không dẫn đến thống nhất Hàn quốc và Triều tiên như Đông và Tây Đức, nhưng đã làm cho người ta có một cái nhìn khác về Kim Jong Un, một người cộng sản, là con ông cháu cha gộc và có thời gian du học tại Thuỵ sỹ. 

Hai vị lãnh đạo nắm tay nhau qua mốc biên giới. Ảnh: BBC
Một Kim Jong Un tươi cười, bước qua biên giới để bắt tay, nói chuyện và thậm chí pha trò với người đồng nhiệm Hàn Quốc để ký kết một tuyên bố chung nhằm đạt được mục đích chung trong việc phi hạt nhân hoá bán đảo Triều tiên. Hai nhà lãnh đạo Un và Moon đã hơn hẳn Việt nam 43 năm trước khi tránh được cảnh nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn không đáng có để bằng mọi giá “ thống nhất đất nước”. 

Những ngày cuối tháng 4 này ở nhiều quốc gia trên thế giới, cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tập họp lại để tưởng niệm “ngày quốc hận”, tưởng niệm những người đã bỏ mạng trên đường vượt biển và biểu tình chống nhà cầm quyền Việt nam vì những vi phạm nhân quyền. Trong khi đó, trong nước, người dân được nhà nước cho nghỉ lễ, ăn mừng “ngày giải phóng” dù rằng trong số họ không phải ai cũng có thể ăn mừng. Chỉ tên gọi thôi cũng đã đủ để thấy rằng dù 43 năm trôi qua, nhưng sự hoà giải giữa hai bên quốc cộng vẫn gần không thể nào có được dù quốc gia đã thống nhất về mặt địa lý. 

Có những người cho rằng đó là lý do người Việt hai bên vẫn coi nhau như kẻ thù và đã đến lúc gạt bỏ lòng thù hận để có thể bắt tay làm hoà. Có thể lý giải đó là do sự khác biệt về ý thức hệ mà người ta không thể dung hoà với nhau cũng như đánh đồng nhà cầm quyền với tổ quốc. 

Người Việt tỵ nạn hay chống cộng không có mục đích lật đổ chính quyền cộng sản. Vài trăn ngàn người Việt chống cộng ở hải ngoại không thể nào có đủ khí tài để làm một cuộc đảo chính hòng lập lại một Việt Nam Cộng Hoà. Người Việt chống cộng vẫn nhiệt tình đóng góp hỗ trợ lũ lụt hay quyên góp thiện nguyện, ký thỉnh nguyện thư và thu thập chữ ký để lên tiếng bảo vệ môi sinh và nhân quyền thì không thể nói họ vẫn nuôi dưỡng hận thù với người trong nước. Điều cần phải xác định sự hận thù, không chấp nhận dung hoà với những sai trái bất cập là đối với chính thể hiện tại chứ không phải với cá nhân người Việt trong nước.

Nhà cầm quyền Việt nam vẫn mong hoà hợp, hoà giải dân tộc nhưng đã có được bước tiến tới mức nào? Hàng năm vào dịp này, nhà cầm quyền vẫn có lời kêu gọi hoà hợp hoà giải giữa người Việt với nhau vì tình “bầu – bí” và ý kiến trích dẫn được ưa thích vẫn là những lời của ông Hồ Chí Minh đã viết từ năm 1946. Trong đó có đoạn “Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang" (Hồ Chí Minh -Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, H.2011, tr. 280 – 281). 

Điểm này thôi đã làm cho sự hoà giải trở thành không tưởng khi vô hình trung làm cho người ta nghĩ rằng những người chống cộng, đề cao cờ vàng là những người lầm đường lạc lối và cần có sự bao dung, cảm hoá từ phía khác. Người cộng sản vẫn luôn chọn ở thế ban phát và dạy bảo chứ không phải ở vị thế của những người bằng hữu. 

Với nhà cầm quyền thì cộng sản thì đây lại là nỗi lo, khi cho rằng ý tưởng đó chính là “xuyên tạc tinh thần hòa hợp, cản trở người lương thiện trở về quê hương, nhẫn tâm chống phá, xâm hại đất nước đã sinh ra họ' cũng như những ai có tư tưởng đó là “người lấy đối đầu và mặc cả làm điều kiện hòa hợp.”

Thật ra sự hoà giải không cần phải kêu gọi người ta quên đi hận thù, quá khứ mà phải chỉ cần chứng minh được chế độ cộng sản hiện hành thật sự là một chế độ do dân vì dân, tôn trọng nhân quyền, thượng tôn pháp luật, tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt. 

Hà Nội luôn kêu gọi hoà giải hoà hợp thì liệu chỉ cần đề nghị chính phủ Indonesia cho phép dựng lại bia tưởng niệm thuyền nhân ở đảo Galang, mở cửa cho người dân tự do thăm viếng nghĩa trang Biên Hoà, thừa nhận sai sót trong cải tạo tư sản, thôi ăn mừng "ngày giải phóng" và thoát Trung. Chỉ làm được chừng đó thôi, không cần kêu gọi, người ta cũng sẽ tự gác bỏ quá khứ, hướng tới tương lai. 

Hàng năm ở Hoà lan có ngày 4 tháng 5 tưởng niệm những nạn nhân đã bị thiệt mạng trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Vào ngày này, Quốc vương và Hoàng Hậu sẽ đi đặt hoa ở Quảng trường Dam ở thủ đô Amsterdam, cả nước sẽ có hai phút mặc niệm những người xấu số lúc 8 giờ tối. Ngày 5 tháng năm là ngày mừng giải phóng, đó là lúc ăn mừng Hoà lan thoát khỏi sự xâm lược của Phát xít Đức. 


Liệu khi nào thì chính quyền Việt nam có được hành động mang đậm tình người như vậy thay vì chỉ là một ngày ăn mừng “ đại thắng” trên những tang thương vẫn không thể được phép liền da của những người miền Nam trước đây?

'Một thế hệ tự do'

Ánh Liên (VNTB) Nhân bộ film của đạo diễn trẻ Bùi Hồng Điệp được phát sóng trên VTV, trong đó nhấn mạnh: 'Một thế hệ được chứng kiến và cảm nhận không gian và thời gian của ngày 30/4/1975, một thế hệ được sinh ra đúng thời điểm đất nước thống nhất'.


Có những đứa trẻ sinh ra đúng vào thời điểm thống nhất, nhưng liệu tự do của chúng có phải là khác nhau?

Thực ra, mỗi cái tên gắn liền với sự kiện 1975 hay bất kỳ một sự kiện trọng đại nào đó của quốc gia về sau đều mang những hoài vọng lớn, nhưng trong nhóm tên đó, ít bao giờ nhận ra dòng tên 'Tự do' hay 'Độc lập', mà thay vào đó là 'Giải Phóng, Quốc Thắng, Thống Nhất, Hùng Dũng, Hòa Bình'. Và bao nhiêu người mang tâm thế là 'tôi là công dân tự do' hoặc hiểu đúng về nghĩa của sự tự do?
Ảnh minh họa.
Bao nhiêu năm qua, Việt nam liên tục cải thiện tình hình tự do của mình, và tự do của Việt nam là tự do rất,... khuôn khổ. Tự do nơi mà người dân bị hạn chế nhiều quyền, trong đó có quyền được bầu chọn lãnh đạo có năng lực xây dựng quốc gia, cũng là năng lực xây dựng tính tự do bên trong mỗi cá nhân, chủ thể của đất nước. Và vì thiếu đi yếu tố này, nên đức tính tự do trong mỗi công dân trở nên què quặt, sự què quặt nhiều đến nỗi, chính bản thân mỗi công dân lại sinh ra cái tính từ chối tự do, hoặc sợ tự do.

Nếu một lần trở về vùng đất Nghệ - Tĩnh, sẽ thấy không ít sự hiện diện của những nhóm người từ bỏ tự do hoặc sợ tự do ấy. Nhóm người mà bản thân nó được cái gắn cái tên rất kêu 'Hội cờ đỏ', nhóm người mà luôn hy vọng một sự khải hoàn của năm 1975 với sắc đỏ vàng. Và nhóm người từ bỏ sự tự do trong công dân, đưa mình vào khuôn khổ - hàng lối của cái gọi là 'đội ngũ toàn đảng'.

Sự từ chối tự do của một nhóm người không ảnh hưởng nhiều đến tiến trình xây dựng tự do cá nhân, nhưng khi nhóm người này sử dụng cách thức bạo lực (thường được ghi nhận ở nhóm thiếu tính tự do), tìm cách chà đạp, ngăn cản hoặc thậm chí là 'treo cổ sự tự do', thì lúc đó là một di họa. Đó là những hành vi phản nhân quyền, và cũng vì thế mà vào ngày 27/03/2018, tổ chức BPSOS đã công bố tập hồ sơ 'Hội Cờ Đỏ' bằng tiếng Anh, trong đó có 2 phụ đính, là 2 bản báo cáo với Liên Hiệp Quốc về hoạt động của Hội Cờ Đỏ nhắm vào Giáo xứ Song Ngọc và Giáo xứ Kẻ Gai.

Không ai được sinh ra là công dân tự do cả, nhưng họ có thể sinh ra trong một đất nước thiếu tự do về mặt chính thể. Vấn đề tiếp theo là, họ cần lựa chọn sự tự do, và sự tự do ấy bao gồm những điều kiện cần thiết như: dấn thân vì quyền tự do và trả giá cho quyền tự do.

Việt nam không thiếu những trường hợp đó, đó là các tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm,... những con người đến từ lao động tự do, giới bác sĩ, luật sư, nông dân. Và tập hợp của những người như vậy được gọi chung là 'nhóm đấu tranh nhân quyền'.

Đấu tranh nhân quyền không phải là đấu tranh để thành lập đảng phái chính trị, hay tìm cách xây dựng lực lượng cách mạng. Mà đấu tranh nhân quyền là dùng quyền ghi nhận trong hiến pháp để có thể tiến hành thực hiện và ghi nhận quyền tự do của chính mình. Quyền tự do đơn giản nhất là xuống đường và biểu thị quan điểm; quyền tự do tiếp theo là tự do và bầu cử.

Vì tự do là món quà đặc biệt, đặc biệt ở chỗ nó rất khó để hình thành và dễ dàng bị xóa bỏ; nên tiến trình đòi hỏi và xác lập quyền tự do trở nên có nhiều vấn đề hơn. Vấn đề lớn nhất trong đó là nhận thức được tự do căn bản và sự thái quá của tự do để kiềm giữ mình. Cụ thể, tự do là vận động con người trong giá trị pháp luật, chứ không phải là nhân danh tự do để làm điều xằng bậy. Thứ hai, tự do phải là tự do chung, chứ không phải là hệ chiếu của sự tự do cá nhân. Thứ ba là, tự do phải gắn liền với hệ thức nhân quyền nói chung để không gây nguy hại đến lợi ích của cộng đồng.

Tự do - cho đến nay vẫn đang ươm mầm tại Việt nam, những người đấu tranh hiện nay là những con người dấn thân nhất, ôn hòa nhất. Họ có thể không sinh ra trong thời điểm của sự kiện 1975, 1986,... nhưng họ hiểu hơn hết giá trị tự do, giá trị của việc được làm người. Nhiều trong số này cho biết, sự tự do của họ không phải là sự đòi hỏi cho cá nhân họ, mà là cả cho con cháu họ được hưởng thụ.

Không ai sinh ra là công dân tự do, nhưng họ có quyền được tự do cho mình và con cháu sự tự do. Và trong những người được xướng danh vì nhân quyền, không có những cái tên đặc biệt trong thời khắc 1975, mà tên họ có thể mộc mạc hơn như Cấn Thị Thiêu, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,... nhưng hành vi đấu tranh và dành quyền tự do đã tạo cho cái tên ấy trở nên đặc biệt, mặc dù nó bị giam cầm trong vòng lao lý.


Câu biểu ngữ của nhà nước Việt nam, trong đó yếu tố độc lập có thể đại diện là 1975, nhưng tự do chắc chắn là những con người đấu tranh nhân quyền, và hạnh phúc là đời con cháu, là dân tộc Việt nam.

Củi lò và tiền tươi? *

Trúc Giang (VNTB) Liệu có gì liên quan giữa tập đoàn Vingroup, tập đoàn FLC với các phi vụ làm ăn liên quan MobiFone và các chủ tịch, bí thư một số tỉnh?
Bản đồ quy hoạch dự án của FLC tại Quảng Ngãi.
ProPublica, một tổ chức phi lợi nhuận chuyên về báo chí điều tra phục vụ công chúng, vừa đăng một bài báo (https://www.propublica.org/article/trump-inc-podcast-vietnam-casino) mô tả những mối quan hệ, và sự dàn xếp đằng sau cuộc gọi điện thoại đầu tiên của Tổng thống Mỹ đắc cử Donald Trump với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc vào tháng 12 năm 2016.

Cá cược và tướng Hóa

Bài báo ProPublica nói trên cho thấy dường như doanh nghiệp đã ‘lobby’ – vận động hành lang bằng mọi cách, mọi lúc cho chuyện làm ăn của mình, bất kể chính khách đó là Tổng thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, hay một Thủ tướng của Nhà nước Cộng sản.

Không chắc có liên quan, nhưng nếu để ý chút sẽ nhận ra rằng vào tuần cuối tháng 1-2017, nghĩa là hơn 4 tuần lễ sau cuộc điện thoại của Tổng thống Mỹ đắc cử Donald Trump với Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Nghị định số 06/2017/NĐ-CP có tên “quy định về việc kinh doanh, quản lý hoạt động kinh doanh và xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh đặt cược đua ngựa, đặt cược đua chó và thí điểm đặt cược bóng đá quốc tế trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Hiệu lực thi hành từ ngày 31 tháng 3 năm 2017. Bộ Tài chính là nơi chấp bút nội dung của Nghị định này.

Ông Lê Hùng Dũng, chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Việt Nam trao đổi với tư cách cá nhân, rằng hơn mười lăm năm về trước, ông đã nhiều lần nêu vấn đề cần luật hóa về cá cược. Khi ấy, nơi “bàn ra” mạnh mẽ nhất là ngành công an. “Tôi biết đây là vấn đề nhạy cảm, còn nhiều ý kiến bất đồng, vì thế có thể rất khó nói… Nhưng cá cược thể thao là phổ biến ở các nước và họ đã quản lý khá tốt. Còn ở Việt Nam, dù không được phép, không nói ra nhưng ai cũng biết ở nhiều nơi vẫn xảy ra”. Ông Dũng nhận định.

Cũng chia sẻ với tư cách cá nhân, một cán bộ thuộc cơ quan an ninh chính trị nội bộ, cho hay rất có thể ai đó trong ngành công an đã cố tình “bàn ra” về chuyện luật hóa cá cược nhằm để họ tiếp tục “độc quyền bảo kê”. Vụ tướng Hóa của C50 xộ khám vừa rồi có thể là một liên tưởng (dù dè dặt!).

Mặc cả lại vai vế quyền lực?

Băn khoăn đặt ra nhân vụ bài báo “lobby” qua đường dây điện thoại mà ProPublica vừa tung ra, là có hay chăng ai đó mượn cớ “củi lò” nhằm để triệt, hoặc mặc cả quyền lực với các ông trùm làm ăn như Vingroup, FLC?

Trong phi vụ mua bán nhượng quyền giữa AVG với MobiFone đình đám hiện nay, nhìn dưới giác độ thuần kinh doanh, thì chuyện vài ngàn tỷ đồng đối với Vingroup dường như chỉ là rủi ro lường trước của canh bạc áp phe. Những giá trị bất động sản mà tập đoàn này đầu tư rãi khắp Việt Nam lên tới những con số ngàn ngàn tỷ đồng. Các chính khách ủng hộ cho Vingroup trong chuyện làm ăn, dễ nhận ra là cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, và tiếp nối là đương kim thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (ông Phúc từng là phó cho ông Dũng). Điều này cũng tương tự như dàn xếp cú điện thoại giữa Tổng thống đắc cử Donald Trump với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc hồi tháng 12 năm 2016. Không hẳn là tiêu cực. “Lại quả”, hay “hoa hồng” còn tùy vào cách hiểu.

Giờ đây, với chính sách “nhất thể hóa” một số chức danh giữa cơ quan đảng và nhà nước, thì quyền lực phải được mặc cả lại với vai trò không thể thiếu trong mọi hoạt động là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản.

Như vậy thì nên hiểu như thế nào về tập đoàn FLC đang “bá đạo” ngay cả lúc được cho là lò đốt tham nhũng của ông Tổng Bí thư đang phần phật lửa? Không chỉ có dự án “thần tốc” ở tỉnh Quảng Ngãi, tập đoàn FLC còn được các địa phương trải thảm mời gọi, ứng tiền trước giải phóng mặt bằng, ở Quảng Bình, Bình Định...

Thậm chí hồi trung tuần tháng 4-2018, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Trần Ngọc Căng tuyên bố huy động “toàn bộ hệ thống chính trị” phục vụ dự án “chủ yếu để hỗ trợ doanh nghiệp FLC làm thủ tục và giải phóng mặt bằng chứ không có cái gì đâu”. Số ‘tiền tươi – thóc thật’ mà tỉnh xuất chi hỗ trợ cho FLC lên tới 500 tỷ đồng. (Trích nội dung hôm 27-4, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi do ông Lê Viết Chữ, Bí thư Tỉnh ủy dẫn đầu,tiếp xúc cử tri tại huyện Bình Sơn để chuẩn bị cho kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV sắp tới).
Dự án FLC Hạ Long từng bị Chính phủ tuýt còi!
Trước đó, cuối tháng 3-2017, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã yêu cầu UBND tỉnh Quảng Ninh dừng ngay việc thi công Dự án FLC Halong bay Golf Club & Luxury Resort (FLC Hạ Long) thuộc địa bàn TP Hạ Long, Quảng Ninh để thực hiện việc đánh giá tác động môi trường theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên vào thời điểm đó, FLC Halong bay Golf Club & Luxury Resort gần như đã xong phần thi công cơ bản. Một năm sau, FLC tiếp tục đầu tư dự án tương tự ở Quảng Ngãi mà vẫn chưa hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án.

Nếu FLC không có người chống lưng cỡ to trong Bộ Chính trị, thì trong bối cảnh hiện nay, chắc hẳn sẽ không nơi nào dám tuyên bố mạnh miệng “huy động cả hệ thống chính trị” như tỉnh Quảng Ngãi.

“Cũng khó hiểu là những tỉnh nghèo như Quảng Ninh, Quảng Ngãi lại bất chấp Luật Ngân sách Nhà nước để rộng tay xuất tiền ngân sách đến vài trăm tỷ đồng để giúp FLC trong giải tỏa đền bù. Chắc chắn số tiền gọi là ứng trước, tạm ứng này của quan đầu tỉnh là vi phạm pháp luật!”. Luật sư Trần Thành bàn luận, và tin rằng chắc chắn Bí thư tỉnh Quảng Ngãi Lê Viết Chữ dẫu có ‘ăn mật gấu’ cũng không dám cùng ông Trần Ngọc Căng “huy động cả hệ thống chính trị” để giúp FLC. Thế nhưng trên thực tế thì việc “huy động cả hệ thống chính trị” đang diễn ra…

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả về cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay, VNTB đăng tải dựa trên nguyên tắc của Điều 19 - Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.