Wednesday, October 18, 2017

Rừng Việt Nam đang réo tên ai?

Lê Anh Hùng 
Theo VOA-19/10/2017  
Hoàng Trung Hải (trái) và Nguyễn Phú Trọng.
Hoàng Trung Hải (trái) và Nguyễn Phú Trọng.
Theo thông tin từ Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Thiên tai, tính đến ngày 15/10, đợt mưa lũ tuần qua tại Miền Trung và các tỉnh miền núi phía bắc đã khiến 68 người chết và 34 người mất tích, chưa kể hàng chục người bị thương tích nặng khác. Những cái chết đều vô cùng thương tâm, còn thiệt hại về vật chất thì không sao đếm xuể.
Đâu là nguyên do?
Trước thảm hoạ kinh hoàng đó, ông Trần Quang Hải, Tổng Cục trưởng Tổng cục Phòng chống Thiên tai, đã phải chua chát thú nhận: “Phá rừng là một trong những nguyên nhân chính gây ra lũ quét, sạt lở. Chúng ta đang phải trả giá và sẽ còn tiếp tục do nhiều đồi, nhiều rừng đã bị ‘cạo trọc’.”
Trong một bài viết trên báo Tuổi Trẻ ngày 14/10, GS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, nhận định: “Từ câu chuyện mất rừng đầu nguồn, có lý do chính là chúng ta đã dành diện tích rừng rất lớn cho phát triển thủy điện… Cần xem lại các quy trình vận hành hồ chứa, đặc biệt là các hồ chứa của thủy điện. Nếu chỉ thống kê qua số liệu, với số lượng hồ chứa hiện có, các nước sẽ nghĩ chúng ta yên ổn về phòng lũ, cắt lũ. Hồ chứa không phải là cái ao, phải có nhiệm vụ điều tiết nước theo đúng mục tiêu mùa lũ trữ nước, mùa khô xả nước. Nhưng với các hồ chứa thủy điện thì không làm được hết như vậy, vẫn còn chủ động tích nước từ đầu mùa lũ thay vì phải xả nước đầu mùa. Thậm chí với những thủy điện vừa và nhỏ, hơn 1.000 thủy điện, đa số là không có dung tích phòng lũ.”
Và tại hội nghị trực tuyến của Chính phủ bàn về việc "tăng cường quản lý, bảo vệ rừng và các giải pháp thực hiện trong thời gian tới" ngày 14/10 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã thừa nhận: “Những công trình thủy điện nhỏ nhưng phá rừng rất lớn.”
Ai là thủ phạm?
Như vậy, có thể nói, tác nhân chính của thảm hoạ mưa lũ lịch sử vừa qua là công tác quản lý, bảo vệ rừng và công tác quy hoạch, quản lý thuỷ điện.
Vậy ai là người chịu trách nhiệm cao nhất về công tác quản lý, bảo vệ rừng và quy hoạch, quản lý thuỷ điện những năm qua?
Xin thưa, câu trả lời là ngài cựu Phó Thủ tướng, đương kim Bí thư Thành uỷ Hà Nội Hoàng Trung Hải!
Ngoài trọng trách Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề cử và được Quốc hội của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng phê chuẩn từ ngày 2/8/2007, Hoàng Trung Hải còn được “đồng chí X” tin tưởng giao phó trọng trách Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng.
Nghĩa là, tất cả các dự án liên quan đến đất rừng, từ việc chuyển đổi đất rừng, giao đất rừng cho các dự án thuỷ điện, cho đến việc giao hàng trăm ngàn ha rừng đầu nguồn, biên giới cho các công ty Trung Quốc… từ năm 2007 đến 2016 đều phải nhận được sự chuẩn thuận của PTT Hoàng Trung Hải, nhân vật quan trọng và quyền uy thứ hai trong chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.
Ngoài ra, nếu số liệu báo cáo của các tỉnh thành cũng như của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về công tác trồng rừng hàng năm là chính xác thì đến nay tỷ lệ che phủ rừng của Việt Nam đã vượt mức 100%, tức là không một m2 nào trên dải đất hình chữ S này chưa được rừng che phủ. Tuy nhiên, thực tế thì như những gì mà chúng ta đã thấy. Và dĩ nhiên, “thành tích” này trước hết phải được “ghi nhận” cho ngài (cựu) Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế ngành (trong đó có ngành Lâm nghiệp) kiêm Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng Hoàng Trung Hải.
Đặc biệt, từ năm 1998, Hoàng Trung Hải đã là Tổng Giám đốc EVN. Ông ta càng có điều kiện khuynh loát ngành điện lực Việt Nam sau khi ngồi lên chiếc ghế Bộ trưởng Công nghiệp (2003-2007) và Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế (2007-2016).
Ngày 24/10/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định số 1436/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch Điện VI, đồng thời bổ nhiệm PTT Hoàng Trung Hải làm Trưởng ban. Ngày 26/12/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại ký quyết định số 2449/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia, dĩ nhiên PTT Hoàng Trung Hải lại là Trưởng ban.
Trả lời báo chí bên hành lang Quốc hội ngày 9/11/2009, ngài PTT đã hùng hồn khẳng định: “Không thuỷ điện nào không có trong quy hoạch.” Nghĩa là, không một công trình thuỷ điện nào nằm ngoài quyền quyết định của ngài PTT, bởi không ai khác mà chính ông ta mới là người nắm quyền định đoạt cái gọi là “quy hoạch thuỷ điện” đó.
Một dự án thuỷ điện không nằm trong “quy hoạch” mà muốn được triển khai ư? Chuyện nhỏ, chỉ cần ngài PTT phù phép bằng cách đưa nó vào “quy hoạch thuỷ điện” của ông ta là xong. Xin đơn cử, tháng 8/2010, Hoàng Trung Hải đồng ý bổ sung dự án thủy điện Sông Tranh 3, công suất khoảng 62 MW vào danh mục các dự án nguồn điện tại Quy hoạch điện VI; hay tháng 6/2015, ông ta đồng ý bổ sung dự án nhà máy thuỷ điện Ialy mở rộng vào Quy hoạch điện VII, v.v và v.v.
Trước sự phản đối đặc biệt gay gắt của công luận, tháng 9/2013, ngài PTT buộc phải đưa hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A ra khỏi “quy hoạch”. Báo Người Lao Động ngay lập tức đăng bài “Xin cảm ơn Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải!”. Bài viết mở đầu bằng câu: “Sao mà vui sướng đến muốn rơi nước mắt!” Chừng đó đủ cho thấy quyền lực của “ông vua không ngai” Hoàng Trung Hải lớn đến nhường nào.
Và một Hà Nội đang “bê-tông hoá”
Không chỉ những thảm cây xanh ở những cánh rừng xa xôi, hẻo lánh, hiếm khi thấy bóng người, mà ngay cả những hàng cổ thụ rợp bóng mát ngay giữa một Hà Nội đông đúc nhộn nhịp mỗi khi nghe đến cái tên Hoàng Trung Hải cũng phải run rẩy, khiếp đảm.
Với tư cách Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế, Trưởng ban Chỉ đạo Quy hoạch và đầu tư xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội, Hoàng Trung Hải là nhân vật có tiếng nói quyết định về quy hoạch thủ đô từ năm 2007 đến năm 2016, với sở thích đặc biệt là triệt hạ cây xanh và “bê-tông hoá” Hà Nội. Từ sau Đại hội XII, được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt tin tưởng giao phó trọng trách thống lĩnh bộ máy dân sự và quân sự của Thủ đô, ngài Bí thư Thành uỷ lại càng thoả sức phát huy sở trường của mình.
Lý lẽ của ngài ư, rất đơn giản: “Chặt cây ai cũng tiếc, nhưng chẳng lẽ không làm gì” (!!!).
Theo GS Vũ Trọng Hồng, với diện tích rừng đầu nguồn bị phá, dù có đầu tư tiền để tái sinh thì cũng phải 50 năm mới phục hồi, mới ngăn được dòng chảy. Nghĩa là nếu ngay từ bây giờ 90 triệu dân Việt Nam bắt tay vào việc xử lý những “di sản” do “con ngựa thành Troy” Hoàng Trung Hải để lại thì cũng phải mất ít nhất nửa thế kỷ nữa chúng ta mới hoàn toàn khắc phục được hậu quả.
Không chỉ rừng Việt Nam, mà hàng nghìn linh hồn oan nghiệt đang réo gọi tên ngài, thưa ngài Bí thư Thành uỷ Hà Nội!

Chủ trương, thảm họa, và ‘tằm’ vẫn gánh ‘trăm dâu’

Trân Văn 
Theo VOA-18/10/2017
Một dân làng chèo xuồng giữa nước lụt.
 Một dân làng chèo xuồng giữa nước lụt. Một dân làng chèo xuồng giữa nước lụt.
Hậu quả của đợt mưa to kéo dài từ ngày 9 tháng 10 đến cuối tuần vừa qua ở miền Bắc và khu vực phía Bắc miền Trung càng ngày càng nặng nề.
Theo thống kê do Ban Chỉ đạo Phòng – Chống thiên tai của Việt Nam công bố hôm 16 tháng 10, riêng về nhân mạng đã có 72 người chết, 30 người vẫn còn mất tích. Đối với tài sản, lũ, lụt, sạt lở đất đã làm hư hỏng khoảng 50.000 căn nhà. Chưa có thống kê về thiệt hại đối với nông nghiệp nhưng tổn thất của nông dân chắc chắn rất kinh khủng khi vốn liếng, mồ hôi của họ đổ vào ruộng, vườn, ao, hồ đã bị nước lũ và đất đá xóa sạch. Ban Chỉ đạo Phòng – Chống thiên tai ước đoán, riêng chăn nuôi, chỉ trong vòng một tuần, chừng 10.000 gia súc và 290.000 gia cầm hoặc bị nước dìm chết, hoặc bị nước cuốn trôi,… Con số liên quan đến thiệt hại về tài sản sẽ tăng thêm hàng ngàn tỉ sau khi có thống kê chính thức về sự hư hỏng của hệ thống hạ tầng (đường sá, cầu cống, đê điều, kênh mương, mạng điện, điện thoại).
Năm nay, miền Bắc và khu vực phía Bắc miền Trung Việt Nam có ít nhất bốn đợt mưa to, kéo dài nhiều ngày và theo sau đó là lũ, lụt, sạt lở xảy ra ở khắp nơi, đặc biệt là Tây Bắc, Đông Bắc, vùng đồi núi phía Bắc miền Trung. Trước những thiệt hại càng ngày càng cao về nhân mạng, tài sản, các cơ quan hữu trách ở Việt Nam, bao gồm cả Ban Chỉ đạo Phòng – Chống thiên tai lẫn các trung tâm dự báo về khí tượng – thủy văn có khuynh hướng qui trách nhiệm cho… Trời (biến đổi khí hậu, thời tiết dị thường, cực đoan, khó dự đoán).
Chẳng riêng Việt Nam, thời tiết trên toàn cầu rõ ràng là đang có nhiều diễn biến khác thường, song chẳng lẽ những vụ lũ, lụt, sạt lở đất đã xảy ra và 10.266 địa điểm ở mười tỉnh vùng núi phía Bắc hiện trong tình trạng có thể xảy ra sạt lở bất kỳ lúc nào, 2.110 điểm mà nguy cơ đất chuồi được nhận định là “rất lớn” thậm chí “đặc biệt lớn” hoàn toàn do… Trời?
Các chuyên gia của nhiều lĩnh vực đã, đang và có lẽ sẽ còn tiếp tục khẳng định không phải, chính xác là không hoàn toàn như thế!
Có thể dùng hội thảo mới nhất do Ủy ban Dân tộc của Quốc hội Việt Nam đứng ra tổ chức tại Hà Nội hôm 14 tháng 10 về lũ quét và sạt lở như một dẫn chứng.
Theo tường thuật của tờ Tuổi Trẻ thì tại hội thảo vừa kể, ông Shinro Abe – một chuyên gia cao cấp về địa kỹ thuật của Công ty Okuyama Boring (Nhật), cho rằng, lũ quét và sạt lở liên quan mật thiết đến phương thức thi công hệ thống hạ tầng giao thông. Không khảo sát kỹ và đào xới từ dưới lên trên (thay vì phải làm ngược lại) khi thi công mặt dốc dễ dẫn tới sạt lở, khó khắc phục hậu quả. Ông Vũ Mạnh Lợi, từng là Viện phó Viện Xã hội học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thì khẳng định, lũ quét, sạt lở còn do phá rừng đầu nguồn, khai thác khoáng sản vô tội vạ, cho phép đào xới lung tung, không đánh giá tác động tiêu cực đến môi trường…
Ông Lợi không phải người đầu tiên, càng không phải người cuối cùng nhận định như vậy. Hồi đầu tháng 6 năm nay, tại hội nghị về phòng chống thiên tai ở 18 tỉnh miền Bắc, ông Hoàng Văn Thắng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn từng thú nhận, ngoài tác động của biến đổi khí hậu, hậu quả của thiên tai (lụt, lũ, sạt lở, hạn hán,…) trở thành khốc liệt còn vì“phát triển thiếu bền vững, khai thác quá mức tài nguyên”.

***

Vài năm gần đây, “phát triển thiếu bền vững, khai thác quá mức tài nguyên” được giới hữu trách lập đi lập lại khá nhiều khi thảo luận về các vấn nạn kinh tế - xã hội nhưng đáng ngạc nhiên là chưa bao giờ họ phân tích cặn kẽ xem đâu là nguyên nhân.
“Phát triển thiếu bền vững, khai thác tài nguyên quá mức” khởi đầu từ lúc nào? Phải chăng là từ 1991 khi các đại biểu dự Đại hội Đảng CSVN lần thứ bảy thông qua cương lĩnh, xác định “công nghiệp hóa theo hướng hiện đại” và đỉnh của “phát triển thiếu bền vững, khai thác tài nguyên quá mức” có phải từ khi Đại hội Đảng CSVN lần thứ chín (2001) đề ra chủ trương “công nghiệp hóa theo kiểu rút ngắn, gắn với hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” hay không?
Trung tuần tháng 11 năm 2016, khi đến thăm Bắc Ninh dự “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc”, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng CSVN, tỏ ra hết sức phấn chấn, nêu ra một câu hỏi có tính khẳng định: “Nhìn một cách tổng quát, đất nước có bao giờ được thế này không?”.
Ông Trọng hỏi dõng dạc như thế vì “kinh tế Việt Nam phát triển, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao, Việt Nam có quan hệ với tất cả các nước lớn trên thế giới, tham gia tất cả các tổ chức quốc tế”.
Song “nhìn một cách tổng quát”, rõ ràng là chưa thế hệ nào ở Việt Nam phải liên tục đọc, nghe, xem nhiều thông tin, hình ảnh thương tâm về hậu quả của thiên tai đổ lên đầu đồng bào của mình dồn dập như vài năm gần đây.
Tháng 1 năm 2015, sau khi “nhìn một cách tổng quát”, The Economist – một tạp chí về kinh tế của Anh – từng kể rằng, dẫu thiên hạ luôn xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng tác động đến môi trường của từng dự án thủy điện nhưng Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) cho biết, Việt Nam chưa bao giờ công bố những tài liệu kiểu đó đối với các công trình thủy điện mọc lên như nấm trên khắp Việt Nam.
The Economist gọi nỗ lực phát triển thủy điện để thỏa mãn nhu cầu năng lượng cho đến năm 2020, bất kể nỗ lực đó hủy diệt các cánh rừng già, những dòng sông, biến nông dân thành nạn nhân của lũ, lụt, sạt lở, động đất là thiển cận và dự đoán giá sẽ rất đắt. Đối tượng thanh toán trực tiêp sẽ là người nghèo, đặc biệt là thành viên các cộng đồng thiều số.
“Nhìn một cách tổng quát”, kế hoạch phát triển thủy điện ồ ạt là con đẻ của chủ trương “công nghiệp hóa theo kiểu rút ngắn, gắn với hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Phải tới năm 2013, sau khi thủy điện dã trở thành đại họa của nhiều vùng, dân chúng liên tục cất tiếng oán thán, Quốc hội Việt Nam mới cử Ủy ban Khoa học - Công nghệ - Môi trường thẩm tra các công trình thủy điện. Theo ủy ban này, việc quản lý chất lượng, an toàn tại các công trình thủy điện đặc biệt là các công trình thủy điện vừa và nhỏ tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường: Khoảng 30% đập chắn nước chưa được kiểm định. Khoảng 66% đập chắn nước chưa được duyệt phương án bảo vệ. Khoảng 55% chủ đập chưa có phương án phòng chống lụt bão. Đáng lưu ý là 160 dự án thủy điện thực hiện từ 2006 đến 2012 đã hủy diệt 19.792 héc ta rừng.
Cũng trong năm 2013, chính phủ Việt Nam tiến hành “rà soát quy hoạch thủy điện” và cho biết đã loại bỏ 424 dự án, không đưa vào quy hoạch 172 “vị trí tiềm năng”, tạm dừng có thời hạn 136 dự án, tiếp tục đánh giá 158 dự án khác. Cho đến lúc đó, Việt Nam vẫn còn 815 dự án thủy điện phục vụ công cuộc “công nghiệp hóa theo kiểu rút ngắn, gắn với hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Năm sau (2014), chính phủ Việt Nam chính thức thú nhận, những dự án thủy điện vừa và nhỏ là nguyên nhân chính tăng thêm đói nghèo, đẩy người thiểu số tới tột đỉnh của sự bần cùng. Từ khi có các dự án thủy điện, vào mùa khô, cả điện lẫn nước ở nhiều khu vực cùng thiếu. Hạn hán đang theo xu hướng năm sau nghiêm trọng hơn năm trước. Chuyện xả lũ vô tội vạ của các nhà máy thủy điện sau những trận bão lớn còn làm chết thêm hàng trăm người, phá hủy nhiều khu dân cư, ruộng vườn, khiến hậu quả thiên tai thêm trầm trọng.
Tháng 3 năm nay, trong một công điện gửi cho nhiều cơ quan hữu trách, Thủ tướng Việt Nam yêu cầu gia tăng kiểm soát việc quy hoạch, đầu tư, xây dựng, vận hành các công trình thủy điện. Bộ Công Thương được yêu cầu phải cương quyết loại bỏ các dự án, công trình thủy điện không hiệu quả, không an toàn, ảnh hưởng bất lợi tới dòng chảy, môi trường và đời sống dân chúng. Đồng thời phải cùng với Bộ Tài nguyên – Môi trường hoàn thiện quy trình vận hành các hồ chứa để vừa bảo đảm hiệu quả phát điện, vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng nước ở khu vực hạ du trong mùa khô, cắt - giảm lũ và các tác động tiêu cực trong mùa mưa. Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn thì được yêu cầu buộc chủ đầu tư các dự án thủy điện trồng rừng thay thế ngay lập tức. Đến lúc đó, diện tích rừng được trồng để thay thế chỉ chừng 3,7%.
Tới tháng 7, tại một hội thảo do Hiệp hội Năng lượng Việt Nam tổ chức, chính quyền nhiều địa phương khăng khăng xin thực hiện thêm các dự án thủy điện vừa và nhỏ, còn Bộ Công Thương công khai tán thành.
Chẳng hạn, tuy Bộ Công Thương đã loại bỏ 54/123 dự án thủy điện vừa và nhỏ ở Lào Cai nhưng chính quyền tỉnh này vừa xin “bổ sung vào quy hoạch thủy điện” mười dự án khác. Ngoài Lào Cai, chính quyền các tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Đắk Lắk cũng đang làm như thế. Quảng Trị đang xin “bổ sung bốn dự án thủy điện” sau khi có 10 dự án thủy điện bị loại ra khỏi quy hoạch. Quảng Nam muốn “bổ sung 14 dự án thủy điện”. Theo quy hoạch, Đắk Lắk chỉ còn 9 dự án thủy điện nhưng đã thành công trong việc vận động Bộ Công Thương trình chính phủ Việt Nam bổ sung vào quy hoạch thủy điện của tỉnh này sáu dự án thủy điện khác…
***
Thống kê được công bố tại hội thảo về lũ quét và sạt lở diễn ra hôm 14 tháng 10 cho biết, trong mười lăm năm, từ 2000 đến 2015, tại Việt Nam xảy ra 250 vụ lũ quét và sạt lở khiến 646 người chết và mất tích, 351 người bị thương, tổng thiệt hại tài sản khoảng 3.300 tỉ.
Chưa rõ tại sao thống kê chỉ được thực hiện đến năm 2015. Nếu thống kê bao gồm những số liệu của năm 2016 và từ đầu 2017 đến nay, số vụ lũ quét lẫn sạt lở cũng như tổng thiệt hại nhân mạng, tài sản ắt sẽ kinh khủng hơn nhiều (hồi đầu năm nay, Tổng cục Thống kê của Việt Nam từng cho biết, riêng năm 2016, ngoài việc làm 246 người chết và mất tích do lũ quét, sạt lở, lụt, thiên tai nói chung - bao gồm cả các đợt rét đậm, rét hại ở miền Bắc, khô hạn ở Tây Nguyên và nước mặn xâm nhập sâu vào đồng bằng sông Cửu Long - đã làm Việt Nam mất 40.000 tỉ đồng, tương đương 1,8 tỉ Mỹ kim).
Giống như nhiều viên chức điều hành các công trình thủy điện khác, ông Đặng Trần Công, Chánh Văn phòng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, mới khẳng định với báo giới rằng việc mở tám cửa xả của hồ chứa nước cho nhà máy này trong hai ngày 10 và 11 tháng 10 là “đúng qui trình”. Việc mở đồng loạt tám cửa xả có thể khiến lũ lụt ở khu vực hạ du thêm trầm trọng, thậm chí gây thêm tổn thất nhân mạng và tài sản nhưng không thể trách ông Công, cũng chẳng thể trách Công ty Thủy điện Hòa Bình. Khi phê duyệt, ban hành “qui trình”, Thủ tướng buộc phải quan tâm đến “bảo đảm an toàn công trình”, đập chắn nước của một công trình thủy điện vỡ, hậu quả sẽ thảm khốc hơn nhiều. Biết thế nhưng chẳng ai có thể lắc đầu với thủy điện vì đó là chủ trương!

Nghiêm minh đến thế là… cùng!

Trân Văn 
Theo VOA-18/10/2017 
Trong một cuộc biểu tình đòi thả người trước đồn công an. Hình minh họa.
 Trong một cuộc biểu tình đòi thả người trước đồn công an. Hình minh họa.
Ủy ban Kiểm tra của Tỉnh uỷ Sóc Trăng vừa công bố quyết định “cảnh cáo” đảng viên Thái Văn Đợi, đại tá, Phó Giám đốc kiêm Thủ trưởng Cơ quan Điều tra của công an tỉnh này vì “có nhiều sai phạm trong công tác”.
Hiện chưa rõ đại tá Đợi có bị ngành công an kỷ luật hay không vì Bộ Công an chưa lên tiếng. Ba năm vừa qua, Bộ Công an chưa đụng tới đại tá Đợi.
Dẫu đại tá Đợi đã được xác định là một trong những nhân vật chính gây ra ít nhất ba oan án, khiến hàng chục công dân bị tống giam, bị tra tấn tàn bạo tới mức không làm gì cũng vẫn “cúi đầu thừa nhận” đã “giết người” nhưng chuyện Tỉnh ủy Sóc Trăng mất tới ba năm “nâng lên, đặt xuống” trường hợp của Đại tá Đợi là… bình thường. Kỷ luật những đảng viên như ông Đợi lúc nào cũng phải… “thận trọng, khách quan”.
***
Tháng 4 năm 2014, Viện Kiểm sát tỉnh Sóc Trăng trả tự do cho: Trần Hol, Trần Cua, Trần Văn Đỡ, Thạch Sô Phách, Thạch Mươl, Khâu Sóc và Nguyễn Thị Bé Diễm.
Hol, Cua, Đỡ, Phách, Mươl, Sóc bị bắt vì nghi ngờ giết ông Lý Văn Dũng - một người chạy xe ôm, ngụ tại xã Đại Ân, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng hồi tháng 7 năm 2013. Sau đó cả sáu cùng… thú nhận đã tổ chức giết ông Dũng vì giữa Hol và ông Dũng có hiềm khích cá nhân. Trong quá trình điều tra vụ ông Dũng bị giết, Cơ quan Điều tra của Công an tỉnh Sóc Trăng còn bắt Nguyễn Thị Bé Diễm – bạn gái của Đỡ vì “không tố giác tội phạm”.
Sau khi nhóm điều tra vụ án Trần Hol và đồng phạm “giết người” hoàn tất “Kết luận điều tra”, họ được lãnh đạo Công an tỉnh Sóc Trăng tặng bằng khen và trong khi cả nhóm đang chờ nhận hiện kim là tiền thưởng “thành tích phá án” thì vụ án bị lộn ngược…
Tháng 12 năm 2013, cô Lê Thị Mỹ Duyên, ngụ tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, đến Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Sài Gòn, đầu thú vì đã tham gia giết ông Dũng. Theo lời cô Duyên, cô đã cùng cô Nguyễn Kim Xuyến, ngụ tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, giết ông Dũng để cướp tài sản nhưng vụ cướp bất thành, cả hai rời Sóc Trăng lên Sài Gòn. Tại Sài Gòn, cô Xuyến có quan hệ tình cảm với người khác. Cô Duyên ra đầu thú với hy vọng cả hai có thể ở bên nhau đến trọn đời trong… tù.
Trước tình tiết bất ngờ này, hệ thống tư pháp Việt Nam buộc phải xem lại toàn bộ vụ án mạng mà ông Dũng là nạn nhân. Cuối cùng, hệ thống tư pháp Việt Nam thừa nhận, cô Xuyến và cô Duyên đúng là thủ phạm. Cả Hol, Cua, Đỡ, Phách, Mươl, Sóc, lẫn Diễm… bị bắt oan. Đến lúc đó, công chúng mới thắc mắc: Tại sao không “giết người” mà cả bảy lại “cúi đầu nhận tội”? Sau khi được trả tự do, chỉ có ba trong bảy nạn nhân dám kể với báo giới, rằng lúc đầu họ một mực kêu oan nhưng vì các điều tra viên dùng còng treo họ lên cửa sổ, rồi dùng tay, dùi cui, đánh họ, thậm chí còn dùng khăn bàn, bọc nước đá vào hạ bộ các nạn nhân,… không chịu nổi đau đớn và sợ sớm uổng mạng, họ đành… khai theo hướng dẫn của các điều tra viên!
Cũng theo báo chí Việt Nam, cả bảy nạn nhân không chỉ bị mất tự do trong sáu tháng. Nhiều người trong số họ còn phải ôm những nỗi đau khác cho đến hết đời. Một trong các nạn nhân - Thạch Sô Phách kể rằng, chỉ ít ngày trước khi anh được trả tự do, vợ anh đã bỏ con lại cho mẹ anh nuôi và đi theo người khác – “giết người” với hàng loạt tình tiết tăng nặng “có tổ chức”, “động cơ đê hèn” không tử hình, chung thân thì cũng bị phạt hàng chục năm tù, vợ Phách không đủ nhẫn nại nuôi con chờ chồng. Trần Văn Đỡ thì ngậm ngùi cho mối tình giữa anh với Nguyễn Thị Bé Diễm – cô không tha thứ khi anh nghe lời các điều tra viên, khai rằng cô biết “kế hoạch giết người” mà không tố cáo, khiến cô vướng vòng lao lý một cách oan uổng…
Có thể vì không hiểu rằng, tìm được một người “không tố giác tội phạm” sẽ khiến cáo buộc “giết người” trở thành vững như bàn thạch nên Bé Diễm không thông cảm cho Đỡ. Cơ quan Điều tra của Công an tỉnh Sóc Trăng hơn hẳn Bé Diễm, vụ “giết người” nào mà họ điều tra cũng có người bị đề nghị truy tố vì “không tố giác tội phạm”!
Hồi tháng 8 năm 2012, ông Lâm Tài Mấu ngụ tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng bị chết do có người đánh vào đầu. Cơ quan Điều tra của Công an tỉnh Sóc Trăng bắt ông Phạm Văn Lé, xác định ông là thủ phạm vụ án mạng này. Ngoài ông Lé, Cơ quan Điều tra của Công an tỉnh Sóc Trăng còn bắt vợ ông Lé là bà Thạch Thị Xem và em ông Lé là ông Phạm Văn Lến (một người bị bệnh tâm thần) vì “không tố giác tội phạm”. Không may cho Cơ quan Điều tra của Công an tỉnh Sóc Trăng là khi Tòa đưa cả ba ra xử, các “nhân chứng” cùng khẳng định, họ bị các điều tra viên dọa sẽ khởi tố vì “không tố giác tội phạm” nên họ buộc phải làm chứng gian chứ họ không hề chứng kiến sự việc. Ông Lé thì liên tục kêu oan, giải thích sở dĩ ông nhận tội là do bị tra tấn. Các luật sư bào chữa cho ông Lé và bảo vệ quyền lợi cho ông Mấu (người bị đánh chết) đều cùng cho rằng, Kết luận điều tra của Công an Sóc Trăng, Cáo trạng của Viện Kiểm sát Sóc Trăng có nhiều điểm phi lý, mâu thuẫn.
Tòa án tỉnh Sóc Trăng đã đưa vụ ông Lé “giết người” ra xử ba lần nhưng cả ba lần đều hoãn xử nửa chừng vì những điểm phi lý và mâu thuẫn đó. Năm 2013, Công an Sóc Trăng và Viện Kiểm sát Sóc Trăng lần lượt ban hành các quyết định tạm đình chỉ vụ án, hủy bỏ quyết định tạm giam rồi “tạm tha” ông Lé, ông Lến...
***
Trước sự phẫn nộ của công chúng đối với vụ bảy thanh niên không giết người vẫn cúi đầu nhận tội, hồi tháng 6 năm 2014, Giám đốc Công an tỉnh Sóc Trăng đã quyết định cách chức, giáng cấp năm sĩ quan cấp tá, ba sĩ quan cấp úy. Đại tá Đợi phải kiểm điểm, rút kinh nghiệm, dù ở Sóc Trăng không chỉ có hai oan án như vừa kể. Chừng đó dẫu đã đủ chứng tỏ sự nghiêm minh của hệ thống bảo vệ pháp luật nhưng lại có nhiều người không ưng. Thư tố cáo đại tá Đợi như bươm bướm bay lượn nhiều nơi. Cực chẳng đã, Ủy ban Kiểm tra của Tỉnh ủy Sóc Trăng phải nhập cuộc. Ngoài việc xác định đảng viên Thái Văn Đợi liên đới trách nhiệm về các oan án mà thuộc cấp của ông đã gây ra, trong quyết định “cảnh cáo” đảng viên Thái Văn Đợi, Ủy ban Kiểm tra của Tỉnh uỷ Sóc Trăng giải thích thêm rằng, họ quyết định như thế còn vì ông Đợi đã “mượn đất” của Công ty Chế biến thực phẩm Phương Nam.
Công ty Chế biến thực phẩm Phương Nam - một trong những doanh nghiệp từng dẫn đầu lĩnh vực xuất cảng thủy sản ở Việt Nam đột nhiên vỡ nợ năm 2013. Tuy nhiên khoản nợ 1.600 tỉ của công ty này đã có năm ngân hàng chia nhau gánh vác, bởi gia đình ông Lâm Ngọc Khuân – chủ Công ty Chế biến thực phẩm Phương Nam - đột nhiên mất tích. Năm 2015, hai thuộc cấp của ông Khuân và 25 viên chức ngân hàng dắt nhau vào tù, thay ông Khuân gánh hậu quả của vụ “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Ủy ban Kiểm tra của Tỉnh uỷ Sóc Trăng không cho biết đại tá Đợi “mượn đất” của Công ty Chế biến thực phẩm Phương Nam vào thời điểm nào? Chuyện “mượn đất” của một Phó Giám đốc kiêm Thủ trưởng Cơ quan Điều tra Công an một tỉnh đó có ảnh hưởng gì đến việc phát giác - ngăn chặn một trong mười vụ mà Ban Chỉ đạo Phòng – CHống tham nhũng của Việt Nam xác định là “đại án tham nhũng” hay không? Thế nhưng nâng hình thức kỷ luật từ “kiểm điểm, rút kinh nghiệm” thành “cảnh cáo” rõ ràng là… nghiêm minh hơn rồi.
Cũng vì vậy, theo Ủy ban Kiểm tra của Tỉnh uỷ Sóc Trăng, đại tá Đợi cho biết sẽ khiếu nại vì “cảnh cáo” là… quá nặng!

‘Tăng trưởng 7,46%’ do in tiền và đẩy tiền ồ ạt?

Phạm Chí Dũng
 Theo VOA-18/10/2017
Tăng trưởng là do in tiền ồ ạt?
 Tăng trưởng là do in tiền ồ ạt?
Ngay trước thời điểm diễn ra hội nghị trung ương 6 của đảng cầm quyền vào đầu tháng 10/2017, phía chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc đã tung ra bản báo cáo với thành tích tăng trưởng kinh tế quý 3/2017 lên đến 7,46%, và còn dự kiến quý 4/2017 sẽ đạt tỷ lệ tăng trưởng 7,31%, để tính chung cả năm 2017 có mức tăng trưởng là 6,7%.
Trong bài diễn văn của mình, ông Nguyễn Phú Trọng lặp lại những tỷ lệ trên với thái độ có vẻ hài lòng.
Ứng cử viên tổng bí thư
Sau vụ cả hai ông Đinh Thế Huynh và Trần Đại Quang đều thình lình “bị bệnh”, danh sách ứng cử viên cho chức vụ tổng bí thư một khi Nguyễn Phú Trọng nghỉ đã rút ngắn hẳn. Theo đó, Nguyễn Xuân Phúc vẫn giữ vị trí cố định và được xem là “đầy tiềm năng”. Năng lực của ông Phúc còn trở nên “đặc thù” hơn nữa khi ông là một trong số hiếm hoi ủy viên bộ chính trị được xem là “có chuyên môn và kinh nghiệm điều hành kinh tế”, dù rằng thành tích điều hành vẫn còn lạc nhịp xa với thực tế của một nền kinh tế đầy rẫy nạn tham nhũng, thất thoát và suy thoái đến năm thứ 9 liên tiếp tính từ 2008.
Không biết vô tình hay hữu ý, từ tháng Bảy năm 2017 khi có tin “Trịnh Xuân Thanh về”, sự xuất hiện của Nguyễn Xuân Phúc trên mặt báo chí nhà nước là dày đặc hơn hẳn, không mấy kém thua “hiện tượng ồn ào Đinh La Thăng” vào năm 2016. Một trong những xuất hiện dày nhất của ông Phúc là đi thăm các tỉnh thành cùng phát ngôn lặp đi lặp lại về “đầu tàu kinh tế” dành cho nhiều địa phương.
Thời Nguyễn Tấn Dũng không mấy sính dùng “đầu tàu kinh tế” mà là “quả đấm thép”, cho dù rất nhiều “quả đấm thép” như Vinashin Vinalines cùng ít nhất 12 dự án ngàn tỷ đã trở nên mục rữa cho tới giờ.
Hẳn nhiên có thể nhận ra rằng ông Nguyễn Xuân Phúc đang rất cần những thành tích kinh tế để tôn tạo vai trò không chỉ thủ tướng mà còn ứng cử viên tổng bí thư.
Tuy nhiên, ngày càng dày đặc dấu hiệu cho thấy ông Phúc đang sa vào lối mòn về chủ nghĩa cường điệu và khoe khoang thành tích không biết chán của Nguyễn Tấn Dũng.
Quốc hội cũng phản ứng
Nhiều con số mà ông Phúc “đọc” từ báo cáo của các cơ quan tham mưu như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước… đã chẳng mấy thuyết phục về tính cơ sở khoa học của nó.
Đến nỗi, tại phiên họp của Ủy ban thường vụ quốc hội vào giữa tháng 10/2017, Chủ tịch quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã phải đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Tăng trưởng GDP 6,7% nhưng tăng thu ngân sách so với dự toán chỉ 2,3%? Giải ngân vốn đầu tư thì chậm mà tăng trưởng lại cao, điều này nghe có mâu thuẫn?...”.
Quả thực, số thu ngân sách trong 10 tháng đầu năm 2017 đã bị hụt thu so với dự toán đầu năm ít nhất 7-8%. Nhiều địa phương không đạt kế hoạch thu ngân sách như những năm trước, phản ánh một thực trạng ngày càng đen tối là tình hình sản xuất và kinh doanh của nhiều doanh nghiệp đang rất khó khăn và bế tắc đầu ra.
Tỷ lệ số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động và phá sản vẫn tăng so với cùng kỳ năm 2016. Trong khi đó, con số mà cuối cùng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phải thừa nhận là có đến hơn 200.000 cử nhân, thạc sĩ ra trường bị thất nghiệp. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp chung là cao hơn rất nhiều mức công bố chỉ có hơn 2%: đến hơn 20% - theo đánh giá của những nhà phân tích và phản biện độc lập.
Nhiều phân tích độc lập cũng đánh giá GDP thực chất của Việt Nam chỉ vào khoảng 1-2%.
Vậy làm thế nào để GDP trong báo cáo của Thủ tướng Phúc có thể vọt đến 6 - 7%?
In tiền và đẩy tiền ồ ạt ra thị trường?
Hãy nhìn vào công thức tính GDP của một nền kinh tế:
GDP = C + G + I + NX
Trong đó, C (tiêu dùng) là tất cả chi tiêu hoặc tiêu dùng cá nhân trong nền kinh tế của một quốc gia; G là chi tiêu chính phủ; I (đầu tư) là tổng số lượng đầu tư vốn kinh doanh của một quốc gia; NX (xuất khẩu ròng) là tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của quốc gia trừ đi tổng giá trị nhập khẩu.
Về tiêu dùng, đã từ lâu C - tức người dân - phải thắt lưng buộc bụng trong bối cảnh nền kinh tế đã suy thoái đến năm thứ 9 liên tiếp. Còn G, từ năm 2015 đến nay, đã phải cắt giảm ngày càng mạnh, nếu không muốn rơi vào tình cảnh không còn tiền trả lương công chức viên chức.
Trong khi đó, NX trong 3 quý đầu năm 2017 là gần như bằng 0, nghĩa là giá trị xuất khẩu bằng giá trị nhập khẩu.
Chỉ còn lại phần đầu tư I thì may ra mới có thể khiến “tăng trưởng GDP 7,46%”.
Liên quan đến I, cần tham khảo một hiện tượng tài chính và tín dụng: chưa bao giờ ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại ngập tiền như hiện thời!
Bởi dư nợ cho vay của khối ngân hàng vào cuối năm 2016 đã lên tới 6 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần so với 6-7 năm trước.
Và “để hoàn thành kế hoạch tăng trưởng 6,7% như mục tiêu đề ra” cùng “Thủ tướng chính phủ đã giao nhiệm vụ cho ngân hàng nhà nước cố gắng nâng mức tăng trưởng tín dụng năm 2017 lên 21%-22% thay vì mức 18% như kế hoạch đề ra từ đầu năm,” khối ngân hàng thương mại đang mang trên mình sứ mệnh phải cấp tốc đẩy ra thị trường một lượng tiền khổng lồ lên tới 1,2 triệu tỷ đồng trong năm 2017.
Có một nguồn cơn - rất có thể mang tính quyết định - mà đã khiến cho hệ thống ngân hàng không cách nào tránh được tình trạng tràn ứ tiền đồng: in tiền.
Vào năm 2008, tổng dư nợ cho vay của khối ngân hàng là 2,3 triệu tỷ đồng, nhưng đến cuối năm 2016 đã lên đến hơn 6 triệu tỷ đồng, chưa kể tồn khoảng 1,2 triệu tỷ đồng. Phải chăng một cách tương ứng, lượng tiền được Ngân hàng nhà nước cho in và bổ sung vào lưu thông đã có thể vào khoảng 500.000 tỷ đồng mỗi năm, tức phần “lạm phát in tiền” đã chiếm đến 10 - 15% hàng năm – một tỉ lệ in tiền rất cao so với tỉ lệ in tiền bình quân của các nước phương Tây?
Tốc độ in tiền bất chấp lạm phát cũng lý giải việc tại sao trong những năm qua và đặc biệt trong mấy năm gần đây, giới cán bộ hưu trí lại thường phản ánh nhận được lương hưu với nhiều tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng và 500.000 đồng, mới cứng và chắc chắn chưa được lưu hành ngoài thị trường.
Gần đây, Ngân hàng thế giới (WB), một trong những chủ nợ lớn nhất của Việt Nam, đã phải cảnh báo Việt Nam không nên in tiền quá nhiều.
Nếu khả năng in tiền ồ ạ là có cơ sở, lẽ đương nhiên thị trường tín dụng phải tràn ngập tiền, để nguồn tiền quá dư dả nhưng khó có lối thoát này lại trở thành “động lực kiến tạo” khiến GDP quốc gia tăng vọt trong các báo cáo của chính phủ, dẫn đến phản ứng của chính Quốc hội.
Trong thời gian gần đây, có những biểu hiện cho thấy bà Kim Ngân và một phần trong giới quan chức lãnh đạo của Quốc hội có hơi hướng muốn “tách khỏi chính phủ”, thay cho tư thế quá phụ thuộc và chỉ biết “gật” thời chủ tịch quốc hội cũ là Nguyễn Sinh Hùng trước thủ tướng cũ là Nguyễn Tấn Dũng.
Biểu hiện “độc lập tương đối” mới nhất của Quốc hội là đã đủ can đảm lắc đầu trước tờ trình của Chính phủ về tăng thuế bảo vệ môi trường từ 3.000 đồng vọt đến 8.000 đồng mỗi lít xăng. Hẳn là bà Kim Ngân đã hiểu quá rõ là phía chính phủ muốn đá quả bóng vào chân Quốc hội và cột chặt trách nhiệm của Quốc hội vào Luật thuế Bảo vệ môi trường, để nếu thông qua luật này thì chính bà Kim Ngân và dàn lãnh đạo Quốc hội sẽ trở thành tâm điểm bị hàng chục triệu dân Việt cùng báo chí cả “lề phải” lẫn “lề trái” công kích lẫn lên án, trong khi nhóm lợi ích xăng dầu vừa cười cợt vừa ung dung móc sạch túi dân chúng.

Bộ Ngoại giao ở đâu trong cán cân quyền lực chính trị Việt Nam

Kính Hòa RFA 2017-10-18   
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. 22/9/2017.
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. 22/9/2017.AFP
Trong Hội nghị trung ương đảng cộng sản Việt Nam lần thứ Sáu vừa diễn ra vào đầu tháng 10, 2017, Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh đọc một báo cáo về dân số. Sau khi hội nghị này kết thúc người ta lại thấy ông Phạm Bình Minh đi thị sát đê điều ở tỉnh Thanh Hóa, một việc không có liên quan gì tới ngành ngoại giao.
Nghi ngại về tương lại chính trị của Bộ trưởng Bộ ngoại giao
Theo dõi diễn tiến Hội nghị trung ương đảng lần thứ Sáu từ Pháp, ông Bùi Tín, cựu Đại tá quân đội nhân dân Việt Nam, cho rằng cái cách Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam xuất hiện trong hội nghị này là một việc rất trái khoáy:
“Chuyện trái khoáy, lẽ ra ông ấy là Bộ trưởng Bộ ngoại giao, ông ấy phải báo cáo những vấn đề nổi cộm nhất về ngoại giao, đó là mối quan hệ giữa Cộng hòa Liên bang Đức với Việt Nam. Không được báo cáo về ngoại giao nên giao cho ông ấy việc này để ông ấy có xuất hiện, có báo cáo chút ít.”
Ông Bùi Tín từng làm đến Phó Tổng biên tập báo Nhân dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông đào thoát sang Pháp vào năm 1990, và sống lưu vong ở đó cho đến nay. Quan hệ ngoại giao Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức mà ông Bùi Tín đề cập chính là việc nước Đức cáo buộc Việt Nam sang Đức bắt cóc một nghi phạm tham nhũng là ông Trịnh Xuân Thanh, đang xin qui chế tị nạn tại đây. Chính phủ Đức đã tuyên bố dừng lại những quan hệ chiến lược giữa hai quốc gia.
Tôi có cảm giác là nghi ngờ vai trò của ông Phạm Bình Minh trong thời gian tới, thậm chí nghi ngờ tương lai và vận mệnh chính trị của cá nhân ông.
-Tiến sĩ Phạm Chí Dũng.
Một nhà quan sát trong nước là Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, sống tại Sài Gòn lại thấy hình ảnh ông Phạm Bình Minh đọc báo cáo về dân số, giống với hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp mấy chục năm về trước:
“Cách đây 40 năm, ông Võ Nguyên Giáp, ủy viên Bộ chính trị và cũng được coi là một vị tướng lẫy lừng, đã bị Bộ chính trị phân công phụ trách kế hoạch hóa gia đình. Hai sự kiện, một là của ông Võ Nguyên Giáp cách đây 40 năm, và ông Phạm Bình Minh hiện nay, làm cho tôi có cảm giác là nghi ngờ vai trò của ông Phạm Bình Minh trong thời gian tới, thậm chí nghi ngờ tương lai và vận mệnh chính trị của cá nhân ông.”
Ông Bùi Tín cũng đồng ý với nhận xét này, và ông còn đưa ra một lý do khác là ông Phạm Bình Minh là con trai của cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, người có quan niệm cứng rắn trong các quan hệ với Trung Quốc, không giống với một số người có quyền lực trong đảng.
Một nền ngoại giao trong cái bóng của đảng
Ông Phạm Bình Minh hiện là Ủy viên Bộ chính trị, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên ông được vào cơ quan này chỉ mới từ khi Đại hội đảng toàn quốc lần thứ 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng Hai năm 2016. Trước đó, năm 2011, ông bắt đầu đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao khi mới chỉ là Ủy viên Trung ương Đảng, cơ quan bên dưới của Bộ chính trị.
Vào năm 2014, Giáo sư Vũ Tường, giảng dạy khoa chính trị tại Đại học Oregon ở Mỹ, có nhận xét với đài RFA về vị thế của ông Phạm Bình Minh nếu ông được vào Bộ Chính trị.
“Hơn một chút, nhưng ông Phạm Bình Minh vẫn cô thế trong bộ chính trị. Bộ chính trị họ vẫn theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, mà đa số vẫn là những người bên công an, quân đội, đảng. Ông Phạm Bình Minh mà có vào được bộ chính trị thì có thể là có thêm một tiếng nói tốt nhưng mà cũng chưa đủ so với phía bên kia.”
Sau Đại hội đảng lần thứ 12, diễn ra đầu năm 2016, rất nhiều viên chức cao cấp của ngành công an và quân đội lên nắm quyền trong trung ương đảng lẫn bộ chính trị.
Trong thực tế cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều lần vai trò của Bộ Ngoại giao trở nên mờ nhạt bên cạnh các viên chức Đảng.
Trong thời gian đàm phán tại Paris để kết thúc chiến tranh Việt Nam, vào năm 1972, 1973, ông Xuân Thủy là Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa lúc bấy giờ, nhưng mọi quyết định ngoại giao đều nằm trong tay ông Lê Đức Thọ, Trưởng Ban tổ chức trung ương Đảng.
Trong hai năm 2015, 2016, các viên chức đảng liên tục thực hiện những chuyến đi ngoại giao, đó là các ông Phạm Quang Nghị, Nguyễn Phú Trọng, Đinh Thế Huynh, đến Hoa Kỳ.
Trong năm 2017, một viên chức cao cấp khác của đảng là ông Hoàng Bình Quân lại đến Hoa Kỳ nêu ra những vấn đề thương mại song phương. Ông Hoàng Bình Quân hiện phụ trách cơ quan đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cán bộ tầm trung trong Trung ương đảng cũng tỏ ra có vai trò trong việc có ý kiến bởi vì họ được xem, được nhìn những tài liệu mà bên ngoại giao chỉ có các quan chức cấp vụ mới biết.
-Ông Đặng Xương Hùng.
Giải thích với chúng tôi về cơ quan này, ông Đặng Xương Hùng, một cựu viên chức Bộ Ngoại giao Việt Nam, hiện đang tị nạn chính trị tại Thụy Sĩ nói rằng cũng giống như tất cả các cơ quan khác trong hệ thống song trùng Đảng-Nhà nước, lĩnh vực ngoại giao có Bộ ngoại giao của chính phủ và Ban đối ngoại trung ương của đảng. Theo ông Hùng cơ quan đối ngoại này, về nguyên tắc là trông coi mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các đảng cộng sản khác, chứ không hẳn là thay cho Bộ ngoại giao, nhưng vì cơ quan này trực thuộc trực tiếp vào Bộ chính trị, cơ quan quyền lực nhất đất nước, cho nên những người trong ban này cũng có thể xen vào công việc đối ngoại của quốc gia.
“Cán bộ tầm trung trong Trung ương đảng cũng tỏ ra có vai trò trong việc có ý kiến bởi vì họ được xem, được nhìn những tài liệu mà bên ngoại giao chỉ có các quan chức cấp vụ mới biết.”
Ông Đặng Xương Hùng và ông Bùi Tín đều cho rằng đã có những lúc Bộ ngoại giao Việt Nam rất mạnh trong cán cân quyền lực nội bộ của đảng cộng sản, như là dưới thời các ông Nguyễn Duy Trinh và Nguyễn Cơ Thạch. Nhưng, theo ông Hùng, kể từ khi ông Nguyễn Cơ Thạch bị thất sủng vì nêu ý kiến cứng rắn trong việc nối lại quan hệ với Trung Quốc trước Hội nghị Thành Đô, năm 1995, vai trò của Bộ Ngoại giao trở nên yếu đi so với các viên chức đảng.
Theo ông Đặng Xương Hùng, các viên chức ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài thường không dám đưa ra những quyết định độc lập trong các vấn đề ngoại giao:
Đánh một cái điện về trong nước, nói: đấy chuyện nó thế này, hướng xử lý thế nào. Có thể các ông ấy cũng gợi ra một vài ý cho trong nước. Rồi các ông ấy đợi ý kiến trong nước, khi có ý kiến trong nước rồi thì các ông ấy cứ rập khuôn mà nói. Không dại gì mà tỏ ra cầm đèn chạy trước ô tô trong các vấn đề đó. Những kinh nghiệm cầm đèn chạy trước ô tô, đối với cộng sản, đều là không phù hợp.”
Ông Hùng nói tiếp là dù sao các cơ quan ngoại giao Việt Nam cũng là nơi có thể có những ý tưởng mới, vì các viên chức ngoại giao là những người có tiếp xúc với những người khác nhau trên thế giới, với tầm nhìn không bị bó buộc.
Thực tế cho thấy là trong những thập niên gần đây, nhiều viên chức ngoại giao Việt Nam, từ cấp bộ trưởng cho đến các vị đại sứ được đào tạo từ các trường ngoại giao chuyên nghiệp của phương Tây, trong đó, con số tốt nghiệp từ các trường của Hoa Kỳ không phải là nhỏ. Nhưng, theo nhận xét của ông Đặng Xương Hùng, hiện tượng đó chưa hẳn là một chủ trương của đảng cộng sản, mà chỉ là nổ lực thăng tiến của bản thân những viên chức ngoại giao đó mà thôi.

Làm sao giảm thiểu những cái chết “đúng quy trình” trong mưa lũ?

Hòa Ái, phóng viên RFA 2017-10-18   
Một gia đình người Hmông đang đi bộ giữa những ngôi nhà bị phá hủy sau trận lũ quét tại Mù Cang Chải, Yên Bái, hôm 4 tháng 8 năm 2017.
Một gia đình người Hmông đang đi bộ giữa những ngôi nhà bị phá hủy sau trận lũ quét tại Mù Cang Chải, Yên Bái, hôm 4 tháng 8 năm 2017.Photo: AFP
Số người thiệt mạng trong các đợt mưa lũ hàng năm tại Việt Nam lên đến hàng chục hay hàng trăm người. Và dư luận càng thêm phẫn nộ khi các cơ quan chức năng luôn khẳng định đã ứng phó với thiên tai một cách “đúng quy trình”.

Chết bởi nhân tai?

“Hôm bị bão lũ, chỗ khe suối bé tí thôi nhưng nước nhiều và chảy rất xiết. Lúc ấy tầm 3:30 sáng, cậu em vẫn ở trong lán và bị lũ cuốn trôi. Ở đó cũng có mấy nhà hàng xóm bị trôi. Có một nhà mất luôn 5 người, với lại một nhà khác bị mất một đứa con.”
Đây là chia sẻ của một cô gái dân tộc Thái, ở bản Hát, xã H Lìu, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái về người cậu tên Mè Văn Hướng bị lũ cuốn trôi vào khi trời chưa sáng trong ngày 11 tháng 10 và đến ba ngày sau mới tìm được xác cách xa tận 50 cây số.
Không chỉ có 7 người bị thiệt mạng tại bản làng của người thiểu số như vừa nêu mà có đến 72 người chết, 30 người bị mất tích và 33 người bị thương trong đợt lũ lịch sử vừa qua ở khu vực các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, theo thông báo trên website của Chính phủ Việt Nam, đăng tải vào ngày 16 tháng 10.
Hôm bị bão lũ, chỗ khe suối bé tí thôi nhưng nước nhiều và chảy rất xiết. Lúc ấy tầm 3:30 sáng, cậu em vẫn ở trong lán và bị lũ cuốn trôi. Ở đó cũng có mấy nhà hàng xóm bị trôi. Có một nhà mất luôn 5 người, với lại một nhà khác bị mất một đứa con
-Người dân ở Yên Bái
Trước những số liệu về thiệt hại tài sản và nhân mạng được cho là quá nhiều chỉ trong vòng vài ngày mưa lũ quét qua, dư luận dấy lên sự phẫn nộ tột cùng khi giới chức của các cơ quan chức năng tuyên bố “Thủy điện Hòa Bình mở 8 cửa xả đáy là hoàn toàn đúng quy trình” hay “Đê Hữu Bùi tại Chương Mỹ, Hà Nội vỡ theo kế hoạch” và “Trong đó có nguyên nhân chủ quan của người dân”.
Trong tình thế thiên tai diễn ra liên tục khắp nơi trên toàn cầu và Việt Nam nằm ở vị trí nhìn ra biển Đông nên hứng chịu tai hoạ của thiên nhiên là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, điệp khúc thương tâm mà người dân phải nhận lãnh trong mỗi mùa mưa lũ hàng năm bị quy cho là lỗi bởi “nhân tai”, trong đó, chính quyền không thừa nhận trách nhiệm thuộc về họ.
Một ví dụ điển hình qua câu hỏi của cư dân mạng, có tên GV Tran rằng “hàng ngàn héc-ta rừng biến mất lâu nay, mưa triền miên nhiều ngày, thủy điện Hòa Bình xả 8 cửa đập vào sáng ngày 11, nước từ thượng nguồn đổ về theo con thác Khanh, tạo ra nhiều thác nước trải dài từ trên triền núi. Rạng sáng ngày 12, lở núi xóm Khanh. Có sự liên quan nào không?” Thế nhưng những thắc mắc như vậy được lãnh đạo đập thủy điện Hòa Bình, ông Đặng Trần Công giải thích với báo chí là người chết không phải do xả lũ của hồ gây ra, mà bởi mưa lớn gây sạt lở đất, lũ cuốn ở sông và suối nhỏ.
Trong khi đó, vào chiều ngày 16 tháng 10, Tổng cục trưởng Tổng cục Phòng, chống thiên tai, ông Trần Quang Hoài cho rằng một trong những nguyên nhân chính gây ra lũ quét, sạt lở là do phá rừng. Ông Trần Quang Hoài còn nhấn mạnh Việt Nam sẽ tiếp tục trả giá vì nhiều rừng và đồi núi đã bị “cạo trọc”.

Cần làm gì để giảm thiểu?

Để tìm kiếm giải pháp làm thế nào đối phó với nạn phá rừng tại Việt Nam, Đài RFA trao đổi với một số chuyên gia ở trong nước và được cho biết có hai biện pháp cấp thiết, bao gồm các cơ quan pháp luật phải nghiêm khắc trong việc kiểm soát chống lại lâm tặc và cần làm cho người dân ý thức bảo vệ nguồn lợi rừng.
Mặc dù vậy, giải pháp thứ nhất dường như gặp nhiều thách thức vì những vụ phá rừng mới nhất, bị phát hiện trong năm 2017, có sự cấu kết giữa lâm tặc với chính quyền. Truyền thông quốc nội, trong tháng 7 và tháng 8 vừa qua, đưa tin vụ phá rừng gỗ quý pơ-mu ở Quảng Nam và phá rừng ở Yên Bái có sự thông đồng của công an biên phòng với lâm tặc hay có người chống lưng cho những hoạt động này.
Cách đây 30 năm, trong một đề tài nghiên cứu về Tây nguyên những năm 80. Lúc bấy giờ chúng tôi đi nghiên cứu và thấy rằng vì đồng bào ở Tây nguyên khổ quá, người ta phải phá rừng đốt nương làm rẫy nên chúng tôi có một kiến nghị là giảm bớt lượng xuất khẩu gạo và lấy gạo xuất khẩu ở đồng bằng Sông Cửu Long mang lên miền núi nuôi dân để dân bảo vệ rừng... Nhưng mà chả ai nghe
-Giáo sư Tương Lai
Về giải pháp thứ hai, theo ghi nhận của chúng tôi, nhiều chuyên gia đã từng nghiên cứu cũng như đề nghị với Chính phủ Hà Nội từ những thập niên trước và đến nay các đề nghị này vẫn không được lắng nghe.
Giáo sư Tương Lai, nguyên Phó Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam cho biết ông từng tham gia trong một nhóm nghiên cứu về Tây nguyên. Các chuyên gia đã nhìn thấy viễn cảnh hậu quả mà quốc gia phải gánh chịu do tình trạng phá rừng từ khi có chương trình “kinh tế mới” và dù người dân tộc thiểu số gắn bó mật thiết với rừng nhưng họ cũng bắt chước người Kinh phá rừng vì nhu cầu đời sống thường nhật. Giáo sư Tương Lai nói với RFA:
“Cách đây 30 năm, trong một đề tài nghiên cứu về Tây nguyên những năm 80. Lúc bấy giờ chúng tôi đi nghiên cứu và thấy rằng vì đồng bào ở Tây nguyên khổ quá, người ta phải phá rừng đốt nương làm rẫy nên chúng tôi có một kiến nghị là giảm bớt lượng xuất khẩu gạo và lấy gạo xuất khẩu ở đồng bằng Sông Cửu Long mang lên miền núi nuôi dân để dân bảo vệ rừng. Như vậy, rừng được bảo vệ, dân được no và đất nước sẽ được quản lý. Bởi vì phá rừng thì 30-50-100 năm sau, đất nước sẽ chịu thảm họa môi trường. Giấy tờ kiến nghị vẫn còn đây. Tôi đang còn giữ cuốn sách ‘Tây nguyên trên đường phát triển’, trong đó có kiến nghị của chúng tôi, nêu rất rõ, ký tên hẳn hoi. Nhưng mà chả ai nghe cả.”
Sau đợt lũ lịch sử hồi trung tuần tháng 10, nhiều cư dân mạng lên tiếng kêu gọi đã đến lúc Chính phủ Việt Nam cần thiết tổ chức các hội thảo khoa học để giảm thiểu những thiệt hại về người và của trong mùa mưa lũ, như Facebooker Nguyễn Phước Anh Dũng, hiện làm việc tại trường Đại học Chulalongkorn University, Thái Lan chia sẻ đã từng nghiên cứu đề tài liên quan đến việc điều tiết xả lũ đập thủy điện một cách hiệu quả và ông sẵn sàng tham gia nếu Nhà nước Việt Nam cho phép; hay cư dân mạng Loi Phan, ở Đức lên tiếng sẽ quyên góp một tháng lương cho các nghiên cứu khoa học xoay quanh chủ đề “Xả lũ đập thủy điện, nguyên nhân, hậu quả và cách chống lại".
Giáo sư Tương Lai cũng cho rằng rất cần tổ chức các hội thảo khoa học như thế, nhưng phải mời những chuyên gia tài giỏi và trung thực chứ không nên tổ chức mang tính chất hình thức với rất nhiều chuyên gia  đến tham  dự để phát biểu những điều ”bốc thơm” nhằm mục đích làm vừa lòng lãnh đạo mà thôi.

Các doanh nghiệp bị thiệt hại do Formosa vẫn chưa được bồi thường

RFA-2017-10-18   
Những con cá chết nằm trên một bãi biển ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình hôm 20/4/2016.
Những con cá chết nằm trên một bãi biển ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình hôm 20/4/2016.AFP photo
Ngày 17/10 vừa qua, Việt Nam cho biết đã bồi thường 97,4% số tiền thiệt hại cho các nạn nhân chịu tác động của thảm họa môi trường Formosa xảy ra vào tháng 4 năm ngoái tại các tỉnh Bắc Trung bộ.
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nói rõ là tính đến ngày 4/10, số tiền các tỉnh bồi thường cho người dân đạt gần 6.200 tỷ đồng. Những hộ chưa được bồi thường là do không có mặt ở địa phương hoặc chờ giải quyết khiếu nại.
Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình thì nói rằng đến thời điểm kết thúc mà chưa chi trả xong thì gửi ngân hàng để khi nào bà con về thì đền bù cho họ.
RFA trao đổi với ông Anh, chủ cơ sở hải sản đông lạnh Tuyết Anh, một doanh nghiệp lớn ở Lộc Hà, Hà Tĩnh. Ông Anh cho biết hơn một năm nay ông nộp đơn từ khắp nơi kêu cứu mà vẫn chưa được một đồng bồi thường:
Chưa được đồng nào. Nó cứ lừa lên lừa xuống, nó đẩy kiểu nó, nói kiểu kia. Chưa được một nghìn nào mà thiệt hại rất lớn.
Ra Bộ nộp đơn thì họ bảo về tỉnh hỏi. Tỉnh thì bảo giờ đang kiến nghị ngoài Trung ương.
Tiền đó là tiền của dân thì phải bồi thường cho dân chứ.
Trước mình tự kê khai rồi nó kiểm đếm, chốt sổ và niêm phong. Bây giờ phải mở niêm phong bán mà bán cũng không được. Nó bị thối, hư hỏng hết cả rồi.
Ra Bộ nộp đơn thì họ bảo về tỉnh hỏi. Tỉnh thì bảo giờ đang kiến nghị ngoài Trung ương.
- Dân Hà Tĩnh
Theo lời ông Anh thì năm ngoái đích thân Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình, cùng Chủ Nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng đến thị sát khu vực Lộc Hà sau khi thảm họa xảy ra, và có ghé thăm cơ sở của ông. Cả hai lãnh đạo cao cấp đều hứa với người dân rằng Chính phủ sẽ có biện pháp chỉ đạo giải quyết thỏa đáng cho người dân. Tuy nhiên từ bấy đến nay đâu vẫn hoàn đó.
Ông Anh nói rằng nhiều trường hợp giống gia đình ông phải cho con nghỉ học đi đến cơ quan chức năng cầu cứu. Nợ nần ngân hàng và nợ dân tới gần chục tỷ đồng và họ dọa nếu không trả sẽ giết gia đình ông.
Ông cho biết hoàn cảnh gia đình hiện tại:
Rất khó khăn. Hầu như không phải mình vợ chồng anh mà nhiều gia đình bị như vậy. Những trường hợp vấp ngã như anh bây giờ triệt hẳn [con đường sống] và nói chung là khốn đốn đến cùng luôn.
Bây giờ không có đồng vốn để khôi phục lại nghề nghiệp mà hoàn toàn mất trắng luôn.
formosa
Người dân mang băng rôn phản đối Formosa gây nhiễm độc biển.danlambao

Chúng tôi cũng liên lạc với bà Huynh, một ngư dân tỉnh Quảng Bình, để hỏi về tình hình bồi thường tại khu vực này. Bà Huynh cho biết bản thân bà đã được đền bù với số tiền hơn 17 triệu đồng. Ngoài ra, bà nhận thấy hầu hết các ngư dân bám biển đều được bồi thường, duy chỉ có những hộ kinh doanh đông lạnh hoặc hàng khô là chưa được.
Nhưng bà Huynh nói rõ rằng số tiền này không thỏa đáng so với những thiệt hại, mất mát của bà con:
Trong một năm dân tiêu thu biết bao nhiêu tiền, mà 17 triệu không đáng gì với họ.
Giờ hàng hóa đầy ắp trong nhà mà không tiêu thụ được. Nhà nước cho được 34 triệu [cho hai vợ chồng bà] thì ăn trong 2 tháng là hết.
Sau này buôn bán cái gì không biết nữa. Nghề biển cũng mất mùa không làm được. Khổ quá!
Tại một địa phương khác cũng trong diện chịu thiệt hại là tỉnh Quảng Trị. Người dân nói với chúng tôi những điều tương tự, đó là hầu hết ngư dân đã được bồi thường, tuy nhiên những chủ cơ sở hải sản khô và đông lạnh lại “chưa được một đồng nào”.
Gia đình chị Mỹ ở Quảng Trị cũng được bồi thường 17 triệu 460 ngàn vào tháng 7 vừa qua. Tuy nhiên, khi chúng tôi hỏi chị có hài lòng với số tiền này không, chị Mỹ nói:
Không thỏa đáng tại vì nhà chị làm lò hấp sấy cá, cũng buôn bán bị thiệt hại nhưng không thấy Nhà nước hỗ trợ. Nhà chị cũng đưa đơn đề nghị Trung ương bồi thường hấp sấy cá.
Giờ không đi biển được vì đi biển không có gì. Lò hấp cũng để không vậy đó. Nói chung hoàn cảnh khó khăn lắm vì có làm gì ra tiền đâu. Đi biển không được, ở nhà không có cá mà sấy.
Giờ hàng hóa đầy ắp trong nhà mà không tiêu thụ được. Nhà nước cho hai vợ chồng được 34 triệu thì ăn trong 2 tháng là hết.
- Dân Quảng Bình
RFA cũng liên hệ với chị Thương, một chủ cơ sở kinh doanh hải sản ở tỉnh Quảng Trị để xác minh thông tin họ không được bồi thường. Chị Thương cho biết cách đây mấy tháng chính quyền về cân đo hải sản của nhà chị và hứa rằng sẽ quay trở lại tịch thu và bồi thường. Tuy nhiên, đã trễ hẹn mà không thấy bóng dáng một cơ quan chức năng nào tới:
Lò hấp cá và kho đông của chị Nhà nước chưa bồi thường gì hết. Cá hai ba trăm thùng mà Nhà nước chưa về múc. Bữa trước họ hứa là trong nội tháng 7 họ sẽ đưa xe về họ múc. Mà giờ sắp hết tháng 10 rồi mà chưa thấy nhúc nhích.
Cá thì chết mà để lâu chạy [tủ đông] thì tốn tiền điện mà không chạy thì thối.
Từ một gia đình kinh doanh khá giả, sau thảm họa nhà chị lâm vào cảnh hết sức khó khăn, nợ nần chồng chất và phải đi hái cà phê thuê để kiếm sống qua ngày.
RFA đã liên lạc với Công ty Formosa Hà Tĩnh để hỏi thông tin về bồi thường nhưng đại diện phát ngôn báo chí của Formosa cho biết như sau:
Xin lỗi em không biết thông tin này. Em cũng là nhân viên nhỏ cấp dưới thôi nên không biết. Vấn đề chị hỏi em cũng không rõ.
Khi được yêu cầu cho gặp lãnh đạo, anh này nói rằng lãnh đạo công ty không trả lời báo chí.
Chúng tôi cũng liên lạc với chính quyền tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình để hỏi về chuyện bồi thường cho các cơ sở kinh doanh hải sản. Tuy nhiên, sau khi đặt vấn đề họ đều cúp máy.
Thảm họa môi trường Formosa xảy ra hồi tháng 4 năm ngoái làm cá, hải sản chết hàng loạt nổi trắng bờ biển 4 tỉnh Bắc trung bộ, khiến hàng trăm ngàn người dân mất sinh kế.
Công ty Formosa sau đó đã thừa nhận trách nhiệm và giao cho Chính phủ khoản tiền bồi thường 500 triệu đô la. Kể từ đó đến nay hàng loạt các cuộc biểu tình nổi lên vì người dân bất mãn với chính sách bồi thường họ cho là bất công của Nhà nước. Điển hình là vụ việc hôm mùng 2 tháng 10 năm ngoái, hàng ngàn người dân Hà Tĩnh tụ tập trước cổng công ty yêu cầu phải đóng cửa.
Tháng 4 vừa rồi, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu phải dứt điểm công tác bồi thường nạn nhân Formosa vào ngày 30/6/2017.