Sunday, August 30, 2015

Hội chứng Cộng sản

VietTuSaiGon — 08/28/2015 - 14:47

Sau gần hai mươi năm không gặp nhau, tôi gặp lại người bạn cũ, khác với cái thuở hai thằng rủ nhau đi phụ hồ, tối đến, buồn quá, lại rủ nhau thức đến 11h đêm, đợi lò mổ bò làm thịt xong, mua một ít lòng về luộc chấm mắm gừng, uống một xị rượu để sáng mai tiếp tục đi phụ hồ… Anh ta bây giờ giàu có, xe cộ, nhà cửa, tiền bạc rủng rỉnh… Nhưng nói chuyện một lúc, tôi thật sự giật mình và tự hỏi “không hiểu con người như thế này sao lại giàu được hay vậy ta?!”.

Sở dĩ tôi phải hỏi thầm như vậy vì tôi nhận ra giữa sự giàu có và tri thức của anh ta tỉ lệ nghịch đến độ khó tin. Nhưng không sao, tri thức không phải ai cũng có đủ để tỉ lệ thuận với sự giàu có, thậm chí có nhiều người giàu có tri thức nhưng lại nghèo tiền bạc. Chuyện ấy bình thường thôi. Vấn đề đáng bàn ở đây là quan điểm sống cũng như suy nghĩ, nhận định về xã hội của anh ta làm tôi bất ngờ.

Tôi vẫn luôn tin rằng với những người xuất thân từ gia đình nghèo khổ và bị ép chế bởi có lý lịch cha làm việc cho “ngụy quyền” như tôi và anh, chắc chắn khi vượt qua số phận, trở nên giàu có, kinh nghiệm sống cũng như những vết thương về lý lịch sẽ giúp tâm hồn chúng tôi trở nên đẹp hơn. Điều này tôi mường tượng giống như cây dó bầu sau khi bị mưa bão đánh tơi tả sẽ cho ra lõi trầm, chính cái lõi trầm khẳng định giá trị cũng như khả năng vượt thoát cái chết và thương tật của cây dó bầu. Điều đó cũng như chính sự giàu có, kinh nghiệm sống và sự tiến bộ sẽ khẳng định giá trị của con người sau một quá trình nghèo khổ, bị ép chế.

Nhưng không, tôi đã lầm, đó chỉ là sự tưởng tượng vô nghĩa của tôi. Anh bạn nghèo ngày xưa của tôi không những giàu có mà công tâm để nói là anh ta rất khốn nạn. Đương nhiên là anh ta chưa hề khốn nạn gì với cá nhân tôi nhưng anh lại khốn nạn với nhiều người khác nghèo khổ, khốn nạn với cộng đồng và xã hội.

Sau một thời gian dài làm phụ hồ, anh phất lên một cách bí ẩn, trở thành giàu có và nhận công trình xây dựng với một đội ngũ kĩ sư xây dựng và thợ thầy khá vững vàng. Không dừng ở đó, có đủ tiền bạc và đàn em, anh cho vay nặng lãi và nhanh chóng trở thành “đại gia” trong xã hội. Đã có nhiều người nghèo mất trắng mọi thứ bởi nợ anh ta, và anh ta không ngần ngại cho đàn em đến xiết nợ của người khác giữa ban ngày, mức lãi có khi lên đến 30% mỗi tháng khiến cho con nợ nhanh chóng kiệt quệ dưới tay anh ta. Nhưng không ai làm gì được anh ta vì anh chơi với các quan chức đứng đầu ngành an ninh tỉnh và huyện, chuyện nhậu nhẹt, chè chén và quà cáp đối với giới quan chức là chuyện thường ngày.

Có thể nói rằng nhờ vào các quan hệ, toa rập, chằng níu giữa anh ta và giới quan lại mà anh ta trở thành một loại Năm Cam mới, tinh vi và yên ổn hơn. Đặc biệt, khi nói chuyện, một hai anh bảo vệ đảng Cộng sản, anh bảo vệ đến độ tôi không dám nhắc đến hai từ này với anh. Bởi nếu nhắc đến mà không kèm với thái độ tôn kính thì không chừng anh ta đập bàn, cho đàn em xử mình như chơi. Vì thấy mức độ mê tín vào đảng của anh ta thì dễ dàng nhận ra kết cục như vậy.

Anh luôn đưa ra quan điểm nhân dân phải sống dưới sự che chở của đảng, phải tin vào đảng, thậm chí thần tượng đảng, thần tượng bác Hồ mới là người trưởng thành. Bằng chứng của sự trưởng thành này là anh đã rất giàu, chơi với giới quan chức và đẳng cấp của anh cũng ở trên cao, thuộc giới thượng lưu… Nghe anh nói một lúc, tôi chỉ thấy miệng đắng ngắt, không thể nhấp thêm ngụm bia nào nữa, vờ có việc gấp mà cáo lỗi, về trước.

Trên đường về, tôi sực nhớ đến câu nói của một anh bạn: “Đất nước này không phải chỉ có hơn ba triệu đảng viên Cộng sản đâu! Nó có đến hơn chín chục triệu đảng viên Cộng sản đó. Chúng ta đang sống trong một thứ hội chứng Cộng sản!”.

Anh này đưa ra quan điểm như vậy và cho rằng không chỉ có những đả
ng viên đã được kết nạp vào đảng Cộng sản mới là đảng viên, mà những thứ tư duy Cộng sản, hội chứng Cộng sản đã nhiễm dần vào máu huyết của người dân theo từng ngày, từng ngày, để đến một lúc, họ trở thành một đảng viên thụ động và còn yêu đảng, yêu Hồ Chí Minh ghê gớm hơn cả những đảng viên chính thức.

Sự mê tín vào đảng Cộng sản này được tích tụ một cách tiệm tiến trong quá trình tồn tại, nó chuyển hóa từ sợ hãi sang thỏa hiệp và cuối cùng là cơ hội. Nghĩa là với cách quản lý đầy sắc máu, nhà nước Cộng sản đã đẩy đại bộ phận nhân dân đến chỗ sợ hãi, đánh mất chính mình để tồn tại. Và đến một lúc nào đó, người ta cảm thấy những bất công, vô lý là chuyện bình thường, không có gì đáng bàn, người ta chấp nhận, thỏa hiệp với bất cộng, xem bất công và đàn áp như một lẽ đương nhiên. Và một khi đã xem điều đó là đương nhiên, người ta dễ dàng thích nghi để tìm ra cơ hội có lợi cho bản thân. Những kẻ cơ hội trong chế động Cộng sản đều là những kẻ có khuynh hướng phát triển như trên.

Và một khi đã nắm được cơ hội trên tay, người ta bắt đầu phát triển, mở rộng cơ hội. Đương nhiên cơ hội ở đây sẽ có đội trên đạp dưới, có toa rập, có đạp lên nỗi đau của đồng loại mà đi, có thủ đoạn và có cả sự bỉ ổi, vô luân. Bởi lẽ, đây là cơ hội dưới triều đại độc tài Cộng sản.

Và một khi thứ cơ hội này lan tỏa ra trên toàn xã hội, một thứ không khí khác bao trùm lện xã hội, một ông xe ôm hay một bà bán trứng vịt lộn cũng có thể là đảng viên không chính thức, bà ta có thể đấu tố hàng xóm, có thể tìm cách nịnh bợ ông chủ tịch phường, chủ tịch xã để lấn sang phía bà bán bánh mì một chút đất vỉa hè để đặt thêm bộ bàn. Và đương nhiên bà ta lấy làm hãnh diện vì mình có thế lực đảng trong tay! Ông xe ôm cũng thế, ông có thể trở thành một cộng sự viên đắc lực của ngành an ninh để đấu tố những kẻ nào dám nói xấu đảng, nói xấu bác Hồ, với ông, đây là một chiến công, mặc dù cho đến giờ ông không có nghề ngỗng gì, phải chạy xe ôm bởi cơ hội làm người của ông đã bị mất vì lý lịch “ngụy quân” của ông ta!

Đứng trên góc độ tạo ra hiệu ứng mê tín đảng và bao trùm không khí xã hội một thứ “hội chứng Cộng sản” thì rõ ràng là nhà cầm quyền độc tài Cộng sản Việt Nam đã rất thành công, không phải tốn xu nào vẫn tạo ra được hơn chín chục triệu đảng viên, trong đó có nhiều đảng viên không có thẻ nhưng lại có quyền lực đảng và yêu đảng hơn rất nhiều so với các đảng viên chính thức. Bởi với họ, sự giàu có, tài phiệt của họ hình thành là nhờ vào ơn đảng, ai đụng đến đảng là khó sống với họ!

Nhưng nhà cầm quyền Cộng sản, đảng Cộng sản quên mất một điều: Khi mà tấm thẻ đảng trở nên rẻ rúng, khi mà quyền lực đảng đã rơi vào tay tài phiệt và mafia, khi mà tính đảng không còn thiêng liêng như những ngày người ta chấp nhận đói khổ, rúc rừng, chịu sốt rét và bom đạn, cái chết để đi theo đảng… Thì lúc đó, cả một tập hợp đảng lại lúc nhúc những con vi trùng tội ác có thể làm cho cơ thể đảng nổ tung sau khi trương phình và tự hoại lẫn nhau. Đó là điều khó tránh khỏi trong lúc này!

VietTuSaiGon's blog

Chúng ta còn tiếp tục sống như thế này đến bao giờ ?

08/27/2015 - 15:50 — nguyenthituhuy
Tựa đề bài viết này của tôi lấy cảm hứng từ một câu châm ngôn của các trí thức Nga : “Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa », trong một phân tích rất đáng đọc « Mọi điều bạn tưởng bạn biết về sự sụp đổ của Liên Xô đều sai », của Leon Aron, do Trần Ngọc Cư dịch, đăng trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế :
Tôi không muốn xâm phạm tự do đọc và tự do tiếp nhận của quý độc giả, mọi người sẽ có cảm nhận và đánh giá của mình về bài viết của Leon Aron. Ở đây tôi chỉ nêu ra một tiếp nhận của tôi.
Tác giả bài viết cho thấy rằng Liên Xô sụp đổ hoàn toàn không phải do bị các « thế lực phản động tác động », như là cách giải thích của các giáo trình chính thống tại Việt Nam, cũng không phải do áp lực về kinh tế, mà là do ý thức về nhân phẩm và đạo đức của người dân Nga và của cả lãnh đạo Liên Xô. Họ không muốn và không thể tiếp tục sống trong « suy đồi tinh thần và những hệ quả xói mòn đạo lý của thời đại Xít-ta-lin ». (Cá nhân tôi có lẽ sẽ lựa chọn chữ « đạo đức » để dịch, nhưng tôi tôn trọng cách dịch này của dịch giả Trần Ngọc Cư).
Chính là sự phán xét của lương tâm, chính là sự đau khổ nội tâm của từng cá nhân đã thúc đẩy sự thay đổi toàn bộ cấu trúc xã hội. Hãy đọc câu này của Aleksandr Yakovlev, một cựu đại sứ Nga, để hiểu người Nga đã chịu đựng những dằn vặt nội tâm như thế nào :
“Đủ lắm rồi! Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này thêm nữa. Mọi việc phải được thực hiện theo một đường lối mới. Chúng ta phải xét lại tư duy, đường lối, quan điểm về quá khứ và tương lai của chúng ta… Một sự đồng thuận ngấm ngầm: giản dị là, chúng ta không thể tiếp tục sống như chúng ta đã sống trước đây – một cách nhục nhã, ngoài mức chịu đựng”.
Ý kiến trên phản ánh tâm trạng của những người dân Nga. Còn dưới đây là tâm trạng của một lãnh đạo thuộc hàng cao cấp :
« [Chúng ta] ăn cắp từ chính bản thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo khoét trong các báo cáo, trên báo chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp cao, đắm mình trong láo khoét, rồi trao huân chương cho nhau. Và tất cả những điều này đã diễn ra – từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên. »
Không có một « thế lực thù địch nào » từ bên ngoài hay « kẻ thù bên trong » nào có thể làm cho chế độ toàn trị Liên Xô sụp đổ. Cái chế độ phi nhân ấy chỉ có thể bị thay thế khi chính những con người trong hệ thống ấy, lãnh đạo cũng như người dân, ý thức được sự nhục nhã của đời sống vô đạo đức và quyết định tự tìm lại phẩm giá cho mình.
Chúng ta, những người Việt Nam ở thế kỷ XXI, chúng ta hãy đọc bài báo của Leon Aron và hãy thử nói xem : chúng ta còn tiếp tục sống như thế này đến bao giờ ?
Paris, 24/7/2015
Nguyễn Thị Từ Huy
nguyenthituhuy's blog

Một bài quốc ca giá bao nhiêu?

Tuankhanh—08/29/2015 - 10:41
Câu chuyện đề nghị thu tiền tác quyền của bài Tiến quốc ca ở Việt Nam hiện nay, gợi lên không ít điều phải bàn, liên quan đến danh dự một quốc gia, cũng như của chính tác giả bài hát đó. Tuy chuyện ông Phó Đức Phương, giám đốc Trung bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC), nêu ra có vẻ rất lạ thường, như lại là cơ hội để công chúng được một dịp nhìn thấy mọi góc cạnh của ứng xử, của hiện trạng về bài quốc ca tại Việt Nam.
Có lẽ, trong lịch sử Việt Nam cho đến nay, chưa có bài hát nào được sử dụng nhiều bằng bài Tiến Quân Ca, bởi tính khách quan, đó là bài hát được Quốc hội của miền Bắc Việt Nam, năm 1946, lúc đó còn mang tên là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chọn là bài hát chủ đề giới thiệu một chính thể – một national anthem, mà cho tới nay chưa có sự thay đổi chính thức nào. Mặc dù sau khi Việt Nam không còn chiến tranh và chính thức đổi tên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bài hát này vẫn được vang lên với tư cách là một bài quốc ca.
Nếu tính thành tiền tác quyền, bằng giá của một ca khúc bình thường mà VCPMC vẫn thu hiện nay, tiền tác quyền của của riêng bài hát này (kể cả truy thu) của nhạc sĩ Văn Cao có thể lên đến hàng trăm tỉ đồng Việt Nam. Và nếu được như vậy, nhạc sĩ Văn Cao có thể đi vào lịch sử âm nhạc thế giới qua sự kiện 20 năm sau khi mất, vẫn làm ra những số tiền khổng lồ. Hãy thử tưởng tượng, nếu còn sống đến lúc này, có lẽ nhạc sĩ Văn Cao sẽ là một trong những nghệ sĩ – đại gia hàng đầu của Việt Nam.
Tiếc thay lúc sinh thời, đời của ông không được một phần nho nhỏ nào như vậy. Nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) ra đi trong sự thanh bạch và nghèo khó. Tháng 2.1993, trong chuyến đi của tổng thống Pháp François Mitterrand đến Hà Nội, Việt Nam, những người cùng thời kể lại rằng ngôi nhà của nhạc sĩ Văn Cao bất ngờ được chọn là một trong những điểm ghé qua, bên cạnh danh sách các điểm đến là chiến trường Điện Biên Phủ xưa, Văn Miếu... Khi ấy, chỉ được biết trước một vài tiếng đồng hồ, nhà nhạc sĩ Văn Cao đã được vội vã tổ chức lại cho tươm tất hơn, cũng như phía chính phủ Việt Nam cũng bất ngờ cho biết sẽ lập khoản trợ cấp vài trăm đồng trong một thời gian, vì nhận ra ông đang có cuộc sống quá chật vật.
Nhưng ngay lúc sinh thời, khi tác phẩm của mình được chọn làm quốc ca, nhạc sĩ Văn Cao lúc đó ắt hẳn cũng mang nhiều tâm trạng khó tả, không thể nào lên tiếng bất cứ điều gì được. Khó mà biết được ông lặng lẽ hay ông im lặng.
Năm 1956, khi tham gia phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm của các trí thức hàng đầu Việt Nam lúc bấy giờ, nhạc sĩ Văn Cao đã phải đối đầu với nhiều đợt phủ nhận tác phẩm của ông. Năm 1958, chính phủ miền Bắc Việt Nam đã dự định dùng bài Bài ca cách mạng tiến quân của Đỗ Nhuận để thay cho Tiến Quân Ca, thế nhưng không hiểu sao, bài hát Tiến Quân Ca cứ in vào tâm trí người dân, không đổi được. Dù vẫn phải sử dụng, nhưng ít ai để ý là nhiều năm liền sau đó, đến tận năm 1980, chính sách dùng quốc thiều để thay cho các buổi hát quốc ca đã được áp dụng khắp nơi.
Có lẽ vì hiến pháp mới, được công bố năm 1980 lại không thấy ghi chính thức chọn Tiến Quân Ca là quốc ca (chỉ ghi là thông qua), nên đến ngày 28/4 năm 1981, đã có hẳn một chương trình thi viết quốc ca mới do báo Nhân Dân đột ngột thông báo, kéo dài trong hai năm, với sự chấp thuận của ông cố tổng bí thư Lê Duẫn và hội đồng xét duyệt như các ông Trường Chinh, Xuân Thủy. Ngoài ra có có nhà thơ Cù Huy Cận, thứ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin và nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, chủ tịch Uỷ ban Văn hoá và Giáo dục của Quốc hội là chủ tịch và phó chủ tịch Ban Giám khảo. Theo thống kê, đã có gần 30.000 bài hát từ khắp nơi gửi về nhưng không có bài hát nào được chọn làm quốc ca mới. Đó cũng là một giai đoạn mệt mỏi nhạc sĩ Văn Cao, vì cái giá của một bài quốc ca mà ông đang đối diện, cũng lơ lững không khác nào lưỡi gươm của Damocles.
Trãi qua những gập ghềnh ấy, thật lạ, không hiểu sao người dân vẫn chọn Tiến Quân Ca làm bài hát của mình. Mặc dù lời bài hát này, trong thời điểm hiện tại nghe đầy xương máu, nhưng trong lần nói chuyện lịch sử với ông Văn Cao, tổng thống Pháp François Mitterrand đã so sánh bài Tiến Quân Ca với La Marseillaise – những bài hát được chọn làm quốc ca, đã ghi lại hình ảnh đau thương lịch sử trong chiến tranh thế giới thứ hai và lòng ái quốc có thể đánh đổi bằng cái chết.
Trong lịch sử của những người nghệ sĩ, Văn Cao cũng là một nghệ sĩ yêu nước đến mức sẳn sàng đánh đổi bằng cái chết của mình. Vì từ năm 1944, khi mới 21 tuổi, Văn Cao đã sẳn sàng dùng bàn tay nghệ thuật của mình để đặt vào cò súng, trở thành những ám sát viên lừng danh của Việt Minh của Hà Nội. Ông ám sát thành công Đỗ Đức Phin, một người làm việc cho Pháp tại Hải Phòng, và một lần khác (1945) là ám sát Cung Đình Vận ở Huế, nhưng lần này không thành công. Bài hát Tiến Quân ca cũng ông cũng nói rõ tâm tình của một thanh niên chứng kiến nạn đói và những khí thế cách mạng thời đó. Ông cũng là người hăng hái lên tiếng kêu gọi cải cách và xây dựng lại xã hội trong nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm. Năm 2009, khi thời Việt Nam mở cửa đến, ông được phát hành tập thơ Lá, lạ thay trong đó là những dòng đọc mà nghe sao nghẹn ngào “Có lúc một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ, có lúc ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt, có lúc nước mắt không thể chảy ra ngoài được...” (bài viết năm 1963).
Trả bao nhiêu cho đủ với những gì mà một nghệ sĩ lớn, một tác giả đã viết ra bằng tâm huyết của mình, được nhân dân chọn làm quốc ca từ mấy mươi năm nay? Mà trên thế giới, cũng ít có tác giả nào viết quốc ca lại đòi tiền, vì đó là danh dự và sứ mạng của một người được cuộc sống ban tặng. Nhưng cách nói của nhạc sĩ Phó Đức Phương thì lại nhắc cho mọi người nhớ rằng có rất nhiều cái chúng ta đã quên, thậm chí quên một cuộc đời đáng nhớ và kính trọng đã viết nên bài hát đó, mà mỗi ngày trên nước Việt Nam này luôn vang lên ồn ào trong sự vô tâm, vô tình, giả tạo. Chúng ta có nợ nhạc sĩ Văn Cao không?
Cái nợ không nhỏ đó cũng thuộc về nhà nước hiện hành. Năm 2010, khi bà Nghiêm Thúy Băng gửi thư cho Quốc hội, hiến tặng ca khúc này cho chính phủ. Đã không ai trả lời. Thậm chí không ai hỏi han. Thật vô phúc cho người dân Việt Nam khi hôm nay có những người đại diện hời hợt và sợ trách nhiệm như vậy. Mãi đến khi có sự cố ồn ào xảy ra, thì mới có đại diện Bộ Văn Hóa mới cất tiếng trả lời suông là đã thấy thư hiến tặng. Cho đến nay, không hề có một thư trả lời hay quyết định tiếp nhận tử tế nào với Tiến Quân Ca. Mọi thứ vẫn đang treo lơ lững như định mệnh của chính người nghệ sĩ tài hoa này, suốt 30 năm, sau thời kỳ Nhân Văn – Giai Phẩm.
Một năm sau khi nhạc sĩ Văn Cao mất, nhà nước Việt Nam trong khuynh hướng đổi mới, đã truy tặng cho ông huân chương Hồ Chí Minh về đóng góp của ông. Kể cả bài Tiến Quân Ca và huân chương ấy, giá tác quyền tưởng thưởng nên được ghi xuống, nên là bao nhiêu?
Thật buồn cười khi rất nhiều quan chức, tỉnh thành lên các dự án xây văn miếu, đền thờ, tượng đài ngoại quốc, vô danh... lên đến hàng ngàn tỉ, nhưng với con người thật – việc thật, thậm chí với bài hát mà họ vẫn mấp máy môi mỗi đẩu tuần theo bổn phận – thì có thể họ đã quên. Cho đến giờ phút này, Văn Cao vẫn là một nghệ sĩ lưu danh hậu thế của Việt Nam và là tác giả của quốc ca, mà chưa hề có một nhà tưởng niệm nào xứng đáng, ở nơi chốn sinh ra mình.
Lòng biết ơn và thái độ trân trọng của một chính phủ đối với ông còn chưa đủ, thì nói gì thu được đủ tiền bàn quyền với bài quốc ca có số phận long đong ấy.
tuankhanh's blog

Những Hòn vọng phu thời nay

Hạ Vũ, thông tín viên RFA
2015-08-30
Hòn Vọng Phu thuộc thôn Chánh Oai, xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Từ phía biển nhìn vào giống như một người đàn bà tay dắt con đang ngóng nhìn ra phía khơi xa.
Hòn Vọng Phu thuộc thôn Chánh Oai, xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Từ phía biển nhìn vào giống như một người đàn bà tay dắt con đang ngóng nhìn ra phía khơi xa.-Files photo

“Hòn Vọng phu” là biểu tượng cho lòng chung thủy của phụ nữ Việt Nam, một lòng chờ chồng cho tới hóa đá trong cổ tích.
Thật không may, những câu chuyện tưởng như cổ tích đó, cho tới tận ngày nay vẫn còn trên nước Việt Nam.
Đến bao giờ mới hết những “hòn vọng phu” trên đất Việt???

Báo chí trong nước và quốc tế những ngày giữa tháng 7 năm 2015 xôn xao thông tin về việc tiếp viên, phi công hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airline) bị bắt vì tội vận chuyển hàng hóa ăn cắp và việc cảnh sát Nhật Bản khám xét tất cả các văn phòng đại diện của Vietnam Airline ở Tokyo để truy tìm hàng hóa ăn cắp. Tiếp sau việc lục soát, chính quyền Nhật Bản tuyên bố, họ đã yêu cầu cảnh sát hình sự Quốc tế interphol hợp tác điều tra các dấu hiệu buôn bán người trong việc đưa lao động Việt Nam “tu nghiệp” tại Nhật Bản.Những thông tin này, có thể nói, đã làm chao đảo giấc mơ đổi đời của rất nhiều thanh niên nông thôn trong độ tuổi lao động. Kết luận trên nghe có vẻ rất chủ quan.
Nhưng nếu bạn đã từng có dịp về thăm bất kỳ một vùng quê nào ở Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh nghèo như Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, các tỉnh miền tây nam bộ, v.v.. bạn chủ yếu sẽ chỉ gặp người già, con trẻ và những phụ nữ không là bà mẹ đơn thân nhưng phải “cắn răng chịu đựng” một mình nuôi con, cáng đáng công việc hai họ trong nhiều năm, chờ chồng đi làm việc ở nước ngoài.
Nhiều căn nhà khang trang trống trải mọc lên khắp các làng quê. Những đứa trẻ nheo nhóc, thiếu thốn tình cảm ra vào một cách lạ lẫm trong những ngôi nhà mới, vắng bóng người cha.

“Anh Đi Malai 6 năm, về được 2 năm thì đi Liên Xô 2 năm rồi lại về đi Lào. Bây giờ anh ấy cũng đang muốn đi nữa nhưng tuổi cũng lớn rồi, sợ sang bên đó sức khỏe không đảm bảo rồi không làm được việc cho nên bây giờ chỉ đang làm thuê ở nhà thôi”.

Nhẩm tính sơ qua số năm chờ chồng của chị Phương (Hà Tĩnh) cũng đã đủ 10 ngón tay, không ít hơn “nàng Tô Thị” hay “người con gái Nam Xương” trong những câu chuyện truyền kỳ nổi tiếng Việt Nam qua nhiều thế hệ.

Điểm khác biệt duy nhất là các chị, gần như được trang bị các “kỹ năng” tự vệ từ những câu chuyện truyền kỳ đó, đã biết “bảo vệ” bản thân mình khỏi những cám dỗ.

Khi được hỏi về cuộc sống thiếu vắng người đàn ông trong nhiều năm liền, chị Phương cho biết:
“Mình là một con người đứng đắn, sống thu mình vào, không quan hệ với ai. Đi ra đường nếu có gặp hàng xóm thì cũng chỉ chào hỏi bình thường vậy thôi. Nhiều lúc đêm nằm ngủ không có chồng bên cạnh cũng nhớ, buồn nhưng rồi cũng phải cắn răng mà chịu cho nó qua thôi. Biết làm sao được”.

Cũng là câu hỏi về cuộc sống xa chồng, chị Liên (Thanh Hóa) không muốn trả lời. Chị cười:

“Trời ơi, hỏi cái câu kìa. Ví dụ như Dì (chị em gái) giống tôi thì thế nào? Hỏi gì mà ngu thế”

Chị chia sẻ những điều “dễ nói” dài hơn:

“Bình thường thì có chồng mình vẫn phải lo toan cuộc sống hàng ngày, nên ngày thường không có gì đáng nói. Nhưng những ngày mưa gió bão bùng thì nếu nhà có người đàn ông trong nhà vẫn vững chãi hơn. Có bố ở nhà, nếu con bị mẹ mắng thì còn có Bố làm chỗ dựa. Hay những ngày lễ tết, con nhìn xung quanh thấy trẻ con khác có bố đưa đi chơi, nó cũng tủi thân. Nhưng không biết diễn tả bằng lời”.

Những “bà mẹ đơn thân” đặc biệt này, ngược lại với những bà mẹ đơn thân khác, hết sức bao dung với hoàn cảnh của mình. Với tư duy “ơn Đảng”, các chị tin rằng cuộc sống hiện tại của mình tốt hơn rất nhiều so với các chị, các mẹ trong thời chiến.

“Mình thời bình chứ còn ngày xưa, thời chiến tranh, vừa xa chồng, vừa lo sợ chết, con cái này nọ, v.v người ta còn chịu đựng được. Mình bây giờ, nói chung là xa chồng nhưng vẫn còn sướng chán, không sợ chết. Chứ ngày xưa vừa xa chồng, vừa sợ chồng chết, vừa sợ mình bị bom bỏ chứ bây giờ mình chỉ ăn no ngủ kỹ thôi mà”.

Ảnh minh họa
Chiến tranh đã qua đi 40 năm. Và các chị thuộc thế hệ sau, hầu như chỉ biết đến chiến tranh qua các câu chuyện kể, các bài học lịch sử trong sách giáo khoa, v..v.. nhưng “ám ảnh” về chiến tranh không hiểu vì sao lại ăn sâu vào tiềm thức của các chị đến như vậy. Hạ Vũ vừa bất giác nghĩ đến “tháp nhu cầu của Maslow” và chợt thở dài vì không biết xếp cuộc sống của các chị vào nấc thang nào trong 5 nấc thang nhu cầu của con người. Nghĩ đến những bãi biển xanh, những kỳ nghỉ dài, những chuyến bay hạng sang, những lọ nước hoa, những trang sức đắt tiền của các phu nhân, bồ nhí của các lãnh đạo, bất giác nghẹn lời.

Việc xuất khẩu lao động trong khoảng 12 năm trở lại đây, trở thành một trong những lĩnh vực “xuất khẩu” đem lại doanh số cao, góp phần đáng kể cho chỉ số GNP (tổng sản lượng quốc gia) của Việt Nam. Với khẩu hiệu “Dân giàu – Nước mạnh”, các cấp chính quyền địa phương khắp nơi trên cả nước đã và đang khuyến khích hoạt động xuất khẩu lao động bằng các hình thức cho vay vốn ưu đãi nhằm khuyến khích, động viên thanh niên trong độ tuổi đi xuất khẩu lao động. Đối với các “mẹ đơn thân” đặc biệt này, khi được hỏi về hỗ trợ từ phía chính quyền cấp thôn, và thái độ của hàng xóm láng giềng, chị Liên cho biết:

“Họ cũng có động viên, nói chịu khó ở nhà nuôi con để chồng đi làm chứ ở nhà cũng không biết làm gì ra mà kinh tế cuộc sống thì càng ngày càng đòi hỏi cao.
Hàng xóm thì nhiều thể loại, người này người kia. Có người thì họ mừng cho mình, có người thì thấy mình làm được vài gian nhà thì họ không thích”

Cư trú, làm việc ở một quốc gia khác, trong “thế giới phẳng” ngày nay là một việc hết sức bình thường, đặc biệt trong bối cảnh những con người hiện đại đều là “công dân toàn cầu”, có đủ kỹ năng, trình độ và tấm lòng sẵn sàng đóng góp cho sự phát triển của mọi quốc gia như nhau. Hơn nữa, việc di chuyển, công tác ở các nước khác nhau của các công dân này còn thúc đẩy việc giao lưu văn hóa, dẫn tới những tác động tích cực hơn cho sự phát triển chung của thế giới cũng như sự tự hoàn thiện của mỗi cá nhân trong quá trình di chuyển.

Tuy nhiên, các công dân Việt Nam khi tham gia vào quá trình này, gần như không được hưởng lợi gì ngoài những đồng tiền công ít ỏi.

“Cũng muốn đi nước ngoài để cho đổi đời đôi chút nhưng số phận mình nghèo thì vẫn hoàn nghèo. Đi nhiều năm như thế nhưng cũng không ăn thua gì. Mới đầu sang thì bị người ta lừa. Lúc đầu đi trồng rau, làm không đủ ăn nên lại theo người ta đi làm xây dựng, tới mùa rét không làm ăn được lại rủ nhau đi làm trong xưởng chuyên in áo phông, làm được 1 năm. Lúc đó ở bên Nga họ vây quét mạnh (đuổi những người lao động bất hợp pháp), anh chạy ra ngoài nhưng cũng may nhờ đồng hương bao bọc nên thoát được, làm xây dựng được mấy tháng. Công việc làm thì nặng nhọc, thức ăn uống không đảm bảo nên lúc đi thì hơi béo, lúc về chỉ còn bộ da bọc xương. Vất vả lắm. Đi để kiếm kế sinh nhai nhưng cuối cùng cũng không được gì cả”.

Mấy ngàn đêm “cắn răng chịu đựng”, mấy ngàn ngày một tay cáng đáng việc nội ngoại, một mình nuôi con nhỏ, vật lộn với tủi hờn, v.v. để đổi lấy một nếp nhà khang trang, với các chị dường như đã là một ơn huệ quá nhiều của cuộc sống. Người Việt Nam có câu “Hy sinh đời Bố (Mẹ), củng cố đời con”. Câu nói này là động lực cho tất cả những người làm cha làm mẹ vượt qua mọi khó khăn cho một tương lai tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, điều đáng nói là đã bao nhiêu thế hệ người Việt phải “hy sinh” như vậy???

Đối với chị Phương, tương lai của các con chị gần như không sáng lạn hơn bố mẹ chúng bao nhiêu. 2 con trai của chị, sau khi được bố mẹ chu toàn lo lắng cho học hết đại học cũng chỉ tìm được việc làm lương tháng không đủ ăn. Chị chia sẻ về dự định đối với các con:

“Chị cũng đang tính nói với con trai chị, trong 2 thằng phải đi nước ngoài 1 đứa. Vì thu nhập ở nhà không ăn thua. Cái kiểu làm việc lương 3, 4 triệu một tháng thì sao mà đủ lo cho tương lai. Thôi thì để bố mẹ chịu khó cắm bìa, vay tiền rồi lấy tiền đó mà đi ít năm về lấy vốn mà làm ăn. Chứ bây giờ cứ ra Hà Nội làm việc mỗi tháng 3 -4 triệu thì không đủ tiền mà ăn. Bây giờ đi học 4, 5 năm trời học hành ra rồi đi làm như vậy thì cũng nóng ruột mà xót cho con”.

Trước thực tế, mọi sự hy sinh của mình đều gần như bất lực, không thể đem đến cho con cái một tương lai hoàn toàn tốt đẹp hơn cuộc sống mình đã trải qua, khi được hỏi về những mong muốn của chị đối với chính quyền các cấp, như mọi người nông dân hiền lành, thật thà khác trên đất Việt, chị hết sức bao dung chia sẻ:

“Đất nước của mình còn nghèo, cho nên những người học giỏi thì không nói nhưng những đứa học hành cứ nhàng thì ra trường quá nhiều, không xin được việc cho nên chị cũng chỉ mong bên trên có làm sao đó đáp ứng công ăn việc làm cho những sinh viên ra trường. Học trong nước mấy năm đã mất bao nhiêu tiền của bố mẹ rồi, bây giờ bố mẹ tiền đâu mà chạy cho con đi nước ngoài nữa”.

Giống như trẻ con, sinh ra tự nhiên yêu bố mẹ; những người nông dân Việt Nam hiền lành, không hiểu vì lý do gì luôn coi chính quyền như “cha mẹ” và yêu mến, bao dung với các cấp lãnh đạo một cách hết sức tự nhiên, bất chấp xã hội mà họ đang sống cứ quay vòng vòng, vòng vòng như vậy qua bao nhiêu thế kỷ.

Tạp chí trang phụ nữ kỳ này kết thúc tại đây. Hẹn gặp lại các bạn vào kỳ tới.

Bọn giả danh côn đồ gia tăng tấn công, các nhà hoạt động càng đoàn kết

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-08-30
Đoàn người đón TNLT Trần Minh Nhật mãn hạn tù trở về bị hành hung (1), ông Lê Đình Lượng bị đánh đập gây thương tích (2), cựu TNLT Trương Minh Tam cũng bị hành hung (3), anh Chu Mạnh Sơn bị đánh đổ máu đầu (4)
Ngày 28 tháng 8, 2015. Đoàn người đón TNLT Trần Minh Nhật mãn hạn tù trở về bị hành hung (1), ông Lê Đình Lượng bị đánh đập gây thương tích (2), cựu TNLT Trương Minh Tam cũng bị hành hung (3), anh Chu Mạnh Sơn bị đánh đổ máu đầu (4)- Nguồn ảnh: Fb Thúy nga/Trần Khắc Đạt

Tình trạng những người công khai hoạt động cho quyền con người, giúp đỡ dân oan… bị tấn công vô cớ bởi những thành phần bất hảo, côn đồ khiến họ phải cảnh giác và có cách tự vệ.
Vụ việc mới
Vào ba ngày 24, 25 và 28 tháng 8 vừa qua lại có thêm những vụ việc hành hung, đập phá nhằm vào những người công khai đấu tranh tại Việt Nam.
Cựu tù nhân lương tâm Trương Minh Tam bị đánh đập, cướp phá sau khi đến Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa làm việc với cán bộ để lấy lại những tài liệu bị thu giữ khi mãn án vào tháng 10 năm ngoái. Sau cuộc làm việc và được trả lại những giấy tờ yêu cầu, anh Trương Minh Tam ra khỏi Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa vào ngày 24 tháng 8 thì bị hai thanh niên tấn công hành hung và cướp giỏ xách của anh này ném xuống suối nước sâu.
Ít ngày sau anh cùng một số thân hữu lên Lâm Đồng thăm tù nhân lương tâm Trần Minh Nhật mãn án tù 4 năm về nhà; vào sáng ngày 28 tháng 8 trên đường về anh cùng một số người khác bị hành hung ngay trên xe.
An ninh giả dạng?
Một người có mặt vào sáng ngày 28 tháng 8 tại xã Nghĩa Thắng, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, anh Minh Khang cho biết:
“ Chuyến xe di chuyển theo hướng Sài Gòn bị chặn lại và bị đánh. Đánh rất nặng tức nhắm vào vùng đầu, vùng mặt và tay chân đều bị đánh. Chuyến xe di chuyển theo hướng Đà Lạt cũng bị côn đồ lên xe, đóng cửa và đánh dằn mặt 3 người: một người là cựu tù nhân lương tâm Trương Minh Tạm, cựu tù nhân lương tâm Chu Mạnh Sơn và chị Thúy Nga. Đánh vào vùng hông, mặt và đầu rất nặng.”
Cựu tù nhân Trương Minh Tam có ý kiến về vụ việc hôm ngày 24 tháng 8 ngoài Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa như sau:
“Cách làm của họ trong ngày hôm đó là thuê hai côn đồ theo sát tôi và đi đến một địa điểm vắng bên dòng suối cạnh trại giam họ đã cướp toàn bộ tài sản của tôi. Tôi khẳng định việc làm đó là do nhà cầm quyền cộng sản dựng lên bởi vì những kẻ cướp đồ không bao giờ lại vứt đồ đi. Trong đó tôi có một máy tính laptop và một Ipad. Hai tên cướp đó thì một tên giữ tôi và một tên khác cướp đồ ném xuống suối cho chìm đi chứ không thu giữ gì của tôi cả. Điều đó cho thấy đây là hành động mà nhà cầm quyền có tính toán nhằm phi tang những tang chứng, vật chứng có thể gây khó dễ cho họ. Bởi vì trong những thiết bị điện tử của những người hoạt động dân chủ chúng tôi chứa khá nhiều dữ liệu và chúng cũng là một công cụ để chúng tôi đấu tranh với nhà cầm quyền. Hiện nay tôi là người bị mất hết tài sản không còn công cụ hoạt động.”
Tại Hà Nội vào chiều ngày 25 tháng 8, tư gia của ông Mai Xuân Dũng- một người lâu nay công khai tham gia Nhóm Cứu Lấy Dân Oan, bị một số thanh niên đập phá từ bên ngoài, khi trong nhà ông này đang tiếp một số dân oan đến thăm vì nghe tin ông bị ốm.
Ông Mai Xuân Dũng đưa ra nhận định về những thành phần tấn công nhà ông như sau:
“ Tôi nghĩ tôi không có thù oán, không có mâu thuẫn với bất kỳ ai; khi có đám côn đồ rất hung hãn và nghênh ngang sau khi đập phá gọi điện thoại chỉ huy nhau và ngồi ngoài hàng nước. Con tôi có chụp được hình của mấy tên côn đồ thì người nào cũng che mặt lại. Riêng hành vi che mặt, không muốn lộ mặt ra cho thấy đó không phải là côn đồ chuyên nghiệp. Ở Việt Nam tôi biết những người ‘côn đồ, giang hồ’ họ rất hào hiệp, không làm trò này. Những trò này tôi xác định chỉ có an ninh thôi.”
Sự thất bại của chính quyền?
Như nhận định của ông Mai Xuân Dũng cũng như của cựu tù nhân lương tâm Trương Minh Tam thì họ không hề có mâu thuẫn, thù oán với ai. Trái lại lâu nay họ chỉ làm những công việc giúp người như mang cơm, cung cấp những vật phẩm cần thiết cho người dân các tỉnh phải về Hà Nội khiếu kiện. Đó là việc làm của ông Mai Xuân Dũng. Hay lên tiếng về trường hợp bị đối xử tàn tệ đối với tù nhân Đặng Xuân Diệu trong nhà tù mà cựu tù nhân lương tâm Trương Minh Tam nêu ra.
Bản thân anh Trương Minh Tam cho rằng hành xử của những thành phần bất hảo mà theo anh chỉ là an ninh giả dạng là một chứng minh về sự thất bại của chính quyền hiện nay:
“ Một người bạn của tôi đã nói không chỉ là sự thất bại về mặt luật pháp mà đó là sự thất bại của một chính thể. Bởi vì không một chính thể nào sử dụng bạo lực để giải quyết những vấn đề pháp lý đối với người dân cả. Trong bất cứ một xã hội văn minh nào con người ta cũng hành xử với nhau bằng luật pháp; thế nhưng khi luật pháp không thể sử dụng được với nhau nữa, mà buộc phải sử dụng tà quyền, sử dụng vũ lực, bạo lực thì đó không còn được gọi là một xã hội, một đất nước nữa mà gọi là một trạng thái quay trở về thời kỳ nguyên thủy, quay trở về một xã hội man rợ, một xã hội chỉ còn có kẻ mạnh và người yếu chứ không còn là một ‘nhà nước’ nữa.
Tôi nghĩ trong thời gian sắp tới những hành vi như thế sẽ tiếp tục xảy ra và tố cáo rõ hơn bản chất xấu xa của nhà cầm quyền. Có thể trước kia có sự đánh đập, bắt những đồ đạc của các nhà đấu tranh một cách bạo lực… thì họ còn tìm lý do để đổ; còn đối với người đấu tranh ôn hòa như tôi đối với những luật lệ mà họ viết ra mà họ lại sử dụng biện pháp côn đồ thì đó là sự thất bại hoàn toàn của một chính thể rồi.”
Biện pháp tự bảo vệ
Ông Mai Xuân Dũng cho biết khi những thanh niên bất hảo đập phá bên ngoài tư gia ông, thì chính những người dân oan khiếu kiện đã liên lạc với nhau để nhanh chóng đến để hỗ trợ cho ông.
Anh Trương Minh Tam thừa nhận việc đi lại một mình là sự chủ quan và nay những người đấu tranh như anh phải cảnh giác hơn nữa:
“ Đấu tranh với cái ác theo tôi không thể tránh khỏi những mất mát, đau thương kể cả máu và xương. Do đó qua mỗi một sự vụ, chúng tôi cố gắng nâng cao tinh thần cảnh giác của mình, thay đổi phương pháp đấu tranh sao cho giảm thiểu thiệt hại. Nhưng chúng tôi biết vẫn sẽ có những thiệt hại đối với mình và chúng tôi sẵn sàng tuyên chiến với nhà cầm quyền một khi họ bước vào đường cùng trong sự khốn cùng về hành xử đối với nhau.
Xin được nhắc lại để tránh thiệt hại về tài sản lớn đối với tôi như vài hôm trước thì tôi nghĩ ít nhiều mình cũng có những sơ hở, chủ quan. Sau này chúng tôi sẽ đi thành nhóm đông người hơn, hay đồ đạc trước khi đi đến trại giam tôi phải gửi lại nơi nào đó…chứ không như vừa rồi. Còn những biện pháp để giữ sức khỏe và tính mạng của mình thì tôi nghĩ thường xuyên tập trung đông người đi hơn trong các vụ việc.”
Theo những nhà đấu tranh và hoạt động cho nhân quyền tại Việt Nam, tất cả những hành động trấn áp mang tính bạo lực chỉ làm cho họ thêm cương quyết và đoàn kết với nhau mà thôi.

Dự luật về tín ngưỡng, tôn giáo và lập hội: VN có thay đổi não trạng?

“Bản Dự thảo 4 đi ngược lại với quyền tự do về tín ngưỡng và tôn giáo, gây lo ngại nhiều hơn là đem lại sự bình an cho mọi người” - Ðức cha Cosma Hoàng Văn Ðạt, tổng thư ký, thay mặt Ban Thường Vụ Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam nói thẳng thừng về dự luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo được đạo diễn bởi các nhân vật quen thuộc trên sân khấu “tự do tôn giáo trong luồng.”
Tháng 5, 2015, trong một động tác gấp rút như thể cố tình, Bộ Nội Vụ và Ban Tôn Giáo Chính Phủ đã “chuyển gấp” dự luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo lần thứ tư đến các tôn giáo trong nước “để xem và góp ý,” nhưng chỉ được góp ý trong một thời gian rất ngắn. Ngay lập tức sau đó, một số tổ chức tôn giáo như Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam và hai Tòa Giám Mục Bắc Ninh cùng Kontum chính thức có phản hồi với người chịu trách nhiệm tối cao về luật ở VN - Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng và Ban Tôn Giáo Chính Phủ được phụ trách bởi một viên tướng công an “biệt phái” - về dự thảo luật đó.
Lịch sử lặp lại
Vào năm 2015, một lần nữa khung luật pháp về tín ngưỡng và tôn giáo lại được nhà nước VN mang ra “cải thiện.” Ðến tháng 5, 2015, dự luật Tín Ngưỡng, Tôn Giáo đã được dự thảo đến lần thứ tư. Thời điểm này lại trùng với khoảng thời gian mà Bộ Ngoại Giao và Bộ Công An VN “đang chuẩn bị tích cực cho chuyến đi Hoa Kỳ của TBT Nguyễn Phú Trọng.”
Chính quyền VN đã chứng tỏ họ là người vẫn có thể uốn nắn lịch sử, nếu quả tình lịch sử không diễn biến đúng với ý họ.
Tám năm trước, vào năm 2007, VN cũng chấp chới “điều chỉnh” một số nội dung liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo, trùng với khoảng thời gian mà chính thể này được tham dự vào bàn tiệc WTO, được người Mỹ bóc tách khỏi Danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo và nhân quyền (CPC), và lần đầu tiên Nguyễn Minh Triết - chủ tịch nước với triết lý sống mãi “Việt Nam và Cuba thay nhau thức canh cho hòa bình thế giới” - đặt chân lên đất nước cựu thù để tương đạo với Tổng Thống Mỹ George Bush.
Hiển nhiên và cứ như một quy luật, cứ mỗi lần “VN có nhu cầu đối ngoại,” chính thể này lại bắt đầu xem xét nhằm cởi nới đôi chút những nội dung nhân quyền và tôn giáo mà thường bị Hoa Kỳ và phương Tây đặc biệt lên án.
Tuy nhiên vào năm nay, mọi sự đã biến đổi hẳn so với năm 2007 về mức độ phản đối và phản kháng của phong trào dân chủ. Nếu năm 2007 chưa thể xem là có được hoạt động xã hội dân sự rộng rãi ở VN, thì từ năm 2013 đến nay đã chứng kiến nhiều tổ chức xã hội dân sự độc lập ra đời, trong đó có một số tổ chức tôn giáo độc lập của Phật Giáo Thống Nhất, Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy, Cao Ðài Nhơn Sanh, và được đẩy lên cao hơn mang tính mạng lưới kết nối như Hội Ðồng Liên Tôn VN với sự phát triển hơn về số lượng và phản biện.
Thậm chí ngay cả khối tôn giáo còn nằm trong vòng kiềm tỏa của chính quyền cũng không giữ nỗi thái độ bình thản trước quá nhiều từ “xin-cho” cứ liên tục biến hiện trong dự luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo.
Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đã phản ứng dự luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo với ba kiến nghị. Thứ nhất “Không đồng ý Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.” Thứ hai “Ðề nghị soạn lại một bản Dự thảo khác phù hợp với xu thế tự do, dân chủ và mang tầm vóc của xã hội tiến bộ.” Và thứ ba “Bản dự thảo mới phải được tham khảo ý kiến từ các tổ chức tôn giáo; đặc biệt các tổ chức tôn giáo phải được công nhận tư cách pháp nhân và được pháp luật bảo vệ.”
Còn nhận định của Tòa Giám Mục Bắc Ninh do Linh Mục Tổng Ðại Diện Giuse Nguyễn Ðức Hiểu ký tên thay mặt giáo phận thì không giấu vẻ mỉa mai: “Theo nhiều nước tiên tiến trên thế giới, những văn bản quy phạm pháp luật sinh ra nhằm ngăn chặn những người thực thi pháp luật lạm dụng quyền đối với người dân; nhưng nhìn nhận cách khách quan, những điều nêu trong Dự thảo 4 muốn tái lập cơ chế Xin-Cho trong các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo. Cơ chế Xin-Cho biến quyền tự do của con người thành những thứ quyền Nhà nước nắm trong tay và ban lại cho người dân qua những thủ tục cấp phép.”
Mới đây, Khối Nhơn Sanh Cao Ðài còn tổ chức một cuộc hội thảo với yêu cầu hủy bỏ dự thảo lần thứ 4 của dự luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo. Vào cuối tháng 8, 2015, một phái đoàn của Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Hoa Kỳ (USCIRF) đã đến Sài Gòn và đã có cuộc tiếp xúc với những giáo chức thuộc Khối Nhơn Sanh Cao Ðài để tìm hiểu về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam từ năm 2007 đến nay và tình hình hoạt động của Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.
Kết quả đầu tiên
Sau một thời gian đấu tranh không mệt mỏi, các tôn giáo ở VN có vẻ đã đạt được kết quả đáng khích lệ đầu tiên. Tại phiên họp vào giữa tháng 8, 2015 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, một số quan chức có trách nhiệm đã phải nêu ra những “chuyển đổi” đáng chú ý về dự luật Tín Ngưỡng, Tôn Giáo:
“Việc quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo vẫn còn nặng nề; còn nhiều quy định, trình tự, thủ tục can thiệp sâu vào hoạt động nội bộ của các tổ chức tôn giáo” - Chủ nhiệm Ðào Trọng Thi.
“Kết cấu của dự thảo luật cho thấy hơi nghiêng nhiều về quản lý Nhà nước. Rất nhiều điều, khoản nhắc đến các thuật ngữ như điều kiện, cho phép, chấp nhận...” - Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc Hội Trương Thị Mai.
“Thường trực Ủy ban cho rằng, cần chuyển đổi phương thức quản lý Nhà nước đối với tín ngưỡng, tôn giáo từ kiểm soát sang giám sát và hướng dẫn; từ cơ chế xin phép - cấp phép hoặc đăng ký - chấp thuận sang cơ chế đăng ký - thẩm định theo các điều kiện được quy định cụ thể, rõ ràng, tăng cường hình thức thông báo trước một thời hạn nhất định.”
Dường như Quốc Hội VN đang dần phải thay đổi quan điểm và “cách làm” cho phù hợp hơn với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Nhà nước VN đã ký kết từ năm 1982, sau một số lần dự thảo nhưng bị giới chức sắc trong tôn giáo, đặc biệt là Công Giáo, phản ứng mạnh mẽ về quan điểm tiếp tục bó trói và cơ chế xin-cho.
Tín hiệu song trùng
Song trùng với dự luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo, chỉ đến gần đây mới le lói một vài tín hiệu cho thấy các cơ quan chuyên trách của VN bắt đầu cởi nới hơn đôi chút đối với những nội dung siết đóng trong dự luật về hội.
Hội Ðồng Tư Vấn các dự án luật, pháp lệnh triển khai thi hành Hiến pháp 2013 - một cơ quan then chốt về soạn thảo luật - vào giữa tháng 8, 2015 đã có một số đề nghị với chính phủ về dự thảo luật về hội mà Bộ Nội Vụ đang xây dựng.
Theo cơ quan này, dự luật về hội nên ghi nhận quyền lập hội của công dân theo tinh thần bảo đảm quyền tự quyết, tự quản, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của hội, thay vì quá tập trung vào mục tiêu quản lý nhà nước với hội.
Cũng theo Hội Ðồng Tư Vấn, Nhà nước không nên can thiệp vào công tác nhân sự của các hội bằng cơ chế công nhận và bãi nhiệm chức danh người đứng đầu. Thay vào đó, Nhà nước nên tôn trọng kết quả bầu cử ban lãnh đạo do chính thành viên tổ chức xã hội quyết định. Hội chỉ cần báo cáo kết quả bầu cử cho cơ quan nhà nước để các cơ quan này có thông tin thực hiện quản lý nhà nước.
Về việc hình thành các hội, nhóm tự phát, hoạt động mang tính nội bộ thời gian qua là vận động tự nhiên của xã hội. Theo Hội Ðồng Tư Vấn, loại hội tự phát này khá nhiều, đa dạng, trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Dự luật về hội không nên đặt vấn đề quản lý nhà nước đối với việc hình thành loại hội này nhưng nên có quy định mang tính nguyên tắc để tạo khuôn khổ các hội tự phát hoạt động theo pháp luật. Nhà nước chỉ can thiệp khi có vi phạm pháp luật.
Hội Ðồng Tư Vấn cũng đề nghị giảm bớt thủ tục, điều kiện lập hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho công dân thực hiện quyền hiến định. Nhà nước không can thiệp vào hoạt động mang tính nội bộ của hội mà chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật...
Thay đổi luật pháp mới là sự đổi thay căn bản để cải thiện nhân quyền. Vào cuối năm 2014, trợ lý ngoại trưởng phụ trách về dân chủ, nhân quyền và lao động Tom Malinowski đến Hà Nội và bực tức lên án “Việt Nam không thể cứ thả một chục người này rồi lại bắt thêm một chục người khác.” Kể từ đó, người Mỹ đã chuyển hướng rõ rệt sang việc đòi hỏi chính quyền VN phải cải tổ mạnh mẽ các khung luật liên quan đến nhân quyền như Bộ Luật Hình Sự, Luật Lập Hội, Luật Tín Ngưỡng Tôn Giáo, Luật Tiếp Cận Thông Tin...
Theo Người Việt-08-28-2015 5:30:07 PM
Phạm Chí Dũng

Hàng chục ngàn dân không bằng chủ tịch một xã

HÀ NỘI (NV) - Một phóng sự được đăng trên tờ Tuổi Trẻ hồi cuối tuần qua khiến người ta liên tưởng đến một scandal trước đó hai tuần. Hàng chục ngàn dân Bắc Kạn không bằng chủ tịch một xã ở Hà Tĩnh.
Lối duy nhất để 500 dân ở bản Tý, xã Thanh Mai, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đi lại trong vài chục năm qua. Sửa cầu chỉ chừng 70 triệu nhưng không có ngânsách. (Hình: Tuổi Trẻ)
Phóng sự “Những cây cầu... chờ sập” của tờ Tuổi Trẻ kể rằng, ở tỉnh Bắc Kạn - nơi phần lớn dân chúng là người thiểu số có đến 246 cây cầu không còn an toàn nhưng dân chúng vẫn phải sử dụng.
Chẳng hạn tại bản Tý, xã Thanh Mai, huyện Chợ Mới, mỗi khi trẻ con băng qua cây cầu gỗ bắc qua suối Thanh Mai để tới trường, cha mẹ chúng phải ra đầu cầu, sẵn sàng tiếp cứu bởi cầu có thể sập bất kỳ lúc nào. Khoảng 500 người Dao, Tày, Nùng, từ già tới trẻ ở bản Tý phải qua lại trên cây cầu ọp ẹp đó để ra thế giới bên ngoài và trở về nhà. Nếu nước suối Thanh Mai dâng cao, trẻ con ở bản Tý phải nghỉ học, người làm phải bỏ làm, không ai dám quá cầu bởi sợ mất mạng.
Ông Lường Văn Nam, phó chủ tịch xã Thanh Mai, cho biết, ba trong số năm cây cầu trên địa phận xã này là cầu tạm bằng tre, gỗ được làm cách nay vài chục năm giống như cây cầu ở bản Tý. Dẫu nguy hiểm trong cả mùa mưa lẫn mùa khô nhưng dân chúng không còn lựa chọn nào khác.
Ông Nguyễn Hoàng Hiệp, phó bí thư tỉnh Bắc Kạn, xác nhận, tỉnh Bắc Kạn hiện có 246 cây cầu cần đập bỏ để xây mới hoặc sửa chữa. Tuy nhiên dẫu chi phí sửa chữa chỉ khoảng 70 triệu đồng/cầu thì tỉnh này cũng không có tiền. Bởi chờ tiền từ ngân sách trung ương và từ lòng hảo tâm của các doanh nghiệp nên tỉnh này chỉ mới sửa được 11 cây cầu!
Liệu ngân sách Việt Nam có eo hẹp tới mức không thể làm mới hay sửa những cây cầu tạm ở Bắc Kạn? Câu trả lời dường như là không.
Trước đó hai tuần, Tổng Cục Đường Bộ của Bộ Giao Thông-Vận Tải Việt Nam mới chính thức thừa nhận, việc chi 3.5 tỷ đồng làm cầu treo Khe Tây ở xã Sơn Thọ, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh, “chưa hiệu quả” rồi thôi, không có ai phải chịu trách nhiệm về việc dùng 3.5 tỷ này “chưa hiệu quả.”
Cầu treo Khe Tây, xã Sơn Thọ, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh, ngốn 3.5 tỷ từ ngân sách chỉ phục vụ gia đình chủ tịch xã và một gia đình khác. (Hình: Dân Trí)
Sau khi bị chỉ trích vì tình trạng do thiếu cầu, dân chúng nhiều nơi muốn đi lại phải đu dây, chống bè vượt sông, suối, khiến nhiều người, kể cả trẻ con bị thương, thậm chí mất mạng, Tổng Cục Đường Bộ của CSVN xin ngân sách để thực hiện ngay 186 cây cầu treo “thiết yếu,” phục vụ nhu cầu đi lại cho dân chúng ở các vùng sâu, vùng xa và cầu treo Khe Tây nằm trong nhóm “thiết yếu” vừa kể!
Tuy nhiên theo điều tra của báo giới Việt Nam thì dân chúng xã Sơn Thọ không cần cầu treo Khe Tây, bởi cách cầu này khoảng 200 mét đã có một cây cầu khác. Cầu treo Khe Tây, ngốn hết 3.5 tỷ đồng từ ngân sách chỉ phục vụ việc đi lại của hai gia đình mà một trong hai là gia đình của chủ tịch xã Sơn Thọ. Qua cầu, đi quá nhà của viên chủ tịch xã là không còn đường.
Đến lúc đó thì viên tổng cục phó Tổng Cục Đường Bộ bảo rằng, cơ quan của ông ta chỉ lo cầu treo, những việc khác là trách nhiệm của địa phương!
Đáng lưu ý là do trách nhiệm về việc khai thác cầu treo Khe Tây được đẩy cho chính quyền địa phương nên đại diện Sở Giao Thông-Vận Tải Hà Tĩnh và đại diện chính quyền huyện Vũ Quang buộc phải tiết lộ là họ từng có kế hoạch xin... sáu tỷ đồng để mở một con đường phía bên kia cầu treo Khe Tây. Kế hoạch này đã được duyệt nhưng chưa thực hiện vì phải chờ vốn!
Không có ai thắc mắc và cũng chẳng có ai chịu trách nhiệm về việc chỉ một mình viên chủ tịch xã Sơn Thọ hưởng dụng hai công trình trị giá 9.5 tỷ đồng, bao gồm một cây cầu treo đã ngốn 3.5 tỷ và một con đường sẽ ngốn 6 tỷ. (G.Đ)

Hà Nội: Lại đốn xà cừ cổ thụ để ‘hoàn thiện cầu vượt’

HÀ NỘI (NV) - Những cây xà cừ cổ thụ trên đường Láng lại bị đốn hạ cùng lúc với việc giải tỏa hàng chục ngôi nhà mặt đường để hoàn thiện cầu vượt nút giao Cầu Giấy, gây nuối tiếc cho người dân.
Hàng xà cừ bị đốn ha. (Hình: VnExpress)
Cầu vượt qua nút giao Cầu Giấy, nối từ đường Bưởi sang đường Láng thuộc dự án đường vành đai 2 đến nay đã hoàn thiện 90%. Mặt cầu đã được thảm nhựa và hệ thống lan can đã được lắp đặt.
Tuy nhiên, nhịp cuối và đường dẫn lên cầu phía đầu đường Láng, quận Đống Đa, chưa hoàn tất vì được cho là lấn vào hàng xà cừ cổ thụ xanh tốt ở dải phân cách giữa. Do đó “buộc phải đốn hạ để hoàn thiện công trình.”
Sáng ngày 27 tháng 8, trao đổi với VnExpress, lãnh đạo công ty cây xanh Hà Nội cho biết, Sở Xây Dựng đã cấp giấy phép để đốn hạ 3 cây xà cừ cổ thụ để hoàn thiện đường dẫn.
Từ 9 giờ sáng ngày 27 tháng 8, công nhân công ty cây xanh Hà Nội đã bắt tay chặt hạ những cây xà cừ cổ thụ có đường kính khoảng hơn 1 mét, cao hơn 20 mét, tán rộng này. Cành và thân cây được nhóm công nhân của công ty cây xanh cưa nhỏ thành nhiều khúc.
“Nhìn thấy công nhân đốn hạ cây mà tiếc đứt ruột. Bao năm mưu sinh dưới gốc cây này, nó như ngôi nhà của mình,” ông Trần Phan ở Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, thợ cắt tóc, người gắn bó với những gốc cây xà cừ cổ thụ 25 năm qua tiếc nuối.
Để xây dựng cầu vượt này, ngoài hàng loạt cây xanh bị đốn bỏ, 30 hộ gia đình và một số cơ quan phải nhường đất cho dự án. Trước đó, cũng trên tuyến đường Láng, Sở Xây Dựng cũng cấp phép cho Ban Quản Lý Dự Án Đường Sắt Đô Thị chặt hạ hơn 30 cây xà cừ cổ thụ để phục vụ xây dựng tuyến đường sắt Cát Linh - Hà Đông. (Tr.N)

Khánh Hòa: Vẽ dự án để lấy cát xuất khẩu

KHÁNH HÒA (NV) - Người dân xã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh, đang phản ứng quyết liệt vì cho rằng, một công ty đã lập dự án nạo vét luồng ảo nhằm lấy cát để xuất khẩu, gây nhiều thiệt hại cho dân.
Thềm nhà bà Phan Thị Lịch ở thôn Đông Nam bị hở hàm ếch do mất cát. (Hình: Tiền Phong)
Tin Tiền Phong ngày 28 tháng 8, 2015 cho biết, phía dưới con đường bê tông ở bờ biển thôn Đông Nam, xã Đại Lãnh lộ hàm ếch đen ngòm do cát bị xói lở. Hàng chục móng nhà, bậc thềm nhà của người dân bị nứt gãy nham nhở do mất cát ở dưới chân.
Bãi cát phía trước nhiều ngôi nhà đã tụt thấp xuống quá nửa nên phải xếp thêm bao cát làm bậc cấp lên xuống. “Hằng năm cát ở đây đều bị giật ra biển vào mùa biển động, mùa biển yên cát lại được tấp vào, nhưng từ khi có tàu hút cát, cát bị giật ra nhưng không tấp vào nữa,” ông Đặng Văn Sang (42 tuổi), ở thôn Đông Nam nói.
Trước đây, hàng trăm hộ dân ở xã Đại Lãnh có thu nhập từ vài chục triệu đồng đến hàng trăm triệu đồng mỗi năm từ nghề thả chà bắt tôm hùm con. Thế nhưng gần đây, do công ty Phúc Sơn nạo vét cát ở bãi thả chà, nguồn tôm hùm bị mất, người dân bị mất nguồn thu lớn.
Tin cho hay, theo phúc trình của Bộ Chỉ Huy Lính Biên phòng tỉnh Khánh Hòa, ngày 1 và 2 tháng 8, 2015, nhiều người dân xã Đại Lãnh đi trên gần 30 tàu, thuyền đến khu vực nạo vét cát để phản đối, ném gạch đá, chai lọ vào 3 sà lan của công ty Phúc Sơn, làm vỡ 4 tấm kính chắn gió của sà lan. Ngày 2 tháng 8, công ty Phúc Sơn phải rút các phương tiện nạo vét cát khỏi vùng biển huyện Vạn Ninh.
Tiếp xúc với phóng viên Tiền Phong, chiều ngày 27 tháng 8, ông Phan Văn Vị, trợ lý tổng giám đốc công ty Phúc Sơn cho rằng, công ty đề xuất dự án “Nạo vét khơi thông luồng hàng hải khu kinh tế Vân Phong, kết hợp tận thu cát nhiễm mặn để xuất khẩu,” nạo vét luồng tại vịnh Vân Phong trên khu vực dài hơn 12 cây số dọc bờ biển phía Đông bán đảo Hòn Gốm, huyện Vạn Ninh với diện tích hơn 827 hécta và được chính quyền cấp phép khai thác và bắt đầu từ tháng 6, 2014 đến nay. Khu vực nạo vét cát cách xã Đại Lãnh 8-9 cây số, không thể gây ảnh hưởng đến xã.”
Tuy nhiên, tọa độ trên bản đồ cho thấy, khoảng cách từ bãi nạo vét cát gần đèo Cổ Mã đến thôn Đông Nam chỉ khoảng 2 đến 3 cây số.” Theo ông Lê Văn Khải, trưởng phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện Vạn Ninh, đó là khu vực có sóng gió mạnh nhất, nhiều nhất ở vùng biển Đại Lãnh.
Ông Phan Văn Vị cho rằng, có quy hoạch luồng đường thủy nội địa từ bến cá Đại Lãnh đến Hòn Ngang, Bãi Cát Thấm. Luồng đường thủy nội địa cho tàu cá, tàu du lịch có cần nạo vét sâu đến 17-20 mét, trong khi luồng hàng hải vào cảng Ba Ngòi sâu 7-10 mét đủ để tàu đến 50,000 DWT ra vào cảng.
Thế nhưng, “Chỗ đó là bãi ngang, tàu thuyền không chạy qua đó, sao gọi là luồng hàng hải được?” ông Ngô Kiệt, người dân thôn Đông Nam đặt câu hỏi. Ông Vị không trả lời được câu hỏi này.
Phóng viên đã đề nghị ông Lê Đức Vinh, phó chủ tịch tỉnh Khánh Hòa và ông Nguyễn Trọng Hòa, trưởng ban quản lý Khu Kinh Tế Vân Phong cung cấp thông tin liên quan đến dự án của công ty Phúc Sơn. Nhưng hai ông đều nói, đang tập hợp hồ sơ để phúc trình, chưa thể nói gì. (Tr.N)

Nhiều liệt sĩ Cộng Sản Việt Nam ‘hy sinh’ hai lần

QUẢNG TRỊ (NV) - Một cựu sĩ quan công an đã sử dụng hài cốt của 70 liệt sĩ bị Cộng Sản Việt Nam bỏ quên, làm phương tiện để chiếm đoạt khoảng tám tỷ đồng.
“Cậu Thủy” (trái) tại hiện trường một vụ tìm hài cốt liệt sĩ ở Quảng Trị hồi tháng 8 năm 2013. (Hình: Tuổi Trẻ)
Viện Kiểm Sát tỉnh Quảng Trị vừa truy tố: Nguyễn Văn Thúy, 56 tuổi, ngụ tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; Mẫn Thị Duyên, 53 tuổi, vợ ông Thúy; Nguyễn Văn Hoành, 46 tuổi, em ruột ông Thúy; Mẫn Đức Phương, 27 tuổi, em ruột bà Duyên; Nguyễn Trường Sơn, 28 tuổi và Nguyễn Anh Chiều, 32 tuổi, cùng là con rể ông Thúy. Vũ Đức Chung, 69 tuổi, quản trang Nghĩa trang liệt sĩ huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum - về các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản,” “xâm phạm mồ mả, hài cốt,” “trộm cắp tài sản.”

Năm 2008, ông Thúy, một cựu sĩ quan công an từng ở tù vì “lừa đảo chiếm đoạt tài sản,” tự nhận và được nhiều cá nhân và tổ chức, kể cả báo giới quảng bá là một “nhà ngoại cảm.” Danh hiệu “nhà ngoại cảm” xuất hiện tại Việt Nam vào khoảng đầu thập niên 2000, dùng để chỉ những người có khả năng liên lạc với người chết để hỏi han về chỗ họ bị vùi thây cho thân nhân tìm tới cải táng.
Sở dĩ các “nhà ngoại cảm” được nhiều giới tung hô, có “đất dụng võ” vì tại Việt Nam vẫn còn hàng trăm ngàn liệt sĩ từng “hy sinh” để Cộng Sản Việt Nam thống trị toàn cõi Việt Nam, bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam lãng quên. Thân nhân của họ thì không an lòng bởi không biết họ bị vùi lấp ở đâu.
Việt Nam có hàng chục “nhà ngoại cảm” nổi tiếng và ông Thúy là một trong số này. Từ khi trở thành “nhà ngoại cảm,” ông Thúy được gọi là “cậu Thủy.”
Sau một thời gian giúp nhiều gia đình tìm hài cốt liệt sĩ là thân nhân của họ, tháng 7 năm 2013, “cậu Thủy” chính thức được Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Việt Nam (hoạt động bằng vốn do ngân sách của nhà cầm quyền trung ương cung cấp) hỗ trợ để “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ” tại Quảng Trị, Đắk Lắk, Bình Phước, nhân dịp 65 năm “Ngày Thương Binh-Liệt Sĩ.”

“Cậu Thủy” đã tìm được 79 hài cốt liệt sĩ và được Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Việt Nam bồi dưỡng khoảng bảy tỷ đồng. Sau đó người ta mới phát giác, “cậu Thủy” không có khả năng liên lạc với người chết. Dựa trên thông tin về đơn vị, địa điểm thiệt mạng do thân nhân của liệt sĩ cung cấp, “cậu Thủy” cho người đem hài cốt mà “cậu Thủy” tích trữ đi chôn trước, rồi mới chỉ chỗ cho thiên hạ đi tìm, đào sau.
Để tăng độ tin cậy về hài cốt tìm được đúng là của liệt sĩ (có sự tương đồng về mức độ bị phân hủy theo thời gian), “cậu Thủy” cho người đến các nghĩa trang liệt sĩ ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên -Huế, Đắk Lắk... đào trộm. Đồng thời còn làm cũ, chôn kèm: dép râu, ba lô, võng... Đáng chú ý là vì nhu cầu tìm kiếm hài cốt của thân nhân liệt sĩ thì lớn, số lượng hài cốt liệt sĩ có thể đào trộm tại các nghĩa trang liệt sĩ lại có hạn nên “cậu Thủy” thường chia một bộ hài cốt thành... nhiều phần!
Theo cáo trạng, “cậu Thủy” tổ chức đào và lấy trộm khoảng 70 bộ hài cốt liệt sĩ nhưng đến khi bị bắt, “cậu Thủy” đã “tìm được” 105 liệt sĩ mất tích. Chưa kể, trong kho của “cậu Thủy” vẫn còn một số hài cốt nữa nhưng không thể xác định là bao nhiêu bộ!
Hàng trăm ngàn người đã chết khi giúp Cộng Sản Việt Nam “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.” Họ trở thành liệt sĩ và dù nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam “đời đời nhớ ơn” nhưng đến nay, cha mẹ, anh em, con cháu của họ vẫn không biết thi thể của họ bị vùi lấp ở đâu.
Thập niên 1980, 1990, nhà cầm quyền nhiều địa phương ở Việt Nam từng tổ chức một số đợt “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.” Có hàng chục scandal liên quan đến các vụ “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ” đó. Phổ biến nhất là lập khống số lượng hài cốt tìm được và xây mộ giả để lấy tiền. Có nơi như Đồng Nai, các “đồng chí, đồng đội” còn chẻ xương, cắt sọ hài cốt liệt sĩ để tăng số lượng hài cốt tìm được.
Đó cũng là lý do phong trào “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ” xẹp xuống, nhường chỗ cho phong trào “ngoại cảm.” Phong trào nào cũng có nhiều liệt sĩ Cộng Sản Việt Nam “hy sinh” không chỉ một lần. (G.Đ)